Register
Page 234 of 242 FirstFirst ... 134184224232233234235236 ... LastLast
Results 2,331 to 2,340 of 2419
  1. #2331
    Thân thế và cuộc đời Hà Phương

    Ông tên thật là Dương Văn Lắm, sinh năm 1938 tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Năm 7 tuổi, ông theo gia đình trôi dạt tới thị xã Mỹ Tho (thành phố Mỹ Tho ngày nay) sinh sống.

    Năm 19 tuổi, ông được học nhạc với nhạc sĩ Lâm Tuyền và học dự thính trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Hai năm sau, ông về dạy nhạc cho Trường trung học Bình Phước ở Tầm Vu - Long An, sau đó về dạy nhạc tại Trường trung học Đốc Binh Kiều, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và bắt đầu sáng tác.[1] Bài hát đầu tiên Đường khuya được sáng tác vào thời gian này. Bút danh Hà Phương là để bày tỏ ước mơ muốn được tung hoành, đi đây đó của ông cho thỏa chí tang bồng.

    Sau khi tốt nghiệp, ông về dạy nhạc ở Long An, có lúc lại chuyển sang dạy ở Bến Tre là quê vợ.

    Hiện nay, ông đang sống tại Mỹ Tho và lặng lẽ âm thầm viết nhạc một cách tài tử.

    Nhận xét
    Nhìn chung, các bài hát của ông rất sinh động, có nhiều câu ca dao thành ngữ khiến cho bài hát gần gũi, dễ nghe đối với khán giả. Phần lớn ca ngợi vẻ đẹp con người và vùng đất Nam Bộ, số còn lại viết về tình yêu đôi lứa.

    “ Từ những cánh đồng lúa mênh mông, những dòng sông, bến nước - tôi bước vào đời với tiếng ru ngọt ngào, điệu lý câu hò thắm đẫm tình quê. Đó chính là lý do tại sao những bài hát của tôi mang đậm sắc thái dân ca Nam Bộ. ”


    Tác phẩm
    Từ trước 1975 đến nay ông sáng tác khoảng 80 ca khúc.Và nhạc phẩm mà ông tâm đắc nhất là: "Tôi chỉ viết được vài chục bài nhưng mỗi ca khúc viết ra đều thể hiện được điều mình muốn gửi gắm. Dù viết ít, vẫn được mọi người mến mộ, yêu thích. Tuy nhiên, tôi vẫn tâm đắc với hai ca khúc:"Mùa mưa đi qua"; "Mưa đêm tỉnh nhỏ" hơn vì nó thể hiện được tâm trạng, tiếng lòng thời trai trẻ và làm sống lại kỷ niệm về những cuộc tình trong quá khứ nhưng vẫn luôn hiện hữu trong tôi".[1]

    Hai Sac Hoa Tigon

    Ca Si Hoang Oanh
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  2. #2332
    Nhạc Sĩ Xuân Tiên

    Tiểu sử

    Xuân Tiên sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Quốc với cha và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả.[1] Năm lên 10, ông còn được cha thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương.[2] Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây. Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn ở Sài Gòn và lục tỉnh.[2] Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình nhạc của các miền khác, chủ yếu là miền Trung. Ông còn tìm hiểu về nhạc của Lào và Campuchia.[2]

    Năm 1952, cả gia đình ông vào Sài Gòn kiếm sống bằng nghề nhạc cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

    Giai đoạn 1944-1975, ông được mời điều khiển nhiều dàn nhạc nổi tiếng từ Bắc vào Nam: Hà Nội (1944-1946), Nam Định (1951-1952) và Sài Gòn (các đài phát thanh gồm Pháp Á, Sài Gòn, Quê Hương, Mẹ Việt Nam; 1952-1975).

    Năm 1986, ông được bảo lãnh sang Úc. Mười năm đầu ông sống tại Canberra, sau về ở Cabramatta, ngoại ô Sydney từ đó cho đến nay.[2][3]

    Xuân Tiên có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ,[3] cả phương Đông lẫn phương Tây. Ông có thể sử dụng hầu hết các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia.[2]
    Xuân Tiên còn có tập thơ Trên kiếp hoa được nhà xuất bản Ba Vì, Canada in năm 1997.[2]

    Cải tiến, sáng tạo nhạc cụ
    Sáo tre vốn dĩ chỉ có sáu lỗ. Xuân Tiên đã cùng Xuân Lôi cải tiến loại nhạc cụ này thành hai loại là 10 lỗ và 13 lỗ có khả năng chơi được nhiều âm giai khác nhau. Người chơi sáo 10 lỗ cần dùng 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, vì thế sáo không bị giới hạn trong bất cứ âm giai nào. Sáo 13 lỗ dùng để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Hiện hai loại sáo này đang được trưng bày tại Musée de l'Homme, Paris, Pháp.[2]

    Ông có cây đàn bầu có thân là bằng trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là "đàn bầu Xuân Tiên". Tuy nhiên, thực tế đàn bầu là nhạc cụ cổ truyền vốn có của Việt Nam, còn cây đàn mà ông tự chế được gọi là "đàn Xuân Tiên", được ông làm vào năm 1976 thời còn ở Việt Nam. Cần dùng cả hai tay để gảy cây đàn có 60 dây này, từ đó có thể chơi được tất cả mọi cung bậc. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn.[2]

    Sự nghiệp sáng tác
    Xuân Tiên đã sáng tác các bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích. Xuân Tiên sáng tác từ trước 1945, tức là thuộc lứa nhạc sĩ tiền chiến, với các ca khúc "Chờ một kiếp mai" [chung với Ngọc Bích] và "Trên kiếp hoa" (1939-1942)[4]. Ông chủ trương đào sâu vào nhạc Việt, dùng kỹ thuật và nhịp điệu phương Tây nhằm cải tiến và làm giàu nền nhạc của mình.[2] Ông chú trọng giai điệu và thể điệu của bài hát, yêu thích âm hưởng lạc quan yêu đời, ca ngợi quê hương dân tộc và nếu có buồn thì cũng chỉ là chớm buồn. Xuân Tiên cho rằng quan trọng nhất là sáng tác phải "hoàn toàn không giống ai".[2]

    Xuân Tiên nhận xét rằng đa số các ca khúc của mình mang âm hưởng miền Bắc và miền Trung, có một số ít là miền Nam ("Cùng một mái nhà", "Khúc nhạc đồng xanh", "Đất Việt"). Bài hát nổi tiếng nhất của ông là "Khúc hát ân tình", được sáng tác sau Hiệp định Genève 1954 trong bối cảnh nhiều người dân miền Bắc di cư vào Nam sinh sống. Bài hát kêu gọi mọi người dù là từ miền nào thì cũng hãy sống thân ái với nhau, đồng thời cũng ngợi ca tình yêu không phân biệt Bắc-Nam.[2] "Hận Đồ Bàn" (ký chung với Lữ Liên) là bài hát mà tác giả đặt mình vào địa vị một người dân Chăm-pa, có nội dung ai oán về sự kiện kinh đô Đồ Bàn của nước Chăm-pa bị binh lực Đại Việt dưới trướng vua Lê Thánh Tông phá hủy vào năm 1471. Đầu thập niên 1970, bài này từng bị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cấm biểu diễn công khai do ông tin rằng bài hát có "tác động siêu nhiên thâm hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền cộng hòa". Ca sĩ Chế Linh (người Chăm) hát bài này cũng nhân đó mà bị cấm biểu diễn công khai.[5]

    Năm 2006, những đóng góp có giá trị của nhạc sĩ Xuân Tiên - cùng với hai nhạc sĩ Thanh Sơn và Nguyễn Ánh 9 - đối với nền tân nhạc Việt Nam được vinh danh trong chương trình Paris By Night 83: Những khúc hát ân tình của Thúy Nga.

    Tranh cãi về bài hát "Duyên tình"
    Trước đây từng rộ lên vụ việc tranh cãi rằng ai là tác giả của bài hát "Duyên tình". Tuy bài này được ký tên chung là "Xuân Tiên & Y Vân" nhưng theo Xuân Tiên thì toàn bộ nhạc và lời đều của ông. Việc ký tên chung là do Xuân Tiên nhờ Y Vân bán hộ bài này nhưng nhà xuất bản yêu cầu phải ký tên chung để Y Vân lĩnh tiền về. Do là bạn bè với Y Vân nên Xuân Tiên đồng ý.[2] Riêng về phía gia đình Y Vân, nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân) khẳng định "'Duyên tình' là tác phẩm do Xuân Tiên và Y Vân viết chung. Hai ông không chỉ là đồng tác giả của 'Duyên tình' mà còn viết chung 'Về dưới mái nhà'."[6] Bà Trần Thị Minh Lâm (vợ Y Vân) cho hay rằng trong nhà bà, "ai cũng biết đó là nhạc phẩm của Y Vân" và sau khi nhạc sĩ Y Vân qua đời, "nhiều hãng băng đĩa đã phát hành bản nhạc này và họ cũng chỉ ghi một tên tác giả là Y Vân." Nhà bà không có bản gốc của bài "Duyên tình" nên không rõ liệu có tác giả thứ hai hay không, nhưng sau khi tham vấn nhạc sĩ Thanh Sơn và ca sĩ Ngọc Cẩm [vợ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết] thì nhà bà được biết bài này là của Y Vân.[6] Vợ Y Vân cho phóng viên báo Thanh Niên của Việt Nam xem danh sách 92 ca khúc Y Vân do Cục Bản quyền Việt Nam cấp tại Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 1995, trong đó ghi "Duyên tình" là của Y Vân, còn "Về dưới mái nhà" và "Đường đi lối về" là sáng tác chung với Xuân Tiên.[6] Sau khi tờ Thanh Niên đăng tải bài báo này, có độc giả đã mang bản nhạc được cho là bản gốc tới tòa soạn, trong đó ghi bài "Duyên tình" là "nhạc Xuân Tiên, lời Y Vân". [7]

    Hận Đồ Bàn

    Ca sĩ Duy Khánh
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  3. #2333
    Tieu su nhat bang

    Nhật Bằng sinh ngày 12 tháng 7 năm 1930 tại Hà Nội. Sinh trưởng trong một gia đình nho giáo mà ông nội là Án Sát và thân phụ ông là công chức cao cấp thời Pháp và đệ nhất Cộng Hoà. Nhật Bằng có 3 người em: Nhật Phượng, Hồng Hảo & Thể Tần.

    Thuở ấu thơ, Ông học tiểu học trường Công Giáo sau chuyển sang trường công lập Đông Sơn Thanh Hoá. Đậu tiểu học năm 1944, gia nhập Trường Bưởi tại Hà Nội (tiền thân Chu Văn An) và kết thân với 2 nhạc sĩ cùng thời nổi tiếng là Phạm Đình Chương và Vũ Đức Nghiêm.

    Năm 1946, ông cùng gia đình tản cư vào Thanh Hoá. Sau Cách Mạng Tháng 8, Ông tiếp tục học tại trường trung học công lập Đào Duy Từ tại Thanh Hóa. Tốt nghiệp bằng thành chung năm 1949.

    Ông say mê âm nhạc từ thuở nhỏ, trong những năm đi học và kháng chiến Ông học ký âm pháp, hòa âm, vĩ cầm và sáng tác với người em họ là Nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt. Ông đã cùng các em ông biểu diễn và chơi nhạc trong nhà trường thời bấy giờ.

    Sau đó gia nhập đoàn Văn Nghệ Liên Khu IV cùng thời với Hoài Bắc, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Phạm Duy. Tại liên khu IV Thanh Hóa, ông tự học Tây Ban Cầm.
    Khi Việt Cộng manh nha phát động phong trào cải cách ruộng đất mà chính dòng họ ông là nạn nhân, thân phụ ông khuyên các anh em ông nên cố gắng tìm cách trở về Hà Nội vào năm 1949 - 1950. Về Hà Nội, ông tiếp tục học trung học đệ II cấp, sau đó bị động viên đi Nam Định. Vì muốn theo đuổi ngành âm nhạc nên ông tình nguyện gia nhập ban Quân Nhạc Đệ III Quân Khu cùng thời với các nhạc sĩ Nguyễn Túc, Đan Thọ, Văn Phụng, v.v...

    Năm 1951, ông và 3 người em thành lập ban hợp ca "Hạc Thành" (tiếng con chim Hạc của Hà Nội) và trình diễn với tính cách tài tử trên đài phát thanh Hà Nội và ca sĩ Nhạc Hội Sinh Viên Học Sinh. Ban nhạc của ông được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt trong giới sinh viên học sinh. Mặc dù các em ông đều cắp sách đến trường nhưng vì cả gia đình say mê âm nhạc và trau dồi nhạc lý nên nhạc lý và âm nhạc nên họ đều có một căn bản nhạc lý vững chắc. Thời gian này, Nhật Bằng viết một số ca khúc như Khúc Nhạc Ngày Xuân, Ánh Sáng Đồng Quê, Dạ Tương Tư Sầu, Một Chiều Thu... trái|nhỏ|481x481px|Ban nhạc "Hạc Thành" gồm Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần & Hồng Hảo. Sang năm 1952, ông gia nhập ngành quân nhạc cùng các nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Đan Thọ...

    Năm 1954, Hiệp định Genève chia cắt đất nước, đại gia đình ông di cư vào Nam, nhạc sĩ Nhật Bằng gia nhập và tòng sự tại Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Đài Phát Thanh Quân Đội. Các em ông sau khi hoàn tất bậc trung học, người đi làm, người tiếp tục học Đại Học nên ban hợp ca Hạc Thành chỉ còn thuần tuý trình diễn trên hai Đài Phát Thanh Sài Gòn và Quân Đội. Trong thời gian này ông đã cho ra đời những ca khúc như Vọng cố đô, Bóng Quê Xưa, Tiếng vọng rừng xanh... Trong thời gian này, ông viết chung nhiều ca khúc với nhạc sĩ Đan Thọ.

    Năm 1956, Nhật Bằng vào Sài Gòn. Thời gian đầu ông làm việc trong Đài phát thanh Quân đội của VTVN. Bản “Về Đây Anh" do ông viết cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hiền được dùng làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu Hồi đài phát thanh Saigon hồi đó.

    Theo tài liệu thì ông lập ra ban nhạc tên là “ban Nhật Bằng” trên đài phát thanh Saigon và đài quân đội. Đồng thời, ông là nhạc sĩ sử dụng contre-bass cho các ban nhạc Hoàng Trọng, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Tiếng Hát Tâm Tình, Vũ Thành trên đài Saigon. Ngoài ra, ông còn soạn hòa âm cho các ban nhạc trên đài phát thanh, đài truyền hình Việt Nam và cho nhiều hãng băng, hãng dĩa.

    Đến năm 1963, Nhật Bằng cùng với Văn Phụng và Anh Ngọc thành lập ban tam ca nam ngộ nghĩnh "Đô Si La" chuyên trình bày những ca khúc vui tươi. Ban nhạc chiếm được cảm tình của khán thính giả qua cách trang phục lạ mắt với những chiếc áo nhiều màu sắc sọc carô hay những hình vẽ chim cò sặc sỡ. Có thể nói, cùng với những nhạc sĩ di cư từ miền Bắc vào Nam khác như Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Trịnh Hưng, Đan Thọ... nhạc sĩ Nhật Bằng đã góp công tạo nên một nền âm nhạc tiền chiến phong phú.

    Có một thời gian, Nhật Bằng phục vụ cho phòng Văn nghệ thuộc Cục Tâm lý chiến với cấp bậc chuẩn úy. Năm 1968, Nhật Bằng được trao giải sáng tác nhạc quân đội hay nhất năm với bài Chiến Sĩ Ca. Ngoài phục vụ quân đội ông còn còn cộng tác với các vũ trường và câu lạc bộ. Tiêu biểu là Vũ trường "Đêm màu hồng" chung với Nguyễn Hiền, Nghiêm Phú Phi.

    Từ 1956 đến 1969 là thời kỳ Nhật Bằng sáng tác hăng say nhất. Trong tổng số hơn một trăm nhạc bản của ông, người nghe nhận ra ba thể loại khác nhau là nhạc quê hương, nhạc tình cảm, và nhạc chiến đấu. Rất nhiều ca khúc của ông nói lên nỗi sầu ly hương như “Vọng Cố Đô”, “Anh Về Một Mùa Trăng”...
    Danh ca Anh Ngọc nói về kỷ niệm với nhạc sĩ Nhật Bằng như sau: "Loại nhạc tình cảm thì tiêu biểu là các bản “Thuyền Trăng”, “Dạ Tương Sầu”, “Lỡ Làng”, “Bóng Chiều Tà”, “Một Chiều Thu”, … Trong thời kỳ quân ngũ, Nhật Bằng sáng tác các bài thuộc loại chiến đấu như “Bóng Người Chiến Sĩ”, nhất là bài “Chiến Sĩ Ca” được phổ biến khắp các quân trường".

    Từ năm 1969, Nhật Bằng ngừng hẳn việc sáng tác sau khi đã sáng tác gần 100 bài hát đủ thể loại.

    Sau biến cố 30 tháng Tư 1975, ông bị đi tù 7 năm vì có phục vụ trong ngành Tâm lý chiến. Sang năm 1986, ông cùng nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu và một số nhạc sĩ trẻ khác ôm đàn đi diễn nhạc tiền chiến tại một số nơi như trường đại học, khách sạn sau khi những nhạc phẩm này được cho phép.

    Tháng 9 năm 1990, Nhật Bằng và gia đình sang Mỹ định cư tại tiểu bang Virginia theo diện HO. Ông mở lớp luyện ca sĩ và soạn hòa âm, ông cũng thành lập ban nhạc cho ba cậu con có đất hoạt động. Ngoài ra, Nhật Bằng còn tiếp tay với phong trào Hưng Ca Việt Nam và Cao Trào Nhân Bản. Vào năm 1991, ông soạn bài “Ngày Quốc Tế cho Cao Trào Nhân Bản” làm nhạc hiệu cho tổ chức đấu tranh nhân quyền này.

    Vợ của nhạc sĩ Trần Nhật Bằng là bà Vũ Thị Tường Huệ. Ông bà có 5 người con 4 trai 1 gái. Các con của ông là Trần Nhật Hải (Guitar), Trần Thị Bích Vân [5], Trần Nhật Hùng (Base), Trần Nhật Huấn (Key Board), Trần Nhật Hào (ca sĩ Nhật Hào) đang dịnh cư tại Virginia. Gia đình Trần Nhật Bằng được nhiều đồng hương ở Washington biết đến qua ban nhạc "The Blue Ocean" nổi tiếng chơi cho các trung tâm băng nhạc hải ngoại. Sau đổi thành Five Stars. Hiện nay các con của nhạc sĩ Nhật Bằng đang hợp tác với The Diamond Club với tên ban nhạc Saigon Stars Band.

    Năm 1998 ông có về thăm quê Thanh Hoá.

    Ông qua đời vì tai biến mạch máu não vào lúc 8:35 tối thứ Sáu 7/5/2004. Ông ra đi để lại nỗi tiếc thương cho gia đình, thân quyến và bè bạn xa gần. Lễ viếng của ông được tổ chức trong 2 ngày 10 & 11 tháng 5 năm 2004 tại Fairfax Memorial Park Cemetery, 9900 Braddock Rd, Fairfax, VA‎. Tang lễ được cử hành vào lúc 9 giờ sáng thứ Tư 5/12/2004.

    Thuyen trang
    Ca si quynh dao
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  4. #2334
    Nhạc sĩ Ngọc Sơn

    Là một nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975 tại Sài Gòn. Ông tên thật là Thái Ngọc Sơn, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1934 tại Sài Gòn. Nhạc sĩ Đài Phương Trang là cháu của ông. Năm 15 tuổi, ông sáng tác 2 ca khúc đầu tiên là "Ngõ vào đời" và "Có những đêm buồn". Tuy nhiên cả hai bài đều không được chú ý. Sau đó ông tiếp tục tự học nhạc lý qua sách, đặc biệt là sách của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (xuất bản năm 1951). Ông được Trần Văn Trạch mời hát nhạc tân cho ban Sầm Giang nhưng được ít lâu sau thì thôi.

    Năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ký hợp đồng với ông thâu âm 2 bài Ngõ vào đời và Có những đêm buồn vào đĩa nhựa Continental. Ông lại tiếp tục sự nghiệp sáng tác từ đây. Chủ đề tác phẩm của ông giai đoạn này có thể chia ra làm 3 phần: Nhạc tình yêu đôi lứa: Tiêu biểu là Hiện diện của em, Nét son buồn, Màu tím Pensée, Đẹp lòng người yêu (Ngọc Sơn - Tuấn Hải)... Nhạc thời chiến: Tiêu biểu là 100% (Ngọc Sơn - Tuấn Hải), Đường bay mùa ly loạn (Thiên Tường - Tú Nguyệt), Người mang mộng ước (Ngọc Sơn - Hoàng Trang)... Tân cổ: Ăn khế trả vàng (Ngọc Sơn - Yên Sơn), Đoàn chim cánh sắt (Ngọc Sơn - Yên Sơn), Đầu năm đi lễ (Ngọc Sơn - Yên Ba)...

    Sau khi thành công với sự nghiệp sáng tác, ông mở nhà xuất bản - hãng đĩa hát Dư Âm và lớp nhạc Ngọc Sơn trên đường Phạm Ngũ Lão. Lớp nhạc khoảng 400 người và nhiều người đã nổi danh như Giao Linh, Yến Linh, Đắc Chung, Phượng Vũ (tác giả Cánh thư mùa hạ)...

    Ngoài sáng tác nhạc, ông còn khá nhiều tài lẻ khác: Vẽ minh họa cho các tạp chí Sài Gòn trước 1975 Đóng phim/viết nhạc cho một số phim như Như giọt sương khuya, Như giọt mưa rơi, Vực nước mắt... Nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp: là thành viên chính thức của hiệp hội nhiếp ảnh các nước Hoa Kỳ, Pháp, Việt Nam. Đây cũng là thú vui hiện nay của ông.

    Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Bình Thạnh, Sài Gòn và vẫn tiếp tục tham gia hoạt động nhiếp ảnh, viết nhạc phim cho đến nay.

    Mau tim pensée

    Ca si huong lan
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  5. #2335
    Cuộc đời & sự nghiệp Trần Văn Trạch

    Trần Văn Trạch 1924- 1994), tên thật là Trần Quan Trạch, sinh tại làng Đông Hòa, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), trong gia đình có truyền thống nhạc cổ và sân khấu tuồng.

    Gia thế
    Ông cố tên Trần Quang Thọ, vốn là một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế. Khoảng năm 1860, ông Thọ xin từ nhiệm và di cư vào Nam.

    Ông nội là nhạc sĩ Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925). Cha ông là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông sáng chế ra.

    Ông Trạch có người cô thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944). Bà biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tỳ bà. Bà chính là người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban vào khoảng năm 1927, với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên đều là nữ, một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử hát cải lương miền Nam. Và bà cũng là người nuôi dạy ba người con của ông Triều, khi vợ ông Triều là bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) mất sớm. Sau, cả ba người cháu này đều thành danh, đó là GSTS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ Trần Ngọc Sương.

    Phía bên ngoại, ông Trạch có cậu thứ năm tên là Nguyễn Tri Khương (1890-1962), tục gọi Năm Khương. Ông là cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương) và là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ. Cho nên khi bà Ba Viện lập gánh hát Đồng Nữ Ban, ông Khương trở thành soạn giả của gánh. Để phong phú thêm làn điệu, ông sáng tác ra những bài hát như: Thất trĩ bi hùng, Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Bắc Cung Ai... Và con của người cậu thứ tư (Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn My Ca (tên thật là Nguyễn Mỹ Ca), mất vào năm 1944 trong lúc kháng Pháp, người nhạc phẩm Dạ khúc, được nhiều người yêu âm nhạc buổi ấy biết đến.

    Nơi quê nhà
    Trần Văn Trạch là con trai thứ trong 3 người con của ông Trần Quang Triều. Ông có người anh là Trần Văn Khê và em gái út là Trần Ngọc Sương.
    Thuở nhỏ, Trần Văn Trạch theo học chữ ở Collège de Mỹ Tho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường.

    Ngay từ lúc nhỏ ông đã có năng khiếu về âm nhạc. Do vậy, ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Tuy biết nhiều về cổ nhạc và có giọng hát ấm, nhưng ông lại thích tân nhạc hơn. Vì vậy, ông học đàn mandoline với anh là Trần Văn Khê và học đàn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu, và biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

    Ngoài niềm đam mê về âm nhạc, ông Trạch cũng thích việc kinh doanh, nên có thời gian ông lập ra lò làm chén ở Vĩnh Kim. Nhưng sau một vài năm làm ăn không khá, ông bỏ nghề lên Sài Gòn kiếm sống.

    Đến Sài Gòn
    Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà được phép mở cửa trở lại. Bắng tài năng của mình, buổi đầu Trần Văn Trạch xin vào làm hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau khi có được một số vốn, ông xin mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng).

    Trong thời gian này anh sống với người vợ Pháp và có một đứa con. Vì thế anh bị những người theo Việt Minh kết tội là Việt gian. May mắn được anh trai Trần Văn Khê kịp nhờ người bảo lãnh, nên ông Trạch mới được tha nhưng phải gia nhập vào Ban nhạc quân đội của Việt Minh, rồi cùng với anh, đi lưu diễn khắp miền Tây. Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch không theo ban nhạc nữa, về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TP. HCM) Nhằm câu khách, đôi khi ông Trạch hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho anh một cái tên rất "Tây" là Tracco.

    Trong thời gian đi theo Ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996). Phát hiện được khả năng hài tiềm ẩn trong con người ông Trạch, nên lần đầu tiên Lê Thương viết thử nghiệm một bài ca hài cho ông trình diễn. Ðó là bài Hòa bình 48 (1948)[2] hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom...

    Được người nghe hoan nghênh, Lê Thương viết tiếp bài Liên Hiệp Quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu, bài Làng báo Sài Gòn[3] phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp...và cũng do ông Trạch hát. Chính vì vậy, Lê Thương, Trần Văn Trạch... đã bị cảnh sát mời vào bót Catinat ở mấy ngày.

    Đến năm 1949, nhận thấy tân nhạc bắt đầu thịnh hành, Trần Văn Trạch nảy ra ý nghĩ mở Đại nhạc hội, là một chương trình văn nghệ bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật...Với cách làm này, Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền. Và kể từ đó cái tên đại nhạc hội bỗng trở nên phổ biến.

    Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ "chương trình văn nghệ phụ diễn" cũng ra đời từ đó. Cũng năm này, vì nhu cầu trình diễn, ông Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh phu xích lô là sáng tác đầu tiên của ông:

    Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
    Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
    Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
    Ê tôi xin mời lại đây.
    Chiếc xe này có bảo kiết thật chắc
    Bánh xe thì tốt thùng có bọc sắt
    Nếu khi mà có đụng phải xe jeep
    Quý ngài chẳng hề hấn gì...

    Thành công, kể từ đó cho tới ngày ký hiệp định Genève (1954) ông viết tiếp Cái tê lê phôn, Cái đồng hồ tay, Cây bút máy, Anh chàng thất nghiệp, Sở vòi rồng, Đừng có lo, Tôi đóng xi nê, Chiếc ô tô cũ, Chiến xa Việt Nam.. Và bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú...
    Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước, đôi khi trong nhạc cũng pha lẫn chút triết lý, như bài Khi người ta yêu nhau:
    Khi người ta yêu nhau
    Yêu trong lúc bảy mươi tuổi đầu
    Thì không phải vì tiền đâu
    Nhưng mà chẳng còn bao lâu...

    Hoặc pha lẫn chút bi như bản Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), kể lại chuyện đi thăm mẹ của một chàng trai. Lúc đầu, là những đoạn nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, của xe lửa... Nhưng đoạn cuối là một khúc bi ca, khi chàng trai ấy về đến nhà mới biết mẹ mình đã qua đời...

    Cũng trong năm này, ông đã sáng tác và hát bài Xổ số kiến thiết quốc gia, Nhờ bài hát này, tên tuổi ông càng được nhiều người biết đến. Trích:

    Kiến thiết quốc gia
    Giúp đồng bào ta
    Xây đắp muôn người
    Được nên cửa nhà
    Tô điểm giang san
    Qua bao lầm than
    Ta thề kiến thiết
    Trong giấc mộng vàng
    Triệu phú đến nơi
    Chỉ mười đồng thôi
    Mua lấy xe nhà
    Giàu sang mấy hồi...


    Dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm (1956-1963), nhạc sĩ Trần Văn Trạch sáng tác rất ít. Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời. Đó là bài Ba chàng đi hỏi vợ.

    Ngoài nghiệp ca và sáng tác, Trần Văn Trạch còn đảm ban nhạc Sầm Giang trên đài phát thanh Pháp Á từ năm 1950 tới năm 1954.

    Ban Sầm Giang quy tụ một số nhạc sĩ có tên tuổi như cố nhạc sĩ Võ Đức Thu, Kháng Băng, Nghiêm Phú Phi, các ca sĩ có tiếng thời 1950, như: Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn... Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, Duy Trác, Tùng Lâm, ban Thăng Long và bé Bạch Yến.

    Trần Văn Trạch cũng đã cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam ở trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là Lòng nhân đạo (1955) và phim Giọt máu rơi (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương.

    Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là phim Thoại Khanh Châu Tuấn (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và Trương Chi Mỵ Nương (1956, đóng chung Trang Thiên Kim - La Thoại Tân).

    Năm 1957, lâm bệnh nặng suốt cả năm nên ông phải từ giã nghề điện ảnh.

    Năm 1960, Trần Văn Trạch sang Paris (Pháp) và thường xuyên hát tại nhà hàng La Table du Mandarin, Paris, quận 1.
    Lưu diễn khoảng sáu tháng, năm 1961, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là trò múa rối học được ở Pháp, hát thành công bản Chiều mưa biên giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa).

    Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch là "ông bầu", chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ phục vụ trong những night clubs dành cho lính Mỹ. Trong khoảng thời gian trên, ông có sáng tác một vài bản nhạc, nhưng không được thành công, như bài Highway 19 đặt theo điệu Long Hổ Hội, nhạc cổ nhưng lời bằng tiếng Anh và theo nhịp swing.

    Kể từ 30 tháng 4 năm 1975 và mấy năm sau đó, Trần Văn Trạch tạm sống một cuộc đời bình thường, thi thoảng cũng đi lưu diễn cùng với một số nghệ sĩ khác.

    Sang Pháp & mất
    Tháng 12 năm 1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp). Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần, Trần Văn Trạch, từng nổi tiếng là quái kiệt, gần như tạm dừng công việc nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống.

    Ở hải ngoại, ông không chỉ sáng tác được một vài bài. Về sinh hoạt văn nghệ, ông cũng chỉ có bốn cuốn băng là Hài hước Trần Văn Trạch (Thúy Nga, Paris, 1982) Con đường hạnh phúc (Thanh Lan, 1983), và Allô Paris (Giáng Ngọc, Paris 1986). Về phía phim video, ông cũng có làm một cuốn kỷ niệm Hài hước Trần Văn Trạch (quận Cam, California, Hoa kỳ, 1983) và trong cuốn Thi ca nhạc kịch Việt Nam (Hà Phong thực hiện, Paris, 1984)

    Ngoài ra ông cũng có đi diễn cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984... Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Trần Văn Trạch thường đi sang Hoa kỳ làm nghề quảng cáo trên đài Truyền hình Việt Nam ở Quận Cam.

    Tháng 2 năm 1994, do bị ung thư gan, ông trở về Paris và nằm chữa bệnh tại bệnh viên Thenon ở Paris. Trần Văn Trạch mất ngày 12 tháng 4 năm 1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris của Pháp

    Một đoạn tự thuật
    “ Trong một đêm Noel, sau khi đã "chạy sô" khắp các sân khấu, hộp đêm ở Sài Gòn, người nghệ sĩ hài đi lang thang vô định trên đường phố bởi không biết về đâu. Nhà ai cũng sáng choang đèn nến và bữa ăn reveillon rộn rã chuỗi cười duy chỉ có người nghệ sĩ là... đứng dựa cột đèn, lắng nghe giọng hát hài hước, vui nhộn của chính mình phát ra từ một đĩa pick-up của ngôi nhà đang có tiệc tùng mà thấm thía nỗi tủi cực ở phía sau ánh đèn màu hào nhoáng...

    Bài hát
    • Chiếc đồng hồ tay
    • Tai nạn téléphone
    • Chuyến xe lửa mồng năm
    • Ba chàng đi hỏi vợ
    • Chồng đĩa hát cũ
    • Anh chàng thất nghiệp
    • Chiếc xe ô tô cũ
    • Ngày thể thao quốc tế
    • Bản nhạc tò ti
    • Đi xem hội chợ Sài Gòn
    • Vui buồn sân khấu

    Nhận xét
    “ Anh không để lại chiến công nên không có tượng đồng bia đá. Anh chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương của bao người ái mộ.
    Như câu nói của danh nhân nào đó: "Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi."

    Ðó chính là cái còn và cái mất của Trần Văn Trạch cũng như bao nghệ sĩ tài danh vậy.

    Xồ Số kien thiet quoc gia
    Last edited by Lê Nguyễn Hiệp; 06-29-2019 at 02:17 AM.
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  6. #2336
    Tai nan téléphone - Trần Văn Trạch
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  7. #2337
    Dzũng Chinh (1941-1969), nguyên là một sĩ quan Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Hạ sĩ quan của Quân lực VNCH, ông cũng là một Nhạc sĩ sáng tác nhạc vàng trong Xã hội Miền Nam trước năm 1975. Ông là tác giả bản nhạc Những đồi hoa sim phổ thơ Hữu Loan nổi tiếng ở Miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960.

    Tiểu sử
    Ông tên thật là Nguyễn Bá Chính,[3] sinh ngày 18 tháng 12 năm 1941 trong một gia đình trung lưu tại Bình Cang, Nha Trang, Khánh Hòa. Ông đã tốt nghiệp Trung học Đệ nhị cấp tại Nha Trang với văn bằng Tú tài toàn phần. Sau đó học lên Đại học Luật khoa ở Sài Gòn. Cũng trong thời kỳ này ông đã sáng tác bản nhạc Những đồi hoa sim. Vào thời điểm năm 1961-1962 bài hát này nổi tiếng với tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung (được khán giả đương thời ưu ái gọi là "Con nhạn trắng Gò Công").

    Phục vụ Quân đội và sáng tác nhạc
    Đầu năm 1965, ông nhập ngũ vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù có bằng Tú tài II, nhưng do trình diện nhập ngũ quá hạn tuổi quân dịch,[4] ông bị chế tài không được vào trường Sĩ quan nên phải theo học khóa Hạ sĩ quan Trừ bị tại trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang. Sáu tháng sau tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ. Ra trường, ông được điều động về Trung đoàn 14 đồn trú tại Vĩnh Bình (Trà Vinh) thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh[5] do Đại tá Lâm Quang Thi làm Tư lệnh.

    Thời gian này, Nhạc sĩ Trúc Phương viết bài Để trả lời một câu hỏi tặng ông:
    “ Cho Dzũng Chinh, thằng bạn vai em, vì đời trôi dạt về miền quê hương tôi. Cho tất cả bạn hữu của Dzũng Chinh vùng KBC 3054. ”
    — Trúc Phương

    Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa
    Cuối năm 1966, vì có trình độ học vấn cao ông được cử đi học khóa Sĩ quan Đặc biệt tại Nha Trang (một lần nữa, ông lại được về học ở Quân trường Đồng Đế). Giữa năm 1967 ông tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy trừ bị. Ra trường, để được gần nguyên quán, ông xin về phục vụ tại Trung đoàn 44 đang trú đóng tại Sông Mao, Hải Ninh, Bình Thuận thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh đặt bản doanh ở Ban Mê Thuột do Đại tá Trương Quang Ân làm Tư lệnh. Ông được cử làm Trung đội trưởng Trung đội tác chiến thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 2 (thời điểm này Đại đội trưởng là Trung úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu đoàn trưởng là Đại úy Ngô Văn Xuân).[6] Giữa năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu úy. Sau đó, Trung đoàn biết ông là một nhạc sĩ, nên bố trí cho ông về phục vụ ở Khối Chiến tranh Chính trị của Bộ chỉ huy Trung đoàn. Sau vì ông hay "dù" (xuất trại không có phép) về Phan Thiết để chơi với bạn bè, nên bị kỷ luật trả về Trung đội tác chiến.

    Giã từ vũ khí và âm nhạc
    Đêm ngày cuối tháng 2 năm 1969, Trung đội ông có nhiệm vụ chốt ở chân núi Chà Bang, Ninh Phước, đụng độ với một toán địch quân. Trong khi giao tranh, ông bị trúng đạn trọng thương. Ngay sau đó, ông được trực thăng của Mỹ tải thương về Quân y viện Phan Thiết nhưng vì vết thương quá nặng nên ông đã từ trần vào ngày 1 tháng 3 năm 1969 hưởng dương 28 tuổi. Ông được truy thăng cấp bậc Trung úy và được đưa về quê quán ở Nha Trang an táng.

    Người bạn của ông là nhạc sĩ Thanh Sơn nghe tin bạn mình mất có viết bài hát Đọc tin trên báo, thâu vào đĩa nhựa Thiên Thai 45 do Trúc Ly ca.

    Sáng tác
    • Những đồi hoa sim (thơ Hữu Loan)
    • Hai màu hoa (Dzũng Chinh - Bùi Tuấn Anh)
    • Tha La xóm đạo (thơ Vũ Anh Khanh)
    • Đêm dài chưa muốn sáng
    • Lời tạ từ
    • Hoa trắng tình yêu

    Nhung doi hoa sim

    Ca Si Phuong Dung
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  8. #2338
    Tri ơn những chiến sĩ và quả phụ đã hy sinh cho "thế giới tự do" chống lại "chủ nghĩa cộng sản".


    ***

    Hoa phượng tím Jacaranda ở Nam California.

    Hồ Thanh Nhã

    Hoa phượng đỏ nở báo hiệu mùa Hè đang tới ở quê hương Việt Nam. Nhưng tại Mỹ nhất là ở nam California thì mùa Hè về khi ta thấy hoa phượng tím nở rộ ven đường phố Nam California. Phượng tím có tên khoa học là hoa Jacaranda. Đó là một cây to có hoa màu tím phát xuất từ Nam và Trung Mỹ. Được trồng nhiều ở California và Florida. Vào mùa hè ta cũng thấy loại hoa nầy trên vài con đường ở thành phố Đà Lạt, thành phố mộng mơ của Việt Nam. Ở Nam California người ta trồng nó ven đường làm bóng mát và những nơi công cộng như công viên, trường học...

    Mùa Hè là mùa thi, mùa ra trường của các trường Trung học, Đại học, cũng là mùa hoa phượng tím nở rộ khắp các đường phố ở Nam California. nhiều con đường ta thấy phủ toàn một màu tím rất thơ mộng. Hoa tím giăng giăng rơi rụng khắp phố. Nhiều người yêu thích loài hoa phượng tím Jacaranda, nhưng cũng có người không thích vì loại hoa nầy có chất keo, thường rụng bám vào xe, để lại vết dơ khó chùi sạch. Nhà nào có trồng cây phượng tím trước nhà thường phàn nàn vì hoa rụng đầy sân, rất cực khi quét dọn.

    Những chiếc mũ đen tung lên
    Dưới tàng hoa phượng tím …

    Hai câu thơ trên kể về chuyện tình ngày xưa của một bà giáo già. Chàng và nàng cùng học chung và cùng tốt nghiệp vào một ngày Hè ở Đại học Irvine – nam California (Đại học UCI). Họ yêu nhau và thành hôn sau đó. Khi đứa con gái đầu lòng của họ tròn tuổi thôi nôi thì người cha bị động viên vào quân ngũ, được gởi sang chiến trường Việt Nam và vĩnh viễn nằm lại ở miền đất xa xôi nầy. Cái chết của chàng trai để lại cho người vợ trẻ và đứa con thơ những nổi đau không bao giờ hàn gắn được. Niềm đau đó kéo dài nhiều chục năm sau cho tới ngày người vợ trẻ ngày xưa bây giờ trở thành bà giáo già tới tuổi hưu. Người con gái có gia đình ở xa và bà giáo già cô độc đi vào nhà dưỡng lão. Chiếc Taxi đã đưa bà già ghé thăm lại những nơi còn để lại trong lòng bà những dấu ấn không bao giờ quên được như : mái trường cũ, ngôi giáo đường, bến tàu nơi tiễn người chiến sĩ lên đường đến chiến trường Việt Nam, bức tường đá đen …Và chặng cuối của đời bà giáo già …là nhà dưỡng lão :


    Chặng cuối

    Chiếc Taxi đưa bà giáo già
    Vào nhà dưỡng lão
    Ghé lại ngôi trường tiểu học ngoại ô
    Bà lão thấy gì đây !
    Tường rêu lá úa
    Cô bé sún răng cười toét nhảy cò cò
    Con bé lớn dần
    Chiều sương sớm gió
    Có những ngôi trường qua suốt tuổi thơ
    Cũng có bạn bè đổi trường đổi lớp
    Bạn hữu đi rồi
    Cũng có người ở lại
    Ở lại trọn đời chung bước chung đôi
    Những chiếc mũ đen tung lên
    Dưới tàng hoa phượng tím
    Nụ cười tươi ngời sáng buổi ra trường
    Chiếc Taxi rẽ vào giáo đường lặng lẻ
    Ở đó ngày xưa
    Ừ nhỉ ngày xưa !
    Hai bóng song song quì bên tượng chúa
    Ngày tân hôn đẹp sắc nắng hoàng hôn
    Năm tháng đi qua
    Chan hòa hạnh phúc
    Đứa con gái chào đời quá đổi là vui
    Ngày con bé thôi nôi
    Người cha bước vào quân ngũ
    Từ đấy chia xa
    Từ đấy ngậm ngùi
    Chiếc Taxi đưa tiếp cụ bà ra bến tàu lộng gió
    Mẹ bồng con đưa tiễn người đi
    Lớp lớp người trai cùng đi ra biển
    Cùng đến chiến trường
    Xa tít Việt Nam
    Hai chữ Việt Nam
    Như lời nguyền trên đá
    Mà ngàn người trai đi mãi không về
    Quan tài đi bên
    Hai hàng lính gác
    Gói kỹ vật về lại gia đình
    Mờ nhạt dấu quân bưu
    Người trở về
    Có khi chỉ là cái tên
    Có khắc năm sinh và ngày mất tích
    Tường đá đen sừng sững lạnh lùng
    Năm mươi tám ngàn tên người chi chít
    Ngần ấy gia đình
    Vĩnh viễn chia xa
    Những bàn tay trẻ thơ mò mẩm kiếm tên cha
    Vết khắc còn sâu trên mặt đá
    Tê tái lớp da ngà
    Đứa bé lên ba
    Bên tiếng nấc nghẹn ngào người mẹ
    Ôi chiến tranh !
    Dấu chấm than lạnh lùng áo não
    Chiếc Taxi dừng trước nhà dưỡng lão
    Bà cụ bước xuống xe
    Chặng cuối đây rồi !
    Bà đứng bồi hồi
    Đảo mắt nhìn quanh
    Lá úa mùa thu bay lả tả bên thềm
    Trong ví còn bao nhiêu tiền
    Bà đưa hết cho người tài xế
    Cười hiền hòa : cầm lấy mà tiêu !
    Tôi không cần nữa đâu
    Chặng cuối đây rồi !
    Người tài xế đứng ngậm ngùi
    Cho tới khi bóng bà cụ già khuất sau cánh cửa …

    https://vietbao.com/p112a295953/mua-ha
    Last edited by Lê Nguyễn Hiệp; 07-02-2019 at 02:43 AM.
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  9. #2339
    Phượng Vũ (sinh ngày 24 tháng 9 năm 1947) là một ca sĩ, nhạc sĩ. Ông là tác giả của một số ca khúc được nhiều người biết đến trước năm 1975 như: Cánh thư mùa hạ, Rừng ái ân, Áo nhà binh. Ngoài ra, ông còn là anh ruột của nữ nhạc sĩ Khúc Lan.

    Thân thế cuộc đời

    Ông tên thật là Trần Gia Bửu, con một gia đình trung lưu, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1947 tại làng Tân Lập Phú, Thủ Dầu Một, Bình Dương. Từ nhỏ ông đã được gia đình cho theo học hàm thụ âm nhạc tại trường École Universelle tại Pháp. Nghệ danh Phượng Vũ là tên do nhạc sĩ Ngọc Sơn - thầy của ông đặt và cũng vừa là cung mệnh tử vi sao Vũ Khúc và sao Phượng Cát của ông.

    Năm 1965 ông theo học Kiểm sự Thủy Lâm chuyên Ngư nghiệp Lục địa tại trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ. Năm 1966, ông trúng tuyển ca sĩ do Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức tại rạp Hưng Đạo. Hãng đĩa Dư Âm lập tức mời ông cộng tác với cả vai trò sáng tác và ca sĩ. Năm 1972, ông về mở lớp nhạc ở Cần Thơ.

    Sau năm 1975 thì lớp nhạc bị rút giấy phép nên ông tham gia hát trong đoàn Tiếng Ca Sông Hậu, Nghệ thuật Hoàng Biếu, Trường Sơn, Ngọc Giao... Đến năm 1988, ông vượt biên sang Mỹ, được nhạc sĩ Nam Lộc bảo trợ về Little Saigon. Tại đây, Phượng Vũ vừa hát vừa sáng tác cho các trung tâm băng nhạc Phượng Hoàng, Giao Linh, Hải Lý, Mai Vy... Hiện nay ông là chủ một phòng thu và ban nhạc cùng tên.

    Cánh thư mùa hạ

    Một nữ sinh Nông Lâm Súc Cần Thơ tên THC là tác nhân chính trong bản nhạc "Cánh thư mùa hạ" do nhiều ca sĩ hát, và thu thanh lần đầu bởi Duy Khánh năm 1972 trong băng nhạc Thương Ca. Phượng Vũ sáng tác bài này năm 1970 tại Gò Công để nhớ về trường NLS Cần Thơ. Trong thời gian này, ông là giáo sinh trường NLS Gò Công ở trường cộng đồng Vĩnh Thạnh, Gò Công. Ông tâm sự "hoa phượng" là hư cấu cho có vẻ học trò thơ mộng chứ trường NLS Cần Thơ không có hoa phượng.

    Tác phẩm
    CD
    Hương Bưởi Nhà Em (Giao Linh, Phượng Vũ)
    • Thương Thầm Tà Áo Tím (Hương Lan, Phượng Vũ)
    • Mẹ Là Ánh Sáng (Hương Lan, Bảo Trân, Phượng Vũ)
    • Mùa Xuân Nguyễn Thị (Giao Linh, Hương Lan, Phượng Vũ)
    Tác phẩm
    Đến nay ông sáng tác được hơn 80 ca khúc, nhiều ca khúc đã nổi tiếng từ trước 1975.
    • Áo nhà binh
    • Cánh thư mùa hạ (1970)
    • Chiếc khăn màu tím (1970)
    • Chuyện tình màu hoa tím


    Ao nha binh – Phuong vu

    Ca si truong vu
    Last edited by Lê Nguyễn Hiệp; 07-10-2019 at 08:34 AM.
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  10. #2340
    Hùng Lân (1922 - 1986) là một nhạc sĩ Việt Nam danh tiếng, tác giả những ca khúc "Hè về", "Khỏe vì nước", "Việt Nam minh châu trời đông" (đảng ca của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng). Ông cũng là một giáo sư giảng dạy âm nhạc uy tín và là người khởi xướng dùng tiếng Việt để hát thánh ca, ông cũng là tác giả đặt lời Việt cho bài "Silent Night" nổi tiếng với tựa đề Đêm thánh vô cùng.

    Thân thế

    Hùng Lân tên thật là Hoàng Văn Cường, nhưng do nhầm lẫn, giấy khai sinh ghi là Hoàng Văn Hường, sau lại đổi là Hoàng Văn Hương. Ông sinh ngày 23 tháng 6 năm 1922 tại phố Phủ Doãn, Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong một gia đình Công giáo. Ông là người con thứ 4 trong gia đình có 11 anh chị em. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Nhạ, người Phủ Lý, Hà Nam. Cha ông vốn là người họ Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thiện, người làng Hương Điền (?), tỉnh Sa Đéc. Vốn ông nội của ông là Nguyễn Minh Châu từ Sa Đéc ra Hà Nội làm việc, mang theo ông Thiện. Sau khi ông Châu trở về Sa Đéc thì gửi lại ông Thiện cho một người bạn ở Sơn Tây là Hoàng Xuân Khoát. Về sau, ông Thiện được ông Khoát nhận làm con và cho đổi sang họ Hoàng. Từ đó, ông Thiện và các con sau này đều mang họ Hoàng.[1]

    Thời niên thiếu

    Xuất thân trong gia đình Công giáo, vì vậy từ nhỏ ông đã chịu phép Thanh Tẩy và mang tên thánh Phêrô. Năm 1928, ông theo học tại trường tiểu học Gendreau.[2] Ngay từ năm 8 tuổi, ông đã bắt đầu học nhạc với linh mục người Pháp P. Depautis (còn gọi là Cố Hương) và được tuyển vào ban hợp xướng Nhà thờ Lớn Hà Nội. Năm 1931, ông theo học bậc trung học tại trường dòng Lasan Puginier (còn gọi là trường Các sư huynh Dòng Thiện Giáo - Frères des Ecoles Chrétiennes de La Salle). Năm 1934, ông học nhạc dưới sự hướng dẫn của linh mục J. Bouis tại Tiểu chủng viện Thánh Phêrô Hoàng Nguyên ở Phú Xuyên, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), rồi sau đó là Đại chủng viện Xuân Bích (Saint Sulpice) ở Hà Nội.

    Bắt đầu sự nghiệp âm nhạc

    Ngay từ khi còn học nhạc ở Đại chủng viện Xuân Bích, ông và nhóm sinh viên Đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội đã nghĩ đến việc sáng tác những bài thánh ca Việt Nam theo thể loại mới. Từ đó, vào tháng 7 năm 1945, Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập, do ông làm Đoàn trưởng. Trong suốt thời gian 30 năm, Nhạc đoàn đã có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, trong đó Hùng Lân cũng có phần không nhỏ. Thời gian này, ông bắt đầu dùng bút danh Nam Hoa, Lâm Thanh để sáng tác nhạc. Năm 1943, ông sáng tác nhạc phẩm Rạng đông, được giải thưởng của Hội Khuyến học Hà Nội. Năm 1944, ông sáng tác bài hát Việt Nam minh châu trời đông, được giải nhất kỳ thi Âm nhạc Toàn quốc trong năm đó. Tác phẩm này sau được Đảng Đại Việt dùng làm đảng ca.

    Liên tiếp trong hai năm 1945 - 1946, mẹ rồi đến cha của Hùng Lân qua đời. Ông phải bỏ học để có điều kiện lo lắng cho gia đình vì các em còn nhỏ. Năm 1945, ông nhận dạy học ở trường Kẻ Giảng (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), cách Phủ Lý chừng 5, 6 cây số. Trong nhà thờ Kẻ Sở của vùng này, bấy giờ có một cây quản cầm (harmonium) rất tốt và ông thường dùng để sáng tác nhiều bài hát và về sau trở nên nổi tiếng. Cũng trong thời gian này, bút hiệu Hùng Lân ra đời, được ghép từ hai tên của người em thứ năm và thứ tám của ông. Sau đó, ông nhận làm giáo sư dạy âm nhạc tại trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội.

    Năm 1946, ông đã viết một bài hát hưởng ứng với tên gọi "Khỏe vì Nước". Bài hát nhanh chóng được phổ biến và trở thành bài hát chính cho phong trào thể dục thể thao. Ngày 26 tháng 5 năm 1946, nhân ngày hội khỏe đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thanh niên và Tự vệ Thủ đô Hà Nội đã trình diễn bài thể dục đồng diễn trên nền bài Khỏe vì Nước. Từ đó, cái tên Hùng Lân trở nên nổi tiếng.
    Khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bùng nổ ở Hà Nội, ông cũng theo kháng chiến một thời gian. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình, ông đành rời chiến khu trở về Hà Nội tiếp tục dạy học. Năm 1948, ông dạy âm nhạc ở trường Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1949, ông cho xuất bản sách dạy âm nhạc khai tâm và sơ đẳng gồm 2 tập, mang tên Cây Đàn Sống được Nhà xuất bản Thế giới Hà Nội ấn hành. Sau đó, ông tiếp tục cho ra đời các bộ sách Giáo khoa Âm nhạc cho lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ.[3] Có thể nói ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ thông.

    Hoạt động âm nhạc tại miền Nam

    Sau Hiệp định Genève 1954, Hùng Lân di cư vào Nam làm giáo sư âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn và cũng là trưởng ban Phát thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn. Từ năm 1957, ông là giáo sư dạy môn Ký xướng âm của Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Cùng thời gian đó, ông ghi tên học và tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1963.

    Cùng năm đó, ông về làm việc tại Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Năm 1965, ông được bổ nhiệm chức Chủ sự Phòng Phát thanh Học đường, Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn. Năm 1967-1968, ông được cử đi tu nghiệp một khóa ngắn hạn tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông tại Đại học Syracuse, tiểu bang New York (Hoa Kỳ). Sau khi trở về Việt Nam, ông đã xây dựng chương trình Đố vui để học do Trung tâm Học liệu phát hình lần đầu vào năm 1969 trên Đài Truyền hình Việt Nam.

    Từ năm 1971 cho đến năm 1975, ông về Trường Sư phạm thuộc Đại học Đà Lạt dạy môn Sư phạm Âm nhạc.

    Sự nghiệp cuối đời

    Sau 1975, ông trở về tư gia tại đường Nguyễn Văn Thủ, Thành phố Hồ Chí Minh. Do có thời gian tham gia kháng chiến nhưng lại trở về, ông thường xuyên gặp phải sự nghi kỵ của nhiều quan chức trong chính quyền mới. Bài hát "Khỏe vì Nước" của ông một thời gian bị cấm vì là bài hát của "tên phản bội". Tuy nhiên, do uy tín quá lớn của ông và sự can thiệp của nhiều học trò cũ của ông, nên ông không bị làm khó dễ. Ông tiếp tục việc dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia cho đến tận khi qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1986.

    Âm nhạc

    Những sáng tác của Hùng Lân thường là các bản nhạc vui trẻ, như "Hè về", "Xóm nghèo"... Ông rất ít viết các bản tình cảm ủy mị, nhưng cũng để lại một vài bài như "Hận Trương Chi", "Sầu lữ thứ"...
    Theo nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc phẩm của Hùng Lân có thể tạm chia ra ba loại:
    • Loại tình cảm cá nhân như "Sầu lữ thứ", "Hận Trương Chi"... Bài thứ hai không đặc sắc lắm vì đáng lẽ phải tả tình (anh Trương Chi hay cô Mỵ Nương) thì Hùng Lân chỉ tả cảnh.
    • Loại tình cảm thiên nhiên như "Vườn xuân", "Trăng lên", "Một mùa xuân huyền ảo"... Tác giả là nhà mô phạm nên ca khúc không đủ lãng mạn tính của thời đại nên không quyến rũ người nghe.
    • Loại kêu gọi thanh niên như "Rạng đông", "Tiếng gọi lên đường", "Hè về", "Khoẻ vì nước", "Mùa hợp tấu", "Việt Nam minh châu trời đông"... Về sau, những bài này được in ra trong hai nhạc tập mang tên Đời trai và Học sinh, dành riêng cho thanh, thiếu niên và nhi đồng, khi ông làm việc cho Trung tâm Học liệu của Bộ Quốc gia Giáo dục. Đây là loại ca khúc thành công nhất của Hùng Lân.
    Theo tài liệu của gia đình và các bạn bè, Hùng Lân có khoảng 900 tác phẩm và rất nhiều bản đã bị thất truyền. Có thể kể ra một số bài nổi tiếng như "Rạng đông" được viết năm 1943, được giải thưởng Sáng tác của Hội Khuyến nhạc Hà Nội. "Việt Nam minh châu trời đông", được giải nhất kỳ thi Âm nhạc Toàn quốc năm 1944, được đề cử làm quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa. Cùng các ca khúc như "Khoẻ vì nước", "Cô gái Việt'"...

    Về thánh ca, ngoài tác phẩm "Ca vang lời Chúa 1, 2 và 3", nhạc sĩ Hùng Lân còn 80 bài Thánh Vịnh ứng tác. Ông cũng là người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong thánh ca. Ông chính là người viết lời Việt cho bài "Silent Night" nổi tiếng với tên "Đêm thánh vô cùng". Năm 1945, Hùng Lân người sáng lập Ca đoàn Lê Bảo Tịnh tại Hà Nam.

    Ông cũng viết khá nhiều nhạc cho nhi đồng, nổi tiếng là những bài "Em yêu ai", "Thằng Tí sún", "Con cò", "Ông trăng thu"... Tập nhạc Vui ca lên là nhạc Hùng Lân biên soạn cho thiếu nhi. Nhạc sĩ Hùng Lân cũng đã phụ trách chương trình Phát thanh Học đường cho trẻ em, thiếu niên ở đài phát thanh Sài Gòn VTVN.

    Nhạc sĩ Hùng Lân cũng là người nghiên cứu, viết nhiều cuốn sách về âm nhạc. Có thể nói ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ thông. Theo một bài báo trên của tờ Thanh Niên: "Một trong những người tham khảo tài liệu nhiều nhất để soạn nhạc lý là nhạc sĩ Hùng Lân để nghiên cứu đề xuất một phương pháp mới dạy nhạc cho thanh niên vào năm 1979".

    Tác phẩm
    Sách
    • 1970: Tìm hiểu dân nhạc Việt Nam
    • 1971: Nhạc ngữ Việt Nam
    • 1972: Tìm hiểu dân ca Việt Nam (giải nhất Biên khảo Nghệ thuật)
    • 1973: Vui Ca Lên 1 và 2
    • 1975-1986: Nhạc lý tân biên (Di cảo)
    Sách giáo khoa âm nhạc của giáo sư Hùng Lân đã xuất bản:
    • 1952: Giáo khoa âm nhạc (giải thưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa)
    • 1960: Nhạc lý toàn thư
    • 1964: Hỏi và đáp nhạc lý, nhạc hòa âm và nhạc đơn điệu
    • 1974: Thuật sáng tác ca khúc, Sư phạm âm nhạc thực hành
    Ngoài ra ông còn soạn 100 bài viết cho phong cầm (Accordion) độc tấu hay đệm nhạc.

    HÈ VỀ (Sáng tác 1945)

    Trời hồng hồng. Sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song.
    Cành mềm mềm. Gió ru êm. Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên.
    Đàn nhịp nhàng. Hát vang vang. Nhạc hòa thơ đón hè sang.
    Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ.
    Hè về trong tiếng sáo dìu dật dờ.
    Hè về gieo ánh tơ...
    Bâng khuâng nghe nắng đùa mây thắm, đàn chim cánh đo trời.
    Phân vân đôi mái chèo lữ thứ, thuyền ai biếng trôi.
    Xa xa lớp lúa dồn cao sóng vàng leo dốc chân đồi.
    Thanh thanh hương sen nồng ướp gió trăng khi chiều rơi.
    Hè về! Hè về! Nắng tung nguồn sống khắp nơi.
    Hè về! Hè về! Tiếng ca nhịp phách lên khơi.
    Đầu ghềnh suối mát. Reo vui gièo giạt..
    Ngợp trời gió mát. Ven mây phiêu bạt.
    Hồn say ý chơi vơi. Ngày xanh thắm nét cười. Lòng tha thiết yêu đời.
    Đây suối trăng rừng thơ! Đây gió nhung thuyền mơ.
    Đây phím ngọc đường tơ! Đây từ nhạc ngàn xưa.!
    Hè về! Non nước yêu yêu. Hè về nắng thông reo.

    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

 

 

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 08:25 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh