Register
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 11
  1. #1
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263

    Truyện ngắn Mặc Bích

    Mt Cõi Riêng

    Mc Bích

    Bốn ô kính vuông vức trên khung cửa sổ chia đều cảnh vật bên ngoài bằng những lằn ranh tuy nhỏ nhưng vẫn làm vướng bận tầm mắt. Từ bàn viết sát cửa sổ, Kiền có thể nhìn thấy từng hạt bụi vương trên làn kính trong vắt được chàng lau chùi mỗi ngày để có thể nhìn ra ngoài thật rõ. Một nhánh cây xanh biếc sà xuống vắt ngang ở khoảng trên của ô cửa sổ. Rêu bám quanh thân cành nhuộm một màu xanh rì, sậm hơn màu lá. Ngoài kia, trước mặt, chung quanh chỉ có một màu xanh. Ánh nắng không mấy chi thong dong tràn đến, chỉ len lỏi luồn lách qua những kẽ hở, nhạt, yếu ớt và tan biến trong từng khoảng chen chúc xanh ngắt của rừng.
    Ngày nào cũng như ngày nấy, trong không gian im sững, ngồi ở cùng một vị trí, nhìn ra ở cùng một góc cạnh, Kiền tưởng đâu thời gian đã đọng lại ở đây, trái đất đã ngừng quay, và biết đâu chàng đã trở nên bất tử? Phải cám ơn Biên, người bạn tốt, đã cho Kiền mượn căn cabin này vô thời hạn. Nhớ đến Biên, lại nhớ đến những giới hạn của con người và căn bệnh đang đeo theo Biên.
    Chỉ có thế mà Kiền không viết được nữa. Ly cà phê trên bàn còn quá nửa. Chàng đứng dậy, đẩy ghế, với chiếc áo jacket treo gần đó, Kiền mở cửa ra ngoài. Mùi ẩm ướt của đất, của núi rừng và cái màu xanh lồng lộng quanh Kiền chụp lấy chàng như muốn nuốt chửng. Những bục gỗ ẩm ở cửa cabin oằn mình thảng thốt kêu theo từng bước chân của Kiền.
    Bỏ chùm chìa khóa vào túi áo, chàng vòng ra sau, đi về phía hồ. Hồ tên gì không biết nữa. Triền dốc thoai thoải, trơn vì ngập lá thông. Nếu chỉ cắm đầu xuống đếm bước chân sẽ chỉ thấy mầu nâu của đất, của lá thông khô, lác đác nhữõng bụi dương sỉ mà đài lá vươn từng sải tay, rải rác vài đám phân của thú rừng. Ngửa mặt lên hay nhìn thẳng, tầm mắt đụng lớp lớp xanh như ngọc. Có những chỗ dầy quá Kiền phải lấy tay đun ra, lách người. Sự thân cận với thiên nhiên không chỉ ở những cọ sát, va chạm, mà còn hít thở. Chàng như bơi trong những chen chúc của cây cỏ. Kiền chìm trong cánh rừng.
    Càng gần mặt hồ cây lá càng thưa. Kiền thở nhẹ nhàng hơn dù phải đi bộ cả nửa giờ. Trước mặt chàng, lẫn trong những thân cây, lấp lánh ánh nước của một mặt hồ không rộng lắm. Rừng núi nhả Kiền ra, thả chàng trước mặt hồ.
    Cảm giác thoáng, rộng, thấy mây, thấy nước.. và thấy.. cả người! Kiền có thể phân biệt được ngay đó là một phụ nữ vì mái tóc đen xõa dài bay trong gió. Những bước chân càng gần càng định rõ người đó. Bộ đồ thể thao bó chẽn trắng ngà vòng vèo lượn khúc và dứt ở những điểm cần dứt. Cô gái đang câu cá! Kiền chợt dừng chân. Có lẽ vì thấy cô gái đang vươn tay quay cần. Con cá chắc không nhỏ? Chàng nín thở đợi chờ.
    Chiếc cần câu cong lên. Kiền có thể tưởng tượng được sự hào hứng đang dâng cao trong quả tim và trong lồng ngực phập phồng của cô ta. Khỏi mặt nước, một chú cá trắng bạc đang quẫy mạnh, nước bắn tung. Kiền biết mình đang cười. Chàng muốn chia sẻ với cô ta sự vui thích đó. Nhưng kìa! Con cá xổng khỏi sợi dây cước, rơi tọt xuống hồ! Nước cũng bắn tung tóe, như một cuốn phim quay ngược.
    Cô gái giơ một tay lên trời, tay cầm cần câu đập xuống mặt hồ. Kiền nghe loáng thoáng tiếng cô ta kêu lên: “Mất tiêu rồi! Shit!” Nụ cười chưa kịp tắt trên môi Kiền lại được dịp nở rộng. Giữa chốn hoang vu của vùng Bắc Mỹ, nghe vài chữ Việt, mái tóc Đông Phương, quả là sự lạ lùng!
    Như có linh tính, cô gái quay phắt lại. Nét mặt còn cau có, cô ta nhìn Kiền trừng trừng, làm như mọi chuyện không may vừa xảy ra là do lỗi Kiền, hay chính vì sự hiện diện của chàng. Dĩ nhiên muốn cười nữa, nhưng chàng phải tự chế mím môi nhìn trả lại.
    Ở khoảng cách không gần lắm nhưng cũng không xa, Kiền có thể đoán cô ta chừng ba mươi mấy. Không đẹp! Dữ. Khuôn mặt xương xương. Đôi môi đang mím lại. Mắt quắc lên trong điệu bộ cong cớn giận dữ. Cái nhìn của cô ta mới hỗn làm sao! Kiền thích nhìn đàn bà trong những lúc như thế. Lúc đó họ mới lộ hết bản sắc.
    Kiền tiến đến gần hơn, chàng định nói một cái gì rồi thôi, nhưng vẻ mặt chàng khi đó không dấu được sự thích thú lẫn chế diễu. Cô ta chừng như cũng định nói gì rồi đổi ý quay ngoắt đi.
    - Này cô! Kiền buột miệng gọi.
    Cô ta dừng chân nhưng không quay lại.
    - Đâu phải lỗi tại tôi?
    Quay hẳn người lại, cô ta nhìn Kiền, đôi mắt dịu hơn khi nhận ra đó là một người đồng hương, nhưng giọng vẫn gay gắt:
    - Ơ lạ chưa! Tôi có bảo tại ông đâu?
    Kiền lại cười:
    - Trông như có vẻ cô đổ tại tôi mà vuột mất con cá! –Kiền lại tiến đến gần hơn tỏ ý làm quen.
    Cô ta hơi nhếch miệng cười, lộ chiếc răng khểnh và hàm răng thật trắng:
    - Chẳng phải tại ai cả!
    Chỉ là một nửa nụ cười nhưng làm cô ta duyên dáng hẳn lên dù không đẹp. Kiền bắt chuyện tiếp:
    - Cô thường hay câu cá ở đây không?
    - Lần đầu tiên. Tôi không ở đây.
    - Tôi chẳng thấy ai quanh đây bao giờ.
    Cô ta không nói gì. Kiền tự giới thiệu:
    - Tôi là Kiền, hân hạnh được nói chuyện với cô...
    - Yên. Yên chứ không phải Yến.
    Tên lạ, người cũng lạ! Kiền nghĩ thế và càng chú ý.
    - Ông ở đây lâu chưa? Mà chỗ nào vậy? Đâu có thấy nhà cửa gì đâu?
    Kiền chỉ phía sau lưng:
    - Trên đó. Đứng đây không thấy được. Còn cô?
    - Ngược lại.
    Kiền tỏ ý không hiểu.
    Cô ta chỉ trước mặt, bên kia hồ:
    - Lên khỏi ngọn đồi thấp đó, đi xuống chút xíu là nhà ba má tôi. Bây giờ chẳng còn ai ở đó.
    Kiền nhìn cô ta, chờ đợi một lời giải thích rõ hơn. Cô ta kể tiếp:
    - Mùa hè, gia đình tôi về đây chơi mấy ngày. Trên này mát.
    - Câu cá cũng có cái thú. Cô câu tiếp đi. Biết đâu lại được con cá lớn hơn con vừa rồi.
    Yên lắc đầu:
    - Câu hụt bực lắm! Vả lại nắng lên cao, khó câu! Câu đêm là tốt nhất hay sáng sớm. Không câu nữa! Thôi chào ông.- Giọng vẫn còn bực dọc.
    Cô ta thu dây, cầm cần câu, xách chiếc thùng nhỏ có lẽ có vài con cá trong đó rồi bỏ đi. Kiền nhìn theo thân hình rất cân đối và nẩy nở của.. Yên.
    Nàng đi vòng theo bờ hồ sang phía bên kia. Cái đốm trắng cứ xa dần, lên ngọn đồi thưa cây, nhỏ dần rồi mất hút về phía bên kia sau đường vòng của đồi.
    Nắng tuy đã lên cao nhưng dịu và loãng quanh Kiền. Những cơn gió thổi vụt qua mặt hồ, gợn lăn tăn làm những hình ảnh chao đi, rung động đẩy nước vào ven bờ. Đó là những xôn xao duy nhất lúc này. Vẫn đứng yên ở một chỗ, nhìn về hướng cô gái đi khuất, tự dưng Kiền thấy như vuột mất một cái gì, không thuộc về mình. Ở chốn hoang vu này cả mấy tuần lễ, Kiền yên ổn trong lẻ loi và cô độc. Thiên nhiên không mảy may đánh động trong chàng tí lửa nào. Bỗng dưng chỉ vì sự có mặt bất ngờ rồi biến nhanh của cô ta, của Yên, lại làm Kiền bâng khuâng. Có đôi chút ấm áp phải nghĩ đến và hình như muốn quấy rầy chàng! Ngay chính khoảng không gian thoáng mát này và những ngọn gió xô dạt đẩy đưa tứ phía như muốn bốc hết lớp tro nguội lạnh và thổi lên vài đốm lửa nhen nhúm. Lạ thật?
    Chàng trở lại đường cũ. Lặn vào rừng, về với căn chòi gỗ và đống giấy mực đang chờ đợi. Có lẽ thế giới của Kiền là ở đó.


    **

    Kiền viết cho đến khi mỏi rời tay mới ngừng. Chàng có thói quen viết với bút, trên giấy, không muốn dùng máy điện toán. Sự thân cận tròn trịa của cây bút, sự chà xát của bàn tay trên giấy cho một cảm giác mình làm chủ ngòi bút và thực sự là đang viết, không phải gõ trên máy.
    Chàng ngửa người ra sau, đọc lại. Kiền giật mình! Chàng đang mô tả một nhân vật mới trong truyện giống hệt như... Yên, một con người có thật ngoài đời, vừa mới gặp gỡ, chưa biết gì về cô ta. Nhưng trên mặt giấy, những con chữ nối đuôi nhau tạo nên một thiếu nữ mà Kiền “biết” rất rõ. Cái “biết” dưới ngòi bút đã phà những hởi thở, làm nên da thịt, hình hài với đủ mọi vẻ rất thật. Thật đến nỗi làm Kiền rung động ngất ngư. Chàng không còn một mình trong cabin gỗ lạnh lẽo. Những cảm giác đua nhau ùa tới làm Kiền thoạt tiên ngạc nhiên rồi thích thú. Chàng đọc đi đọc lại những điều mình viết, thấy được người con gái ban sáng rõ hơn cả sáng nay. Cảm giác vuột mất không còn nữa mà thay vào đó đầy ắp những “sự thật trong tưởng tượng”, rung động trong từng giây phút, trên từng trang giấy. Ngay cả tên, Kiền cũng không sửa đổi. Yên! Tên gì lạ thế!
    Buông bút, Kiền vẫn miên man nhớ đến nhân vật mới này của mình. Đúng là của chàng. Kiền đã cho mái tóc mây thật đen của Yên xõa nghiêng một bên, mượt mà chẩy êm đềm trên bờ ngực căng. Vài sợi tóc lòa xòa trên gò má hơi cao nhưng áp vào thấy mịn. Chàng muốn tìm những sợi tóc con ở sau gáy Yên, ở phần rất ấm, êm và chất chứa mùi thơm da thịt nồng nàn. Môi dưới của nàng phải mọng hơn, trễ xuống một chút để khi cau có bặm môi, làn môi càng đỏ hồng. Đôi mắt nhỏ, dài một mí nhưng tình tứ khi nàng cười, đuôi mắt díu lại thành những vệt dài. Kiền thích vẻ cong cớn láo xược ở Yên hơn. Chính sự thách đố đó kích thích lòng ham muốn và gợi nhiều tò mò ở Kiền. Chàng áp mặt vào gương mặt Yên, nhìn soi suốt vào đôi mắt rực sáng không hiền dịu chút nào, nuốt trọn trong ánh mắt mình, cậy đôi bờ môi đang mím lại, vờn trên đó những mơn trớn đễ đầu lưỡi chàng đụng vào chiếc răng khểnh kiêu hãnh kia. Ấn người nàng xuống như kiềm chế, không để sự phẫn nộ kia bùng ra. Con thú dữ là Yên quẫy mạnh như con cá trắng bạc trên hồ sáng nay rồi cũng phải rơi tụt chìm trong Kiền.
    Ngoài kia, đêm đã phai mầu dần, chuyển sang mầu xám rồi nhạt nhòa trăng trắng của một ngày mới không nắng. Chưa bao giờ viết suốt đêm nhưng Kiền không thấy mệt mỏi. Chàng có cảm giác như mình đã sống rất lâu, rất nhiều trong đêm qua. Không phải chỉ hít thở, trái tim đập trong lồng ngực, mà toàn thân Kiền đã sống nhiệt thành với ngòi bút của mình, sống nhiều hơn lúc buông bút, ngọ nguậy trong đời thường làm một con người... bình thường.
    Trước gương, râu ria đầy mặt, hai tròng mắt đục như trời ngoài kia nhưng đầu óc Kiền tỉnh táo, tim chàng rộn rã. Kiền lại muốn xuống hồ để tìm xem phải là cơ duyên nào đó để gặp lại Yên, xem những điều mộng hay thực, điều nào thú vị hơn?
    Mặt hồ hôm nay có màu xám như tấm gương xỉn. Trời lặng yên không gió như một bức tranh chết. Vài con chim bay vụït ngang mặt hồ, tiếng vỗ cánh nghe rõ. Kiền tìm một mỏm cây đổ ngồi xuống chờ đợi, chờ đợi sự gặïp gỡ lần thứ nhì. Mắt chàng thu gọn mọi hình ảnh quanh mình. Chàng mong thấy lại đốm trắng bên kia đồi.
    Kiền ngồi như thế rất lâu đến khi mặt hồ sáng hơn mà vẫn không thấy Yên. Có thể ngày mai, ngày sau đó Kiền sẽ gặp lại cô ta. Định quay trở về nhưng Kiền đổi ý. Chàng lần theo ven hồ, đi bộ lên đồi phía bên kia. Ngọn đồi thấp, ít cây. Chỉ chừng 15 phút Kiều đã lên đến đỉnh đồi. Nhìn xuống thung lũng, lác đác vài căn nhà. Bên này, bên kia khác hẳn. Những đường lượn vòng của thung lũng, những nóc nhà với kiểu cách quen thuộc cho một cảm giác bình thản và tầm thường. Kiền tự hỏi: “Mình đi tìm một sự bình thường sao đây?”. Chắc chắn là không. Kiền đứng nhìn xuống thung lũng không lâu rồi quay trở lại đường cũ. Yếu tố tình cờ vẫn là điểm lôi cuốn và hấp dẫn hơn nhiều.
    Đi ngang hồ chợt Kiền dừng chân. Một con chim đang nằm ngửa trên đất. Hai chân nhỏ xíu đang dẫy dẫy trên chiếc bụng trắng hếu. Con chim cứ xoay tròn trên đất. Kiền cúi xuống khều nhẹ rồi khẽ đưa tay nâng cánh chim lật úp người nó lại. Con chim lạch bạch đi dăm bước rồi bay bổng. Nó tình cờ gặp Kiền nên mới bay trở lại trời, không gặp Kiền nó sẽ dẫy dẫy như thế cho đến khi đói khát và chết khô. Tình cờ! Có lúc tình cờ Kiền sẽ gặp lại cô ta hay sẽ không bao giờ cả?
    Yên về với thế giới của cô ta, Kiền cũng vậy.

    * *

    Hai ba ngày sau đó, trời đổ mưa luôn mãi. Ô cửa sổ Kiền hay ngồi viết và ngắm trời đất bên ngoài mờ mịt và sũng nước. Những tiếng động duy nhất là tiếng mưa, tiếng mưa tạt vào vách gỗ, trên mái, gõ vào cửa kính, xào xạc cây lá bên ngoài. Nước, nước, nhìn đâu cũng chỉ thấy nước!
    Trong trời đất buồn thảm như thế, Kiền vẫn gặp Yên, yêu Yên trong ngòi bút miệt mài. Mái tóc Yên ướt đẫm trong mưa, dưới tàn lá không đủ che. Áo nàng dán sát vào da thịt, hằn lên những mảng da gợi tình. Kiền lùa tay sau làn vải, di động những ngón tay trên đường trũng của lưng nàng, dọc theo chiều dài thon và ngừng lại ở điểm nối xuống bờ hông nở nang. Nước mưa cũng tuôn theo. Kiền hớp những giọt nước mưa trên má nàng, riềm mi đang khép. Nước mưa mới ngọt làm sao! Người chàng căng cứng khi áp sát người vào Yên...
    Chưa bao giờ Kiền viết nhiều và nhanh như thế. Chàng không chỉ viết, chàng sống với Yên suốt mấy ngày trời mưa.
    Đến ngày thứ tư, cơn mưa dứt. Nắng lại lên. Kiền mở cửa ra ngoài đi xuống hồ, tìm một sự tình cờ.
    Đường dốc đất ẩm, nhiều chỗ thành bùn. Đôi giầy ủng của Kiền lem luốc. Nếu gặp Yên, chàng sẽ nói gì hay chỉ để sự tình cờ chế ngự?
    Và Kiền gặp lại nàng thật, như một sự tình cờ nhiều ước muốn.
    Yên không mặc áo trắng mà mặc áo đen, cũng sát vào người. Trông nàng khỏe và mạnh mẽ hơn là Yên trong những trang giấy của Kiền.
    Kiền đến gần thật nhanh như chỉ sợ cô ta sẽ biến mất.
    - Chào cô Yên!
    Đang ngồi bên hồ, Yên quay lại, cười:
    - Chào ông.. Kiền!
    - Mấy bữa nay mưa quá!
    Cô ta cười không đáp.
    Không thấy cần câu, Kiền hỏi:
    - Hôm nay cô không câu cá nữa ư?
    - Trời mưa, cá trốn hết rồi!
    Kiền đùa:
    - Nó sợ cô đấy!
    - Cá nào mà sợ tôi..
    - Chỉ có người..
    Yên cười thật to:
    - Người nào? Ở đây chỉ có tôi và ông.
    Kiền cũng cười. Hình như chàng thấy thoải mái hơn.
    Cô ta chợt hỏi:
    - Ông ở đây lâu chưa?
    - Chừng vài tuần lễ.
    - Vậy à? –Giọng nàng có vẻ ngạc nhiên.- Tôi tưởng ông ở đây? Ông đến chơi thôi ư?
    - Cũng không phải là chơi. Tôi lên đây để làm việc.
    Nàng có vẻ ngạc nhiên:
    - Ở đây thì làm gì được? Ông làm công việc gì?
    Kiền lại cười:
    - Cô nói cũng đúng đấy. Nhưng việc của tôi, nếu có thể gọi đó là công việc, cần sự yên tĩnh.
    Yên tò mò nhìn Kiền chờ đợi một sự giải thích rõ ràng hơn.
    - Tôi viết.
    Nàng nói với vẻ thích thú không dấu giếm:
    - Ông là nhà văn?
    Kiền gật đầu không biết phải nói như thế nào.
    - Ông sẽ ở đây bao lâu? –Không đợi Kiền trả lời, Yên nói luôn- Cho đến khi nào hoàn tất phải không?
    Chàng nhún vai, tay vẫn thọc trong túi quần:
    - Tôi cũng không biết nữa. Có thể như thế mà cũng có thể không.
    - Ông có nhà ở đây?
    - Không! Bạn tôi cho mượn chỗ.
    - Ở trên phía rừng trên kia phải không?
    Có lẽ những đối thoại nãy giờ làm mọi sự có vẻ thân mật hơn. Không biết nghĩ sao, Kiền ngỏ lời:
    - Mời cô ghé lên coi cho biết cái chòi gỗ.
    Cái “mác” nhà văn lại ở trong rừng rú thế này có lẽ gợi sự hiếu kỳ nơi Yên nên nàng gật đầu:
    - Hôm nay cũng không bận gì, vả lại tôi không còn ở đây lâu nữa.
    Kiền thấy chới với. Chàng không muốn nghĩ đến thời gian khi ở đây. Vậy mà câu nói vừa rồi của Yên lại nhắc nhở.
    Yên đi theo Kiền lên dốc. Hai người giữ một khoảng cách. Thỉnh thoảng chàng quay lại hỏi:
    - Cô mệt không?
    Nàng lắc đầu, mặt đỏ lên vì leo dốc:
    - Không sao!
    - Sắp tới rồi. Bên này leo dốc mệt hơn bên kia.
    Nàng có vẻ ngạc nhiên:
    - Ông cũng sang phía bên kia rồi sao?
    Kiền hơi ngượng khỏa lấp, sợ nàng đọc được ý nghĩ mình:
    - Tôi đi lung tung các chỗ.
    Nhiều quãng cây lá bít bùng, Kiền đi trước vạt lá, dọn đường cho nàng.
    Lên đến nơi, hai người dừng chân nghỉ. Kiền giơ tay chỉ cabin, không nói.
    - Chỗ này ở thích quá! Nhiều cây. Có con gì không?
    - Chắc có, nhưng tôi không để ý. Chắc thể nào cũng có nai. Những đám phân tròn tròn nhỏ xíu dọc đường là của nai đấy.
    - Ông có đi săn không?
    - Không! Săn thú có gì thích đâu nhỉ?
    Yên không nói gì. Kiền mở cửa mời nàng vào nhà.
    - Bề bộn lắm! Cô đừng để ý nhé. Cô uống cà phê không? Ở đây tôi chỉ có cà phê và nước lạnh.
    - Cà phê, một chút thôi. Không đường.
    Kiền đi pha cà phê. Chàng rửa hai cái ly. May mà có 2 cái.
    Yên nhìn quanh căn chòi gỗ. Chỉ có một phòng duy nhất và một góc khuất chắc để bếp và buồng tắm. Trong phòng có một giường nhỏ. Chiếc bàn kê sát cửa sổ cũng nhỏ, đầy giấy tờ trên đó. Chắc là chỗ ông ta viết? Duy nhất có một cái ghế nơi bàn viết. Yên tránh không nhìn vào giường ngủ.
    Kiền đang pha cà phê, không quay lại, nói:
    - Mời cô ngồi chơi. Xin lỗi có mỗi một cái ghế. –Vừa nói xong Kiền giật thót mình! Bản thảo chàng còn để đầy trên bàn! Chàng liếc nhìn. Nàng đã ngồi xuống ghế và dĩ nhiên mắt đang nhìn đống bản thảo trên bàn.
    Yên hỏi vọng vào:
    - Tôi đọc được không?
    Chẳng lẽ không? Kiền nghĩ thầm. Mọi sự đều là tình cờ cả.
    - Cô cứ đọc.
    Khi Kiền mang hai ly cà phê ra, Yên vẫn đang đọc bản thảo của chàng. Kiền để ly cà phê trên bàn:
    - Mời cô. -Giọng chàng tỉnh như không. Không tỉnh thì làm gì?
    Yên cầm ly cà phê nhưng không ngửng đầu lên nhìn Kiền. Nàng đang cắm cúi đọc.
    Chưa bao giờ Kiền thấy căng thẳng như vậy. Sự yên lặng trong một không gian chật hẹp như dò xét và chờ đợi một điều gì đó sẽ xảy ra. Một cơn giận dữ khác của Yên mà Kiền sẽ chứng kiến hay.. Ngay lúc này Kiền thèm hút một điếu thuốc, châm cho hết nỗi chờ đợi, và đốt ấm lên mọi ước muốn đang chực chờ vỡ bùng ra.
    Người con gái ngồi đó, mái tóc xõa một bên! Yên của chàng! Yên vừa bước ra khỏi những trang giấy! Không nói cười buông thả như chàng đã thấy trong mấy ngày qua, như dưới ngòi bút của Kiền. Nàng ngồi yên như một bức tượng, đầu cúi xuống, đọc!
    Vẫn yên lặng! Kiền chỉ nghe thấy tiếng thở của mình, tiếng đập của tim khá nhanh trong tiếng nàng lật trang giấy. Yên vẫn là cục nam châm. Hình dáng đó đang như muốn lôi kéo chàng đến gần nàng, ôm lấy bờ vai, úp mặt vào suối tóc và thả hết những chất chứa muốn điên người.
    Yên đọc đến những đoạn không muốn đọc nhưng mắt nàng không rời khỏi nổi những trang giấy. Như một thứ ma lực cuốn hút nàng trong sợ hãi. Nàng muốn vùng vẫy khỏi những lôi kéo vô hình. Nàng thấy phần nào mình trong đó, giống như một người đứng trước gương, nhìn thấy hình ảnh mình phản chiếu nhưng không hài lòng. Nàng đang bước vào thế giới riêng tư của một người đàn ông... khác thường, một người lạ chưa từng quen biết. Dĩ nhiên Yên muốn phủ nhận tất cả những điều đang nằm trên trang giấy kia. Không có nàng ở đó. Không phải là tôi!
    Yên bỏ bản thảo xuống, nhìn Kiền, ánh mắt nàng vừa lạnh nhạt vừa sợ hãi, nửa thách thức. Chỉ thế thôi mà Kiền như chôn chân xuống sàn. Ly cà phê trong tay chàng nắm chặt.
    Chàng không tìm được một câu gì để nói trong tình huống này. Chàng nhìn xuyên qua nàng, qua cửa sổ. Quay lưng, Kiền ra mở toang cửa, đứng ngoài hàng hiên. Gió lạnh bên ngoài làm chàng tỉnh táo. Sau lưng chàng khẽ có tiếng động. Không quay lại chàng cũng biết là Yên.
    Bỗng dưng Kiền nói như tìm một lối thoát cho chàng và cho cả chính Yên:
    - Ở trên này buồn quá phải không? – Chàng nói một câu lãng nhách không đầu không đuôi.
    - Chắc thế nên ông mới viết!
    Kiền không muốn nhắc tới chuyện viết của mình.
    - Khi viết, ông đạt được điều gì? Tôi tò mò quá không? –Giọng nàng có vẻ thách thức, đầy phong độ như lần đầu tiên Kiền gặp.
    Kiền trả lời tỉnh như không:
    - Không ai hỏi tôi câu này bao giờ. Cô là người đầøu tiên. Ở trường hợp tôi.. viết để được sự thỏa mãn cho chính mình.
    - Ông sống trong mộng ảo!
    Kiền cười hực lên. Không biết nụ cười đó cho mình hay cho nàng.
    - Cám ơn ông đã cho tôi đọc bản thảo của ông. Tôi phải về.
    - Tôi đưa cô xuống.
    - Rồi ông lại phải leo lên, mệt quá!
    - Không sao!
    Họ ra khỏi cabin, đi xuống về phía hồ. Cả Kiền lẫn Yên đều không nói gì với nhau. Còn sự tình cờ nào nữa? Kiền tự hỏi.
    Xuống đến hồ, Yên nói:
    - Cám ơn ông.
    - Bao giờ cô đi khỏi đây?
    - Ngày mai.
    Kiền không nói gì thêm. Lúc bỏ đi, nàng quay đầu lại:
    - Đừng cho cô ta chết nhé!
    Câu nói này của Yên làm chàng cười. Kiền gật đầu. Vẫn đứng đó nhìn theo Yên. Đời nào cho Yên chết trong lúc này? Chàng đang yêu nàng quá mà! Phải tận hưởng đã. Khi nào chán, tính sau!

    Mc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:21 AM.

  2. #2
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Tuyt tích

    Mc Bích

    Cái bóng người lom khom đang cúi xuống, tra chìa khóa vào cửa, một bên vai trĩu xuống vì chiếc bị đang xách ở tay. Lần nào cũng thế, phải xoay, phải lựa, phải lắc nhè nhẹ thì cửa mới mở. Dùng vai đẩy cửa vào, cầm chìa khóa, tay với bật đèn, còn chân nhoài ra sau đẩy ập cửa. Bỏ chiếc bị ngay sát cửa, ông Tài buông mình xuống ghế, người ông thưỡn ra như một miếng thịt nằm trên thớt chờ người ta xẻo, cắt. Ông ta lười biếng ấn gót để cởi giầy, ngọ nguậy mấy ngón chân. Cái sướng đi từ mấy ngón chân lên đến đầu rồi luồn xuống hai cánh tay, bàn tay buông thõng đang ì ra như thể mượn tay ai. Lúc này đúng là ông đang phiêu diêu miền cực lạc, tận hưởng một sự bay bổng thoát hồn, nhẹ mà nặng. Cái nặng trĩu trùng xuống, dãn ra mở bung cho cái nhẹ là đà bay lên. Cổ ông tựa vào triền đệm êm đưa cái mặt xương xương trát đầy phấn trắng, đôi môi vẽ to dầy đỏ choét đang ngoác cười dù ông chỉ hơi há miệng. Những quầng đen tô quanh mắt làm đôi mắt sụp ở hai góc bỗng huy hoàng xếch lên ở khoé đuôi làm thành một gương mặt vui nhộn, thấy muốn cười. Lớp phấn trát quá trớn bữa nay trít cứng trên mặt ông như đóng mặt nạ. Đầu ông trống hoác, mọi thứ dường như tuôn chảy rì rỏ suốt đường về để đến bây giờ sạch bách. Chẳng bao lâu, ông thiếp vào giấc ngủ mệt mỏi nhưng bình thản như trẻ thơ. Cái miệng bây giờ há to hơn chút đỉnh. Tiếng thở nghe rè rè mà đều, thụt ra hít vào, không vui tai trên khuôn mặt có cái miệng cười được vẽ rộng đến gần mang tai.
    Khi ngọn đèn trong phòng sáng hơn, chiều bỗng thành đêm và cái đồng hồ nằm tuột dưới bao tử bắt đầu reo, ông Tài tỉnh dậy. Mắt ông nhíu lại trước cái ánh sáng chói lòa không dịu như trong giấc mơ dở dang. Cổ họng ông khô khốc. Năm rồi mười phút. Ông đã về lại. Cứ đi rồi về, sao không đi luôn cho mọi việc trở thành giản dị?
    Vào phòng tắm, trút hết mọi thứ. Đứng dưới vòi nước âm ấm, ông mắt nhắm mắt mở nhìn những giòng nước dưới chân mình loang lổ mầu.. Những lớp phấn trên mặt tan đi. Nào kỳ nào cọ, tắm thật lâu, chẳng phải để đón ai, nhưng chỉ để tẩy cho sạch cái mặt hề, một công việc làm bị đánh giá thấp nhưng đối với người yêu nghề, yêu những tràng pháo tay và tiếng cười, làm hề là một thứ tuyệt đỉnh của mọi cảm xúc, một thứ vượt thoát trèo lên khỏi mình để mang lại những niềm vui cho người khác. Người ta cần nụ cười như một thứ gia vị của đời sống. Hề mang tấm áo của tuổi thơ, hồn nhiên, dung dị, thoải mái đi thẳng vào lòng người rồi trôi tuột như nước, chẳng vướng bận. Còn công việc bán hàng bán thời gian là một sự nhàm chán còn hơn nhai và nuốt!
    Tắt vòi hoa sen, choàng tấm khăn lông ba ngày chưa giặt đưa lên mũi ngửi rồi phất qua phất lại gọi là lau khô. Đứng trước tấm gương đục mù như nhìn vào một màn sương mỏng, ông xoa lên mặt gương. Cái mặt hơi phệ trong kia đang nhìn ông với vẻ hồ nghi. Ông thích nhìn cái mặt hề hơn, không muốn nhận cái thằng này, trông nó lao láo và chán bỏ mẹ! Ông Tài lẩm bẩm với cái miệng hơi mím lại trên đôi môi mỏng quẹt, hai mép hơi chẩy xuống theo đường nhăn.
    Chẳng chải đầu, chẳng mặc quần áo, tồng ngồng đi ra. Vẫn cái đèn sáng loà trong phòng đón ông, vỗ trên thân thể trần trụi nửa như ngạo nửa như thách thức. Ông Tài nói trổng: “Vậy đó, làm gì nào!”. Nói xong ông phì cười một mình, chắc chắn nụ cười không được như lúc làm hề vì không có những tiếng cười và vỗ tay đáp lại!
    Ở truồng một lúc lại thấy lạnh, chắc vì đói nữa, ông lục trong mớ quần áo vừa giặt hãy còn nhăn nhúm kiếm chiếc quần sọc, cả áo, trông hơi giống tù. Người-tù-thời-đại-ở-căn-nhà-số-123-đường-Tidla ngồi ăn bữa tối trước màn ảnh truyền hình với hộp cơm phần mua vội lúc chiều. Nhai mà không biết mình nhai gì. Ăn rồi nuốt, không chút hương vị. Lục trong tủ lạnh tìm được mấy trái ớt, cắn thử. Ngon! Có một tí vị mà giựt cả toàn thân. Đã! Làm hai ba trái đến khi mặt nóng bừng, nước mắt nước mũi tràn ra. Sướng! Hộp cơm chỉ vơi độ một nửa nhưng mấy trái ớt chỉ còn lại mấy cái cuống khô héo. Kể ra tìm cái sướng cũng không khó, chỉ phải đúng lúc, đúng điệu! Chuyện “đúng” đó cũng là một vấn đề! Quái, đời lắm vấn đề thế!
    Cái vị của mấy trái ớt còn lại đâu đó, dư vị của cái sướng này làm nhớ đến cái sướng kia. Cái sướng trong trí nhớ là một thứ ảo, giả hình và lừa gạt một cách khốn nạn vào những ngừơi tin nó!
    Màn hình trước mắt vẫn léo nhéo, chúng nó bắn giết nhau, cười cười ngả ngớn, chúng nó đang làm những chuyện trong đời người, đen trắng vàng đều thế cả. Không xem nữa nhưng không tắt. Ông Tài vẫn nhìn Ti Vi nhưng lại nhìn thấy những thứ khác, những thứ mà mới đây ông cho là ảo, là giả, là khốn nạn! Ông nhớ đến mùi thơm, đến nụ cười thật buồn và đôi mắt không nói thật, đôi mắt chẳng thuộc về ai. Tại sao ông không nhớ đến nụ cười đĩ thõa mà chỉ nhớ nụ cười buồn? Bởi vì chỉ có nụ cười gượng của Trâm mới là của ông trong một cách hiểu nào đó, trong một không gian và khoảng cách thật giới hạn giữa trái tim và cái đầu mà trí khôn đã cùn đến nửa! Trâm, Trâm.. và những mắt trước mắt sau tìm những mới lạ bất ngờ.
    Màn hình Ti Vi chợt nháng lên như tia chớp rồi tắt ngúm. Lại tắt điện! Sang đến Mỹ mà còn bị cúp điện bất tử, tư bản gì, tư bản về chiều!
    Đang là những tiếng động, ánh sáng rồi bỗng tối thui. Bóng đêm đang thắt lại chung quanh ông, chỉ còn mùi đồ ăn ở hộp cơm đang ăn dở dang. Trí nhớ nhầu nát hỗn độn được dịp thay màn hình Ti Vi tranh nhau loé lên. Một buổi tối dư thừa, chắc chắn sẽ mất ngủ để đành phải bám víu vào cái đầu, sai khiến những suy tưởng của mình rồi thèm phút “tiêu diêu miền cực lạc” khi nãy!
    Đèn lại bật sáng! Ông Tài vẫn còn ở trong cái thế thụ động, hơi giậït mình chút đỉnh. Ông uể oải đứng dậy ra bếp vất hộp đồ ăn thừa vào thùng rác. Trở lại phòng khách, mắt ông chợt dừng ở cái hình thù dài dài màu trắng nằm dưới sàn ngay sát cửa ra vào. Một cái thư? Không phải từ người đưa thư vì ông có hộp thư riêng. Vậy của ai?
    Lá thư không có tem, không có tên người gửi? Bóc vội, nét chữ quen thuộc của Trâm làm ông thảng thốt! Làm phiền gì nhau nữa đây em? Tự dưng không muốn đọc! Em đã đi thì đi luôn cho nó xong chuyện, phiền nhiễu làm chi? Ông Tài nhất quyết không đọc và ném lá thư vào đống báo bên cạnh ghế sofa. Cái màu trắng mới quái ác gì đâu, cứ sống sượng đâm vào mắt mình! Thay vì ném vào thùng rác như ông muốn với sự chống đỡ yếu xìu, ông Tài nhét lá thư dưới chồng báo cũ. Sự không nỡ ném đi làm ông khó chịu đến điên người! Phải chi mình có thể làm hề ngay lúc này! Chỉ có những giây phút xênh xang với bộ quần áo xanh đỏ phủ ngoài, cái mặt trát phấn trắng như ma với cái mồm đỏ choét ngoác ra ông mới chế ngự được chính mình. Có lần cái thằng hề đó làm mọi người cười lăn trong lúc chính nó là cọng bún thiu ẻo qua uốn lại mếu máo! Trẻ con và người lớn đã cười vì sự mếu máo của thằng hề! Chỉ có mình ông mới biết rằng mình mếu thật, mếu trong cái huy hoàng của ánh đèn xanh đỏ với những tràng pháo tay tưởng như vỡ rạp. Ngày nào cũng như ngày nấy! Chắc cũng sẽ có những người tự hỏi làm sao người ta có thể làm hề mỗi ngày được như thế? Trong cái giả người ta có thể sống thật, trong cái thật người ta lại không dám sống thật!
    Đêm nay có người không ngủ đi lang thang như cái bóng vật vờ, một thứ vô thừa nhận mà cuộc đời còn chê! Ở cái giờ khắc mà đêm đã chín, vơ vẩn ngoài đường phố, vào công viên.. không rình mò mà lại thành ra rình mò! Đôi tình nhân ôm nhau dưới bóng tối đồng lõa của tàng cây cao. Ông Tài lẩm nhẩm chửi thề! Ông đang muốn chạy trốn khỏi những phiền nhiễu mà không xong! Nhưng nhịp bước đều đều của đôi chân cũng có tác động ru ngủ. Đi cho đến lúc chân muốn rục, ông quay về nhà, chui vào giường… tay còn với bấm nút đồng hồ báo thức rồi.. thăng!

    *

    Tiếng nhạc nho nhỏ bật lên từ cái đồng hồ báo thức làm ông Tài tỉnh giấc. Mở mắt mà không tỉnh! Lạ, sáng nay sao im thế? Ngoài trời đã sáng nhưng im phắc! Ông Tài lồm cồm dậy, ghé gần cửa sổ vạch màn nhìn ra ngoài. Bên kia đường trước mấy căn nhà, xe còn đậu nguyên. Hôm nay chủ nhật!
    Khi mặt trời đã lên cao và nóng, cái im vắng mới đây tan mất. Loáng thoáng nghe tiếng xe, tiếng người lao xao rồi cả tiếng máy cắt cỏ. Ông Tài nghĩ đến cái vườn sau nhà mà cỏ bắt đầu mọc vô trật tự. Cũng phải làm gì thôi!
    Cái máy cắt cỏ của ông chạy như người hết hơi, khặc khừ nhả khói khét lẹt, ngáp ngáp đớp cỏ. Mồ hôi vã ra thấm ướt lưng áo. Được hai phần ba sân, ông ngừng tay nằm bệt dưới sàn cỏ vừa cắt. Mùi cỏ hăng hăng xông vào mũi. Chuyện đang làm đi ra khỏi cái thời khóa biểu đều đặn trong tuần rồi cái mùi đất mùi cỏ ngai ngái cho một cảm giác mới mẻ dễ chịu.
    Bỗng ông nghe có tiếng trẻ nói:
    “Ê! Ông có sao không vậy?”
    Ông Tài ngồi dậy tìm bằng mắt. Bên kia hàng rào mắt cáo, thằng bé da trắng tóc vàng chừng 5, 6 tuổi mặc cái quần cụt trễ xuống phơi tí bụng trắng hếu, áo thung màu vàng ngắn ngủn đang tò mò nhìn ông. Như thói quen khi làm hề, ông ngoác miệng ra cười làm điệu bộ. Thằng bé thú vị nhìn ông nhưng nó không cười. Ông Tài làm quen,nói:
    “Không sao hết!” Rồi bỗng dưng ông nói vu vơ “Nằm dưới đất khoái lắm!”
    Lần này nó cười, nói:
    “Kiến cắn chết!”
    “Sao chết được?” Ông Tài thích thú nhập vào câu chuyện.
    “Mẹ tôi bảo có thể chết vì kiến cắn”
    Bây giờ ông Tài cười thật. Năm sáu tuổi nó nói “Mẹ tôi bảo”, lớn chút nữa chắc cũng còn nói thế nhưng lớn hơn nữa chủ từ “mẹ” sẽ được thay thế bằng “tôi”, rồi bằng gì nữa.. nó hay một cái tên nào khác?
    “Tôi bị kiến cắn hoài có chết đâu?”
    Thằng bé nhìn ông bằng cặp mắt hoài nghi:
    “Mẹ tôi bao giờ cũng nói đúng!”
    Lại “mẹ tôi” nữa! Ông không nên đùa với chữ “mẹ” của nó mặc dù vẫn còn muốn cười. Ông lại gần hàng rào. Cái mũi hỉnh hỉnh lốm đốm tàn nhang của thằng bé trông ngộ nghĩnh hết sức! Mấy ngón tay be bé xinh xinh của nó đang níu lấy mấy mắt cáo hàng rào trông như mấy nụ hoa còn bum búp. Tự dưng ông thấy lòng mình mềm ra và nôn nao trong một tình cảm bất chợt như có lần nhìn hoa nở trong mưa bên bến sông vắng, thấy lòng chấp chới mênh mang một cảm xúc dị thường.
    “Cháu tên gì?”
    “Daniel”
    “Tôi chưa bao giờ thấy cháu ở đây vậy?”
    “Bố mẹ tôi mới dọn tới đây.” Nói xong nó cười thân thiện, nhe mấy cái răng trắng nõn mới mọc hãy còn cái cao cái thấp.
    “Ông tên gì vậy?”
    “Tài!”
    Thằng nhỏ lại cười nữa:
    “Tên gì kỳ vậy? Ông người Tàu hả?”
    “Không phải Tàu, người Việt”
    “Người Việt là người gì?”
    Ông Tài chưa kịp giải thích với người hàng xóm tí hon thì chợt nghe tiếng người đàn bà quát:
    “Danny! Đi vô nhà ngay! Làm gì ngoài đó vậy? Không có nói chuyện với người lạ!”
    Một người đàn bà ngoài ba mươi gầy nhom đang xăm xoi đi tới. Không thèm nhìn mặt ông Tài, bà ta kéo thằng bé đi vào trong nhà, miệng làu bàu: “Trông đúng là phường bất lương, muốn gì thằng bé chứ?”
    Ông Tài đứng chết trân! Mặt ông đỏ lên không phải vì nắng! Thằng nhỏ theo mẹ đi vào nhà mà còn ngoái cổ nhìn lại. Quay lại nhìn sân cỏ, ông uể oải cắt nốt phần cỏ còn lại trong sân. Khoảng vườn nhỏ bỗng dưng rộng hẳn ra.
    Ý nghĩ nằm dài trên ghế nhựa uống một lon bia, ăn một chút gì trong buổi sáng chủ nhật ngoài vườn không còn mấy hấp dẫn.

    *

    Chủ Nhật khác ra sân sau, tình cờ ông lại nhìn thấy thằng bé đang nghịch trong vườn. Nó cũng thấy ông nên nhìn. Ông Tài giơ tay, một tín hiệu thân thiện. Thằng bé cũng giơ tay lên ngoắc ngoắc. Ông thấy vui vui, niềm vui tự nhiên nhưng biết là chỉ có thế dù muốn có người bạn nhỏ, một thứ tình không bận bịu và êm ả, chẳng níu kéo mà cũng chẳng phải giữ gìn thủ thế.
    Những viên thuốc xanh đỏ phải uống mỗi sáng là một thứ câu giờ. Cái trò câu giờ nhân thế mới tào lao làm sao! Nó cứ lắt la lắt lẻo như lá úa trên cành, chờ cơn gió mạnh bứt đi. Và trước mặt chỉ là một màn hình Ti Vi không hình, không tiếng, chỉ toàn những đốm sáng giựt giựt với sự vô nghĩa loang kín mặt hình. Ông Tài đã nghĩ nhiều lần đến sự chấm dứt tình trạng câu giờ của mình. Khi nào chuyện “muốn” trở thành cụ thể? Khó hơn ông tưởng! Hóa ra trong thân xác vật vờ của ông vẫn còn chút lửa chưa chịu tắt. Rồi ông lại tiếp tục ngoan ngoãn ngốn những viên thuốc đều đặn như một thứ cầu kinh làm mê đi mọi xúc cảm, nếu còn!

    *

    Trâm nhìn xuống bụng mình rồi thở dài! Bao nhiêu năm sống với Tài, để đến khi chia tay lại dính cái bầu! Người ta có thể oán ghét, chán nhau mà vẫn dính bầu trong một giây phút không phải lỡ làng mà chỉ vì bị chính mình đốt, đốt cho đến mù lòa!! Toàn là những chuyện ngoài ý muốn! Nàng không biết khi nhận được cái thư Tài sẽ nghĩ sao? Trâm đã phải bỏ thư vào cửa vì biết Tài đã thuê hộp thư khác. Sự sai biệt 12 năm giữa hai người đã trở thành một khoảng cách vĩ đại khi người ta không còn yêu nữa. Hay bởi vì không còn tình yêu nữa nên nàng mới thấy những điều trước kia không nhận biết, hay đây chỉ là một cách trốn chạy mặc cảm tội lỗi, một thứ chia bớt lỗi lầm, tại anh tại em, tại cả hai đàng! Hay tại anh cả?
    Trâm cũng không ngờ rằng mình dứt nhanh như thế. Không phải vì ai khác. Có ai đâu, Tài cứ tưởng như thế trong sự mù quáng ghen tương tối tăm của chàng! Bây giờ đứa con trong bụng sẽ là gì đây, chắc chắn không phải là một gạch nối vì không có gì để nối cả, Trâm chỉ muốn cho Tài biết về sự có mặt của đứa trẻ này. Bỗng dưng nàng thấy tội nghiệp cho cả ba! Tài sẽ hiểu lá thư không phải là một sự níu kéo, chắc chắn như thế, mà chỉ là một sự bắt buộc phải thông tin. Rồi nàng lại hối hận! Lẽ ra cũng không nên báo cho Tài biết. Để làm gì chứ? Cái mầm sống lạ lùng này sẽ thay đổi Trâm ra sao, nàng tự hỏi mình nhiều lần? Điều đầu tiên là Trâm thấy quên chính mình bớt mà chỉ nghĩ đến nó.
    Năm, mười ngày qua cũng không thấy Tài liên lạc. Thoạt đầu Trâm chờ đợi, tưởng tượng ra đủ thứ phản ứng của một người mình đã chung sống cả mười mấy năm. Nhưng rồi thất vọng, khó chịu, giận dỗi. Bỗng dưng lại cứ phải chờ đợi và nghĩ đến.. Tài! Thật khó chịu, không phải chỉ bực với Tài mà nàng bực cho quyết định gửi lá thư của mình! Ngu xuẩn! Không còn từ gì đúng hơn!

    *

    Ông Tài mua một xách bia, ít đồ nhậu. Bao lâu ông chưa nhậu và say nhỉ? Không còn nhớ nữa! Thế có nghĩa là lâu lâu lắm! Có chấm dứt thì cũng phải chấm dứt một cách vinh quang ngon lành. Giống mấy ngọn đèn trên sân khấu, khi tắt là tắt cái rụp.
    Về đến nhà, ông Tài bầy mọi thứ ra bàn, mở Ti Vi dù không xem, ông cần âm thanh, bất luậïn là âm thanh gì. Không thay quần áo, mặt vẫn còn trát phấn, ngồi xuống ghế, mở chai bia. Ông uống từng ngụm, mắt nhắm nghiền như tìm trong chất nước mà ông vừa tống xuống dạ dầøy một chút tình tri kỷ nào đó. Một thứ tri âm lâu ngày không gặp. Vậy mà rốt cục cũng chẳng phải là cố nhân! Vậy nó là thứ gì? Đối với ông coi bộ chẳng thứ gì ra thứ gì!
    Cả tháng nay ông Tài không uống viên thuốc nào, không muốn tiếp diễn cảnh câu giờ. Cũng có thấy khác, khác nhiều! Mà lạ, cũng không thấy hài lòng về chuyện tự mình dứt không uống thuốc. Chẳng thấy thỏa mãn về quyết định của mình. Hay mình nhầm? Không, mình đã quyết định đúng, ông nghĩ như thế và ngắm nghía lọ thuốc ngủ cực mạnh trước mặt. Muốn gì nữa? Một giấc ngủ luôn không dậy! Đó là chót đỉnh vinh quang. Vậïy mà trong ông có đứa phản bội thì thầm chửi ông “Đồ hèn!” làm ông Tài thấy lao đao trong cái rung rinh ngập nước ở tròng mắt ông, sóng sánh mà không tràn, chưa tràn thì đúng hơn! Nhưng cái thèm muốn mạnh mẽ của một ngày mai không tới có nghĩa lý quá đối với ông. Một thèm khát không tên gọi, không hình thù rỉa rói ông ngày này qua ngày khác và hiện tại đang quấn lấy ông, mơn man rồi thắt chặt, hứa hẹn một vượt thoát tuyệt diệu.. hơn mọi thứ trên đời này.
    Ông Tài nốc cho bằng hết lọ thuốc ngủ rồi nằm xoài ở chiếc sofa với cái mặt hề đang cười của ông, chờ, không màng tới hai vệt nước đang không còn chỗ chứa trào ra chẩy dài trên má. Những tiếng động từ chiếc Ti Vi vẫn liên tục, nó không để ý đến người hề nằm kia. Vô tình đến thế!


    *

    Larry, lão chủ tiệm càu nhàu:
    “Cái thằng Tài chắc không muốn làm nữa rồi! Hôm nay là ngày thứ tư nó không đi làm mà cũng chẳng gọi vào. Tao cho nó nghỉ luôn”
    Long đỡ lời:
    “Nhiều khi ông ta bịnh. Lâu nay thấy ông ta không khoẻ”
    “Bịnh cũng phải nói chớ! Mày có gặp nó bảo là tao đuổi nó”
    Long không nói gì thêm nhưng nghĩ đến chuyện ghé thăm ông Tài chiều nay. Hai người cùng chủng tộc màu da hiểu nhau hơn, chàng thở dài.
    Khi người làm ca kế tiếp đến, Long vội vã chuyển giao như trút gánh nặng. Thay vì về thẳng khu chung cư, Long giữ ý định ghé thăm ông Tài. Chàng đã đến nhà ông ta một lần. Căn nhà nhỏ nằm trong khu lẫn lộn cả da màu và trắng. Những căn nhà phải trên 20 tuổi là ít.
    Trước nhà ông Tài cả đống báo. Không lẽ ông ta đi vắng? Long ngần ngừ định đi luôn nhưng rồi xuống xe đi vào tận cửa. Chàng bấm chuông. Nhìn vào trong qua kẽ hở của chiếc màn không khép kín, thấy màn ảnh Ti Vi bật sáng. Vậy là ông ta có nhà. Long bấm chuông mấy lần vẫn không thấy ai mở cửa. Chàng ghé mắt nhìn vào lần nữa. Có đôi giầy to quá khổ, kiểu giầy của mấy bọn hề trong gánh xiệc gác lên trên thành ghế sofa. Long đập cửa gọi: “Anh Tài! Anh Tài ơi!”.
    Vẫn không thấy động tĩnh gì. Nhìn vào, vẫn thấy đôi giầy kệch cỡm ở yên trong vị thế đó. Một cái gì không ổn! Long chắc chắc như thế. Lại bấm chuông rồi đập cửa, rồi gọi. Phải gọi 911 thôi.
    Khi xe cứu thương và cả xe cảnh sát đến, Long giải thích sơ sài. Họ đi vòng ra phía sau lắc cửa. Cửa nào cũng khóa chặt. Ra cửa trước, họ tông cửa vào. Một mùi hôi lợm giọng ùa ra. Xác của ông Tài đã bắt đầu có mùi!
    Cái chết của ông Tài không ám ảnh Long nhiều bằng cái mặt hề quái dị của ông. Người đàn ông có vẻ tầm thường mà chàng không biết mấy đã chọn chàng làm người khám phá ra cái chết của ông ta. Giữa Long và ông Tài không có tình cảm nào đặc biệt ngoài tình đồng hương, ngoài ra không chút liên hệ. Vậy mà chàng không thể không nhớ đến ông ta! Long không quên được cái miệng ngoác rộng đỏ chét như đang cười ngạo với chàng. Có những đêm tỉnh giấc giữa khuya, cái miệng cười lạ lùng ấy tuy không phát ra tiếng cười nhưng cứ lơ lửng trong đầu chàng như một chiếc đèn lồng ma quái và cái ánh sáng huyền hoặc từ chiếc đèn đỏ ấy chỉ ánh lên chút lửa giả tạo chập chờn mang một nỗi buồn mênh mông. Đó không phải là nỗi buồn mà là một cái gì vơ vẩn không thể chia sẻ với ai! Cái chết và niềm sợ hãi làm gì đã có trong lứa tuổi Long? Đúng là vơ vẩn chớ chi nữa?

    *

    Trâm ghé đến căn nhà cũ khi bụng của nàng đã khá lớn. Buổi chiều tháng bẩy, nóng đã dịu, lòng đường vẫn còn ấm mà đôi chân nàng lạnh ngắt. Trước cửa nhà, bảng “For sale or lease” cắm nghễu nghện. Nàng đứng lặng yên dù biết rằng không còn gì để nhìn. Nhưng mái nhà kia, hàng dậu ở sân trước, khung cửa.. mọi sự vẫn thế, chỉ có Tài không còn ở đó! Lần này nàng không hối tiếc đã đến đây. Ít nhất Trâm đã cố gắng. Nàng sờ tay lên bụng lẩm bẩm “Mình đã cố gắng, đã thử, nhưng sao được!”. Tài không bao giờ biết rằng chàng đã không biến mất hẳn. Tưởng rằng đã tuyệt tích, ai ngờ!

    Mặc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:24 AM.

  3. #3
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Thơ Mng

    Mc Bích

    Khi nhìn thấy người đàn ông ấy, cảm giác muốn chiếm đoạt dâng lên cao và nhanh đến độ Diêu chỉ muốn tức thời nuốt trửng lấy đôi mắt đen, tối như bóng đêm dưới đôi lông mày rậm có vài sợi bạc kiêu hãnh. Gò má cao nhô lên nhưng hai rãnh sâu hằn bên mép, cũng vẫn một thứ kênh kiệu đã phải trả giá của một cuộc đời phóng đãng được sùng bái tôn thờ. Cái miệng cười chỉ nhếch lên nửa miệng kia sẽ ra sao khi mở rộng đón nhận những cuồng nhiệt của ngọn lửa bùng lên đốt mờ lý trí, lương tri và ngay cả sự kiêu hãnh vốn là một thứ áo khoác ngoài lộng lẫy. Diêu muốn thử. Không phải yêu, không phải mê, chỉ muốn biết cái cảm giác chế ngự được một người đàn ông như thế ra sao. Chỉ là một ước muốn rất vội, tình cờ mà Diêu thấy háo hức như trái tim kia đã sắp thuộc về mình.
    Nàng tìm cách đến gần ông ta, nhà văn, kịch tác gia, luật sư nổi tiếng, nay lại còn mon men đến cái chiếu chính trị. Quá nhiều nhãn hiệu cho một hào quang sáng chói, nhưng Diêu không để ý đến những điều đó, nàng muốn biết con người thực của ông ta bên dưới những cái vỏ đáng giá ấy có đúng như những điều ông ta viết, nói, hay lại xa vời với những điều mà trái tim kia nghĩ?
    Tay cầm cuốn sách mua lúc mới vào cửa, Diêu chen lấn trong cái đám đông mà phần lớn là đàn bà. Nàng hơi tiếc đã không diện một tí khi đến đây! Nhưng có lẽ nàng không sửa soạn cho một ước muốn chiếm đoạt bất ngờ! Diêu cũng không ngờ cái phần quái quỷ của mình lại bị bắt trúng đến vậy!
    Chiếc váy đen lơ lửng ngang bọng chân, xoè ở gấu nhưng bó phần trên, áo xám ngắn hở tay hở cổ, tóc xoã chắc còn rối sau cơn gió ngoài kia. Chỉ có mỗi chiều cao của Diêu là vượt trội trong đám đông. Mặt không son phấn, trông Diêu trẻ hơn số tuổi 30 của nàng. Thế này thì bắt được ai, nàng nhủ thầm!
    Khi chỉ cách ông ta chừng sải tay, Diêu nôn nóng như sắp về đến mức ăn thua. Người nào cũng muốn có chữ ký của tác giả, nói với ông ta vài câu, cười vài nụ cười, bắt tay, vỗ vai, những đụng chạm thật sự cho bõ công tới đây và chờ đợi. Diêu không muốn kiểu cười ấy mà cũng không muốn nói vài ba câu lấy lệ, nàng muốn hơn thế nữa khi đối diện với ông ta. Đôi mắt đen và tròn, sáng của nàng nhìn thẳng vào mặt tác giả với khiêu khích rộng mở. Môi nàng hơi rung động nhưng không nói. Diêu nhìn ông ta không chút ngượng nghịu, cả khuôn mặt nàng có lẽ bày tỏ một sự ham muốn ngỗ ngược làm ông ta chớp mắt, ngập ngừng hỏi:
    “Cô tên gì để tôi ký tặng?”
    “Diêu. Cẩm Diêu”
    Không đẹp nhưng khác… khác hẳn. Văn nhìn cô ta kỹ hơn trước khi cúi xuống ký tặng sách. Cô gái cứ chăm chăm nhìn chàng như thỏa thuê ngập lội tìm tòi. Cái nhìn như muốn lột trần xấn tới làm khoảng cách giữa cô ta và Văn chợt nóng. Văn không tìm ra lời gì khác để nói với cô ta. Trao lại cho cô ta quyển sách, những câu hỏi trong mắt chàng vờn trên khuôn mặt cô gái. Và cô ta hơi nhếch môi cười, nụ cười kiểu nửa cho nửa tiếc còn giữ lại. Cái gì cũng khác cả!
    Cô ta không nói thêm lời nào, dù chỉ là một lời cảm ơn. Văn hơi thấy khó chịu. Cầm cuốn sách cô ta chỉ đứng dịch sang một bên chứ không bỏ đi và tiếp tục chiếu tướng chàng. Con bé này hỗn! Chàng tiếp tục với những nụ cười, lời xã giao với những độc giả kế tiếp nhưng ở đuôi mắt phải vẫn chừa một chỗ dòm chừng.
    Diêu thấy ngay cái đuôi mắt ấy. Chưa đi đến đâu! Nàng cũng không biết mình phải làm gì tiếp để bắt con mồi, một con mồi bỗng dưng lạc đến không nằm trong sự tính toán của mình. Hình như nàng đang hành động theo bản năng, ngay cả sự muốn này cũng hoàn toàn là “by nature”! Để đạt được mục tiêu, ngoài bản lãnh 50%, phần còn lại 50% là do may rủi. Không biết ngày hôm nay mình hên hay xui? Nhưng chuyện thử lửa là điều nàng đi tới 100% vì nãy giờ không thể rời mắt nhìn người đàn ông chắc phải hơn nàng đến 20 tuổi nhưng Diêu đánh hơi thấy cái mùi quyền lực, cái uy thế của một con thú dũng mãnh và một sức thu hút không tên gọi. Nhưng sao toàn những con số là số thế này!
    Diêu cứ bị đẩy dần ra xa mà không để ý trong cái đám đông cứ bắt đầu thưa đi.
    Đến lúc này thì Văn không chịu nổi. Cái con bé này muốn gì? Khi chỉ còn rất ít người, cô ta vẫn cứ luẩn quẩn trong hội quán. Dáng cao, thon, xương xương, vai ngang, tóc dài, đen, giản dị mà lại không giản dị! Sao sự “khác” ở cô ta làm chàng phải để ý? Văn không hề nghĩ đến chuyện đi tìm nhân vật cho những câu truyện của mình, trong đầu chàng đầy dẫy. Hay chỉ vì tò mò?
    Khi hội quán bắt đầu gần như không còn ai mấy, Diêu thấy hơi căng thẳng vì chưa biết phải đi bước tới ra sao. Nàng nhìn ông ta thu xếp như sửa soạn về. Phải làm gì bây giờ, Trời? Diêu đi ra cửa trước, nghĩ thầm mình cũng phải đi thôi. Gây ấn tượng như thế đủ rồi, bây giờ đành phó mặc cho.. may rủi!
    Diêu ra chỗ đậu xe. Nàng đậu cũng gần. Mở cửa xe, Diêu còn tần ngần nhìn vào. Ông ta ra đến ngoài. Hình như đang nhìn về phía mình. Một khoảng cách xa như thế mà Diêu vẫn thấy như bị một hấp lực vô hình cuốn hút làm nàng hơi thẳng người lên, ưỡn bộ ngực rất tròn và đầy với tư thế thách đố. Vào xe, đề máy. Chiếc xe câm như hến! Đúng là may rủi đến rồi! Nàng thử vài ba lần nhưng xe không nổ, máy chỉ kêu lục xục như tàn hơi! Diêu mở cửa xe, tay kéo cần mở nắp xe, loay hoay mãi mới dựng nắp trước lên được. Lần này không phải giả vờ, quả tình Diêu chỉ biết mỗi chuyện đổ xăng và lái, bây giờ mở nắp lên là cao tay lắm rồi, nói gì chuyện sửa! Nhìn vào thấy hôi rình và đen xì, thứ nào cũng giống thứ nào! Xui này xui thiệt hay xui giả đây?
    Từ xa Văn có thể nhìn thấy vẫn cô gái ấy đang châu đầu trước chiếc xe màu trắng, nắp trước dựng lên. Hỏng xe? Tội nghiệp không! Còn láo xược nữa thôi? Dĩ nhiên chàng cũng chẳng biết sửa, nhưng có thể giúp chở cô ta về nhà. Tại sao không?
    Trung đi ngang nói với chàng:
    “Gặïp nhau ở quán Huế lúc 7 giờ nghe? Bữa nay thành công quá. Ông sướng thật!”
    Văn cười. Nói gì bây giờ? Gương mặt chàng nói lên sự mãn nguyện đó còn rõ hơn một lời nói dù ngắn hay dài.
    Chàng lững thững xách cặp đi về phía xe cô gái. Diêu, Cẩm Diêu. Tên nghe Huế mà lại nói giọng Bắc đặc.
    Dĩ nhiên Diêu thấy cái bóng cao lớn ấy đang đi về phía nàng. Thế này là bắt được rồi, không còn là 50% nữa mà là 70%! Đố mà thoát! Những con số leo thang nhanh chóng làm choáng ngợp buồng phổi nàng. Sắp hết muốn thở!
    “Cô cần tôi giúp gì không?”
    Đến lúc này Diêu mới để ý là ông Văn, nhà văn, kịch tác gia, luậït sư Trịnh Văn, nói giọng lơ lớ, không biết miền nào, Nam không ra Nam, Trung không ra Trung, Bắc thì dĩ nhiên không phải Bắc rồi.
    “Xui quá, xe tôi đề máy không lên” Diêu quay lại trả lời, giọng nàng thản nhiên trong cái giả vờ giả vịt rất tỉnh táo.
    Văn nhún vai cười, không phải những nụ cười như khi nãy trong hội quán:
    “Tôi không sửa được xe nhưng có thể chở cô về nhà hay đến nơi nào cô muốn. Hôm nay chủ nhật không chỗ sửa xe nào mở cửa đâu”.
    Diêu muốn cười nhưng nín. Coi bộ mọi chuyện dễ hơn nàng tưởng. Về nhà chứ về đâu bây giờ. Hình như căn gác trọ của nàng rất bừa bộn. Có sao đâu. Nhà văn chắc không khá gì hơn mình?
    “Có phiền không?”
    “Nếu phiền thì tôi đã không hỏi” Chàng thấy cô ta bớt đi vẻ hôn hỗn, chỉ thấy bướng và lì lợm. “Trong xe tôi không có đồ câu, nếu không cũng thử giúp cô”.
    Diêu lại buột miệng:
    “Trong xe tôi có”. Câu nói vuột ra níu lại không kịp. Nhưng thật tình Diêu không muốn để chiếc xe ở đây qua đêm!
    Chút thất vọng thoáng trên mặt Văn khi chàng nói:
    “Để thử xem. Cô chờ nhé”.
    Văn mang xe lại, mở nắp, cắm dây, thử. Chiếc xe cứ ì ra như một anh chàng hết hơi nằm thưỡn thượn! Diêu và Văn nhìn nhau, những ánh mắt thăm dò.
    “Chịu! Khu này cũng tương đối an toàn. Chắc để qua đêm không sao đâu” Văn nói trấn an.
    Phải tiến tới rồi! Lùi không được nữa. Diêu nghĩ ngay như vậy. Nàng chép miệng tiếc rẻ. Không biết tiếc cái gì, và có thật sự tiếc không hay chỉ là một đòn phép của nàng? Diêu bắt đầu lao vào một cuộc phiêu lưu không biết tới đâu khi thấy chính mình không dừng lại được nữa dù bên trong tận cùng đáy lòng le lói tí hoảng sợ vu vơ.
    Diêu lấy ví, khóa cửa xe, lên xe Văn. Xe của Văn tồi hơn nàng tưởng. Lạ, không giống diện mạo bên ngoài? Dưới chân nàng, giấy, chai nước vất lỏng chỏng. Bừa!
    Văn thản nhiên hỏi:
    “Bây giờ cô chỉ đường. Xa hay gần?”
    “Hai chục phút thôi”
    Giọng nói trong nhưng không yểu điệu hay nhẹ nhàng mà thẳng tuột, gọn, làm như nói nhiều hơn đâm thừa. Cái gì ở cô này cũng lạ. Văn nhìn đồng hồ. Cô ta cũng nhìn đồng hồ. Không hiểu sao Văn lại nói một câu không suy nghĩ, hay vì chàng thường áp dụng như thế khi ngồi cạnh một người đàn bà?
    “Còn sớm quá. Mời cô đi uống cà phê rồi hãy về”
    80%. Con số nhảy lên trong đầu Diêu như một thứ máy tính tự động. Sao lẹ quá vậy? Nàng trả lời dễ dàng:
    “Sao cũng được” và trong lòng nghĩ đúng như thế, không gian dối.
    Câu trả lời thẳng băng của Diêu làm Văn hơi sửng sốt. Hơi nhiều bất ngờ nhưng chàng vẫn thấy lối nói thật hà tiện chữ của cô ta mang một vẻ cố ý thế nào. Để xem.
    Chàng vừa lái xe vừa liếc nhìn bàn tay thật trắng của cô ta đang đặt trên đùi, trên làn vải đen chắc không dầøy lắm của chiếc váy. Những ngón tay thuôn dài, không đeo nhẫn. Chi tiết này làm Văn thích thú y hệt như chàng vừa tìm được một ý tưởng hay một chữ dùng chính xác trong câu văn của mình. Có điều cô ta còn trẻ quá! Đụng vào vỡ mặt! Chẳng dại!
    Họ không nói thêm với nhau lời nào mặc dù sự im lặng không mang nghĩa câm nín mà chất chứa và hứa hẹn nhiều điều bất ngờ sắp xảy đến.
    Đến nơi, Văn xuống xe, định đi vòng sang mở cửa với vẻ lịch thiệp cố hữu nhưng cô ta đã ngang nhiên mở cửa bước ra không đợi, tự nhiên và đầy vẻ tự tin. Văn lại rơi hẫng một lần nữa. Lần này chàng bỗng dưng thấy mình phải thủ thế.. trước một cô bé!
    Diêu đọc được cảû và nàng phải cố gắng hết sức để không cười. Thú vị hơn nàng tưởng! Con mồi già dặn này cũng chẳng hơn một gã trai mới lớn!
    Hai người bước vào quán Café Florian. Nắng chiều bắt đầu úa tàn sau lưng. Cái ánh sáng đã nhạt ấy như một mùi hương phai, loáng thoáng phất phơ sau những chiều cao của phố phường. Vào bên trong Văn không cần phải nói, người bồi đưa hai người vào tít bên trong với những cánh cửa mở rộng, cao ra vườn sau của một căn nhà lớn cải biến thành quán cà phê. Diêu chưa bao giờ héo lánh đến đây, không ngờ bên trong rộng như thế.
    Chiếc bàn nhỏ dưới lùm cây cao cạnh hàng rào sát đường mà cây cảnh che kín mít. Chắc ông ta đến đây thường xuyên? Diêu buột miệng hỏi:
    “Ông ngồi viết ở đây?”
    “Không. Tôi làm việc đêm. Chỉ thích ngồi đây”
    Diêu nhìn quanh:
    “Chỗ này thích thật!”
    Văn cười, thấy dễ chịu hẳn. Chàng hỏi nàng khi người bồi đến:
    “Cô dùng gì? Ở đây cà phê và bánh ngọt đều ngon”
    “Ông chọn dùm”
    “Thật nhé?”
    Diêu gật đầu nhìn thẳng vào mặt ông ta, nãy giờ toàn chuyện thật, ngay cả cái ước muốn chinh phục lúc khởi đầu. Thật còn hơn sự thật. Và rồi Diêu không còn giữ được nụ cười khép kín mãi của nàng. Nàng cười thích thú như đứa trẻ được người ta cho món quà mà nó mong đợi.
    Văn hoang mang cười theo. Cái con bé này quái thật! Chàng đang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nụ cười thật hồn nhiên ở Diêu –chàng bắt đầu sửa soạn cho những ý nghĩ mình quen dần với cái tên kỳ cục- làm sáng rỡ khuôn mặt đang bị bóng tối trong vườn lấp dần. Miệng Diêu hơi rộng, răng trắng nuốt đều sáng lấp lánh trên làn môi ướt không phải vì những chiếc đèn nho nhỏ trong vườn vừa bật sáng. Cái miệng coi ngon quá!
    Sự thích thú và hoan lạc đổ tràn trên gương mặt hơi vuông của Diêu. Nhưng coi chừng nàng lại đi quá đà! Lại phải nín, khổ! Coi chừng ông ta biết mình cười vì y! Chắc không biết. Đã bảo là ông ta đã mau chóng trở thành gã trai ngờ nghệch. Nhưng thế thì không còn gì thú vị. Bản lãnh đâu? Sự kiêu căng hợm hĩnh vì những sáng chói của ông ta dấu đâu? Cái chiều sâu tư tưởng hun hút trên sách vở biến đâu rồi? Phải có so gươm thì mới thú vị chứ. Giương một phát trúng ngay thì còn gì!
    Dư vị của cà phê trên đầu lưỡi mới thấy rung động làm sao! Nàng tạm cho những toan tính của mình ngủ yên để thưởng thức mùi vị thơm ngon của chiếc bánh mà Văn đã gọi. Trong không gian này, Diêu muốn được nghe ông ta nói như.. viết. Nếu không ông ta cũng chỉ là một sự tầm thường như muôn ngàn tầm thường khác. Mặt Diêu trở nên mơ màng. Nàng vẫn thích nhìn và tìm tòi trên gương mặt đối diện, gương mặt nhiều góc cạnh vẫn còn phủ kín như món hàng còn đóng hộp chưa được mở.
    Tự dưng Văn thấy mình vụng về trong việc chắp nối những chữ thành lời. Chưa bao giờ chàng bị như vậy, cho dù đứng trước thật đông người. Diêu, trước mặt chàng ngồi bắt tréo chân, tay xúc bánh chậm rãi, yên lặng trong những cử động của cô ta mà làm Văn không thể nghĩ được đến một điều gì khác.
    Diêu cũng thế. Họ không nói với nhau nhưng trong mắt nhìn hay cả những hơi thở, sức nóng từ người tỏa ra đều bắt nhịp thật khít khao và cùng có ý tưởng là có thể ngồi suốt đêm, nhìn sao, ngắm đêm lặng lẽ xuống, ướt sũng sương, yên lặng như hòa nhập trong một tưởng tượng tuyệt diệu. Chuyện ở bên nhau và không cần gì khác chỉ có đối với những người yêu nhau. Cả Diêu và ông Văn đều không phải trong trường hợp ấy, thế tại sao? Xúc tác của ngoại cảnh? Hay vì một sự đồng cảm không ngờ? Hay vì… sắp muốn yêu? Làm gì có chuyện đó, chắc chắn cả hai người đều nghĩ như thế.
    Họ nói những chuyện vu vơ, không nói về nhau, làm như cả hai đều biết về nhau quá kỹ. Thật thế không? Họ đã vượt qua khá nhiều khoảng cách để có sự thoải mái tự nhiên và cũng tình cờ trong những câu nói tìm thấy nhiều sở thích giống nhau hay khi ông Văn chưa kịp nói, Diêu đã bắt lấy làm như nàng là một con sâu nằm yên trong bụng ông từ bao giờ, chậm rãi nhả những sợi tơ mềm óng ánh, cứ thế quấn dần lấy ông ta, êm ái và kỳ diệu… như một điều không có thật!
    Diêu và ông Văn ngồi cho đến khi quán đóng cửa. Rồi hình như chưa thể dứt, ông ta chở Diêu ra biển ngắm đêm, không có những người bồi bàn lui tới hầu hạ, không có những vòm cây, không có cà phê, bánh ngọt, chỉ có cát, có biển, có mùi muối quyện hết châu thân. Gió biển làm rít những sợi tóc của Diêu đang lòa xòa ngả đầy trên vai ông Văn, một thứ âu yếm bỡn cợt và khoảng cách giữa hai người chỉ còn là những lần vải thật sát.
    Ngoài tiếng sóng rì rào, chỉ còn những hơi thở mang mùi cà phê. Diêu không còn thấy vội vã như lúc đầu, những con số phần trăm trong đầu nàng tăng tới đâu cũng không biết nữa, chỉ biết mình không còn thấy đùa dỡn và tính toán nữa, Diêu quên hết cả những bài toán cộng trừ nhân chia. Nàng chỉ biết đêm đẹp quá. Những làn sóng nhấp nhô rì rào sáng bạc lăn tăn chạy vào bờ sủi lên những bọt trắng phau. Bỗng dưng nàng muốn ngả đầu vào vai ông ta và ngủ không mộng mị. Có lẽ vì nàng đang đắùm chìm trong một giấc mộng huyền hoặc không muốn tỉnh thức. Vòm đêm trên đầu nàng sâu thăm thẳm xanh đậm và trong, lấp lánh lặng lẽ như những lời thầm thì từ thuở khai thiên lập địa. Trong phút chốc, Diêu và ông ta đã trở thành hai con người đầu tiên trên địa cầu này. Diêu có cần một trái táo mọng chín để mời gọi? Có lẽ không, vì chỉ cần một cử động dù thật nhỏ cũng làm vỡ tan giây phút lung linh ngàn năm không đợi mà đến.
    Còn ông Văn? Những nếp nhăn, dấu ấn thời gian trên gương mặt ông ta dường như đang tan biến đi. Ngồi trên cát, chân trần, bên cạnh một người con gái chỉ mới gặp có vài tiếng đồng hồ nhưng nàng đã đi thẳng vào đúng khoảng trống mà ông đã giữ riêng cho mình, chiếm đoạt êm ái dễ dàng. Những ước muốn trần tục không còn chỗ len vào. Những sợi tóc của Diêu theo gió cọ vào má ông. Thoang thoảng có mùi hương của nước hoa, của thân nhiệt người, mơn man trên má ông, Diêu đã ngả đầu vào vai ông, rón rén và nhẹ như những bước chân không chạm đất. Toàn thân ông được đốt bằng một thứ lửa riu riu, âm ỉ, không thể dập tắt, dậy lên những cảm xúc lạ lùng chưa bao giờ biết đến. Có chăng chỉ trong trí tưởng tượng dưới ngòi bút của ông. Vòng tay ôm vai Diêu thật nhẹ như chỉ sợ mọi điều đều tan biến vào hư không. Vai nàng lạnh, Diêu rúc vào ông như một con mèo nhỏ. Sự đụng chạm không gợi lên chút tà dục nào, chỉ thấy bàng hoàng như một kẻ đứng trước ngưỡng cửa thiên đường chiêm ngắm, lòng dấu vội những thấp hèn để vươn lên khỏi những tầm thường. Ông Văn không còn hiểu mình, và cũng không muốn hiểu, chỉ muốn những phút giây này trở thành thiên thu.
    Nhìn sang Diêu. Aùnh trăng mượt mà sẽ sàng đậu lên mặt nàng một thứ ánh sáng huyền hoặc. Ông chợt thấy dung nhan của tình yêu, thứ tình yêu đầu đời, sợ sệt đụng vào tưởng đâu trái tim vỡ tan.
    Trong mơn man của gió biển mang đầy vị muối, dù lim dim mắt nhưng qua khe hở nhỏ xíu của riềm mi, Diêu biết ông ta đang xoay người đối mặt, cúi xuống, trân trọng nâng mặt nàng lên và nhẹ như một lời ru áp má vào má nàng. Mũi họ đụng nhau. Diêu có cảm tưởng như mình đang tan ra dưới những lời thầm thì. Môi họ vờn nhau cho những bày tỏ mà ngôn ngữ loài người trở nên dư thừa. Họ tận hưởng những ngọt ngào chưa bao giờ được biết đến, nhưng vẫn ngần ngừ không dám đụng đến trái cấm dù đêm đã chín mọng và cả hai đều bị đốt sáng như hai ngọn đuốc. Những ý nghĩ có và thuộc về nhau đã chiếm đoạt trọn vẹn lấp đầy mọi ước muốn khác! Những cảm xúc cứ dồn dập đến như sóng xô vào bờ rồi lại đẩy lui, bất tận.
    Họ ngồi như thế trên cát lâu, lâu lắm. Văn thì thầm vào tai Diêu:
    “Anh đưa em về”
    Diêu gật đầu. Hình như nàng sợ một lời nói thôi cũng đủ làm vỡ tan đêm và Văn sẽ biến mất, hay cả hai đều đã tan biến vào nhau?

    *

    Thảo buông quyển sách xuống rên rỉ:
    “Trời ơi thơ mộng quá”
    Phong đang xem ti vi quay lại nhìn vợ đang nằm trên giường đọc sách đùa:
    “Thơ mộng bằng anh không?’
    “Anh này! Em đang nói..”
    “Truyện em đọc chứ gì? Biết rồi”
    “Anh đã đọc đâu mà biết?”
    Nhìn dáng Thảo nằm tự dưng Phong thấy vợ đáng yêu hơn thường lệ. Chàng tắt Ti Vi lại ngồi cạnh vợ nhìn say đắm trong một toan tính. Thảo biết ngay, đỏ mặt:
    “Đừng..!”
    “Đã làm gì đâu mà bảo đừng?”
    Thảo ngượng nghịu ngồi nhỏm dậy, mặt vẫn còn vẻ mơ màng như không khí của câu truyện nàng vừa đọc hãy còn lãng đãng đâu đây.
    Phong ôm vợ lắc lắc:
    “Ủng hộ không cưng?”
    Thảo lắc đầu:
    “Em thích thơ mộng. Anh không thích thơ mộng sao?”
    Phong cười trà trớt ôm vợ:
    “Thơ mộng thì thơ mộng… nhưng ủng hộ đã..”.
    Bên ngoài cơn giông chợt kéo đến tối sầm trời đất, mưa đổ xuống như thác lũ. Phong nói nhỏ:
    “Thơ mộng rồi đó, ủng hộ nhe…?”
    Tiếng mưa đập vào cửa kính rào rào nhưng trong những dãy dụa lấy lệ của Thảo, Phong vẫn nghe thấy nàng nói: “Em.. muốn… thơ mộng… “.
    Quyển truyện đã rơi xuống sàn từ bao giờ!

    Mc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:25 AM.

  4. #4
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Vườn Xưa

    Mc Bích

    Thụy An đưa tay xé lịch. Đã sang tháng 4. Nàng nhìn qua khung cửa sổ rộng không màn che ra phía sau nhà. Cả một dãy chậu bon-sai được Sơn kê lên trên kệ gỗ xếp cẩn thận ngay tầm mắt từ phòng khách nhìn ra vườn, chỉ để nàng ngắm mỗi ngày. Mỗi chậu, mỗi cây, mỗi kiểu, mỗi dáng, mỗi thế. Xa hơn chút nữa sát hàng rào phân đôi với nhà bên cạnh, màu cam thắm đẫm vẻ tươi nhuận của những chùm quít xen kẽ với khóm mía cao vút giơ những thân cành tím đỏ. Hai bụi hoa mẫu đơn đến mùa nở rộ. Cái mầu phấn hồng hơi ẩn sắc tím, mướt như mùa xuân đầu mùa và gợi lên những rạo rực của những nõn nà tươi thắm. Cây táo hàng mười mấy năm, trái đỏ đẹp như trong truyện cổ tích cũng khoe sắc mời chào mấy chú chim sẻ rúc rích suốt ngày. Đẹp như thế mà Sơn đang đòi chặt hết, chỉ để trồng cây xanh cho hợp với dãy bon-sai!
    Có tiếng chuông. Tiếng chuông không lớn nhưng trong cái yên tịnh của toàn khu nhà này vào giờ giấc mà mọi người đi làm hết lại trở nên... rộn quá! Thụy An chợt nhớ ..
    Hai đầu gối vẫn đau làm nàng đi những bước nhỏ và chậm. Chưa mở cửa nhưng nàng cũng biết là ai. Ông Harry T.
    Cái se lạnh còn sót lại của mùa đông đang chuyển bước sang xuân ở bên ngoài nhanh chóng luồn vào theo với khuôn mặt khắc khổ với những vết hằn trũng ở hai bên mép. Ông ta theo tập tục cúi đầu thật sát khi thấy chủ nhà:
    “Chào Bà! Bà mạnh giỏi?”
    “Chào ông!”
    Thụy An xem câu hỏi thăm của ông Harry T. như một lời chào hỏi thông thường nên không cần phải trả lời.
    Ông Harry T. chỉ vào bình hoa để trên chiếc kệ bằng gỗ nâu bóng có chân quỳ với số tuổi lâu đời gấp bao nhiêu lần hơn Thụy An, khen:
    “Lúc nào bà cũng có hoa tươi đẹp thay luôn luôn. Cái mùi hoa này mới ngọt làm sao! Nó đi với mấy món đồ cổ của bà. Vừa có hương lại có sắc”
    Thụy An cười. Nụ cười của nàng là một câu trả lời hay là một sự phụ họa? Hiểu thế nào cũng được.
    “Tôi thích hoa, thích cây, nhất là loại hoa peony”
    “Chồng bà sưu tầm cho bà nhiều thứ cây cảnh thật hiếm. Một sự tương đồng như thế giữa hai người thật là quý”
    Thụy An đi trước, mở cửa cho ông ta ra vườn sau, nàng không nói gì thêm. Chẳng phải nàng là người lạnh nhạt xa cách, nhưng phải dùng tiếng Anh để trao đổi câu chuyện với ông Harry T. là điều không thích thú gì.
    “Bà đừng lo. Chốc nữa tôi về bằng cửa bên hông, bà không phải bận tâm”
    Đây là lần thứ ba ông Harry T. nói câu này. Ông ta có thể vào cửa bên hông khi đến nhưng ông ta không muốn vậy vì muốn cho chủ nhà biết là ông ta đến, không phải tự đến tự đi. Nàng gật đầu:
    “Ông cứ tự nhiên”
    Ông Harry T. là người đã bán lại cho vợ chồng Thùy An một cây bon-sai rất quý. Đó là lý do tại sao ông ta vẫn lui tới để chăm sóc và “thăm” cây bon-sai đã không còn là của ông.
    Từ trong phòng khách phụ gần bếp, ngồi ở ghế bành nàng có thể nhìn thẳng ra vườn. Cái dáng còm cõi già nua của ông Harry T. đang khom người chúi mũi vào cây bon-sai làm Thụy An nhớ đến cái duyên mua được.
    Lần đó, Sơn nhất định bắt nàng phải đến xem cây ở nhà ông Harry T., người nổi tiếng về bon-sai. Ông Harry T. được biết đến trong giới sưu tầm cây cảnh vì nhiều lý do. Ông ta có một bộ sưu tập cây cảnh đồ sộ. Tài uốn nắn của ông có thể nói là tuyệt hảo. Nhiều cây bon-sai của ông đã được giải thưởng cao quý. Ngay tại Tòa Bạch Cung cũng có một cây bon-sai do chính tay ông tìm kiếm và không chỉ là uốn nắn mà còn tái tạo để thành một tác phẩm nghệ thuật. Những cây bon-sai đẹp của ông dù có trả giá cao ông cũng không bán. Thụy An nhớ khi nghe kể về ông Harry T. và những cây bon-sai nàng đã buột miệng nói: “Tại chưa trả đúng giá nên chưa bán đấy thôi!”
    Nàng nhớ mình đã miễn cưỡng đi cùng với chồng đến nhà ông Harry T. chỉ để xem cây cảnh. Sơn biết được địa chỉ này qua một người Tàu chuyên bán đồ cổ mà chàng là khách hàng lâu năm. Chồng nàng đã say sưa nói về cây bon-sai mà ông Harry không bán với một sự ham thích lạ lùng. Anh thích làm chủ những vật hiếm quý, để rồi khi đã mua được về làm của mình thì chỉ thích được một thời gian rồi lại tìm tòi săn đuổi những vật hiếm có khác, không hiểu vì sự chiếm hữu đã làm Sơn nhàm chán hay vì chưa đủ? Nhưng chưa lần nào Thụy An lại thấy sự say mê ở chồng mình lại mãnh liệt như thế khi tả về cây bon-sai không mua được.
    Nhà ông Harry cách chỗ nàng ở đến hơn 1 giờ lái xe. Nhà không lớn nhưng đất rộng, nhiều cây lớn lại ở gần sát chân núi. Điều đầu tiên mà Thụy An thấy ngay khi bước vào nhà ông T. là cái lạnh và âm u như đi vào một huyệt mộ. Trong nhà tối om, cái mầu nhờ nhờ u ám có mang chút mùi của những đồ cũõ vây lại như một bức màn vô hình thập thò xem chừng những bước chân người lạ! Màn cửa trong nhà mầu đậm và kéo kín mít. Đồ đạc toàn gỗ đen với mặt đá xám lạnh lẽo. Nhà không có nhiều đồ đạc. Căn nhà như không có người ở, không sinh khí, hay chỉ là một thứ sinh khí èo uột và thật mơ hồ. Bước vào, ngộp thở, và chỉ muốn đi ra ngay như sợ sẽ bị cầm giữ lại hay lún xuống trong cái tối tăm tưởng chừng đang vươn những cánh tay ra với lấy! Những cánh tay không màu sắc với những con mắt chớp mở theo từng gót chân chậm và nhỏ của Thụy An.
    Chủ nhân mở cửa ra vườn sau. Chỉ một cánh cửa ngăn trong và ngoài mà như mở một trang sách mới, của một người khác. Tuy không tưng bừng rộn rã nhưng êm đềm với không gian thoáng hơn. Mọi vật, mọi sự trong khu vườn được xếp đặt với những thứ tự riêng. Riêng mà chung. Riêng trong cách thế của từng loại, nhưng chung trong sự hài hòa làm như phải như thế, không thể khác đi được. Những cây Tùng Ngũ Châm lớn, cao, không theo kiểu bon-sai cũng được cắt tỉa nhiều tầng với những tàn cây thật đẹp. Rễ của cây trồi lên khỏi mặt đất những đường gân mạnh mẽ như móng vuốt chim ưng đang bám xuống mặt đất. Hồ nước ở góc vườn hình vòng cung thu gom một mảnh trời chìm lẫn với lác đác vài cánh sen trắng. Tuyệt đối không thấy một bông hoa màu sắc rực rỡ nào. Làm như chỉ một chút màu vào cũng đủ khuấy rộn cả một không gian lặng như đang chìm dần vào bóng chiều tà. Những chậu bon-sai được đặt nằm xen kẽ chứ không để riêng xếp loại từng góc. Chúng nằm đấy trong thinh lặng nhưng dường như cũng để chờ đợi bóng đêm xuống như trông ngóng những hạt sương từ trời cao kia nhả xuống êm ả trong một gặp gỡ giữa trời và đất.
    Chủ nhân của ngôi vườn, ông Harry T., người thấp bé nhưng rắn rỏi tuy có phần khắc khổ. Hai cánh tay gầy gò thò ra khỏi chiếc áo sơ-mi cụt tay và dứt điểm bằng đôi bàn tay nhỏ nhắn nhưng gân guốc. Ông ta có đôi bàn tay và những ngón tay nhỏ như tay đàn bà. Ông Harry khi đưa Thụy An và Sơn đi xem những cây bon-sai đã hãnh diện khoe với nàng: “Đây là những đứa con của tôi”. Nàng đã nghĩ thầm nếu là con thì làm sao bán được?
    Những cây bon-sai với tên gọi mỹ miều do ông Harry đặt mang nhiều ý nghĩa. Ở đây đã là một thế giới thu nhỏ, nhưng cúi gần xuống nhìn những chậu bon-sai được cắt xén tỉ mỉ, những mảnh rêu mướt ở gốc, ở những mảnh thân cây, gốc rồi rễ rồi lá.. chêm một vài hình tượng tí hon, một thế giới khác còn nhỏ hơn, sâu hơn.
    “Ông bà xem đây, phải uốn phải nắn phải chăm chút từng li từng tí mới được như thế này. Đây là loại cây Du được uốn theo thế “Long giáng”. Gốc lớn, lá nhỏ nhưng cành tỏa đều trên thân như vẩy rồng. Thân cứng mà hình thể mềm mại uốn khúc như rồng bay. Cành bóng như ngọc. Còn hoa... chỉ là hoa trong tâm tưởng. Gọi đây là Hoa Tâm Tưởng cũng được”.
    Thụy An nhìn ông ta bằng một cặp mắt khác. Ông Harry không những đã cho cái cây một cái tên, một hình tượng, mà còn gán cho nó cả một linh hồn theo ý ông!
    Ở một cây khác, chủù nhân tiếp tục giải thích:
    “Đây là thông Nhật Bản, Japanese white pine. Từ gốc cây nhoài ra lên cao như đỉnh thác, rồi lại đổ xuống nhiều tầng mà ở mỗi chặng cây khúc khuỷa tựa như ghềnh đá, trổ ra lá có tán tròn trịa như nước chảy. Những tán tròn và mập “Trực” đã kéo lại cái thế “Đổ” của bon-sai”.
    “Còn núi đá với cây đây ông đặt tên là gì?” Thụy An hỏi.
    “À, nó là “Lng L Uy Hùng”. Núi đá không phải lên tắp cao như bình thường mà chênh vênh đổ dài. Trên thì nhẵn còn dưới bụng đá thì tôi phải đẽo thêm, tạo cho mấp mô lồi lõm nhiều hơn để tạo sự hiểm trở đối nghịch đồng thời tôn vinh cái vững chãi của núi. Đỉnh núi có tùng xanh do tôi chiết vào, dưới chân núi có lều trúc, ngư ông. Trên có sức sống mà dưới cũng thế. Có cái tĩnh của đá, có cái động của cây cỏ. Bon-sai phải có bố cục hoàn chỉnh. Bố cục càng giản dị càng đẹp”
    Sơn nói với ông ta:
    “Ông giới thiệu về cây bon-sai mà tôi thích cho vợ tôi nghe đi!”
    Ông Harry đưa Thuỵ An và Sơn lại góc vườn nơi có hòn giả sơn, gần suối nước nhân tạo đang róc rách. Cây bon-sai có hình chữ S được ép cho ngắn lại. Cả thân cây khô vàng úa không có một tí vẩy nào cho thấy sự sống. Lên đến hơn nửa đoạn thân mới có nhánh rẽ ngang đâm chồi lá xanh.
    Ông Harry giải thích:
    “Đây cũng là loại Tùng Ngũ Châm. Loại này lá xanh quanh năm. Lá kim ngắn, sinh trưởng chậm và sống rất lâu. Cái đặc biệt của cây bon-sai này là hình tượng và dáng tự nhiên của nó. Ngoài ra quan trọng hơn cả là tuổi tác của cây. Cây này phải trên 1000 năm tuổi nên không thể uốn hay sửa dáng, thế được. Ông Bà nhìn xem. Giống cây này càng lâu đời thì dáng và thế của nó càng vặn xoắn, cuộn khúc, thế như rồng bơi. Kiểu thân cong thế này gọi là “Long trang”. Nó đúng là rồng. Tôi phải lên núi, vào sâu tình cờ tìm được nó. Nó bám vào gần sát bờ vực. Tôi lấy được mà suýt mất mạng. Bà có thấy phần thân từ gốc không? Phần này đã chết từ lâu. Bà nhìn coi! Khô hết cả. Vậy mà từ đây.. Bà cúi xuống nhìn gần mà xem.. lại sinh ra cành lá mới. Lá mọc ra cũng tự nó. Tôi đã thử chiết hay ghép nhiều lần mà đều thất bại. Hoàn toàn là tự nhiên. Không một vết tích của dây đồng uốn hay bất cứ một vết đẽo hay cắt nào. Nhưng cũng chỉ mọc có thế, không thêm cành mới nào khác. Đẹp ở chỗ có tsinh ngay đây.”
    Thụy An cúi gần sát vào cây bon-sai. Nàng ngửi được cả mùi hăng hắc từ cây tỏa ra. Ngửng đầu lên, nàng hỏi:
    “Tôi sờ vào được không?”
    Đôi mắt ông Harry vốn đã nhỏ nay nheo lại như một lằn chỉ nhìn Thụy An. Cái nhìn như một lằn chớp trong đêm tối lướt trên mặt nàng, sắc và lạnh, lóe lên tí ánh sáng rồi khép kín.
    Thụy An vẫn nhìn lên chờ đợi câu trả lời của ông ta.
    “Được chứ!ù”
    Nàng đưa ngón tay sờ vào thân cây khô như thăm dò một sự sống ẩn dấu trong đó. Thân cây khô cứng nhưng có chỗ không ráp mà những mạch gỗ nhẵn như đã hóa thạch. Những ngón tay nàng nhẹ nhàng vờn theo đường cong của thân cây lượn, như vuốt, như làm quen rồi buông ra. Những lằn gỗ khô bóng oằn xuống rồi cong lên nhưng vẫn bám vào nhau như gồng mình chịu một sức nặng. Những chùm lá bé tí tẹo có màu xanh lục đậm đâm ra từ thân cây chết đó như một sự thách đố dịu dàng mà hiển nhiên. Ngay cả cái mùi ngai ngái từ cây tỏa ra như những tiếng chuông nho nhỏ gióng lên diệu vợi râm ran. Cái âm vang chìm đắm đó như những tiếng nói vô hình trao gởi đến Thụy An. Nàng nhắm mắt lại hít cái mùi thơm đó như một thu nhận. Chừng như chưa đủ, nàng lại chậm chạp vuốt phần thân cây khô lần nữa.
    Thụy An chợt nhói đau, nàng kêu khẽ!
    Sơn giật mình hỏi:
    “Em sao thế?”
    Nàng đưa ngón tay lên nhìn. Đầu ngón tay giữa có lẽ bị gỗ ở thân cây móc vào nên sướt chảy máu. Để ngón tay vào miệng, nàng mút cho chặt để hút phần máu ri rỉ. Thụy An lắc đầu ra hiệu không sao.
    “Bà có sao không?” ông Harry ân cần hỏi Thụy An.
    “Không ăn thua gì. Tôi vô ý quá”
    “Em đụng vào đâu mà chẩy máu tay thế? Phải cẩn thận”
    Ở phần giữa thân cây còn lại một vết đỏ sậm nhỏ xíu. Ông Harry nhìn xuống và chắt lưỡi. Có lẽ ông ta hối hận đã cho Thụy An đụng vào cây bon-sai quý.
    “Ông để cho chúng tôi chậu bon-sai này nhé?” Thụy An buột miệng hỏi.
    Sơn đã kỳ kèo mãi từ mấy lần trước nhưng ông ta từ chối không bán. Lần này ông Harry cũng lắc đầu:
    “Những cây nào khác ở đây có thể để cho ông bà được, nhưng riêng cây này thì không. Hiếm khi nào mới gặp được như thế. Có duyên thì gặp.”
    Thụy An đứng dậy, nàng loạng choạng suýt ngã. Sơn phải đỡ tay nàng.
    “Trong vườn tôi có nhiều cây bon-sai đẹp lắm. Ngay như cây bon-sai kia. Đó là một tác phẩm nghệ thuật! Tôi đặt cho nó là “Hoang Sơ”. Kiểu này thuần túy là Nhật Bản. Đây là loại Tùng Nhật. Cây đã hơn 400 năm. Thoạt tiên chỉ có một cây, rồi tôi chiết và ghép vào thành một rừng Tùng. Đây là một cánh rừng nguyên sơ trên một đĩa hình hơi dốc. Nhìn vào thấy sự bình an trong cái hoang dã. Cái đẹp ở chỗ “tứ diện”. Ông bà nhìn phía nào cũng thấy nó đẹp cả, nhìn trước, sau, ngang, dọc, đều đẹp. Cây bon-sai này quý lắm, nhưng nếu ông bà thích thì tôi sẽ để lại vì biết là cây sẽ thuộc về người sành sỏi và yêu nó”
    Sơn đã mua tác phẩm “Hoang Sơ mặc dù vẫn tiếc cây bon-sai “T Sinh”.
    Nửa năm sau, ông Harry gọi điện thoại cho Sơn. Ông ta bằng lòng bán cây bon-sai “T Sinh”. Mang cây về nhà, Sơn khoe với Thụy An:
    “Không ai có một cây bon-sai như thế này. Ông ta bán với điều kiện thỉnh thoảng phải để ông ta đến thăm cái cây một lần. Có ăn thua gì đâu, đến nhiều hơn cũng được vì nhiều khi ông ta lại chỉ cách cho mình dưỡng nó, phải không em?”
    “Anh mua đắt không?”
    “Chỉ hơn chậu “Hoang Sơ một chút”
    “Sao kỳ vậy? Em tưởng ông ta phải đòi giá cao lắm mới phải chứ?”
    Sơn nhìn vợ tủm tỉm cười:
    “Chắc mình có duyên!”
    Khi Sơn đặt chậu bon-sai “T Sinh” cạnh chậu bon-sai “Rng Thưa”, Thụy An ngồi trong nhà nhìn ra ngắm vì dạo này đầu gối nàng đau lên, không muốn đi lại nhiều.
    Đến cả tuần lễ sau nàng mới ra vườn. Thụy An kê một cái ghế nhỏ gần dãy bon-sai, ngồi lặng yên. Nàng có cảm giác có thể bầu bạn với tất cả những cây cối trong vườn. Trong cái yên lặng giữa cây và người dường như có một cảm thông. Những đối thoại trong im lặng đó làm Thụy An thấy lòng nhẹ hẳn.
    Ngồi ngắm cây bon-sai “mới” giữa bao nhiêu cây cảnh khác, nàng có cảm tưởng cây bon-sai Tử Sinh là một người khách lạ. Nó vẫn chưa thuộc về nàng, phải cần thời gian. Mình phải làm quen với nó mới được, nàng nhủ lòng như vậy. Thụy An lại gần hơn, cúi người xuống không chỉ để nhìn cho rõ hơn nhưng như một sự cận kề làm quen. Nàng chưa muốn bảo với nó về “mối liên hệ mới mẻ” giữa vợ chồng nàng và “nó”.
    Nhưng rồi nàng chợt nhìn thấy có điều khác lạ ở cây bon-sai “Tử Sinh” mới mua về. Nàng nhớ cả thân cây uốn khúc hình chữ S không có một ngọn lá, chỉ ở trên quá phần giữa thân cây mới có trồi ra cành và lá. Cành lá đó rủ xuống một bên bềnh bồng như những đám mây lơ lửng. Thụy An lại nhìn kỹ hơn Ở đoạn thân kế tiếp đi ngược lên trên chừng 2, 3 cm, một nhánh cây nhỏ còn non bé tí teo, đâm ra ở một chiều đối nghịch với nhánh cây bên dưới. Lơ thơ vài chùm lá có màu xanh hơi bạc. Màu lá non khác hẳn những chùm lá khác. Lạ nhỉ?
    Từ hôm ấy, Thùy An tự dưng thích cây bon sai “Tử Sinh” hơn những cây khác trong vườn. Nàng ngồi đó, cạnh cây, yên lặng nhưng trong đầu Thuỳ An nói lên trong âm thầm biết bao nhiêu điều mà không hề thố lộ với ai. Trong cái tịch mịch của vườn cảnh, thỉnh thoảng những tiếng rúc rích của côn trùng, tiếng chim kêu lấp ló, nàng thấy được những điều mà vào những năm trước chộn rộn với công việc, quay cuồng với đời sống và lo toan, Thuỵ An không thấy. Ngồi cạnh cây bon sai “Tử Sinh”, nàng có cảm tưởng mình có thể thu nhỏ lại, nhỏ tí tẹo để ngồi dưới gốc cây Tử Sinh rồi trèo lên thân cây vòng vèo của nó, áp mình vào những tàn lá xanh nhỏ li ti ấy cùng hít thở một đời sống mới đầy kiêu hãnh vì cũng như nó, nàng đã vươn lên cao, vượt trên nỗi đau của mình.
    Phần Sơn vẫn mê man đi tìm những hiếm quý khác nữa và chỉ nhớ đến cây “Tử Sinh” mỗi khi có bạn quý hay khách xa đến chơi để chàng có dịp giới thiệu về nguồn gốc của nó.

    Lần này là lần thứ ba mà ông Harry T. đến thăm cây “Tử Sinh”. Tự dưng nàng muốn ra vườn nói chuyện bâng quơ với ông ta.
    Nhìn ông ta cúi sát đầu vào cây “Tử Sinh”, nàng bắt chuyện:
    “Ông có thấy gì khác biệt không?”
    Ông Harry giật mình nhìn lên. Nắng chiếu vào gương mặt sạm nắng. Đôi mắt của ông ta gần như nhắm hẳn lại.
    “Bà có để ý phải không?”
    Thụy An hơi thắc mắc nên chưa trả lời vội chỉ cười. Ông ta nói ngay:
    “Vì vậy tôi mới bán cho ông bà”
    Nàng tỏ ý không hiểu.
    Ông Harry trỏ vào cây bon-sai:
    “Bà có thấy nó mọc cành mới không?”
    “Có, tôi có thấy. Lạ quá! Tôi nhớ ông kể là ông tìm đủ cách để chiết hay ghép mà không được”
    “Bà có để ý cành non mọc ở chỗ nào không?”
    “Khoảng giữa thân cây”
    “Bà không thấy à? Nó mọc ra nhành mới ở ngay chỗ bà bị cào sướt tay. Từ vết máu khô của bà bám trên thân cây. Từ phần đã chết của nó, từ cái phần già nua cắn cỗi nhất lại sinh ra sự sống mới. Máu của bà, sự sống của bà đã làm nó hồi sinh. Bon-sai là một nghệ thuật do con người tạo nên. Con người gọi đó là nghệ thuật. Tạo ra nghệ thuật, tôi tưởng mình sống với nó, nhưng tôi nhầm! Tôi sống với nó nhưng nó không sống với tôi! Tôi yêu những điều mình làm ra, nhưng yêu không chưa đủ. Đó chỉ là thứ nghệ thuật một chiều! Còn bà? Sự đụng chạm của bà, vết thương của bà ... Tôi không biết gọi đó là gì .. Một giao cảm giữa người và cây. Bà đã cho nó sự sống. Bà là người ơn của nó. Tôi phải bán cho ông bà là vì vậy. Trở lại đây nhiều lần, tôi chỉ muốn xem nhành cây mới này phát triển đến đâu. Xem những điều suy nghĩ của tôi đúng hay sai, hay vẫn chỉ là những hoang tưởng?”
    Thụy An ngẩn người ra. Nàng cúi thấp xuống nhìn cây “Tử Sinh”. Những điều ông Harry vừa nói có phải là những hoang tưởng? Hay chỉ là một sự trùng hợp? Nàng chỉ biết mình thích cây Tử Sinh hơn những cây khác trong vườn, và nhánh cây non mới mọc ấy đã trở thành một trung tâm điểm của sự chú ý.
    “Có thêm lá non mới nữa đây này! Nó còn sống thêm hàng vài trăm năm hay vài ngàn năm nữa, nhưng cũng có thể ..” Ông ta bỏ lửng câu nói chừng vài chục giây đồng hồ rồi lại bàn tiếp “Giữa muôn ngàn chộn rộn trong vườn mà nó vẫn phát triển tốt. Tôi cứ nghĩ phải tạo môi trường sống cho nó, mà không phải vậy. Tất cả những thứ do con người tạo nên, cột nó vào đều sai cả. Bà đúng là có duyên với nó!”
    Nói đến đó, mặt ông ta buồn thiu, vừa tiếc vừa ngẩn ngơ. Có lẽ nếu Thụy An không đến, không đụng vào cây bon-sai Tử Sinh thì ngày hôm nay nó vẫn có mặt trong khu vườn của ông, nó vẫn thuộc về ông! Nghĩ đến đó, ông Harry T, chợt nhận ra ông vẫn quanh quẩn trong cái vòng mà ông dựng lên và gọi là nghệ thuật! Bây giờ ông mới thấy mình thua đậm! Cái tự nhiên bộc phát mới chính là nghệ thuật. Những gán ghép dưới bàn tay tài hoa của ông dù khéo léo đến đâu vẫn chỉ có nửa vòng nghệ thuật. Một nửa còn lại trống toang hoác nên mới sổng mất!!!
    Ông nói với Thụy An:
    “Tôi không có lý do gì để đến đây nữa. Cám ơn bà rất nhiều trong thời gian qua. Cái duyên tự nó đến, muốn cũng chẳng được. Thôi, tôi xin phép bà. Bà là một người may mắn”
    Thuỵ An không biết nói gì hơn, nhưng nàng thấy được nỗi tuyệt vọng đang đong đưa cùng với nỗi buồn trên gương mặt ông Harry, trên đôi vai suông đuột đầy vẻ chịu đựng. Nhưng nàng cũng phải nói một cái gì trong lúc này.
    “Ông cứ ghé thăm cây Tử Sinh .. bất cứ lúc nào ông muốn. Không có ông thì tôi cũng không có nó trong vườn được.”
    Ông Harry cúi thấp đầu chào Thụy An:
    “Không những bà là người may mắn mà còn đôn hậu rộng rãi.. Chẳng bù cho tôi!! Nhưng đủ rồi thưa bà. Cái duyên giữa tôi và nó đã hết. Không nên gượng gạo ép buộc làm chi. Cám ơn ông bà.”
    Ông Harry lầm lũi mở cửa bên hông nhà ra ngoài. Ông muốn ở lại với cây Tử Sinh lâu hơn một chút nữa vì biết đây là lần cuối, và cũng thừa biết rằng chủ nhà không phản đối, nhưng như một người đã bị tước đoạt mất tình yêu, càng cận kề càng thấy đau hơn.
    Nàng nhìn ông ta quay đi, men theo cửa bên hông ra lối trước. Thụy An nhìn xuống cây bon-sai Tử Sinh rồi lại nhớ đến những lời nói của ông ta. Ông Harry quả là một người hết lòng yêu.. cây!
    Thuỵ An vào trong nhà. Nàng đưa tay gài cửa. Chắc chắn nàng sẽ không để Sơn chặt hết những cây trái hay hoa khác trong vườn. Nàng không muốn có nguyên một khoảng vườn chỉ toàn màu xanh của những cây bon-sai. Phải có này, có khác, như cuộc đời vậy.
    Ngồi trước bàn thờ, Thụy An lần chuỗi đọc kinh nguyện trong ngày. Lúc này mới là tuyệt đỉnh của an bình, hạnh phúc và sự toàn mỹ. Những điều mà ông Harry T. nói nãy giờ đã rơi rụng bên ngoài như những trăn trở suy ngẫm do chính ông ta bày ra và đi tìm câu trả lời. Sẽ không bao giờ có câu trả lời như ý ông ta muốn cả, nàng biết chắc như vậy. Tự dưng nàng thấy tội nghiệp cho người được tôn thờ là bậc “sư” của ngành chơi cây cảnh bon-sai! Sự đau khổ do chính ông ta tạo nên đó sẽ đeo đẳng ông ta cho đến hết cuộc đời. Trừ phi..
    Thuỵ An mỉm cười, lắc đầu! Nàng phải lần chuỗi lại từ đầu!! Không dưng bị chia lòng chia trí vì những chuyện không đâu!!

    *

    Khi những chùm lá mới ở cây Tử Sinh mọc ra nhiều hơn dù rất chậm cũng là lúc đôi chân Thụy An đã hoàn toàn bình phục. Nàng chăm sóc vườn cảnh nhiều hơn và vẫn bầu bạn với cây, với hoa. Sự sống mới không làm nàng thay đổi, chỉ bền vững hơn trong niềm tin của mình

    Mc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:26 AM.

  5. #5
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Tái Sinh

    Mặc Bích

    “Theo bn tin ca Tân Hoa Xã loan ti vào cui tháng 9, 2004, bà Yang Huanyi, quê quán ti H Nam va qua đời ti nhà riêng vi s tui th không chính xác lm, 95-98. Bà là mt trong 7 người ti Trung Hoa còn biết x dng loi ch Nushu, mt c t (Nushu, tm dch là N t). Đây là mt loi ch viết đặc bit do ph n Trung Hoa sáng to ra nhm đáp ng nhu cu bày t cũng như trao đổi nhng tình cm riêng tư trong thế gii riêng ca h khi mà ch đứng cũng như thân phn ca người ph n Trung Hoa b h thp đến cùng cc. H không biết đọc, không biết viết. Loi ch Nushu gm tt c 1,800 ch được to thành bng nhng nét nguch ngoc, khác hn vi kiu ch Tu. Nam gii Trung Hoa đã coi Nushu như mt th ch dành cho bn phù thy. Nhng nhà ngôn ng hc xem đây là mt sáng to đáng k ca ph n Trung Hoa. T năm 1950, nhiu hc gi Trung Hoa đã b công nghiên cu Nushu, nhưng vi cuc cách mng văn hóa t năm 1966-1976, Nushu b lit kê là sn phm ca phong kiến và b cm. Vi s người còn biết đến loi ch Nushu ch đếm trên đầu ngón tay, người ta phng đoán loi ch này s biến mt ti Trung Hoa nói riêng và trên thế gii nói chung.
    Đọc bn tin vi ít nhiu ngm ngùi, tôi viết câu chuyn dưới đây


    Nàng khép cửa thoắt ra ngoài, nhẹ như một làn khói luồn khỏi khe cửa gỗ nặng trịch. Thoáng trong những lùm cây tiếng chim rúc rích gọi nhau làm đầy một không gian hãy còn sụp nửa mi mắt. Hình như một nửa người nàng vẫn còn trong cơn mộng mị của giấc mơ lúc gần sáng, nửa kia bước những bước quen thuộc về góc sân.
    Hàn San quăng chiếc gàu xuống lòng giếng. Tiếng gàu gỗ va nhẹ vào mặt nước làm thành tiếng chào đón đầu ngày, đục và trầm như một kẻ hết hơi mà vẫn chưa làm nàng tỉnh hẳn. Ngay cả những động tác ném, kéo gầu nước dường như không phải do nàng, ai đó. Mãi đến khi đổ đầy nửa thạp nước thứ nhì, tay chân nàng đều ướt, Hàn San mới thấy tỉnh, cũng là lúc sương đã tan hết dần. Nàng nhìn thấy rõ mặt nước nhỏ xíu trong giếng, thấy mình đang chao đi chao lại trong cái sóng sánh loang loáng chấp chới lẫn ít trời mây. Hiện rồi lại biến, giống như một cuộc đối thoại bị cắt làm nhiều đoạn nhưng không có ai khác ngoài nàng và lòng giếng sâu hun hút.
    Khi cúi xuống với cùng động tác quen thuộc, cũng là cái gàu chót của thạp nước thứ hai, một giọt nước trong vắt từ trán nàng rơi xuống, nhanh và tan loãng trong chiều sâu âm u ấy. Cơ hồ có tiếng vọng lên về sự va chạm đột ngột từ mình và cái mặt gương chao đảo kia. Rồi thôi.
    Sau khi đổ đầy hai thạp nước, nàng cuộn dây, cất gầu, cũng là lúc mặt trời bắt đầu lên thấy rõù sau rặng núi bên kia. Cái ánh sáng vàng nhạt và loãng thổi chút hơi ấm hồi sinh đang cố đẩy nhẹ những phiến sương còn sót lại. Đã có bao nhiêu buổi sớm mai nhìn lên đỉnh núi mắt bị chận lại ở đó và Hàn San lại nhớ đến mẹ, đến giọng nói trong như tiếng phong linh lúc lắc trước gió nhẹ của những ngày đầu xuân..
    Những căn nhà quanh đây nằm suốt từ chân núi lên đến lưng chừng giữa núi, một bên sườn núi thoai thoải xuống nhiều nấc nên người ta trồng trọt, canh tác. Phía bên kia là vực sâu hun hút, đá nhiều, lởm chởm những cây, không thấy đáy. Người ta bảo dưới đó có quái vật sống nghìn năm, thỉnh thoảng nó phà hơi thở lên làm thành những tảng mây trôi lấp lửng. Đỉnh núi lúc nào cũng lẫn trong mây như bị cắt mất ngọn, và người ta cũng bảo kẻ nào lạc lên đó nếu không tìm thấy đường về thì cũng bị quái vật từ dưới vực thung lũng vươn tay lên bắt. Và mẹ Hàn San đã biến như thế. Biến luôn trong một ngày đầu hè khi nắng còn dịu, khi cây lá còn non tươi và trước mỗi nhà những người già ra ngồi hong nắng, giơ những cáønh tay gầy đét, nổi đầy gân trên làn da khô tróc vẩy như những con thú vừa chui ra khỏi hang sau một mùa đông ảm đạm không ánh mặt trời, và bóng những đứa trẻ chạy vui đùa như những bông hoa bên cạnh những cành khô mốc nhưng vẫn còn nhựa sống ri rỉ.
    Mẹ biến đi không biết ngày hay đêm. Chỉ biết ngày sau đó mấy người thợ săn tìm được tấm khăn mỏng mẹ hay quấn quanh cổ mắc trên cành cây sát bờ vực thung lũng ở mãi trên cao. Khi họ đưa chiếc khăn cho ông Diệp, cha nàng, ông thản nhiên xua tay không muốn nhận. Bà Linh, quản gia là người đã cầm tấm khăn quàng lên vai Hàn San, lúc ấy nàng 15 tuổi, ôm chặt lấy nàng và giữ ghì một lúc lâu. Nàng chỉ kêu được: một tiếng “Mẹ ơi!” rồi nuốt trọn vào trong lồng ngực nỗi thảng thốt của một niềm đau bất chợt chưa rõ nét. Hai mùa hè như thế qua đi, nỗi mất mát đột ngột chiếm ngự hết khoảng trống trong nàng, ngang nhiên gậm nhấm Hàn San để mỗi lần nàng há miệng chực gọi “Mẹ ơi!” thì nó lại bịt miệng không cho thoát ra mà lại nhồi lại nhét xuống đến tận sâu. Và hai tiếng “mẹ ơi!” ấy trở thành những tiếng ngất thất thanh của sự lạc lõng trơ vơ ẩn hiện thấp thoáng trên đôi mắt mới lớn 17 tuổi có mầu của bóng mây nhưng tiềm ẩn một ánh sáng dị thường bởi vòng tròn có màu xanh đá quanh con ngươi. Mẹ đi nhưng tấm khăn ở lại. Đó là chứng tích sau cùng về sự có mặt của mẹ trong ngôi nhà này. Mọi người chẳng ai nhớ đến mẹ vì còn đang bận rộn thu xếp đón chào bà vợ thứ ba của ông Diệp.
    Mùi khói bếp sớm mai khen khét lẫn trong tiếng gió rừng thốc vào mũi Hàn San nhắc nàng đến những bổn phận trong ngày. Những giọt mồ hôi trên trán nàng đã khô từ lâu, chỉ còn lại cái cảm giác dinh dính ở sau lưng.
    Như một bóng ma, Hàn San lại đẩy cửa trở vào nhà. Bà Linh đang thu dọn mấy thùng vải nghe tiếng chân nhìn lên. Thấy Hàn San, bà Linh cười. Cả khuôn mặt của người đàn bà ngoài 60 tuổi đã vốn lệch lại càng méo thêm vì những lôi kéo của một bên mép miệng xếch lên nhiều hẳn một phía, lộ ra một lỗ hổng của hàm răng trên đang xô đẩy nhau tiến trước để trám vào cái khoảng trống mất mát của mấy chiếc răng cửa. Một bên mũi phải cũng theo sự giằng co mà ngoẹo một bên theo với cái miệng. Và đôi mắt nhỏ tí, không đen mà nhờ nhờ nhưng sáng quắc những lúc cơn giận dữ ở bà Linh bộc phát cũng phải nhượng bộ lệch về cùng phía. Nếu che đi một nửa khuôn mặt, bà Linh không phải là người đàn bà xấu, Hàn San nhận xét như thế và hơn tất cả mọi người trong ngôi nhà này bà Linh là người có trái tim. Từ trái tim của bà Linh nở ra những bông hoa ngát mùi nhân ái, ngọt ngào như những dấm dúi thương cảm mà chỉ một kẻ chơ vơ như Hàn San mới nhận biết. Người quản gia trung thành này của ông Diệp đã ở với gia đình họ Diệp từ nhỏ, tiếp nối từ thời ông cha của bà. Họ sống ở đây, rồi cũng chết ở đây. Nghĩa trang của từng giòng họ nằm chênh vênh các góc đồi, những người làm của họ cũng được cái vinh dự sống cùng, chết cùng để hàng năm cũng được hưởng chút nhang khói, cùng. Chỉ có mỗi mẹ Hàn San là không. Sự tách lìa của bà chặt đứt mọi liên hệ với giòng họ Diệp. Sống thì lỡ mà chết thì chọn! Điều này làm nàng băn khoăn mỗi khi nhớ về mẹ.
    Bà Linh đẩy thúng vải ra hiệu cho Hàn San rồi móc trong túi áo bông chiếc bánh bao đưa cho nàng. Chiếc bánh hãy còn nóng có lẽ vì được ủ trong túi áo bà Linh. Lần nào bà Linh đưa ăn thức gì không phải vào bữa ăn chính nàng đều bị nghẹn. Có cái gì mắc ngang cổ chận những vướng mắc từ bên trong không cho ùa ra. Chiếc bánh bao sáng nay cũng không ra ngoài thông lệ đó. Một câu nói cám ơn có lẽ không cần thiết.
    Bà ta nheo nheo mắt nhìn nàng. Đôi mắt chỉ thấy nhíu lại như một sợi chỉ.. lệch một bên. Họ chẳng nói với nhau lời nào.
    Cặm cụi thêu những đôi giầy vải, Hàn San đã để mọi ý nghĩ trong đầu mình biến nhanh. Nàng chăm chú với đường kim mũi chỉ, những sợi chỉ màu sắc sặc sỡ huê dạng. Những bông cúc, hoa mai, nở ra dưới bàn tay thành thạo và khéo léo của Hàn San. Chỉ có mình bà Linh gật gù tán thưởng công trình sáng tạo của nàng, còn kỳ dư mọi người trong nhà, kể cả những đứa em cùng cha khác mẹ với nàng, đều xem đó là chuyện đương nhiên và tầm thường. Hàn San không chỉ thêu và làm giầy vải, nàng còn may quần áo cho cả nhà. Mấy đầu ngón tay của nàng chai cứng ở tuổi 17, cũng không khác con Tiêu, con Trinh lo việc bếp núc, vườn tược. Nàng cũng không được cái nhan sắc của những đứa em chia một nửa huyết nhục. Hàn San đúng là một thứ tầm thường trong ngôi dinh cơ rộng lớn của giòng họ Diệp. Nàng sẽ sống già dưới mái nhà này, chết đi mang tên Diệp hay một ngày nào đó sẽ được chính cha nàng gả bán làm lẽ cho một lão già của giòng họ nào khác cũng quanh quẩn trên vùng đồi núi này, hay lại sa vào tay một người đàn ông quê mùa? Số phận của nàng sẽ tùy thuộc ở ông Diệp. Như thế, những ngày ngồi thêu thùa bên cạnh bà Linh có lẽ trở thành những giây phút bình yên và hạnh phúc như cái bánh bao nhân đậu ngọt và bùi đang nằm trong bao tử Hàn San sáng nay.

    *

    Khi chỉ còn tiếng côn trùng rỉ rả như tiếng thở đều của đêm, lúc mà cả nhà đã say ngủ, chỉ duy nhất ánh lửa trong bếp còn le lói, Hàn San rón rén dậy. Nàng nghe ngóng một lúc rồi nhẹ như làn gió, nàng cầm quạt xuống bếp. Ngồi xuống bên bếp lửa, ánh lửa hồng hơn ráng chiều của một ngày nhiều nắng, Hàn San xòe chiếc quạt. Trên chiếc quạt giấy màu ngà ngà không hình vẽ kiểu cọ chỉ nguệch ngoạc nhiều lằn vạch run rẩy ngang dọc như những vệt bẩn. Nàng cúi đầu, đưa quạt gần bếp lửa cho thêm ánh sáng rồi tìm bên cạnh bếp nhánh củi cháy khô nho nhỏ giấu sẵn ở cạnh lò. Ban ngày, bàn tay nàng điều chỉnh cây kim khéo léo bao nhiêu mà bây giờ lại vụng về với nhánh que củi cháy khô bấy nhiêu. Nàng chúi mũi gò thành từng vệt run run trên mặt bên kia của chiếc quạt giấy. Một hai nét rồi lại ngừng tay ngắm nghía. Có những lúc Hàn San ngồi như xuất thần một lúc rồi lại mím môi nắn nót quệt trên nền giấy của chiếc quạt. Từng cố gắng, từng nét xấu xí méo mó lệch lạc là từng trút bỏ âm thầm mà hoan lạc cho Hàn San. Nàng nhớ đến mẹ, cám ơn mẹ đã dạy cho nàng thứ ngôn tự riêng biệt Nushu. Cả vùng Hồ Nam, số người biết đọc biết viết loại chữ này rất ít. Ai là người đã đặt ra nó, Hàn San hỏi mẹ một lần. Mẹ bảo không biết chỉ nói đây là lối thoát của những người sinh ra là đàn bà trong xã hội này. Đó là thứ ngôn tự của riêng họ, bí mật và phổ biến hạn chế với lời tuyên hứa trung thành, đối nghịch lại với cả một hệ thống chữ nghĩa của nam giới mà phụ nữ không được quyền học hỏi. Những người phụ nữ như mẹ, như bao người khác, như Hàn San, đây là một cái cầu nối những trái tim cùng cảnh ngộ, những buông thả mà mắt thường không dám nhìn không dám nghĩ tới. Riêng đối với Hàn San, đây là một người bạn trung tín. Nàng có thể viết cho người bạn đó biết những ước mơ của mình, những thù hận, những nghi ngại, sợ hãi. Viết như mình nghĩ, thật như chỉ có mình với mình chứ không viết như một cách lừa đảo với cả chính mình. Viết rồi đọc lại, thấy một con người khác, không những chỉ thấy mà còn muốn được sống thật làm con người ấy. Đã bao nhiêu người phụ nữ trước nàng đêm đêm gò gẫm trút bỏ những cay cực của kiếp làm đàn bà trên đất nước này? Và sau nàng còn bao nhiêu người như thế? Những “nữ tự” này không thể chỉ là những giải tỏa trong một phút giây nào đó hay chỉ đơn thuần là những chia xẻ của những người cùng cảnh ngộ. Cái con người khác trong Hàn San đêm nay còn đòi hỏi nhiều hơn nữa, đòi được sống được thở được nhìn được nghĩ như nó muốn. Cái giới hạn của những hàng chữ nàng viết xuống trên mặt quạt giấy không chỉ chấm dứt ở đây. Nàng biết mình sẽ phải làm gì.
    Đêm nay, Hàn San viết về một người khách lạ của cha nàng. Giống như cơn mưa rào vụt ngang rồi tạnh, rồi mất hút. Người đàn ông mà Hàn San không biết tên, không biết cuộc viếng thăm vì lẽ gì, chỉ nhìn thoáng thấy mà không quên. Ông ta không giống bất kỳ một người đàn ông nào trong khu đồi núi này. Có lẽ đây là một người tỉnh thành? Nàng ngừng viết, thẫn thờ nhớ đến buổi trưa vừa qua, nhớ đến tách trà dâng khách bị nàng tuột tay làm rơi vỡ tan, nhớ đến gương mặt xương xương ương ngạnh với cặp mắt nhìn xa xôi của người khách lạ. Ông ta chắc chỉ ngoài 30 với đôi bàn tay thật đẹp đưa ra định cầm chén trà Hàn San dâng. Đôi mắt đó không chỉ nhìn nàng, mà xuyên qua Hàn San như lưỡi kiếm thấu suốt người nàng, xẻ từng mảnh vỏ ngoài, lục lọi đến tận cùng trong nàng. Nhìn thấy chén trà tuột khỏi bàn tay mình, nàng hơi hé miệng nhìn theo chiều rơi của chén như muốn níu lại, ngừng ở đó để tất cả không gian, thời gian đông cứng ở một khoảnh khắc bất biến. Nhưng tiếng vỡ dòn tan của tách trà sứ trên nền gạch đã xóa tan giây phút kỳ diệu mà Hàn San biết chắc mình vừa bước ra khỏi mình, để thoát. Nàng đã tan theo với tách trà vỡ, có điều Hàn San ước gì được tan trong ánh mắt u uẩn kia hay được áp mặt vào lòng bàn tay thon dài thanh nhã của người khách lạ, dù chỉ một lần.
    Cái số phận cam chịu mà nàng tưởng từ lúc sinh ra đời đến giờ và đến cuối đời đều do bàn tay ông Diệp định đoạt dường như đã bị người khách lạ ấy cướp đi. Dường như nàng đã chết cùng với cái chết của mẹ 2 năm trước, nay lại tái sinh. Hàn San lại cặm cụi viết cho đến khi đầy mặt sau của chiếc quạt. Đêm đó nàng gấp chiếc quạt với nhiều trân trọng sợ những bụi than trên quạt sẽ rơi nhạt mất trong khi cả tâm hồn nàng đầy ắp những ý tưởng điên rồ nhưng mới mẻ. Chỉ vì người khách lạ hay chỉ vì nàng đã đến một khúc quanh và sự chọn lựa hoàn toàn nằm trong tay nàng.

    *

    Hàn San dậy sớm hơn thường lệ. Nàng ra múc nước đổ đầy hai thạp khi trời còn tối. Tất cả mọi sự không còn như mọi ngày. Ngay cả tiếng gàu va vào nước dưới lòng giếng cũng không làm nàng để ý. Mặt nước giếng còn tối om nàng cũng không biết. Tiếng gió rì rào lùa qua những rặng cây nàng cũng chẳng nghe. Cụm lau trắng xóa sáng bạc dạt dào theo gió từ triền núi cao thổi xuống như lên tiếng về sự hiện diện của mình cũng không được Hàn San chú ý. Tất cả mọi thứ chung quanh dường như đã lui xa đi một khoảng cách tách biệt hẳn với nàng. Trong đêm tối mông lung, Hàn San chờ đợi một cái gì sẽ xảy đến, nàng linh cảm như thế.
    Như một kẻ đang đi trong giấc mộng, nàng đi lần lên cao, lên núi. Aùnh trăng luồn qua cành lá, có những chỗ đốm bạc, chỗ tối tăm. Hàn San đi vào nơi nàng chưa bao giờ bước chân tới. Chỉ có đêm và nàng cùng cỏ cây.
    Trời đã hơi tảng sáng, ánh trăng lạnh biến từ bao giờ. Hai vai nàng và mái tóc ướt đẫm sương mai. Hàn San chợt nhận ra một điều: nàng đang đi trên con đường của mẹ! Có lẽ 2 năm trước mẹ cũng làm như thế. Nàng dừng lại bên triền núi nhìn xuống vực. Chỉ thấy toàn một mầu trắng đục như sữa dê, bồng bềnh như đang muốn trào lên hớp lấy nàng. Hàn San há miệng gọi mẹ nhưng không thành tiếng. Chỉ thấy một chút hơi mỏng như khói ùa ra. Nàng tin rằng làn hơi ấy sẽ được nắn nót như những nét chữ Nushu thầm kín tan vào trong gió, lẫn vào sương khói của vực thẳm, đến với mẹ, cho dù mẹ ở đâu đó.
    Nàng ngồi bệt xuống đất, gần bên bờ vực và buột miệng hát một mình, bài hát nàng nghe từ thuở nhỏ. Lời ca buồn và thê thiết vang lên trong khu rừng đang ngủ như lời ru trẻ nhỏ. Có những lúc lời ca bị ngắt quãng, nghẹn lại rồi nhỏ rí, im vắng, rồi lại vang lên, ngân dài. Nàng không còn là con cái nhà họ Diệp. Nàng là con gái của núi rừng. Nàng không còn giống mình của những ngày đã qua. Chỉ vì một chọn lựa.
    Nàng sẽ không chọn con đường của mẹ. Nhưng nàng cũng không muốn ở lại dưới mái nhà họ Diệp để chết già hay lại rơi vào một vòng tay già nua khẳng khiu vươn lên hút hết nhựa thanh xuân ở nàng. Nàng sẽ đi, sẽ tìm về thành phố tìm một cuộc đời do nàng chọn, cho dù phải làm tôi đòi ở đâu đó cho những bước đầu tiên. Để biết đâu một ngày nào, Hàn San sẽ gặp lại đôi mắt u uẩn xa xăm kia và ước mơ được áp mặt vào lòng bàn tay ấy sẽ trở thành sự thật.

    *

    Đến mấy ngày sau, bà Linh vẫn chưa hoàn hồn. Người ta bảo Hàn San chắc có máu điên giống mẹ nó, chắc chết tan xác đâu rồi. Nhưng bà không tin. Trong đời bà chưa từng gặp người nào có đôi mắt sáng như Hàn San. Nó không chết như mẹ nó, chắc chắn là như thế. Nó còn phải nhìn suốt cuộc đời, sống cho đủ một kiếp người.
    Khi những người làm vào thu dọn chỗ ngủ của Hàn San, bà Linh chỉ giữ lại chiếc khăn của mẹ cô gái. Có điều khi bà nâng chiếc khăn lên, từng mảnh, từng mảnh vải tơi ra như mục nát rơi là là như những cánh bướm. Nó đã được thoát xác và tái sinh, không còn ngờ gì nữa.

    Mặc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:26 AM.

  6. #6
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Cám D

    Mc Bích

    Bỏ chiếc dù trong giỏ, lắc lắc thử liệu chừng nặng nhẹ, bà Sương tặc lưỡi nghĩ thầm: “Lỡ mưa sao? Cứ mang phòng hờ”. Lững thững đi bộ ra trạm xe buýt cách nhà chừng mươi phút. Trời đất im sững, chẳng một ngọn gió, giống như trời đang chết đứng! Bà ngửa cổ nhìn trời, nhìn mây nghe ngóng. Đường phố vắng tắp. Đến gần trạm chờ xe buýt đã thấy có người ngồi đợi. Không phải những khuôn mặt quen mọi ngày. Hắn ngồi ngay chính giữa băng ghế. Một bên là chiếc túi xách lớn chiếm gần hết băng ghế. Hai chân xoạc ra. Quần áo lôi thôi. Khuôn mặt gầy, xương xương, râu quai nón lởm chởm, tóc cắt ngắn, nhiều chỗ dựng ngược như muôn ngàn mũi dáo chĩa thẳng lên trời soi bói. Chừng 26, 27 là giỏi! Chỉ bằng thằng cháu nội của bà Sương. Cái áo khoác ngoài kẻ ca rô đỏ, đen như quân cờ. Thấy bà Sương nhưng hắn vẫn ngồi yên, hai đùi còn rung rung, chân nhịp nhịp.

    Thoạt đầu, bà đứng. Bỏ chiếc giỏ xuống đất, ngó mông ra đường. Chừng 2, 3 phút bà quay lại nhìn gã thanh niên xem y có ngồi dịch lại hay bỏ túi xách xuống đất chừa chỗ cho bà già không. Hắn cứ tỉnh bơ rung đùi, chẳng thèm nhìn trả lại bà lão vì bên cạnh gã vẫn còn một chỗ trống không rộng rãi lắm. Đã đi bộ nãy giờ mà lại còn phải đứng thì mệt cho đôi chân quá đi! Thôi, thì ngồi vậy!

    Bà lão ngồi xuống cạnh hắn. Trông gã bẩn thỉu nhưng không thấy hôi hám. Cũng đỡ! Bà ngồi sít rịt vì nhích ra xa chút nữa thì một phần cái mông sẽ không có chỗ đỡ. Thằng quỷ! Bà già rủa thầm. Nhìn xuống đất, trúng ngay ngón chân cái lòi ra khỏi đôi giầy vải thủng một chút ở đầu mũi giầy của gã. Ngón chân ngọ nguậy theo nhịp rung trông tức cười hết sức. Ngón chân chĩa ra một cách vô trật tự y như một chỏm tóc trên đầu của hắn. Những cử động nhịp nhàng của ngón chân ngoẹo qua ngoẹo lại làm bà lão phát ngứa ngáy, bứt rứt khó chịu!

    - Mưa! Mưa đi! Mưa lớn đi trời!

    Bà Sương hết hồn! Ai nói vậy? Chẳng lẽ...? Quay sang nhìn gã thanh niên. Y đang mấp máy môi lập lại câu nói khi nãy:

    - Mưa! Mưa đi!

    Tự dưng bà thấy có cảm tình với hắn hơn. Cũng người đồng hương. Bà lão bắt chuyện:

    - Cậu người miền đâu vậy?

    Hắn hơi nhếch người nhìn bà Sương. Đôi mắt của gã mới kỳ dị làm sao. To, sáng rực như tỏa ra một thứ điện vô hình, không đen nhưng xam xám và xoắn nhìn mê mê như muốn hớp hồn bà lão. Bà cũng ngay đơ ra nhìn hắn. Không lẽ con mắt người ta mà lại có sức mạnh kỳ cục thế ư? Hai bên nhìn nhau ở một khoảng cách quá gần. Khi gã nhếch mép cười, mấy chiếc răng trắng bóc nhô ra coi hay quá.

    - Người Việt. –Hắn trả lời cụt ngủn.

    - Biết là người Việt, nhưng người ở vùng nào? – Bà Sương kiên nhẫn lập lại câu hỏi.

    Hắn nhìn bà lão rồi lại cười, lần này không phải chỉ thấy vài cái răng mà cả hàm răng trắng tinh:

    - Người Việt.

    Bà lão chịu thua vì biết hỏi tới gã cũng sẽ chỉ trả lời y như vậy. Chắc nó không hiểu tiếng Việt nhiều như mấy đứa cháu của bà. Bà Sương quay nhìn ra đưòng. Trời bỗng dưng tối hơn, âm u và nhiều mây. Trời tỉnh rồi! Hết chết đứng! Làm như cái túi trần gian ở khoảng này bỗng dưng bị túm trọn lại trong một cái bọc tôi tối, nặng nề. Chung quanh như đang thu gọn lại. Rồi lác đác vài hột mưa. Có hột to bằng hạt bắp rơi xuống ngay phía lề đường xi măng lốm đốm. Điệu này chắc mưa lớn! Bà Sương cầu cho xe buýt tới trước cơn giông.

    Bên cạnh bà, gã thanh niên đứng nhổm dậy. Trông nó vui sướng một cách lạ thuờng. Tay chân, đầu tóc ngọ nguậy như có con gì đang bò khắp người. Nếu mà gã đeo thêm một cái máy gì bên tai nữa thì gã sẽ giống hệt thằng cháu nội ở nhà.

    Hớn hở thò tay ra ngoài hứng vài hột mưa rồi gã lại thụt vào rú lên:
    - Mưa rồi! Mưa rồi!

    Nhân lúc gã đứng lên, bà Sương nhích vào bên trong băng ghế cho thoải mái. Chiếc xe buýt số 23 mắc dịch đâu sao hoài không thấy tới? Bà lão có biết đâu hôm nay đổi giờ!

    Cơn mưa ào đến. Thôi thì hột to hột nhỏ tranh nhau đổ xuống dành phần hơn. Cũng may không có gió nhiều nên mưa chỉ tạt vào chút ít bên trong. Cả một khoảng trước mặt mù mịt, toàn nước với nước. Bà Sương thở dài thầm: “Điệu này xe buýt có đến, trèo lên được xe cũng ướt hết! Về bịnh, con cái lại kêu rên, cằn nhằn!”

    Hắn nhìn khoảng trống bà Sương chừa rất nhỏ, nhìn bà lão, rồi đẩy chiếc túi xách dịch sang một bên, ngồi xuống. Quay sang bà, hắn thân thiện:

    - Mưa rồi thấy không bác?

    Trong tiếng mưa lộp độp rơi trên mái nhựa của trạm xe buýt, bà Sương phải ghé đầu sang gần mới nghe tiếng gã nói.

    Tự dưng bà cũng không thấy ngại hắn nữa:

    - Bộ cậu thích mưa lắm hả?

    Hắn lắc đầu:

    - Không thích! Khi mưa ngừng rồi mới thích.

    Bà lão tò mò hỏi tới:

    - Sau cơn mưa có gì mà thích?

    Hắn không trả lời chỉ nhe răng cười. Nụ cười mới hồn nhiên làm sao.

    Đổi câu chuyện, lần này đến phiên bà Sương nói trước:

    - Chờ xe buýt đi đâu vậy?

    - Đâu có chờ xe đâu. Bác chờ xe buýt hả?

    Thằng này chắc khùng khùng! Mình hỏi nó, nó lại hỏi mình. Bà Sương đáp:

    - Ừ!

    - Đi gần hay xa?

    - Không xa, nhưng không đi bộ được.

    Nó gật gù, không nhìn bà lão nữa mà nhìn ra ngoài đường. Một vài chiếc xe chạy vọt ngang.

    Cả hai người lại cùng nhìn ra đường, nhìn màn mưa và nghĩ đến những điều không giống nhau. Họ cùng chờ đợi.

    Nhiều lần bà lão định bắt chuyện với gã nhưng rồi lại thôi vì không biết phải nói chuyện gì với hắn. Hết nhìn mưa rồi lại nhìn ngón chân ngọ nguậy như khua động cả một khoảng không chật hẹp dưới mái trạm xe buýt. Cái thằng này không ngồi yên được! Bà lão than thầm: “Quái! Sao mãi xe buýt không đến?”. Bà có biết đâu cái đồng hồ vĩ đại của cả nước Mỹ đã chạy chậm lại một giờ, chỉ duy nhất còn mình bà vẫn theo cái đồng hồ cũ và những nề nếp mà bà đeo đuổi cả mấy chục năm nay, trung thành, tuyệt đối.

    Hết nhìn màn mưa rồi bà lão lại nhìn mấy hình vẽ nguệch ngoạc trên bức vách của trạm xe buýt. Vài bữa thấy chùi sạch bong, rồi không lâu lại thấy lắm hình thù quái gở. Nhiều lần bà có cảm tưởng trạm xe buýt này đã được đổi, nhưng không đâu, nó vẫn thế, ở ngay góc đường này, chờ đợi những chuyến xe, những con người.

    Những giải mưa cứ thưa dần, nhanh chóng như lúc cơn mưa đến vội vã. Đã nhìn thấy rõ bên kia đường. Các cửa hàng vẫn còn đóng im ỉm. Những bảng hiệu sáng hẳn lên. Yên tĩnh. Chẳng bao lâu trời lại hửng nắng, phơn phớt màu sáng. Cái âm u ngắt lạnh bỗng loãng, tan đi, trả lại những khoảng trống dường như thênh thang hơn và bừng bừng đâu đó những rung động ầm ì của trời, của đất xa xa, ườn mình rũ cho hết những khắc khoải ướt nhẹp. Những vách tường loang lổ bên kia đường cũng nhạt dần. Duy nhất thấy bóng ông Tàu già mở cửa tiệm ra trước lề đường nhìn xuôi ngược, nhổ phẹt xuống giòng nước còn đọng hai bên đường. Tần ngần đứng ngó trạm xe buýt đối diện bên kia, có lẽ định khạc, nhổ thêm một lần nữa rồi thôi. Uể oải quay vào trong tiệm. Những cửa hàng bên cạnh vẫn còn lặng thinh. Những song sắt xám xịt kéo kín mít trong cái yên tĩnh của một sớm Chủ Nhật như những đôi mắt còn khép kín. Chẳng phải người, xe cộ cũng trốn biệt. Đâu đó bắt đầu có tiếng chim riu rít gọi nhau.

    Tất cả những thay đổi nhanh chóng như đang từ một ngày này sang một ngày khác, như sự đổi ý bất thình lình, đánh lừa con người, trong đó có bà lão. Mà thật! Hôm nay không giống mọi ngày, từ chuyến xe quen thuộc đến người, đến cảnh vật. Giống như cơn mưa bất ngờ. Mưa kiểu này là Trời đái đây mà! Hứng rồi đái bậy! Bà lão tủm tỉm cười vì những ý nghĩ ngộ nghĩnh.

    Trời âm ẩm, rồi nắng lên. Cái nắng đuọc lột trần, trong và sạch làm sao. Từng mảng mây xám cuốn đi cho bằng hết. Cái túi đã được mở tung ra trở lại. Trời cao vút hẳn lên, rồi xanh, rồi trắng. Khoảng đường trước mặt còn đọng một vài vũng nước mưa ở những ổ gà chưa được sửa. Đúng là ngày Chủ Nhật, lâu lâu mới thấy một chiếc xe chạy băng qua.

    Bây giờ đến phiên bà lão sốt ruộït, đứng dậy. Gã thanh niên như đồng tình, nói với bà, hai mắt y sáng rực như có ngọn lửa đang đốt:

    - Đi không bác?

    Bà lão nhăn nhó:

    - Xe đã tới đâu mà đi?

    - Không, đi xuống kia kìa! –Y chỉ mông ra đường.

    - Xuống kia là xuống đâu?

    - Bác thấy chỗ vũng nước kia không? Ngay gần chỗ quẹo đó.

    - Thấy. Sao?

    - Xuống đó vui lắm.

    - Quẹo chỗ đường đó hả?

    - Không! Chẳng quẹo đâu hết. Ở ngay đó chứ.

    - Làm gì có chỗ nào mà xuống với chẳng lên! – Bà lão lắc đầu ngán ngẩm cho gã thanh niên chắc chắc mắc bệnh tâm thần.

    - Xuống được mà! – Y quả quyết, mặt hơn hớn.

    Bà lão cười nhẹ:

    - Xuống đó có gì vui?

    - Có những thứ mà trên này không có.

    “Thằng này ấm ớ quá! Mà sao bỗng dưng mình cũng nói mấy chuyện vớ vẩn với nó làm gì? Thật là lẩm cẩm!”

    Tưởng thế là xong. Nhưng gã thanh niên bước xuống khỏi lề đường, quay lại hỏi bà lão lần nữa:

    - Đi không?

    Bà lão lắc đầu. Không muốn nói nữa. Nói gì với nó cũng vô ích.

    Nó nghiêng đầu, cũng mấy cái răng trắng tinh lộ ra trong nụ cười hóm hỉnh, giơ tay ngoắc ngoắc bà lão rồi bỏ đi sang vũng nước ở góc đường chỗ quẹo.

    Đứng trước vũng nước không lâu lắm rồi nó thò chân khuấy nước. Rút chân ra, rú lên. Nó giơ cả hai tay lên trời múa may như người điên. Không! Nó chính là thằng điên!

    Không một chiếc xe nào chạy ngang. Gã lại săm soi nhìn vũng nước, nhúng không phải một chân mà cả hai chân, rồi như bị vũng nước nuốt một cái ực. Gã biến mất! Biến như một cái búng tay ngay tróc! Mất tiêu! Mất... thật!

    Bà lão hoảng hồn! Chết! Nó làm sao rồi! Nó rơi xuống đâu rồi? Nó bảo đi xuống, mà nó đi xuống thật! Dưới lòng đường làm gì có gì?

    Quên cả chuyện chờ xe buýt, bà lão nhìn trước sau, băng ngang đường, nhanh nhẹn hơn lúc thường. Đến bên vũng nước mưa, bà hồi hộp nhìn vào. Thấy ngay mình! Tưởng ai!

    Lại nhìn, lần này từ tốn cẩn thận hơn. Ngoài mình ra còn thấy mây xanh, mây trắng, đẹp quá trời đất, long lanh, rung rinh còn đẹp hơn trên kia. Đó là một ổ gà khá lớn nhưng không sâu. Nước trong vì không có xe chạy cán ngang qua. Mà cái thằng nó biến cũng nhanh nên nước trong veo. Bà còn nhìn thấy rõ trong ánh nước lung linh, vài hòn đá bằng cái trứng gà nằm lăn lóc trong đó. Thế nó đâu rồi? Làm sao nó biến đi đâu được? Bà lão hoang mang nhìn lại bên kia đường, ngay trạm xe buýt. Chiếc xắc to tổ bố của gã thanh niên vẫn nằm nghễu nghện trên băng ghế. Bà nhìn quanh, vẫn không thấy gã đâu. Bà chắc chắn mình không hoa mắt. Mắt bà còn khá, không đến nỗi nào. Vậy thì gã biến đi đàng nào?

    Tự dưng thấy sờ sợ. Bà lại ngó ngang ngó dọc, quay tới quay lui rồi trở về trạm xe buýt bên kia đường. Ngồi xuống ghế, nhìn cái bị của gã, lòng thấy nao nao rồi đâm thắc mắc: “Mà đi đâu mới được chứ? Nó nói rõ ràng đi xuống chứ không phải đi lên? Lạ quá!”

    Bà ngồi chờ. Bây giờ không phải chờ chuyến xe buýt số 23 mà là chờ sự xuất hiện của gã thanh niên mặc áo ca rô đỏ. Tại sao lại chờ gã? Những câu nói lung tung của nó khi nãy lại dật dờ trở lại với bà. Ởû dưới đó có những thứ gì mà trên này không có là cái quái gì? Đối với gã, trên đời này cái gì gã không có? Còn mình? Vừa tự hỏi xong là bà Sương thấy nhói một cái ngay trong bao tử đang rỗng. Thứ chi mà bà chẳng có, có điều giữ được hay không giữ được mà thôi. Chỉ có thế mà bỗng dưng bà lão thấy nồng nồng trong mũi, nong nóng ở mắt, làm như bị đụng ngay chỗ nhược! Tự dưng bà oán trách ông chồng bỏ đi sớm quá! Lẽ ra bà đi trước mới phải. Tóc còn xanh rói mà đã cùi cụi một mình. Rồi cũng có sao đâu. Bốn chục năm đã qua, hay thêm vài năn nữa thì cũng vậy thôi. Chỉ vì cái câu nói của gã thanh niên mà làm cho mình đau bao tử! Thật là bậy quá!

    Khi chuyến xe buýt số 23 trờ tới, cửa trước xịch mở, người tài xế chờ. Bà Sương vẫn ngồi yên, làm như đây không phải là chuyến xe mà bà chờ đợi nãy giờ. Chừng không tới một phút, cửa xe buýt đóng lại rồi chuyển bánh đi. Mùi khói xe và xăng dầu thoang thoảng thốc vào mũi bà lão. Chuyến xe và cuộc hành trình quen thuộc đã chạy tuột ra khỏi sáng sớm mai một ngày Chủ Nhật trong vòng quay nhất định và liên lỉ của bà Sương. Chuyến xe thiếu bà lão đã trở thành chuyến xe lạc giữa đời, hay chính bà lão đang bị bứt khỏi những mắt xích quen thuộc để rồi trở thành kẻ bị bỏ lại? Hình như những điều đó chỉ còn nhấp nháy chút đỉnh và không nghĩa lý gì nữa khi bà Sương lại đứng dậy, nhìn trước nhìn sau và băng sang đường, trở lại vũng nước mưa.

    Soi mình bên vũng nước, vẫn thấy trời xanh mây trắng lung linh, lại thấy mình nhưng không thấy gã thanh niên đâu cả. Bà khẽ kéo cao ống quần lên sợ ướt, nhưng vẫn đứng ì ra đó nhìn vũng nước. Nhìn xuống vũng nước, rồi lại ngửa cổ lên trời. Một chiếc xe chạy ngang bên mé ngoài làm rung động, vũng nước chao đi, mấy đám mây bồng bềnh huyền ảo kỳ diệu. Ngay đến bóng bà trong đó cũng chấp chới như ai đó. Cái rung động, loang loáng của mặt nước làm cho hình bóng bà như đang chao đảo, dục giã một điều gì. Đúng là mặt giáp mặt. Cái “mình” này mới ác ôn côn đồ! Nó đeo bà dính như sam và toàn xúi bẩy những chuyện tào lao thiên địa! Ai xúi mình không sao, chứ mình xúi mình mới là khổ!

    Lần này làm thật! Bà lão kéo một bên quần lên cao chút xíu và đưa gót giầy quậy quậy nhúng nhúng xuống nước, mắt nhắm tịt lại chờ đợi một điều gì đó xảy ra. Cái tích tắc chọn lựa giữa mình và “mình” có chút xíu mà dễ sợ thật! Nhưng chẳng có gì xảy ra cả, chỉ ướt gót giầy! Bừng bừng cả mặt, bà lão vẩy vẩy gót giầy như hắt mấy giọt nước còn bám vào xuống vũng nước mưa rồi lầm lũi đi trở lại sang đường bên kia. Đến bên trạm xe buýt, bà lão không thèm nhìn đến túi xách của gã mà nhấc chiếc túi của mình rồi quay trở lại đường cũ.

    Lần trở về bà không nhìn gì hết mà chỉ nhìn mặt lề đường cùng đôi chân mình đang chậm rãi bước tới. Bà lão lẩm bẩm: “Giê Su Ma, lạy Chúa tôi, con suýt mất linh hồn!”. Lòng nặng trĩu ăn năn, nhưng bà thừa hiểu một con người khác ở trong bà luôn luôn rình rập kêu réo đòi trả lại những phần mà nó bị cướp mất hay phải quên đi. Nay đòi, mai đòi, sáng kêu, trưa dục, khuya gọi! Cái con người đó cũng từ trong bà mà ra thôi.

    Chân rảo bước đi, miệng vẫn lẩm bẩm: “Đâu phải mình bị ma quỷ cám dỗ không thôi, chính mình cũng cám dỗ ma quỷ!”

    Sau lưng bà Sương, trên băng ghế ở trạm xe buýt, chiếc túi xách của gã thanh niên không còn nữa, biến mất tiêu như chủ của nó.

    Mặc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:27 AM.

  7. #7
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Giòng sông

    Mc Bích


    Tâm Thanh kéo màn nhìn ra ngoài trời. Đã hơn 7 giờ. Chưa có nắng nhưng đã sáng. Trời âm u như muốn chuyển mưa. Có tiếng động khẽ. Nàng quay lại. Bà đang lê từng bước ngắn. Cả thân hình nghiêng về một bên gậy chống.
    “Chắc sắp mưa bà ơi!”
    Hiểu ý cô cháu, bà lão lắc đầu:
    “Kệ! Cứ đi! Mưa thì về. Đem theo cây dù.”
    Định ngăn bà, nhưng rồi lại thôi. Bà lão đã chuẩn bị sẵn sàng. Hai ba lần áo trên tấm thân cao lớn lòng khòng xương xẩu. Chiếc mũ len trên đầu che bớt mái tóc bạc. Tâm Thanh đỡ bà ngồi vào xe lăn. Như mọi lần, nàng trùm chiếc chăn len mỏng lên chân bà cụ. Đặt hai chân bà lên bàn đạp. Hai tay bà lão níu lấy thành dựa hai bên. Bỗng dưng nàng chăm chú nhìn bàn tay to lớn với những ngón dài mà từng đường gân máu cuồn cuộn nổi sau làn da dầy nâu sẫm đã lốm đốm đồi mồi của tuổi già. Nàng lại chợt nhớ đến những lần bà níu lấy tay nàng đau điếng. Cái sức mạnh tiềm tàng trong thân xác già nua kia vẫn còn đó, mạnh mẽ lôi kéo hơn 75 năm dài. Đôi bàn tay như tay của một người đàn ông! Xốc vác, cứng rắn và đầy sức mạnh! Nàng rất giống bà ở khuôn mặt, nhất là đôi mắt nhỏ, dài có đuôi, đen thui như không còn thấy lòng trắng đâu cả và sâu như muốn tuột hẳn vào bên trong hốc mắt mà có lần con Liên, bạn Tâm Thanh đã bảo: “Đôi mắt của đáy vực linh hồn”. Đó phải chăng là một sự chê bai hay chỉ để nói lên một sự đặc thù không ai có? Bướng bỉnh, lạnh lùng và kiêu căng! Cũng toàn là những thứ nàng thừa hưởng ở bà! Tâm Thanh ghét những điều này quá đi, nhưng làm sao thay đổi được khi nó đã là một phần cấu trúc của toàn bộ con người nàng!
    Cứ mỗi buổi sáng Tâm Thanh đưa bà đi một vòng ngoài trời quanh khu hai bà cháu ở, chào xã giao với vài người hàng xóm Mỹ gần đó, chừng nửa giờ lang thang rồi quay trở về và bao giờ cũng ngừng ở sau nhà, bên cạnh con sông để bà ném bánh mì vụn cho đàn vịt hoang. Sau đó Tâm Thanh đến sở làm. Nàng có nguyên ngày làm việc, giao tiếp với bạn bè. Tối về, lại hai bà cháu trong căn nhà nhỏ mà cha mẹ Tâm Thanh đã để lại với thật nhiều kỷ niệm để đôi lúc nàng cứ ngỡ cha mẹ mình vẫn còn sống, chỉ đi đâu vắng.

    Con đường hôm nay rộng hẳn ra với quá nhiều khoảng trống do đám lá dưới đất để lại. Tâm Thanh cẩn thận chọn những chỗ bằng phẳng để đẩy xe.
    “Không lạnh lắm nhỉ?”
    “Vâng. Chắc thể nào hôm nay trời cũng mưa.”
    “Mưa giống ở nhà!”
    Hai chữ “ở nhà” bà hay nhắc đến phải hiểu là quê nhà ở mãi bên kia địa cầu mà Tâm Thanh chưa bao giờ thấy, nhưng nghe kể rất nhiều đến nỗi có những khi nói chuyện với bạn bè, quen miệng nàng cũng dùng hai chữ này trong cùng một ý nghĩa. Ở xứ này 20 năm, bà chỉ biết có hai câu: “Good morning” và “Good bye”. Sáng nào bà cũng dùng từ “Good morning” dăm lần. Chữ “Good bye” thì thỉnh thoảng khi Tâm Thanh dừng chân trên đường trao đổi vài câu với những người trong xóm, để lúc tiếp tục đoạn đường quen thuộc bà được dịp thực hành câu “good bye”. Ti Vi bà không xem, sách báo Việt ngữ thỉnh thoảng Tâm Thanh mang về bà cũng không màng. Lúc còn khoẻ bà làm vườn suốt ngày. Những giàn hoa hồng leo mà cánh hoa nhỏ xíu ngoài cổng trước, cây cam trĩu nặng trái gần hiên nhà, những nhánh hoa ngọc lan thơm sực nức vươn tay dài lùa sát rặng thông, từng bụi hoa trồng dọc theo lối vào... đều có bàn tay của bà. Ngay đằng sau vườn cảnh, thoai thoải xuống bờ sông, từng gộp đá, bụi cây không phải tự nhiên mà có, cũng phải có bà mà để đến bây giờ tuy vườn cảnh thiếu bàn tay chăm sóc nhưng cái trật tự được tạo nên vẫn được giữ nguyên vẹn. Con đường đất dẫn xuống đến sát mặt sông đã phẳng lì, chẳng còn mấy ngọn cỏ chịu nổi sức nghiến của bánh xe lăn mỗi ngày. Cánh tay của Tâm Thanh cũng nhờ những động tác kéo, đẩy mỗi ngày, dù chỉ là một đoạn đường ngắn cũng trở nên rắn chắc. Và đó là điều duy nhất mà nàng có thể làm cho bà mỗi ngày, trừ những ngày mùa đông tuyết phủ hay mưa gió hoặc bà hay cháu đau ốm. Ngoài ra bà cũng không thích đi đâu khác.
    Những con vịt hoang hầu như cũng tự động chui vào cái khuôn khổ nhất định quen thuộc của bà. Chúng đã chực ở ngay đúng góc bờ sông đó mỗi sáng. Tâm Thanh gài thắng, để bà ngồi trên chiếc xe lăn cách bờ khoảng ba bốn sải tay. Nàng nhìn đồng hồ, còn 10 phút nữa. Để mặc bà ngồi đó với bầy vịt và gói bánh mì vụn, nàng đi lại quanh quẩn ven sông, lòng thoáng như một ngôi nhà mở toang cửa. Gần sát bờ rào, một khoảng sông chợt hũng vào một đường vòng cung. Nước sông ở khúc này chẩy xiết, đẩy những vạt nước vỗ vào bờ chao đi đánh lại nhìn mà chóng mặt. Mùa hè nàng thường ngồi đây, thả chân xuống nước rồi nghĩ những chuyện không giống ai.
    “Tâm Thanh! “–Tiếng bà gọi nghe khàn đặc.
    Nàng quay vội, loạng choạng suýt ngã. Bà kêu lên:
    “Cẩn thận!... Chỗ đó nước sâu lắm. Hụt chân hay đẩy nhẹ là rơi xuống ngay”.
    Chỗ đó nước sâu lắm! Làm sao bà biết chỗ này nước sâu? Nhưng... hình như nàng không để tâm lắm.
    “Về hả bà?”
    “Ừ, đi về thôi!”
    Gói bánh mì đã sạch bách. Tiếng vịt kêu quang quác chói tai như tiếng đàn lạc giọng.

    *

    Nửa đêm chợt tỉnh giấc. Không thể nhớ nổi vừa mơ những gì. Chung quanh tối om, chỉ có một vệt sáng nhờ nhờ do chiếc màn khép không kín để hở ra. Tiếng côn trùng vẫn rỉ rả như nhắc nhở về sự có mặt của chúng. Trời chưa lạnh đủ để cướp hết sự sống của những con vật với tiếng kêu đều đặn vang lên rõ mồn một trong đêm khuya. Phải 1, 2 tháng nữa mới thấy bặt tăm để trả lại cho đêm cái mênh mông yên tĩnh đến phát sợ! Tâm Thanh cố không nghĩ đến một điều gì để dỗ giấc ngủ. Nhưng trong bóng đêm hình như con người nàng càng nhỏ bé hơn và muôn ngàn vật thể, sự kiện của ban ngày đua nhau kéo về quấy rối không yên. Từng thứ, từng vật tiếp nối chồng lên nhau, dầy cộm, hỗn độn. Bỗng dưng đâu câu nói của bà lúc ban sáng bên bờ nước lại trở về. Hình như trong thời khắc chạng vạng nửa đêm nửa ngày, người ta tỉnh hơn, và Tâm Thanh cũng thế.

    “...Chỗ đó nước sâu lắm. Hụt chân hay đẩy nhẹ là rơi xuống ngay”. Tại sao bà biết chỗ đó nước sâu lắm? Tại sao lại nói là đẩy nhẹ? Ai đẩy ai? Giọng bà thảng thốt một cách lạ! Những câu hỏi này choán hết mọi hình ảnh khác quanh nàng. Chập chùng đan vào những câu hỏi là đôi mắt đen thui sâu hun hút của bà mà dù thời gian có tàn nhẫn đến đâu vẫn không làm phai nhạt đi được cái màu đen và chiều sâu huyền bí đó. Đôi ngươi đen chiếm gần hết màu trắng còn lại. Nàng lại chạnh nhớ đến cặp mắt mình. Cũng y hệt như thế, làm như cái màu đen kia đã vỡ ra, tràn kín bên ngoài. Nếu nàng có đôi mắt to có lẽ cái màu đen kia sẽ bớt đi. Chỉ vì đôi mắt mình nhỏ quá! Đó là những câu hỏi vớ vẩn. Tâm Thanh tự bảo mình như thế và cố nghĩ đến những điều khác hay trở lại với giấc ngủ. Nhưng làm như giấc ngủ của đêm nay thế là đủ và những câu hỏi kia cứ trở tới trở lui. Nàng mong cho trời mau sáng.

    Khi trời he hé sáng cũng là lúc những tiếng râm ran ngoài kia thưa dần. Nhà im phắc. Không nghe thấy tiếng bà húng hắng ho hay khua khoắng gì. Chắc bà còn ngủ say. Những động tác thường nhật được nàng làm rất khẽ khàng. Từ cái vòi nước chảy cũng ri rỉ, đánh răng, rửa mặt, rón rén như kẻ trộm! Tại sao mình lại buồn cười thế nhỉ? Tâm Thanh không muốn đánh thức bà và nàng cũng chán cái giờ giấc quen thuộc như cái đồng hồ của mỗi sáng. Chán những con đường quen thuộc, chán đến từng ổ gà, từng khoảng không gian tụ lại ở góc đường, con dốc sau nhà, xuống hồ... Đấy, đấy, nàng lại sắp sửa bị mấy câu hỏi hồi đêm quấy rầy!
    Tâm Thanh cứ dùng dằng trong phòng riêng của mình, hết thử cái áo này rồi lại cởi ra, thay áo khác. Vất đầy trên giường. Nàng thấy thích quá. Không giống như mọi ngày. Không trang điểm. Sau một đêm mất ngủ, trông nàng giống con ma. Này! Lạ quá! Điều gì, ý nghĩ nào rồi cũng dẫn dắt đến những thắc mắc đó? Không nên tưởng tượng một điều gì!
    Không ăn sáng, nàng định đi làm sớm. Nhưng ra đến gần cửa, nghĩ sao nàng rón rén đến cửa phòng bà nhìn vào. Bà nằm trên giường. Vừa thấy bóng Tâm Thanh, bà nhấc tay lên ra hiệu. Tâm Thanh định bảo: “Cháu đi làm”, nhưng chợt nhìn thấy gương mặt tiều tụy khác hẳn của bà,nàng hơi hoảng hốt kêu lên:
    “Bà không sao đấy chứ? Bà mệt ư?”
    “Mệt quá... không dậy được! Không cử động được... sao ấy!”
    Bà như một người khác hẳn. Tâm Thanh cuống lên:
    “Để cháu gọi xe cứu thương!”
    Bà chẳng nói gì. Nằm yên, nhắm mặt lại. Làm như sự hiện diện của Tâm Thanh đã quá đủ. Mái tóc xô lệch càng làm sự tiều tụy tăng lên gấp mấy lần.
    Ngay đến con số cấp cứu 911 mà mãi nàng mới nhớ ra. Nàng chưa tỉnh hồn. Nỗi lo âu choán ngợp làm mắt nàng mọng lên. Bà nằm yên, không mở mắt. Chẳng nói thêm lời nào. Tâm Thanh sợ.

    Tiếng còi xe cứu thương rúc lên từng hồi, nghe xa xa, rồi cứ rõ dần. Tâm Thanh vội cất những giấy tờ vào ví rồi ra cửa ngóng. Tiếng còi xe, đèn chớp nháy. Buổi sáng sớm mai khét lẹt mùi khói xe, những tiếng động inh tai. Nhưng bà vẫn nằm yên trên giường, không thèm mở mắt ra gọi Tâm Thanh.

    *

    Bà bị stroke lần nữa. Nặng hơn những lần trước. Hy vọng sống chỉ chừng 20%. Lúc này khi nghe thế, Tâm Thanh tha hồ khóc. Nàng khóc cho bà, cho cả mình nữa. Cho nỗi hiu quạnh mà tất cả mọi người bỏ lại cho nàng. Ba. mẹ, rồi lần này đến phiên bà.
    Nàng ngồi bên cạnh bà và nước mắt cứ thế mà chảy ra. Tưởng đâu những giọt nước mắt như mưa ấy sẽ đánh thức bà dậy. Để Tâm Thanh đưa bà về lại nhà, mỗi sáng lại đẩy xe trên đoạn đường quen thuộc mà mới sáng nay nàng chán ngắt khi nghĩ đến những bổn phận! Bà vẫn nằm đó, bất động trong giấc ngủ với hàng bao nhiêu dây cắm trên đầu, trên tay. Có lúc mệt quá, nàng thiếp đi trong giấc ngủ vật vã. Tiếng ú ớ làm nàng tỉnh dậy. Mở choàng mắt. Nàng nhìn bà, trông đợi một điều gì. Bà mấp máy miệng. Những lời gì Tâm Thanh nghe không rõ. Nàng áp mặt sát gần bà, lắng nghe. Chỉ có thế rồi bà mất. Giản dị, nhanh chóng và bất ngờ. Nàng đứng trơ ra đó, không làm gì được. Nàng nhấn nút ở đầu giường. Nhiều người lắm, ra, vào, làm đủ thứ mà bà vẫn cương quyết không trở lại.

    *

    Căn nhà dường như rộng hơn theo với nỗi hiu quạnh. Tâm Thanh chưa thấy tình yêu đâu cả. Quay đi quay lại chỉ thấy mình. Tất cả những quen thuộc của thời gian trong ngày đều thay đổi. Nàng không còn theo một thứ tự như lúc sống với bà. Những quen thuộc nhàm chán giờ lại trở thành một thiếu vắng lắm lúc đến rợn người. Cái mùi dầu xanh, mùi salonpas bà hay dùng vẫn còn thoang thoảng bám vào đâu đó, không chỉ trong phòng bà mà hình như còn đọng lại trong bếp, phòng khách và có những lúc đứng ở bờ sông sau nhà nàng cũng có cảm tưởng ngửi thấy đuợc cái mùi đó. Tâm Thanh đã nghĩ đến chuyện phải trang hoàng lại nhà cửa, thay đổi hết đi. Điều này chắc có lý và sẽ làm nàng bận rộn. Tốt thôi.

    *

    Căn nhà sực lên mùi sơn mới. Tâm Thanh phải mở hé cửa vào những ngày cuối tuần khi nàng ở nhà. Màn cửa sẽ thay nhưng phải để dành tiền đã. Nàng tự sơn lấy lại tường và cửa nhưng không may được màn. Nàng gọi Salvation army tống khứ khá nhiều đồ. Căn nhà rộng hẳn ra, mang một vẻ đồng nhất của chỉ một bàn tay và một ý thích, không táp nham như trước. Một khuôn mặt mới, thanh xuân hơn với những decor trẻ trung và Tâm Thanh thấy lòng vui hẳn lên.

    Đã sang tháng giêng mà trời đất vẫn làm nũng quá này, chẳng nóng chẳng lạnh, chẳng ra làm sao cả. Hôm thì lạnh, rồi đùng cái ngày mai lại nóng hực lên. Tâm Thanh cứ nhấp nhổm nghĩ đến chuyện ra vườn cây khuân một lô hoa hoét về trồng trước nhà cho... ra vẻ mới luôn thể. Và nàng đã đi mua bao nhiêu là hoa về thật. Sáng thứ bảy, trời không mưa nhưng âm u, Tâm Thanh đã định sẵn trong đầu sẽ trồng những thứ nào ở đâu, thế mà khi xỏ tay vào đôi găng vải thô nàng lại cởi ra và quăng đi. Có bao giờ nàng trồng cây đâu, chỉ có bà. Đã bao lâu nay, nay mới nhớ đến bà! Nỗi nhớ mông lung và xa vời, thoắt ẩn thoắt hiện như một điều gì đã qua lâu lắc nhưng không biến hẳn. Rồi nàng cặm cụi trồng hoa, không găng tay, đầu óc trống không, chỉ thấy đất, hoa và màu sắc.
    “Này cô!”
    Tâm Thanh giật mình nhìn lên. Tiếng Việt! Rõ ràng là tiếng Việt từ một người nam. Ai vậy? Chưa hề gặp trong đời. Nhưng lại thấy nét quen. Lạ thật! Người đàn ông chắc cũng trạc tuổi nàng. Nàng đứng lên, cái nhìn của nàng có đầy đủ ý nghĩa của một câu hỏi không cần phải thốt lên.
    “Đây có phải nhà bà Đắc không cô?”
    Anh ta là ai mà lại nhắc đến tên bà? Tâm Thanh tò mò nhìn anh ta nhưng khi định trả lời nàng hơi phân vân... Nhưng bà cũng đã từng ở đây nhiều năm? Nhà của bà đúng rồi!
    “Vâng.”
    “Có bà ở nhà chứ?”
    Điều gì làm anh ta xác định là bà ở nhà? Anh ta phải là người quen?
    “Bà tôi... không có nhà! “ –Tâm Thanh không muốn nói đến chuyện ra đi của bà khi chưa biết rõ mục đích của anh ta. Suốt bao năm nay có bao giờ thấy ai tìm bà đâu?
    Sự thất vọng lộ hẳn trên gương mặt hơi thô của anh ta. Đôi mắt lồ lộ như của một ai mà nhất thời nàng chưa nghĩ ra.
    “Thế ông bà Huyến có nhà không hả cô?”
    Lần này không thể nói lung tung nữa được rồi.
    “Ba má tôi... không còn nữa...”
    Sự ngỡ ngàng làm anh ta bối rối hẳn lên. Có lẽ khi đến đây anh ta không sửa soạn cho những bất ngờ như thế. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục hỏi thêm như vớt vát:
    “Vậy... chắc cô là con ông bà Huyến?”
    Ơ lạ quá đấy nhé! Tại sao anh ta lại biết rõ rành mạch thế? Nhưng cũng chính những câu hỏi này làm Tâm Thanh bạo dạn hơn, nàng hỏi lại:
    “Sao ông biết? Ông là ai?”
    Anh ta chỉ tay vào hai chiếc ghế sắt để dưới hàng hiên:
    “Nói chuyện một lúc được chứ? Tôi tên là Trí. Có bà con với ba cô. Cô tên gì vậy?”
    Trở lại với con người cố hữu, Tâm Thanh hơi tủm tỉm cười:
    “Tôi là Tâm Thanh . Tôi phải xưng hô thế nào?”
    “ Tôi là em của ba cô.”
    Em của ba? Chưa bao giờ nghe thấy nói đến? Chắc em họ của ba? Trông chẳng lớn hơn nàng bao nhiêu mà Tâm Thanh phải gọi bằng chú ư?
    “Mời... chú vào trong nhà.”
    “Bao giờ bà về hả cô?- Anh ta vẫn gọi Tâm Thanh như thế dù nàng đã đổi cách xưng hô.
    Mức độ gần gũi và thân thiện đã nhích lại gần hơn bởi mối liên hệ giòng tộc. Tâm Thanh đưa “chú Trí” vào nhà bằng cửa garage vì tay nàng đầy đất. Tâm Thanh xin lỗi đi rửa tay trước khi trả lời.
    Ngồi xuống ghế đối diện với chú Trí, Tâm Thanh nói không mấy khó khăn:
    “Bà cháu mất mấy tháng nay rồi!”
    Chú Trí nhận câu trả lời của Tâm Thanh với một vẻ khó coi, không hẳn là đau buồn. Lúc này Tâm Thanh mới để ý trên tay chú cầm một gói gì bọc khá cẩn thận. Quà chắc? Cả chú và Tâm Thanh đều không nói gì một lúc khá lâu. Giọng chú ta hơi khác khi hỏi nàng:
    “Bà đau sao? Có lâu không?”
    “Không! Cũng nhanh lắm. Trước đó bà bị stroke, bị liệt nửa người, nhưng tập một hồi nên cũng khá hơn. Lần cuối cùng này nặng...”
    “Còn ba má Tâm Thanh?”
    “Ba má cháu bị tai nạn xe hơi cách đây 3 năm. Cũng nhanh như bà thôi. Chú bà con thế nào với ba cháu?”
    “Tôi là em cùng cha khác mẹ với ba Tâm Thanh” –Chiếc gói vẫn nằm trong lòng chú khi trả lời.
    Toàn là những bất ngờ! Lúc này Tâm mới thấy đôi mắt hơi lồi quen thuộc ở chú giống ai. Giống ông, trong bức ảnh trên bàn thờ trong phòng bà. Quá nhiều câu hỏi chợt đến mà không tiện hỏi. Nàng cứ chấp nhận những điều vừa biết như... những điều đã biết từ lâu.
    Chú Trí đặt gói giấy lên bàn rồi bảo Tâm:
    “Khi ba tôi chết cách đây 3 tháng, đây là những điều ba tôi dặn dò trong những giờ phút cuối cùng. Tôi tưởng đến đây sẽ gặp bà. Tôi hứa với ba tôi như thế. Lời hứa này...”
    Nàng không biết phải nói sao. Chiếc ảnh thờ ông đã có từ lâu lắm, phải trước khi nàng ra đời. Bà và ba mẹ nàng đã thờ ông như thờ một người đã khuất từ hàng 25 năm nay, hay có thể hơn nữa chút đỉnh. Cũng nhang khói, hương hoa... nhưng cho một người chỉ vừa mới nằm xuống đây? Tâm Thanh nhìn chú Trí, lòng nặng như những ngày bà mới mất. Tưởng đâu bà, rồi ba mẹ... đã nằm hết cả ở phía đằng sau của ký ức và Tâm Thanh hoàn toàn yên ổn với cuộc đời của mình, Cái quẫy mạnh tuy thuộc về quá khứ nhưng lại mới tinh, hớp hồn nàng bằng những đợt sóng nhồi dồn dập, hết lớp này đến lớp khác. Tự dưng Tâm Thanh buồn nôn. Nước miếng đầy trong miệng nàng. Chẳng thể nói một điều gì.
    “Bây giờ tôi chỉ biết giao cho Tâm Thanh. Hoặc là cháu cất đi, để bàn thờ hay mang ra mộ bà, sao đó, cho toại lòng người đã ra đi..”
    Điều này có dính líu gì đến mình? Tại sao Tâm Thanh lại là người duy nhất còn sót lại trong căn nhà này để phải nhận lãnh một gửi gấm của mộït người chết gửi cho một người cũng không còn nữa? Tại sao nàng lại phải bị đu đưa giữa những rắc rối nào đó thuộc về dĩ vãng không phải của mình? Tâm Thanh muốn nói lời khước từ, phủ nhận cái trách nhiệm đó nhưng nàng không tìm được một câu nói nào để nói với người chú chỉ bằng tuổi nàng, vừa nhận họ.
    Sự im lặng ở Tâm Thanh trong lúc này đương nhiên trở thành một chấp nhận, dù miễn cưỡng. Chú Trí dường như cũng không muốn ngồi nán lại thêm. Chú đứng lên, nhanh nhẹn nói dăm câu gì đó Tâm Thanh cũng không nghe rõ. Nàng chỉ nhớ tiễn chú ra ngoài cửa, cố gắng nói lời chào chú, rồi thôi.
    Những cụm hoa nho nhỏ vẫn đang chờ Tâm Thanh trước nhà nằm trên thềm xi măng. Phần đất vừa xới có mầu nâu non y như những điều nàng mong đợi ở những đổi thay. Tâm Thanh ngồi sụp xuống, ói ngay trên phần đất nàng vừa xới. Cái mát rượi của bên ngoài trời làm nàng tỉnh táo. Một lúc sau, nàng vun đất chồng lên lớp bẩn từ miệng vừa thải ra. Cũng lại mới thôi!
    Tưởng rằng sẽ tiếp tục trồng nốt được những đám hoa như đã định, nhưng nàng nhầm. Trên từng chậu hoa, trên từng đám đất nàng đều nhìn thấy cái gói giấy nâu quái ác mà chú Trí để lại. Cũng không thể cất đi đâu được, không thể bỏ ngoài mộ bà, để đâu trong nhà thì nó vẫn có đó. Bỏ đi cũng không được! Chú Trí đã tống được cái lời hứa sang cô cháu, và rồi nàng sẽ làm gì với nó đây? Chỉ có một lúc thôi với sự rắc rối này mà nàng đã không chịu nổi, huống gì kéo dài, phải giải quyết cho xong. Tâm Thanh phải được trả lại về với hiện tại và tương lai của nàng.
    Tâm Thanh vào nhà, mang theo chiếc gói nọ vào bếp và cẩn thận kéo từng lớp băng keo, dây cột chằng chịt quanh nó để xem thứ gì trong ấy và phải thanh toán ra sao. Bên trong, sau nhiều lần giấy là một chiếc hộp chữ nhật cao, xinh xinh. Trong chiếc hộp có một bình sứ trông như bình hoa nhưng lại không phải, đậy nút cẩn thận. Có thêm một phong thư.
    Có nên xé thư ra xem? Thư của ông gửi riêng cho bà. Nhưng không đọc làm sao biết ý người chết muốn gì? Đã tháo chiếc hộïp thì bóc cả thư cho tiện việc giải quyết vấn đề, Tâm Thanh thấy mình có đủ nguyên cớ để hành động như vậy. Bức thư chỉ có 2 tờ, viết một mặt giấy.

    “L ra phi mt đối mt khi nói vi em nhng điu này, nhưng tôi không làm được. Ngay đến chuyn tr li căn nhà cũ, ch đứng ngoài thôi, tôi còn không làm được na, hung h! Hai mươi lăm năm có làm em nguôi ngoai? Cho tôi t li. Em có tin rng tôi không bao gi oán gin khi em đẩy tôi xung sông không? Đúng ra, tôi phi chết lúc đó cho va lòng em. Tôi vn nghĩ em s gin d điên cung khi biết tôi đã phn bi em, nhưng không bao gi ng đến hành động cui cùng y. Lúc nhoài người lên khi mt nước tôi còn nh đôi mt và khuôn mt em. Đôi mt sâu, nhiu tròng đen hơn tròng trng và đôi môi mếu xch hiếm khi thy làm tôi đau đớn và hình nh cui cùng y đã đeo đui mãi không thôi. Như thế mc dù đon tuyt nhưng cái tình gia đôi ta không tuyt. Ngay lúc đó tôi thy mình phi đi thôi, khut mt em và con.
    Đó là mt li lm v phn tôi. Nhưng như em vn tng nói ”Thà có hay không có”. Em đã chn dùm tôi mt la chn. Tôi đã dn dò nguyn ước cui cùng là được thiêu. Mt na tro s giao li cho em. Để làm gì h em? Tôi mường tượng em s chm chp ra b sông sau nhà, đúng ch mà em đã đẩy tôi và đổ hết đám tro này xung cho toi nguyn được ý định đon tuyt. Như thế phn nào tôi cũng tm yên n cho nhng li lm ca mình

    “Ch đó nước sâu lm! Ht chân hay đẩy nh là rơi xung ngay!” Câu nói ngày nào trở lại. Tâm Thanh thấy thương bà, thương cho sự yếu đuối không ngờ ở bà. Phải yếu đuối đến thế nào bà mới hành động như thế. Phần mềm nhất ở một trái tim cứng rắn là một điểm yếu, yếu hơn người ta tưởng. Có bao giờ tưởng tượng một con người như bà lại lụy vì tình đến thế? Mỗi ngày nhìn giòng sông, bà nghĩ gì? Nhớ gì? Nhớ đến hai chữ “đoạn tuyệt” hay nhớ đến chữ “tình”?

    Chắc Tâm Thanh sẽ mang bức thư này ra mộ bà đốt rồi trải trên mộ cùng với tro của ông. Chỉ có cái chết mới đưa ông bà trở lại với nhau. Tâm Thanh thấy dễ chịu hẳn. Nàng trở lại ra sân, trồng nốt những luống hoa để mặt tiền nhà thực sự có một cái nhìn khác. Căn nhà ở góc đường cụt này sẽ phải trở nên một căn nhà với mảnh vườn đẹp từ hai bàn tay: bà và cháu. Từ hai người phụ nữ có đôi mắt đen thui, sâu như lòng sông.

    Mc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:28 AM.

  8. #8
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Chuyến xe ngày thứ năm


    Mặc Bích

    Nguyệt Quế kéo cao cổ áo, cái lạnh đầu đông mới chớm mà đã làm buốt một bên vai. Buổi sáng sớm và buổi chiều có lẽ cũng không khác nhau. Trời nặng một màu xám đục có vẻ như ướt mà lại khô, khô thốc vào trong mũi, cuốn cho bằng hết những mềm mại trên má, trên môi, trên đôi bàn tay đang ủ kín trong hai túi áo lạnh như tìm chỗ trú ẩn ấm áp. Mặt trời trốn kỹ sau những lớp mây dầy đặc. Những cây trồng dọc theo lề đường hè phố trơ những xương xẩu đen đủi như ám khói, chỉ còn những bụi cây rải rác nằm dưới gốc là còn một màu xanh lục tối om, cũng đang ngủ hay chết sững?
    Băng ghế nhỏ chỉ đủ cho 4 người với vóc dáng trung bình ngồi đợi xe bus, cỡ mập quá khổ thì đâm thiếu. Khói thuốc của người đàn ông ngồi cách nàng dường như không chịu tan, cứ lẩn quẩn trong chu vi nho nhỏ của cái khung nhựa và chút mái che hẹp của chỗ đợi. Bà lão da màu tóc đã trắng như cước lốm đốm tí xam xám như chút tiêu của hoàng hôn đời rắc vội trên từng lớp uốn quăn quăn ngắn ngủn thưa thưa, trùm ba bốn lớp áo, cứ nhích nhích ngồi sát vào Quế để chừa một khoảng cách xa hơn giữa bà ta và người đàn ông da trắng cỡ trung niên đang thả khói liên miên như hun thêm cái màu sương khói của một ngày thứ năm giữa tuần đang trăn trở vào đông. Quế không thấy sự cọ sát không mang tính thân thiện này của bà ta làm nàng khó chịu. Có lẽ nàng đã gặp bà ta trên cùng chuyến xe này ít nhất 2, 3 lần nhưng chưa bao giờ ngồi cạnh.
    Hai đầu gối bà lão chụm lại như dồn ép sức nóng trong thân nhiệt vào một điểm. Quế thấy hai cái đầu gối ấy rung rung không biết vì lạnh hay vì bà ta rung đùi? Và nàng chợt nhếch môi cười, một nụ cười bâng quơ của sáng ngày Thứ Năm. Cũng một ngày lưng chừng chưa đi tới đâu của tuần lễ.
    Chiếc xe bus xịch tới đem theo cái mùi khói khét lẹt và những tiếng thở mệt nhọc rồi thả ra một tiếng khi ngừng hẳn lại ở trạm xe đón hành khách. Cánh cửa trước mở. Vài người khách từ trong xe bus bước xuống trong một nhịp độ tương đối thong thả. Ba người chờ cùng đứng dậy nối đuôi nhau lên. Bỏ tiền hay chìa cạc rồi tìm chỗ ngồi. Quế theo sau bà lão và tình cờ họ lại ngồi cạnh nhau.
    Chuyến xe mỗi ngày Thứ Năm kéo dài từ trạm chót này ra đến xa lộ chạy thẳng vào phố mất 45 phút. Người ta làm gì trong 45 phút dài ngất ngư ấy? Đọc sách, học bài, ngủ gỡ, tán chuyện hay thiền giả với đôi mắt thả rong suốt dọc đường. May cho Quế, nàng chỉ đi chuyến xe bus này mỗi tuần một lần vào ngày Thứ Năm vì Tuân, chồng nàng cần xe để di chuyển xa thay vì như những ngày khác dùng chung xe. Quế ở vào trường hợp nào như những loại kể trên trong 45 phút đường dài? Cũng tuỳ, nhưng học bài và ngủ không có Quế. Học gì nữa? Còn ngủ? Quế không quen ngủ giữa đám đông cho dù đôi lúc những tiếng rì rì của máy xe và những chuyển động đong đưa quyến rũ đến độ nàng ngồi ngây như tượng và hình như ngủ với đôi mắt vẫn mở mà chết mọi cảm giác.
    Đoàn xe chợt chậm lại. Tai nạn trên đường. Nhưng có lẽ đã đựơc giải tỏa. Hành khách trên xe lố nhố chỉ chỏ với đôi mắt tò mò nhiều hơn thương cảm. Cũng chỉ là chuyện hàng ngày!
    Bà lão bên cạnh Quế cũng nhìn ra nhưng rồi quay vào chắp tay trên ngực lầm bầm điều gì. Nàng nhìn bà lão và tự dưng muốn gợi chuyện. Nàng đợi bà ta trở lại vị thế cũ mới bắt chuyện:
    “Tai nạn không tránh được phải không bà?”
    Bà lão nhìn sang Quế có chút ngạc nhiên trên đôi mắt bé tí loé lên sau những lớp da chùng đè chụp trên gương mặt nhiều kẻ vạch khắc sâu hoắm:
    “Làm sao được!”
    Bà ta cũng như Quế, chỉ là những kẻ ngụ cư trên đất nước này với một quá khứ rời, lủng lẳng bên mình trên chặng đường còn lại với những bước chân khác, gượng gạo chập chững len vào giòng người đa chủng tìm một chỗ đứng cho mình. Tiếng Anh của bà lão khá thông suốt nhưng mang nặng tính và âm hưởng của giòng cũ. Tò mò, Quế hỏi:
    “Xin lỗi, nhưng bà là người ở đâu?”
    Bà lão hiểu ngay Quế muốn nói gì, trả lời:
    “Tôi người Nhật, định cư ở đây cũng trên 30 năm. Còn cô sao?”
    “Tôi là người Việt Nam. Ở Mỹ cũng lâu bằng bà”
    “Quen chưa?”
    Quế cười cười nhìn bà ta:
    “Cũng quen mà cũng không quen”
    Bà lão gục gặc đầu lẩm bẩm: “Quen mà không quen”.
    “Bà có về lại xứ bà thường không?”
    “Thỉnh thoảng. Về thăm thôi.”
    “Sao vậy? Bà không muốn sống ở quê nhà sao?”
    “Thì như hồi nãy cô nói đó, cũng chỉ vì cái chuyện “quen mà không quen”. Ba mươi năm cột ở một chỗ, nhổ lên để trồng lại coi bộ không dễ. Đời người trồng đi trồng lại nhiều không tốt. Mà ở đâu quen đó, lạ vậy!”
    Bà lão cũng phải cỡ bẩy mười mấy gần 80 hay 80 ngoài mà còn sắc bén như một lưỡi dao sáng loáng nhọn hoắt.
    Khi nào thì người ta đang từ quen trở thành không quen hay ngược lại? Nàng chỉ trả lời một câu hỏi thông thường mà bỗng dưng sự thường ấy lại trở nên một sự gì “bất thường”! Có thể cười ngạo với chút ngậm ngùi. Mà sự thể là như thế! Đó có thể chỉ là một chuyện vu vơ đầu ngày giữa hai người xa lạ trên cùng một chuyến xe.
    Đến phiên bà ta bắt chuyện trước, với giọng nói lớn hơn như đã vượt qua một mức của sự e dè tự nhiên:
    “Cô tên gì? Tôi là Shima, Shima Sonoda.”
    “Tên tôi là Quế”, nàng cười thân thiện và lập lại tên người bạn đồng hành với chút thích thú, rồi hỏi:
    “Bà sang Mỹ cùng với gia đình hả?”
    “Tôi sang đây do con gái tôi bảo lãnh. Nó lấy chồng Mỹ. Gia đình cô ở đây hết chứ?”
    “Vâng. Cả gia đình tôi ở thành phố này cả”
    Bà Shima bỗng dưng trở nên xa vắng, giọng bà nghe như mơ hồ lạc điệu:
    “Cô là người may mắn.” Tôi không được như vậy.”
    Quế tò mò:
    “Bà còn con cái ở bên Nhật sao?”
    Bà Shima lắc đầu:
    “Ở bên đó tôi chỉ còn họ hàng xa, những người cỡ tuổi tôi chẳng còn mấy… Tôi có ba người con, một trai, hai người con gái, chết một.. trong năm 1945. Bây giờ chỉ còn lại một trai, một gái thôi”.
    Quế không nói gì thêm, mà cũng chẳng biết phải nói gì. Nhưng chính bà ta lại cất tiếng:
    “Cô còn trẻ hơn con gái tôi”
    “Vâng, năm 1945 tôi chưa ra đời. Trông bà còn trẻ và khỏe lắm”
    “Nhiều lúc tôi cứ hỏi Thượng Đế sao bắt tôi sống lâu chi thế?”
    Quế bật cười:
    “Trời ơi, người ta mong sống thọ, sao bà lại nói như vậy?”
    “Cô thấy sống vui không? Ôi thôi, đừng để ý, tôi già hay nói lung tung!”
    Câu hỏi đột ngột như chút hé cửa của một ngôi nhà ảm đạm. Nàng trả lời câu hỏi không phải của bà Shima mà cũng chính đôi lúc nàng đã tự hỏi mình như thế.
    “Lúc vui lúc buồn phải không bà?”
    “Cô có biết cái vô hình là cái nặng nhất không?”
    Quế ngạc nhiên không hiểu:
    “Cái vô hình là cái gì? Bà muốn nói..?”
    “Niềm vui không phải là cái vô hình” rồi bà ta nói tiếp “Cái vô hình là cái không tan biến được. Cô có gia đình rồi chứ? Cô được mấy cháu?”
    Bà Shima đi từ một sự trừu tượng sang một sự đối nghịch hiện thực. Nàng hơi ngạc nhiên, nhưng đáp:
    “Vâng. Tôi được một cháu, cháu gái 15 tuổi”
    “Cháu ngoại gái tôi cũng cỡ đó. Chúng nó may mắn sinh ra trong thời bình, không như mẹ nó!”
    Bây giờ Quế mới để ý đến đôi bàn tay của bà Shima. Những vết sẹo chằng chịt lồi lõm không chừa chỗ nào trống cho làn da nhăn nheo với thời gian. Đấy là cái vô hình mà bà ta nói đến đây chăng?
    Mà hình như khi người ta bắt đầu nhắc đến cái riềm bên ngoài của một câu chuyện là tự dưng cứ thế lân lan đến phần bên trong. Hay là khi đã đến lúc một người cần phải thốt ra những tiếng thở dài, và Quế bỗng dưng như một sự tình cờ có mặt ở đó, để nghe, chỉ để nghe.
    Nỗi vô hình không tan biến được ở bà Shima bắt đầu như sau:
    “Có những điều mình quên dễ dàng giống như sáng nay tôi để quên kính ở nhà, nhưng cũng có những điều khó quên quá! Mà cũng chính những cái khó quên đó làm mình quên nhiều chuyện khác! Tôi đã mất đi một phần của mình cách đây 60 năm… Gia đình tôi ở Hiroshima vào thời điểm chiến tranh đang leo thang, năm 1945 chắc cô biết chứ? Quên! Chắc lúc đó cô chưa ra đời? –Không đợi Quế trả lời, bà ta kể tiếp- Tương đối thì vùng chúng tôi ở không đến nỗi nào trong lúc những thành phố như Tokyo hay Yokohama đã bị tàn phá nhiều. Không phải mình tôi mà cả những người sống trong vùng này đều tin rằng chiến tranh không lan tới đây.
    Lúc đó tôi đã góa chồng, mặc dù mới 23 tuổi với một nách 3 đứa con nhỏ. Mới sáng sớm mà chúng tôi đã nghe còi báo động hụ phải xuống hầm trú ẩn ở sau nhà. Nhưng thời đó lúc nào cũng phải sửa soạn thức ăn mang theo khi xuống hầm trú bom vì không biết phải nằm dưới đó bao lâu, nhất là tôi có con nhỏ nên càng phải đề phòng. Trẻ con thích đồ ngọt nên lúc nào tôi cũng làm mứt vừa để dành được lâu không sợ bị hư mà trẻ lại thích. Chính cái thứ mình làm ra mà nó lại làm mình ray rứt đến như vậy!”
    Kể đến đây rồi bà lão ngừng lại như để bắt thêm hơi thở hay chính là để thở ra những ký ức và những bóng tối của chiến tranh? Rồi lại kể tiếp:
    “Akiko là đứa nhỏ nhất của tôi, năm đó nó được gần 3 tuổi. Nó thích mứt cam nhất. Sáng hôm đó khi tôi đang làm mứt, con bé cứ lằng nhằng đòi ăn mà tôi không chiều theo ý nó vì muốn để dành cất vào hũ, phòng khi không có gì ăn… Vậy mà tôi tiếc... không cho nó ăn! Tại sao tôi lại có thể tiếc với con một điều nhỏ nhặt như vậy? Tôi đã để lỡ cơ hội cho một sự bày tỏ.... dù là vụn vặt!
    Sáng sớm mùa hè năm ấy chúng tôi đã phải chui vào hầm sau nhà khi nghe còi báo động, nhưng chỉ lát sau lại êm. Tôi chờ một lúc rồi ra khỏi hầm trước, tay còn bế con Ariko. Vừa lên khỏi hầm là đã thấy tai mình ù đi như bị điếc, cả trời đất sáng lòa như cả mặt trời trên kia vừa rơi xuống đây… và cái ánh sáng.. sức nóng kinh hoàng ấy cùng những cụm mây hay khói không biết nữa bốc cao làm tối sầm trời đất. Nhiệt độ tăng lên đến mức không thể tưởng tượng nổi! Chắc địa ngục thì cũng chỉ đến thế! Rồi mưa cô ơi! Những hạt mưa đen như mực. Có biết đâu chính những hạt mưa từ trời cao ấy chứa đầy chất độc.. giết người! Tôi không thể hiểu đó là cái gì nhưng như một sức hút từ trời cao, con bé tuột khỏi tay tôi… Phải nói là nó bị cướp đi mới đúng!… Hai đứa sau cũng leo khỏi hầm, chúng níu lấy tay tôi. Giống như một giấc mơ, tai bị điếc không nghe thấy gì cả, mắt thì lòa đi, đầu óc u mê ngơ ngẩn. Làm sao mà tôi cùng anh chị của nó ra được đến bờ sông Ota thì không hiểu!.. Chẳng bao giờ có thể biết được tại sao! Khi đến được bờ sông Ota, thân người chúng tôi nám đen, rát bỏng và không còn mảnh quần áo. Còn bé Ariko.. đâu mất! Lúc đó tôi bắt đầu tỉnh tỉnh một chút, cả ba mẹ con đi tìm con bé Ariko. Tôi gọi tên nó cho đến khi lạc cả giọng. Quanh chúng tôi là những bóng ma cháy nám với những đôi mắt thất thần! Tôi nghĩ đó là ngày tận thế!... Vậy mà.. ba mẹ con tôi là một trong 100 ngàn hibakusha còn sống sót tại Hiroshima sau trái bom nguyên tử đã đi vào lịch sử chiến tranh của con người…”
    Bà Shima ngừng lại. Quá khứ sâu thăm thẳm trồi lên rồi lại tuột xuống tận đáy của một trí nhớ bạc thếch. Những nhà những cửa, trời mây vùn vụt bên ngoài theo tốc độ của chiếc xe bus như đẩy nhanh quá khứ lùi về sau. Quế lại nhìn xuống những vết sẹo trên bàn tay bà Shima. Những vết sẹo đã lành da căng cứng vì hụt, vì thiếu da, không nhăn nổi theo với quy luật của thời gian như niềm đau vô hình nhức nhối, như những vết thương tưởng đã lành mà vẫn căng cứng như thách đố.
    Nàng buột miệng nói:
    “Chiến tranh thật kinh khủng phải không bà?”
    “Chiến tranh.. chẳng bao giờ hết chiến tranh cả! Mà cho dù có hòa bình thì chiến tranh vẫn còn đó, không quên được!... Chiến tranh, hòa bình là hai nửa của một vòng tròn. Vậy mà..” Bà ta ngừng lại không nói nữa. Quế cũng yên lặng.
    Bà Shima lại kể tiếp, bây giờ không phải là chuyện riêng mà là chuyện chung của những nạn nhân trong thời kỳ đó.
    “Những hibakusha.. Quên! Tôi cứ quen nói như vậy! Hibakusha là những người sống sót sau vụ đó. Tôi và các con tôi cũng là một trong những hibakusha. Chúng tôi mang một dấu ấn do chiến tranh để lại! Người ta xa lánh, kinh sợ những hibakusha vì sợ ảnh hưởng của những phóng xạ gây bệnh tật. Chuyện lập gia đình với những người liên hệ đến nạn nhân trong vụ này là một điều người ta tránh tuyệt đối! Chúng tôi trở thành như một thứ hủi bị người đời xa lánh! Đã bị thương tật đã đành, nhưng đến đời các con tôi cũng cùng chung số phận! Nhiều hãng xưởng từ chối không mướn, có những gia đình khi lấy vợ lấy chồng cho con cái còn thuê mướn người điều tra tông tích xem cha mẹ ông bà có phải là hibakusha hay không! Tôi đã giận dữ, thù hận không chỉ chiến tranh mà còn cả những người đồng chủng với mình... Khi con gái tôi lập gia đình với một người Mỹ.. và theo chồng nó về xứ sở này.. tôi đã nghĩ khác đi! Để thay đổi người ta cần phải có thời gian, cô có nghĩ vậy không? Hay mình phải vượt lên cái tầm thường để cởi bỏ hết? Đến chừng này tuổi tôi không còn thù ghét một cái gì. Giá mà tôi thay đổi được ý nghĩ của mình sớm hơn có lẽ tốt hơn”
    Quế trả lời mà trong tâm đang tự vấn mình, hoài nghi về câu trả lời của mình:
    “Đúng thế! Nhưng không phải dễ!”
    Câu chuyện giữa hai người đến đây như dừng lại, mỗi người như lại tách ra với những ý nghĩ riêng của mình, hay vẫn cùng đề tài?
    Bên ngoài trời vẫn không sáng hơn. Và buồn, như nỗi buồn vô hình của người đàn bà ngồi bên đang chở nặng trên vai hơn 80 năm không phải của một cuộc đời mà có lẽ của nhiều cuộc đời! Giống như Quế, đôi lúc nhìn lại mình của những ngày trước đây, thấy mình khác, ngay cả trong những suy tưởng và hành động. Rồi tò mò và đôi lúc phủ nhận để bảo rằng mỗi người chỉ có một cuộc đời. Hay người ta sống nhiều cuộc đời trong một đời? Đó là được hay mất? Ôi thôi, sao rắc rối quá! Như trường hợp bà Shima, thay đổi, nhưng không quên. Ngay trong những lời kể lể tuy ôn hòa nhưng vẫn trĩu nặng những mất mát. Rồi vẫn chính bà ta lại tiếp tục câu chuyện:
    “Sống lâu, sống dài, chỉ để gậm nhấm những thứ đã trôi qua. Mà càng lâu càng có thì giờ suy xét, sai có, đúng có, vô nghĩa cũng có nốt. Cái vô nghĩa nhất mà tôi thấy đó là tôi được sống mà Ariko.. chết! Đó cũng là được mà cũng là thua! Này, cô có biết đánh bạc không?”
    Quế chưng hửng:
    “Đánh bạc?.. À không, tôi chưa thử bao giờ”
    “Cuộc đời giống như nhiều canh bạc. Ăn thì vui mà thua thì cay. Toàn hên xui cả. Tính toán vứt đi! Mà canh bạc đời.. hay cho mình nhiều bất ngờ. Thật tức!”
    Có lẽ cái tức đó mà bà Shima bực đến cắt ngang câu chuyện. Hay những chuyện muốn kể cũng chỉ có thế và người kể cũng không muốn nói thêm. Hay, quá khứ phải khuất mắt đi cho người sống được sống.
    Bà Shima Sonoda -tự dưng Quế nhớ cái tên này rất lâu- và những điều bà ấy kể, nói, làm dầy thêm cuốn tự vị sống của mình, Quế bâng khuâng nghĩ như vậy. Nàng sẽ nhớ lại câu chuyện của ngày hôm nay vào lúc nào trong cuộc đời trước mặt? Nhưng chắc chắn nàng sẽ không kể cho Tuân nghe vì không muốn chồng nàng phê bình: “Em thật vớ vẩn!”.
    Tuân sống nhiều hơn nghe và suy nghĩ. Nàng biết mình yên ổn bên cạnh một người giản dị không chỉ trong lối sống mà còn trong những tư duy. Nàng cần sự đơn sơ ấy để cân bằng hóa những thứ lộn xộn đang quấy rầy cái đầu nhỏ bé của mình, như những mảnh nhỏ trong câu chuyện vừa nghe còn lắng lại.
    Khi xe bus rẽ vào trong phố và ngừng lại ở trạm, Quế nắm tay bà Shima hơi lâu vừa để tạo cơ hội sờ vào những vết sẹo của bà lão rồi nói:
    “Cám ơn bà đã chia sẻ nhiều điều với tôi. Ngày mai nghe nói thời tiết khá hơn. Trời đẹp làm mình dễ chịu hơn phải không bà? Đâu phải lúc nào trời cũng xấu đâu, lúc này lúc kia”.
    Bà Shima nhướng mắt nhìn Quế. Cái nhìn lâu, im lìm, sâu thẳm ngập đầy cái rưng rức đau xót tỉnh táo không phải chỉ trong đầu trong tim mà cả da, cả xương, rồi đọng lại ở đuôi con mắt già sụp mí. Rồi chợt nháng lên chút tia nhìn hóm hỉnh. Và để trả lại, bà ta vỗ vỗ tay Quế không nói thêm điều gì. Bà thấy mình đã nói quá nhiều trong ngày hôm nay. Một ngày trời xấu!

    Mặc Bích
    Last edited by Frank; 10-10-2013 at 09:29 AM.

  9. #9
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    Trắng, Đen và Xám


    Mặc Bích

    Chỉ còn tiếng u u đều tăm tắp từ máy điện thoại đã bị cắt, nhưng Nguyên vẫn chưa tỉnh. Bỏ điện thoại xuống, trong con mắt chưa hẳn đã thức, chàng xoay ghế nhìn thẳng ra ngoài. Từng khuôn kính lớn trong vắt ngăn cách trong ngoài, khoảng cách, chiều cao, chiều sâu hun hút như muốn kéo tuột chàng ra khoảng không thênh thang với bầu trời xám ngắt.


    “Anh Nguyên hả?” Tiếng nói trong, ngọt như một miếng thạch mát lạnh cọ quậy trong miệng rồi rơi tọt vào trong cổ họng, luồn xuống bao tử, dịu dàng, tan ra.. sảng khoái. Mười lăm, hai mươi năm, hay hơn thế nữa chàng mới nghe lại, thật chứ không giả như trong trí tưởng tượng vốn rất bén nhạy của mình. Cuộc hẹn hò bất ngờ chiều nay với Như là cuộc hội ngộ với vết thương mãi mới lành, nay lại bị sút chỉ, mở bung và nhức nhối trong hoan lạc! Một thứ trêu cợt đùa dỡn của cuộc đời! Chỉ có chết thôi! Nhưng chết kiểu này sướng quá. Cho dù chỉ là chết giả bộ, một thứ vờ vịt như muôn ngàn bát nháo khác.
    Gặp gỡ rồi sẽ đi đến đâu?
    Nguyên cười hực lên một mình nhủ thầm: “Đi đâu thì đi. Tự nhiên xảy đến mà! Có đi tìm đâu?” Đấy là một câu trả lời hồn nhiên và thành thực của bất kể lứa tuổi nào. Những mệt mỏi ẩm ương của một ngày giữa tuần bỗng nhiên biến mất! Bản tường trình dở dang khó nhá tự nhiên dễ dàng như một trò chơi. Đầu óc Nguyên minh mẫn lạ thường. Những ngón tay chàng gõ trên máy computer nhanh như chớp. Sinh lực cuồn cuộn tuôn tràn khơi dậy những mạch sống mới. Tim óc chàng mở bung ra. Làm sao có thể định nghĩa một chữ “Sướng” như Nguyên đang cảm thấy?
    Vòng quay của trái đất, sự vô tình của định mệnh hay là những khắc khoải triền miên của cái không đạt được nay biết đâu sẽ trở thành hiện thực? Cho dù từ những nguyên ủy nào đi nữa Nguyên vẫn thấy đây là một cơ hội thứ nhì xảy đến khi mái tóc chàng đã bắt đầu thưa. Cứ sướng như đang sướng rồi thì que sera sera!


    Một cuộc họp của sở đã đưa Như đến thành phố chàng ở. Gặp gỡ một người quen từ xưa để rồi biết Nguyên hiện ở đây. Nàng biết thừa cái nỗi đau ngày nào của chàng. Vậy hẹn để làm gì? Xem cố nhân có còn yêu mình hay hết yêu rồi? Chuyện tình ái là một thứ bệnh trầm kha, không có thuốc chữa, đau đó rồi hết, rồi lại đau. Cơn đau lúc thế này, khi thế nọ, vật vã, sướng khổ, rồi lại bệnh tiếp. Thế nên cơn bệnh ở Nguyên đang trong giai đoạn tái phát, chưa đau nhưng lại rêm rêm, mê mê, nửa say nửa tỉnh, có những ảo giác ly kỳ làm mình sướng, một cái sướng có thật về thể lý mới lạ!


    Cả một buổi chiều Nguyên như trong mê hồn trận. Đến lúc duyệt lại bản từơng trình chàng mới hoảng hốt. Thỉnh thoảng trên vài dòng lại thấy xuất hiện chữ “Như!” Bỏ mẹ! Muốn mất job chắc? Nguyên mà mất việc thì một là bị vợ đuổi, hai là cũng ái ngại tự động dọn ra! Như ơi! Em hãy tạm ra chỗ khác cho anh nhờ! Later, OK?


    Trời vẫn xám xịt và nặng. Trong cái lạnh buốt, khói xe như bị vây kín không tan loãng mà cứ lởn vởn bốc vào mũi khét lẹt. Có lẽ sắp có tuyết như dự báo. Những trận tuyết đầu mùa của một mùa đông dài. Nàng còn biết chỗ Nguyên làm việc nên hẹn ở một quán cà phê khá gần. Đi bộ chừng mươi phút. Háo hức? Có. Nhưng cũng hơi.. sợ! Nhảm! Có phải chưa bao giờ dối vợ? Không muốn kiểm điểm lại. Nhưng sự dối trá từ lâu đã được Nguyên giải thích là một sự-sáng-tạo-tuyệt luân. Một thứ nghệ sĩ tự phong. Thế là cứ tự nhiên thênh thang mà sáng tạo.


    Càng đến gần điểm hẹn, con người đùa cợt của Nguyên cứ biến dần. Chàng như đang đi lùi lại quá khứ. Khẽ liếc nhìn mình trong những ô kính bên đường để tự nhắc nhở về thời gian. Nguyên thấy mình vẫn còn được! Có phần trông được hơn mọi ngày! Rồi mỉm cười một mình rất ngớ ngẩn, nụ cười của một kẻ đang sướng mà không muốn cho ai biết!
    Quán cà phê, nhỏ. Mùi cà phê thơm sực. Những ngọn đèn vàng rải rác trên tường cho một vẻ ấm, huyền ảo thu gọn. Nguyên nghĩ mình tới sớm, đảo mắt tìm một chỗ ngồi thích hợp.


    Chàng thấy Như. Rồi không còn thấy ai khác nữa, như ngày xưa, cả hồn xác đã bị chiếm đoạt. Nàng ngồi ở một góc tuốt bên trong, tình cờ hay chủ ý, sát bên tường, gần một chụp đèn. Ánh đèn tuôn chảy một phía trên mái tóc vẫn thẳng. Như ngồi đó với 2 khuôn mặt. Một nửa ngập trong ánh đèn vàng dịu. Nửa kia tối hơn, không rõ, như thể nàng chợt bước ra từ quá khứ, chưa rũ hết những đám mây ngăn cách của thời gian.
    Nguyên lại đánh rớt mất hồn! Những xôn xao vướng mắc suốt buổi chiều rơi sạch, để lại cả một khoảng trống mênh mông chờ đợi. Cố nhân ở đó, như một điều không có thật. Tất cả mọi sự chung quanh cùng đồng lõa như muốn đánh lừa Nguyên. Chàng đang tiến lại gần quá khứ hay chính nó đang tràn ra xâm chiếm lấy mình, nuốt trửng.


    Nụ cười trong ánh mắt nàng, đôi mắt mở to chờ đợi, và đôi môi dầy, cong hơi nhếch lên làm khoảng cách giữa môi và mũi vốn đã quá ngắn nay gần như đụng nhau. Chính cái bất thường trên khuôn mặt Như lại trở thành điểm bắt mắt, soắn lấy Nguyên chẳng khác gì lần đầu tiên thấy nàng trên hè phố của một ngày chưa hề biết đến tình yêu.
    Này, này, tỉnh đi cha! Đầu bảo thế mà hồn vẫn chưa tỉnh! Có lẽ ngay lúc ấy điệu bộ Nguyên phải khôi hài lắm nên chàng thấy Như bật cười. Chẳng phải cười gìn giữ hay xã giao, mà đúng là cái cười của kẻ biết mình vẫn còn được si mê, chỉ cần vươn tay ra là bắt được con mồi ngay lập tức. Vấn đề là có dang tay ra lúc này hay lúc nào khác? Nguyên thấy nàng đáng yêu. Muốn hôn lên đôi môi cong cớn kia một lần cho biết. Đôi môi dầy nhưng vừa phải, không rộng, có lẽ vừa đủ cho một nụ hôn khéo, kín, không muốn dứt và gợi cảm.
    Khi ngồi xuống ghế, đối diện với Như, chàng cố tìm một câu nói nào đó.

    Nàng nói trước:
    -Trái đất tròn thật phải không anh?
    -Chúng ta đi hết một vòng tròn.. quá dài!
    Đôi môi lại cong lên. Phần thịt hồng ướt át của bên trong làn môi lộ ra mời mọc một cách đáng sợ. Cái nhìn nửa trách móc nửa nũng nịu làm Nguyên muốn chết. Cái chết có dễ dàng như thế không nhỉ? Quả tình Nguyên đang chết ngộp, đang bị đẩy xa bờ, bềnh bồng không biết mình sẽ trôi về đâu?
    Họ không nhắc về quá khứ. Làm như quá khứ đó đã bị lật ngược, và chỉ có hiện tại, lúc này đây thôi. Làm như cuộc hẹn hò này là một sự tiếp diễn ở một nơi chốn quen thuộc.


    Như không đứng dậy. Lúc ngồi xuống Nguyên mới thấy chiếc bàn hẹp vì đầu gối chàng vừa đụng vào đầu gối nàng. Hơi ấm từ dưới gầm bàn đang quyện lấy chân chàng. Thay vì kéo ghế xa ra để tránh, chàng giữ nguyên vị thế tình cờ. Nàng cũng vậy.
    -Anh vẫn uống cà phê đen không đường chứ?
    Lại chết nữa! Sao nàng nhớ thế? Phải có gì chứ?
    -Vẫn thế!
    Vẫn thế là vẫn thế nào? Vẫn thấy yêu quá dù rằng thực sự cà phê Nguyên uống bây giờ có thêm cream, có thêm đường. Lại sáng tạo nữa đấy. Mình sắp thành nghệ sĩ thực thụ, có thể sáng tạo bất cứ lúc nào và.. bất cứ ở đâu. Nhưng cả khuôn mặt diễm kiều kia, hơi nóng âm ỉ dưới gầm bàn là những ngọt ngào còn hơn cream, hơn đường thì tại sao lại không trở lại với thói quen ngày xưa?


    Như giơ tay gọi người bồi. Lúc ấy Nguyên mới thấy nàng gọi thêm một ly chocolate nóng nữa. Có nghĩa là Như đã ngồi đây đợi chàng từ lâu. Ở một góc trái tim chàng, điểm lạnh lẽo triền miên bỗng dưng ửng hồng hơi nóng bập bùng. Như nói điều gì, chàng nghe không rõ. Nàng hơi chồm người sang phía Nguyên lập lại câu hỏi:
    -Anh có về lại thành phố cũ lần nào không?
    Chàng chới với không phải vì câu hỏi mà vì hương thơm, vì độ nóng của thân nhiệt từ nàng, và vì những cọng tóc của nàng chợt chạm nhẹ vào mặt Nguyên khi Như chồm qua. Chàng đáp với câu trả lời không những cho Như mà còn chính là một sự tự thú với chính mình:
    -Chưa bao giờ. Nhưng cần gì? Lúc nào anh cũng sống với nó.


    Như không cười nữa. Ánh mắt nàng u uẩn lặng như một ngày không gió. Ngụm chocolate vừa nhấp để lại một vệt ở khoé môi. Nguyên muốn thè lưỡi ra liếm, chậm rãi, nâng niu như sợ vệt ngọt ngào kia hết mất, biến mất. Như ngồi yên cho Nguyên ngắm. Họ nói chuyện vơ vẩn như những kẻ lẩm cẩm nhất trên đời, nhưng cả gương mặt Như sáng ngời. Nguyên không trông thấy mình nhưng cảm nhận được hạnh phúc chợt đến, thật như nỗi hoan lạc đang tràn bờ.
    Khi Như ngửa cổ ra sau cười lúc ấy chàng mới để ý đến khoảng da thịt trần của cổ áo rộng.
    Nàng nghiêng người. Một bên vai áo trễ xuống để hở bờ vai tròn thanh tú. Mà không chỉ có thế. Với tư thế hơi ưỡn người ra sau, hai đầu ngực nàng nhô rõ. Như không mặc áo lót. Trong bể hạnh phúc êm ả bỗng dưng lăn tăn những đợt sóng nhấp nhô, rồi chấp chới, dâng cao, đổ ập xuống làm chàng loi ngoi, không biết nhìn đâu. Như bắt gặp cái nhìn của Nguyên, nụ cười đã khép lại, nhưng nàng vẫn giữ nguyên tư thế. Cái áo màu nhạt. Tại sao ngay lúc mới vào mình không nhìn thấy là nàng mặc áo màu nhạt nhỉ? Cồn ngực phập phồng và hai điểm lồ lộ kia như đang đùa dỡn với kẻ không biết sợ trời đất là Nguyên.


    Sự ham muốn làm Nguyên muốn nói một điều gì. Những dục giã khuấy động khắp miền thân thể. Giống như lần đầu tiên nhìn thấy những khoảng hở của một thân hình khác phái. Sợ hãi với những khám phá diệu kỳ mang lại niềm hoan lạc bí ẩn muốn kêu lên thành những tiếng động bật vỡ trào ra.
    Thoắt cái, Như đổi thế ngồi. Nàng hơi co vai. Phần da trần một bên vai vẫn trễ xuống nhưng hơi khom người. Chiếc áo mỏng trùng xuống. Không còn thấy.. Cả khuôn mặt nàng vẫn mang một vẻ hồn nhiên và thơ ngây lạ lùng như một ngày của một thời gian nào xa lắc.
    Sự tương phản con gái và đàn bà đang đối chọi nhau làm những xao động trong Nguyên bỗng dịu lại. Khuôn mặt thơ ngây đó đã đi theo chàng suốt bao năm tháng, không một hình bóng nào khác có thể thay thế. Cái ưỡn ngực kia, bờ ngực không áo lót, không thể thay thế được những gìn giữ trong chàng về một nơi chốn linh thiêng với mối tình đầu thầm lặng.


    Họ tiếp tục nói chuyện và hưởng cái hạnh phúc chợt bắt gặp trong khoảnh khắc còn sót lại của một buổi chiều. Lúc ra cửa, Nguyên đưa tay kéo lại cổ áo lệch hở bên vai của Như cho ngay ngắn, cài khuy áo khoác ngoài của nàng thật cẩn thận. Nàng cười hồn nhiên rồi đột ngột hôn hờ lên môi Nguyên và vội vã quay lưng đi. Nhanh quá, chưa cảm được gì cả. Nhưng chính cái chưa cảm ấy lại làm chàng nhớ hơn, khao khát hơn.. cho đến mãn đời.
    Những bông tuyết bắt đầu bay mù trời. Chàng rẽ về hướng khác. Chừng vài bước, quay lại nhìn. Như chỉ còn là một chấm dài màu đen, dần đổi sang xám và cuối cùng biến mất trong màn tuyết trắng phau.


    * * *


    Vừa mở cửa vào, Hoàng Yến lườm Nguyên. Mắt nàng sáng, đuôi mắt dài hơi xếch và dữ:
    -Đứa nào bắt cóc anh, giờ mới về?
    Nguyên giơ tay lên nhăn nhó:
    -Boss muốn là trời muốn!
    -Bữa nào em phải hỏi Boss anh là sao cứ bắt chồng tôi đi happy hour hoài là sao?
    -Chiều đãi boss thì mới còn job chứ cưng!
    -Thiệt không? Hay anh đi với con nào?
    Ánh mắt nàng sáng loáng và sắc như dao mới mài lượn từ đầu đến chân Nguyên kiểm tra.
    -Thật chứ!
    Đến gần vợ, Nguyên luồn tay vào áo nàng tìm yếu điểm, cười rất đĩ:
    -Còn nguyên si! Em có tin là anh còn trinh không? Có cần chứng tỏ? Ngay tức thì.
    -Quỷ! Anh đúng là quỷ sống!


    Miệng nói dữ nhưng miệng cười tình. Không hiểu vì câu nói của chồng hay vì Nguyên tìm trúng huyệt? Nguyên yêu nụ cười của vợ.
    Vẫn nụ cười đĩ thõa trên môi, Nguyên quay đi và chợt nhớ đến thằng Chris trong sở đã có lần nham nhở hỏi Nguyên:
    -Are you straight or gay?
    Và chàng đã trả lời:
    -Me?.. I’m ambiguous.
    Đúng thật. Chẳng phải trắng, cũng chẳng phải đen mà là xám. Cũng như trái tim chàng yêu cả hai người đàn bà: Như và Hoàng Yến, là một sự quân bình cần thiết, không lệch lạc. Nguyên bật cười một mình, vẫn đuôi mắt và nụ cười đĩ quá nhưng chỉ mình chàng biết!




    Mặc Bích

  10. #10
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jul 2013
    Posts
    263
    NGÃ RẼ

    Mặc Bích


    Cơn gió thổi thốc từ phía sau làm những bước chân của Đông Nghi chợt vội vã trong những nhịp không đều. Chiếc váy dài sát vào đôi chân, hằn lên những đường cong phải có. Mái tóc nàng bay dạt về phía trước như muốn bứt tung khỏi đầu. Ngọn gió lôi nàng đi lẫn trong từng đám lá khô đang tưng bừng bay bổng. Cát, bụi, cây cỏ, trời đất và người con gái đang bị đẩy dạt về một phía duy nhất: trước mặt. Cái màu sáng trong vắt ban nãy bị nhuộm đục ngầu, mỗi lúc một âm u hơn với những đám mây xám đen nghìn nghịt đồng hành với ngọn gió dữ. Sẽ mưa. Mưa lớn. Như bão tố. Đông Nghi nhìn quanh quẩn tìm kiếm một chỗ trú mưa. Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống ngay bờ mi nàng, trên má, lạnh, nhột, len lén chảy xuống thấm vào môi nàng, ngòn ngọt là lạ! Kỳ quặc! Không phải giọt mưa kỳ quặc mà chính nàng thấy kỳ quặc bởi sự liên tưởng của “sự len lén” và “cái vị ngòn ngọt” của đất trời kia! Giống một cái gì! Hai vành tai Đông Nghi chợt nóng lên.
    Cái cổng sắt mở một nửa của căn nhà gần sát ngay đó trên đường khi cơn mưa đổ xuống là một ngã rẽ bất ngờ. Đông Nghi chạy vội vào sân trong, chẳng kịp nhìn ngôi nhà ra sao. Đứng dưới mái hiên nàng hơi rùng mình. Mấy giọt mưa làm như không chỉ thấm qua áo mà vào tận bên trong, qua làn da, rúc đến xương, rút cả người nàng lại. Lúc đầu chỉ là từng vạt nước mưa dịu dàng. Dần dà, xối xả, cuồng nhiệt hơn, tạt vào trong hiên, thăm dò hết nửa người nàng. Dù qua màn mưa Đông Nghi vẫn nhận ra cảnh vườn Nhật. Vài cây thông lùn ở mé ngoài, những bờ sỏi xám, ụ đá, những chiếc đèn lồng mà ban ngày thu hút ánh sáng mặt trời để đêm tối tỏa ra chút ánh sáng u uẩn vàng đục được treo rải rác đó đây cách mặt đất non sải tay trên những cọc bằng sắt có móc cong cắm xuống đất. Nàng tò mò đứng chếch người quay lưng nhìn vào trong nhà. Đúng là một căn nhà Nhật như Đông Nghi thường nhìn thấy trong phim ảnh. Khung cửa sổ từng ô vuông đều đặn mỏng manh trắng đục, không nhìn thấy gì bên trong nhà. Nếu như có tiếng động bên trong nhà nàng cũng không thể nghe thấy vì cơn mưa mỗi lúc một lớn hơn. Trời tối như đã 7, 8 giờ đêm. Toàn thân nàng, trừ nửa phần trên khô, từ ngang lưng trở xuống ướt nhẹp. Ánh sáng yếu ớt từ những chiếc đèn lồng trong vườn là những điểm nóng duy nhất. Nàng cứ chăm chú nhìn những điểm nóng đó để quên đi cái lạnh của chiếc váy ướt đang dính sát vào đùi.
    Tiếng động ngay sát bên khi chiếc cửa chợt mở ra làm Đông Nghi đứng lùi lại sát vào vách nhà như một phản xạ tự nhiên. Một thân người thò ra. Một người đàn ông tầm thước đưa tay bật ngọn đèn nhỏ ở trước nhà. Ánh sáng bật lên, làm vỡ nát bóng âm u tăm tối trước sân. Cả ông ta và Đông Nghi đều thảng thốt. Cái nhìn thảng thốt đó đậu khá lâu trên toàn thân nàng. Đông Nghi run run cất tiếng:
    “Tôi…”
    Ông ta cũng mở miệng cùng lúc:
    “Cô…”
    Cả hai cùng ngừng và chờ đợi ở người kia. Trên khuôn mặt khó khăn của ông ta chợt nhếch lên một bên nửa nụ cười:
    “Sao cô không gõ cửa? Đứng ngoài thế này ướt hết!”
    Đấy là một thứ tiếng Anh gãy gọn trong một giọng nói đục và trầm, giọng nói gợi sự tò mò, không hẳn là lôi cuốn.
    Đông Nghi không biết phải trả lời như thế nào và cũng không biết có thái độ ra sao trước một lời mời mọc gián tiếp được đặt trong một câu hỏi. Sự ẩm ướt dọc nửa thân người càng làm sự bối rối trong nàng tăng lên gấp bội!
    Vẫn cái giọng nói đó, ông ta nhìn Đông Nghi soi mói:
    “Mưa chắc còn lâu, mời cô vào nhà ngồi đợi một lát”.-Hình như đọc được sự ngần ngại ở người thiếu nữ, ông ta tiếp luôn – “Bà vú già của tôi pha trà và làm bánh ngon lắm. Bà ấy thích có khách để được dịp khoe tài”.
    Những câu nói vồn vã trên một khuôn mặt không mấy tươi tỉnh dễ dãi lại là một sự bất ngờ khác mà Đông Nghi không chờ đợi.
    “Vâng.. cám ơn..”
    Ông ta đi trước, đẩy rộng cửa vào. Cả một khoảng ánh sáng ấm áp tràn ra ngoài. Nàng hơi chần chừ đôi chút rồi cũng bước theo. Vài đôi giầy, dép đặt ngay gần cửa trước bậc thềm thâm thấp. Người đàn ông bỏ dép, đi chân không bước vào trong trước. Ông ta chỉ đôi dép thấp màu đỏ:
    “Cô đi đôi dép này cho ấm”
    Thay vì bảo cho sạch! Nàng nghĩ thầm.
    Đông Nghi ngoan ngoãn trút đôi giầy đã ướt sũng sang đôi dép mềm và êm chân. Hành lang được xây cao lên một nấc so với cửa ngoài. Dáng đi rất thư thả phía trước cho nàng một ấn tượng êm đềm về người chủ nhân. Ông ta không mặc đồ Nhật, chỉ là một bộ quần áo chẽn đơn giản màu đậm, không rõ là đen hay navy blue. Khi cánh cửa gỗ nâu với những ô như bằng giấy trắng đục được kéo nhẹ nhàng sang một bên, Đông Nghi bước vào một thế giới khác, khác hẳn bên ngoài hành lang trơ trụi. Căn phòng nhỏ, được nâng cao thêm một bậc nữa. Chiếc bàn vuông, thấp, đặït chéo ở một góc phòng. Quanh đó dăm chiếc gối nhỏ. Trên bàn đặït sẵn khay trà, có bình, chén trà đủ cả. Chiếc đèn lồng treo lơ lửng không xa đó tỏa ánh sáng dịu, không gắt, và rất lặng lẽ. Đứng ở ngay cửa vào, khung kính lớn đối diện đập vào mắt nàng mở rộng cả một khoảng trời bên ngoài. Màn mưa và u tối bên ngoài không cho nàng nhìn thấy gì thêm. Ở chân của khung kính, một bệ gỗ dài thấp nâng một chậu cây bonsai. Bên trái thông sang một phòng khác, không cửa ngăn. Cả căn phòng trống, thoáng và cho một cảm giác sạch sẽ, thanh khiết, trầm tĩnh.
    Ông ta ngồi xuống sàn, ngay chỗ bàn trong góc phòng và đưa tay làm một cử chỉ mời mọc. Những bước chân nàng dẫm trên tấm thảm không lún nhưng êm tạo một cảm giác là lạ. Tất cả những đồ vật cũng như cách bài trí căn phòng tự dưng làm cho Đông Nghi đâm rụt rè. Ngay đến những cử động bước đi, ngồi xuống thảm của nàng cũng bị hạn chế tối đa những tiếng động. Làm như những cử động mạnh bạo sẽ khuấy đục hơi thở tĩnh lặng của căn phòng. Nàng không còn nghe thấy tiếng mưa rì rào bên ngoài. Vẫn cái giọng nói đục và trầm, ông ta bảo:
    “Bà vú sẽ mang trà nóng lên bây giờ. Phải bà ấy pha trà mới ngon trong cung cách riêng của bà ta. Rồi cô sẽ thấy.”
    Đông Nghi quỳ trên thảm trong một tư thế nửa ngồi nửa quỳ, cũng tạm gọi là thoải mái. Sàn trong phòng có những chỗ như được dệt bằng một thứ cói đan nhỏ và tỉ mỉ, lại chêm vào những khoảng thảm như bằng một thứ giấy hay bông, rất lạ, như một thứ hoa văn cầu kỳ cho nền thảm. Nàng quan sát kín đáo khắp căn phòng như để tránh né khỏi phải nhìn vào ông ta, một người lạ. Môi nàng hơi hé mở nhưng vẫn không thốt lên lời nào. Ông ta vẫn tiếp tục nói, làm như đang trò chuyện cùng nàng:
    “Những cơn mưa mùa này thường lớn nhưng không mưa lâu. Bao giờ cũng thế, đến ào ào rồi lại rút đi nhanh!”
    Câu sau hình như ông ta không có ý ám chỉ cơn mưa. Đông Nghi hơi nhếch miệng cười. Nàng không biết phải đối thoại với ông ta ra sao. Chắc chắn không chỉ là những câu nói về cơn mưa ngoài kia.
    Có tiếng động khẽ khàng. Ông ta chợt đưa tay lên nói một tràng tiếng Nhật. Đông Nghi hơi quay người lại phía sau, vừa lúc nhìn thấy đúng là một người đàn bà Nhật mặc kimono màu xam xám có chữ đen đang rón rén bưng khay trà vào. Vì ngồi dưới thấp nên nàng để ý ngay đến đôi chân bao kín bi tất trắng với phần ngón cái riêng biệt với những ngón còn lại trông ngộ nghĩnh. Bà ta bước những bước ngắn có lẽ vì chiếc áo kimono bó ở phần dưới. Sáu mươi gì đó, có lẽ thế. Nàng thoải mái quan sát sự xuất hiện của người đàn bà đứng tuổi mà hai bên mai tóc đã đốm bạc. Chiếc khay sơn mài đen bóng được đặït xuống bàn. Bà ta quỳ hẳn người xuống thảm, cúi đầu chào Đông Nghi. Nàng cũng vội vàng cúi đầu đáp lễ. Trong khay có một bình trà vừa phải hình tròn có lẽ bằng đất nung. Thêm một bình khác lớn hơn. Chính giữa khay có đĩa bánh, loại gì nàng chưa trông thấy bao giờ. Bà ta dùng dao nhỏ cắt bánh. Khoanh bánh màu lục non, có nhân vàng ở giữa –chắc là đậu-, mặt trên của bánh rải một lớp gì giống vừng đen. Bà ta dùng một cái gàu nhỏ xíu, có cán gỗ thanh thanh múc khẽ nước sôi trong bình lớn rồi nâng từng chén trà lên, tráng kỹ, đổ sang một chiếc bát, rồi mới rót trà. Từng cử động nhỏ mà trang trọng. Lòng chén trà nông nhàn nhạt cho thấy nước trà xanh trong vắt, mùi ngai ngái, không thơm như trà ta. Không biết vị thế nào? Bà ta đặt đĩa bánh, chén trà trước mặt nàng, trước mặt ông ta, cúi đầu lần nữa rồi từ tốn rút êm.
    Vẫn ông ta là người lên tiếng nói:
    “Cô dùng thử chút trà cho ấm. Cả bánh nữa”.
    Lúc này không tránh được nữa, Đông Nghi cầm đĩa bánh lên, ngước nhìn người đàn ông đối diện. Nàng khẽ mời:
    “Mời ông…”
    Ông ta nhìn thẳng vào mặt nàng. Đôi mắt nhỏ và hơi xếch trên khuôn mặt của một người đã qua tuổi 60 nhưng vẫn còn một nét gì đó rất trẻ còn sót lại. Lông mày đậm, dài, có đôi sợi bạc lạc vào bất tử. Những dấu vết của bao nụ cười còn hằn ở đuôi mắt với từng vệt như chân chim. Cái mũi cao và nhọn khinh khỉnh làm cả khuôn mặt trở nên khó chịu. Đôi môi mỏng hơi mím lại như che dấu một điều gì. Đôi mắt sắc sảo đó không ngừng tìm kiếm, lướt trên mặt nàng, lạnh lẽo nhưng tỏ lộ đầy quyền uy. Đông Nghi ghét những cái nhìn như vậy. Nàng cúi xuống cầm chén trà nhấp giọng và cố tránh không nhăn mặt vì cái mùi ngai ngái đặc biệt của chén trà xanh. Vị thanh và ngọt nhưng vẫn thế nào. Không hợp khẩu vị! Vừa ăn bánh, chiếc bánh chẳng khác gì bánh đậu của ta là mấy, nàng vừa mong thầm cho trời tạnh mưa.
    Thấy người thiếu nữ dừng ánh mắt ở khoảng trống thông sang phòng bên cạnh, ông ta giải thích;
    “Tôi vẽ trong phòng ấy”
    Đông Nghi ngạc nhiên:
    “Ông vẽ tranh? Ông là họa sĩ?”
    Cái nhếch mép cười nửa miệng của ông ta trông mới khó ưa làm sao khi trả lời:
    “Người ta gọi tôi như thế! Cô sang xem những thứ tôi đang làm dở dang”.
    “Những thứ đang làm dở dang” thật là một sự diễn tả kỳ quái! Nhưng cũng như giọng nói của ông ta, câu nói vừa qua cũng lại gợi trong nàng một sự hiếu kỳ. Nàng nhổm người đứng dậy tỏ ý muốn xem vì thực sự cũng không biết phải nói chuyện gì với người đàn ông này.
    Ông ta bật đèn. Căn phòng sáng, sáng hơn phòng khách bên ngoài rất nhiều. Bức tranh đang vẽ dựng trên giá đưa vào mắt nàng một sự buồn thảm khốc liệt. Đen, trắng, dữ dội. Đông Nghi tiến đến gần hơn. Trên khung vải nền đen, một vòng tròn khuyết màu trắng, trắng toát. Chỉ có thế. Cái vành của màu trắng không đều, và nàng có cảm tưởng đây là một sự cố ý. Rồi chính sự không đều đặn đó đã tạo nên.. Tạo nên cái gì –Đông Nghi đang tìm kiếm từ, nghĩa của điều mà nàng đang trông thấy.
    “Cô thấy sao?”
    Câu hỏi cũng thẳng thừng như cái nhìn của ông ta.
    Nàng buột miệng nói, gần như reo lên:
    “Sự sống! Đúng rồi!”
    Lần này ông ta không nói gì. Chờ đợi, có lẽ thế. Đông Nghi dường như không quan tâm đến những câu nệ của nãy giờ trong căn nhà lạ. Nàng tiến đến gần bức tranh trên giá vẽ hơn.
    “Màu đen mới là nền và vòng khuyết màu trắng hay ngược lại?” - Không thấy ông ta trả lời, nàng tiếp tục tự nhiên nói lên những cảm quan của mình – “Hai thứ màu đang chen lấn nhau kìa! Màu trắng đang lấn sang màu đen. Cả cái mảng đen kia cũng vậy. Sự không đều tạo nên vẻ sinh động như vậy phải không ông?-_Đông Nghi quay lại hỏi ông ta, trên gương mặt nàng hẳn bày tỏ nhiều hứng thú.
    Nàng nghĩ ông ta sẽ cười trước những nhận xét của một cô gái chỉ đáng tuổi con mình. Nhưng không. Trông ông ta khác trước. Đôi lông mày nhíu lại nhìn Đông Nghi như nàng là một thứ sinh vật lạ.
    “Cô biết về hội họa?”
    “Không! Tôi thích chứ không biết”
    Ông ta ậm ừ cái gì đó trong miệng nửa như thở dài mà cũng có thể hiểu nghĩa khác. Gật gù, ông ta nhìn nàng:
    “Cô cứ nói tiếp về những nhận xét của cô nữa đi!”
    Bây giờ thì nàng cười, nụ cười đầu tiên suốt từ khi gặp ông ta đến giờ:
    “Rồi ông sẽ cười tôi!”
    “Tôi hứa sẽ không cười” Ông ta nói câu đó với vẻ mặt nghiêm trang khác thường.
    Cũng chính vì vẻ mặt nghiêm trang đó mà nụ cười trên môi Đông Nghi chợt tắt. Nàng biết ông ta nói thật. Và cũng tự dưng thấy thú vị. Nàng yên lặng nhìn màu sắc và hình thể trần trụi trước mặt.
    “Tôi nhìn thấy cả niềm hy vọng và tuyệt vọng. Cả sự xung đột nữa” - Nàng giơ tay chỉ về bên trái ở phía trên nhưng bên trong vòng tròn trắng – “Mềm mại nhưng vẫn mạnh mẽ đủ để đẩy ngược màu đen đang tìm cách xâm lấn. Nhưng màu đen nhiều quá, ông có thấy vậy không? Cái vòng tròn khuyết? Tại sao lại khuyết mà không kín?”
    Ông ta thở dài:
    “Đó là điều mà tại sao bức tranh này mãi không hoàn tất! Nên cho nó tròn hay khuyết? Tôi chưa biết được!”
    “Ông có nghĩ chính điều này làm nên sự lạc lõng, mất định hướng không?”
    Nàng không còn tránh né cái nhìn của ông ta nữa. Hình như nàng đã già đi thêm mươi tuổi nữa, hay ông ta đã trẻ lại mươi tuổi? Nhưng nàng đọc được sự ngỡ ngàng và ngạc nhiên tột độ trên khuôn mặt ông ta. Đông Nghi thích thú một cách lạ thường như đang phải đương đầu với một thách đố ngoài tầm sức của mình, và chính vì vượt khả năng nên sự thách đố càng mãnh liệt.
    Ông ta để mặc nàng đứng đó, bước ra phòng ngoài. Đi đâu. Nàng không biết. Đông Nghi chuyển hướng nhìn sang phía khác. Nãy giờ bức tranh đã chiếm hết sự chú ý của nàng. Nàng không thấy bức tranh nào khác trong phòng. Căn phòng cũng có cửa kính lớn nhìn ra bên ngoài. Trời đã ngớt mưa, sáng hơn. Nàng nhìn thấy rặng núi không xa lắm. Căn nhà này có lẽ nằm sát một thung lũng. Ban ngày, trời nắng có lẽ ánh mặt trời sẽ vào đầy ngập căn phòng. Sân cỏ thoai thoải. Nhiều chậu bon sai đang được tắm mưa, hạnh phúc tràn trề. Nàng nghĩ đến chuyện cám ơn ông ta rồi đi.
    Vừa quay người lại, nàng giật mình! Ông ta đứng cách nàng chỉ chừng hai sải tay mà nàng không hay. Im lặng như một người thợ săn đang rình mồi. Trông ông ta buồn bã và không còn vẻ quyền uy như nàng nhận xét lúc mới vào. Nàng nói:
    “Cám ơn ông”
    “Cô khoan đi! Mưa chưa tạnh hẳn”
    “Cô khoan đi”. Không nhiều chữ lắm nhưng bộc lộ sự níu kéo thiết tha. Níu kéo giữa hai người lạ, không biết tên nhau mà có lẽ cũng không cần biết để làm gì, là một sự bất thường hay bất tường? Nàng yên lặng. Và lại quay lại nhìn bức tranh.
    “Cô có biết rằng chính sự “không biết”, “sự mù lòa” của cô về hội họa đã cho cô thấy những điều mà kẻ “biết” không thấy không? Có lẽ tôi đã nói sai! Đây không phải là sự mù lòa. Đấy là sự mất đi một giác quan giúp ta trông thấy sự vật nhưng lại giúp ta nghe được và thấy được trong một chiều kích khác. Giống như ta đi ngược vào bên trong mình để tìm kiếm những… -tôi phải diễn tả như thế nào đây?- .. thầm kín ẩn náu của chính mình cần được khám phá.. Cô bé ơi! Tôi đang nói lung tung.. theo cái nhịp hỗn loạn của trái tim tôi. Có lẽ tôi mất định hướng như cô nhận xét thật. Đứng từ dưới đáy vực nhìn lên khoảng trời xanh bao la, tôi không ước ao với tay đụng bầu trời đó.”
    Sự xúc động nảy sinh trong nàng. Nhìn lại bức tranh, nàng hình dung vòng tròn khuyết màu trắng được kín, trọn vẹn, để sự xung đột cứ tiếp diễn, mãi hoài. Ánh sáng ấm, vàng trong căn phòng khách đã thay đổi. Ngoài trời đã tạnh mưa. Những đám mây đen đã rủ nhau bỏ đi. Bầu trời chắc lại trong. Biết đâu hửng chút nắng. Nàng khẽ khàng nói với ông ta như nói với một người thân quen lâu đời:
    “Đã hết mưa. Tôi phải đi. Cám ơn ông đã cho uống trà, ăn bánh và.. xem tranh”
    Ông ta chẳng nói gì thêm, đưa nàng ra cửa. Đi trước dẫn lối như lúc vào.

    ………………………………..

    “Áo lạnh đây cưng!”
    Không thấy vợ nói gì. Tuyên lo âu choàng áo lên vai nàng:
    “Em không sao chứ Đông Nghi?”
    Nàng quay lại nhìn Tuyên, ánh mắt xa xôi đôi chút ngỡ ngàng. Nàng hỏi lại:
    “Anh nói gì?”
    “Trông em lạ quá. Đi ra xe lấy chiếc áo, trở lại thấy em như ai đâu”
    Vẫn để hờ chiếc áo len khoác trên vai, Đông Nghi nhìn lại bức tranh trước mặt. Nền đen, vòng tròn trắng. Không khuyết. Có một vết nứt rất nhỏ, phải chăm chú nhìn kỹ lắm mới thấy như một vết nối. Hàng chữ nhỏ bên dưới:
    “Jiro Yoshihara (1905-1972),
    To Martha’s Memory, 1970, Japanese.
    Oil on canvas, 73 x 92cm.”
    Nàng lẩm bẩm:
    “1972… 1972…”
    Tuyên đỡ lời kèm với nụ cười cố hữu tinh nghịch của anh:
    “1972. Lúc đó em mới có 10 tuổi”
    Đông Nghi lập lại lời của Tuyên: “Mới có 10 tuổi..”. Chung quanh nàng, những bức họa khác trên tường của phòng tranh Albright-Knox Art Gallery đang triển lãm hình như nhắc nhở nàng về thời gian hiện tại: 2002! Nàng đang ở New York, với Tuyên, trong một phòng tranh.. của tháng 2 năm 2002. Năm 2002..? Chỉ có chừng 15 phút khi Tuyên ra ngoài lấy áo để nàng đứng một mình trước bức tranh? Mười lăm phút của hiện tại mà lại là cả một thời gian gặp gỡ người họa sĩ của quá khứ? Một người đã khuất! Cũng không thể gọi là quá khứ! Cái gì đã qua đi được xếp loại thành quá khứ. Nhưng những điều vừa qua đi như một giấc mộng có thật mà chỉ riêng nàng cảm nghiệm được. Đông Nghi tin chắc rằng ngày mai, ngày kia nàng trở lại đây, đứng ngay chỗ này để tìm lại một giấc mộng, một sự kiện như thế chắc chắn sẽ không xảy ra.
    Đông Nghi nhìn kỹ lại bức tranh, phần trên, bên trái, vòng trong của vòng tròn trắng, một khoảng trồi ra nhiều hơn, đúng như nàng đã “thấy”. Và cái vòng tròn khuyết đã kín. Kín như nàng đã hình dung. Sự sống động và khốc liệt của bức tranh vẫn thế. Ông ta không còn nữa, không vẽ nữa, nhưng linh hồn mãi mãi không tan biến. Sự xúc động vẫn còn đọng lại trong nàng, mới tinh khôi. Nàng còn nhớ cả mùi sơn dầu thoang thoảng. Cả vị của chiếc bánh đậu vẫn còn nằm trên đầu lưỡi. Nhưng câu hỏi: “Tại sao ông lại chọn tôi?” sẽ không bao giờ có câu trả lời.

    Mc Bích

    Ha sĩ Jiro Yoshihara (1905-1972) là cha đẻ ca trường phái Gutai (Biu hin) ti Nht. Sau khi ông qua đời, nhóm 18 ha sĩ tr Nht này đã tan rã. Bà Martha Jackson là người đã gii thiu nhóm Gutai và nhng tác phm ca h đến gii thưởng ngon Hoa K t thp niên 50 trong phòng tranh ca bà. Bc tranh “To Martha’s Memory” ông Jiro Yoshihara v riêng tng bà, hin nm trong Albright-Knox Art Gallery ti Buffalo, New York. Ha sĩ Yoshihara qua đời đột ngt năm 1972, 2 năm sau khi bc ha trên đã hoàn tt.
    Ch tr ha phm và tác gi bc tranh là có tht, câu chuyn trên ch là hư cu trong s tưởng tượng ca mt người yêu tranh.
    Last edited by Frank; 03-01-2014 at 03:09 PM.

 

 

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 08-10-2013, 01:44 PM
  2. Truyện ngắn của Mưa PN
    By Mưa PN in forum Truyện
    Replies: 16
    Last Post: 11-02-2012, 09:30 PM
  3. Replies: 0
    Last Post: 02-18-2012, 08:39 AM
  4. Bán chữ - Truyện ngắn của Phan Trang Hy
    By huongcali in forum Truyện
    Replies: 0
    Last Post: 11-11-2011, 08:32 PM
  5. Cơn mơ biển - Truyện ngắn Phan Trang Hy
    By huongcali in forum Truyện
    Replies: 0
    Last Post: 10-17-2011, 12:23 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 08:39 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh