Register
Page 3 of 3 FirstFirst 123
Results 21 to 23 of 23
  1. #21
    Về Hưu Ở Đâu?
    Thái-Vinh

    "Về Hưu Làm Gì?" vừa đăng lên Bút Tre số tháng Giêng năm 2018 đã được một vị độc giả gửi meo giúp tôi bổ túc bài viết. Vị độc giả ấy khoe từng chuẩn bị "Về Hưu Ở Đâu?" nên đã cùng bà xã lái xe đến Florida và California nghiên cứu tường tận đời sống của hai tiểu bang hàng đầu được dân Mỹ ưa chuộng về hưu. Cuối cùng vị độc giả ấy không cho biết vì lý do gì lại chọn về hưu cùng thành phố Gilbert với chúng tôi ở tiểu bang Arizona?

    Nhân có cô bạn thất lạc đã lâu năm, mới đây nhờ Facebook chúng tôi được kết nối lại với nhau, cô vui mừng hỏi:

    - Anh chị vẫn ở Arizona à?

    Tôi chợt nhớ lá thư của vị độc giả nói trên; nhưng thấy không giúp ích gì cho tôi trả lời câu hỏi ấy, bèn trả lời đại:

    - Anh chị vẫn ở Arizona vì theo anh chị, không đâu đẹp bằng Arizona, và cũng không đâu gần địa ngục bằng Arizona nên anh chị đã quyết định sống và chết luôn ở đây cho khoẻ!

    Đó là cách trả lời lười biếng, không theo phương pháp khoa học đứng đắng nào cả!

    Theo kinh nghiệm riêng của tôi, trong đời sống chúng ta chỉ cần năm thứ sau đây:

    1- Good job (việc làm tốt)
    2- Good friends (bạn bè tốt)
    3- Good food (thức ăn ngon)
    4- Good sleep (ngủ ngon)
    5- Good _uck (?)

    Cái cần thiết thứ 5 ấy thì tùy các bạn nghĩ sao cũng đúng cả; nhưng với tôi đó là Good luck (may mắn). Ấy là cái vô hình mà giàu nghèo, lớn bé ai cũng cần. Tỷ phú Donald Trump đã trở thành Tổng Thống nước Mỹ hoàn toàn nhờ may mắn, các bạn có thấy như thế không?

    Mỗi khi có dịp gặp gỡ bạn bè tầm cỡ tuổi tôi trở lên, từ tiểu bang khác đến Arizona chơi, tôi đều có ý nghĩ xấu là họ sắp nghỉ hưu hoặc đang nghỉ hưu thì thế nào cũng đã từng bàn tính nhau dọn nhà một lần cuối. Vì vậy tình cờ các bạn đồng môn họp mặt tiếp đón anh Nghiệp và chị Ngọc-Anh từ thủ đô Washington đến Arizona chơi, tôi hỏi chị Ngọc-Anh:

    - Theo chị, tiểu bang nào đáng xếp hạng nhất nước Mỹ?

    Chị quay qua anh Nghiệp cầu cứu, nhưng cả hai vẫn lúng túng; tôi nói ngay:

    - Đó là tiểu bang Arizona, viết tắt AZ, đáng xếp hạng nhất vì từ A đến Z cái gì cũng có; và có vừa đủ để thích. Trái ngược với Florida và California là hai tiểu bang nắng ấm từng được dân Mỹ ưa chuộng nghỉ hưu nay đang mất dần ưu thế ấy vể tay tiểu bang Arizona.

    Đề tài hội ngộ lập tức thảo luận về việc dọn nhà qua Arizona nghỉ hưu. Tiểu bang Arizona ngày nay là vùng đất hứa của người Mỹ di cư vì đáp ứng đủ 5 thứ cần thiết trong đời sống nói trên mà không phải lo lắng những trận bão lụt hay động đất đe doạ thường trực như hai tiểu bang Florida và California. Vì vậy, ngoại trừ vài nhân vật đặc biệt theo tôi biết là dị thường giống như thổ dân Apache hay Navajo từ trên trời rớt xuống cắm dùi lâu đời ở tiểu bang Arizona, tất cả còn lại đều lò dò tìm đến Arizona từ các tiểu bang khác.

    Chị Ngọc-Anh lúc ấy mới nhỏ nhẹ thú thật:

    - Đây là buổi gặp gỡ đầu tiên với các bạn đồng môn của anh Nghiệp tại Arizona, nhưng anh chị đã từng bí mật đến thăm và tìm hiểu đời sống ở tiểu bang Arizona nhiều lần.

    Tôi hết sức khoan khoái:

    - Có thế chứ! Anh chị về đây nhé? Đang nghỉ hưu như anh chị thì 5 thứ cần thiết trong đời sống chỉ còn lại 3 nên lại càng dễ thực hiện ở Arizona:

    1- Good friends (bạn bè tốt)
    2- Good food (thức ăn ngon)
    3- Good sleep (ngủ ngon)

    Chị Ngọc-Anh có vẻ đã xiêu lòng:

    - Anh chị muốn dọn về ở gần đồng môn cho vui, nhiửig chưa biết nên mua nhà ở đâu?

    - Nên mua nhà ở đâu là câu hỏi rất hay vì thông thường cư dân mới đến Arizona ham mua nhà mới, to, cao, và rẻ nên đã chọn những chỗ xa lắc như chính em mười sáu năm trước từ San Jose của tiểu bang California chạy vào sa mạc. Nếu không nhờ các vị sư huynh đồng môn khuyên, có thể em đã ngã gục vì súng nổ thường trực mỗi đêm ở Laveen!

    Câu chuyện "về hưu ở đâu" của anh Nghiệp và chị Ngọc-Anh rơi vào quên lãng bây lâu bỗng xôn xao trở lại khi một người bạn trong nhóm chúng tôi bán nhà để tìm nơi tái hưu. Anh bạn kém may mắn, không có đồng môn "tư vấn" như tôi nên đã lầm lỡ mua nhà mới, to, cao hai tầng; thay vì hưu trí anh lại tự an trí ở cách trung tâm ăn uống và hội hè tập trung gần chợ Lee Lee hay Mekong Plaza nằm trên đường Dobson ít gì cũng trên 30 dặm. Mỗi lần hẹn hò, cả bọn chờ cả tiếng đồng hồ sốt ruột, chưa kể thêm giờ lái xe lạc đường gây lộn với "bà Gi"!

    Chúng tôi đã họp nhau "tư vấn" cho anh tái hưu lần này:

    1- Nên ở nhà thuê cho đỡ bận tâm chăm sóc.
    2- Nên ở nhà trệt để tránh leo cầu thang té ngã.
    3- Nên ở nhà riêng để tránh đêm khuya bị mất ngủ vì tiếng thì thầm rục rịch bên kia vách.

    Sau gần hai năm bán nhà để tái hưu trí, chúng tôi vui vẻ kéo đến thăm tổ ấm mới mua của anh ở cách Mekong Plaza khoảng ba dặm. Đó là một căn hộ chung vách, cao hai tầng!

    Chúng tôi im lặng cẩn thận vịn tay cầm, leo cầu thang lên lầu. Anh bạn và phu nhân đón chúng tôi bằng nụ cười vui như ngày cưới:

    - Nhà sang trọng phải có cầu thang; nhưng chúng tôi cũng đã có kế hoạch gắn thêm thang máy trong nay mai.

    Tôi nói thầm "Có thế mà mình nghĩ không ra" rồi vô tình sờ tay lên vách; chợt giật mình nghe tiếng cười của anh bạn đã đoán được ý nghĩ đen tối trong đầu tôi:

    - Bên kia vách là nhà để xe của cô hàng xóm!

  2. #22
    Chuyện Phở Xe Lửa và Tuổi Già
    Phạm Thành Châu

    1. Phở Xe Lửa, Chợ Eden...

    Tiểu bang Virginia và các vùng phụ cận (Washington DC, Maryland) có độ bốn, năm chục nghìn người Việt, có thương xá Eden (gọi là chợ Eden) với hàng trăm cửa tiệm. Mỗi cuối tuần hoặc ngày lễ, người Việt các nơi tụ về chợ Eden để ăn uống, mua sắm và lang thang trên các hành lang chợ...cho vui.

    Trước năm 1980, người Việt chưa có bao nhiêu, chợ Eden gần như hoang phế, cỏ mọc tùm lum, vài cửa hàng lèo tèo. Khi người Việt đến mướn chỗ để buôn bán, chợ trở nên sầm uất. Chủ chợ là người Do Thái, bắt đầu lên giá mướn, cứ lên giá liên tục, hiện nay hình như 50 đô la cho mỗi square foot (một năm) và có thể sẽ lên giá nữa. Tôi không biết giá đó mắc hay rẻ, nhưng đã có nhiều bà "tưng bừng khai trương" và ít lâu sau bán nhà để trả tiền mướn chỗ trước khi "âm thầm dẹp tiệm". Bà nầy rút lui thì bà kia nhào ra làm con thiêu thân. Tôi nói "bà" vì đa số các bà mở tiệm ăn. Ở nhà, nấu dở, nhưng chồng con "phải" khen ngon, các bà tưởng thật, bèn mở tiệm ăn. Để rồi mất ăn, mất ngủ và mất nhà.

    Chợ Eden là chợ duy nhất ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ không có "người ngoại quốc", nghĩa là người bán, người mua và người đi chơi toàn người Việt. Hiếm hoi lắm mới thấy một bà dẫn ông chồng Mỹ đi ăn tiệm.

    Chợ Eden có nhiều tiệm ăn, trong đó có tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là nhiều người lui tới, vì đó thường được làm điểm hẹn của bạn bè phương xa đến Virginia. Ông từ Florida lên, bà từ California qua, cứ hẹn gặp nhau ở tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là ai cũng biết, cũng đến đúng chỗ. Ông chủ tiệm phở tên Nguyễn Thế Toàn nhưng mọi người gọi ông là Toàn Bò, mặc dù ông ta vẫn đi trên hai chân như người bình thường.

    Trong tiệm, ông dành sẵn một bàn riêng cho bạn bè. Họa sĩ, nhà báo, nhà thơ, nhà văn...hoặc không "nhà" gì cả cũng có thể đến ngồi tán phét bao lâu cũng được. Lại có sẵn một bàn cờ tướng cho thiên hạ chơi, giống như quán cắt tóc bên đường ở Việt Nam vậy. Có điều lạ là ngồi vào bàn đó, không ông nhà báo nào nói về báo chí, không ông văn, thi sĩ nào nói chuyện văn chương, thi phú mà toàn những chuyện tào lao thiên địa, mỉa mai, chọc ghẹo nhau để cười với nhau. Riêng ông chủ Toàn Bò, vốn là luật sư trước 75, nên khi nói chuyện, ông ta lý luận rất vững chắc, "tam đoạn luận" đàng hoàng, cho nên dù bạn là nhà hùng biện, khi tranh luận với ông ta, bao giờ bạn cũng đuối lý. Sau khi đã chiếm thượng phong, ông ta bồi thêm một câu mỉa mai để quí vị ngồi quanh bàn cười khà khà. Nhiều ông không biết đó là giỡn chơi nên tự ái, không thèm ghé tiệm nữa.

    Ông Toàn Bò không bao giờ bước ra khỏi tiệm phở. Sáng đến mở cửa tiệm, tối đóng cửa tiệm, về nhà. Quan, hôn, tang, tế... không có ông ta. Bạn là bạn thân của ông ta, lăn ra chết, chưa chắc ông ta đến vĩnh biệt bạn. Lời chia buồn trên báo thì có. Nhưng đừng tưởng ông ta không ra khỏi tiệm mà kiến thức của ông ta không được cập nhật hóa. Cứ thấy ông ta ngồi lim dim mắt mà tưởng ông ta tham thiền nhập định, chuyện thế gian gác bỏ ngoài tai. Không phải vậy. "Thiên lý nhĩ" đấy! Ngồi trong "tiệm phở" mà biết chuyện ngàn dặm. Bạn thử đến và khơi mào "Hôm qua, ông X. bị sao đó, nghe nói đã đưa vô bịnh viện rồi. Tôi định rủ vài ông nữa cùng đến thăm..." Tức khắc bạn sẽ được điều chỉnh "Trễ rồi ông ơi! Vừa tắt thở lúc một giờ sáng, đã đưa sang nhà quàng rồi. Ông có muốn chia buồn thì ghi tên vào tờ giấy đằng kia, để đưa lên báo"... Nhiều lúc thấy một ông, bà nào đó thì thầm với ông Toàn Bò. Rất có thể (có thể thôi), tình báo nước ngoài đến mua tin tối mật của nước Mỹ đấy.

    Phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là tiệm duy nhất trên nước Mỹ có một tủ sách đồ sộ và trên tường treo đầy tranh. Không phải tranh trang trí như vẽ tô phở, con cá chiên, chùm nho, chai rượu hoặc tranh tào lao, rẻ tiền... mà là tranh nghệ thuật của các họa sĩ danh tiếng. Tranh chính gốc chứ không phải bản sao. Người ta hỏi mua, ông không bán.

    Hầu như họa sĩ nào đến tiệm phở của ông Toàn Bò đều phác họa cho ông ta một tấm chân dung. Bức nào cũng vẽ ông ta cười toét miệng đến mang tai. Vì dung nhan mùa hạ ông ta không khá lắm, nên gặp họa sĩ trườu tượng, ấn tượng, biểu tượng, siêu thực hoặc hậu hiện đại... thì dung nhan đó được vẽ thành của người khác. Không giống ai!

    "Ủy Ban Thường Trực" (ngồi nhiều nhất) ở phở Xe Lửa cũng khá đông. Ông Cò Ly, nhà (bán) báo, có sạp báo trước cửa phở Xe Lửa, chỉ "mở cửa tiệm" sáng thứ bảy và chủ nhật, ngày thường ông bận nhổ lông mày, đấm lưng cho người đẹp. Họa sĩ Tấn Đức có tiệm khung hình giảm giá 75%. Ông Bình Gió Mới đã đóng cửa tờ Gió Mới. Ông Bạch Thái Hồ, gặp ai cũng mở máy ảnh ra, đòi chụp hình "Ngồi yên... Xong rồi! Hình sẽ đẹp lắm đấy!" Ông Ngô Đình Châu, "vũ sư điệu cha cha cha" vì bị strock, đi lạng quạng như nhảy cha cha cha. Ông nầy vừa ngồi xuống lại lò mò ra ngoài tiệm "ba mươi giây khói lửa" (hút thuốc). Ông "cựu" dược sĩ Thịnh, vô tiệm, ngồi xuống là mở máy nói. Thấy tôi thì kêu lên "Vua phịu!" (phịa?) Coi bộ ông ta giỏi như bác sĩ, bịnh gì cũng biết, thuốc gì cũng biết. Bịnh hoạn, cứ hỏi ông ta, miễn phí.

    Ngày xưa, ở Việt Nam, đau đầu, nhức răng, trẻ khóc đêm...bất cứ bịnh gì, cứ ra tiệm thuốc tây khai bịnh với dược sĩ, mua thuốc về uống, công hiệu như thần. Ông bác sĩ Dương Quan Hớn, chuyên về mắt, nhưng bịnh nhân đến chữa trị phải chuẩn bị đôi tai để nghe ông ta nói liên tục những chuyện ít liên quan đến mắt. Trước đây còn có ông Giang Hữu Tuyên, chủ báo Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, nổi tiếng với bài thơ "Trời Mưa Đi Phát Báo", chưa vào tiệm đã nghe oang oang giọng ông ta. Năm kia, ông ta bị đứt gân máu và biến mất trên thế gian (quá cố).

    Riêng họa sĩ Đinh Cường, tôi xin dài dòng một chút. Ông Đinh Cường rất nổi tiếng, được nhiều người viết và đọc về ông ta trên "net", trên báo vì những chuyện không ăn nhậu gì đến hội họa cả. Ông nầy ít nói nhưng vẽ thì đẹp. Ở Sài Gòn, đã có tranh giả của Đinh Cường. Người nào ra sách, thơ mà có cái tranh bìa của Đinh Cường thì tác phẩm trở nên sang trọng và giá trị ngay. Ông ta rất thiện chí, ai xin tranh bìa cũng cho, có khi đưa ra nhiều bức để người xin lựa chọn. Tôi hỏi "Phải chụp hình, sang hình tranh mình rồi đưa cho người ta. Có cà phê cà pháo gì không?" "Chỉ có tờ Đặc San Cựu Sinh Viên Hành Chánh Miền Đông có tặng chút chút để uống cà phê thôi. Nhưng tờ đó mỗi năm chỉ ra một lần!" Có thể xếp quí vị xin tranh bìa kiểu "chùa" nầy (trong đó có tôi) thuộc giai cấp bóc lột và trơ trẽn. Trơ trẽn mà tưởng như mình ban ơn cho ông ta, chỉ thiếu điều chưa nói "Ông hân hạnh lắm mới được tôi dùng tranh ông làm bìa "đại tác phẩm" của tôi đấy nhé!".

    Nói thế nhưng không phải ai cũng vô ơn cả. Có nhà thơ Thái Thụy Vi, khi xin tranh bìa đều có cà phê, cũng chút chút, để tỏ lòng trân trọng và biết ơn. Ông nhà thơ nầy yêu màu tím vô cùng. Thi phẩm nào cũng tràn trề màu tím. Cái tranh bìa cũng màu tím. Một lần, đã xin được tranh bìa màu tím cho tác phẩm của mình, mấy hôm sau, nhà thơ lại xin được gặp họa sĩ ở tiệm cà phê. Trò chuyện một lúc, ông Thái Thụy Vi dúi vào tay ông Đinh Cường một tờ bạc "Cái tranh bìa đẹp lắm, nhưng nhờ anh cho thêm màu tím vào cho tím hơn nữa". Màu sắc, đậm nhạt được đánh giá bằng tiền?

    Trở lại tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò. Chủ nhật nào tôi cũng rủ họa sĩ Đinh Cường ra đó uống cà phê. Tôi có viết linh tinh chút đỉnh, được quí vị ngồi ở bàn thường trực đó vinh danh là "nhà văn". Tôi khoái lắm. Sau lại được thăng cấp thành "nhà tiểu thuyết", tôi càng khoái, mặt vênh lên. Không ngờ cái mỹ danh "nhà tiểu thuyết" bị rút gọn thành "nhà tiểu". Họa sĩ Đinh Cường cũng được vinh danh là "đại họa sĩ". Cũng xứng thôi. Nhưng rồi được rút lại thành "đại họa".

    Thế là mỗi khi chúng tôi bước vào tiệm phở Xe Lửa, quí vị đó nhao nhao lên "Chào nhà tiểu. Chào đại họa gia!"

    2. Tuổi Già

    Lần trước, tôi có kể chuyện bọn già chúng tôi, mỗi sáng chủ nhật, tụ tập trong tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò, chợ Eden, Virginia, cà phê cà pháo, nói chuyện tào lao với nhau. Cứ thế, đã gần chục năm nay rồi.

    Cái bàn mà ông chủ tiệm dành riêng cho bạn bè tụ tập, đặt ở góc tiệm. Ông ta ngồi đầu bàn, coi như chủ tọa. Hai bên là hai dãy những ông nhà báo, nhà văn, nhà thơ, "nhà họa", và chẳng "nhà" gì cả, ít nhất cũng trên mười người. Đôi khi đông quá, phải ngồi bàn bên cạnh, nghếch mặt qua "đối thoại". Nói nhiều nhất là mấy ông nhà báo. Các ông "nhà" khác ít nói chỉ ngồi nghe và cười. Đó là nói thời "hoàng kim", cách nay đã lâu chứ bây giờ thì chỉ còn loe hoe mấy mạng. Những chiếc ghế cứ trống dần.

    Những người vắng mặt đi đâu? Thì đi đâu ngoài con đường ra nghĩa trang!

    Quí ông kéo nhau ra họp mặt ngoài đó. Thực ra, cũng còn rất nhiều ông còn sống, nhưng nằm nhà, đi không nỗi. Đôi lúc nhớ bạn, nhớ tiếng cười, nhớ những câu nói móc nghéo, chọc ghẹo nhau, quí ông nầy lại mò ra, nhe răng cười tuy dung nhan đã "xuống cấp" thê thảm rồi. Điển hình như ông N. V. T. mỗi khi đi chữa trị gì đó ở bịnh viện, thường ghé tiệm phở Xe Lửa, nhưng khổ nỗi, ông ta đi ngày thường (không phải ngày chủ nhật) nên cái bàn đó trống trơn, chỉ mình ông ta chóc ngóc với ông chủ tiệm, chẳng biết nói gì, nói với ai! Ông chủ tiệm vốn nói nhiều, cũng yểu xìu vì "lân thiếu pháo"! Ông T. không được khỏe, có nhếch mép cười cũng đã là một cố gắng quá sức rồi. Thế nên cả hai ông, chẳng phải nhìn nhau mà cùng nhìn ra cửa tiệm, hi vọng có ông bạn nào bước vô chăng?

    Mỗi sáng chủ nhật tôi gọi ông Đinh Cường "Châu đây. Tính sao?" Bên kia đầu dây, giọng lè nhè "Làm sớm nghỉ sớm. Tôi vừa ở Starbucks về đây" "Lên đường chưa? Độ chín rưỡi có mặt nghe!" "Rồi!" Tôi cũng gọi ông Bình Gió Mới "Mươi phút nữa có mặt ở Phở Xe Lửa nghe!" "O.K!" Thế là trên cái bàn rộng đó chỉ có ba ông già. Lâu lâu, tấp vào, có ông Cò Ly, dược sĩ Thịnh, bác sĩ Dương Quang Hớn, giáo sư Như Hạnh, ông Bạch Thái Hồ... Vừa ăn vừa chuyện trò cười nói, độ một giờ sau, trả tiền, đứng lên. Có ông móc trong túi ra tờ giấy nhỏ, có ghi mấy món vợ sai đi chợ, vài ông khác bày bàn cờ tướng "lên xe xuống ngựa". Có ông còn nán lại làm thầy dùi. Rồi thì tiếng la hét, cổ võ tưng bừng, có những câu không được thanh nhã như "Coi chừng bị nước thượng mã...phong" Ông khác trấn an "Không sao. Tướng xuất...tinh". Chiến đấu gay cấn nhưng không ai nổi xùng, tự ái mà chỉ cười. Đến trưa thì tan hàng, ai về nhà nấy, vợ chờ cơm ở nhà, còn lại ông chủ Toàn Bò tiếp tục nhiệm vụ, mời khách ngồi, ghi thực đơn, thu tiền.

    Về ông chủ tiệm phở Xe Lửa. Trước 1975, ở Sài Gòn, không ai dám gọi xách mé là "Ông Toàn Bò" mà phải gọi là "Ngài luật sư Nguyễn Thế Toàn". Luật sư lợi hại vô cùng. Tôi đọc đâu đó câu "Luật sư, chỉ với cái cặp mà lấy của thiên hạ bằng một trăm tên cướp có võ khí". Bây giờ, nơi xứ người, không thể hành nghề hùng biện, nhưng "cựu" luật sư Toàn mà mở miệng là có người tức chết được. Đấu súng có thể thắng ông ta nhưng đấu võ mồm thì thua là cái chắc.

    Xin trở lại chuyện mấy ông vắng mặt ở tiệm phở Xe Lửa. Tôi xin kể vài ông tiêu biểu, vắng mặt nằm nhà vì bịnh. Chưa chết. Mấy ông già bịnh gì? Mỗi ông ngoài bịnh cao mỡ (cholesteron), cao áp huyết còn "thủ đắc" cho riêng mình vài loại bịnh. Kể từ trên đầu xuống chân thì có, trước hết "bịnh" đứt gân máu trên đầu, tiếng Mỹ là Stroke. Bịnh nầy chết nhanh lắm. Không chết thì liệt nửa người, như ông Ngô Đình Châu, (gọi là Châu Già). Lần trước tôi có kể rằng ông ta chống gậy đi cà nhắc (theo điệu cha cha cha), vô tiệm phở, vừa ngồi xuống là đã đứng lên, lò dò ra cửa "ba mươi giây khói lửa" (hút thuốc). Trước đây, ông còn sống, nay đã "quá cố" rồi.

    Xuống chút nữa, ngang ngực thì có bịnh nghẽn tim (heart attack) và ung thư phổi. Nếu phát hiện kịp thì vẫn không sao, như ông B. G. M., cũng ung thư phổi nhưng chỉ "chiếu đèn, chiếu điện" gì đó mấy lần, chẳng mổ xẻ gì, bây giờ vẫn phây phây, sáng chủ nhật nào cũng có mặt ở tiệm phở. Ông nầy chịu nghe tán phét lắm. Ai nói gì cũng cười một cách hạnh phúc. Xuống chút nữa có bịnh ung thư bao tử, ung thư ruột, nếu cắt bỏ kịp thời cũng không sao, như ông "cựu" nhà báo U. Th. Mấy năm nay vẫn sống hùng, sống mạnh.

    Một bịnh khác nằm cạnh bao tử là bịnh ung thư gan. Tôi chưa nghe ai bị ung thư gan mà sống nên không (có ai) được nêu tên ra đây. Viêm gan siêu vi thì chữa được. Còn một bịnh nữa, nó mà xuất hiện thì tất cả "các cơ quan đoàn thể" của người bịnh bị vạ lây. Đó là bịnh ung thư máu. Bịnh nầy, ở Mỹ chữa được, nhưng phải thường xuyên thay máu. Ông "cựu" nhà báo N. V. T. bị bịnh nầy, thỉnh thoảng có ghé tiệm phở Xe Lửa góp vài nụ cười.

    Xuống chút nữa, ở điểm chiến lược, có bịnh tuyến tiền liệt. Mười ông hết năm ông bị bịnh nầy nhưng giữ bí mật, vì bịnh đó làm mất khả năng của đệ tam khoái, nói ra thì mặc cảm mình thua thiên hạ. Có một bịnh cũng chẳng làm ăn gì được, đó là bịnh tiểu đường nhưng cũng chẳng chết chóc gì. Xuống nữa, ngang đầu gối có bịnh sưng khớp, nghe nói ăn thịt bò hay ăn chao thì nó hành cho rên rỉ suốt ngày đêm, uống thuốc thì bớt.

    Tôi không phải bác sĩ, phét lác mấy giòng về bịnh hoạn của mấy ông già, đọc cho vui, xin quí vị bỏ qua. Bây giờ xin kể đến vài ông vắng mặt vĩnh viễn. Người chết không nói được nên tôi nêu tên rõ ràng mà không sợ bị phản đối. Trước hết là nhà thơ Hoàng Trùng Dương. Làm thơ không có tiền nên ông ta làm thêm nghề xây dựng nhà cửa. Ông ta có mấy tác phẩm thi ca, khi sắp cho ra đời đứa con tinh thần (thi phẩm) thứ ba thì thình lình vướng bịnh ung thư gan cấp tính. Tôi theo ông Dũng nhà in chở mấy thùng thơ đến giao vừa để thăm ông ta, thì thấy mặt mũi vàng khè, nằm bẹp trên giường nhưng vẫn cười và thều thào "Tôi xuống trước, xây nhà chờ mấy ông...". Quả nhiên, "mấy hôm sau là đi".

    Tiếp theo là nhà thơ kiêm nhà báo Giang Hữu Tuyên. Thời sinh tiền, ông thuộc hàng "ăn to, nói lớn". Chân chưa bước vô tiệm phở đã nghe giọng ông Giang Hữu Tuyên ồn ào, náo nhiệt khiến không khí trong tiệm vui vẻ, sôi động hẳn lên. Chuyện ông Giang Hữu Tuyên qua đời như sau: Một buổi sáng, ông võ sư Vương Đình Thanh cùng với nhà thơ Giang Hữu Tuyên lái xe lên phi trường Dulles nhận báo từ Cali. gửi qua theo đường hàng không. Chờ một lúc thì ông Giang Hữu Tuyên bỗng kêu lên "Đau đầu quá!" rồi gục xuống. Ông Vương Đình Thanh cũng kêu lên "Help! Help!" Xe cứu thương đưa vô bịnh viện, không tỉnh dậy nữa. Cả tiệm phở Xe Lửa xôn xao, kinh ngạc "Giang Hữu Tuyên chỉ trên năm mươi, còn quá trẻ, sao đi sớm quá vậy?" Có ông phán "Tu mấy kiếp mới được chết như vậy. Chỉ đau đầu mấy phút là xong ngay, khỏi phiền đến ai. Bịnh hoạn nằm một đống, thà chết sướng hơn".

    Giang Hữu Tuyên có một bài thơ nổi tiếng "Trời Mưa Đi Phát Báo". Nguyên nhân như sau. Sau 1975, ông Giang Hữu Tuyên nhanh chân chạy thoát. Qua Mỹ, ông cùng với bạn bè ra một tờ báo. Thời đó, những người Việt qua Mỹ thèm hai thứ: nước mắm và chữ Việt. Mấy ông cùng nhau bỏ tiền, bỏ công ra làm một tờ báo rồi đi phát không cho đồng bào đọc. Bấy giờ làm gì có computer, máy chữ thì không có dấu, phải thêm dấu vào, tiêu đề, chữ lớn thì cắt trong báo Mỹ, dán lên rồi đem in. Hoàn thành tờ báo xong còn đi đến những nơi có người Việt tị nạn phát không. Không phải chỉ những ngày đầu đến Mỹ mà cả chục năm sau, ông ta vẫn làm báo và đi phát không cho thiên hạ đọc (sau nầy, chi phí nhờ quảng cáo bù vào). Sau đây là bài thơ "Trời Mưa Đi Phát Báo" của Giang Hữu Tuyên mà tôi tin là có vị đã đọc rồi

    "Chiều ngã năm đường năm bảy ngã. Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi. Bao mùa mưa đã im giông bão. Sao nước trường giang vẫn khứ hồi.

    Mười mấy năm làm tên phát báo. Lòng buồn theo thành quách xa xưa. Những trang tin dội từ quá khứ. Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa.

    Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi. Sáng chưa đi chiều lại mưa về. Mưa ngã năm từ năm bảy ngã. Ngã nào cũng mưa và mưa thôi.

    Xấp báo trên tay vừa ướt hết. Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay. Hình như những mùa mưa thuở trước. Đang về làm ướt trái tim ai."

    Phần cuối bài nầy xin kể về cố thi sĩ Vương Đức Lệ. Trước 1975, tôi tưởng là "cô", sau mới biết là "ông" Lê Đức Vượng. Ông nầy bị ung thư phổi "Từ lúc trẻ, tôi đã hút thuốc rồi" Ý nói là "Tôi làm tôi chịu". Quí vị bị nhức đầu, đau bụng hoặc đang bực mình điều gì xin thử viết một bài văn ngắn hoặc làm một bài thơ, có được không? Có thể được nhưng không hay. Ông Vương Đức Lệ bị ung thư phổi, bác sĩ lắc đầu, cho đưa về nhà "săn sóc" và "chờ", vậy mà vẫn làm thơ. Thơ ông rất hay. Tôi thường cùng ông Đinh Cường đến thăm, thấy đeo cái ống dưỡng khí trên lỗ mũi "Không có nó, thiếu ôc xi, mệt lắm" nhà thơ giải thích.

    Điều kỳ lạ là Vương Đức Lệ đang ở thời kỳ cuối của bịnh mà vẫn làm thơ được. Bịnh trở nặng, ngất xỉu, tỉnh dậy, làm thơ. "Mong con, cha mẹ đợi? Nhớ em, ba chị chờ?" Và chú em út cũng còn trông anh sao? Mong manh chỉ một đường sinh tử. Hai ngả âm dương một lối vào..." "Bàn tay nào đây. Ai lay tôi tỉnh dậy?"

    Một lần khác, ông lại ngất xỉu, tưởng đi luôn, gia đình gọi xe cứu thương đưa vô bịnh viện cấp cứu. Ông tỉnh dậy, thấy mình còn sống, reo lên "Tử thần bắt hụt ta lần nữa. Bạn mới mừng chung khóa nỗi vui. Bạn cũ buồn riêng ly rượu phạt. Ôm vai bá cổ ngẩn ngơ cười! Đã mấy lần rồi tai giả điếc. Tử thần lay gọi mãi, không nghe! Bởi còn lưu luyến duyên phàm tục. Mãi đợi người xưa lạc lối về..."

    Ông còn viết những bài văn ngắn, ghi lại những đau đớn của thể xác, những cảm nghĩ, những lưu luyến với thân quyến, bạn bè trong những giây phút cuối của cuộc đời. Và rồi, ông bình tĩnh chờ đợi con tàu vô hình đưa ông vào cõi mịt mù "Bàn tay nào vuốt mắt tôi. Ngón nào bấm nút châm mồi hỏa thiêu? Trăm năm mộng ước còn nhiều. Trần gian nào dễ đủ điều nỉ non. Tử sinh nẻo thuộc đường mòn. Âm dương đôi ngả vuông tròn đó thôi!" Vương Đức Lệ "lên đường" đầu năm 2008.

    Sau đây là vài cảm nghĩ của tôi trước cái chết. Ai cũng chết. Mặt trời sẽ nguội dần, quả đất sẽ biến mất. Sẽ không còn thời gian. Có một ông bạn, bị ung thư phổi. Mổ xong, có vẻ khá hơn trước, gọi điện thoại nói chuyện với tôi. Tôi hỏi ông bạn nghĩ gì về cái chết? Ông ta bảo, chỉ sợ giờ phán xét, sợ vào hỏa ngục. Ông ta theo đạo Chúa nên mới tin có linh hồn, có thiên đường, hỏa ngục. Tôi chẳng theo đạo nào, không tin có linh hồn nên chẳng hề bận tâm. Khoa học thực nghiệm không chứng minh có linh hồn. Tôi chỉ mong ngủ một giấc rồi không thức dậy nữa, Đời chẳng có gì để mà lưu luyến. Giá như có ông thần nào cho tôi sống lùi lại bất cứ giai đoạn nào của đời tôi. Mười năm. Hai mươi năm. Ba, bốn mươi năm? Tùy ý. "No. Thank you!"

    Trên sân khấu cuộc đời, tôi là tên hề giễu dở. Bị lừa gạt liên tục. Thất bại liên tục. Chỉ mong rằng, chết bình yên, đừng đau đớn, vật vã ngày này qua tháng khác. Ông triết gia, giáo chủ nào cũng giải thích theo tưởng tượng của mình về những gì xảy ra sau khi chết. Mỗi vị một cách! Rồi vị nào cũng chết! Cũng chẳng biết đi đâu?

    Bọn già chúng tôi đôi khi phân vân, không biết chết rồi linh hồn (nếu có) đi đâu? Rồi "nhất trí" là nên tìm tôn giáo nào cho mình đi đến chỗ sướng nhất mà theo. Nơi dành sẵn cho mấy nàng trinh nữ? Xin cám ơn. Già quá. Hom hem quá rồi. Hay là thiên đường, nát bàn? Hoan hô! Nhưng trên đó có đàn bà không? Chắc là không. Đã là thiên đường, nát bàn thì làm gì có đàn bà! Mấy ông già tào lao với nhau, xin các tôn giáo (và các bà) bỏ qua cho.

    Có lẽ, chết là hết, như ngủ mà không thức dậy. "Lai như lưu thủy hề, thệ như phong. Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung" (Kim Dung trong Cô Gái Đồ Long: Đến như nước chảy, đi như gió thoảng. Không biết đến từ đâu, về đâu?)

  3. #23
    Sân Cỏ, Trí Nhớ
    Hoàng Dược Thảo

    Một người bạn của tôi buông ra một nhận xét sau vài tháng sinh hoạt ở “thủ đô tị nạn” là: sống ở đây lâu dần hình như không ít thì nhiều đều bị “mental health”, nói trắng ra là “bất bình thường.” Lúc nghe, tôi thấy không đồng ý vì tôi nghĩ từ lúc xa quê hương, tôi luôn luôn cố giữ mình như cũ. Nghĩa là tôi cố giữ tối đa những lề lốì cũ, những thói quen xưa, suy tưởng ngày nào. Và như thế, tôi nghĩ “tôi đâu có mất bình thường.” Bây giờ tôi lại thấy hình như ông “bạn gìà” nói đúng. Nếu nghĩ “điên” là khác người, là suy luận khác đám đông, đi ra ngoài đám đông.

    Cũng không phải tôi “cố giữ” tôi bình thường. Thực ra ... tôi không còn có thể thay đổi được nữa thì đúng hơn. Giống như một người ở tù quá lâu, không còn có thể hội nhập vào thế giới tự do bên ngoài được nữa.

    Lâu dần tôi thấy tôi quá đổi cô đơn. Tôi sợ đám đông, sợ đổi thay, sợ từng tiếng lạ. Tôi chỉ thấy quen thuộc với mùi cỏ ướt, mùi hoa hồng nở rộ cuối vườn, mùi dầu nóng thoa lên thái dương những ngày khó ở, cái bếp sạch, căn nhà ít tiếng động với một ngõ trúc xanh. Tôi bám víu hai đứa con. Nhưng con tôi “lớn” quá nhanh nơi đây, đôi khi tôi lại vừa xót xa vừa buồn cười khi thấy mẹ cần con hơn con cần mẹ.

    Lúc con tôi còn sống ở nhà, tôi vẫn cứ thắc mắc là sao trẻ bên này lại bận thế không biết. Ngay cả khi chúng còn là những đứa trẻ học tiểu học rồi trung học. Chúng bận học đàn, học thổi sáo, học bài. Những phút giây hiếm hoi, ôm các con vào lòng trước khi chúng đi ngủ, khi đưa tay vuốt nhẹ hai cái má mềm trắng mịn, tôi cố an ủi mình: tôi vẫn còn thực sự cần thiết, ít ra là với các con tôi...

    Mấy lúc sau này, mẹ con tôi cũng hay hục hặc với nhau luôn. Lý do tôi cô đơn, không còn nhìn thấy một lối đi, một điểm tựa nào cho tâm hồn tôi ngoài cỏ cây của ngôi nhà đã thành một phần đời sống tôi ở đây. Vì thế tôi luôn luôn thấy sự cần thiết phải thấy con tôi, phải nghe tiếng chúng nó, giọng chúng cười. Những ngày còn thơ tuy chúng bận đá banh, nhảy dây, bận “skate” với trẻ hàng xóm tôi cũng còn trông thấy chúng. Chúng đang chơi trước sân... đâu đó. Bây giờ, trưởng thành, các con tôi mất hút vào công danh, sự nghiệp. Một mình lủi thủi ở sân sau mỗi cuối tuần, nghe tiếng trẻ hàng xóm cười vang vọng, tôi chợt có cảm tưởng rằng tôi đang lưu lạc tại một nơi thật...quen thuộc. Một nơi tôi đã sống suốt thời gian trưởng thành của mình mà vẫn thấy thiếu vắng một điều gì đó. Bên kia bức tường dù hoa giấy có đang nở rực thì không còn tiếng gà gáy sáng, tiếng vó ngựa đêm khuya, tiếng rao chè buổi tối... Hình như khi một mình, nhìn nắng vàng, tôi chợt quên tôi đang ở xứ người. Tôi xới gốc húng, vun gốc rau răm, tưởng mẹ già đang lẩn thẩn đâu đây. Cây chuối non gợi nhớ món mắm dà rau của mẹ. Cành cây muồng tím gợi nhớ bóng me xưa. Những phút giây “hồi tĩnh” sau đó là những phút giây vô cùng đau đớn. Tôi thấy rõ một điều tôi chỉ là một kẻ “bất bình thường,” một người điên trong thế giới tưởng chừng như tỉnh chung quanh. Do đó, tôi cố tránh những giây phút phải ở một mình. Do đó, tôi cần quá người tôi yêu và các con tôi...

    Đôi khi quá cô đơn tôi hay nhìn quanh quẩn. Tôi “cố tìm” cho ra những người có vẻ khốn khổ hơn tôi. Và tôi nghiệm thấy chúng ta sang đây, hình như người này chỉ còn là người “điên” trong mắt nhìn kẻ khác. Người vợ an phận cười người đàn bà đổi thay, hưởng thụ đời sống mới, rong chơi, nhí nhãnh, lẳng lơ. Người đàn bà hưởng thụ lại cho người an phận là điên, là ngu dại. Anh hùng hục kiếm tiền mua nhà năm bảy cái cười anh lè phè sáng cuối tuần ra thăm gốc hồng, uống ngụm trà Tàu, dạy con đọc chữ Việt là gàn, Anh lè phè cười anh hùng hục kiếm tiền: đồ dại khờ, làm mọi cho nhà băng Mỹ.

    Tôi còn nhớ có nghe hoặc đọc ở đâu đó, các cụ xưa có nói mỗi tuổi có một thú hưởng ngoạn riêng. Chưa tới tuổi già mà cứ thơ thẩn thú của người lớn tuổi là không tốt. Là nghịch đạo lý âm dương, sinh tử. Thế mà tôi biết ở đây không phải chỉ riêng tôi, còn có biết bao nhiêu người đang “nghịch lý”. Người già đang cố vớt vát tuổi xuân bằng cách ăn mặc lố lăng, lẳng lơ, sống cuồng, yêu vội... Nhưng cũng không thiếu gì người trẻ chán ngán, quay về ở ẩn như đã già, đã hết. Một cô thư ký của tôi, gia đình cày cục lắm mới sang được Hoa Kỳ dưới dạng hôn nhân. Đi làm, đi học, trả nợ cho “người ta” xong là đi vào chùa tu luôn, chán nợ hồng trần. Một người bạn gái làm báo rất thân, một nhà tranh đấu chống cộng ngoại hạng cũng vừa xuống tóc qui y. Bỏ lại cho tôi những bài thơ có giàn cây leo tóc tiên và rất nhiều tâm tình giữa bạn gái với nhau. Nếu còn sống ở quê hương, những người trẻ tuổi tuổi đó, cuối tuần, chắc đã có một nơi khác để đi hơn là cửa Thiền. Những người đứng tuổi đã có những bận rộn gia đình, làm mất đi lớp phần dày, cho đôi mắt với tia nhìn dịu xuống trên đàn cháu nhỏ, đứa con xa.

    Sáng hôm nay, cây hồng cuối vườn bị bỏ quên trong kỳ bón phân tháng rồi đột nhiên nở rộ. Tôi ngắm hoa mà thấy lòng ăn năn, hối hận. Tôi đã không gieo nhân, sao tôi lại có quyền hưởng quả. Tôi nâng nụ hồng nhỏ mới hé mở trong tay và như đọc được lời tha thứ. Nhưng liệu chúng ta có nhận được nụ cười tha thứ của thế hệ đi sau khi chúng ta mãi “điên” theo cách thế riêng của từng người. Và như thế, xứ sở văn minh nhất thế giới này có thật chỉ mang lại cho chúng ta, những người lưu lạc, điều tự do duy nhất: tự do sống... bất thường, điều mà người Mỹ thường gọi một cách văn hoa là...life style của mỗi người.

 

 

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 05:34 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh