Register
Page 4 of 4 FirstFirst ... 234
Results 31 to 36 of 36
  1. #31
    Đời Sống Người Già ở Mỹ
    HOÀNH NGUYỄN

    Năm mới đến Mỹ (1996), tôi có viết bài "Những Nhận Định Khác Nhau về Cuộc Sống" đăng trên báo Việt Ngữ ở Sacramento. Đó là nguyên do từ một câu nói của một người bạn học ở Sacramento College:

    "Nước Mỹ là thiên đường của tuổi thơ.
    Là chiến trường của thanh niên.
    Là địa ngục của người già”.


    Lúc bấy giờ tôi cũng như người bạn tỵ nạn chánh trị, do chưa hội nhập vào cuộc sống mới lạ của xứ người nên có nhận định không chính xác lắm.

    Mười năm sau, tôi đủ tuổi 65, nên xin được nhà ở chung cư người già: "Eskaton President Thomas Jefferson Manor". Chung cư nầy, nằm ở phía Nam Sacramento, gần khu thương mại Florin Mall, trung tâm Medica và Thư viện.

    Khu chung cư tôi cư ngụ có tổng cộng là 104 căn phòng cho từng hộ riêng biệt (mà người ta gọi là Apartment, viết tắt là Apt) nằm trong một nhà lớn 2 tầng. Tầng trên 52 Apt, tầng dưới 52 Apt. Nhừng hộ sống ở trong Apt nầy đa số là người Mỹ Trắng, một số Mỹ đen, có khoảng chục cặp người Tàu và chừng 9,10 người Việt Nam.

    Sống ở chung cư người già nầy có đủ thành phần trong xã hội. Có người là dược sĩ, có người là cựu quân nhân làm đến tướng, tá, có người là công chức, thương gia... Đa số những người ở đây lãnh trợ cấp Worker hưu trí, còn lại là lãnh tiền người già...

    Chung quanh khu nhà lớn nầy là vườn hoa, có hàng rào sơn trắng bao bọc. Có đường đi bộ, có đường cho xe chạy và nhà để xe, có nhân viên giữ gìn an ninh ngày lẫn đêm (24/24). Cứ mỗi sáng, trước 12 giờ trưa thì nhân viên đi rảo kiểm soát một vòng những Apt. Họ xem coi những vị cao niên nầy có khỏe mạnh không? Nhờ qua cái nút dấu hiệu mà họ cài tối hôm qua trước cửa mỗi Apt. Nếu cái hiệu đèn trắng thì khỏe mạnh không có gì đáng lo ngại. Nếú cái đèn hiệu vẫn còn nguyên màu đỏ, thì nhân viên kiểm soát sẽ gõ cửa hỏi thăm. Nếu không ai trả lời thì họ sẽ tự động mở cửa vào xem.

    Những căn Apt độc thân cho một người ở trong chung cư người già tiện nghi cũng giống như những Apt một phòng, của tư nhân cho mướn bên ngoài. Có phòng ngủ, phòng khách và nhà bếp phân biệt rộng rải, gọn gàn. Phía trước Apt có cửa lớn ra vào, phía sau có cửa sổ để không khí tươi mát thông thương vào bên trong và cũng để cho chủ nhân ngắm nhìn trời mây, hoặc xe cộ qua lại trên đường bên ngoài... Đặc biệt, trong nhà tắm, gần nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách, có nút báo động trực tiếp với văn phòng nhân viên thường trực trong chung cư. Để khi những khi gặp trường hợp bất ngờ như: bị té, bị bịnh... cần được cấp cứu ngay.

    Hàng ngày, những người sống trong chung cư có thể đến phòng khách chung để uống trà, cà-phê, xem truyền hình, đánh lô-tô, đô-mi-nô, đánh bi-da... giải trí. Có phòng thể dục, có phòng xem sách báo và dùng máy vi tính. Hàng tuần có nhân viên dạy ESL, dạy Sittercise môn thể dục ngồi cho người già yếu. Có phòng hớt tóc cho nam nữ. Cả hai tầng đều có phòng giặt đồ, có chỗ chứa rác rất vệ sinh và sạch sẽ. Có cái giữ đồ kho nhỏ riêng biệt cho mỗi hộ.

    Mỗi tuần 2 lần có xe chở đi chợ mua cá thịt, rau cải, gia vị... nấu ăn. Và đi chợ để mua những đồ dùng cá nhân như: áo quần, giầy dép, xà bông... Trong các ngày lễ lớn, ngày Tết... trong chung cư có đãi tiệc, tặng quà, sổ số, chiếu phim, ca nhạc...

    Khi có thân nhân hoặc bạn bè đến thì phải qua an ninh ngoài cổng chánh của chung cư hỏi và liên lạc xem chủ nhân có bằng lòng tiếp không, thì những người viếng thăm mới được vào.

    QUAN SÁT VÀ SUY NGẪM CUỘC SỐNG Ở Mỹ, TA SẼ HIỂU ĐƯỢC TẠI SAO NGƯỜI GIÀ THÍCH VÀO Ở CHUNG CƯ MÀ KHÔNG Ở NHÀ NGOÀI VỚI CON CHÁU.

    * Trước hết là được chăm sóc chu đáo, đầy đủ mà không nhiều tốn kém. Có bạn bè cao niên để tâm tình, nhứt là yên tĩnh rất thích hợp với tuổi già.

    * Ở nhà ngoài con cái bận đi làm. Mướn người giúp việc săn sóc cũng không bằng. Nếu có cháu chắc thì ồn ào, bận bịu...

    * Người sống trong chung cư được đi thăm con cháu, được ra vào tự do... Chỉ cần báo cho văn phòng biết nếu mình đi nhiều ngày.

    Tôi đã sống hơn 3 năm trong chung cư người già. Lúc ban đầu tôi cũng cảm thấy lẻ loi buồn tủi, cũng lo sợ về an ninh và bịnh cao áp huyết của mình, về sau quen dần, thì tôi lại rất thích thú chẳng muốn di chuyển đi đâu.

    Cái thoải mái nhứt của tôi ở đây là được tự do. Tôi muốn làm gì tùy theo ý của mình từ ăn uống cho đến đi lại không phải bị gò bó... Cho dù có sống với con cái cũng không có được như vậy. Tuy nhiên đôi lúc tôi nhận thấy nhạc sĩ Trịnh Hưng rất có lý khi nói lên cảnh sống độc thân của mình qua những câu thơ của ông mà tôi nhớ lõm bõm:

    “Một mình nấu, một mình ăn
    Một mình mình nói, một mình mình nghe
    Một mình nhiều lúc cười khì
    Hai mình có phải diệu kỳ hơn không?”


    Phước duyên thay cho những ai có bạn tri âm. Nếu không thì đừng mang gông vào cổ, mà chắc lưỡi hối tiếc thốt lên những lời: "Nước Mỹ chỉ là địa ngục của người già". Như đã có nhiều người tự ti, mặc cảm và hoang tưởng quá đáng.

    Chuyện trên diễn đàn Internet mới đây. Có một cụ 92 tuổi động lòng cố quốc, tuyên bố về Việt Nam ở luôn. Nhưng chỉ đôi năm sau trở lại Mỹ để có phương tiện điều trị bịnh. Cụ phải vào sống trong Nursing Home để được bác sĩ và y tá trực tiếp mỗi ngày điều trị, khỏi tốn tiền cho thân nhân. Bịnh nặng, nên cũng đành ngậm ngùi với 2 câu thơ:

    “Muôn dậm hồn thiêng về cố quốc
    Trăm năm xương trắng gởi xứ người”

    Tiền trợ cấp xã hội cho người già, hoặc bịnh tại nước Mỹ cũng được chiết tính vừa đủ. Nếu lỡ vướng mắc nợ hoặc làm mất hoặc hư đồ có giá trị của ngưòi khác thì theo luật pháp mỗi tháng phải trả dần $50.

    Mức thu nhập lương hàng tháng của tiểu bang California, cao nhứt là 836 Mỹ kim cho người già. Theo chiết tính bình dân thì có:

    200$ tiền nhà. - 200$ tiền bảo hiểm xe và xăng. - 100$ tiền điện thoại và Internet. - 200$ tiền ăn. - 100$ tiền mua sắm.

    Như vậy là vừa đủ lương. Khi xe hư, hay muốn đổi xe khác phải chi đến đôi ba ngàn đô-la thì đó là việc suy tính đau đầu.

    Những người ở chung với con cháu, không phải trả những thứ linh tinh trên như ở nhà người già thì có tiền dư, để hàng năm đi du lịch thăm cố hương (đó cũng là du lịch ngoại luật), hoặc gởi tiền về cho họ hàng bên nhà.

    Về vấn đề hậu sự cũng là một nỗi nặng lo. Nếu muốn được giữ tro cốt và làm tục lễ cho phần hồn thì phí tổn phải trên dưới 5 ngàn đô-la. Còn ai qua đời trong chung cư người già mà không có người thừa nhận thì Sỡ xã hội sẽ thiêu hủy hài cốt.

    Nếu là những người già hẩm hiu ngoại quốc, không có thân nhân ở nước Mỹ. Nếu là người Việt Nam còn con cái họ hàng sống bên đó. Nếu thân nhân không thông hiểu, cứ than thở, thúc bách tiền bạc, thì thật là tội nghiệp eho cuộc đời xa xứ, cô độc bơ vơ khi gặp bịnh hoạn ở tụổi về chiều.

  2. #32
    Nhớ nhớ, quên quên!
    Huy Phương

    Khi cố nhớ là đã quên một nửa,
    Lúc muốn quên là nhớ đến tận cùng!
    (Không biết của ai)

    Lâu nay, bước vào tuổi già, tôi bắt đầu nhận thấy mình quên rất nhiều thứ. Bệnh mất trí nhớ, nôm na là bệnh quên của người già hiện nay rất phổ biến. Đó là “chứng hay quên” do tuổi tác, nhưng cũng có thể là biểu hiện ban đầu của sa sút trí tuệ của mình.

    Trong khi có người quên chuyện xưa, quên quá khứ thì cũng có người quên mặt người, quên tên. Tôi là một người có chứng bệnh hay quên tên người, và đó cũng là một trở ngại trong lúc giao tiếp với bạn bè. Có lần gặp lại một người bạn rất thân ngày xưa, đáng lẽ phải kêu tên bạn lên một tiếng mừng rỡ cho vui lòng mình mà cũng toại lòng bạn, nhưng chỉ đứng đó mà ú ớ, gọi một tiếng “mày” mà lòng bấn loạn, có cảm giác tội lỗi vì nhớ tên bạn không ra.

    Nhưng có lẽ trên đời này, không phải riêng tôi mắc bệnh quên!

    Tôi kể bạn nghe một câu chuyện khá buồn cười.

    Cách đây không lâu, hai vợ chồng tôi đi ăn cháo Chợ Cũ, mới mở cửa vào, tôi thấy vợ chồng một người ở trong Hội Đồng Quản Trị nhật báo Người Việt, người mà tôi rất quen biết, cũng có lần ngồi uống cà phê với nhau ngoài phố, mà lần này bất chợt, tôi không thể nào nhớ ra nổi tên anh. Hơi ngượng và biết cái bệnh của mình, lựa lúc anh chưa trông thấy tôi, tôi kiếm chỗ ngồi, chú ý lựa chỗ quay lưng lại với anh.

    Trong khi vợ tôi gọi món ăn, tôi cố gắng nặn óc mãi mà nghĩ không ra cái tên ông này. Một ý nghĩ thoáng qua, tôi nói với vợ tôi: “Anh ra ngoài xe một tí.”

    Ra đến xe, tôi lục tìm mấy tờ báo Người Việt cũ, vào trang hai, rà tìm ở chỗ Hội Đồng Quản Trị, thì ra ông này là Nguyễn Phước Quan!

    Bước trở lại vào quán, lần này tôi hiên ngang bước lại bàn vợ chồng anh Quan đang ngồi, đưa tay ra, tự tin kêu lên một tiếng, “Chào anh chị Quan, lâu ngày!” Anh Quan đứng dậy bắt tay tôi, vẻ bối rối thấy rõ. Nửa nhìn tôi, nửa quay sang vợ, anh nói, “Ai đây, xin lỗi, tôi quên!” Có lẽ biết bệnh chồng, chị Quan cười, “Anh Huy Phương đây chứ ai!”

    Nếu chị Quan không “cứu bồ” có lẽ anh Quan cũng sẽ phải lâm cảnh ngượng ngùng. Nếu như anh chị Quan biết tôi vừa chạy ra xe để tìm cho ra cái tên anh, có lẽ anh sẽ buồn cười hơn, nhưng tôi đã “ăn gian” không kể lại chuyện này.

    Phụ nữ thường có trí nhớ tốt hơn đàn ông, bằng chứng là tôi gặp chị Quan có một lần ở tòa soạn, mà chị còn nhớ ra tôi, trong khi anh Quan và tôi khá thân mà lâm cảnh “quên” này. Có lần tôi gặp một người bạn cũ trong một quán cà phê, tôi cố gắng lắm cũng không nhớ ra tên. Lần ấy, tôi cũng chạy ra xe, không phải để lục tờ báo cũ, mà để gọi về nhà cho vợ. Tôi mô tả cái ông bạn, ngày xưa làm chung, nhà ở đường Trần Quốc Toản, có vợ người Nha Trang, ông tên chi, anh quên mất! Không một phút ngần ngại vợ tôi có ngay câu trả lời: – Ông Lâm!

    Cũng vì cái trí nhớ tốt của phụ nữ, cho nên đàn ông mới khổ.

    Câu hỏi mà tôi băn khoăn là ở một phần não thùy nào đó, chỗ để tên người của tôi đã bị hao mòn, thì tôi có tội gì không? Có lắm điều tôi muốn quên, mà càng về già, càng nhớ rõ, không quên được, nhất là chuyện cũ, trong khi có nhiều điều mới xảy ra đây thôi, cố nhớ mà nhớ không ra!

    Muốn độ lượng thì phải quên, muốn sống vui thì nên quên. Muốn đạo đức thì tâm phải hư (tiết trực- tâm hư) lòng phải rỗng không, như cái ống tre rỗng ruột, không để bụng một điều gì, không vướng bận điều gì, không canh cánh bên lòng chuyện chi.

    Càng về già người ta càng ít nhớ chuyện hôm qua, nhưng càng về già càng nhớ dai những chuyện đã như xa lắc xa lơ.

    Người ta thường than các bậc già nua bắt đầu lẩm cẩm, quên không biết cái chìa khóa xe để đâu, cái ví vứt chỗ nào, nhưng vẫn thường nhớ nói chuyện cũ vanh vách. Đó là cái thời xa xưa, dễ chừng cách đây đã nửa thế kỷ. Những trận đánh để đời, vết thương này ở đâu ra, người bạn thân chết ở chiến trường nào. Rồi những ngày đi qua những trại tù non cao, nước thẳm, mịt mù những nỗi đau đớn, buồn phiền, không có một ngày vui. Có ngày về sum họp nhưng cũng có ngày về chia lìa.

    Định mệnh Việt Nam vẽ nên những cảnh đời khác biệt, nên có những ngày vui mà cũng có ngày buồn. Mỗi người ra đi mang theo một cuốn tiểu thuyết của đời mình, nhưng chuyện kể có khi không người nghe. Có bầy con cháu nào đủ thời gian và kiên nhẫn để ngồi nghe một ông già ở xứ sở nào xa lạ đến, với những chuyện xa xôi như chuyện tiền kiếp, không thấy mà cũng khó tin. Trong đám bạn bè, cũng có lúc mệt mỏi, có người nói mà không có người nghe, vì ai cũng đang muốn kể chuyện mình.

    Trong vòng 30 năm nay, từ khi bỏ nước ra đi, chúng ta có bao nhiêu truyện ký, viết về chuyện nước non, chuyện đời mình, cũng có những chuyện được phổ biến rộng rãi, nhưng cũng có những tác phẩm được xếp kín trong tủ sách của riêng mình, như một tâm sự giấu kín, ấp ủ cho hết một đời người. Người mất trí nhớ không còn cảm thấy khổ đau nhưng bất hạnh thay cho những kẻ muốn quên mà không quên được.

    Chuyện khó quên nhất là chuyện quê hương đất nước. Có tắt TV, không vào Internet, không mở radio, cũng nghe chuyện bên nhà. Nói như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, gặp nhau nơi quê người, những người xa xứ 20 năm, 40 năm, không lẽ chỉ có một chuyện khoe nhà, khoe con, trong khi quê hương có bao nhiêu chuyện nặng lòng. Có câu chuyện, đọc một lần, có những bản tin chỉ mới nghe qua, đã hằn sâu trong tâm khảm, như vết chém xuống, không tài nào trở thành vết sẹo trong chốc lát. Có những hình ảnh in đậm trong trí nhớ, mỗi đêm trở giấc, không tài nào ngủ lại được.

    Đó không phải là những chuyện qua đường, hay câu chuyện thị phi nhà hàng xóm mà chính là chuyện của chính chúng ta, là đau đớn, trăn trở xót xa từ tận đáy lòng, muốn xua đuổi, muốn quên đi mà quên không được.

    Có một điều không phải ai cũng nhớ và cũng hiểu ra rằng: “Tôi là ai, mà tôi tới đây!”

    Nhiều người thực sự đã quên, nhiều người lại không muốn nhớ, vì nhớ là mua sự khổ đau. Thương cho ai đã không còn nhớ, mà cũng hạnh phúc cho ai đã quên được.

    Muốn cho lòng mình rỗng không, tâm muốn “hư” mà “hư” không được.

    Nhưng không ruột với vô tâm, vô cảm cũng cùng chung một nghĩa.

  3. #33
    Liệu Pháp Vườn Xanh và Tuổi Già
    Đoàn Ngọc Đông

    Sau bao nhiêu năm lăn lội với đời, bạn già chúng tôi ai ai cũng đến tuổi lục, thất thập. Thế hệ chúng tôi trải nghiệm quá nhiều thay đổi. Cuộc đời ba chìm, bảy nổi, sáu lênh đênh, lớn lên trong cảnh loạn ly của đất nước. Ra xứ người với bàn tay trắng, tất cả làm lại từ đầu. Trên xứ Mỹ, chúng tôi ai ai cũng cố gắng, say sưa làm việc với mục đích làm cho con cái chúng tôi có cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngoảnh mặt lại thấy mình đã đến tuổi về hưu. Về già mỗi người chọn một lối sống thích hợp với mình, bạn bè chúng tối chọn lối sống theo thiên nhiên, hoà mình với cây cảnh, thích hợp với liệu pháp vườn xanh.

    Liệu pháp vườn xanh là phương pháp trị liệu bằng cách cho bênh nhân tiếp xúc với thiên nhiên cây cảnh, tạo cho bệnh nhân cái cảm giác thư thái, thoải mái, giải toả bực nhọc, căng thẳng, làm cho sức khỏe của bệnh nhân bình phục và chóng khoẻ mạnh. Phương pháp trị liệu này được áp dụng để chửa nhiều bệnh, đặc biệt với các bệnh về tim mạch, hô hấp, bao tử, tâm thần, trầm uất và u buồn.

    Phương pháp trị liệu này đã có từ ngàn năm, lúc đầu chỉ có tính cách phổ quát tại các nước bên Âu châu, Nhật bản, Trung hoa và ngay cả trên đất nước Viet nam chúng ta. Phải chờ đến thế kỹ thứ 16 khoa học này mới hình thành. Các bác sĩ và khoa học gia khám phá và nhận thấy những bệnh nhân nghèo, họ phải làm việc trong các hoa viên để lấy tiền trả y phí, kết quả các bệnh nhân này lại bình phục nhanh và khoẻ mạnh hơn các bệnh nhân khác không có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên.

    Sau thế chiến thứ nhất và thứ hai, những thương binh tình nguyện làm việc tại các công viên, bác sĩ nhận thấy họ bình phục và khọẻ mạnh rất nhanh. Các bác sĩ tại trung tâm phục hồi sức khoẻ Mayfield Anh quốc phát hiện liệu pháp vườn xanh đóng góp rất nhiều trong quá trình phục hồi sức khoẻ người bệnh.

    Ngày nay pháp liệu vườn xanh (Horticulture Therapy) đựợc giảng dạy tại các đại học Mỹ. Năm 1955 văn bằng Cử nhân Liệu pháp vườn xanh được cấp phát tại đại học Michigan State. Năm 1971, cử nhân liệu pháp vườn xanh được cấp phát tại đại học Kansas State, đại học này còn có chương trình giảng dạy lấy bằng Master và Ph. D. Các đại học khác cũng có giang dạy ngành này như đại học Colorado, Porland, Oregon State, Rutgers, Texas A&M, Chicago, Deleware, Minesota, Temple, New york, Oklahoma State, Tennessee v. v…Hiện nay tại Mỹ có hơn 24, 000 sinh viên tốt nghiệp ngành Liệu pháp vườn xanh đang làm việc trong các bệnh viện, viện dưỡng lão, các trung tâm phục hồi sức khoẻ.

    Liệu pháp vườn xanh rất có ảnh hưởng đến sức khoẻ của bạn bè chúng tôi. Hiểu được sự quan trọng ấy nên ở Mỹ, nhất là ở California, anh em bạn già chúng tôi hầu như ai ai cũng có vườn xanh sau nhà. Trước nhà thì có bải cỏ xanh mướt, các cây cảnh được trồng hài hoà, giống loại được pha trộn những cây cảnh tuyệt đẹp từ các nước Mỹ, Nhật, Trung hoa, Việt nam. Sau nhà thì có cây ăn trái đủ loại, chúng tôi trồng bưởi, thanh trà, chuối, ổi, mãng cầu Xiêm, táo Mỹ, táo Tàu, thanh long, nhãn, đu đủ, có bạn trồng được cây vải, mận đào Mỹ Tho. Đúng là người Việt nam ra đi mang theo quê hương, bạn bè chúng tôi ra đi mang theo vườn rau dân tộc. Chúng tôi trồng đủ loại rau: húng, quế, rau răm, rau má, rau dền, canh giới, rau chua, bạc hà, mồng tơi, cải đậu, bầu bí, khổ qua, nhiều giống khác nhau, nhiều khi còn phong phú hơn các vườn rau xanh ở quê nhà. Vườn hoa thì đủ loại với màu sắc rực rỡ, xanh đỏ tím vàng. Hoa nở quanh năm, đặc biệt mùa xuân và mùa hạ, hoa nở rộ, màu sắc đẹp không bút nào có thể tả nổi.

    Chẳng gì thú vị bằng sáng thức dậy ra trước nhà thì nhìn thấy cây cỏ xanh tươi, quanh vườn sau thì nhìn thấy trăm hoa đua nở, phô trương phơi bày màu sắc tuyệt đẹp, những con bướm vàng tung bay nhẹ nhàng trong ánh nắng ban mai, những con chim trên cành đang ca hót đón chào. Cảnh trí cây xanh cộïng những hoa lá tươi đẹp, con người cảm thấy nhẹ nhàng, ung dung và hình tưởng cái cảnh vui thú điền viên của các cụ thời xưa ở quê nhà.

    Chúng tôi làm những việc nhẹ, nhặt những hoa lá rơi rụng, tưới nước, bón phân, xới gốc. Chúng tôi cảm thấy dễ chịu, yêu đời, được chứng kiến những giai đoạn phát triển của cây cảnh, nhìn từ lúc ra hoa, thụ phấn, kết trái, rồi đợi lúc trái chin, hái xuống, cảm nhận cái mùi thơm, thưởng thức cái hương vị của trái chin trên cành. rồi nghĩ lại và bằng long với cái công lao chăm sóc của chính mình.

    Vào những buổi chiều gió mát, ngồi dưới tàng cây, ngụm ly trà nóng, cố quên sự đời, nhắm mắt lại, thả hồn theo hoa lá, cố sức mở rộng lồng phổi, hít hơi thở sâu, đưa không khí trong lành vào lồng phổi, cho chạy xuống bụng, đưa xuống chân, cố gắng giử dưỡng khí càng lâu càng tốt rồi từ từ thở ra, tiếp tục làm nhiều chu kỳ, làm nhiều lần, con người sẽ thấy như nhẹ lại, thoải mái và sức khoẻ càng ngày càng phấn chấn hơn.

    Bạn bè chúng tôi mọi người đều càm nhận cái hạnh phúc và toại nguyện cái cây cảnh vườn xanh của mình. Chẳng gì vui thú bằng thỉnh thoảng bạn bè họp mặt, cùng nhau ăn uống, thưởng thức những thức ăn do các bà xã tự nấu, ra vườn nhìn thấy cây cảnh tươi đẹp do chính mình tự trồng. Chúng tôi trao đổi những kỷ niệm cũ lúc đi học trong thời niên thiếu rồi ra trường mỗi đứa mỗi nơi, đến lúc xế chiều thì lại sống tụ tập gần nhau.

    Cuộc đời như một giấc mơ kỳ diệụ. Vườn xanh thật sự đã giúp bạn bè chúng tôi thanh thản tâm hồn, hạnh phúc bên gia đình, sức khoẻ dồi dào, kéo dài tuổi thọ và là môi trường tốt để tạo tình bạn hữu thêm phần thắm thiết.

  4. #34
    Tuổi Đã Về Chiều
    Bùi Xuân Đáng

    Cuộc đời chúng ta xoay vần theo bốn chữ Sinh Lão Bệnh Tử. Sinh ra, lớn lên già đi, ngả bệnh rồi đi về cõi thiên thu.

    Trong bốn chữ này, chữ Lão kéo dài thời gian nhất. Khi tuổi về chiều trí đã cùn, tâm đã nhụt. Mắt mờ, chân chậm, nói trước quên sau lại thêm khó tính khó nết. Sức khoẻ ào ào xuống dốc, nếu không cao áp huyết cũng tiểu đừơng, không tê thấp cũng đau đầu gối. Không còn đủ sức để đi làm, mà nếu không đi làm, kinh tế gia đình đi vào ngõ hẹp. Sự túng quẫn về tài chánh, sức khỏe yếu kém, lại có nhiều thì giờ nhàn rỗi càng thêm lắm chuyện.

    Về già thật là đáng chán, thế nhưng có nhiều người hãy còn trẻ cứ muốn coi mình là già. Vua Bảo Đại khi xưa mới 40 tuổi đã ăn mừng tứ tuần đại khánh. Nhiều ông khi chấp chính mới ngoài 50 mà đã thích, đã bắt người ta suy tôn gọi mình bằng Cụ. Nghe đến chữ Cụ, thấy cuộc đời của mình gần đến chỗ gần tàn.

    Năm bẩy năm trước đây, khi tôi mới sấp sỉ 70, bà Từ Dung, Giám Đốc Hội Cao Niên Á Mỹ cũng gọi tôi như vậy. Tôi đành xin bà vui lòng đại xá bỏ đi cho, kẻo tôi thấy mình đã đến ngày xuống chầu Diêm chúa. Trong khi đó, nhiều vị, dù đã 70- 80 tuổi vẫn chưa chịu là già, hãy còn phong độ, hãy còn muốn về thăm quê hương, nhưng thực ra đi tìm thứ của lạ, của chua, thứ của chanh cốm, tiếng lóng của dân Bắc Kỳ hồi thập niên 50 mà bây giờ người ta gọi là bồ nhí. Những vị này chắc muốn kéo lại tuổi xuân và thực hiện câu :

    Chơi xuân kẻo lỡ xuân đi
    Cái già sồng sộc nó thì đến sau

    Chữ già thực ra cũng lắm nghĩa cho nên thường có những bổ túc từ đi kèm để làm cho rõ ràng hơn như :

    - Già gân để chỉ những người tuy già nhưng hãy còn tráng kiện.
    - Già khọm để chỉ người già đi đứng lọm khọm.
    - Già khụ có lẽ là hay ho khù khụ.
    - Già cúp bình thiếc, ý muốn nói da dẻ nhăn nheo như chiếc bình thiếc móp méo chăng"
    - Già khú đế, không hiểu nổi, xin quý vị cao minh chỉ giáo.
    - Lõ thái tuế, cũng vậy, xin đành chào thua.

    Già dịch, đồng nghĩa với già không nên nết hay già còn chơi trống bỏi để chỉ mấy ông già chưa chịu mình là già.

    Kể ra còn nhiều thứ già nữa, nhưng sợ làm rác tai quý vị. Vậy thì tuổi nào mới gọi là đã già. Có lẽ cái già không đợi tuổi, mà do chính lòng mình cảm thấy không còn sinh thú và tình trạng sức khỏe không cho phép con người hoạt động như xưa nữa. Vì vậy hãy nên tạm chấp nhận cái tuổi già theo luật định 62-65 cho tiện việc hơn cả.

    *

    Năm 62 tuổi, tôi chưa cảm thấy mình đã già, sức khỏe chưa sa sút, nhưng không còn hăng say làm việc như trước. Muốn về hưu sớm, nhưng chưa đủ thâm niên để hưởng tiền hưu trí và bảo hiểm sức khỏe, tôi đành phải kéo cầy thêm 3 năm nữa.

    Công ty Shell, nơi tôi phục vu, đã đài thọ vé máy bay và ăn ở tại khách sạn cho vợ chồng các nhân viên sắp sửa về hưu được dự một cuộc hội thảo dành cho người già do Price Water House tổ chức tại Newark. Trong suốt 3 ngày, họ đã mời những chuyên viên thượng thặng đến trình bầy và giải đáp những thắc mắc qua các lãnh vực tâm lý, tài chánh, bảo hiểm, thuế má, sức khỏe, giải trí v.v... Tôi luôn nhớ câu mở đầu:

    Khi về hưu, quý vị sẽ bước vào một cuộc đời mới. Cuộc đời này sẽ ra sao, do chính quý vị lựa chọn và xếp đặt từ trước. Nghĩa là trước khi về hưu cần phải chuẩn bị:

    - Về tài chánh làm sao cho cân bằng sự chi tiêu, phù hợp với ngân sách gia đình.
    - Giữ gìn sức khỏe, năng tập thể dục và khám bệnh thường xuyên.
    - Tìm thú vui giải trí tránh sự nhàn rỗi.
    - Nhưng phần quan trọng hơn cả là sự hòa hợp với người phối ngẫu. Trước kia còn bận đi làm, ngày nay có nhiều thì giờ sống bên nhau cho nên sẽ có nhiều thay đổi.

    Thí dụ trước kia ông là Giám đốc, chuyên môn sai bảo và chỉ tay năm ngón, bây giờ hãy sẵn sàng nghe lệnh đi đổ rác hay chùi cầu tiêu, phòng tắm. Bà trước kia, sáng đi mỹ viện chiều đi shopping, hãy coi chừng ông kiểm sóat viên tài chánh lúc nào cũng kề cận bên mình...

    Tôi nhận thấy mình cần phải kiểm điểm lại những lời khuyến cáo hợp tình hợp lý này xem sao.

    *

    Về mặt tinh thần, chúng tôi rất hài lòng với hoàn cảnh hiện tại.

    Từ năm 1945 đến nay, gia đình chúng tôi nhiều khi tan nát, chia năm xẻ bẩy, đã 4-5 lần tay trắng làm lại cuộc đời. Nhưng may mắn thay qua biết bao nhiêu lần thoát chết trong lao tù Cộng sản, trong những trận càn đi quét lại của thực dân Pháp, rồi đấu tố man rợ. Cho đến khi rời miền Bắc vào Nam, ba anh em chúng tôi đều ở trong quân ngũ. Ngày bỏ nước ra đi, anh em con cháu chúng tôi kẻ đi trước, người vượt biên hay đoàn tụ đến sau đều được Trời Phật đoái thương, Tổ tiên phù hộ không sứt mẻ người nào. Con cháu hiếu thảo, dâu rể hòa thuận, chúng tôi không còn mong gì hơn nữa.

    Về tài chánh, tôi không lo cho lắm bởi vì vợ chồng tôi, từ lâu đã có một nếp sống thanh đạm, lại không đua đòi, không rượu chè cờ bạc cho nên với số tiền an sinh xã hội cộng với tiền hưu bổng chúng tôi sẽ không đến nỗi túng thiếu phải nhờ vả con cháu.

    Về sức khỏe, chúng tôi cũng không đến nỗi bết lắm, vẫn thường đi bộ trên máy treadmill hàng ngày, mỗi ngày nửa tiếng từ mười mấy năm nay. Chúng tôi vẫn thực hành lời dậy trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư tránh xa ông thần Vô tiết độ. Nhưng sức khỏe một phần do mình lo giữ gìn, chăm lo luyện tập, còn một nữa là do trời định. Hôm nay còn khỏe mạnh phây phây, ngày mai bác sĩ cho biết đã bị ung thư, thì ôi thôi cũng bó tay đành chịu.

    Về phần tránh sự nhàn rỗi, vợ tôi từ bao nhiêu năm nay, hết trông nom săn sóc cho cha mẹ, tiếp đến chồng con rồi lại đến cháu. Đó là nguồn vui vô tận của vợ tôi và nguồn vui này không bao giờ nhàm chán.

    Riêng tôi, khi còn trai trẻ tôi ham mê thể dục, thể thao. Môn nào tôi cũng ưa thích đến nỗi khi vừa thành hôn được hơn hai tuần lễ, tôi đã bỏ người vợ ở nhà đi đánh bóng chuyền ở chợ Đống Năm, Thái bình. Cho đến bây giờ vợ tôi vẫn còn nhắc lại chuyện đó. Đến khi tuổi đã không còn thích hợp với việc chạy nhẩy, tôi ham đi câu. Được ngày nghỉ tôi dẫn các con đi câu từ Thủ thiêm, Phú lâm tới Mỹ tho, ngay cả khi chiến sự xẩy ra sát cạnh ven đường.

    Sang Hoa Kỳ lại càng như diều gặp gió. Những năm còn ở Illinois tôi đi câu bất kể ngày đêm, muà hè cũng như mùa đông. Ngày đi làm, tôi kéo chiếc tầu nhỏ theo xe, tan sở đi câu một vài tiếng rồi mới về nhà. Thứ bẩy, chủ nhật tôi đi từ 2-3 giờ sáng, đến tối khuya mới về. Vợ tôi nhiều lần giận dỗi vì cơm chờ, canh đợi, nhưng tôi chỉ bỏ được một vài hôm rồi lại đi theo tiếng gọi của sông hồ. Nếu không đi câu tôi mê mải ngoài vườn. Đất rộng tôi trồng đủ thứ nào rau cải, rau muống, bạc hà, bầu bí v. v.. ngoài việc chăm sóc những cây hoa lan.

    Khi còn sinh tiền, mẹ tôi thường mắng yêu bảo tôi là bị trời đầy cho nên không lúc nào yên chân, ngơi tay. Tôi chỉ cần nằm dài đọc sách hay xem truyền hình 3 ngày chân tôi bắt đầu lạnh, mắt mờ đi và người như muốn bịnh. Thú vui đi giải sầu thiếu gì nhưng tôi không muốn phí thì giờ vô ích, tôi muốn rằng sự giải trí của tôi phải có đôi chút ích lợi, dù chỉ là một chút mảy may nhỏ nhặt chứ không phải là thứ vô bổ (non productive). Cho nên ngoài việc đi câu, trồng trọt tôi cần phải có một thú giải buồn khác nữa cho chính mình mà không cần phải lệ thuộc vào ai cả. Bởi vì đánh cờ, bóng bàn hay quần vợt cũng cần phải có đối thủ.

    Bẩy năm trước khi về hưu, công ty của tôi có lòng ưu ái cung cấp học phí trong vòng 10 năm cho các nhân viên nào muốn học một nghề hay thú vui tiêu khiển nào đó như : địa ốc, kế tóan,thợ mộc, quần vợt v.v... Tôi chọn hội họa là một môn tôi ưa thích từ lâu. Thế rồi tôi ra vào các trường đại học, cộng đồng, công, tư và theo đuổi hết ông thày này đến bà thầy khác. Tôi học đủ thứ từ sơn dầu, mầu nước, than chì, phấn tiên và vẽ táp nham từ phong cảnh, khỏa thân, chân dung. Nhưng chẳng có thiên phú, tôi tốn khá nhiều khung vải, giấy vẽ, bút mực và thì giờ mới có vài tác phẩm tạm gọi là ưng ý trong chốc lát và may mắn cũng có người mua cho. Vài người bạn hỏi bức nào ưng ý nhất? Tôi chỉ chiếc khung vải còn nguyên trinh mầu trắng đục và nói rằng đây là tác phẩm đắc ý nhất của tôi.

    Từ khi về hưu, bỏ miền Illinois gió tuyết lạnh lùng về miền Nam California hưởng chút nắng ấm tình nồng và gần con, gần cháu, tôi mất hẳn cái thú đi câu. Sông hồ ở đây rất hiếm phải đi xa cả trăm dậm mới tới mà lại còn vượt qua bao nhiêu xa lộ chằng chịt. Ra bãi biển gần hơn, nhưng cầu New Port đầy nghẹt những người. Xuống San Clemente quá xa mà chung qui cũng chỉ có vài con cá nục, thét rồi cũng chán.

    Từ nơi tôi ở xuống khu vực Tiểu Saigon tuy chẳng quá xa, nhưng xa lộ 91, 57 và 22 luôn luôn kẹt cứng. Ngay đến những ngày còn ở bên nhà,tôi gần như không có bạn thân, quen thì nhiều nhưng ít người cùng chung tâm sự hay đồng sở thích. Khi sang đến miền đất tự do này, người Việt chúng ta ở tản mác khắp nơi, người ta hầu như sống ẩn dật không tiếp súc với bên ngoài. Một số người ăn lên làm ra hay khoe nhà, khoe của, khoe con cái đỗ đạt. Người không may, mặc cảm đầy mình lúc nào cũng nghĩ tới thời vàng son khi trước. Nói chuyện với những người này, đôi khi họ quá cực đoan, nên rất khó khăn phải lựa lời đưa đẩy mới tránh khỏi giận dỗi. Tính tôi lại ngay thẳng không biết nói theo đuôi hay nói dối. Tôi luôn luôn chủ trương thành thật với bản thân và với mọi người. Nếu phải nói những lời không thành thực chẳng thà ngậm miệng còn hơn. Từ lâu tôi đã muốn tránh những chuyện thị phi và muốn thoát ra khỏi vòng danh lợi.

    Bạn hiền không có, thú đi câu đã mất, trồng trọt cũng không còn cần thiết. Rau cỏ quê hương bán đầy ngoài chợ, đất vườn lại hẹp chỉ đủ để trồng lan. Những năm còn ở Illinois, vào mùa đông tuyết phủ đầy trời, ra ngoài dù 3-4 lớp áo vẫn còn thấy lạnh thấu xương. Tôi bắt đầu tập viết vài giòng cho bản tin hàng tháng của cộng đồng. Sau đó đến những chuyện lăng nhăng về con chuột, con ngựa cho tờ báo Xuân năm Tỵ, năm Ngọ.

    Dần dà tôi bạo gan, bạo phổi nghe theo lời khuyến khích của chú em rể gửi cho bè bạn và một vài tờ báo. May mắn thay họ đang thiếu bài, cho nên cũng đăng giúp. Một vài bài được nhà xuất bản góp chung với một số người khác in thành sách. Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến nửa đùa nửa thật, xui tôi đi kiện. Văn như Siêu, như Quát có lẽ nên nghe, nên kiện. Còn văn như tôi, được người ta đăng cho là phúc bẩy mươi đời rồi, kiện cáo làm chi cho mệt.

    Thực ra tôi chơi hoa lan, vẽ nhăng, viết bậy chủ ý tìm một thứ giải khuây cho chính mình. Mỗi năm vài lượt mang tranh, mang lan đi triển lãm, chẳng qua tôi chỉ muốn mang lại niềm vui cho người thưởng ngoạn còn hơn để cho tranh bị đóng bụi hay để bông hoa trân quý của mình héo tàn ở góc vườn. Từ ngày về hưu tôi chỉ vẽ hoa lan, chim, cá cho đỡ phải mất công tìm kiếm chủ đề, bố cục. Vẽ là tự để thỏa mãn chính mình trước đã, hay nói cách khác là mượn mầu sắc đường nét nói lên những gì mình yêu thích. Vợ tôi, một nhà phê bình thưng trực vẫn bảo tôi rằng: Ông phải vẽ cho nhiều mầu sắc và nhiều hoa hơn chứ vẽ như vậy ai thèm mua. Tôi nghe mãi một câu xanh rờn đó, đành phải giãi bầy là tôi vẽ cho chính tôi, ai thích tôi xin cám ơn còn nếu không tôi sẽ xóa đi vẽ lại.

    Viết cũng vậy, tôi muốn viết để nói lên tiếng lòng chân thật của mình trên trang giấy, để giãi bầy tâm sự, để ghi lại những kỷ niệm xa xưa. Viết để kể lại những gì tan nát, đau thương đã xẩy ra cho quê hương, đất nước và dân tộc khốn khổ của mình.Viết để cho quên nỗi buồn xa nơi cố quận, viết để cho khỏi quên tiếng Việt.

    Năm 1982, khi đợt đầu tiên được gọi đi thi quốc tịch, nhiều người hỏi tôi nghĩ gì về việc này. Tôi trả lời vấn đề chính là ở trong lòng chúng ta. Nếu còn nghĩ đến quê hương, đất nước thì dù cho có mang quốc tịch gì đi chăng nữa, chúng ta vẫn là chúng ta. Cũng vì vậy, tôi cố gắng viết lăng nhăng từ chuyện này sang chuyện nọ để luôn luôn nhắc nhở mình vẫn còn là người Việt.

    Tôi tự biết mình tài hèn, sức mọn, nhưng muốn có một chút cống hiến nho nhỏ cho những người thừa thì giờ xem hoa, ngắm tranh và đọc những bài lẩm cẩm của tôi.

    Nhưng còn lời khuyến cáo là phải hòa hợp vời người phối ngẫu tôi thấy còn khó hơn chuyện mò kim đáy biển.

    Trời sinh ra con người, dù cho anh em cùng một cha mẹ nhưng tính nết mỗi người một khác. Mười đầu ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn nữa là. Tôi và vợ tôi hoàn toàn khác biệt. Tôi thích đi đây đi đó, vợ tôi không cho đâu bằng ở nhà. Tính tôi là tính nhà binh quen ăn to, nói lớn, vợ tôi nhỏ nhẹ dịu dàng. Tôi thì chuyện gì cũng phiên phiến cho qua nhưng vợ tôi cẩn thận từng li từng tí sợ mất lòng người này, người khác. Ngay cả chuyện ăn uống, chúng tôi cũng trái ngược. Vợ tôi thích món ăn nấu nhừ, tôi lại ưa tái sống. Thịt gà, vợ tôi ưa lườn, còn tôi không thể nào nuốt nổi cái thứ vừa vô vị vừa bã như rơm sơ. Thịt bò tôi ưa vè dòn, nạm sụn hay gân sách chứ không bao giờ đụng đũa đến những miếng thịt nạc khô khan.

    Tuy tính nết khác biệt, sở thích lại không cùng, nhưng chúng tôi tôn trọng lẫn nhau. Có nhiều khi chúng tôi bất đồng ý kiến, nhưng vợ tôi biết nhường nhịn và chúng tôi không bao giờ để những chuyện nhỏ ở trong lòng biến thành chuyện lớn.

    Chúng tôi đã 55 năm ăn ở với nhau, chia sẻ biết bao nhiêu lần gian nan, hoạn nạn, sống chết gần kề. Tình đã thêm sâu, nghĩa càng thêm nặng, chúng tôi chịu đựng lẫn nhau và gần như quen thuộc với cá tính trái ngược của nhau.

    Sự hòa hợp của chúng tôi cũng giống như chuyện ông anh họ. Ông này trước khi lấy vợ tuyên bố là chúa ghét, xin lỗi quý vị, cái mùi ở nách đưa ra. Nhưng lại vớ phải bà vợ có làn hương xạ nồng nàn này. Mấy tháng sau chúng tôi hỏi đùa, ông tỉnh bơ trả lời rằng bây giờ đã nghiện mùi đó, nếu không có nó không sao ngủ nổi.

  5. #35
    Biệt Thự Dung's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Location
    A, A
    Posts
    1,207
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post
    Tuổi Đã Về Chiều
    i.
    Em tuổi 54 , hết 2 năm bị què và dịch Covid đọc xong bài viết nghe thấm thía , chạnh lòng đau!

  6. #36
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    24,752
    Quote Originally Posted by chieclavotinh
    Già dịch, đồng nghĩa với già không nên nết hay già còn chơi trống bỏi để chỉ mấy ông già chưa chịu mình là già.
    Hiện tại già mắc dịch thì lành ít dữ nhiều, nôm na là chuẩn bị tiền đi điếu.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

 

 

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 07:26 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2021 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh