Register
Page 7 of 7 FirstFirst ... 567
Results 61 to 70 of 70
  1. #61
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2015
    Posts
    158

    • Hành trình đi tìm Nursing Home - Heather Pham

      Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019















      Mình làm POA (Power of Attorney) cho một người bạn, tháng trước bệnh viện chuyển bạn qua Rehab, nhưng vì không còn chỗ nên Case Manager gợi ý là chuyển tới NH (Nursing Home-Rehab), mình có hỏi bạn để mình kiếm NH tốt, bạn nói không sao vì Social worker nói mấy chỗ NH chung Rehab thường tốt hơn, và hứa sẽ kiếm một chỗ tốt cho bạn, gần bệnh viện, để tiện việc đi lại.


      Giải thích cho bạn NH, con quạ nào cũng đen như nhau, chẳng qua nó biết che hay không thôi. Bạn nói thấy mình bận rộn, với lại bạn biết tiếng Anh và còn tỉnh táo chắc không ai dám ăn hiếp bạn. Với lại sau này trước sau cũng vào NH ở, nên coi như trải nghiệm.
      <!>
      2 ngày sau mình vào thăm bạn, bạn nửa thức nửa ngủ, lờ đờ, Nurse nói bạn ngủ suốt, thường ngày bạn mình là người mất ngủ thường xuyên, mới đầu nghĩ là từ bệnh viện qua, rồi nhiều thuốc mới, có thể chưa quen và mệt. Mình yêu cầu coi list những thuốc bạn đã uống, họ cho tối đa PRN (thuốc yêu cầu khi cần) thuốc ngủ, bạn nói không hề yêu cầu thuốc ngủ, trong khi Nurse một mực nói có.

      Trước khi đi mình có chụp hình xung quanh phòng. Hai ngày sau quay lại, rác vẫn chưa đổ, gọi charge nurse complaint, họ đổ thừa là 2 loại rác, house keeping tưởng là rác y tế nên không dọn.

      Đồ ăn thì khỏi phải nói, 90% món ăn là đồ hộp hoặc đông đá, thịt gà cứng và khô, rau green bean thì mặn chát, tụi nhà bếp còn cắt luôn khẩu phần sữa, lại phải đi cãi lộn, mình biết tỏng là tụi nó giấu sữa Ensure đem về.

      Ngày sau nữa đến, Nurse quên làm wound care, trời ạ, vết thương cần thay băng mỗi ngày 2 lần. Thuốc thì một số prepack trong bịch nhỏ, tụi nó cứ ngắt ra mà không cần coi lại, vì dạng thuốc đóng gói sẵn nên chuyện sai sót thuốc dư thiếu là chuyện bình thường, nhưng nurse không hề kiểm tra lại, thuốc huyết áp mém chút uống gấp đôi. Nói bạn uống phải coi chừng, bạn vì quá đau nhức và không đủ sức khỏe nên cũng không lên tiếng.
      Mình biết bạn bị cho uống thêm thuốc ngủ mà không làm gì được.

      Đỉnh điểm là khi Nurse Aid đưa cho bạn mình nước, gọi call light cách đó 3 hrs, khi ngửi có mùi rất khó chịu, mình nói sao đưa nước lấy trong rest room hả, she chối. Mình nói giờ she viết giấy xác nhận, mình sẽ gọi State, police liền, đem nước đi phòng lab, coi có phải neglected patient không, she hoảng hồn nói chắc nhà bếp đưa nhầm, xin lỗi rối rít.

      Họ nói có transportation riêng đưa đón người trong đó, mình chứng kiến bà làm front desk kiêm tài xế đưa người đi, ai dè lúc đưa người ra khỏi xe, wheelchair bị vướng, ông lão bị lăn cù mèo té không đứng lên được, vì không có kinh nghiệm transfer người, bả mặc váy lùng phùng, quay ông già vòng vòng bầm dập, mình chạy vào gọi người ra giúp. Mình chắc chắn là gia đình họ sẽ không hề biết chuyện này.

      Ở NH nên đem đồ nhà càng nhiều càng tốt, thí dụ nước uống, bộ trải giường, hay khăn mặt trước đó họ chùi cái gì thì có trời biết được. Bạn mình thì cứ nói kệ, cho qua đi, bạn chịu khó để ý là được. Ngồi một chút tiếng người già la hét, khóc lóc, tiếng mấy cô nhân viên cũng la hét, mùi hôi khai không thể nào chịu nổi. Mình thừa biết, State muốn kiểm tra, khi qua được cửa thì mọi việc đã khác.

      Mình gọi phone cho Bác sĩ nói xin chuyển him đi chỗ khác, lần này mình tìm được NH khác, với rating khá cao, có RN, BSN chứ không phải LPN (*), phòng ốc sạch sẽ không hôi khai. Giường tối tân có gắn sensor, mỗi 2hr sẽ gọi vào beeper có người vào coi chừng, turn, thực đơn thì tương đối phong phú, có chef nấu.
      Nói chung mọi thứ vô cùng yên tâm.

      Sau 2 ngày thăm bạn, bạn than đau nhức quá, bị muscle spasm liên tục, tự nhiên mình nghi ngờ he bị withdrawal thuốc, hỏi có uống thuốc giảm đau không, he nói có, mình chờ đúng giờ gọi đưa thuốc, nói bạn nhìn kỹ viên thuốc tối nay coi nó đưa đúng thuốc không, y chang nó đổi thuốc thay thuốc Hydrocodone giảm đau loại mạnh, bằng Tylenol, mình lại làm người xấu đi complaint Nurse cãi nói viên đó không phải, sau đó thì mọi việc yên ổn, không còn bị uống thuốc dzỏm. (Tình trạng Nurse ăn cắp thuốc rất phổ biến ở NH)

      Nurse ở đây làm việc máy móc, computer bị lỗi software, không hiện thông báo, là có khi không cho thuốc antibiotics (through IV) bạn mình phải setup alarm để nhắc.

      Chuyện cái giường hiện đại, cứ 2hrs bất kể ngủ hay không CNA cứ đè bạn mình ra turn trái phải ������ làm 2 đêm đầu mất ngủ. He kể con nhỏ CNA mới đầu thấy him người VN tưởng không biết tiếng Anh, nên vừa ôm phone 8 vừa giúp him, bạn hỏi mày nói chuyện với tao hả, nó nói tưởng bạn mình không biết Anh, sau đó ôm phone xí xố ngôn ngữ khác.

      Mình kêu bạn thu âm gửi mình, nhờ cả đám coworker nghe là tiếng nước nào, sau khi biết là Creole nhờ coworker dịch, bả không dám dịch, nói tục quá. Mình nói cứ dịch, hôm sau lai chạy lên nữa gặp Nurse Manager, Social Worker, Administrator nói chuyện, họ tưởng mình là dân làm tiền chuyên nghiệp, kiểu như giả vờ bị abuse neglected rồi giả vờ đòi đi kiện, để được ăn ở free, hay hù dọa kiếm tiền. Bả offer này nọ, mắc cười chết luôn. Mình nói tôi từng làm việc nên biết, chỉ cần take care tốt cho bạn thôi.

      Thời gian 3 tuần cũng qua, bạn mình nói đâu ngờ Nursing Home kinh khủng vậy, mặc dù nghe mình nói rất nhiều chuyện, cứ nghĩ biết tiếng Anh, biết luật là không ai ăn hiếp, mình nói tụi nó rành mọi kẽ hở, lơ mơ là mình không làm gì được.

      Phải nói thêm là mỗi Nursing Home mình vào thăm, vài ba ngày lại đem hộp bánh, hộp kẹo vào, coi như vừa ủy lạo tinh thần, mình biết công việc NH không dễ dàng chút nào, và cũng ngầm ý, bạn tôi có người nhà.

      Mình suy nghĩ rất nhiều trước khi viết bài này. Là một người từng làm Nursing Home, Hospice, Bệnh viện, mình biết người nhà luôn phải tôn trọng, hòa nhã,với nhân viên, cũng là viec bình thường trong giao tiếp. Những ai đã gặp mình ở ngoài biết mình hiền khô à ������ Nhưng nhiều khi cũng nổi điên luôn.

      Dù biết mỗi nhà mỗi cảnh. Nếu bạn thật lòng yêu thương cha mẹ và người thân, xin đừng đem họ vào Nursing Home!

      (*) BSN= The Bachelor of Science in Nursing cao hơn RN= Registered Nurse, cao hơn LPN= Licensed Practical Nurse.

      (NH không phải cái nào cũng như nhau, cũng như ở đâu cũng có người tốt và người xấu.Nếu như không có sự chọn lựa phải vào NH, mình cũng hy vọng anh/chị tìm được một nơi tốt. Bài viết là kinh nghiệm bản thân, không thể dùng làm thước đo cho hệ thống NH ở Mỹ) như không có
      sự chọn lựa phải vào NH, mình cũng hy vọng anh/chị tìm được một nơi tốt. Bài viết là kinh nghiệm bản thân, không thể dùng làm thước đo cho hệ thống NH ở Mỹ)














    ******************

    “Nhà Tù không Đóng Cửa” …

    Sống ở Mỹ khá lâu nên tôi ít nhiều cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của người Mỹ nên không có ý định nhờ vả con cái khi tuổi về chiều. Một ngày nào đó khi thấy mình không còn khả năng để tự lo cho mình được nữa tôi sẽ vào sống trong các “Boarding care” để có người chăm sóc, nếu tệ hơn sẽ được hưởng những phúc lợi dành cho người cao niên và được bảo vệ bởi hệ thống an ninh xã hội Mỹ.

    Ở Mỹ có “Nursing Home” được trang bị đầy đủ phương tiện, kỹ thuật và nhân sự chuyên môn để chăm sóc những người không còn khả năng tự lo cho mình, có “Hospice Service” chăm sóc vật chất lẫn tinh thần cho các bịnh nhân không thể sống hơn sáu tháng, giúp họ ra đi trong yên bình và giúp gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.

    Nhưng tư tưởng lạc quan nầy đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi thật sự đối diện với tử thần và nếm mùi bịnh viện sau khi trải qua một cơn bạo bịnh phải nhập viện trong 10 ngày. Tuy đã được thoát chết, vết thương mổ xẻ đã lành, nhưng những đau đớn về thể xác và vết thương tâm thần mà bịnh viện để lại vẫn còn hằn sâu trong ký ức không bao giờ lành. Từ đấy tôi bắt đầu thấy sợ bịnh viện, sợ luôn cả nursing home vì đây chẳng qua chỉ là một hình thức khác của bịnh viện, bịnh viện của người già.

    Từ tâm trạng sợ hãi nầy tôi liên tưởng đến 4 năm hãi hùng mà nhạc mẫu tôi phải trải qua trong nursing home trước khi bà mất. Từ đấy những quảng cáo đẹp về nursing home với hình ảnh những cụ già vui chơi hạnh phúc được thay thế bằng những hình ảnh đau khổ của nhạc mẫu tôi và của những cụ già ngồi xe lăn ủ rủ, nghiêng ngả, cong queo, nhễu nhão, những gương mặt mếu máo, những ánh mắt vô thần.

    Chúng tôi may mắn được sống chung với cha mẹ vợ vì bà xã tôi là con gái út. Lúc còn khỏe ông bà nhạc của tôi quán xuyến hết mọi chuyên trong nhà để vợ chồng tôi được rảnh tay lo chuyện ngoài xã hội. Hai con tôi gần gũi với ông bà ngoại nhiều hơn với cha mẹ chúng. Đi học về vừa đến cổng nhà là đã réo gọi ông bà ngoại. Tuy nuôi con nhưng thật ra tôi chưa biết thay tã hay cho con bú! Kể cã tiếng Việt chúng nói đều nhờ ông bà dạy từ ngày chúng bập bẹ tập nói.
    Nhưng cuộc sống hanh phúc chấm dứt từ khi nhạc mẫu tôi ngã bịnh. Năm 78 tuổi, sau chuyến du lịch Việt Nam về, mẹ nằm suốt trong phòng, than mệt. Ngoài bịnh tiểu đường loại 2 mãn tính, mẹ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiểu, đau cột sống, ho kinh niên và sau đó khám phá ra bị ung thư phổi. Từ đấy bà ra vào bịnh viện như đi chợ. Thiếu bàn tay của mẹ, gia đình tôi rối loạn lung tung, con cái đi học trể, cơm nước thất thường, nhà cửa bề bộn. Vợ chồng tôi phải tập lại từ đầu cách quán xuyến gia đình, nuôi con, thêm nuôi mẹ già trong bịnh viện. Bố cũng yếu chỉ hụ hợ chuyện lấy thơ, đổ rác, đóng cổng là đã than mệt rồi.


    Bác sĩ ung thư khuyến cáo không nên mổ xẻ hoặc trị liệu gì cho mẹ vì ung thư đã di căn đến não. Hơn nữa tuổi mẹ đã quá cao lại bị bịnh tiểu đường nên vết mổ không lành. Hãy để cho thiên nhiên quyết định vận mệnh của mẹ. Tôi dấu nhẹm lời bác sĩ bảo rằng mẹ chỉ sống tối đa là sáu tháng. Mẹ được cho về nhà với lời khuyên “thích ăn cái gì cho bà ăn cái nấy”. Nhưng “Còn nước còn tát” chúng tôi không chịu thua, chạy chửa bịnh cho mẹ bằng thuốc nam. Ai bày thuốc gì ở đâu tôi cũng tìm cho được. Khi lái xe mắt tôi cũng láo liên nhìn bên lề đường, dọc theo các hàng rào tìm cây cỏ “Dendelion” để hái lá cho mẹ ăn. Nghe nhà ai có cây nha đam chúng tôi cũng tìm đến xin hay mua cho bằng được. Bã xã tôi cầu nguyện cho mẹ hàng ngày không xao lãng.

    Như được một phép nhiệm mầu, bịnh ung thư của mẹ tôi thuyên giảm dần dần và sau mấy tháng khối u trong phổi tự nhiên biến mất. Bác sĩ gia đình rất vui bảo “đừng thắc mắc, hảy cứ tin là như vây đi”. Nhạc mẫu tôi thì tin là mình đã hết bịnh thật, còn vợ chồng tôi thì gần như kiệt lực, mong sau phép lạ sẽ kéo dài. Bịnh ung tư không thấy trở lại, nhưng bịnh đau cột sống làm mẹ đau đớn không ăn ngủ được nên sinh ra khó tính. Mẹ lại quên trước quên sau. Mẹ không còn kiểm soát được tiêu tiểu nữa nhưng nhất định không chịu mang tã. Bố cũng già mệt mõi, suốt ngày ngủ trong phòng. Ông bà lại không biết tiếng Mỹ, không dùng điện thoại, nên khi vợ chồng tôi đi làm lúc nào cũng phập phòng lo sợ.

    Bác sĩ gia đình đề nghị nên cho mẹ vào nursing home để dễ bề chăm sóc. Vợ chồng tôi đồng ý ngay nhưng gặp sự phản khán quyết liệt của nhạc mẫu tôi. Suốt đời mẹ không bao giờ xa gia đình nửa bước nói chi chuyện cách ly vĩnh viễn! Đối với mẹ, mất gia đình là mất tất cã. Chúng tôi nể mẹ nên không dám nói chuyện nursing home nữa, chỉ sợ làm mẹ buồn ảnh hưỡng đến sức khỏe.

    Nhưng sức khỏe của mẹ càng lúc càng tệ. Sau lần cấp cứu cuối cùng vì bị ngất xỉu, bác sĩ đề nghị phải đưa thẳng mẹ vào nursing home, vì theo ông, đó là cách tốt nhất để bác sĩ có thể theo dỏi bịnh tình và giữ an toàn cho mẹ.
    Ngày đầu tiên vào nursing home không ai nỡ bỏ mẹ một mình nên quấn quít bên bà cho đến tối rồi cũng phải ra về. Đó là ngày đầu tiên trong cuộc đời mẹ phải sống lẻ loi một mình bên những người xa lạ. Tôi còn nhớ rỏ gương mặt thẫn thờ của mẹ nhìn theo con cháu đang bỏ bà mà đi. Tôi không dám nhìn mẹ lâu hơn vì tôi thấy mẹ khóc, một điều rất lạ đối với nhạc mẫu tôi vốn là người đàn bà can cường và cứng rắn. Bố thấy tội nhiệp đòi mỗi ngày chở bố vào nursing home để ông chăm sóc cho mẹ. Được mấy tuần rồi tôi cũng chịu thua vì chuyện đón đưa hàng ngày thật là bất tiện. Còn nếu để bố đi xe bus nếu có chuyện gì xảy ra thì ai lo cho bố đây!

    Từ ngày Mẹ vào nursing home vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, không còn phải lo lắng như khi xưa khi bỏ mẹ ở nhà. Chúng tôi yên tâm là mẹ được theo dõi và chăm sóc 24/7. Tan sở vợ chồng tôi chở bố vào thăm mẹ, thấy mẹ sạch sẽ thơm tho, giường nệm trắng tinh, kẻ qua người lại tấp nập vui vẻ lắm. Yên tâm chúng tôi dần dần xao lãng việc thăm viếng. Cả hai cháu cũng không còn đòi đi thăm ngọai nữa, nhiều khi phải bắt chúng mới chịu đi. Chúng không thích cái mùi trong nursing home.

    Từ ngày sống trong nursing home mẹ hoàn toàn thay đổi, trở nên trầm lặng, ít nói, khác hẳn với mẹ trước đó “quậy” tưng bừng trong bịnh viện. Mẹ chịu mang tã, nằm yên trên giường, không có ý kiến chuyện chung quanh, không đòi hỏi gì, không còn than phiền đau lưng nhức gối, hay càu nhàu vì thiếu ngủ, mất ăn như lúc ở nhà. Sau nầy mới biết bà đã được cho dùng thuốc an thần và thuốc đau nhức nồng độ cao nên lúc nào bà cũng ở trạng thái lờ đờ lim dim ngủ. Có lúc tỉnh táo, mẹ chỉ nhìn qua khung cửa sổ với đôi mắt vô thần. Hỏi mẹ có đau đớn gì không, mẹ lắc đầu. Hỏi có thích ăn uống đồ ăn Việt Nam không mẹ lắc đầu, tuy tôi biết là mẹ rất ghét đồ ăn Mỹ nhất là khẩu phần cho bịnh nhân tiểu đường và cao máu nhạt nhẽo không sao nuốt nỗi. Mẹ chịu đưng, sống âm thầm không một lời than thở.

    Cho đến một hôm mẹ nắm tay nhà tôi, nước mắt rưng rưng mẹ van xin:– Mẹ muốn chết con à. Con xin người ta cho mẹ chết đi!

    Bà xã tôi sững sờ, ôm mẹ năn nỉ:– Mẹ đừng nói kỳ vậy, phải ráng lên chớ, con biết phải làm sao bây giờ?
    Rồi vợ tôi cũng khóc. Tôi chỉ đứng nhìn. “Chúng tôi biết phải làm sao bây giờ”?

    Vợ chồng tôi đều nghĩ rằng đã tìm được giải pháp tốt nhất cho mẹ rồi. Mẹ thì đã “ráng” quá nhiều, ráng đến mõi mòn, đến kiêt quệ nên muốn bỏ cuộc. Đã bốn năm dài đăng đẵng mẹ sống nơi đây như cái xác không hồn.

    Có lúc chúng tôi vào thăm mẹ vào giờ ăn trưa thấy mẹ ngồi gục đầu trên xe lăn như một em bé ngoan, mắt nhắm nghiền, đợị đến phiên mình há mồm được đút cho ăn. Mẹ không còn thiết tha gì nữa.

    Những tháng cuối cùng mẹ nằm trên giường đưa mắt nhìn con cháu, không cử động hoặc nói năng gì. Hình như có điều gì u uẩn trong lòng mà mẹ không nói được hay mẹ có tâm sự gì nhưng muốn giấu kín trong lòng.

    Một buổi sáng sớm, tôi nhận được cú điện thoại từ nursing home báo tin là mẹ chúng tôi đã mất đêm qua. Bà mất lúc nửa đêm nên không ai hay biết cho đến sáng ngày hôm sau. Bà âm thầm ra đi không một lời từ giả, không một giọt nước mắt tiển đưa. Chắc mẹ cô đơn lắm lúc trút hơi thở cuối cùng. Suốt đời mẹ lo cho chồng, cho con, cho cháu, ngày mẹ ra đi chỉ có một mình, trong cô đơn. Có ai biết rằng không phải mẹ chỉ cô đơn trong giây phút ra đi mà mẹ đã chết từ lâu rồi, kể từ ngày mẹ bước chân vào ngưởng cửa nursing home, một nhà tù không cần đóng cửa. Tôi chợt hiểu được tại sao mẹ đã khóc ngày đầu tiên đến nursing home. Ngày ấy mẹ chấp nhận bản ản tử hình không văn tự vì muốn hy sinh cho con cái. Ngày ấy Mẹ đã khóc lời vĩnh biệt các con cháu rồi.

    Chúng tôi vội vã vào nursing home vừa kịp lúc nhìn mẹ lần cuối cùng trước khi người ta phủ kín mặt mẹ với tấm trải giường màu trắng rồi mang xác mẹ đi. Mọi người đứng nhìn theo chết đứng, ngỡ ngàng, đớn đau, nhưng không ai khóc thành lời. Chúng tôi đã biết là ngày nầy sẽ đến với mẹ, và hôm nay nó đã đến.

    Cái chết của nhạc mẫu nhắc tôi nhớ lại chuyện cổ tích về chuyện người tiều phu đẩy xe chở mẹ vào rừng cho thú hoang ăn thịt vì bà đã quá già. Tôi có khác gì người tiều phu đó, đã đưa nhạc mẫu tôi vào nursing home để chết. Đến một ngày nào sẽ đến lượt con tôi chở tôi đi như vậy sao?

    Tôi lại nhớ đến chuyện con voi già biết mình sắp chết, nó âm thầm đi vào cái “nghĩa địa voi” là cái hang động cho voi đến để chết. Nó âm thầm gục chết một mình bên cạnh những đống xương voi già đã chết trước nó. Tôi chợt nghĩ nếu con người làm được như con voi già thì con cháu không phải cực khổ vì cha mẹ già, không phải khổ tâm vì mặc cảm là đã làm một hành động bất nhân, bất hiếu, như tâm trạng hối hận của tôi bây giờ đối với nhạc mẫu của tôi.

    Nursing home. Cái trạm cuối của cuộc đời mấy ai tránh khỏi!

    Bạn đã chọn cho mình cách đến chưa?

    (source from Chú Chín Cali)







    Một Ngày Với Tuổi Trăm Năm

    (04/12/2013) Tác giả : Cao Đắc Vinh

    Tác giả là một kỹ sư hồi hưu, đã sống 25 năm bên Pháp, 25 năm ở Mỹ, hiện cư ngụ tại Irvine cùng gia đình. Sau đây là bài viết về nước Mỹ thứ tư của ông.

    Bố tôi là cụ già đang sống trên tuổi trăm năm.

    Cụ bình an ở cõi trần 103 năm tính đến năm nay Quý Tỵ 2013. Con số tuổi thọ của Cụ tiếp tục cao giống như lời chúc mọi người thường tặng nhau mỗi khi Tết đến, xuân về.

    Bố tôi vẫn ăn được, ngủ được nên gọi Cụ là "Tiên giáng trần" theo như câu vè lưu truyền trong dân gian: "Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo..." nhưng thực tế, Cụ vẫn là "người" nên chẳng thể nào tránh khỏi cái chân lý sinh lão bệnh... của kiếp ba sinh.



    Một người già sống đến trăm tuổi nếu còn khỏe mạnh thì cũng chẳng khác cỗ xe cũ là mấy! Động cơ hao mòn, lúc chạy lúc ngừng tùy theo thời tiết nắng mưa... Bố tôi cũng đang bước qua chiếc cầu khổ đau của bệnh tật và thường hay than thân trách phận: "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!"

    Sống trăm tuổi chắc chắn bệnh tật phải xếp hàng chờ đợi, không nặng thì nhẹ... Có điều là ở đời, nếu ai may mắn ít bệnh nan y lại hay tạo ra cảnh "Nhà giầu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột". Bố tôi chẳng phải ngoại lệ!



    Mỗi khi trời buồn đổ mưa, cho dù thuốc men đầy đủ, con cái cũng vẫn nghe tiếng Cụ rên rả rích như tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái nhà! Cụ không còn đủ sức tự chế để an hưởng phúc lợi mà trời ban riêng cho mình ở tuổi "bách niên," có lẽ vì ít thấy cảnh khổ của kẻ khác nên hay bực dọc với bất cứ bất an nhỏ bé nào đến với mình.

    Quan sát tuổi già của Bố, tôi nghiệm thấy một sự thật đơn giản là con người ngoài số mệnh sẵn có, sống thọ và ít đau yếu còn nhờ vào sức mạnh miễn nhiễm của cơ thể. Qua bao chu kỳ bốn mùa, hết xuân lại vào thu với dị ứng, cảm cúm rình rập, Bố tôi chẳng lần nào chích ngừa mà vẫn khỏe, vi khuẩn vô tình xâm nhập tấm thân già ấy cũng phải tàn lụi vì hợp chất kháng thể.



    Mùa đông vừa qua, bệnh cúm hoành hành khắp các tiểu bang... Tôi đến thăm vào một buổi trưa, bàng hoàng thấy Cụ lâm trọng bệnh. Cụ ngồi ở "sofa", cặp mắt cá ươn lạc mất hồn, mê man nên không than thân như thường lệ! Ói mửa trên người, nước mũi chẩy xuống áo quần, hơi thở ngẹt vì đờm trong cổ làm cả nhà sợ hãi. Anh cả lên tiếng phiền hà em lơ đãng quên chích ngừa cho Bố, em trách anh biết lo xa, thế mà lơ là chẳng giúp? Bác sĩ khám bệnh và kê thuốc ho qua loa, ngạc nhiên chỉ một tuần sau, Cụ bình phục rồi những lúc sảng khoái lại líu lo như chim xuân đang về.

    Rượu mạnh Cognac, Whisky... hết còn thích hợp với sức khỏe của Cụ nhưng thỉnh thoảng ăn miếng thịt bò cơm Tây hay "seafood" cơm Tầu thì vẫn nhâm nhi một ly vang đỏ. Bạn bè Cụ đa số đã ra người thiên cổ chỉ còn vài ông bạn già tuổi kém gần thập niên hay một con giáp. Ở tiệm ăn, có người nhận ra Cụ, vui mừng đến chào hỏi nhưng bẽ bàng vì Cụ dửng dưng không còn nhớ kỷ niệm nào với họ...

    Tiên sinh Tú Xương một thời đã than, "Một trà, một rượu, một đàn bà. Ba cái lăng nhăng nó quấy ta! Bỏ được thứ nào hay thứ đó..." Bố tôi thì chẳng muốn bỏ thứ nào cả nhưng hoàn cảnh ở Mỹ bây giờ hấp dẫn chỉ còn mỗi mục "trà" nên đành phải lấy cà phê, thuốc lá làm thú giải khuây.



    Ngồi buồn một mình, Cụ đốt liên tu bất tận, một ngày một bao thuốc như chơi và phân trần khói thuốc hút vào lại thổi ra như còi tầu, có nuốt vào phổi đâu mà sợ độc hại? Nếu tôi cắt nghĩa về ảnh hưởng của khói thuốc đối với con cháu trong nhà thì Cụ nghĩ tôi gây chuyện làm khó rồi lẳng lặng vào phòng đóng cửa hút, khói bay mù mịt.


    Cụ uống cà phê đen có đường thay nước! Mỗi ngày hai ba lần, tôi pha từng đợt để giữ mùi thơm và độ nóng rồi mang ra "patio" chỗ Cụ ngồi cùng với vài điếu thuốc lá. Hút xong là hết cho ngày hôm đó, mục đích hạn chế liều lượng và kiểm soát Cụ thì mới yên ổn sống chung được...

    Bữa ăn ngon lành nhất của Cụ là "phở gà phao câu" hay "hủ tiú sa tế". Ăn "steak" thì có Norm s Restaurant trên đại lộ Beach nhưng phải chờ thứ sáu đặc biệt có món súp "clam chowder" mà Cụ thích! Nói chung, Cụ chỉ chuộng những món thuộc loại "kinh dị" chẳng hạn sa tế có nước dừa kẻ thù của cao mỡ, "clam chowder" có "cream" mà người Mỹ thường phải bỏ bớt % "fat" và cuối cùng là cái của quý "nhất phao câu nhì đầu cánh" vì cục mỡ vàng ở đuôi con gà... Hôm nay Cụ đã ăn món này thì mai ăn món kia. Đi không vững, phải dìu từng bước nhưng tính thích đi chơi nên nếu biết sẽ được đến những nơi ấy thì bỗng nhiên Cụ trở thành "em bé" dễ bảo. Do đó tôi thường dùng "chiêu" này để "dụ" Cụ đi tắm, thay tã và quần áo vào buổi sáng đến chăm sóc.

    "Cơm hàng, cháo chợ" ăn quen đến nỗi, vừa đến cửa tiệm phở Quang Trung hay hủ tiếu Triều Châu là đã nghe mấy cô cậu làm việc ở đấy kháo nhau ầm ĩ khi hai cha con tôi khập khiễng bước vào: "Bố đến! Phao câu bánh tươi hành trần..." Những người trẻ ấy, lứa tuổi cháu chắt của Cụ nhưng sống bên Mỹ lâu năm, ít nhiều đã quên phép tắc thưa gởi đúng đắn nên chúng tôi chỉ biết cười xòa, miễn sao vui cửa vui nhà và nếu vui cả bà con cửa tiệm thì... càng vui hơn.

    Hôm nào ngon miệng, Cụ có thể ăn hết tô phở nhỏ, tay cầm từng miếng phao câu da vàng mỡ, nhai chậm rãi rồi lọc ra cục xương nhỏ, cả thẩy là 7, 8 cái "đít" gà... có khi bùi béo quá, vô ý Bố rớt cả hàm răng giả ra ngoài! Tôi nhìn quanh, lo cho những người ngồi gần bàn mình, thấy cảnh ít thẩm mỹ này sợ họ ăn mất ngon nhưng chẳng ai để ý và phiền trách một cụ già. Biết Bố còn thích ăn tiệm nên buổi trưa nào gặp nhau, dù có vất vả tôi cũng coi như bổn phận, vui vẻ dắt Cụ cùng đi.

    Tuổi già xương yếu, đi đứng khó khăn nên Cụ ngồi nhiều sinh ra chứng bệnh táo bón. Cằn nhằn mãi mà vẫn chưa tiêu, uống 2 viên thuốc nhuận tràng "Bisacodyl" không thấm, tự động Cụ lấy thêm 3 viên nữa... Kết quả là tiêu chẩy tung tóe từ phòng vệ sinh đến phòng ngủ và mấy chị em tôi phải giặt giũ, dọn dẹp nửa ngày chưa xong!

    Mặc dù phải dắt Cụ từng bước vì lỡ té ngã thì khổ cả nhà nhưng mỗi khi thấy quý bà đến gần hỏi thăm là Cụ tự ý chống gậy đứng một mình, tay đút túi quần ra cái điều vẫn "ngon lành", còn "gân", độc lập, tự chủ không cần ai. Trò chuyện qua loa, các bà thường hay ban tiếng khen vô thưởng vô phạt, Bố tôi tức thì nhăn mặt đáp lễ với lời than thở: "Dạo này, yếu lắm không khỏe!". Tuổi già đau nhức kinh niên, "ỉ ôi" mong đợi sự cảm thông chia sẻ của quý bà.

    Chuyện "lấy le" nhỏ như "con thỏ" ấy đôi khi thành to trên đường phố xứ người, gây ra nhiều hiểu lầm với dân Mỹ sẵn bản tính trọng đãi người già!



    Ở những chốn ăn chơi như Las Vegas, Big Bear... Cụ muốn chống gậy khập khiễng đi một mình một phố, "complet" "cravate" đầy đủ chỉ cần phong độ và dáng dấp "ngầu" thuở xưa nữa là xong!


    Cứ "lê" một bước, Cụ lại đứng nhìn... Tôi cũng phải "lết" theo Cụ canh chừng. Mỗi lần thấy Cụ chậm chạp quá! Tội nghiệp tôi lại gần khoác tay, dắt Bố để cha con cùng đi bên nhau thủ thỉ cho ngày dài thêm ý nghĩa thì Cụ đuổi thẳng thừng: "Đi, đi! Cứ đi trước đi! Ông để mặc tôi..." nhưng đi trước là đi đâu? Thành ra hai cha con cứ đứng giữa đường, kẻ trước người sau ngơ ngác lo cho nhau như đang diễn tuồng!


    Khách bộ hành không quen cảnh tượng ấy, ái ngại nhìn hai người như muốn hỏi: "Whats going on?".
    Cuối cùng, có ông Mỹ cả nể đến gần hỏi han thì Cụ "nể cả" với nụ cười "ngoại giao" ròn tan, lịch sự líu lo "xổ" tiếng "Phú lang xa" và lẽ dĩ nhiên, tiếng Mỹ tiếng Pháp loạn xạ, chẳng ai hiểu ai rồi ngượng ngùng "Oui Monsieur", "Bye Bye" đường ai nấy đi! Lúc đó, tôi chỉ thấy chán nản vì bất lực... Bố con đi chơi chẳng vui mà như mắc nợ, hành tội nhau khổ sở.

    Tính tình như thế nên Cụ không bao giờ thích ngồi xe lăn, lần nào mang xe đi cũng lại vác về ngoại trừ những chuyến đi chơi xa, miễn cưỡng chẳng đặng đừng, Cụ mới chịu "lép vế" an tọa, chờ người đẩy.

    "Bách niên" sống lão thì nhân sinh lại quay về điểm khởi đầu nên thân già co cụm trong tâm hồn trẻ thơ là chuyện thường tình. Trời cho Cụ bản chất lạc quan, sức khỏe đặc biệt hơn người cho nên cản trở lớn nhất của Bố tôi đối với gia đình là tính kiêu căng vẫn còn sót ở tuổi già đang quay lại thời "tuổi thơ": giỏi nhất, kinh nghiệm nhất, thông minh nhất, đội đá vá trời... chỉ vì cái tự cao "chủ nghĩa" lẩm cẩm. Bề ngoài giao tế tỏ vẻ "trịch thượng" nhưng nếu tự vấn lòng, khó ai biết sự thật Cụ nghĩ gì?



    Ai lỡ yêu thương, vồn vã chăm sóc thì Cụ làm cao, "ăn hiếp" đến "tắt thở" rồi cuối cùng phải dùng đến "đòn phép" mới được yên thân và ngược lại, đứa con nào thờ ơ, không để ý đến Cụ cũng phải nghe phiền trách mỗi khi giáp mặt.

    Bên cạnh Bố, tôi thường nghe Cụ than, "Lạ nhỉ! Suốt đời, tôi có ăn ở tệ bạc với ai đâu mà chúng nó đối xử như người dưng nước lã..." nhưng thực tế, từng ấy người con mỗi đứa một tính giống như bàn tay có ngón dài ngón ngắn. Cụ nghĩ đến "ngón ngắn" vì "thiếu thốn" nên ưu tiên lưu ý đứa "ghét" Cụ hoặc chẳng may bị Cụ ghét, còn đứa thương ví như "ngón dài" đã "đầy đủ" thì Cụ thờ ơ, ít để tâm suy nghĩ. Nói cho cùng, nếu ai lỡ "ghét" cũng do tính tình khó khăn của Cụ vì mỗi lúc không đúng ý là Cụ la mắng và giận hờn nên đa số chán nản, tránh xa phiền muộn do Cụ gây nên để tìm sự bình yên cho riêng mình.

    Bố tôi tuổi Thân đã qua hơn 8 lần con giáp! Theo tử vi, bản tính tự cao, tự đại một phần do cái số cầm tinh con khỉ (?). Xin lỗi người tuổi Thân... Tôi nêu ý nghĩ ấy bởi vì đôi lần muốn tìm lại một nơi chốn cũ, Cụ ngồi trên xe vẫn dõng dạc chỉ đường cho tôi nhưng đường nào thì cũng chỉ là bánh vẽ của một ký ức "mù mịt khói sương"...

    - "Đi lối này gần! Ông đi lối kia vòng co tam quốc, mất thì giờ chẳng ăn thua mẹ gì, chán quá! Cứ theo tôi. Đấy đấy..." Nghe theo cái "GPS" "cảm tính" kém chính xác của Bố, lái xe quẹo Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc loạn xạ cho nên lần nào xe cũng từ từ đi vào ngõ cụt... Đến khi bí quá thì lại nghe Cụ "phán":

    - "Quái lạ! Bây giờ nó sửa đường và xây cao ốc tối tân không còn nhận ra ất giáp gì nữa cả?".

    Nhiều lúc tôi phát điên, trả lời Cụ:

    - "Bố ơi! Nhà mình có phước hay vô phước hả Bố? Người ta nói: con hơn cha là nhà có phúc mà Bố cứ nhất định đòi giỏi hơn con thì gia đình mình đến thời mạt rệp... à?"

    Tuy nói thế, nhưng tôi hiểu mọi sự trên đời đều là hình ảnh một đồng tiền hai mặt, úp và ngửa, có trái thì có phải, cái "phải" nằm sẵn trong cái "trái"... Dù tuổi già "ba hoa", Cụ đã tạo chút không khí ngang ngạnh đáng tiếc nhưng xét kỹ... lại vui vì đó chính là giờ phút hạnh phúc mỗi lúc Bố con gặp nhau. Cụ khỏe mới đi chơi, thể lực mạnh mới xông xáo bầy tỏ đôi ba chuyện "hoang tưởng" vu vơ! So sánh còn thấy hạnh phúc hơn nhiều những lần khác, ốm đau Cụ nằm một chỗ, co rúm im lìm trên giường thì gia đình còn khổ và lo âu đến chừng nào!

    Tính tình Bố tôi ở tuổi này thay đổi từng giờ, đang vui đã giận và chưa giận đã cười. Vì thế sống gần Cụ, nên hiểu tâm trạng ấy và đừng để "stress" họa vào thân. Đó là kinh nghiệm đáng ghi nhớ của tôi vì lúc đầu chưa biết rõ hoàn cảnh, tôi đã trải qua giai đoạn thật vất vả lao đao!

    Dù sao, cảnh đời cô đơn của Bố cũng rất đáng thương! Mọi sinh hoạt như ngừng lại từ lúc các bạn cố tri lần lượt ra đi và Cụ tiếp tục sống trong tuổi già quên lãng. Ngày ngày, tuy có người trông coi nhưng Cụ vẫn thân một mình, ngồi tự vấn sự đời vẩn vơ... Chờ đợi mòn mỏi đứa con nào đoái thương thân già, thăm hỏi rồi dắt đi ăn uống là một ngày vui ngắn ngủi vì dưới mắt Cụ thời gian hội ngộ luôn qua nhanh. Giờ phút chia tay lần nào cũng nghẹn ngào!



    Tôi thường phải nói dối Cụ đi làm "ca" đêm để về với vợ con và lại nghe câu hỏi quen thuộc: "Mấy giờ về... để tôi đợi?". Bố hẹn con tái ngộ ngày mai nhưng ngày mai nào ai biết sẽ đến hay không? Chẳng may có thể là lần cuối (?)! Hai Bố con lặng nhìn nhau lưu luyến như bóng chiều ngập ngừng sắp trôi vào giữa bóng đêm...

    Ý thức ngày vĩnh biệt không tránh khỏi nên mấy năm gần đây, tôi đã thu gọn đời sống để tận hưởng niềm vui mong manh bên cạnh người Bố già. Tự nhủ lòng những ngày vui qua mau và giây phút cuối đang đến gần! Cố gắng sống trọn yêu thương với đạo lý hôm nay để lòng thản nhiên trước cảnh tử biệt sinh ly ngày mai... Nếu phải nghìn trùng xa cách từ đây, Bố con sẽ nhìn nhau "an phận" không tiếc nuối như ngày tiễn Mẹ ra đi.

    Giống tôi lúc xưa còn bé, đi đâu bây giờ Bố cũng muốn theo vì cuộc đời Cụ cô đơn, lẻ loi và chẳng còn nhiều ý nghĩa! Kỷ niệm những mùa hè, Bố và tôi sống bên nhau trong ngôi nhà miền núi giữa đồi thông... Quên sao được con đường chiều dạo quanh bờ hồ Big Bear, chúng tôi dìu nhau đi giữa cảnh hoàng hôn, mặt hồ chiếu rọi tất cả bầu trời nắng quái vàng cam mang chung ý nghĩa về tính vô thường của một kiếp người: mới hôm nao Bố giúp con vào đời thế mà hôm nay, cả hai đã già cùng sống trong một thành phố xa lạ miền cao nguyên, ảm đạm chẳng khác gì cảnh chiều tắt nắng trên mặt hồ...

    Những nơi chúng tôi đã đi qua, khách thập phương thường tỏ sự ngạc nhiên về Cụ. Người Mỹ, người Pháp, Nhật, Đại Hàn... đều ngừng lại thăm hỏi và ngưỡng mộ về lối sống của Bố tôi vì ít ai ở tuổi "bách niên" mà còn lom khom đi lại, ăn uống trên đường phố ở chốn phồn hoa đô hội. Ngày nào, nếu Quý vị thấy một cụ già chống gậy, lưng còng, nắm tay một người trẻ đi vào một nhà hàng trên đại lộ Bolsa thì nhiều phần chính là Bố tôi đó. "Sau này... sẽ nhớ mãi những giờ phút này!" Đó là lời bà Bùi Bích Hà, một nhà tư vấn tâm lý nổi tiếng của Việt Nam nói với tôi đã lâu.

    Sống với Cụ thân sinh thọ trăm tuổi, tôi lĩnh hội được nhiều điều hay để biết ơn và sửa đổi. Sinh ra vào đầu thế kỷ 20 nên nhân sinh quan của Cụ nhiều phần khác với thời đại hôm nay chẳng hạn quan điểm về hôn nhân, dân chủ hay câu nói "nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản" đối với gia đình, xã hội... Đã là người thì "nhân vô thập toàn" sẵn mang những khuyết điểm, đáng quý là biết nhận ra mà tránh được.



    Cha con sinh ra cùng một dòng giống nên bản chất hay tính tình là cái di sản "đồng lần"... Sống bên cạnh Bố, tôi thường suy tư vai trò làm cha đối với các con tôi để tự sửa đổi chẳng hạn tính nóng giận, lạc quan vô cớ và cố quên cái "ta" chấp ngã... Tôi cảm ơn người di truyền sang gia đình tôi cái "gen" khỏe mạnh "vượt thời gian và không gian", lòng trắc ẩn, tính vị tha mau quên và một tâm hồn nghệ sĩ nặng tình dân tộc...

    Suy ngẫm chân lý của người xưa: "Anh em kiến giả nhất phận" đến khi sống chung với các đấng sinh thành trời cho tuổi thọ, chúng ta còn nhận rõ một sự thật không mấy vẻ vang!

    Anh chị em một nhà khi khôn lớn, tình nghĩa đổi thay bất ngờ...
    Với cha mẹ già cần chăm sóc là một nhiệm vụ, vừa thiêng liêng vừa khó khăn nên câu ca dao "Thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người thực hư" đã giúp hiểu rõ tính nết của từng người: có anh ích kỷ, có chị lợi dụng, có em ỷ lại... hoặc người này tốt, kẻ kia xấu minh bạch như ban ngày.
    Những lời rao giảng cao đẹp chẳng hạn: đoàn kết, vị tha, công bằng bác ái... mãi mãi nằm yên trong sách vở.
    Con nào cũng yêu thương cha mẹ nhưng qua miệng lưỡi thường bầy tỏ hơn 7 lần nên khi hành động chỉ còn 3...

    Thuở mới di cư sang Mỹ, cạnh nhà tôi có ông hàng xóm tuổi trung niên khi xưa là đại úy cảnh sát. Qua lại thân thiết nên chúng tôi mời ông sang dự bữa tiệc sinh nhật đứa con đầu lòng. Tình cờ gặp bố tôi, ông nhớ đến bố ông, mừng tủi như sắp khóc rồi đứng giữa nhà bếp, trước bàn ăn đông đủ mọi người, cảm động ông phát biểu:

    - "Anh chị may mắn quá! Ráng mà hưởng phúc đức... Bố tôi nếu còn sống mà ngồi "i.." ngay giữa nhà này một bãi, tôi cũng vui sướng hốt chùi không la lối hay than phiền lời nào..."

    - "Vâng... giữa sàn "nhà" tôi (!) và chỉ "một lần" thôi nên ông nói vậy!". Nghĩ cho vui nhưng không nói ra vì tôi tin là ông đã trình bầy sự thật của lòng mình theo cảm hứng vào thời điểm đó. Tiếc thay, sự việc sẽ mất tính "cao thượng" khi thêm vào hai yếu tố: nhân bản và luận lý. Đây là trường hợp tiêu biểu "nói dễ làm khó" bởi vì nếu mỗi lúc, mỗi ngày rồi mỗi tháng bố ông "hành hạ" ông kiểu này thì ý kiến ấy sẽ không còn vững bền. Chẳng bao lâu, vài năm sau đó, tôi không biết buồn hay vui khi nghe tin ông hàng xóm đã sớm quy tiên và gặp lại bố ông ở cõi thiên đàng...

    Mỗi tuần, tôi lãnh phân vụ trông coi Bố tôi 2 buổi từ sáng đến chiều nên dù hưu trí đã 2 năm nay, tôi cũng chưa dám phác họa một chuyến du lịch xa. Hôm nay, xin ghi lại mẩu đối thoại ngắn như kỷ niệm của Bố con tôi qua câu chuyện: "Một Ngày Với Tuổi Trăm Năm".

    1.
    - Chào Bố! Con mới "đi làm" về. Bây giờ 9 giờ rưỡi sáng, Cụ ngủ dậy hôm nay có khỏe không?

    - Khỏe cái gì mà khỏe cơ chứ! Ông không biết à? Nó bảo tôi mặc quần áo để đi Sơn Tây, ra đây ngồi đợi mãi. Nó lừa... đi mất rồi!

    - Bố ơi! Bố phải để chị ấy "đi làm" chứ! Bố cứ đòi theo thì họ phải nói dối... Nếu Bố muốn lúc nào cũng có bạn bên cạnh thì phải chấp nhận vào ở trong viện dưỡng lão thôi! Hôm nay có con ở với Bố nè...

    - Thôi thôi... đừng nói nữa, cảm ơn ông! Tôi biết các ông bà tốt với tôi lắm rồi! Cá mè một lứa... cả đám.

    2.
    - Hôm nay, Bố muốn ăn gì nào?

    - Ăn gì cũng được! Ăn cho no chứ béo bở, ngon lành gì mà cứ hỏi mãi...

    - Ok! Vậy thì bánh mì Cali hay bánh cuốn Tân Hồng Mai nào.

    - Bánh mì chỉ có ông ăn chứ tôi nhai sao được! Răng đâu mà nhai? Bánh cuốn tôi ăn rồi... khô lắm! Tôi phải có cái gì lỏng... mới dễ tiêu.

    - Thế tại sao Bố bảo ăn ở đâu cũng được? Vậy thì "phở gà phao câu" được không?

    - Đâu cũng được! Phở gà ăn ở cái tiệm cũ kia! Tôi quen ở đó... Chỗ mới bây giờ làm tồi lắm...

    - Lần trước Bố vừa khen, thế mà... lại chê rồi! Không sao... Bố muốn đi đâu mình đi đó.

    3.
    - Thôi bây giờ mình đi tắm, thay quần áo rồi Bố con đi ăn phở nhớ...

    - Tôi vừa tắm xong! Đây này, áo quần vừa thay... mới cả! Có gì mà phải thay mãi thế?

    - Mới tắm mà sao "khai" thế này? Bố không tắm thì mình không đi...

    - Ông chờ tôi nhớ! Đừng đi như "con" kia...

    - Con ở đây tắm cho Bố mà... Làm sao Bố tắm một mình được?

    - Ông cẩn thận cái áo này của tôi... nó có tiền! Vô ý là hết cả... Sơn Tây.

    - Đây! Con treo trước mặt cho Bố thấy... Không ai vào lấy... Thấy chưa? Yên tâm nhé!

    - Không ai lấy! Hừ... Mất hết cả rồi mà ông còn nói... không ai lấy! Mất trâu rồi mới lo làm chuồng... Chán quá!

    4.
    - Sao Bố ăn phở gà hôm nay có ngon và no không?

    - Ngon? Ăn mà không ngon thì ăn làm gì? Hỏi vớ vẩn, hừ... No! Đã ăn tiệm thì phải no chứ... lại còn đói à?

    - Bây giờ cà phê nhá!

    - Cà phê chứ còn gì nữa... Ông ngừng mua bao thuốc lá cái đã. Hết rồi!

    - Còn mà! Con vẫn còn nửa bao nhưng Bố chỉ hút hai điếu thôi nhé!

    - "Uẩy"! Cho bao nhiêu thì hút bấy nhiêu. Miễn có hút là được.

    - Bây giờ vào nhà con pha cà phê, ngồi ngoài "patio" uống cà phê hút thuốc. Ấy... Bố đi đâu vậy?

    - Tôi ghi số xe để ngày mai khi cần tôi "gọi" cho ông chứ nếu không lại đói... chẳng có đứa nào chở đi ăn. Viết cho tôi số... May mà có ông thương thân già này nên còn giúp đỡ tôi.

    - Bố lộn rồi! Số téléphone chứ không phải số xe. Vào nhà con ghi cho...

    5.
    - Sao Bố buồn vậy? Ngủ một giấc trưa đi... cho khỏe.

    - Tôi thấy đời vô nghĩa, không muốn sống nữa! Phiền hết con cái... Hôm qua, xin nó hai viên thuốc, bảo uống rồi mai không dậy nữa... thế rồi chắc liều lượng nhẹ quá, chẳng ăn thua mẹ gì! Sáng nay vẫn chưa chết...

    - Thế Bố còn muốn đi Sơn Tây không?

    - Muốn lắm chứ! Chỉ có 2 tiếng ngồi xe lửa là đến nơi mà không đứa nào nó dắt đi. Con với cái... Khổ cái thân già này! Nó hứa nhăng hứa cuội nhưng tôi có cách... "Moa" bàn với "toa" chuyện quan trọng này nhớ! "Moa" cần 2 ngàn để đi về Sơn Tây. Đến nơi rồi "moa" sẽ trả lại.

    - "Toa" trả "moa" bằng cách nào?

    - Mấy bữa nay, "moa" nghĩ ra cách kiếm tiền rồi! "Moa" về Sơn Tây mở lớp dậy tiếng Pháp cho người ta học... Thế nào cũng có nhiều "sìn".

    - Bây giờ tiếng Anh chứ có ai nói tiếng Pháp nữa đâu Bố ơi là Bố!

    - Thế thì tôi về Hà Nội... lại làm giây thép Bưu Điện vậy.

    - Bố già lụ khụ... đi không vững! Ai còn muốn mướn Bố.

    - Già? Hừ... Đói thì cũng phải cong đít mà làm chứ ai nuôi?

    6.
    - Nếu có ai dắt Bố về Sơn Tây thì con mới cho Bố mượn tiền. Bố không đi một mình được! Hơn nữa đi xe lửa không bao giờ đến! Bố phải đi máy bay, Bố quên rồi à?

    - Sao lại không được! Xưa nay tôi vẫn một mình chứ hai mình bao giờ? Đi xe lửa mà lại... Hừ... Ai bảo ông thế! Người ta vẫn đi hàng ngày mà nói láo... Chỉ nói láo là giỏi! Hay là ông không muốn cho tôi mượn tiền nên ông nói nhăng nói quậy? Thôi... Tôi hiểu ông rồi! Thân già này chẳng còn nhờ cậy ai được. Con với cái... Đồ mất dậy!

    - Ấy chết, sao Bố lại nói con thế! Chán thật...

    - Ông chán tôi từ lâu rồi chứ có phải bây giờ đâu?

    - Thôi con đi làm nhớ!

    - Vâng! Ông đi... Mấy giờ về?

    - Con không về nữa vì Bố chửi con rồi...

    - Tôi chửi ông hồi nào? Ông chửi tôi thì có! Chỉ giỏi ăn hiếp người già!

    Bố tôi nói thế rồi quên ngay và ngày mai câu chuyện lại tiếp tục với những cuộc đối thoại vui buồn không dứt! Có tính mau quên và chẳng coi ai là kẻ thù nên vì thế Cụ sống lâu chăng? Dù sự ăn uống chút phần khả quan nhưng tinh thần của Bố tôi cũng đã suy sụp nhiều so với năm ngoái! Chân đi không vững và đầu óc hoang tưởng, vui buồn bất thường... Như đã nói ở phần trên, người già không mắc phải bệnh này cũng mang chứng bệnh kia. Thuốc men chỉ đỡ mà không chữa lành.

    Bố "đi" mãi và tôi cũng mong Cụ quên "về" với Mẹ tôi nhưng thực tâm, ai cũng biết rằng tất cả chuyện đời đều phân chia sẵn ranh giới nên mỗi khi ra ngoài giới hạn đã định, chúng ta đều có cái giá phải trả! Người xưa vẫn thường nói: "Bách tuế vị kỳ" mà...

    Bố tôi và các con của Cụ đang chia sẻ hạnh phúc và khó nhọc, mỗi ngày một khổ hơn vì thế người nhiều kẻ ít tặng Cụ thời giờ và tình thương để mong Cụ hưởng những mùa xuân êm đềm còn lại trong đời.

    Qua kinh nghiệm "Một Ngày Với Tuổi Trăm Năm" vừa trình bầy, thực tâm tôi không muốn sống trường thọ đến tuổi "bách niên" để phải trả giá dù nhẹ hay nặng bởi vì sự việc đó chắc chắn sẽ liên hệ đến các con và người thân của tôi sau này... khổ đau sẽ nhiều hơn hạnh phúc! Tuy nhiên, muốn là một chuyện, không ai trong chúng ta tránh khỏi số mệnh đã an bài...

    Cuối cùng, liệu chúng ta còn nên chúc nhau câu "Bách niên giai lão" mỗi khi xuân về nữa không?


    Cao Đắc Vinh
    ****************************************

    Khổ Sống Già


    Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lão nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không?...

    Tới mừng thôi nôi cháu ngoại Bích Ngọc, không thấy Quế Hương, bạn cố tri của Ngọc, tôi hỏi:
    - Sao bữa nay không thấy Quế Hương tới dự thôi nôi cháu bà vậy?
    - Dự sao được, mấy bữa nay bả te tua rồi?
    - Sao vậy?
    - Ừa, thì mấy bữa nay ông già bệnh. Chắc cũng sắp đi rồi.
    - Thì trên trăm tuổi rồi. Ông đã như thân cây mục, cũng nên để ông thay đổi hình hài khác đi chứ. Nhưng còn anh cả đâu? Nghe đâu anh cả chăm ông cụ mà.
    - Ổng xụm luôn rồi. Mà nói tới ông anh cả của bả mới tội, ổng gần tám mươi rồi mà không được hưởng tuổi già, được sống gần con cái ở Quy nhơn mà phải ở đây lo cho ông già hơn trăm tuổi mới khổ chứ.
    - Nhà Quế hương đông mà, sao lại bắt ông già trẻ chăm ông già già?
    - Thì tại vì ổng là anh cả với lại mấy người kia ở nước ngoài hết rồi. Phần cũng tại ổng nghèo nhất, không có tiền lo cho cha thì phải lãnh phần chăm sóc ông cụ chứ. Mấy người kia chu cấp tài chánh. Đứa bỏ công, người bỏ của mà.

    Nói tới anh em ở nước ngoài của Quế Hương tôi mới nhớ là lâu lâu ông cụ làm mệt, Quế Hương gọi các anh chị mình về. Khi về tới nơi thì ông cụ khỏe lại. Cứ thế trong hai năm các anh chị của Quế Hương phải tức tốc về tới bốn lần mà ông cụ cũng chưa đi. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, có hai người anh của Quế Hương lại dám bỏ việc hoài nên bị mất việc luôn, nhưng bổn phận làm con mà, biết sao giờ?

    Không có Quế Hương tôi mất bạn tung hứng nên truy Ngọc:
    - Nhưng sao tự nhiên Quế Hương lại te tua?
    - Thì ông già hơn tám mươi phải chăm ông già hơn một trăm, nên ông già già chưa khỏe thì ông già trẻ đã sụm rồi. Vậy nên bây giờ Quế Hương phải chăm cả hai ông chứ sao.

    Tự nhiên Bích Ngọc cười khùng khục:
    - Nhớ bữa hổm ông anh cả than với tui, ổng nói : "Trời ơi, hỏng biết chừng nào ông già chết cho tui khỏe vài năm trước khi theo ông bà tổ tiên đây!”
    - Nói gì thảm vậy?
    - Bà nói “thảm” là ai thảm?
    - Thảm cho cả hai. Bởi vậy mai mốt tốt nhất đừng có chúc ông bà sống lâu trăm tuổi rồi rên nha.

    Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lão nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không? Tuổi già lú lẫn, hình hài nhăn nhúm, sức khỏe suy giảm. Tôi nhớ khi còn nhỏ, dù được cả nhà dạy phải biết kính yêu bà cố nhưng đứa cháu nhỏ của tôi dứt khoát không thấy thoải mái với bà. Có lẽ khi nó có ý thức chút thì bà đã nhăn nheo xấu xí quá rồi, hình ảnh của bà không giống với bà tiên trong truyện cổ tích nữa. Khi đó, bản thân bà không tự chăm sóc được nên bao người lớn quanh nó phải dành sự chăm sóc cho bà nhiều hơn cho nó và nó thì luôn bị mắng mỏ vì ồn ào, vì phá phách làm bà không nghỉ ngơi được. Dạy dỗ gì thì nó cũng thấy mình thiệt thòi vì bà nên nó cứ mơ hồ, miễn cưỡng ghi nhận công lao dưỡng dục xa xưa của bà… Thế nên gia đình dòng họ cứ trách móc nó không ngoan, không biết ông bà, bây giờ nó là đứa cháu vô tình, không biết cội nguồn mai mốt chắc là đứa con bất hiếu.

    Tôi nhớ có lần đến tiệm làm tóc, con bé làm móng cho tôi khoe:
    - Bà cố của con năm nay 115 tuổi rồi, bà được cả chủ tịch tỉnh đến thăm đó cô.
    - Bà con thọ quá há. Vậy bây giờ ai lo cho bà?
    - Dạ, ông ngoại tám của con nuôi.
    - Vậy ai nuôi ông ngoại?
    - Dạ mấy cậu mấy dì nuôi.
    - Mấy cậu mấy dì khá không?
    - Dạ nghèo lắm.
    - Có bà thọ đến vậy chắc thích lắm hả?

    Nó trầm ngâm một hồi rồi nói:
    - Dạ thích chứ cô. Dòng họ con ai cũng thích bà thọ để khoe, chỉ có ông ngoại tám của con thì không thích lắm. Ông nói: ”Phụ tiền bạc chăm lo cho ông bà là chuyện dễ, trực tiếp chăm lo bệnh hoạn, chịu đựng tính khí của người già mới là khó”.

    Câu chuyện của con bé làm móng làm tôi nhớ tới câu chuyện buổi sáng khi tôi đi bộ cùng các bạn trong cùng khu phố, đề tài vô tình nói về tuổi già và về việc phụng dưỡng cha mẹ già. Chị Xuân nói:

    - Dì của em năm nay tám mươi sáu tuổi rồi mà còn làm dâu đó.
    - Vậy bà mẹ chồng chắc thọ lắm.
    - Bà đã hơn trăm tuổi. Mấy chục năm trước khi chú em đi bộ đội về hưu, thấy bà đã hơn tám mươi bèn quyết đem bà về nuôi, nghĩ mẹ chắc cũng không còn sống bao lâu nữa, ráng gần gũi phụng dưỡng mẹ vài năm nhưng tới giờ đã gần hai mươi năm bà vẫn ăn khỏe và vẫn đòi hỏi cơm dâng nước hầu, trà thuốc mỗi ngày làm dì em oải muốn chết.
    - Nhưng cha mẹ già thì mình phải phụng dưỡng chứ sao!
    - Thì đó là bổn phận mà, có điều dì của em cũng đã hơn tám mươi, con dâu dì thuộc thế hệ mới, nó không chịu hầu dì mà dì thì không dám không hầu mẹ chồng.
    - Đó là bất hạnh thế hệ của dì đó. Người ta gọi thế hệ 5X là thế hệ trắng tay, hồi nhỏ thì sợ cha mẹ, khi cha mẹ lớn tuổi thì tự cho mình có bổn phận phải phụng dưỡng. Đối với con cái thì không dám uy quyền, nếu không nói là dốc hết sức mà lo cho con nhưng lại không dám mong con cái lớn lên sẽ chăm lo cho mình, sợ làm phiền nó…

    Câu chuyện của chị Xuân làm tôi nhớ tới có lần tôi gặp hai bà lão ở New Jersey. Bà lão người Việt cứ theo nài nỉ tôi nhờ tôi nói giúp với cha xứ mà tôi thân, để cha nói với con cái bà cho bà được vào Viện dưỡng lão người Việt. Lý do là vào ngày thường, con cháu bà đứa đi học, đứa đi làm. Tối về thì đứa nào về phòng đó. Suốt ngày bà ở nhà một mình buồn quá, bà ước ao có tiếng nói đồng hương hay tiếng nói của con người cho đỡ cô quạnh. Tôi nói lời thỉnh nguyện của bà với cha xứ, cha xứ nói đó là chuyện riêng của gia đình con chiên, cha không muốn can thiệp.

    Rồi cũng trong những ngày đó, cũng tại khu phố đó, tôi lại tiếp xúc với một bà lão gần tám mươi người Mỹ, chân cũng đã run, mắt cũng đã mờ rồi mà lại sống một mình. Bà ham chuyện lắm nhưng khi hỏi bà ở một mình có buồn không, sao không ở chung với con cháu cho vui. Bà nói dứt khoát:

    - Con tôi nó có cuộc đời của nó. Tôi không muốn và không thể trói buộc cuộc đời nó vào cuộc đời tôi vì tôi sống già.
    - Nhưng đó là bổn phận của con cái đối với cha mẹ lúc về chiều mà.
    - Giáng sinh, sinh nhật tôi có khi nó dẫn vợ con về thăm. Vậy là đủ. Còn bình thường mỗi năm nó chỉ có một số ngày phép, tôi không cho phép mình bắt nó về thăm hoài mà để nó thoải mái đưa gia đình đi đây đi đó. Đòi hỏi ở con là ích kỷ.
    Đúng là Tây Ta có khác. Tây nuôi con, khi con vừa lớn đủ, Tây thả cho con vào đời, mong con như cánh chim trời, có sức bay càng xa càng tốt. Tây vui khi dõi theo cánh chim bay. Ta nuôi con, ngày nào còn khả năng, ta vẫn còn muốn giang đôi cánh ra để ấp ủ chăm lo cho con dù cho con có lớn đến bao nhiêu tuổi. Rồi cũng vì cách nuôi dưỡng yêu thương không bờ bến đó, khi già, ta mong con cũng quay lại dòm ngó đến ta dù chỉ bằng một phần nào tình yêu thương mà ta đã cho. Ta nắm níu nhau qua lại, ta làm ấm lòng nhau cũng có mà phiền lụy nhau cũng nhiều.

    Trở lại chuyện con bé làm móng, tôi hỏi:
    - Bà con đẹp lão không, hôm nào cô đưa chú tới chụp hình bà nhá.
    - Dạ bà không khỏe lắm đâu cô, bà của con lòa rồi, chỉ nằm một chỗ thôi.

    Nghe con nhỏ trả lời tôi lại nhớ tới một bà lão người dân tộc ở Bảo Lộc đã 103 tuổi, da bà đen nhẻm, từng centimet da thịt hiện lên những nếp thời gian trông hay ho và đẹp đẽ lạ lùng. Toàn thể con người trần trụi của bà như một món đồ cổ xưa. Ánh mắt của bà trắng dại đưa ta ngược về cả thế kỷ trước. Nói chuyện với con cháu bà lão mới thấy họ kính yêu và quan tâm đến bà vô cùng, nó nói:

    - Hôm trước bà con bệnh, cả nhà con bỏ hết nương rẫy về chăm bà.

    Nghe con nhỏ nói về bà với cái giọng thiết tha làm tôi thầm cảm mến em, người dân tộc không cần học Khổng Mạnh cũng biết kính yêu ông bà. Em khoe tiếp:

    - Bà em nuôi cả nhà đó cô.
    - Nuôi cả nhà? Bà già vậy thì có sức đâu mà làm nuôi cả nhà?
    - Dạ, tại cô không biết, già thiệt già thì không cần làm gì cũng có tiền mà cô. Nhà nước cho mỗi tháng vài trăm ngàn. Lâu lâu mấy cô chú vô chụp ảnh chừng vài giờ cũng được cả trăm ngàn. Chưa kể khách nước ngoài đến chụp ảnh thì còn cho cả giấy xanh, bán được nhiều tiền lắm. Cả nhà con kiếm tiền không bằng một mình bà đâu.
    - Vậy nếu bà không kiếm được nhiều tiền thì có yêu quí bà không?
    - Có chứ cô. Vẫn yêu quí bà chớ nhưng nếu bà bệnh tốn tiền quá thì không mong bà sống lâu đâu. Bà sống đủ rồi thì thôi, để dành ngô khoai nuôi trẻ nhỏ.

    Lời con bé người dân tộc làm tôi ngẫm nghĩ hoài "Sống đủ rồi…”. Thế nào là sống đủ, ai có quyền định cái chữ đủ ở đây. Phải chăng sống khỏe như bà lão người dân tộc thì sống hoài vẫn chưa đủ, còn sống mù lòa yếu đuối như bà cố của con bé làm móng là quá đủ. Nhưng đủ hay không đủ thì ai có quyền quyết định, kể cả bản thân của người đó.

    Tôi có quen biết một đôi vợ chồng nay đã ngoài bốn mươi rồi mà không dám có con cái gì, ở vậy nuôi chó và chăm hai bà mẹ hai bên với một người giúp việc.

    Bà mẹ bên vợ bị bệnh tiểu đường nằm bẹp trên giường không tự lo cho bản thân được. Đã vậy bà lại còn mất trí nhớ, bà chẳng còn nhớ được ai trừ con chó nhỏ vẫn quấn quít bên bà và đứa con gái đang ngày đêm chăm lo. Khi bức bối là bà la hét. Mỗi đêm hai vợ chồng phải thức dậy giúp bà tiểu tiện và tiêm thuốc cho bà. Bà mẹ bên chồng vẫn còn đi lại được nhưng cũng đã đã ngoài tám mươi. Tôi đã chính mắt thấy anh chồng đút cơm cho mẹ mình với một đôi mắt yêu thương. Hai vợ chồng này chưa hề biết đi đâu chơi xa là gì. Đến ngày tết, ngày lễ còn thê thảm hơn vì người làm nghỉ hết, hai vợ chồng phải đích thân lo toan mọi bề cho hai bà mẹ. Tôi nhìn tình cảnh của họ mà cảm kích, thương cho sự hiếu thảo hiếm hoi còn sót lại trong thời buổi này. Tôi nhớ có một người bạn thấy xót cho sự thiệt thòi cực khổ của đôi vợ chồng trẻ bèn xúi dại người chồng:

    - Bà mẹ vợ của mầy sống đời thực vật lại không còn nhận biết ai nữa. Để bà sống thì khổ bà mà khổ luôn tụi bây, mầy để bà đi cho rồi…
    - Người ngoài bao giờ cũng thấy khác, cảm khác, còn người thân trong cuộc thì không thể dứt ruột ra mà làm vậy được đâu.

    Trông người lại nghĩ đến mình. Giờ bản thân cũng đã nghỉ hưu, đã xếp vào hàng “bà bà” rồi, cái ngày mình già nua yếu đuối lẩm cẩm đang sầm sầm bước tới, không biết sức khoẻ mình rồi sẽ ra sao, con cái sẽ đối xử thế nào. Nữa đây khi đã già, đã yếu, đã chết được rồi mà trời chưa cho đi thì có dám tự xử không hay lại kéo lầy nhầy những ngày tàn héo úa.

    Đọc báo thấy tổ chức Y tế cứ nói hoài những bệnh của người già, quỹ hỗ trợ người già, nước này đang già, nước ta cũng sắp già rồi... tưởng tượng nếu mai này ra đường thấy ai cũng nhăn nheo, đi đứng chậm chạp, nói năng lập cập mà sống hoài không chịu đi… thì loài người có nên tiếp tục nghiên cứu để con người trường sinh bất tử chăng?


    Văn Mỹ Lan


    ******************************

    Truyện ngắn cuối tuần: Muộn...



    Mẹ gọi điện cho dì, hắt vào máy điện thoại những tiếng gắt gỏng:

    “Để bà ở bên ấy thêm một tuần nữa thì đã sao? Rồi thì tôi trông bà bù hai tuần. Liền hai tuần được chưa? Tôi có việc nếu không tôi chẳng phải tốn hơi nhờ dì…”


    Mẹ ơi...
    Dì chắc chắn có gắt gỏng lại. Tính dì nóng nảy hơn mẹ nhiều.

    Từ trước đến nay dì chưa thua mẹ miếng nào. Kể từ khi bà bước sang tuổi 90, không tự chăm sóc bản thân được nữa, dì và mẹ thỏa thuận với nhau mỗi người trông nom bà một tuần. Cũng kể từ đó bà như quả bóng bị đá từ đầu sân này sang đầu sân kia và ngược lại. Mẹ và dì nói nhau trong điện thoại suốt nửa tiếng đồng hồ. Mặt mẹ đỏ phừng phừng, hai hàng lông mày của mẹ rướn lên hết cỡ. Mẹ nhắc lại một số lỗi lầm điển hình của dì.

    Rồi mẹ kết luận: “Mày chỉ được cái bộ mồm!”

    Bố theo dõi cuộc trò chuyện của hai chị em mẹ, lẩm bẩm “chị em mà như chó với mèo!” Mẹ chưa rảnh tay để hục hặc với bố ngay lúc ấy.

    Kết thúc cuộc điện thoại mẹ quay sang bố dằn từng tiếng: “Việc của chị em tôi không bận gì đến ông!” Bố im lặng. Bố im lặng nghĩa là bố thây kệ, mọi chuyện muốn ra sao thì ra. Dù có biết điều gì đó nên nói bố cũng chẳng thèm hé răng.


    Một tuần trôi qua. Việc bận của mẹ là việc đi chùa theo kiểu đi “tua”. Đi mười bảy chùa trong một tuần. Ăn chay toàn diện. Thành tâm cúng lễ. Tối chủ nhật mẹ mới về nhà. Không ăn uống, chỉ tắm rửa qua quýt mẹ lăn ra ngủ. Bố thây kệ.

    Bố không nói với mẹ rằng sáng thứ hai, sau khi mẹ đã lên xe đi cùng đoàn hành hương, dì gọi điện tới, cáu gắt, nói rằng mẹ nhất định phải sang đón bà, vì dì cũng bận. Và vì tuần đó là phiên mẹ trông bà. Dì không đời nào chịu bị buộc chân ở nhà trong khi mẹ cố tình trốn tránh trách nhiệm. Mẹ ích kỷ, còn dì không phải là người dễ nhân nhượng trước sự ích kỷ. Đấy là tất cả những gì bố biết được qua cú điện thoại bố buộc phải nghe trong lúc mẹ vắng nhà. Bố vẫn nhớ những lời dì nói trong điện thoại. Nhưng bố kệ, không nói lại cho mẹ biết.

    Ngày thứ hai của tuần tiếp theo bắt đầu. Ngày thứ hai bắt đầu phiên mẹ trông bà, và mẹ sẽ trông bà hai tuần liền để bù cho cả tuần trước mẹ đi chùa. Đến tận tối vẫn chưa thấy dì đưa bà sang nhà mẹ. Mẹ vẫn tức dì, không gọi điện sang nhà dì hỏi tại sao lại như vậy. Cũng có khi mẹ nghĩ cứ để dì trông bà được bao lâu thì trông, khi nào dì đưa bà sang thì khi ấy đến lượt mẹ, việc gì phải lăn tăn.

    Một tháng rưỡi trôi qua. Bà chưa được đưa sang nhà mẹ. Mẹ và dì vẫn giận nhau, không ai gọi điện cho ai. Thế rồi một hôm trước cổng nhà mẹ xuất hiện cậu con cả của dì. Cậu ta sinh sống ở nước ngoài, lần này đưa vợ chưa cưới về ra mắt gia đình.

    “Chào bác, cháu đưa một nửa của cháu sang chào bà và hai bác đây ạ”.

    Cậu ta vừa cười vừa nói với mẹ trong lúc mẹ mở cổng. Mẹ gật đầu chào, hơi hé miệng cười lấy lệ. “Bà đâu hả bác?”

    Mẹ cười thành tiếng. “Thằng này, đi Tây về biết hỏi nỡm nhỉ!”

    “Bà ở trên gác ạ? Không phải gọi bà xuống đâu ạ. Chúng cháu lên chào bà”. Cậu ta nói, cầm tay vợ chưa cưới kéo lên cầu thang.

    Mẹ đứng khựng lại như người bị sét đánh.
    “Bà vẫn ở bên ấy mà? Bên nhà cháu chứ đâu”.

    “Hì hì, bác cứ đùa!”.

    “Không, bà vẫn ở bên ấy mà”.

    Mẹ đứng ở chân cầu thang, nhìn quanh ngơ ngác như người mất trí. Thế rồi bốn cái máy di động cùng hoạt động một lúc. Tiếng bấm máy tít tít. Mẹ kêu trời bằng giọng thất thanh. Cậu con cả nhà dì dắt bạn gái lao ra cổng. Chuông điện thoại reo. Tiếng dì kêu khóc ở đầu dây bên kia nghe váng cả óc.

    Dì kêu: “Ôi giời ơi là giời. Mẹ tôi đi đâu hả giời. Sáng thứ hai đó, mẹ xách túi quần áo đi ra ngõ, bảo “Mẹ về bên kia đây. Chị cả mày đón mẹ ở ngoài ngõ kia rồi”. Tôi đang bận trông chảo cá rán, chẳng ngó ra được. Cứ ngỡ mẹ được đón sang bên ấy rồi. Ai ngờ! Ối mẹ ơi, giờ này mẹ ở đâu, mẹ ơi!”

    Suốt nửa năm trời người của hai nhà chúng tôi đi tìm bà khắp nơi. Chúng tôi đăng tin tìm bà trên nhiều tờ báo giấy, báo điện tử, đăng tin cả trên truyền hình. Chẳng ai biết bà đang ở đâu. Cách đây hai tuần, bỗng nhiên có một người đàn ông tìm đến nhà tôi gặp mẹ. Ông ấy đưa cho mẹ xem một tờ báo có đăng tin bà tôi mất tích. Rồi ông ấy lấy từ trong chiếc ba lô đã cũ ra một chiếc túi vải. Mẹ tôi trông thấy chiếc túi vải, bật khóc nức nở. Chiếc túi vải đó là túi đựng quần áo của bà. Chính tay người đàn ông đó đã đặt bà vào chiếc quan tài mà ông tự bỏ tiền ra mua sau khi phát hiện bà tôi nằm còng queo trước cổng nhà ông, không động cựa và không còn thở.

    Chiều muộn hôm đó, tại một nghĩa trang cách nhà chúng tôi gần 60km, mẹ tôi và dì, hai đứa con gái của bà tôi, khóc ngất trước nấm mộ phủ đầy cỏ xanh rì. Một người đi xe máy trên đường, dừng lại bên rìa nghĩa trang nhìn cảnh dì và mẹ tôi khóc vật vã, bùi ngùi nói:

    “Thương quá! Mồ mẹ cỏ đã xanh nhường kia mà các con vẫn khóc ngất. Thương quá!”.



    Nguyễn Bích Lan

    (Blog Trường Tống Phước Hiệp)







    Last edited by SP500 SPY; 08-18-2019 at 03:09 PM.

  2. #62
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2015
    Posts
    158
    Hãy nhớ kỹ đừng bao giờ nói với cha mẹ mình 10 câu nói sau:
    Posted on 19 Tháng Tám 2015 by Huynh Hue


    Dù cho mẹ có là người nuôi dưỡng bạn hay không thì ít nhất mẹ cũng là người đã mang thai gần 10 tháng trời và sinh ra bạn trên cõi đời này. Có thể chứng kiến tất cả mọi điều xảy ra trên thế giới này, cái đẹp cái xấu, cái thiện cái ác, tất cả đều là do Thượng đế và cha mẹ đã ban cho bạn.

    Đừng làm những việc sẽ khiến bạn sau này phải hối hận, hãy đối xử tốt với cha mẹ của mình. Đừng để đến khi họ mất đi rồi lúc đó mới thấy quý tiếc, bởi vì khi ấy hết thảy mọi thứ đều không còn kịp nữa rồi.

    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện sàn nhà và tủ quần áo thường xuyên bám đầy bụi bẩn.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra mẹ mình nấu đồ ăn quá mặn rất khó ăn.
    N
    ếu như có một ngày, bạn phát hiện ra mẹ của mình thường quên tắt ga.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra một số thói quen của cha mẹ mình đã thay đổi, giống như là họ đã không còn muốn tắm rửa hàng ngày nữa.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ của bạn đã không còn thích ăn những loại quả giòn cứng.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn chỉ ăn những món ăn được nấu chín nhừ nát.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn muốn ăn cháo.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn đi trên đường hay các phản ứng đều chậm lại.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ mình trong lúc ăn ho không ngừng, đừng nghĩ rằng họ chỉ đang bị cảm lạnh.
    Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ mình không hề muốn đi ra cửa…
    Nếu như có một ngày như vậy, tôi muốn nói với bạn rằng, bạn phải thật cảnh giác bởi vì cha mẹ bạn đã già rồi! Các cơ quan bộ phận đã thoái hóa đến mức cần người khác chăm sóc rồi.
    Nếu như bạn không thể chăm sóc họ, bạn nên tìm người chăm sóc họ, bạn nên thường xuyên thăm nom họ, đừng để cha mẹ bạn cảm thấy mình bị bỏ rơi.

    Tất cả ai rồi cũng sẽ già, cha mẹ chỉ là già trước chúng ta, chúng ta phải dùng trái tim yêu thương để chăm sóc cha mẹ, như thế mới có thể nhẫn nại, mới không nói những lời ca thán. Khi cha mẹ không thể tự chăm sóc bản thân, làm con phải luôn chú ý, cha mẹ có thể sẽ làm rất nhiều việc không hay, ví dụ như trong phòng có mùi khó chịu, có thể họ cũng không thể ngửi thấy, xin hãy đừng chê họ bẩn, phận làm con hãy dọn giúp cha mẹ mình. Cũng xin hãy luôn luôn duy trì sự yêu thương, kính trọng đối với họ.

    Nếu một mai thấy cha mẹ già yếu…

    Khi cha mẹ không còn muốn tắm rửa, xin hãy bớt chút thời gian lau rửa cho họ, bởi vì cho dù là họ tự tắm rửa được thì cũng không thể tắm rửa sạch sẽ được. Khi chúng ta thưởng thức đồ ăn, xin hãy chuẩn bị cho họ một phần đồ ăn lớn nhỏ phù hợp, một bát nhỏ sẽ dễ dàng ăn hơn. Bởi vì họ không thích ăn có thể là do hàm răng đã không thể cắn và nhai được nữa rồi.

    Từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, mẹ là người cho chúng ra bú sữa, thay tã lót hằng đêm và còn không ngủ nghỉ để chăm sóc khi chúng ta ốm đau. Cha mẹ là người dạy cho chúng ta những kỹ năng sinh sống cơ bản đầu đời, cho chúng ta đi học, ăn uống, vui chơi và tập thói quen, luôn quan tâm không ngừng nghỉ.

    Nếu như đến một ngày, cha mẹ đã không thể nhúc nhích được nữa, chẳng phải bạn nên chăm sóc cha mẹ mình sao?

    Làm phận con hãy nhớ lấy, “xem cha mẹ chính là bản thân mình trong tương lai” mà hiếu thuận kịp thời, đừng để đến khi “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, “con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn”..

    Theo NTDTV
    Mai Trà biên dịch Nguồn: Đại Kỷ Nguyên

    ********************************




    Khi già ai sẽ nuôi dưỡng bạn?


    Posted on 19 Tháng Ba 2019

    “Nuôi con dưỡng già” là quy luật bất thành văn từ ngàn đời này. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc tin tức, có rất nhiều bài viết về “người già vô gia cư, con tranh chấp tài sản của bố mẹ”, bạn có nghĩ rằng quan niệm “nuôi con dưỡng già” vẫn còn đúng?


    Bạn hãy xem câu chuyện bên dưới để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho chính mình nhé.

    Có một người mẹ đơn thân nuôi con, chồng bỏ đi từ sớm, cô ấy sống bằng nghề dạy học, với thu nhập khá khiêm tốn đã nuôi dưỡng con trai khôn lớn thành tài.

    Lúc còn nhỏ, con trai rất ngoan ngoãn, vâng lời. Cô vất vả nuôi dạy con đến tuổi trưởng thành, và cậu con trai được đi Mỹ du học. Sau khi con trai tốt nghiệp đại học đã ở lại Mỹ làm việc, kiếm được khá nhiều tiền rồi mua nhà, và lấy vợ, sinh con, xây dựng một gia đình hạnh phúc đầm ấm.

    Người mẹ già này, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đến Mỹ đoàn tụ cùng con trai và con dâu, hưởng phúc gia đình vui vẻ sum vầy. Chỉ ba tháng trước khi cô sắp nghỉ hưu, cô đã nhanh chóng viết một lá thư cho con trai, nói với con về nguyện vọng này.

    Trong tâm cô rất đỗi vui mừng khi nghĩ đến chặng đường “nuôi con dưỡng già” của mình sắp đến hồi kết tốt đẹp, cùng những ánh mắt hâm mộ của bà con, bạn bè xung quanh. Vì thế mà một mặt cô đợi hồi âm của con, một mặt cô thu xếp bán nhà và nộp đơn nghỉ hưu.

    Vào đêm trước ngày nghỉ hưu, cô nhận được thư hồi âm của con trai gửi từ Mỹ về, mở thư ra xem, trong thư có kèm một tấm ngân phiếu 30 ngàn đô la Mỹ.

    Cô cảm thấy rất lạ, bởi vì từ trước đến giờ con trai không bao giờ gửi tiền về, cô vội vàng mở thư, bức thư viết rằng:
    “Mẹ à, sau khi vợ chồng con cùng nhau bàn bạc, quyết định là không thể đón mẹ đến Mỹ sống chung được. Cứ cho rằng mẹ có công nuôi dưỡng con trước đây, toàn bộ chi phí đó, thì tính theo giá cả thị trường bây giờ khoảng 20 ngàn đô Mỹ. Nhưng con sẽ gửi thêm một chút, là tấm chi phiếu 30 ngàn đô này. Hy vọng từ nay về sau mẹ đừng viết thư cho con nữa, cũng đừng kể lể về những việc như thế này nữa.”


    Sau khi người mẹ đọc xong lá thư này thì nước mắt đầm đìa. Cô lặng im một hồi lâu, thật khó mà chấp nhận được sự thật này. Nhưng với tấm lòng người mẹ bao la như biển cả, cô không trách con trai, chỉ cảm thấy tủi phận cho một đời góa bụa. Khi trẻ đơn độc nuôi con, bây giờ cần nơi nương tựa vẫn lẻ bóng, lòng cô đau như cắt!.

    Sau đó, cô tìm đến cửa Phật, và bắt đầu học Phật Pháp. Học được một thời gian, cô cảm thấy tâm thái nhẹ nhõm, suy nghĩ cũng thông mọi chuyện. Cô dùng 30 ngàn đô đó để đi du lịch khắp thế giới, lần đầu tiên trong đời, cô được mở mang tầm mắt thấy được quang cảnh thế giới này thật đẹp biết bao.

    Như cởi được tất cả mọi sân si, hờn giận, cô thanh thản viết cho con trai mình một bức thư.

    “Con trai à, con muốn mẹ đừng viết thư cho con nữa, thế thì, cứ xem như lá thư này là bổ sung cho bức thư con đã gửi mẹ trước đây. Mẹ nhận tấm séc rồi, cũng đã dùng nó để thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.
    Trong chuyến đi này, mẹ đột nhiên cảm thấy rằng nên cảm ơn con, cảm ơn con đã giúp mẹ hiểu thấu được mọi chuyện, có thể buông bỏ nhân tâm, khiến mẹ nhận ra tình thân quyến, tình bạn và tình yêu của con người trên thế gian này đều không phải là vĩnh cửu, chỉ như như bèo dạt mây mà trôi, tất cả đều đang thay đổi từng ngày.

    Nếu ngày hôm nay mẹ không thông suốt, vẫn còn ôm giữ bao nhiêu sân si, hờn giận, đau khổ thì có thể một vài năm nữa, mẹ có lẽ sẽ không sống nổi. Sự tuyệt tình của con khiến mẹ ngộ được chữ “duyên” nơi trần gian này, chẳng phải duyên hợp lại tan đó sao! Tất cả đều là vô thường!
    Mẹ cũng học được cách giữ tâm mình thanh tĩnh và ung dung tự tại.
    Mẹ đã không còn con cái nữa, tâm đã vô lo, nên mới có thể đi đến bất cứ nơi đâu mà tâm không mảy may vướng bận.”

    “Thật đáng thương cho cái tâm của các bậc làm cha mẹ trên thế giới này”, vì họ luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, nhưng kết quả cuối cùng lại chưa hẳn là tốt nhất.

    Có một câu nói rằng: “Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, nhà của con cái không bao giờ là nhà của cha mẹ. Sinh con là nhiệm vụ, nuôi con là nghĩa vụ, nhưng dựa vào con là sai lầm.”

    Mặc dù không phải tất cả con cái đều vô lương tâm như người con trai trong câu chuyện này. Nhưng những bậc làm cha mẹ nhất định không nên nghĩ rằng sẽ dựa vào con cái của mình.

    Chân thành mà nói, bạn hãy chỉ dựa vào chính bản thân mình.

    Con cháu nếu có hiếu thảo với bạn, thì đó cũng là phúc đức của bạn. Còn nếu chúng không hiếu thảo, thì bạn cũng không thể cưỡng cầu mà có được. Cách tốt nhất là hãy sớm lên kế hoạch “dưỡng già” ngay từ bây giờ, sẽ không bao giờ là quá muộn cả!.





    Khai Tâm Theo Cuộc Sống Mỹ

    *******************







    Bà Mẹ tội nghiệp


    Đoàn Thị


    Năm đó tôi đón xe đò Lộc tại chợ Hòa Bình lên Las Vegas thăm gia đình chị, tôi đến sớm nên được xếp ngồi băng ghế sau lưng bác tài, xe sắp lăn bánh bà khách ngồi cạnh bác tài nhường chỗ cho một ông cụ vừa được con cháu dắt lên xe.

    Bà xin tôi ngồi vào trong nhường cho bà ngồi bên ngoài vì bà bị say xe, tôi vui vẻ chấp nhận.

    Sau khi an tọa bà mời tôi gói xôi, tôi cảm ơn bà vì tôi không ăn sáng mà chỉ uống cà phê, bà cất gói xôi vào túi thức ăn to kềnh đặt dưới chân bà.

    Tôi thầm nghĩ chắc bà “na” (mang) bánh bột lọc, xôi, chè, chả… đặc sản Little Sài gòn lên xứ Sòng Bài như cô em tôi thường làm mỗi lúc đi thăm gia đình chị và cháu tôi.

    Xe lăn bánh ra khỏi Santa Ana, bà mở lời :
    - Chị lên thăm gia đình ?

    - Vâng, mà sao chị biết tôi thăm người nhà ?

    - Thì chị cũng mang túi đồ có khác tôi đâu, ai dưới này lên đó thể nào cũng tay xách nách mang thôi.

    Tôi cười :
    - Chị nói đúng nhưng chỉ một nửa thôi, tôi lên thăm chị tôi nhưng tôi không phải dân Bolsa.

    - Thế chị ở tiểu bang nào ?

    - Tôi ở tận u Châu chỉ có đặc sản xứ Tây chứ không có thực phẩm Sàigòn Nhỏ.

    Tôi đưa cho bà xem mấy hộp Pâté nhỏ như loại cá hộp và biếu bà một hộp ăn thử.

    Bà lắc đầu:
    - Cảm ơn chị tôi nấu sẵn thức ăn cả tuần, hơn nữa bao tử tôi bây giờ yếu nên không dám ăn đồ hộp có gì lại phiền con cái.

    Nghe bà than tôi muốn hỏi thêm nhưng ngại vì vừa mới quen không dám thắc mắc, như đoán được suy nghĩ của tôi, bà tâm sự.

    Hai vợ chồng tôi có mỗi một mụn con, từ lúc con bé tốt nghiệp BS nó lên đây làm việc, lấy chồng cũng là đồng nghiệp, sinh thằng cu được sáu tháng rồi đi làm trở lại, thế là tôi phải lên làm vú em. Cứ sáng thứ hai tôi đón xe đò lên trông cháu, sáng thứ bẩy về đến Bolsa chồng tôi ra bến xe đón rồi đưa tôi đi chợ, về nhà chuẩn bị nấu thức ăn cho tôi và ông nhà tôi cả tuần sau, đến tối tôi mệt lã.

    Tôi đi đi về về thế này hơn một năm rồi thằng cu chạy nhảy tung tăng đuổi theo nó đuối luôn, còn ông nhà tôi cằn nhằn vì tôi bỏ ông ở nhà cu ki ăn ngủ vào ra một mình nghĩ cũng tội ông thật.

    Tôi thắc mắc
    - Thế con gái chị nghĩ sao khi anh chị phải mỗi người một nơi ?

    - Nó chả nghĩ chi cả, nó bảo chỉ tin mẹ nên không thuê người ngoài trông con, tôi nói chuyện bố nó cằn nhằn tôi mấy lần mà nó có tha tôi đâu.

    Nói đến đây mắt bà đỏ hoe, tôi nắm lấy bàn tay gân guốc của bà an ủi :

    - Khổ thật chị có một đứa con duy nhất nên cũng khó xử.

    Bà chớp mắt thở dài
    - Đã thế ông nhà tôi còn làm áp lực bảo tôi phải chọn ông ấy hoặc con gái, chị nghĩ tôi phải làm sao. Tôi hỏi nó tính sao, nó nài nỉ tôi ráng nuôi cháu thêm vài năm, hơn nữa cuối tuần tôi đều về với ông ấy chứ có bỏ đi luôn đâu.

    Nghe nó trả lời như thế ông gọi điện thoại mắng nó một trận, cha con giận nhau, tôi ở giữa rối bời, con nó cứ nài nỉ, chồng cắn đắn khổ lắm chị ơi.

    Dứt câu bà lại ứa nước mắt, tôi nắm tay bà
    - Đúng là bỏ thì thương vương thì tội, chồng chị bực tức cũng phải, anh chị đã tròn nhiệm vụ nuôi con, gã chồng, đáng lý con gái phải báo hiếu cha mẹ chứ sao lại bắt chị xa anh để lo cho chúng nó.

    Bà phân trần
    - Nó có cho tôi tiền tháng nhưng tôi đâu có cần, ông ấy có tiền hưu, tôi có tiền già, chị nghĩ xem chúng tôi ăn bao nhiêu, quần áo cũng chả cần mua sắm nhiều, tôi chỉ lo tối hôm xảy ra chuyện gì ông ấy một mình xoay trở ra sao, còn thuốc men phải uống mỗi ngày nữa đấy.

    Giọng bà nghẹn lại, nước mắt rơi lả chảy, tôi nghe mà cầm lòng không nổi. cùng khóc với bà, qua cơn xúc động, bà kể tiếp:

    - Vừa rồi ông ấy dọa sẽ bỏ tôi luôn nếu tôi cứ tiếp tục đi cả tuần, ông làm dữ tôi cũng sợ nhưng lên đây nó nỉ non tôi lại xiêu lòng, cả ngày trông cháu mệt đừ thế mà đêm đến chỉ tôi ngủ vài tiếng thôi, đôi khi chợp mắt được một lúc lại thao thức tự hỏi, mình làm đúng hay sai.

    Vừa rồi nó bảo tôi ở lại để nó tổ chức ngày lễ Mẹ cho tôi, gọi điện thoại mời bố lên chung vui với gia đình nó. Ông nổi cáu la nó một trận, ông bảo nếu nó thương tôi thật lòng thì phải chở tôi về cùng vui với ông.

    Nghĩ lại ông ấy nói đúng, cả ngày thứ bẩy hai vợ chồng nó đi chơi bỏ thằng cu cho tôi trông, chủ nhật đặt cơm nhà hàng với cái bánh kem và tặng tôi sợi dây chuyền mà tôi có vui gì, thương chồng ở nhà vào ra đơn chiếc.

    Nói thật với chị tôi từng trăn trở, gần 70 tuổi mà còn long đong như con thuyền không bến, đôi lúc cũng giận con bé nhưng khi ôm thằng cháu lòng lại nguôi ngoai.

    Đêm về cô đơn lắm, nhớ chồng, nhớ thuở HO dắt díu nhau qua đây lập nghiệp, sáng sáng đưa con đến trường, vợ chồng đến sở làm, con bé ra trường lên đây lập nghiệp.

    Tôi về hưu trước, năm sau ông về hưu non để vợ chồng “hưởng đời” sau mấy mươi năm lam lũ, chúng tôi đi đây đó thăm bạn bè, rồi đi Cruise với nhóm cựu quân nhân của ông ấy, họ còn rủ đi chơi tận Bắc Âu nữa đấy, mùa hè bên đó đẹp lắm mà chưa có dịp đi.

    Ngày con bé lấy chồng chúng tôi mừng, đứa con duy nhất là niềm hãnh diện của gia đình, rồi nó sinh con hai bên nội ngoại vui mừng mẹ tròn con vuông, nó nghỉ sáu tháng nuôi con đến lúc đi làm trở lại nhờ tôi lên chăn cháu.

    Ban đầu tôi háo hức lắm, đầu tuần lên đây cuối tuần về thăm chồng, ấy thế mà mấy bà bạn nhắc chừng, trông cháu vài tháng thôi vì tôi còn ông nhà phải chăm sóc, người già ở một mình, đêm dài hay nghĩ vẫn vơ, lúc đau ốm trông cậy vào ai, con cái nó có cuộc sống của nó.

    Tôi đâu có tin lời mấy bà ấy, bây giờ hiểu ra thì con gái không chịu buông tha, sức khỏe của tôi cũng yếu hẳn, suốt ngày chạy theo thằng cu sợ nó té u đầu sứt trán mẹ nó than phiền, chân tay tôi va vấp sưng bầm để đỡ cháu mà con gái có hay biết gì, tủi thân lắm chị ơi.

    Về nhà lại giấu chồng sợ ông bực tức lên tăng xông, thế mà có qua mắt ông được đâu, ông vạch tay chân tôi hạch tội, lại điện thoại mắng con bé, hôm sau lên đây còn bị nó cằn nhằn rồi lấy kem xoa bóp cho tôi, thế là đâu vào đấy, chồng buồn con gái thì vui, tôi không biết mình phải sống sao nữa
    . . .
    Tôi an ủi và bảo bà cứ làm theo con tim của bà, tôi biết nói như thế cũng không giúp được bà vì trái tim bao la của người mẹ ôm hết con cháu vào lòng dù phải hy sinh cuộc sống lứa đôi của mình.

    Tôi chia tay với bà ở bến xe Las Vegas mà quên hỏi tên vì chị tôi đến xách túi và kéo tôi lên xe chị.

    Không biết bây giờ số phận bà ra sao, ngày lễ Mẹ năm nay bà đã được trả về với chồng chưa, con gái có mang chồng con về mừng lễ với bà hay lại giữ rịch bà trên đó để “tranh thu” thêm ngày thứ bẩy không phải trông con đi chơi với chồng như bà kể cho tôi nghe lần đó.

    Sau này, mỗi năm đến ngày Mother’s Day tôi lại nhớ đến Bà Mẹ Tội Nghiệp của cô bác sĩ, người phụ nữ tóc muối nhiều hơn tiêu gầy nhom với trái tim bao la đập loạn nhịp vì yêu con yêu cháu.

    Hy vọng cô BS đã làm mẹ, tuy chưa được chú bé vài tuổi tặng quà Ngày Lễ Mẹ, hiểu dùm, Mẹ chúng ta chỉ có Một mà thôi và hãy thương yêu trân quý mẹ khi bà còn sống.

    Mong lắm giờ này bà khách cùng chuyến xe đò với tôi năm đó được vui sống bên cạnh chồng, sớm hôm có nhau như ngày đầu chúng mình hai đứa, cuối đời cũng chỉ hai đứa đầu bạc phơ nương tựa nhau đi trọn đường đời.



    Đoàn Th
    (theo vietvenuocmy.vietbao.com)


    ************************************************** *

    “Không oán trách” cha mẹ là biểu hiện của người con có hiếu

    Làm cha mẹ nếu có thể làm được “7 không trách” thì đó vừa là thể hiện của tình yêu thương, vừa thể hiện của lòng tôn trọng con cái.


    • An Hòa•
    • Thứ Ba, 24/07/2018





    Trong muôn vàn cái khổ thì cái khổ vì con cái là cái khổ trải dài trong nhiều năm tháng nhất.
    Là người con, hãy sống cho trọn chữ “hiếu”, hãy tận tâm chăm sóc cha mẹ của mình và mỉm cười với họ, đừng để đến lúc “con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn”!
    (Hình minh họa: Qua Kiplinger.com)

    Cổ nhân giảng: “Bách thiện hiếu vi tiên”, nghĩa là trong trăm việc thiện thì hiếu thảo là đứng đầu. Trong cuộc sống hàng ngày, kỳ thực, hiếu thảo thể hiện ở những điều rất đỗi đơn giản.Làm một người con, nếu có thể làm được “5 không oán” thì đã là thể hiện của lòng hiếu thảo rồi.

    Làm cha mẹ nếu có thể làm được “7 không trách” thì đó vừa là thể hiện của tình yêu thương, vừa thể hiện của lòng tôn trọng con cái.

    Trong gia đình, con “5 không oán”, cha mẹ “7 không trách” thì gia đình ấy tất sẽ không chỉ hòa thuận mà còn có gia phong nề nếp và hưng thịnh.

    Làm con “5 không oán trách” cha mẹ là thế nào?

    1. Không oán trách cha mẹ không có năng lự

    Đừng oán trách nói cha mẹ phải là người như thế này thế kia, hãy tiếp nhận. Cha mẹ dù thế nào cũng là cha mẹ của mình.

    (Hình minh họa: Qua Chinazhaokao.com)
    Khả năng của con người là có hạn, vì thế nếu có điều gì cha mẹ không làm được cũng là chuyện bình thường. Cha mẹ cho ta sinh mạng, lại vất vả bao năm để nuôi dưỡng chúng ta nên người, bởi vậy xin đừng bao giờ oán trách cha mẹ không có năng lực, tài cán, không thể cho con cuộc sống tốt hơn. Hãy trân trọng và yêu thương cha mẹ bằng tất cả tấm lòng.

    2. Không oán trách cha mẹ hay cằn nhằn
    Chỉ có người thật sự yêu thương mình mới “dài dòng” mà chỉ bảo, khuyên nhủ mình mà thôi. Cha mẹ chính là những người thầy đầu tiên của mỗi người chúng ta, bởi lẽ rất nhiều chặng đường ta đang đi, cha mẹ đều đã từng trải qua. Với những kinh nghiệm sống của mình, cha mẹ luôn mong có thể chia sẻ để giúp con trở nên tốt hơn, vì thế mới hay “dài dòng” cằn nhằn, nhắc nhở.(Ảnh: Internet)3. Không oán trách cha mẹ mắng mìnhCha mẹ thường trách mắng vì không bằng lòng với tình trạng hiện tại của con cái. Bất cứ người làm cha, làm mẹ nào cũng mong con mình ngày một tiến bộ, giỏi giang để sau này có thể sống no đủ, thoải mái. Cha mẹ có trách mắng cũng vì không muốn ta mắc phải sai lầm họ từng mắc, lãng phí tuổi trẻ vào những thú vui vô bổ sẽ làm ta hối hận sau này.

    4. Không oán trách cha mẹ chậm chạp

    (Hình minh họa: Pixabay.com)Khi tuổi ngày một nhiều hơn, việc đi lại tự nhiên cũng sẽ không còn linh hoạt, thần trí cũng không được minh mẫn như trước nữa. Nếu ngày ấy đến, xin bạn đừng chê trách cha mẹ phiền phức, chậm chạp. Hãy nghĩ đến thuở ta còn thơ bé, cha mẹ đã luôn kiên nhẫn dạy ta từng bước đi, chăm sóc ta từng li từng tí như thế nào.

    5. Không oán trách cha mẹ ốm yếu
    Lúc cha mẹ sinh bệnh, con cái có thể phụng dưỡng cha mẹ được bao nhiêu? “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể”, vậy thì cớ sao “con nuôi cha mẹ lại kể tháng kể ngày”?

    Một ngày khi bố mẹ đã già, bạn phải chăm sóc họ, giống như khi họ chăm sóc bạn khi bạn còn nhỏ. (Ảnh qua NTDTV)

    Sinh, lão, bệnh, tử đời này có ai tránh khỏi? Vì vậy, cha mẹ già cả ốm đau cũng là chuyện thường tình. Hơn nữa, khi con cái dần dần lớn lên, cha mẹ sẽ dần dần già đi cho đến lúc lìa đời. Đó là quy luật tự nhiên.Không có cha mẹ sẽ không có chúng ta, cho nên oán giận cha mẹ không bằng đi hiểu cha mẹ. Nếu đến cha mẹ mình mà còn không bao dung được thì lấy gì để dung thiên hạ? Trăm cái thiện thì hiếu đứng đầu, cho nên ngàn vạn lần đừng mang tâm oán trách cha mẹ!

    Làm cha mẹ: “7 không trách mắng” con cái là như thế nào?

    Dạy bảo, trách mắng con cái là điều cha mẹ thường làm khi con sai trái. Nhưng “trách mắng” như thế nào để con nghe ra, sửa chữa, thấu hiểu được lòng cha mẹ lại là một nghệ thuật. Trẻ con cũng có lòng tự trọng, tự tôn của mình, cho nên cha mẹ trách mắng con, cần phải đúng lúc và phù hợp hoàn cảnh.

    (Hình minh họa: Pixabay.com)
    1. Không trách mắng con ở nơi đông người
    Sự tôn nghiêm, danh dự là thứ mà ai cũng có, bất kể người lớn hay trẻ nhỏ. Bởi vậy, cha mẹ cần chú ý không trách mắng con cái trước chốn đông người để tránh làm trẻ thấy xấu hổ, mất mặt

    .
    2. Không trách mắng khi con đã biết lỗi
    Ông cha ta đã dạy: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Vì thế, một khi con trẻ đã nhận ra lỗi lầm của mình, biết ăn lăn hối lỗi rồi thì cha mẹ nên ân cần chỉ bảo chứ không nên trách mắng nữa.


    3. Không trách mắng con vào ban đêmĐừng trách mắng trẻ trước khi đi ngủ, bởi làm như vậy sẽ khiến trẻ đem theo cảm giác tủi thân, buồn chán mà chìm vào giấc ngủ. Những lời trách mắng đó có thể khiến trẻ ngủ không ngon, thậm chí gặp phải những cơn ác mộng đáng sợ, ảnh hưởng đến cả sức khỏe và tâm tính của trẻ

    .4. Không trách mắng khi con đang vui mừng
    Khi con người vui mừng, các kinh mạch trên cơ thể ở vào trạng thái khai thông tốt. Nếu ngay lúc đó lại bị trách phạt, mắng mỏ thì những ức chế tinh thần sẽ khiến kinh mạch đột ngột bị bế tắc lại, gây hại cho cơ thể. Chính vì thế, cha mẹ hãy nhớ đừng mắng khi trẻ đang vui mừng.

    5. Không trách mắng con trong bữa ăn
    Người ta thường nói: “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Vì vậy, mọi lời phê bình, trách phạt hãy để sau bữa ăn hãy nói. Nếu không, điều đó không chỉ phá hỏng không khí bữa cơm gia đình mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và cảm

    giác ấm cúng trong lòng trẻ.
    (Ảnh: Internet)

    6. Không trách mắng khi con đang buồn
    Những lời phê bình lúc này sẽ chỉ càng làm tâm trạng con bạn xấu đi, tạo thêm áp lực tinh thần cho trẻ. Những áp lực ấy nếu không được giải tỏa kịp thời có thể sẽ làm trẻ thêm buồn bã hơn, thậm chí dẫn đến những hậu quả khó lường.
    (Ảnh: bigstockphoto.com)

    7. Không trách mắng khi con đang ốm

    Lúc ốm đau là khi cơ thể con người ta yếu đuối nhất, tinh thần cũng mềm yếu, dễ tủi thân nhất. Thay vì trách mắng, điều cha mẹ cần làm là quan tâm và chăm sóc nhiều hơn đến con cái mình. Đối với bất cứ ai, cảm giác ấm áp, được yêu thương sẽ có tác dụng hơn bất cứ phương thuốc nào trên đời.An Hòa

    ******************

    Bức thư tuyệt mệnh của người mẹ 80 tuổi "hối hận vì sinh ra 4 con trai"...






    Bức thư tuyệt mệnh của một bà mẹ 80 tuổi ở Trung Quốc với tiêu đề "Cảm ơn vì đã chăm sóc mẹ nhưng mẹ hối hận khi đã sinh ra các con" khiến nhiều người không cầm được nước mắt.

    "Các con trai của mẹ,
    Hôm nay là ngày 6/6, mẹ đã qua tuổi 80, điều này cũng có nghĩa là mẹ đã sống được 80 năm trên đời rồi.

    Trải qua một thời gian dài như vậy, mẹ sinh 4 đứa con và nuôi thêm 8 đứa cháu tất thảy. Tức là trong suốt cuộc đời mình, mẹ đã nuôi 12 người, cả con lẫn cháu. Vì vậy mà mẹ nghĩ rằng mẹ đủ từng trải và đủ tiếp xúc để có thể hiểu rõ về những đứa con của mình.

    Đặc biệt là từ vài năm trước, sau khi cha các con qua đời, mẹ cảm thấy một cách rõ ràng rằng các con ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn với mẹ. Nhưng lúc đó, mẹ đã thực sự hy vọng rằng các con có thể đưa mẹ về nhà, mẹ muốn sống với các con và mẹ có thể làm bất cứ điều gì để được như thế.

    Mẹ cứ mong chờ nhưng 2 tháng đã trôi qua mà không một ai trong số các con đón mẹ về. Trái tim của mẹ lạnh lẽo như đóng băng vì mẹ biết các con sẽ không bao giờ có ý định đó.

    Cũng may là khi ấy các con đối xử với mẹ không tệ. 4 người các con đã chia nhau, mỗi người 1 tuần ở lại với mẹ, nên mẹ không còn sợ hãi khi màn đêm buông xuống nữa.

    Thực ra, ai cũng vậy thôi, sống đến ngần này tuổi rồi, điều đáng sợ nhất là gì? Đó chẳng có gì khác ngoài nỗi cô đơn.
    Mẹ biết, các con đã dành 1 năm 9 tháng để chăm sóc mẹ, khoảng thời gian đó tương đương với 630 ngày. Là một người mẹ, mẹ cảm ơn các con vì hành động đó.

    Thế nhưng sau đó, các con gặp mẹ với gương mặt ngày càng cau có. Khi đến, các con không chào hỏi gì và lúc đi cũng chẳng nói với mẹ một câu nào. Nó giống như là các con đang vào khách sạn và đi lướt qua một bà già xa lạ vậy.
    Mẹ không muốn xúc phạm bất kỳ ai trong số các con. Mẹ không ăn của các con một bữa ăn nào, cũng không mặc quần áo của các con và càng không tiêu tốn 1 đồng nào của các con. Nhưng các con luôn cho mẹ cảm giác, việc các con đến thăm mẹ giống như là một món nợ, một gánh nặng phải trả.

    Ngay cả khi mẹ đã chẳng còn minh mẫn thì mỗi tối, các con vẫn bỏ về nhà mình, không một ai ở lại với mẹ. Chính điều đó đã khiến cho mẹ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết.

    Sau khi cha các con qua đời, các con đã ở cạnh mẹ 1 năm 9 tháng. Mẹ biết ơn vì điều này nhưng ở phần còn lại của cuộc đời, mẹ sẽ đi một mình.

    Trong hơn 2 năm qua, mẹ đã phải vật lộn với nỗi cô đơn. Vào ngày sinh nhật lần thứ 80 của mẹ, các con đã đến và đều chúc mẹ "Sống lâu trăm tuổi!", nhưng lúc đó mẹ chỉ cười và nghĩ, sống trăm tuổi thật vô dụng.

    Và gần đây, bệnh tim của mẹ ngày càng nặng hơn. Mẹ không nói điều đó với các con và mẹ không biết phải nói gì. Mẹ mong rằng bệnh tật sẽ mang mẹ đi gặp cha các con sớm hơn, nếu được như vậy thì mẹ sẽ biết ơn cuộc đời này rất nhiều.

    Mấy ngày trước, mẹ mơ thấy cha các con. Ông ấy nhìn mẹ cười và nói: "Bà đi với tôi nhé! Bà sẽ không còn cảm thấy cô đơn nữa".

    Tỉnh dậy, mẹ nhìn thấy những ngôi sao bên ngoài cửa sổ, thấy mặt trăng tròn và lớn. Mẹ đã mơ thấy cha các con, mơ thấy rằng ông ấy sẽ đón mẹ đi vào một đêm tuyệt đẹp như thế. Trong suốt cuộc đời mình, mẹ biết ơn tình yêu của ông ấy dành cho mẹ và biết ơn sự chăm sóc của các con trong 630 ngày vừa qua.

    Bệnh tim của mẹ mỗi ngày một nặng nên mẹ hiểu rằng mình không còn nhiều thời gian nữa. Thế nên mẹ đã viết bức thư này, bởi duyên phận của mẹ con mình cũng chẳng còn bao nhiêu.

    Tóc mẹ đã bạc hết rồi, mẹ có thể thề với mái tóc của mình rằng, mẹ thực sự trân trọng những gì các con đã làm cho mẹ. Ngoài câu này ra, mẹ còn muốn nói thêm rằng: "Mẹ rất hối hận khi đẻ ra các con. Nếu có kiếp sau, mẹ không muốn các con là con của mẹ nữa."

    Nhưng với tư cách là một người mẹ, mẹ vẫn hi vọng rằng cả 4 người các con sẽ hạnh phúc trong những năm tháng sau này, sẽ không bị 8 đứa con của mình bỏ rơi.

    Sau lá thư này, mẹ muốn dừng lại tất cả..."


    Cuối cùng, một vài ngày sau, người ta phát hiện bà mẹ 80 tuổi đã nhắm mắt xuôi tay với gương mặt vô cùng bình yên trên chiếc giường của mình, trong tay là bức ảnh duy nhất của bà và chồng.

    MISS TƠ - THEO HELINO

    **********************************



    Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ?
    Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa bác sĩ, đứa kỹ sư, dược sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ.

    Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!”
    Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.

    Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.

    Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?



    Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.


    Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.


    Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”
    Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?”

    Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

    Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho… con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”


    Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.

    Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín.

    Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.



    Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?


    Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.

    Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba?


    Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy…
    Chu Tất Tiến

    ****************************

    Hai Câu Chuyện Hay Cho Ngày Từ Mẫu




    Hoa hồng tặng Mẹ




    Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

    - Cháu muốn mua một hoa hồng để tặng mẹ cháu - nó nức nở - nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một hoa hồng đến 2 đôla.

    Anh mỉm cười và nói với nó:
    - Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.
    Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:
    - Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.
    Rồi nó chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:
    - Đây là nhà của mẹ cháu.
    Nói xong, nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.
    Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.


    Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm


    Câu chuyện về một bà mẹ già ở Miền Tây, vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm. Lúc đứa con gái lớn khôn thành danh ở Mỹ, tháng nào cũng gửi về cho bà một lá thư và 200$ tiêu xài.

    Hết xuân này đến xuân kia, cô con gái luôn viện cớ này cớ nọ, không chịu về thăm người mẹ thương yêu. Khi người mẹ mất, cô về làm đáng tang rất to nhưng tuyệt nhiên cô không rơi một giọt nước mắt.
    Đến khi mở chiếc rương mà bà cụ luôn để ở đầu giường, bỗng cô òa lên khóc nức nở, ôm lấy quan tài mẹ mình hét lên như điên dại: "Mẹ...Mẹ ơi..."

    Mọi người vây nhau xem trong chiếc rương có gì. À, thì ra là những tờ đô-la mới toanh còn buộc dây. Và còn một mảnh giấy đã úa vàng, viết nguệch ngoạc được dán dính lại với tấm hình cô con gái lúc mới lọt lòng:

    "Tiền nhiều quá, mẹ xài không hết con à. Mẹ nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe ông-đa (honda) là mẹ chạy ra. Lần nào cũng không phải là con hết. Số tiền này mẹ để lại cho con, CON ĐỂ DÀNH PHÒNG KHI ĐAU ỐM nghe con."

    Cô con gái đã có tất cả những gì một người phụ nữ có thể có: tiền, danh vọng, địa vị, chồng thành đạt, con ngoan. Nhưng cô đã mất một điều vô cùng thiêng liêng: MẸ!



    Sưu tầm







    Last edited by SP500 SPY; 09-08-2019 at 03:24 PM.

  3. #63
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    22,175
    tất cả đều là do Thượng đế và cha mẹ đã ban cho bạn.
    Gieo nhân nào thì gặp quả ấy.
    Muốn con cái biết nghĩ đến cha mẹ, thì
    hãy cố gắng dạy dỗ, chăm sóc từ khi nó
    chưa nên người. Khi chúng nó trưởng thành
    rồi đưa ra một đống giáo điều nào có ích gì.

    Nên nhớ là cha mẹ có thể chọn con, nhưng
    những đứa trẻ không thể chọn cha mẹ từ khi
    lọt lòng.

    Không có thượng đế nào ban cho bạn mụn
    con khi bạn ngồi dưới cây sung chờ trái táo
    rơi như Newton, rồi phát minh ra thụ thai nhân
    tạo. Ít nhất cũng phải đi gieo "cái nhân" vào ống
    thụ tinh. Cho nên phải có trách nhiệm với cái
    quả gặt được sau đó cho trọn lẽ duyên phần.
    Đừng đi dạy chúng phải làm sao có trách nhiệm
    với cha mẹ.


    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  4. #64
    Đèn Tắt
    Nguyễn Quang Vũ

    Có lẽ hôm nay trời rất nóng.

    Mấy giờ rồi? Chắc vẫn còn sớm: trời nắng lòa mắt mà không khí vẫn vương tí mát của đêm hè.

    Bà không thích mấy những ngày nóng. Lưng bà sẽ ướt đẫm mồ hôi mà bà không còn đủ sức khỏe để lăn qua lăn lại. Ở cái góc tối này trong viện dưỡng lão, chẳng mấy khi y tá trông thấy mà giúp đỡ.

    Nghĩ đến mà ghét tuổi già. Nhớ lại ngày xưa, chỉ mấy tháng trước thôi, bà vẫn còn loanh quanh trong bếp. Mỗi ngày lo ba bữa cơm. Mấy đứa cháu một tay bà săn sóc. Kể từ ngày con gái bà mở tiệm nail, nó chẳng còn thời gian nuôi con. Suốt ngày ở lì ngoài tiệm, lâu lâu thẩy cho bà vài ba trăm, coi như là tiền cơm nước. Lúc trước thì bà đưa tiền nhà, bây giờ thì trông con cho nó, coi như là trừ vào tiền ở trọ.

    Ở trọ? Chứ còn gì nữa? Kể từ ngày ông mất, con cái ai nấy cũng gọi bà về ở cho đỡ cô đơn. Thấy con út mất chồng sớm, một mình nuôi con, bà thương nên về với nó. Bà vừa về thì nó ra tiệm ngay. Căn nhà mướn của ông bà nay có một cặp vợ chồng già mới vào thuê. Ngày dọn nhà, bà quên vài thứ nên ghé qua để lấy. Thấy hai vợ chồng ngồi trên ghế cùng xem phim, bà rơi lệ. Phải khóc chứ! Khóc tức tưởi. Khóc đau khổ. Thế mới biết ai đi trước là sướng. Bà nay là kẻ góa chồng, ở trọ nhà con gái.

    Có tiếng chân...

    Thằng Chí, con ông bên cạnh. Cứ mỗi cuối tuần là nó tới thăm bố, lần nào cũng dẫn theo dứa con gái. Con bé xinh lắm, nhưng có lẽ cháu bà xinh hơn. Đã lâu lắm rồi chưa thấy chúng nó! Kể từ ngày bệnh viện chuyển bà về đây, hình như là đã ba tháng, con cháu tới thăm chỉ độ chục lần. Cũng chẳng trách được! Cả năm đứa đều bận rộn, đâu phải ai cũng rảnh rỗi như bà.

    Không còn có ích nữa rồi: đi đứng không được, nói năng không được. Của nợ!

    Bà cũng có một đứa con trai tên Chí. Nhưng nó đi lính chết rồi. Mất tích chứ! Cũng vậy thôi. Nếu chưa chết sao nó không về nhà? Căn nhà tổ tiên bao năm nay bà không dám bán. Mặc dù con cái nói nhà không hợp thức hóa, lại không phải là bà đứng tên, nếu không bán sớm thế nào cũng mất Nhưng bán đi rồi thì bao nhiêu kỉ niệm: chồng bà, con bà, bàn thờ tổ tiên của bà. cái đi-văng giữa nhà, cây mai trước sân, mất sạch sao? Rồi còn thằng Chí? Nó trở về mà không còn gì cả thì nó ở làm gì? Nó bỏ đi thì bà lại đau một lần nữa. Không, không thể nào bán được!

    Nóng quá. Y tá ơi!

    Thật không còn gì khổ hơn là nói nhưng không ai hiểu. Mấy đứa con thấy bà ú ớ thì chỉ nghĩ là bà muốn ăn. Mẹ cha tụi bay! Tao ở với chúng mày bấy lâu nay, mỗi ngày chỉ hai bữa cơm nhẹ là cùng. Bây giờ nằm một chỗ thì thốc cho tao một ngày tám bữa. Thế có chán không cơ chứ! Cũng may chúng mày không tới thường. Nếu không mợ đến bội thực mà chết mất.

    Lại nghĩ đến chết! Nếu dễ chết vậy thì đã chết từ lâu rồi. Kể từ ngày ông mất, bà cũng đã có lúc muốn chết. Vợ chồng gần sáu chục năm, chẳng lẽ giờ đây mỗi người một nơi? Rồi thì hôm đó bà ngã nặng, tưởng chết nhưng lại sống. Vì sao ngã? Bà dường như đã quên. Lú lẫn rồi!

    Có tiếng chân...

    Y tá. Rốt cuộc đã đến! Bà không thích cô này. Làm cho bà đau lắm. Mặt mũi thì lúc nào cũng nhăn như bị. Bà đoán chắc cô vẫn còn độc thân.

    Cô quay mặt bà vào tường, cởi nút cho bà, lấy khăn thấm mồ hôi, rồi đỡ bà xuống xe lăn, quơ một tấm vải mỏng che cho bà, và đẩy bà xuống nhà tắm.

    Nước lạnh quá!

    Bà rụt mình. Lần nào cũng vậy. Phải thử nước chứ! Bà rét run, ú ớ vài câu nhưng tiếng nước đã hờ hững át đi. Từ từ rồi nó cũng ấm lên, nhưng chưa đầy hai phút là cô y tá tắt nước, lau qua loa cho bà, khoác vội áo quần, rồi đẩy bà trở về phòng, dựng bà ngồi hướng ra cửa sổ.

    Đã 12 giờ trưa…

    Hôm nay bà thấy mệt lắm, chưa bao giờ lại mệt như thế này. Ngày Việt Minh vào, gia đình chạy giặc mà không mệt như thế này.

    Ngày ông ra Bạch Đằng vượt biên, thân già trên sáu mươi, bà vừa đau lòng, lại vừa nhức đầu vì bị Việt Cộng tra khảo liên miên, nhưng vẫn không mệt bằng bây giờ. Cả cuộc đời bà, buồn nhiều hơn vui, sao bây giờ lại còn đau thế này? Có chút gì đó như vấn vương, muốn níu kéo gì mà sao không thể, mắt mờ nhưng trí óc vẫn rõ ràng hình ảnh. Đừng suy nghĩ, đừng nhớ gì cả! Đã là quá khứ rồi. Yên lặng! Yên lặng đi!

    Nhưng bà vẫn nhớ...

    Nhớ ngày bà mới qua đây, Mùa Đông Cali quá lạnh. Lạnh mà vui vì gia đình được đoàn tụ nơi chốn tự do này. Chỉ còn thằng con trai lớn nữa thôi là xong: thằng út vượt biên với bố, thằng thứ đi sau, rồi bà được bảo lãnh qua đây cùng hai con gái. Nhưng cũng phải trên mười năm sau thì thằng lớn mới qua. Gia đình nó ở với ông bà được độ vài tháng là dọn ra ngoài ngay. Thấy chúng nó ai cũng sung túc, ông bà vui không kể xiết. Thật chẳng bõ công ông bà cúng chùa bấy lâu nay. Phước cha mẹ thì con cái hưởng, lẽ đời là như vậy.

    Sau khi chúng nó yên ổn thì ông bà dọn ra căn nhà nhỏ, trợ giúp bởi chính phủ. Hai vợ chồng sáng đi bộ ra công viên, rải bánh mì cho vịt, cho chim, đến gần trưa thì về. Đó là mùa nóng, đến mùa lạnh thì chỉ ở suốt trong nhà xem ti-vi, rồi nghe đài. Đến khi có hẹn với bác sĩ hay bạn bè thì ông bà lại đón xe buýt, lắm khi phải đón nhiều chuyến.

    Bữa trưa đã đến. Bà hờ hững liếc nhìn: cá, cơm trắng, củ cu-ve, cà rốt, nước cam, sữa. Bà chán nản ngước lên. Thôi thì nhịn bữa này vậy.

    Cuối tuần nào nhà bà cũng đông con cháu. Nhiều khi bà nghĩ chúng nó chỉ đến thăm cho có lệ, chứ ít khi nào hào hứng lắm. Mấy đứa cháu thì nào mong gì hơi hớm người già. Nhà lại nhỏ, nên đến cỡ trưa là chúng nó lại kéo về, nhà ai nấy ở. Ông bà vẫy tay đưa tiễn, rồi lại quay vào nhà, chờ đến tuần sau.

    Con cái bây giờ thật khác xưa! Cũng không trách được, ở nơi này, ai cũng bận bịu. Cha mẹ già giống như là cái nợ không cần trả. Chúng thương thì ngó ngàng, không thì bặt tăm. Kể ra thì ông bà vẫn còn may gớm, mỗi tuần con cháu đều ghé thăm. Chứ như bà Mỹ bên cạnh, một năm chỉ độ hai lần lễ tết, còn không thì ru rú một mình. Khi bà bị đau tim mà chết, bác đưa thư tình cờ nhìn vào cửa sổ rồi báo cảnh sát. Bà đã chết được hơn năm ngày rồi.

    Có cái gì đó dường như đau nhói: ở đầu, ở chân, ở tim, ở bụng? Bà không còn cảm thấy gì rõ ràng nữa. Bà muốn nhấc chân tay lên, nhưng chúng nặng quá. Bà nhăn mặt, lắc đầu, nhưng qua phản chiếu trong cửa kính trưởc mặt, gương mặt bà không hề cử động: vẫn tê liệt, hờ hững, vô cảm xúc.

    Có bước chân! Thằng Chí con bà. Ôi, đã lâu quá nó chưa tới thăm bà.

    Chỉ là y tá. Thấy bữa cơm còn nguyên, cô cau mày rồi nói vài câu với bà. Tôi có hiểu tiếng Tây đâu mà trò chuyện! Vừa mệt mỏi, vừa ấm ức, cô dọn bữa cơm ra ngoài rồi nhanh chóng trở vào, lạnh lùng đỡ bà lên giường. Không muốn nằm! Cho tôi xuống!

    Bà đã nằm...

    Có con gì đó trườn mình trên chân bà. Bà muốn cử động nhưng không được. Khó chịu quá!

    Rồi thì chân bà tê đi, giống như là bà không còn chân nữa vậy.

    Thằng Chí bị cưa chân. Nó đau. Nó chết. Đó là vì sao nó không đến thăm bà. Không! Bà mới gặp nó ở đây mà. Lúc nào? Không nhớ! Mới đây thôi. Mới đây...

    Rồi bà nhớ chồng bà. Cũng đã lâu rồi ông không tới thăm bà. Chắc ông bận lắm vì đã rất lâu rồi ông bà sống với nhau, ông chưa hề bỏ bà. Ngày ông ra Hải Phòng tìm việc, bà ở Hà Nội chờ dưới một tháng là ông về đón vợ con ngay. Ngày chạy giặc Pháp ông vừa đi vừa đào hầm, qua đến cầu khỉ, ông phải cõng từng người qua cầu, kể cả bà ở. Cầu dài lắm, nhưng bao giờ ông cũng quay lại với bà. Đạn bom tứ phía, ông vẫn quay lại. Từ biệt trên bến Bạch Đằng, bà khóc bao nhiêu là nước mắt, nhưng ông lên đến bờ là thơ cho bà ngay. Rồi mỗi tháng một lá thơ, cho đến khi bà qua với ông mới thôi. Sao bây giờ lâu quá không được tin?

    Bà cần muối nấu canh nên bắc ghế để trèo lên. Rồi cái ghế nó quay cuồng. Bà té. Đau lắm.

    Con Thảo nó nói giá nhà đang lên, phải mua gấp kẻo sau này sẽ không mua được. Bà muốn giúp con nhưng chỉ còn đủ tiền ma chay. Bà bảo nó chờ thể nào nhà cũng xuống, thế mà nó giận. Cái con khờ! Vợ chồng đều là kĩ sư mà không chịu mua nhà lúc nó còn thấp. Hôm nọ có căn nhà gần ông bà rao bán, trông cũng đẹp lắm. Bà bảo chúng còn chê ỏng chê eo. Đến bây giờ lại trách bà.

    Mắt bà nặng. Bà nhắm lại, nhưng mở ra ngay. Bừng sáng! Không thể nhắm mắt được. Chưa thể được.

    Có tiếng trẻ thơ ríu rít như giữa trường làng ngày xưa ông dạy. Ngày ông từ giã Hà Nội ra Sài Gòn, chúng khóc đến sưng mắt, tiễn ông ra tận tàu. Đến Sài Gòn, gia đình được nuôi ăn ở cả tuần rồi thì họ mới phát hiện ra là nuôi nhầm nhà. Ông xin cho vợ con ở lại vài ngày rồi đạp xe đi tìm nhà. Hôm sau ông đón vợ con về nhà mới, xập xệ nhưng rẻ mạt. Ông mở lớp dạy thêm, từ đó mà dựng nhà gạch lầu cao. Trẻ con lại ríu rít.

    Ngày Việt Cộng vào, ông bà dường như mất sạch. Vì tuổi già nên ông không phải bị tù. Ông bà gom góp tiền mua tàu vượt biên. Bị gạt, tiền mất tật mang. Các con trai thay nhau ra biển, nhưng lần lượt bị bắt bỏ tù.

    Ngày thằng Cả về, bẩn thỉu hốc hác như bóng ma, ông bà nát tim. Phải đợi đến năm 1985 ông mới vượt biên lần nữa với thằng út. Lần này thì lên được đảo. Bà và các con mừng vô kể. Công an gọi bà lên tra khảo: “Ông Giáo đi đâu? Cậu Út ở đâu?” Bà chỉ biết trả lời bố con đi buôn xa. Chúng chán nên rồi cũng tha cho bà. Bà giấu thư chồng như tang chứng tội lỗi, âm thầm chờ ngày đoàn tụ. Rồi thằng Toàn đòi vượt biên sau khi thi rớt. Bà khô nước mắt cản con nhưng nó không nghe, sống thấp thỏm cho đến ngày được tin thuyền nó được vớt.

    Phải nhắm mắt thôi, mỏi quá rồi. Sẽ thấy gì đây? Bóng tối? Không, có một ánh đèn, sáng rực nhưng không nhòa mắt.

    Ai kia? Thằng Chí! Sao mày gầy thế hả con? Khổ chưa! Mợ bảo đi học trên Đà Lạt mà không nghe, cứ đòi đi lính để mợ lo khổ. Mày nói sao? Lại gần đi con. Đừng đi! Đừng đi!

    Có tiếng gì đây? Ca nhạc. Ông già lại xem ti-vi khuya rồi. Khổ quá! Ông ơi, vào ngủ này!

    Đèn mờ đi. Chưa tắt được! Còn nhiều chuyện lắm...

    Bà thấy đầu bà lạnh, thấy nhẹ bẫng, như đang nổi trên không khí. Bà thở mạnh, lưng lại chạm giường. Chưa bay được. Đã xong đâu.

    Cháu gái chê canh nhạt. Bà cần thêm muối. Hết muối rồi. Bao muối ở trên cao. Bà bắc ghế trèo lên. Ghế quay cuồng. Bà ngã...

    Đừng bán nhà nhé các con. Anh Chí về rồi. Nó cần nhà ở chờ cậu bảo lãnh sang đây. Cậu phải làm giấy tờ ngay kẻo muộn. Mợ thấy gần đây cậu yếu lắm rồi.

    Nhớ mỗi năm phải tỉa lá cây mai. Tết nào nó cũng ra hoa đẹp lắm. Mợ yêu cây mai nhà mình quá! Chí phải chăm lo nhà cửa cho mợ rồi cậu sẽ lãnh con sang đây với mợ. Con có nghe mợ nói không? Sao mày hay cãi mợ thế?

    Sao mày không ra Đà Lạt mà học?

    Tối quá!

    Thảo à, đừng giận mợ nữa con nhé. Nếu cần tiền thì mợ cho con. Chỉ có con là chưa có nhà thôi. Phải mua nhà chứ! Cứ ở thuê như thế này thì suốt đời đóng tiền nhà cho thiên hạ à? Mợ cho con tiền. Đừng giận mợ nhé!

    Cháu nó chê canh bà nhạt. Phải đi lấy muối...

    Tối quá, bà không thấy đường! Không có muối...

    Có chuột... Chuột bạch... Nhiều quá! Chúng bò lên người bà. Nhột quá! Bà bay lên, quằn quại vì nhột.

    Chuột kéo đi. Bà tê liệt...

    Đèn tắt…

    Ông ơi, vào ngủ kẻo trễ!

    Ông vào ngủ. Ông bà ngủ ngon.

    ***

    Cô y tá hớt hải rung chuông. Bác sĩ đến. Lắc đầu. Cô lập tức chạy về văn phòng, mở tập hồ sơ dày cộm, tìm số điện thoại liên lạc khẩn cấp: Thao Huynh.

    Cô bấm số. Điện thoại reng.

    Máy nhắn tin.

  5. #65
    My husband thinks it’s not “his problem” to help stressed-out sister with parents

    Dear Carolyn: My husband, “John,” is the oldest of three children. His siblings, “Bill” and “Sue,” both live where they all were raised. Both parents are in declining health. Over the years, Sue has taken on the lion’s share of caring for them. She is a nurse, so a logical person to tend to medical issues, and now works in a high-pressure corporate job in the health care industry.

    Bill and his wife help out when specifically asked, but that is all. We have regularly sent money to Sue to help with expenses as we are more able to do so than she.

    Mom and Dad tend to call on Sue, believing her work is less important and demanding than Bill’s. Moving them out of their home is not really a possibility. They have recently agreed to have someone help once a week, but now Sue spends time managing her, so while she is relieved of some physical work, she is still involved.

    Sue is about to change jobs, and is concerned she will no longer be as flexible as she has been to tend to her parents’ needs. She has spoken with Bill and his wife who have said they will try to help. When I suggested to my husband the three of them get on the phone together to come up with a plan, he told me it “wasn’t his problem” and that he had too much else on his mind. Bill’s attitude is similar.

    I’m just a sister-in-law, so have no real say, obviously. But when I talk with Sue, as I do regularly to provide some emotional support, I can see she is at the end of her rope. She told me recently, in tears, that if she could pay $2,500 (the last amount we contributed to the parents’ fund) to be free of her responsibility she would do it in an instant.

    I feel terrible that she carries this burden, but don’t know how I can help. The family does not communicate well. Years ago, I asked how my mother-in-law would manage financially if my father-in-law died. You’d have thought I was asking if it was OK to kill him. This head-in-the-sand approach may work for my husband and his brother, but it is obviously not working for Sue. Is there anything I can do? – Frustrated


    Carolyn Hax: Yes! You can choose not to retreat in the face of a ridiculous, entitled, sexist response from your husband about the responsibility for his parents’ end-of-life care.

    You’re not “just” a sister-in-law here; you’re a spouse. That you’ve described your role relative to Sue and not John says you’ve let yourself be suckered into the notion that this is primarily Sue’s story. Sue, Bill and John have equal standing and equal responsibility here, and that math doesn’t change just because Sue is the only one showing up for it.

    A moneyed out-of-towner can spring for more in-home staffing, at least; a strapped one can make and take calls, book appointments, actually care.

    Technically, of course, your husband is right. His parents’ well-being is his problem only if he chooses for it to be, and Sue herself has chosen to assume this burden. There is no law or contract in force here.

    But this interpretation of who owes what to whom rests on definitions of obligation and choice that take zero account of moral imperatives. Your husband just stated, in so many words – or I should say, in devastatingly few words – that he is perfectly comfortable leaving the messy stuff to everyone else simply because he can.

    Unless there’s some backstory here that would excuse your husband of any moral debt to his sister or to the people who raised him, his dismissiveness betrays an utter failure of character. But that hardly excuses and barely explains.

    And while time will eventually eliminate this caregiving problem, John’s character problem will be in your marriage (and has been, no doubt) as long as you are. I’d be surprised, too – though genuinely pleased and relieved on your behalf – if it didn’t creep into other aspects of your later years. Imagine if your health spirals and you need him to show up for you when doing that is a lot harder than writing a check. When it’s the hardest thing he’s ever been asked to do, in fact. Will he embrace you as his problem to care for? As his privilege?

    So my advice for you is to step far enough back from the Sue-is-overwhelmed problem to see the full scope of the dynamics at play; what they mean for you now and will mean over time; and what is within your power to change.

    If nothing else, please, stand up openly for Sue. Tell John, steadily, it’s his “problem” as much as it is Sue’s. Never let him think free rides are actually free.

    Email Carolyn at tellme@washpost.com.

  6. #66
    Tuổi đá buồn
    Huy Phương

    Cách đây vài chục năm tôi có đọc được một câu chuyện đâu đó mà nay tôi đã quên cả tên chuyện cũng như tác giả. Chuyện kể một cụ già sống trong một chung cư dành cho người cao niên, thường ngày ông lẳng lặng đi về, ít chuyện trò với ai, cũng như không thấy ai lui tới thăm viếng ông. Nghe nói vợ ông mất sớm, ông không có con cái, bạn bè thân thuộc. Một buổi sớm kia, người ở chung dãy phòng với ông, chú ý đã mấy hôm nay ông không ra khỏi phòng, tuy vẫn nghe tiếng nói từ trong máy truyền hình phát ra, sợ có chuyện gì không hay, người kia gõ cửa nhưng không thấy trả lời. Nghi hoặc, người kia báo tin với ban giám đốc chung cư. Khi nhân viên đến mở cửa ra mới phát giác ông cụ đã chết ngồi trên ghế sô-pha, có lẽ từ mấy ngày nay, trước máy truyền hình vẫn mở.

    Khi cảnh sát đến lập biên bản và đưa ông cụ vào nhà xác, người ta tìm thấy trong phòng ngủ của ông cụ treo đầy những vòng hoa cườm phúng điếu, mang những dòng chữ: “Vĩnh Biệt Bạn Hiền,” “Muôn Vàn Thương Tiếc,”... dưới vòng hoa là những hàng chữ đề tên người hay nhóm người phúng điếu như: “Ban Giám Ðốc Chung Cư Hoàng Hạc,” “Hội Cựu Chiến Binh,” “Công Ty Bảo Hiểm Vạn Thọ”... Ông cụ đã sợ chết đi, đám tang lạnh lẽo, không ai thăm viếng, đưa tiễn nên ông đã đặt mua những vòng hoa này, giấu giếm đem về vào những lúc vắng người, để sau này tự phúng điếu cho mình. Thể theo ý nguyện của người quá cố, những người đưa ông cụ đến “nơi an nghỉ cuối cùng,” đã đặt những vòng hoa này lên mộ ông.

    Ngày xưa, nhiều trường hợp cha mẹ, con cái, cháu chắt cùng sống chung trong một mái nhà, chỉ có một người quản lý tiền bạc, có khi bữa cơm cùng ăn chung với nhau. Họ không hề nghĩ đến tự do cá nhân, có khi hy sinh tình thân riêng tư giữa vợ chồng cho tiếng tăm của đại gia đình. Khi cha mẹ, ông bà về già, không còn khả năng làm lụng hay kiếm ra đồng tiền, phải sống nương tựa vào con cái, nên chúng ta ít thấy trường hợp quý vị già cả phải sống cô độc một mình.

    Hoàn cảnh những người già sống cô độc hiện nay trên khắp nước Mỹ không phải là ít vì chúng ta không còn hy sinh sự tự do riêng tư và điều kiện kinh tế khác xa với thời trước. Người già thì muốn tự do, không muốn ràng buộc vì con cái hay mang mặc cảm nhờ cậy, con cái thời nay có khi ít quan tâm đến cha mẹ vì mọi người đều nghĩ là người già có thể tự túc về kinh tế, có đủ trợ cấp, có nhà ở và thuốc men đầy đủ.

    Do vậy, người già đau ốm đã có nursing home, người già mạnh khỏe thì có “nhà già” (cao niên). Bây giờ đang vào độ cuối thu, những ngọn lá phong se lạnh đã đổi màu, sau ngày đổi giờ, tôi có cảm tưởng trời tối nhanh hơn. Mỗi đêm tấm chăn đơn không còn đủ ấm, nghe trong xương cốt nỗi đau nhức gậm nhấm, bản thân tôi là một người đang sống gần gũi với vợ con, cũng cảm thấy một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn, làm sao những cụ già trong nhà dưỡng lão, những vị cao niên cô quạnh một mình không cảm thấy buồn bã, cô đơn.

    Ðã từng vào thăm những căn chung cư dành cho cho các cụ đang còn lành mạnh, tôi đã phải đi qua những dãy hành lang tối tăm vắng lặng như thiếu sinh khí, không một tiếng động từ bên ngoài vẳng vào, thiếu những âm thanh sinh hoạt của đời thường. Trên lối đi là những căn phòng vuông vắn, đơn điệu, với cánh cửa đóng im ỉm, có lần tôi đã nhìn trên cánh cửa ấy một vòng hoa tang nhỏ, đánh dấu trong căn phòng này một cụ ông hay cụ bà đã ra đi. Dưới sân, trên những chiếc ghế đá là những đôi bạn già hay những người ngồi hóng nắng; ở góc sân kia, trên một chiếc ghế khác, một bà cụ đang ngồi đan, ngủ gật, hai que đan rơi xuống đùi bà và búp len lăn xuống thảm cỏ.

    Trong nursing home, trên đường đến phòng một người quen, một bà cụ ngồi trên xe lăn, quay ngang xe, chận tôi lại trong khi hai tay múa may, miệng nói những lời lảm nhảm vô nghĩa, khiến người nam y tá phải can thiệp vỗ về và đưa bà cụ về phòng. Ðâu đây có tiếng la the thé, tiếng ho ùng ục, gậm gừ như không còn hơi sức để tống đờm dãi ra khỏi lồng ngực, trái lại ở trước vài cửa phòng, có những người ngồi yên lặng bất động như pho tượng buồn nhìn ra lối đi.

    Sau bữa cơm chiều được dọn sớm cho nhân viên ra về, những cụ già này trông ngóng một bóng dáng quen thuộc của những đứa con thân yêu đến thăm, có thể cuối tuần này chúng sẽ đưa cụ về nhà tắm rửa, ăn uống để cụ sống lại một ngày ấm cúng trong gia đình mà ngày nay đối với cụ, là một cái gì xa vời, khó kiếm. Ngày xưa đứa trẻ trông ngóng, chờ mẹ tan sở hay đi chợ về, ngày nay người mẹ già trong nhà dưỡng lão đang đợi chờ những đứa con, cũng như thế, nhưng lặng lẽ và an phận hơn. Nhưng rồi bóng chiều đã ngã, ngọn đèn đầu hành lang đã bật sáng, cụ lặng lẽ quay bánh xe lăn về phòng, và biết rằng đêm nay sẽ là một đêm khó ngủ.

    Không khí trên những hành lang của những căn nhà già hay cảnh ồn ào, hoặc đôi khi trái ngược, quá vắng lặng ở một góc nào đó trong viện dưỡng lão, một mùi khai nồng ở đâu thoảng lại, nhắc nhở cho ta nhớ đến mùi của một bệnh viện trong những ngày xa xưa ở quê nhà, khiến người thăm viếng như muốn bước qua thật nhanh và rút ngắn thời gian thăm viếng.

    Những người già luôn luôn cảm thấy cô đơn, xin hãy mang lại những vòng hoa đẹp đẽ tươi thắm cho người còn sống, vì khi chết đi, nằm trong quan tài, những vòng hoa phúng viếng chỉ trang trí được cho tang lễ cái vẻ rộn rịp, phô trương và cho những người sống đứng quanh quan tài. Những ngày lễ Tết, sinh nhật, giáng sinh, ngày mẹ, ngày cha... những người già cần một đóa hoa tình nghĩa, là những lần thăm viếng, vòng ôm thân ái, những lời thăm hỏi. Tôi không nhớ có lần nào đó, một nhà văn đã viết một cách dí dỏm rằng: “Gả con gái đừng gả quá xa để khi bát canh được mang đến nhà mẹ vẫn còn nóng!” theo ý của câu ca dao: “Gả chồng thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho.”

    Bây giờ, con cái mỗi đứa lập nghiệp mỗi phương xa, những ngày sum họp cuối năm, tàu bè đi lại khó khăn, kinh tế hết thời phồn thịnh, một năm một lần không về gặp được mẹ cha. Bây giờ, tình cảm mỗi ngày một nhạt phai, thời đại ngày nay không còn “sửa gối, bưng trà” (gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng?) Với những người già cô đơn và sống cô độc, không con cái, vợ hay chồng mất trước, gặp cảnh trái ngang của cuộc đời, cảnh khổ còn gấp nhiều lần.

    Nhiều gia đình, ở trong những căn nhà rộng thênh thang, chỉ còn bóng đôi bạn già, trong khi con cái như những cánh chim trời đã bay xa, để lại cái “tổ trống” lạnh lẽo. Lá ngoài vườn rụng nhiều quét không kịp, trên lối đi rêu đã phủ xanh. Trong căn nhà, vắng tiếng cười, điện thoại nằm yên không một tiếng reo.

    Chúng ta đã nghe đến “lệ đá”, “tuổi đá buồn” như nói đến đá cũng biết buồn và biết nhỏ lệ, những tảng đá, qua thời gian đã mòn phai cùng sương nắng, những tảng đá không còn “lăn trên đồi”. Tuổi già chính là những tảng đá nằm trong một góc tối ẩm thấp nào đó, những tảng đá đã xanh rêu. Nỗi buồn cũng an phận lặng lẽ, như tuổi già ở cuối cuộc đời rồi sẽ phôi pha, đắm chìm trong sự quên lãng.

    Phước cho ai đã mất hết trí nhớ, để khỏi biết buồn.

  7. #67
    Nhớ nồi cá kho của má
    Nguyễn Hiền

    con bưng chén cơm nguội
    chờ hâm nồi cá kho
    bếp chiều rưng rưng khói
    tự dưng con nhớ má

    nhớ hồi nào cá nục
    má kho qua hai lửa
    sao thơm ngon lạ lùng
    ăn cứ muốn ăn nữa

    nhớ những lúc xế trưa
    bụng đói lẻn xuống bếp
    cơm chan nước cá kho
    ăn ngon lành mấy chén

    giờ con cũng kho cá
    nhưng thiếu mặn thiếu ngọt
    thiếu hình bóng của má
    nhiều khi con nuốt nghẹn

  8. #68
    Mẹ trong hồi ức thi ca tôi
    Nguyễn Mạnh Trinh

    Có những bài thơ, đọc lại là cả một sự hồi tưởng. Hơn thế nữa, nó còn là một phần đời sống.

    Một trong những bài thơ vừa kể, tôi viết năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chuyến trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi sẩm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà…

    “Góc hiên đôi mắt cuộn tròn
    dong tay nắng cũng hoàng hôn bóng trời
    mẹ ngồi chải tóc sợi rời
    đậu vai áo một nụ cười thêu hoa
    mây rơi rụng xuống mái nhà
    màu lá biếc cũng nhạt nhòa cành vui
    cổng gió cửa đóng ngùi ngùi
    nghe sóng cuộn giữa ghềnh trôi óc thầm
    mẹ ngồi bóng xế trăm năm
    tay lần chuỗi tiếng kinh trầm trầm bay
    khói sương ở đỉnh núi tây
    nên xa xăm lắm tháng ngày mênh mông
    đi về xuôi ngược bến sông
    chiều như đang rụng xuống lòng phố quên
    Mẹ ngồi như tạc nỗi niềm
    Tóc phơ phất gọi tịnh yên trong hồn
    Kinh đen con nước xuống ròng
    Trơ gốc cọc để trống không mặt lầy
    Ði về tôi vẫn loay hoay
    Chợt nghe lạnh ngọn heo may cuối trời
    Mẹ ngồi một thuở ấu thời.

    Tôi nhớ lại lúc ấy trới mờ mờ tối. Tuy vội vàng vì có hẹn với cô bạn gái nhưng có điều gì giữ tôi lại. Không phải là tiếng kinh hay mùi nhang khói, cũng không phải là đôi mắt Phật Bà hiền từ trên bàn thờ. Mà, bởi vì cái vóc dáng của mẹ ngồi, trong không gian, thời gian vô cùng tĩnh lặng cầu nguyện cho mình. Thế mà, bỏ đi thì không đành lòng. Tối hôm ấy, tôi trằn trọc trong chỗ nằm của mình, với cảm giác bâng khuâng khó tả…

    Tôi nghĩ mình không phải là một đứa con ngoan ngoãn. Tôi có tuổi nhỏ ngỗ nghịch và ở trong xóm là đứa đầu têu cho những chuyện nghịch phá. Lớn lên, lại không cố gắng học đại học như anh tôi hoặc đứa em tôi mà lại đi lính. Trong khi mẹ tôi thì chủ trương dù nghèo thế nào chăng nữa các con bà cũng phải học cho đến khi không còn cố gắng được nữa dù bà là một người ít học. Năm Mậu Thân cha tôi mất, rồi nhà bị cháy, nhưng mẹ tôi vẫn cố gắng xây dựng lại với một nỗ lực vô biên.

    Cuộc đời mẹ tôi, trải qua nhiều khó khăn nhiều lo toan khổ cực và với đàn con như một con gà mẹ luôn xòe cánh ra che chở và chống đỡ lại những nghiệt ngã của cuộc đời.

    Mẹ hay kể lại những năm đói hay những cuộc chạy loạn trong cuộc đời mình. Bà vẫn nhớ những người đã cưu mang giúp đỡ đến nỗi mấy đứa con khi nghe một câu đầu đã tiếp theo ngay câu thứ hai, và bà cười nhưng vẫn tiếp tục cái câu chuyện đã quá quen thuộc ấy. Bà nhắc đến khi chạy loạn, ghé vào chùa của sư cô Khoa có cây khế đã thành thức ăn thanh đạm trong nhiều ngày cho cả gia đình, hay những khi bố tôi phải vào rừng kiếm gỗ đẽo guốc để bán những lúc khó khăn. Thời gian lúc đó, với bà vẫn gần gũi quen thuộc như lúc hiện giờ, sáng sớm ra chợ mở cửa hàng buôn bán như một công việc đã kéo dài năm này qua tháng khác.

    Tôi đi xa rồi lại về gần, khi làm việc ở phi trường Biên Hòa gần Sài Gòn nhưng bản tính lông bông nên ít khi ở nhà. Nhưng bên cạnh tôi hình như lúc nào cũng có cái bóng của mẹ tôi, nương tựa thì không đúng hẳn nhưng vẫn là một điều gì giúp đỡ ân cần. Tôi tin chắc, khi có điều gì khó khăn, sẽ có sự chia sẻ của người thân yêu nhất của mình.

    Năm 1975, những phi đoàn F5 dời về phi trường Tân Sơn Nhất lúc đầu tháng tư. Và tháng chót trong đời quân ngũ của tôi là thời gian ở đây. Tình hình lúc này nặng nề với bao nhiêu biến chuyển của đất nước. Trong đơn vị, câu chuyện hàng ngày là tình hình và thời thế. Lúc gần như thời gian cuối, vẫn bao quanh câu hỏi đi hay ở. Còn ở gia đình, cũng câu hỏi tương tự. Mẹ tôi vẫn một câu nói. Ðứa nào đi được thì cứ đi, đừng có lo cho người khác, nhất là những đứa có thể có những phương tiện. Bà nói, mẹ đã có nhiều thời gian sống với bọn “họ” rồi. Khổ sở lắm… Khi sửa soạn những túi xách để ra đi, bà cứ chép miệng. Qua Mỹ rồi, làm gì có trầu mà ăn! Những miếng trầu, là cái thú vui của bà cũng như xem và nghe các tuồng cải lương. Những miếng trầu, suốt mấy chục năm, đã thành một thói quen thân yêu không thể nào bỏ. Thế mà, vì nghĩ đến mấy đứa con, bà quên đi cái tập quán ấy, chấp nhận ra đi…

    Rốt cuộc, gần như cả gia đình tôi di tản được năm 1975. Riêng tôi, còn nặng nợ nên kẹt lại, dù đã đi xuống phi trường Bình Thủy nhưng không thoát được phải trở về nhà. Cái giây phút phải leo vào nhà sao thê thảm. Cửa dưới bị niêm phong, nên phải leo lên lầu để vào nhà. Khi nhìn thấy vật dụng của những người thân trong nhà tôi thấy nghẹn ngào. Vật thì còn đây nhưng người thì đã đi xa. Tôi nhìn giường ngủ của mẹ, nhìn đôi dép nhung dưới sàn, nhìn ô trầu, nhìn cái áo vắt trên thành giường, tự nhiên tôi muốn òa khóc. Những lá trầu đã héo vàng, những miếng cau đã quăn queo, những vệt vôi têm đã khô bong ra, như biểu tỏ của nỗi niềm chia ly vĩnh viễn. Lúc đó tôi nghĩ chẳng bao giờ gặp lại được những người thân. Cái cảm giác tuyệt vọng làm tôi như muốn ngạt thở. Nhưng rồi vẫn phải nén cảm xúc và vẫn phải sống và thoát đi cái địa ngục đang dần hiện đến của số phần những người thua trận.

    Ði tù rồi trở về Sài Gòn, chờ đợi những chuyến vượt biên, thỉnh thoảng tôi lại đi qua để nhìn vào căn nhà thời xưa của mình cũng như sạp bán vải trong chợ Bình Tiên của mẹ ngày xưa. Cảnh vật cũng thê lương ảm đạm như người lúc đó. Buôn bán khó khăn, phiên chợ mất đi cái náo nhiệt thời xưa và người mua kẻ bán tràn ùa ra lề đường với kiểu buôn bán tạm bợ chỉ biết ngày nay mà không thể mường tượng được sinh kế của ngày mai. Từ những người đàn bà buôn gánh bán bưng trên hè phố tôi lại nhớ đến mẹ tôi. Không biết bây giờ bà ra sao và đời sống thế nào? Sau này, khi nghe kể lại, khi tạm cư ở đảo Wake, mẹ tôi thường xuyên ra cầu tàu nhìn mông về phía biển và đợi một chuyến tàu ghé bến có đứa con của mình. Bà chờ đợi và chờ đợi…

    Tôi vượt biển tới đảo Kuku rồi Galang năm 1980. Trong vài tháng chờ định cư, tôi đã sống những ngày tự do thật vui vẻ. Mấy đứa em gửi thư qua nói anh hãy xem thời gian hiện tại như là đi nghỉ hè, qua đây sẽ làm việc học hành đến không kịp thở.

    Ðến Mỹ, sau một thời gian ngắn tôi lao vào cuộc sống mới. Vừa học vừa làm, với cái tâm tư cố gắng bây giờ cho ngày mai. Mẹ tôi hàng ngày thúc đẩy. Ráng học cho có một cái nghề. Ở đây mà lông bông không nghề nghiệp không bằng cấp thì khổ lắm. Không phải với riêng tôi mà cả với mấy đứa cháu nội, cháu ngoại bà cũng khuyên nhủ như thế. Gia đình mình không có gia tài cha ông để lại, thì phải gắng học để có của cải cho riêng mình. Có lúc có mấy người bạn rủ tôi mở tiệm furniture, lúc ấy làm ăn rất dễ dàng mà vốn liếng chẳng bao nhiêu. Nhưng mẹ tôi cản, nói học phải là công việc chính để chừng nào xong sẽ tính sau.

    Mỗi buổi sáng sớm mẹ tôi dậy sớm sửa soạn bữa ăn sáng cho tôi và mấy đứa cháu bới cơm mang đến trường. Trên bàn ăn là một dãy năm cặp lồng cơm để thứ tự và món ăn thay đổi ngon lành. Kết quả là bây giờ, mấy chú cháu, cậu cháu đều tốt nghiệp hậu đại học và đều có công ăn việc làm tốt. Và, như thế mẹ tôi hài lòng lắm.

    Thời gian qua đi tôi lập gia đình và mẹ tôi già thêm và sức khỏe cũng dần giảm sút. Một điều không may là suốt trong hơn chục năm sau cùng mẹ tôi bị bệnh đau nhức hành hạ. Mà nguyên nhân thật vô duyên. Mẹ tôi bị bệnh mà người mình gọi là bệnh “dời leo”. Nếu chữa trị đàng hoàng thì có lẽ không bị hậu quả như thế. Ðằng này ông bác sĩ gia đình mà cũng là một nhà văn có viết lách, lại khám bệnh cẩu thả và cho là bị phản ứng thuốc. Ông ta còn có những chuyện mà tôi gọi là vô trách nhiệm, khi mẹ tôi phải vào bệnh viện ban đêm, gọi ông ta thì ông bịt mũi cho khác giọng và trả lời không có nhà. Với một người có quen biết mà cư xử như thế thì thật là hết ý kiến…

    Những lúc buồn suy nghĩ về mẹ, tôi hay nghe nhạc bởi vì âm nhạc đã tạo cho tôi thật nhiều xúc động khi nghe những bản nhạc như Ơn Nghĩa Sinh Thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, Bông Hồng Cài Áo của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ…

    Bản Lòng Mẹ tôi đã nghe đi nghe lại ở một băng ghi âm còn sót lại sau những ngày ở Sài Gòn tháng 5 năm 75. Lúc ấy, gia đình tôi đã di tản nhưng chưa biết tin tức thế nào và tôi đã nghe bản nhạc có những câu như “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…” đã làm lòng tôi như mềm đi trong nỗi bồi hồi khôn xiết. Tôi nghe mãi đến nỗi băng ghi âm bị mòn đi thành những tiếng rè rè. Và tôi vẫn nghe, tưởng âm thanh rè rè đó là tiếng động của chuyến tàu đã đưa những người thân đi xa mất biệt…

    Bản nhạc Ơn Nghĩa Sinh Thành làm tôi nhớ đến những ngày của biến cố Tết Mậu Thân. Lúc ấy cha tôi vừa mất ở nhà ông anh cả của tôi và đêm tôi ngồi cạnh bên quan tài của ông mà nghe bản nhạc ấy một mình với tâm tư rối bời và buồn thảm. Lạ một điều, nghe bản nhạc của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước tôi lại nghe như có một chút gì như muốn chia sẻ nỗi ngậm ngùi của riêng tôi. Từ câu học thuộc lòng thời nhỏ: Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, để thành một dòng nhạc nhắc nhở đạo làm con. Mà tôi thì tự nhận xét mình là đứa con làm phiền lòng cha mẹ nhiều nhất…

    Ca khúc “ Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ lấy ý và gợi cảm hứng từ một bài đoản văn cùng tên của Thượng tọa Nhất Hạnh viết năm 1962 ở một trại hè Camp Ockanikon tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ, và phổ biến trong nội bộ đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn bằng cách chép tay thành 300 bản làm quà tặng cho bạn bè. Mỗi bản chép tay đều gắn thêm một chiếc hoa màu hồng cho người còn mẹ hoặc màu trắng cho người mẹ đã qua đời. Rằm tháng bảy năm 1962 tức lễ Vu Lan các sinh viên Phật tử tụ họp tại chùa Xá Lợi và cử hành Lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối của thầy Từ Mẫn in quyển Bông Hồng Cài Áo đầu tiên khổ nhỏ và dài có thể bỏ vào bì thư để gửi tặng bạn bè trong ngày lễ Vu Lan.

    Bài viết gửi cả tấm lòng của một người đã xuất gia tặng Mẹ. Giọng văn thật thiết tha, ý nghĩa thật sâu sắc, mang một phong thái rất Việt Nam, cô đọng trong từ ngữ nhưng lại mở ra nhiều ý tưởng độc đáo.

    Mở đầu với một bài thơ mà ông nhớ từ thuở nhỏ vì nỗi đau mất mẹ:

    “năm xưa tôi còn bé
    mẹ tôi đã qua đời
    lần đầu tiên tôi hiểu
    thân phận trẻ mồ côi
    quanh tôi ai cũng khóc
    im lặng tôi sầu thôi
    để dòng nước mắt chảy
    là bớt khổ đi rồi
    hoàng hôn phủ trên mộ
    chuông chùa nhẹ rơi rơi
    tôi thấy tôi mất mẹ
    mất cả một bầu trời”

    Ai đã từng làm cha mẹ mà không phải se lòng với những câu văn thiết tha, với những suy tư rất thực tế mà lại đầy triết lý. Nhất là đoạn cuối có lời nhẹ nhàng hướng dẫn, có ý sâu sắc ngỏ tình, đã mở ra những khung trời yêu thương.

    Ðoạn văn ấy đã làm rường cột cho bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ khi ông sáng tác Bông Hồng Cài Áo:

    “Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc khi đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên Mẹ. Sẽ bắt Mẹ dừng kim chỉ mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ anh sẽ hỏi một câu làm mẹ chú ý. Anh hỏi “mẹ ơi, mẹ có biết không? Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh vừa cười vừa hỏi “Biết gì?”. Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp “Mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng sẽ hỏi một câu ấy. Bởi vì anh. Bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, anh sẽ không hối hận đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ. Ðó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm vào trong vô tâm quên lãng. Ðóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.”

    Nghe bản nhạc của Phạm Thế Mỹ, hình như tất cả những điều tuyệt diệu của bài đoản văn đã được lột tả trong âm nhạc. Những thông điệp tình thương được gửi đi không những nguyên vẹn mà làm vỗ cánh bay đi xa hơn, làm xao động cao rộng hơn. Thầy Nhất Hạnh đã nhận xét về bản nhạc như sau: “Phạm Thế Mỹ làm bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng như thở vào thở ra, tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy…”

    Với riêng tôi, ca khúc Bông Hồng Cài Áo nhắc nhở ngày mẹ tôi từ trần. Bà mất vào ngày 3 tháng 5 năm 2003 trước Mother’s Day một tuần và đến lễ Vu Lan là ngày cúng 49 ngày của mẹ tôi.

    Hôm ấy, có một cô bé trong đoàn Phật tử trong buổi lễ hỏi tôi: Chú cài bông hồng mầu gì? Và tôi trả lời. Mầu trắng. Và cô bé nói con sẽ hát bài Bông Hồng Cài Áo để tặng chú. Khi trả lời cô bé, tôi nhớ lại như một cách phản xạ. Nhớ lại vành khăn trắng, mùi nhang khói, đôi mắt nhắm lại của mẹ ngày nào, tất cả làm tôi như hụt hẫng. Ðọc những câu kinh, nhìn lên bàn thờ Phật, để trấn tĩnh lại. Ðôi mắt Ðức Phật, như có chút gì sẻ chia, như có chút gì an ủi. Mẹ tôi đã đi xa. Bây giờ, hết rồi, không còn nụ cười móm mém mắt cũng cười theo khi nhìn con cháu. Bây giờ hết rồi không còn những chuyện kể ngày xưa lúc ở phố Lạng Sơn hay ở làng Phù Lưu. Bây giờ, mẹ đang nằm trong lòng đất xứ người. Và biết đâu, ở cõi âm phần đó mẹ trở về lại quê hương, để ghé thăm ngôi nhà cũ, ngõ làng xưa. Biết đâu…Và bản nhạc Bông Hồng Cài Áo có khi là một hối tiếc muộn màng của một đứa con nhiều lần làm mẹ buồn như tôi…

    Buổi trưa trong nghĩa trang, hình như đầy những chậu hoa. Tôi chợt nghĩ trong đầu những câu thơ… Những suy tư rời rạc của những ngày tháng trôi qua lặng lẽ. Có những người đã ra đi. Vào một thế giới nào, xa vời. Có những bài thơ như một điệp khúc tưởng nhớ…

    1.

    Có những ngày như sáp nóng chảy
    Giữa cơn mơ hừng hực trong đầu
    Tháng năm và nụ hoa trắng
    Nở vàng trong ký ức.

    Khi cơn gió lay ngọn cỏ mơ hồ
    Như gót chân một năm đi qua lặng lẽ.
    Tôi tự nhủ thầm
    Một mình
    Trong váng vất dòng sông thao thiết

    Một ngày đếm những nụ hoa
    Ðếm những hạnh phúc hiếm hoi
    Ðếm những dây vạn niên thanh
    Giơ lên những nụ gai thời tuổi trẻ

    Chợt nghĩ câu thơ Lưu Trọng Lư
    Ngày xưa
    Như câu hát ru em ru tôi
    Ðứt ruột.

    Tôi sẽ in những hình bóng
    Không bằng dương bản
    Trong bộ nhớ tôi
    Có câu kinh vời xa
    Buổi chiều vàng mầu khói úa

    Con chim sáo quen đã về
    Màu đen hoang vu
    Mổ những hạt cơm cúng khô rời
    Cho một phần ăn hữu hạn

    2.

    Tháng năm và nghĩa trang
    Tôi giả vờ nghiêm nghị
    Ðóng vai người thuyết giảng
    Cho hạt bụi rơi
    Trong nỗi nhớ mơ hồ.

    Có câu kinh nào cho tôi
    Có câu kinh nào cho chúng ta
    Khi
    Chuyến xe đi đã chờ góc phố

    Nơi đến
    Một địa chỉ mơ hồ
    Bảng chỉ đường không ánh đèn
    Ngọn nến thoáng qua
    Con mắt cú mèo trong huyền tích

    Có những mộ bia
    Viết bằng thời gian vô tận
    Nét chữ loang trên bóng chiều
    Một nụ cười thân yêu
    Vời vợi

    3.

    Một năm
    Tôi như kẻ lang thang
    Ði tìm giấc mơ
    Của nội cỏ hoang vu
    Mà vó ngựa phi như hạt bụi
    Rơi trong mù mịt vô thường

    Một năm
    Tôi giấu trong hồn
    Một nụ hồng
    Màu đỏ đã héo khô
    Mà chưa đủ trắng…

    (Thơ cho ngày giỗ mẹ đầu tiên)
    Nguyễn Mạnh Trinh

  9. #69
    Bố tôi.
    Kathy Trần

    Biết bao lần tôi ngồi trước máy, muốn viết về bố tôi nhưng tôi không viết được.

    Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về bố từ khi mẹ tôi mất.

    Phải thành thật mà nói, bố tôi không phải là người khéo ăn, khéo nói. Bố ít biết ăn nói ngọt ngào.

    Mẹ tôi thường than phiền:

    - Bố mày đã vụng về lại cứ hay nói thẳng băng như bổ củi, chả biết tế nhị bao giờ.

    Mẹ tôi nói đúng thế nên như phần nhiều gia đình khác, lũ chúng tôi thân mật, gần gũi mẹ tôi hơn bố.

    Từ việc ăn món gì? Đi đâu với bạn bè? Cần tiền mua quần áo, muốn mua xe cộ chúng tôi chỉ nói với mẹ rồi mẹ bàn với bố sau, nếu cần. Thậm chí việc có bạn trai, bố tôi cũng là người biết sau cùng và do mẹ tôi thông báo cho bố biết. Nếu mẹ không nói lại thì còn ai trong nhà nói nữa vì chị em tôi ít nói chuyện nhiều với bố.

    Bố là hình ảnh mẹ đem ra dọa chúng tôi từ nhỏ. Trong ký ức chúng tôi, bố tượng trưng cho người lo việc trừng phạt con cái trong nhà. Trong hai người, mẹ săn sóc, gần gũi con cái, mẹ đóng vai ông thiện và Bố đành lòng đóng vai ông ác để lũ con ngoan ngoãn đi vào nề nếp.

    Trong những kỷ niệm mù mờ của thời thơ ấu, tôi còn giữ mãi hình ảnh ngày bố tôi đi Mỹ về. Đồng phục nhà binh thẳng nếp, thật oai nghiêm, thật đẹp và cũng thật xa lạ, bố xách về mấy cái va-ly thật to sau khi bố đi học Mỹ học 9 tháng.

    Tôi núp sau tấm màn cửa từ phòng trong nhìn ra phòng khách. Mẹ tôi cười sung sướng, chị tôi ngồi với bố, bố bế thằng em trai trong lòng, giơ tay vẫy tôi:

    - Bố về sao không ra chào bố? Quên bố rồi à? Ra bố cho quà.

    Nhìn quà cáp ngổn ngang, tôi muốn ra vô cùng, tôi biết đó là bố tôi và bố có quà cho tôi, thế mà tôi cứ chần chờ mãi đợi mẹ kéo mới dám ra.

    Tôi nhớ bố đem về cho chúng tôi con búp bê lớn như đứa trẻ ba bốn tuổi với chiếc áo đầm xòe cô dâu, da thịt mềm mềm như người thật, tóc vàng xõa trước trán và đôi mắt nhắm mở được mầu xanh biếc.

    Hàng xóm kéo đến mừng bố tôi đi xa về, cả xóm trầm trồ con búp bê xinh đẹp, “vĩ đại” của chị em chúng tôi. Mấy hôm sau, mẹ cho hai chị em đi uốn tóc để ẵm búp bê chụp hình. Những tấm hình của hai chị em được phóng to, chưng ngay mặt hàng của tiệm để quảng cáo.

    Tôi nhớ thằng người bằng nam châm, hễ bỏ nằm vào quan tài lại biết nhẩy tọt ra.

    Tôi nhớ những chiếc máy bay được bố cho em tôi ráp từ những mảnh nhỏ gắn bằng keo thơm phưng phức.

    Tôi nhớ chiếc máy hát với thật nhiều đĩa nhạc cổ điển có hình những cô đầm mang vớ dài bằng lưới mầu đen và những bộ sách học Anh Văn kèm theo đĩa.

    Tôi nhớ chiếc lọ đựng mật ong có nguyên tổ ong với vài ba con ong còn trong tổ.

    Tôi nhớ quả cầu đầy nước, có ông già No-el xách túi quà trong mùa giáng sinh. Mỗi lần dốc ngược lên, những bụi tuyết trong quả cầu lại rơi xuống tơi tả.

    Bố tôi đem về thật nhiều quà, nhiều kẹo bánh cho chúng tôi và bố cũng đem về cho mẹ tôi những hàng vải may áo dài. Tôi nhớ có một khúc vải mầu xanh da trời với những đóa hoa li ti mầu tím.

    Tôi không nhớ được những gì bố đem về và mẹ tặng làm quà cho hàng xóm, bạn bè vì tính mẹ tôi rất thảo, có gì cũng chia xẻ cho người khác. Tôi chỉ nhớ những gì của chúng tôi.

    Tôi là một đứa trẻ hay nghịch, phá.

    Con búp bê sau này bị tôi cắt tóc ngắn đi.

    Chiếc lọ mật ong cũng tôi đập bể nhưng bố tôi không la, bố chỉ lo dọn gấp vì sợ các con đạp vào mảnh thủy tinh.

    Ngày ấy tôi chưa biết nói ra nhưng trong thâm tâm, tôi cám ơn bố tôi vô cùng.

    Hai chiếc xe đạp đầu tiên của hai chị em tôi do bố dẫn đi mua. Bố cho chọn mầu, chọn kiểu. Những chiếc xe Solex, xe Honda về sau cũng bố mua cho.

    Khi chị tôi ra trường Sư Phạm, đi dậy học, vì chị hiền lành, bố sợ không biết đi đường một mình nên cả bố mẹ đưa đến tận nơi.

    Tôi thì được coi như nhanh nhẹn, khôn ngoan hơn chị một tí nên chỉ cần mẹ đưa đi ra tận nơi dậy học, tìm nơi ăn, chốn ở trước khi mẹ trở về lại Sài Gòn.

    Bây giờ nghĩ lại tôi buồn cười. Cô giáo đi dậy học mà còn phải có bố mẹ dẫn đi, lo mọi chuyện thì dậy dỗ học trò được gì nhỉ?

    Nhưng lúc đó chúng tôi thấy rất tự nhiên và yên lòng vì chưa bao giờ chúng tôi rời khỏi tổ ấm gia đình.

    Mùa xuân hai năm về trước, tôi mất mẹ.

    Mẹ tôi mất thật nhanh, thật bất ngờ.

    Mẹ ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, không một điềm báo trước, không một lời giã từ vào ngày 28 tết.

    Chúng tôi thương mẹ nhưng cũng mừng cho mẹ. Trong 4 cửa sinh, lão, bệnh, tử, mẹ đã may mắn lách nhẹ nhàng qua được cánh cửa sau cùng, nhưng cùng lúc, chúng tôi lo cho bố thật nhiều.

    Nói cho cùng, cuối cuộc đời, người cần tới mẹ nhiều nhất là bố.

    Trong hơn năm mươi năm hương lửa, bố mẹ tôi cùng cố gắng nuôi dậy đàn con.

    Với đồng lương nhà binh, bé nhỏ dần theo với lạm phát chiến tranh, mẹ tôi buôn bán, xoay xở lo cho chúng tôi ăn học. Mẹ lo cửa hàng, mẹ trông nom người làm khi con còn bé, mẹ tay hòm, chìa khóa, mẹ luôn bên cạnh bố khi bố bị thương, khi bố ốm đau, hoạn nạn. Mẹ là hơn nửa cuộc đời của bố.

    Mất mẹ, chúng tôi đau đớn nhưng với bố, bố mất hết nửa cuộc đời còn lại.

    Mẹ tôi mất đi, bố như người mất hồn, lãng đãng giữa nhớ và quên.

    Trong khi mẹ còn nằm trong nhà thương, đôi khi bố quên là mẹ đã đi.

    Trong vòng một tháng, do lo lắng cho bố, cậu em tôi đưa bố tôi vào cấp cứu hai lần.

    Mỗi lần nghĩ đến những rủi ro có thể xẩy ra cho bố, tôi lạnh cả người.

    Cũng may, bố tôi vào nhà thương nhưng không có gì quan trọng lắm ngoài việc mạch máu tim của bố hơi bị nghẹt nhưng không cần mổ.

    Mấy tháng trôi qua, bố sụt người trông thấy. Bố như mất hết niềm vui và sức sống, bố chỉ còn hút thuốc và đọc sách báo.

    Bác sỹ cấm hút thuốc nhưng bố tôi chẳng thèm nghe:

    - Hút thuốc mấy chục năm nay rồi, bảo đừng hút sao được? Người ta “thất thập cổ lai hy”, mình bây giờ gần tám chục tuổi đầu, chết cũng chả sao.

    Thế là cả lũ im tăm tắp. Sợ nói nữa cụ giận.

    Ngày còn mẹ, tuần nào chúng tôi cũng tụ họp lại nhà bố mẹ ăn uống ồn ào. Mẹ mất, chúng tôi cố giữ lệ cũ được một thời gian để bố bớt cô đơn nhưng hình như bố không còn hứng thú gì nữa.

    Dần dần, nhờ sự săn sóc tận tâm của chị tôi, bố đã trở về với tình trạng sống động hơn.

    Mỗi ngày, chị tôi sang bố một vài lần, đem cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, nhắc nhở bố uống thuốc, lo đưa bố đi bác sỹ.

    Buổi tối, anh chị kéo nhau sang ngủ để canh chừng bố ròng rã hai năm trời.

    Bố bây giờ đã khỏe hơn nhiều, chị tôi mới mượn người đến ngủ để canh chừng bố.

    Bố tôi thương chị nhiều lắm. Trong một bài luận ngày bố còn đi học Anh Văn, bố viết về người bố yêu thương nhất là chị.

    Chúng tôi không phân bì với chị về tình thương của bố, tôi còn cám ơn chị nhiều về sự săn sóc chị dành cho bố và tình yêu chị dành cho các em.

    Tôi là một người may mắn, bạn bè tôi đã phân bì:

    - Bà đã già mà may mắn còn có mẹ.

    Tôi cười, coi chuyện đó tự nhiên.

    Bây giờ, hơn năm mươi tuổi đầu mới mất mẹ, nhiều lúc tôi vẫn thấy cần mẹ thật nhiều. Tôi đến thăm mẹ mỗi tuần vì cũng như khi mẹ còn, không đến mẹ là lòng tôi áy náy vô cùng: Tôi nhớ mẹ.

    Tôi cứ ân hận hoài là đã không thông cảm, không ngọt ngào, không lo lắng cho mẹ nhiều hơn.

    Mẹ mất, tôi hụt hẫng, thiếu thốn nhưng không bao giờ tôi kêu gọi tới mẹ.

    Tôi cầu mong linh hồn mẹ như một cơn gió thoảng, tan biến trong hư vô, không hề vướng bận.

    Ngày nay, chúng tôi chỉ còn bố. Bố tôi đã vui vẻ lại, đã chịu ra ngoài nhiều hơn sau khi mẹ mất. Bố đã chịu nói chuyện chứ không rút vào cô đơn nhiều như những ngày mẹ mới mất.

    Cũng như tôi, chỉ nhớ về những kỷ niệm đẹp, bố nhớ về những ngày thụ huấn tại trường Võ Bị.

    Bố nhớ ngày mẹ lên thăm, xách quà cho bố mà, theo kỷ luật, bố không dám xách giùm cho mẹ. Bố nhớ những ngày bị phạt, bố nhớ những người bạn cùng đại đội, bố nhớ rừng thông xanh, bố nhớ Mimosa vàng, bố nhớ Vũ Đình Trường, bố nhớ Hồ Than Thở... của Đà Lạt với đỉnh Lâm Viên.

    Bố nhớ những lần đi chơi Washington DC, New York, những khu rừng lá vàng, những chuyến du lịch bằng chiếc xe hơi do mấy anh em mua chung khi đi học Mỹ lần thứ hai...

    Những kỷ niệm này, tôi có thể chia xẻ với bố rất nhiều.

    Nhờ viết lách, tôi muộn màng lạc vào thế giới của bố.

    Tôi quen hay biết với hầu hết những người bạn cùng khóa bố còn lại.

    Tôi được thương mến qua tình Võ Bị của bố với các chú, các bác cùng trường mẹ với bố.

    Tôi đã từng yêu thương, kính phục người chiến binh, bây giờ tôi có cơ hội tìm tòi, thông cảm với những người lính ngã ngựa. Nhờ đó, tôi có nhiều chuyện để nói với bố hơn.

    Hơn tuần trước, nửa đêm bố nằm mơ ông bạn bố rủ bố đi chơi, bố dậy, thay quần áo đòi đi với bạn:

    - Ông Tý gọi điện thoại rủ tôi đi chơi.

    Bà trông chừng phải gọi điện thoại cho chị tôi sang.

    Chị phải để bố đi ra sân, đứng ngóng một lúc, không thấy ông bạn tới, bố mới chịu trở vào ngủ lại.

    Chị tôi gọi cho tôi, kể chuyện và kết luận:

    - Cô biết không, tôi sợ muốn chết. Lúc ông xách cặp ra đứng ngơ ngác ngoài sân chờ bạn, thấy tội lắm. Cô đơn lắm, buồn lắm. Khi ông đi ngủ, tôi lục cặp cụ, thấy có mỗi bao thuốc lá! Sáng tôi hỏi cụ, cụ mới nói là cụ nằm mơ.

    Tôi nghe mà đứt ruột. Tôi thương bố, tôi cảm được cái cảm giác cô đơn, lạnh lùng của bố trong đêm tối mênh mông. Cái thân phận con người cô đơn đến với cuộc đời và cuối đời, dù đã đi với ai suốt cuộc hành trình, rồi cũng vẫn cô đơn.

    Có những lúc, không một ai, không cách nào chia xẻ được nỗi cô đơn của một con người.

    Bây giờ, điều cầu mong độc nhất của tôi là bố tôi được khỏe mạnh cho đến cuối đời.

    Tôi viết ra để bố hiểu rằng tôi thông cảm với bố, tôi cũng muốn nói ra điều tôi rất ít nói được với bố:

    - Bố ơi, chúng con yêu thương bố và chỉ cầu mong bố được vui hơn, khỏe hơn trong lúc tuổi già.

  10. #70
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2015
    Posts
    158
    CHUYỆN TUỔI TRUNG NIÊN
    Một người con trai ở bang Texas (Mỹ) đưa cha đi ăn tiệm. Cha anh là một người lính già mắc bệnh tay chân run rẩy, trong lúc ăn làm rơi vãi thức ăn vào người và rơi đầy xuống đất. Một vài người trong tiệm tỏ vẻ khó chịu.

    Người con vẫn thản nhiên, ngồi ăn và trò chuyện với cha. Đợi ông ăn uống xong, anh đứng dậy đến bên cha và nhẹ nhàng nhặt các vụn thức ăn trên áo ông, cầm tay dẫn cha vào nhà vệ sinh rửa và lau sạch cho cha, chải tóc và đội mũ, sửa lại áo quần và đeo kính lại cho ông.

    Trở lại bàn, anh cúi xuống đất lượm sạch những vụn thức ăn cha mình làm rơi vãi, không để lại một chút rác nào. Xong xuôi anh mới dìu cha ra quầy trả tiền.

    Đột nhiên một cụ già thực khách ở bàn kế bên gọi anh và nói to:
    "Anh bạn trẻ ơi, anh để rơi lại cái gì kìa".

    Chàng thanh niên quay lại nhìn kỹ chỗ cha mình ngồi rồi nói:
    "Đâu có, tôi đâu có để lại cái gì đâu?"

    Cụ già đứng lên chậm rãi nói:
    "Có, anh vừa để lại một bài học quý giá về lòng hiếu thảo cho con cái, và niềm hạnh phúc cho các bậc cha mẹ!"
    Cả tiệm đang ồn ào bỗng im lặng, mọi người sững lại vài giây, rồi tất cả vỗ tay ào ào vì xúc động. Những người trước đó đã nhăn nhó và phàn nàn thì ngượng nghịu vì cảm thấy xấu hổ!

    Chủ tiệm ăn cũng xúc động, nên tính giá thật đặc biệt cho hai cha con và ghi thêm vào tờ biên lai dòng chữ "Xin cám ơn đóng góp của cụ!"

    Còn bạn thì sao? Mỗi khi đi ra đườn
    g, bạn để lại điều gì?
    Hy vọng không phải là rác rưởi nhé!

    Nguyễn Ngọc Lan sưu tầm.

    ********************************************

    Bỏ quên Nguyễn Liệu




    Nghe tiếng phone reng, Hoàng bực mình cho là phone quảng cáo, nhưng vẫn giở phone lên gắt gỏng :

    - Alo ! Cái gì mà gọi hoài vậy.
    - Dạ cho chúng tôi gặp ông Lợi, chúng tôi gọi hai ngày nay không ai bắt phone.

    - Ông Lợi không có nhà.
    - Chúng tôi rất cần gặp ông Lợi

    - Ông Lợi đi làm hai giờ chiều mới về, có gì nói với tôi được không, tôi là người nhà ông Lợi,
    - Xin bà làm ơn nói với ông Lợi đến nhà dưỡng lão CampBell đưa ông cụ về nhà vì dịch corona
    nên
    nhà dưỡng lão được lệnh phải giải tán.


    Hoàng hoảng hốt nghĩ cái họa sắp tấp vào nhà, liền xuống giọng năn nỉ :
    - Thưa bà, xin bà có cách gì tạm để ông già trên đó không, tốn mấy chúng tôi xin chịu. Nhờ bà làm ơn giúp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu tạ riêng bà.


    - Không được cô, tôi là nhân viên đâu có quyền hành gì. 19 người già trong viện xét nghiệm có 4 người dương tính, bị nhiễm virus, hiện cho nằm bịnh viện, số còn lại kết quả âm nên cấp tốc trả về nhà cách ly 14 ngày.Đó là lệnh của ban phòng chống dịch. Hiện người ta về nhà hết, trừ ông cụ, bởi vậy cô phải báo cho ông Lợi biết, cấp tốc đến đưa ông cụ về. Thôi, cảm ơn cô.

    Bỏ phone xuống Hoàng sững sờ : Làm sao bây giờ ?”.

    Lợi có một bà chị và một đứa em. Gọi phone bà chị, nhờ bà chị nhận ông già về tạm mấy ngày dịch hoành hành rồi sẽ tính sau :
    - Chị nên đưa cha về một thời gian ngắn rồi sẽ tính, chị lo cho cha, bọn em chịu tất cả phí tổn cho chị

    - Không được, nhà tui có một phòng, lớn nhỏ năm người ở, đưa cha về ở chỗ nào. Nhưng mà cậu mợ nghĩ sao, ba năm nay ổng đã ở yên rồi, thì để ổng ở tiếp cho hết đời, đem về làm gì.


    - Bây giờ người ta không cho ở nữa, tất cả viện dưỡng lão đều bị đóng cửa. Thôi để em thuyết phục chú út thử.

    Chú út viện lý do hai vợ chồng chú cả ngày đi làm , vì làm y tá ở bịnh viện nên dù mọi người đều phải ở nhà, hãng xưởng đều đóng cửa, nhưng hai vợ chồng chú không được ở nhà, thì làm sao có thì giờ chăm sóc ông già.

    Trước lý do đó chị không thể năn nỉ câu thứ hai. Không còn cách gì nữa, năn nỉ ai cũng không được, chị liền nghĩ đến cách cuối cùng là im lặng xem như không được tin tức gì hết, và có thể cảnh sát xem như ông già không có thân nhân, và họ sẽ giải quyết theo hướng đó, hướng không có thân nhân. Chị mỉm cười khen mình người sáng ý, thông minh. Chị biết rất rõ anh bạn của chồng chị, cách nay ba năm, có bà mẹ già ở Pháp sang thăm, bà bị bịnh, anh gấp rút đưa vào bịnh viện, độ vài tuần sau bà cụ qua đời. Bịnh viện liên lạc thân nhân mới hay, đó là số phone giả, địa chỉ giả.

    Chiều hôm đó Lợi về hơi sớm. Đường vắng quá, một vài người lớn tuổi đi bộ có vẻ ké né trên lề đường, đeo khẩu trang, ra dáng thận trọng nghiêm nghị khác những ngày thường. Quang cảnh khác hẳn, hơi rờn rợn, hình như ma quái núp trong cỏ cây, nơi nào đâu xa lạ hoang vu, chứ không phải nơi anh thường đi ngày hai bận, đi cắt cỏ cho một trường học gần nhà.

    Anh vừa bước vào nhà, nghe phone reng, trong phòng bên cạnh chị chạy ra, nhưng không kịp.
    - Alo ! dạ...dạ... dạ vâng…dạ... dạ tôi đến ngay.

    Vừa đặt phone xuống, anh nói ngay :
    - Bọn nó đuổi ông già về, bây giờ anh phải đi đón về.


    Chị cố bình tỉnh, tuy giọng hơi run run :
    - Thì anh ăn cơm rồi sẽ tính sau.

    -Tính cái con mẹ gì, nó bảo trước đây hai ngày, họ về hết rồi, nếu chiều nay không ai đón về, nó báo cho cảnh sát biết và xem như xong nhiệm vụ.
    - Hay là anh để cho cảnh sát nó giải quyết xem sao.
    - Làm thế cha anh sẽ chết lạnh dọc đường cái trong đêm nay.


    Bực mình, anh vẫn giữ nguyên bộ quần áo cắt cỏ ra xe. Anh nghĩ cũng tại anh, năm đó ông già không chịu đi, lấy lý do già rồi đi làm gì, tiếng Anh không nói được không biết lái xe, hơn nữa, mẹ anh mới mất chưa giáp năm, bỏ đi thấy tội nghiệp quá. Nhưng anh bảo cha anh nên đi, tuổi già ở Mỹ có đủ thuốc men, có bác sĩ giỏi, có binh viện tốt, nhất là tránh được cái nạn dùng thuốc giả, thuốc độc của Trung quốc. Bà chị cả của anh, người em trai út và nhất là vợ anh, liên tục lén anh, viết thơ về khuyên ông già nên ở lại Việt nam lo mồ mả cho mẹ mới mất, rồi sẽ gửi tiền, gửi thuốc Tây về cho ông. Bởi vậy ông quyết định xoá bỏ hồ sơ H.O. Khi được tin xoá bỏ hồ sơ, anh phải cấp tốc về quê khuyên bảo ép buộc ông làm lại hồ sơ. Thế mà phải chờ đến trên mười năm, hồ sơ mới được tái xét, mới được ra đi.

    Freeway 17 vắng quá, anh chạy hơi quá tốc độ nên chưa đến một giờ đã ra exit Campbell.
    Theo con đường nhỏ đi sâu vào rừng rậm. Tuy chưa đến 4 giờ chiểu nhưng như sắp tối, vắng một cách kinh hoàng.

    Anh nghĩ làm nhà dưỡng lão ở nơi này có khác gì một nhà tù nhốt mấy ông già gần đất xa trời.
    Đậu xe phía trước, anh chạy vòng vào sân sau, không có một bóng người nào, phía trong hành lang xa, một ông già nhỏ thó ngồi bất động trên cái ghế dài bên cái xách vải.
    “Trời ơi ! Cha tôi đây, Trời !”.
    Anh nhào tới ôm cha anh, ông già mỉm cười, nước mắt dầm dề :
    - Thấy con cha mừng quá. Hai hôm nay cha ở đây một mình. Nếu tối nay con không đến, cha mò lần ra đường cái. Trời còn thương cha.
    - Cha ngồi đây lâu chưa ?”
    - Hồi sáng giờ. Bà y tá bảo cha dọn đồ ra ngồi chờ người nhà lên, họ đóng cửa.
    Lợi xách túi vải nói :
    - Con cõng cha ra xe, đường đi nhiều rễ cây dễ bị vấp ngã.
    Ông giả lẩm bẩm :
    - Cha ở đây đúng ba năm 4 tháng 18 ngày.
    Lợi mừng thầm, ông già mình tuy ốm yếu nhưng trí óc còn khá sáng suốt mới nhớ được số ngày tháng năm ở khu rừng này.
    - Bọn con đều khoẻ mạnh hết?
    - Dạ, vì bịnh dịch đang lan tràn nên ai ở nhà nấy không dám ra đường, nên mình con đi đón cha.
    - Hai đứa cháu nội của cha lớn lắm hả, có đứa nào có vợ chưa.
    - Chưa cha, bọn nó còn nhỏ, còn đi học mà.

    Lợi lái xe chạy chậm vì đoạn đường xấu, sợ xe xóc làm mệt cha già. Nghe tiếng thở đều đều ông già ngoẻo đầu qua một bên thiu thiu ngủ. Lợi định tạm để cha già ở cách ly tại garage xe, và anh định nghỉ cắt cỏ ít nhất 2 tuần để chăm sóc cha. Anh nguyện lần này chính anh, chinh bàn tay anh, sẽ làm mọi thứ, từ nấu ăn, giặt giũ đến tắm rửa, đổ bô, lau cầu, không để ai nhúng vào, nhất là vợ anh. Nhắc đến vợ, anh lo lắng rồi đây anh phải cố gắng chịu đựng, cố gắng nhịn nhục tối đa, để tránh những cuộc đổ vỡ cãi vã to tiếng. Nhất là không để cho ông già nghe được những lời cãi vã. Anh chắc chắn phải làm được vì ông già sống ở garage biệt lập.

    Bữa cơm tối hôm đó tuy rất đói nhưng anh ăn không ngon vì hình ảnh cha anh khi chiều làm anh rất xúc động, anh cảm thấy tội lỗi, một ông già gầy ốm một mình ngồi cheo leo ở bìa rừng vắng vẻ tiêu điều, vào một buổi chiều sắp tắt. Tại sao một ông già phải bị đày đoạ như thế. Mâm ăn có 4 người, hai con anh ngồi một bên, vợ anh với anh một bên.

    Hai đứa nhỏ và vợ anh mỗi người chăm chú vào chiếc Iphone, không để ý gì đến việc ăn uống.
    Bỗng chị hỏi :
    -Cha ăn uống gỉ chưa ?
    - Cha mệt đang ngủ ngoài garage, anh đang nấu cháo cho cha
    - Chắc anh gặp cha đang lang thang ngoài đường cái chứ gì?

    Anh giả vờ không hiểu câu nói móc của chị, vì khi ra xe đi đón ông già, anh bảo nếu không lên đêm nay, ông già có thể chết lạnh trên đường cái.
    Anh bình thản trả lời :
    - Không, ông già ngồi cheo leo một mình ở hè nhà dưỡng lão.
    Hai đứa nhỏ thôi ăn đứng dậy, mỗi đứa rót một ly nước, lên lầu
    Chị cũng thôi ăn, đứng dậy, anh liền bảo :
    - Em ngồi lại anh có vài điều muốn bàn với em.

    Chị ngồi xuống nhìn thẳng vào anh.
    - Anh đem cha vể đây ở tạm một thời gian, có thể nửa năm, một năm để ổng ổn định sức khoẻ, anh sẽ dẫn ổng về lại Việt Nam ở với bà cô ruột anh cũng đang sống một mình với đứa cháu trong họ.Anh sẽ làm hết mọi việc từ đi chợ, nâu ăn, rửa chén, dọn dẹp trong nhà, lau chùi cầu tiêu nhà cửa, v... v... Anh chỉ tha thiết xin em một điều...một điều... là cố gắng vui vẻ với ông già trong lúc ổng còn ở nhà này với chúng ta.Nghĩa là em sẽ không làm gì hết, cố nhiên việc chăm sóc ông già là việc của anh, nếu em…thấy không thể được thì cũng nên cho anh biết.

    Không khí nặng nề im lặng. Chị đứng dậy, chậm chậm đi lên lầu. Khi chị đi rồi, anh bực mình tại sao lại đặt vấn đề với chị một cách thẳng thừng thô bạo như vậy, vô tình đẩy chị vào thế chống đối, anh cảm thấy mình kém cỏi quá, làm vấn đề đáng lẽ đơn giản, hoá ra khó khăn phức tạp hơn.

    Nhà anh có 4 phòng, trên lầu 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Hai con hai phòng anh chị một phòng.
    Tầng trệt 1 phòng ngủ 1 phòng tắm. Khi ông già chưa đến nhà dưỡng lão, ở phòng dưới này. Để ông già nằm một mình ở garage anh không yên tâm, đêm hôm có việc gì ông già kêu không ai nghe, anh đặt môt giường nhỏ anh nằm cạnh ông già.

    Lấy lý do vì dịch corona, cách ly xã hội, nên anh yên tâm để ông già ở Garage cho đến khi hết dịch. Cũng vì lý do đó anh giải thích với ông vợ anh và hai con anh chưa dám ra garage.

    Thật sự ông già hiểu hết sự việc, nhất là suốt hơn ba năm nay, ba chục người bị “lưu đày” (chữ của các cụ ở nhà dưỡng lão Campbell) ở chung với nhau. Hầu như họ chung một tâm trạng bị con, tống họ ra khỏi nhà, vì tốn kém thì ít, vì người nào cũng có tiền già, tiền chánh phủ cấp cho tạm đủ sống; có lẽ vì người càng già càng làm cuộc sống của chúng mất tươi trẻ, mất hạnh phúc, và cũng chính người già bị gán cho là cái ổ vi trùng, ổ bịnh tật. Người già đồng nghĩa với dơ dáy, v... v... Tất cả họ, những người Việt nam ở trại Campbell, đều là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước tháng Tư năm 1975, trung bình mỗi người chịu gần 10 năn tù cộng sản.

    Vì cùng chung một tâm trạng, một ngôn ngữ họ thông cảm với nhau, họ không quá chán nản quá cô đơn như ở các nhà dưỡng lão khác nói tiếng Anh là chính, nên người nào không nói được, chịu rất nhiều thiệt thòi, có khi bị đánh đập vì bị xem như bất tuân các mệnh lệnh của y tá y công. Vì chia sẻ, vì thông cảm, vì cùng cảnh ngộ họ tránh được những cãi vã, những xô xác với nhau, nhưng họ mỗi ngày mỗi chuốt thêm những oái oăm, những nỗi buồn vì bất hạnh với gia đình, với con cháu.

    Mỗi ngày họ phết thêm vào bức tranh tập thể đó, một nét buồn thảm ảm đạm. Thế cho nên họ thiếu hẳn niềm vui, người nào cũng mang một bộ mặt âu sầu buồn thảm. Thậm chí có người than rằng ở tù tuy mất tự do, tuy nhục nhã, nhưng ít nhất một tháng, hoặc 6 tháng, có gia đình đến thăm nuôi, và gia đình còn thương xót, còn tôn trọng, còn kính nể người đang ở tù, và còn hi vọng người tù còn có ngày về để cùng xây dựng lại cuộc sống, tạo lại hạnh phúc. Trái lại vào trại dưỡng lão không mất tự do, nhưng gần như không cần tự do nữa, như bước vào giai đoạn cuối cuộc đời. Họ thật sự bi bỏ quên. Có người suốt năm không có người đến thăm.

    Theo ông khi vào trại, tổng số là 30 người, và gần 4 năm sau chỉ còn 19 người. Mười một người lìa trần vì buồn bã quá, vì chán nản đến cùng cực, vì tủi thân, vì bị bỏ quên, chứ không phải vì những bịnh nan y. Có những người không chịu uống thuốc, có người phản đối đi bịnh viện.

    Từ ngày đưa cha về nhà anh thay thế vợ làm mọi việc trong nhà, anh mới biết rằng tuy công việc nhẹ, nhưng bực mình quá. Quần quật từ sáng đến tối, không hết việc. Anh dọn cho cha anh và chính anh ăn ngoài garage, sợ cha buồn anh giải thích vì trong thời kỳ cách ly nên phải như thế. Vợ con anh ăn trong nhà. Tuy ông hiểu điều giải thích của anh là đúng trong thời kỳ cách ly này, nhưng ông vẫn buồn buồn tủi thân. Ông mỉm cười tự thấy mình càng già càng khó tính, càng cô đơn càng khó tính. Ông nghĩ đáng lẽ ở tuổi mình tuổi gần 80 phải dễ dãi, phải cởi mở, sao cũng xong cũng tốt. Ông nhớ lại cái đề tài này, trong nhà dưỡng lão, thường đem ra bàn luận với nhau trong nhóm anh em, và lúc nào ông cũng ở phe chỉ trích những người khó tính, và quả quyết vì tính xấu đó, mà con cháu nó không muốn sống gần với mấy người già, dù đó là ông bà nội ngoại. Mấy người bạn của ông không đồng ý và cho rằng vì hai nền văn hoá Đông phương Tây phương đối lập nhau, nên mới có những bi kịch như vậy. Rồi họ dẫn chứng ở Việt Nam chẳng hạn (trừ cộng sản) đứa bé lên ba đã được cha mẹ dạy dỗ lễ độ chào hỏi, trong khi ở Mỹ trẻ con lên đại học chưa có thói quen chào hỏi. Vấn đề này với ông, chưa ngã ngũ, chưa tìm ra câu giải đáp thoả mãn.

    Từ ngày ra khỏi nhà dưỡng lão Campbell, ông sống một mình ở garage ông hay nghĩ đến người vợ quá cố của ông. Nếu bà còn sống, thì có lẽ đời ông không như thế này, không có chuyện ở nhà “lưu đày Campbell”. Càng nhớ đến bà, ông càng thấy ở bà có phẩm cách cao quí, một người vợ tuyệt vời, một người đàn bà suốt đời biết hi sinh cho chồng cho con, một người kính trọng cha mẹ ông hơn cả ông kính trọng. Có hôm trong giấc chiêm bao ông thấy bà ngồi cạnh giường ông, ông mừng quá ngồi dậy thì bà lặng lẽ đúng dậy ra đi im lặng không nói một lời. Rồi những đêm tiếp theo, ông mong được gặp bà nhưng không thấy. Ông tính sẽ nói với anh lập bàn thờ thờ mẹ để đêm đêm có chỗ ông thắp cây nhang, tội nghiệp. Nhưng ý nghĩ này bị dập tắt ngay, vì ông, và bạn bè ông đều biết, có bao giờ bọn chúng chấp nhận bàn thờ.

    Anh vui vẻ hỏi cha :
    - Hôm nay con đi chợ, cha muốn mua thứ gì, muốn ăn uống gì, con mua cho cha.

    - Không, không, khỏi mua gì con, cha ăn gì cũng được, nhà có gì ăhey nhà có gì ăn nấy.
    Anh vừa ra xe, thì chị và hai đứa nhỏ đến cửa từ nhà xuống garage, chị nói lớn trong nước mắt :
    - Hai cháu và con chào cha. Nhờ cha nói với ổng có cái thư để trong tủ lạnh. Ổng không cần vợ, không cần con, nên bọn con ra đi.

    Nói xong chị và hai đứa nhỏ lui vào nhà. Ông bối rối không kịp nói gì. Mệt quá ông nằm đừ lên giường cảm thấy khó thở. Ông mê mang vào giấc ngủ hồi nào không biết.
    Anh đặt mâm cơm lên bàn mới hay cha anh đang ngủ. Anh ngạc nhiên sao giờ này cha anh còn ngủ :
    - Cha, cha, dây ăn cơm rồi hãy ngủ cha.
    Ông già ngồi dậy bần thần không biết ở đâu. Anh nói lớn :
    - Hình như cha bị cảm phải không ?
    - Không, hơi mệt thôi, không sao đâu.
    Ông ngồi dậy cố nuốt miếng cơm, nước mắt dầm dề :
    - Vợ con với hai đứa nhỏ bỏ nhà đi rồi.
    - Cha nói cái gì vậy cha ?
    Ông lặp lại :
    - Vợ con bỏ nhà đi rồi. Nó có ra chào cha và dặn cho con biết có thư trong tủ lạnh.
    Anh vội vàng chạy vào nhà. Thư viết : “Ông xem mẹ con tui không ra gì nên chúng tôi phải ra đi”. Viết vội vã chữ nguệch ngoạc, chỉ một câu thôi, không ký tên không đề ngày.
    Tức quá anh xé nát tờ thư, ngồi thừ xuống ghế nước mắt tuôn chảy, anh khóc. Anh ngồi như thế đến 1 giờ sáng, giật mình nghĩ đến ông già, anh vội bước ra garage cố điềm tĩnh giấu cha anh.

    Cha anh nằm im lặng hình như chưa ngủ, vì ông già cựa mình và thỉnh thoảng ho. Anh nghĩ phải cố gắng bình thản trước cha anh. Mong hết cơn dịch anh sẽ đưa cha anh về Việt Nam rồi anh sẽ đi tìm vợ con anh. Nhất định không để đổ vỡ gia đình. Anh nghĩ, lỗi do mình, mình bất tài quá nên mới ra nông nỗi này.


    Nguyễn Liệu
    San Jose, ngày 15 tháng 4 năm 2020
    Ngày cao điểm của trận dịch corona


    *******************************************


    Ước chi mỗi người sau khi đọc xong bài viết này, có một hành đông thiết thực chăm cho lo cho những người già xung quanh mình. Đối với người già, vật chất không quan trọng lắm, sự cô đơn và tâm lý vô dụng mới là cái đáng sợ nhất.

    Tương lai của người già

    Thứ năm, 5/3/2020,
    Ông bà chủ nhà tôi thuê trọ đã 80 tuổi vẫn đi nhặt ve chai mỗi ngày.

    Suốt 10 năm, tôi ở trọ một phòng trong nhà họ. Con hẻm nhỏ có thể đi từ đường Điện Biên Phủ hoặc Phan Văn Hân, ngoằn ngoèo với những khúc quanh chật cứng, thông ra đường Nguyễn Cửu Vân, quận Bình Thạnh, TP HCM. Cuộc sống của ông Nghi, bà Vân chật vật. Bữa ăn của vợ chồng già thường là những món rau đơn sơ.

    Tôi thấy năm bảy bữa bà mới đi chợ một lần. Tôi nhắc bà mua gì kha khá để ăn, giúi cho bà ít trăm, nhưng trên mâm sau đó vẫn là thức ăn của người khác cho trong lúc đi nhặt ve chai, bà đem về hâm lại. "Ăn vậy tiền để đâu cho hết?", tôi đùa. Bà bảo, "để dành khi có bệnh mua thuốc".
    Hai ông bà không con cái. Trước kia, ông là nghề sửa radio, cassette; bà bán quần áo cũ ở chợ. Đến khi tôi về trọ khoảng năm 2005, cả hai đã thất nghiệp. Sau đó ít lâu, bà nhận dán giấy tạo hình ngựa vàng mã, mỗi con tiền công 300 đồng. Mỗi ngày, ông bà kiếm được 90.000 đồng từ việc còng lưng dán 300 con ngựa giấy. Mỗi khi rảnh rỗi, hay buổi tối trời đã hết nắng, bà đi lượm ve chai quanh khu vực chợ Thị Nghè, qua khu bờ kè, đường Điện Biên Phủ tới 11 giờ tối mới về nhà. Người quản lý nhà sách gần đó dặn nhân viên gom các loại rác có thể bán ve chai được để phần cho bà cụ. Khoảng 9 giờ tối, bà đến nhà sách nhận phần "quà" đó và dạo qua các quán nhậu trong khu vực để gom vỏ lon, vỏ chai. Có tối khuya, tôi xuống nhà dưới, thấy bà ngồi ăn ổ bánh mì trong bóng tối, ông nằm dưới sàn đập muỗi, bỗng thấy cảnh già quá đỗi quạnh hiu.

    Dù căn phòng nhỏ không tiện nghi, cả nhà chỉ có một toilet ở gầm cầu thang, tầng dưới chỗ ông bà nằm lúc nào cũng chất đầy các bao chứa ve chai, ngựa giấy, nhưng tôi không nỡ dời đi vì ông bà sẽ bị gián đoạn thời gian cho thuê phòng. Khoản tiền 1,5 triệu đồng từ căn phòng 10 mét vuông trên gác hàng tháng của tôi là thu nhập chính của họ. Bà bảo, còn khỏe ngày nào thì phải lượm ve chai để có tiền chi xài.
    Việc người già gần hết sức lao động vẫn phải đi làm để có tiền mưu sinh không lạ. Hơn 70% số người cao tuổi tại Việt Nam vẫn phải lao động kiếm sống, theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình. Còn theo bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, cả nước có hơn 11 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người trong số đó sống ở khu vực nông thôn. Trên 40 % trong số họ sau khi nghỉ hưu vẫn phải tiếp tục làm việc để duy trì cuộc sống.

    Trong hai con số quá chênh lệch nhau ở trên, không biết số nào gần với sự thật hơn. Tuy nhiên, bức tranh tổng thế cho thấy, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và hiện có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số. Có hai triệu người thuộc nhóm từ 80 tuổi trở lên. Dự báo đến năm 2030, người cao tuổi chiếm 17 % và năm 2050 là 25 % tổng dân số Việt Nam.
    Thực ra, người già còn sức khỏe để mưu sinh là chuyện mừng, bởi lao động cũng là niềm vui. Vấn đề là có rất nhiều người già, không còn sức vẫn phải lao động, hay vì không có bảo hiểm và các khoản tiền già đủ sống nên trở thành gánh nặng lệ thuộc con cháu, xã hội, hoặc tự bươn bải trong khó khăn. Một cụ từng nói với tôi: "Già, bệnh, nếu không chết liền, phải nằm một chỗ thì con cháu có thương mấy, đến lúc cũng bất hiếu". Cụ bà 88 tuổi ở Tiền Giang đã bị con trai và con dâu bạo hành chỉ vì bà không tự chủ được trong sinh hoạt.

    Tuy việc bạo hành cha mẹ đã được đưa vào luật hình sự để răn đe, nhưng chiều sâu hơn của vấn đề là các chế độ an sinh cả về tinh thần và vật chất cho người già cũng như nhận thức chung của xã hội về nhóm người già chưa đầy đủ. Đơn giản nhất, nhiều nước có đường dây nóng để bảo vệ người già nhưng ở Việt Nam thì không. Bất cứ khi nào bị ngược đãi, các ông bà cụ đều có thể gọi báo ngay với nhà chức trách. Chúng ta cũng gần như chưa có các chương trình, lớp học giúp người lớn tuổi thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, hoạt động tư vấn về sức khỏe tinh thần và thể chất trên diện rộng, các sinh hoạt giúp người già bớt cô đơn, lạc nhịp với cộng đồng. Thậm chí, tôi đọc thấy có những đường dây chăn dắt người già, nhất là những người già ở quê nghèo bị đưa vào thành phố, phải đứng ngả nón xin tiền. Cũng có những người coi người già là người thừa trong xã hội.

    Ông Nghi khoe với tôi, từ lúc "tròn 80 tuổi" ông đã được nhà nước hỗ trợ "tiền già", 300.000 đồng mỗi tháng. "Tui chia cho bả một trăm đi chợ mua rau rác về ăn. Còn lại ít bữa ăn sáng ngon ngon với ổ bánh mì thịt hoặc tô cháo huyết bình dân", ông bảo. Con người ta dễ chông chênh khi bước vào tuổi già, trong đó có hình ảnh của chúng ta ở thì tương lai không xa. Vì vậy, sắp xếp cho người lớn tuổi một tương lai đủ an tâm ít nhất ở mức cơ bản là bài toán được mong mỏi giải quyết ngay, công bố công khai và thống nhất như một chính sách quốc gia. Đã đến lúc người Việt không nên bám vào câu "trẻ cậy cha, già cậy con" để mặc định đó là một "chính sách" với người già.

    ************************************************** ********************Lưu Đình Long






    Bóng xế, chiều tà

    Hạnh phúc làng quê. Ảnh: internet
    Bài viết của bạn đọc Uyển Vy.

    Có những giai đoạn nhất định trong đời người, dù muốn dù không, ta đều phải phụ thuộc vào sự quan tâm chăm sóc của người khác. Đó là khi ta còn thơ trẻ, lúc bệnh tật và khi già yếu. Trong những giai đoạn này, nếu ai may mắn được thương yêu bảo bọc thì còn gì hạnh phúc cho bằng. Lúc còn trai trẻ, nếu chẳng may đau ốm, bạn vẫn có thể tự xoay xở hay dùng tiền và các mối quan hệ để người khác chăm lo săn sóc mình. Riêng với trẻ thơ và người già lão, họ phải được chính những người thân mình chăm sóc như lời ông bà mình đã nói:
    “Trẻ trông cha, già cậy con” thì cuộc sống của họ mới có ý nghĩa và hạnh phúc đủ đầy.
    Khi ở vào vị thế phụ thuộc vào người khác, thế giới của trẻ em và người già rất khác biệt với những người trưởng thành độc lập. Trẻ em thì mọi người đã nói rất nhiều về thế giới trong veo của các em rồi, nên tôi chỉ muốn viết về những thế giới của những người già quanh tôi, như một lời tri ân đến các vị trưởng bối nhân ngày Quốc tế Người Cao tuổi 1-10.

    Trước hết, tôi muốn đề cập đến sự khôn ngoan được ví như quà tặng của Thượng đế dành cho tuổi già. Có một người quen đã đùa với tôi rằng: “Sự khôn ngoan như cây lược Thuợng đế ban tặng cho người già khi không còn tóc”, ý hẳn bác ấy muốn nói rằng già rồi, gần đất xa trời thì có khôn ngoan cũng chẳng để làm gì. Tôi thì không đồng ý với lời nói đùa này bởi vì tôi thấy sự khôn ngoan trở nên có giá trị và ý nghĩa hơn bao giờ hết khi người già lão biết sử dụng nó để bảo ban những người trẻ biết tìm đến họ để học hỏi. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm sống của những người trải đời và nhiệt huyết cùng sức lực của những người trai trẻ sẽ tạo nên sức mạnh vô song giúp xã hội cứ tiếp tục phát triển.

    Dòng tộc tôi có Ông Bác Cả, ma chay cưới hỏi, việc lớn việc nhỏ mọi người đều chạy đến nhờ cậy Ông. Có lần thằng cháu rể gốc Hoa là đại gia ngành gạo đến trình bày kế hoạch đổi nghề của nó, có nhìn cảnh cái thằng sừng sỏ trên chốn thương trường ngồi gục gặc đầu lắng nghe lời dặn dò của ông lão chưa từng kinh qua buôn bán mới hiểu được tại sao người ta lại bảo

    “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Tôi đồ rằng điều thằng em rể tôi cần từ Bác Cả không phải là làm sao để kiếm lời mà là làm sao cho đúng, cho phải, còn chuyện kia thì nó thừa sức biết phải làm gì.
    Về mặt tình cảm cũng như sự kết nối trong gia đình cũng như trong một cộng đồng, sự hiện diện của người già cũng cần thiết như chiếc kim chỉ nam định hướng hay cái mỏ neo vững chãi giúp neo giữ mọi người lại với nhau. Thật lạ lùng với những cảnh nhà có Cha Mẹ già yếu nằm yên một chỗ, ốm đau lẩm cẩm chẳng còn giúp được cho con cháu điều gì, ngay đến một lời khuyên cũng không thốt lên được, ấy thế mà chừng nào họ còn nằm đó thì con cháu vẫn sẽ cứ tề tựu về nơi ấy. Ngày họ không còn nữa, căn nhà xưa đó với di ảnh của họ dường như chẳng đủ sức níu giữ, lôi kéo đám con cái lại với nhau, mọi thứ rồi cũng cứ mai một, lỏng lẻo dần đi.
    Cái làng người Bắc di cư từ năm 1954 của gia đình tôi thường tề tựu lại với nhau ở khu Trương Minh Giảng vào những dịp lễ tết, ma chay, cưới hỏi dưới sự dẫn dắt của các Ông Bà cao tuổi. Những năm sau này, lớp người có tuổi cứ lần lượt ra đi, ý tưởng kết nối những người con xa quê lại với nhau cũng dần lung lay, những buổi hội làng cứ dần thưa vắng.
    Tôi như nhìn thấy nỗi lo của các Cụ khi vừa giới thiệu đám con cháu với nhau vừa mắng:

    “Bọn mày anh em với nhau mà không năng qua lại nên chẳng biết mặt mũi nhau, lớp già chúng tao nằm xuống rồi thì chẳng còn ai biết ai nữa!”
    Các cụ nói cũng phải, khi các cụ không còn để làm nhiệm vụ kết nối thì lũ trẻ “cùng làng” thuộc thế hệ thứ 2 như chúng tôi rồi cũng sẽ rã nhanh thôi.



    Tình yêu đẹp mãi. Ảnh: internet
    Điều làm tôi ngỡ ngàng nhất khi có dịp khám phá thế giới riêng của người già lão chính là hành trình quay trở về với tuổi thơ của họ.

    Có lần tôi thấy Má tôi tay cầm ba bốn sợi chỉ, lăm lăm sỏ qua cây kim, tôi hỏi:
    “Má làm gì vậy?”, Bà bảo cầm nhiều vậy không sợi này thì sợi kia cũng sẽ phải qua lỗ kim thôi!

    Còn Ba tôi khi bắt đầu lẫn, cứ hay tần ngần, ngập ngừng hỏi Má tôi: “Sao tới giờ rồi bà chưa cho tôi ăn?” trong khi miệng thì vẫn còn ngậm cây tăm của bữa cơm vừa xong.
    Bà Bác tôi ngấp nghé tuổi 90, góa chồng đã hơn 30 năm, dạo gần đây cứ bắt các anh chị họ đưa bà đi đánh ghen.
    Chiều chiều, nhìn cảnh các anh chị nay đã ngoài 60, phải chia phiên dắt mẹ “về quê” vừa tức cười vừa cám cảnh cho cuộc hành trình về cái Làng Nấp ngoài Bắc của Bà lão, hành trang vỏn vẹn chiếc bọc ni lông chứa đôi dép và bộ quần áo.
    Thương thì thương, nhưng nhiều lúc bực quá, các anh chị tôi cũng phải quát lên vì những chuyến “về quê” hàng ngày cùng vô số những chuyện lẩm cẩm khác của Bác. Ai đã từng chăm người già bệnh đau thì mới thông cảm và không trách các anh chị họ tôi những lúc như vậy.
    Những lời hay lẽ phải về lòng hiếu thảo thì rất nhiều, nhưng tôi nhớ nhất đoạn trích này trong Sách Huấn Ca:

    Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng.
    Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái, khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời. Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài.
    Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ.
    Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người khi người còn sống. Nếu tinh thần người sa sút, thì hãy rộng lượng, ngươi là kẻ trai tráng, chớ đành khinh dể người. Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng.
    Của biếu cho mẹ, sẽ đền bù tội lỗi, và xây dựng đức công chính của ngươi.”

    Nghe thì có vẻ ngược đời khi yêu cầu con cái phải rộng lượng với Cha Mẹ, nhưng đó là một sự thật chẳng mấy ai làm được cái việc tưởng như dễ dàng ấy khi tuổi tác của Mẹ Cha chất chồng cùng năm tháng làm trí tuệ và thể xác họ sa sút. Những lời dạy bảo này dường như dễ dàng đi vào tâm khảm của tôi hơn khi được Nhạc sỹ Đan Tâm phổ thành nhạc. Người nhạc sỹ tài hoa đã khéo léo tách mỗi lời dạy bảo ra thành một phiên khúc được đan cài bằng Điệp khúc du dương:
    “Bởi vì ai yêu mến Cha mình thì đền bù tội lỗi, ai thảo kính Mẹ mình thì như tìm thấy kho tàng.”

    Ta dìu nhau đến tận cuối trời. Ảnh: Internet

    Hôm nay, lên mạng tìm kiếm hình ảnh về người cao tuổi để làm tư liệu viết bài, tôi túm vội lấy tấm hình nhìn từ phía sau của một cặp đôi chắc phải trên 80, với mái đầu trắng phau, tay trong tay dìu nhau chầm chậm qua cầu. Tôi nhớ ngày Ba tôi còn sống, tôi than với Dì tôi rằng sao Ba Má cháu lớn tuổi rồi mà ngày nào cũng cãi vã những chuyện không đâu.

    Dì ngậm ngùi bảo tôi rằng khắc khẩu vậy thì mới sống được với nhau, chứ yên ả như Chú với Dì thì Chú phải bỏ Dì đi sớm. Viết tới đây, tôi chạnh nhớ đến một đoạn thơ của Nguyễn Duy mà một người bạn Blog đã recom khi nói về sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của đôi vợ chồng lúc tuổi đã xế chiều:

    Trời cho sống ta cũng già anh ạ
    Con thương cha không bằng bà thương ông
    Tình như rượu chôn lâu đằm lịm
    Cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng

    Giờ đây, nếu có ai hỏi tôi mong ước điều gì cho những người già lão nhân ngày Quốc tế Người Cao Tuổi, tôi sẽ thưa ngay rằng tôi mong họ còn đủ đôi cho đến ngày cùng khuất núi, để họ còn có người khắc khẩu cùng như Ba Má tôi ngày xưa ấy, và trên hết, tôi mong con cháu họ hiếu thuận đủ để tuổi già của họ không phải thốt lên cái câu Đa thọ, Đa nhục.


    Uyển Vy viết nhân ngày Quốc tế Người Cao Tuổi 1/10/2013

    Last edited by SP500 SPY; 06-21-2020 at 11:55 AM.

 

 

Similar Threads

  1. Những buổi chiều còn mưa
    By ndangson in forum Thơ
    Replies: 419
    Last Post: 12-28-2016, 02:04 PM
  2. Lai rai chiều nay
    By thuynh in forum Gia Chánh
    Replies: 438
    Last Post: 07-30-2013, 09:18 PM
  3. 95 tuổi vẫn chăm chỉ chuyện phòng the
    By ngocdam66 in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 5
    Last Post: 11-22-2011, 09:49 PM
  4. Bé 3 tuổi chăm mẹ chết mòn trên giường bệnh
    By tử đằng in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 0
    Last Post: 10-12-2011, 07:59 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 03:02 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2020 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh