Register
Page 1 of 6 123 ... LastLast
Results 1 to 10 of 53
  1. #1
    Nhà Lầu
    Join Date
    Mar 2012
    Posts
    325

    chăm sóc cha mẹ ở tuổi xế chiều

    Các mem đã có kinh nghiệm chăm sóc cha mẹ ở tuổi xế chiều cho mình hỏi: Ngoài viện dưỡng lão ra, các mem làm sao chăm sóc cha mẹ khi họ không còn khả năng tự lo nữa? Nhất là ở xã hội thời bây giờ, ai cũng phải đi làm suốt ngày, không thể ở nhà để xem chừng được.

  2. #2
    Ăn cái gì bi giờ? Angie's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    1,689

  3. #3
    Nhà Lầu
    Join Date
    Mar 2012
    Posts
    325
    thanks, Angie

  4. #4
    Sắp đến Lễ Vu Lan rồi các bạn ơi

    Bát Bún Riêu
    Lê Bảo Trân

    Từ Eau Claire, theo đường liên tỉnh 53 ngược lên mạn Bắc, đến Solon Spring thì rẽ phải theo hương lộ P nhỏ hẹp ngoằn ngoèo len mình giữa khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp. Tiếp tục thêm vài dậm, vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nebagamon cạnh đặc khu Lac Court Oreilles của người Da Đỏ.

    Trời vào Thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng màu hồng lựu!

    Hơn nửa giờ xe, không một bóng người! Ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô xào xạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác. Tôi cảm tưởng như lạc vào một hành tinh xa lạ không sinh vật.

    Đồi lại đồi liên liên tiếp nối tay nhau...

    Sau cùng, tới Nebagamon. Nơi đây có viện Dưỡng Lão Lakeview mà theo lịch trình mỗi năm tôi phải đến một lần để thanh tra y vụ.

    Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng. Tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh, nhưng tuyệt đối “không”. Ngoài rừng phong đổ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt màu trời!

    “Trung Tâm An Dưỡng Lakeview”, như tên gọi, ẩn mình dưới tàng cây sồi rợp bóng trên khu đất rộng, quay lưng vô rừng thông, nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương.

    Tôi ngẫm nghĩ:

    -Nơi nầy có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lảng. Còn chọn làm viện dưỡng lão thì...” hơi tàn nhẫn “!

    Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như cách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai khác. Người nào cũng bận bù đầu rảnh rỗi đâu mà tán gẩu với người già? Nhất là sau buỗi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều về nhà thì bóng đêm chắc sẽ thật dài....

    Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang “giàn chào”. Trên mỗi xe là một lão ông hoặc lão bà độ bảy tám mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kỉnh. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từø đầu đến chân như quan sát một quái nhân đến từ hành tinh xa lạ.

    Có lẽ vì tôi là người Á Châu duy nhứt tới đây chăng?

    Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi, bèn nhoẻn cười:

    -Ông ngạc nhiên hả?

    Tôi ngập ngừng:

    -Chắc họ biết hôm nay tôi đến nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt?

    Cô ta khẻ lắc đầu:

    -Mỗi ngày đều như vậy. Sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ...

    -Chờ thân nhân tới đón?

    -Không!

    -Hay bè bạn đến thăm?

    Cô y tá phì cười, pha trò:

    -Ông nghĩ...già ngần ấy tuổi mà còn ham bạn gái sao?

    -Ý tôi là bạn thông thường.

    -Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó.

    Rồi ngậm ngùi:

    -Họ mong chờ những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong hồi ức....

    Và khẻ thở dài:

    -Tôi làm việc ở đây hơn mười năm, đã chứng kiến nhiều hoạt cảnh. Tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi.

    -Chắc ít nhiều lòng cô cũng phần nào xao xuyến?

    -Thật tình mà nói. Lúc đầu thì có, nhưng giờ đã quen rồi.

    -Cô rất mãnh cảm!

    -Là do luyện tập thôi, bằng không sẽ ngã quị.

    Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên. Một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo.

    Cô y tá nhìn ông ta và hỏi:

    -Ông đi lên hay đi xuống?

    Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe:

    -Đi xuống... đi lên...đi xuống....đi lên.

    Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đăm đăm hướng về phương trời vô định.

    Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng nầy, cô y tá thản nhiên nói:

    -Vậy mời ông bước ra chờ, chuyến sau sẽ có người cùng đi với. Chúng tôi đang bận.

    Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa.

    Tôi thắc mắc:

    -Nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao?

    -Chúng tôi đã lượng trước điều ấy nên tất cả nút các điện trong viện đều gắn rất cao, người già không với tới.

    -Thì ra vậy!

    Công tác xong, trời cũng về chiều. Tôi từ giã. Cô y tá tiễn tôi ra cửa.

    Đoàn xe lăn vẫn còn “giàn chào”.

    Chợt trông thấy trong góc tối, một ông lão độ trên dưới tám mươi đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Điểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hòa nhập vào toán “dàn chào”.

    Da ông màu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ lòa xòa trên trán. Vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân Da Đỏ.

    Hiếu kỳ, tôi hỏi cô y tá:

    -Viện dưỡng lão nầy cũng nhận người Indian sao? Tôi nghỉ là trách nhiệm của chính phủ Liên Bang chứ?

    Cô ta ngạc nhiên:

    -Sao ông hỏi vậy?

    Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn:

    -Không phải Indian là gì?

    Cô y tá phì cười:

    -Ông ta người Á Đông đó.

    Tôi giật mình:

    -Người Á Đông?

    - Phải. Dường như là Việt Nam.

    Thêm một kinh ngạc. Tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo nầy cũng có người Việt định cư. Tôi bèn hỏi dồn.

    -Sao cô biết ông ta người Việt?

    -Hồ sơ có ghi rõ.

    -Ông ấy vào đây lâu chưa?

    -Hơn mười năm.

    Cô khẻ lắc đầu:

    -Tội nghiệp! Ông ta rất hiền lành dễ thương, ai cũng mến, nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh nên suốt ngày thui thủi một mình, không có bạn.

    -Thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm không?

    -Một lần, cách nay lâu lắm.
    ..
    Lòng se lại. Hẳn có uẩn khúc gì đây? Không thể cam tâm quay mặt làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu:

    -Tôi cũng là người Việt....

    Cô ta trố mắt:

    -Thế mà tôi đinh ninh ông là người Trung Hoa.

    Tôi cười:

    -Trong mắt người Tây phương, bất cứ ai da vàng cũng là Tàu.

    Cô pha trò:

    -Cũng đâu phải lạ. Hiệu ăn Tàu nhan nhãn khắp nơi, ngay trong xóm Da Đỏ hẻo lánh tít mù trên mạn Bắc cũng có. Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò, vừa ngon vừa rẻ, nhưng phải tội là...

    Tôi nhoẻn cười:

    -Mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều!

    Cô ta cũng cười xòa:

    -Phải nói là nhiều quá mới đúng. Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn một bữa cơm Tàu là đâu vào đấy, có khi “thặng dư “ .

    Tôi quay lại vấn đề:

    -Tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để chào hỏi làm quen. Có thể ông ấy cũng đang cần người nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp.

    Cô y tá mừng rỡ:

    -Hay lắm, đó cũng là điều chúng tôi mong muốn. Vùng nầy hẻo quá lánh không thể tìm ra người thông dịch. Nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng.

    -Vâng, tôi sẽ cố gắng.

    Thấy tôi đi tới, ông lão ngước lên nhướng đôi mắt hom hem nhìn chòng chọc, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng.

    Tôi gật đầu chào:

    -Chào cụ.

    Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói run run vì xúc động:

    -Dạ...chào thầy. Thầy là...người Việt?

    Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông:

    -Thưa cụ, cháu cũng là người Việt như cụ!

    Ông lão nghẹn ngào:

    -Cảm ơn Thiên Chúa, cảm ơn Đức Mẹ từ bi đã cho tui gặp ông.

    Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện.

    -Thưa cụ. Vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay do Thiên Chúa và Đức mẹ sắp đặt?

    -Đêm nào tui cũng cầu nguyện ơn trên cho tui gặp người đồng hương...

    -Có chuyện khẩn cấp gì không, thưa cụ?

    -Để được nói chuyện bằng tiếng Việt thôi.

    Cụ thở dài:

    -Lâu lắm rồi...tui chưa được nói hay nghe tiếng mẹ đẻ.

    Nhối trong tim. Tôi bùi ngùi thương cảm. Một ước mơ đơn giản quá mà sao quá xa vời. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể:

    -Tên tui là Tỉnh, Nguyễn văn Tỉnh... Trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá, tuy không giàu nhưng cuộc sống cũng sung túc. Có vợ, ba con trai, đứa lớn nhứt nếu còn sống thì giờ đã gần 50. Năm 75 cộng sản tràn vào, cả nước kéo nhau chạy nạn. Sẳn phương tiện trong tay, tui bèn chở vợ con vượt thoát. Nhưng chẳng may sau ba ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn, tàu chìm. Tui và đứa con út lên sáu may mắn được tàu Mỹ vớt còn vợ và hai đứa lớn thì mất tích.

    Sau đó tui được bảo trợ về Louisiana. Nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn. Tui bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tàu đánh cá làm việc ngày đêm, trước để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại.

    Tui ước mong thằng bé sẽ theo cha học nghề biển, nhưng nó không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ kỷ sư ngồi nhà mát chớ không chịu giải nắng dầm mưa như bố. Thế nên vừa xong Trung Học là nó quyết chọn trường xa để tiếp tục Đại Học.

    Ông ngừng lại một chút dễ dằn cơn xúc động rồi ngậm ngùi kể tiếp:

    -Tui chỉ còn một mình nó. Không thể sống xa con nên quyết định bán hết tài sản để dọn theo. Bạn bè ai cũng ngăn cản, nhưng tui quyết giữ lập trường, mang hết tiền dành dụm đến Tiểu Bang nầy mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn lại chút ít thì gửi vào quỉ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng cũng nhẹ nhàng.

    Tuổi ngày một già sức khỏe càng yếu. Năm ấy trời làm mưa đá, tui bị ngã gãy chân. Bác sĩ cho biết xương già không lành được, phải vĩnh viễn phải ngồi xe lăn.

    Thằng Út ra trường, có việc làm tốt ở Nữu Ước. Tự biết khó thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó, tui muốn xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tui làm thủ tục và hứa khi việc làm yên ổn sẽ đón tui về.

    Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ. May thay đang lúc bối rối, thì có anh bạn học người Da Đỏ mách cho nơi nầy. Thấy con buồn tui bèn an ủi nó: “Nơi nào cũng là quê người, giống nhau thôi. Thỉnh thoảng con về thăm là bố vui rồi”.

    Thế là cả ngôi nhà lẩn tiền dành dụm đều phải trao hết cho viện dưỡng lão. Dĩ nhiên là tui được nhận.

    Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang xoải cánh, ông chép miệng:

    -Nhanh quá....Mới đó đã mười năm.

    -Thưa cụ, thời gian qua chắc anh Út cũng thường về thăm cụ?

    -Một năm sau nó có trở lại, khoe với tui hình cô gái Mỹ và nói là “dâu tương lai của bố đấy”. Rồi....từ đó biệt tăm luôn.

    -Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy?

    -Không, mà thật tình... tui cũng không muốn biết.

    -Tại sao? Anh ấy là con trai duy nhứt của cụ mà? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy.

    Ông lão rớm nước mắt:

    -Tui sợ lắm... Thà biền biệt như thế mà tui vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở nơi nào đó trên quả đất, còn hơn là biết tin buồn. Quả tình, tui không kham nổi.

    Tôi nghẹn lời không nói được. Chập sau, qua cơn xúc động, tôi hỏi:

    -Giờ đây cụ có ước nguyện gì xin cho biết, cháu sẽ hết lòng giúp với tất cả khả năng mình.

    Ông lão thở dài:

    -Già rồi, còn được mấy năm trước mặt?

    Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng:

    -Tôi thèm một bát bún riêu!

    Hai tuần sau, vào ngày Chúa nhựt, tôi nhờ chị bạn thân nấu giùm hai bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi, đặc biệt còn thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem đến viện dưỡng lão Lakeview.

    Mất hơn 4 giờ đường, sau cùng tôi đã tới. Như lần trước, ông lão vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng. Bất ngờ trông thấy tôi, ông mừng rỡ kêu lên:

    -Kìa thầy...Lại về đây công tác à?

    Tôi chạy tới nắm tay ông:

    -Lần nầy cháu chỉ đến thăm cụ. Cháu có món quà đặc biệt mang biếu cụ.

    Lộ vẻ cảm động, cụ nhoẻn cười đuôi mắt nhăn nheo.

    -Bầy vẽ làm chi hà...Thầy đến thăm tui là quí rồi...

    Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn. Vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo một lò cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời. Cụ chăm chú nhìn tôi sớt bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, châm nước dùng sôi nghi ngút bốc hơi, rắc chút tiêu thơm lên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt, nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba quả ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt.

    Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa. Cụ run giọng:

    -Cám ơn...cám ơn thầy. Không ngờ hôm nay tui còn được ăn bát bún riêu cua... Mời thầy cùng ăn cho vui.

    -Cháu đã ăn xong ở nhà. Xin cụ dùng tự nhiên...Bún riêu còn nhiều, hết tô nầy cháu sẽ hâm tô khác.

    Cụ trịnh trọng húp từng muỗng xúp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành như chưa từng được ăn ngon. Chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn mồm khen tấm tắc :

    -Bún riêu ngon quá. Mắm ruốc thơm quá!

    Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ:

    -Nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út thường xuyên thăm viếng cụ.

    Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má cóp.

    -Tui có được diễm phúc như vậy sao?

    Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi.


    * * *


    Năm sau....

    Còn một ngày nữa là Tết. Tôi đã chuẩn bị xong quà cáp, có cả trà thơm mứt ngọt, dự định sáng hôm sau, mồng một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ.

    Đang ngon giấc chợt có chuông điện thoại. Tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu giây, tiếng cô y tá trực của viện Dưỡng Lão Lakeview:

    -Xin lỗi... phải ông Trần?

    -Vâng, chính tôi.

    -Cụ Tính đau nặng...

    -Tình trạng thế nào? Có nguy không?

    -Đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện thành phố.

    -Cám ơn cô, ngày mai tôi sẽ đến.

    -Ông nên đi sớm hơn vì sợ không còn dịp.

    Tôi rụng rời!

    Tuyết rơi càng lúc càng nhiều! Trời trở lạnh. Gió giật từng cơn, hoa tuyết bay nghiêng như ngàn vạn mũi tên bắn vào kiếng nghe rào rào như vải cát. Không gian mờ mịt, rừng phong trắng xóa một màu.

    Tuyết phủ một lớp dầy trên mặt đất. Tôi rà thắng cho xe chạy chậm để khỏi rơi xuống hố.

    Sau cùng tới được bệnh viện Hayward.

    Cô cô y tá nhìn tôi ái ngại:

    -Suốt đêm qua ông ấy cứ gọi tên một người nào đó, không biết phải là ông?

    -Cô còn nhớ ông ấy gọi tên gì?

    -Chỉ một tiếng duy nhứt, dường như “Ouk” hay “Ouc” gì đó.

    Tôi đã hiểu là “thằng Út”.

    Tôi hé cửa lách vào, trân trối nhìn ông rồi ngồi xuống bên giường. Người ông khô đét, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở yếu ớt. Tôi nhẹ nhàng đặt tay lên vầng trán nhăn nheo. Ông chợt cử động rồi thều thào:

    -Út...Út...

    Nước mắt chực trào ra. Giờ phút nầy tôi cần phải làm một điều gì để giúp ông được mĩn cười trước khi vĩnh biệt. Tôi bóp nhẹ bàn tay già gầy guộc và nghẹn ngào:

    -Thưa cha...con đã về.

    Mi mắt ông động đậy cố nhướng lên nhìn, rồi kiệt sức nên từ từ khép lại nhưng môi còn mấp máy:

    -Út...Út ...con...?

    -Phải...Thưa cha con là Út, đứa con bất hiếu đã quay về xin cha tha thứ.

    Tôi cảm được các ngón tay khô gầy đang bắt đầu cữ động trong lòng tay tôi, cố nắm giữ đứa con yêu đừng có xa rời. Nước mắt tôi vô tình rơi xuống làn môi khô nứt nẻ đang hé một nụ cười.

    “Gia tài” ông để lại là một bọc vải nhỏ, trong ấy có tượng Chúa Giê Su bị đóng đinh trên cây thập giá và tấm hình đen trắng đã trổ vàng chụp gia đình 5 người đoàn tụ, đứa nhỏ nhứt còn bế trên tay, tôi đoán nó tên là Út.


    * * *

    Những năm sau, mỗi lần có dịp lên mạn Bắc, tôi đều ghé nghĩa trang thăm ông.

    Hôm nay, trời vào Thu! Nghĩa trang chiều hoang vắng quá! Lá vàng từng chiếc rơi trên mộ. Tôi lặng người nghe khóe mắt rưng rưng...

    Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.....

  5. #5
    Về thăm mẹ
    Kim Thoa

    Có từ nào để diễn tả hết ý để nói về Mẹ. Mẹ tôi một người đàn bà cả đời gian lao cực khổ, từ lúc nhỏ tôi đã được nghe mẹ tôi kể về cuộc đời truân chuyên của mẹ.

    Ông ngoại của tôi, một lãng tử rày đây mai đó, gặp bà ngoại kết nghĩa với nhau, sinh 3 người con, kiếp sống không nhà, cuộc đời không định hướng, xứ Cà Mau rừng thiên nước độc ông chọn làm chỗ trú chân, xứ sở tôm cá đầy đồng nhưng muỗi vắt quanh năm, ông bà ngoại dựng chòi lập nghiệp.

    Nghe mẹ kể, từ năm lên 6, mẹ tôi một mình dám chèo xuồng 3 lá dọc theo kênh nhỏ, lượm củi đem bán lấy tiền đưa ngoại, có hôm không có củi mẹ chèo đi xa hơn, lúc về trời sập tối, mẹ thấy ông cọp với hai mắt sáng như sao, ngồi bên bìa rừng, mẹ vừa chèo vừa vái ông đừng ăn thịt.

    Năm mẹ mười tuổi, bà ngoại tôi đem gửi mẹ cho một gia đình, tiếng là bà con họ xa bên chồng, là chủ tiệm cầm đồ Tân Hưng ở Hòa Hưng, nói là bà con, nhưng “bắn súng cành nong” ba ngày cũng không tới, ngoại gửi với lời nhắn “chỉ cho nó ăn cơm thôi, cho nó giữ em làm việc nhà gì cũng được”, từ đó mẹ tôi kiêm đủ thứ việc, chỉ cần có cơm ăn mà thôi.

    Bà Tư Tân Hưng, chủ tiệm cầm đồ ở Hòa Hưng là người nhân đức, bà phân công việc cho mẹ, sáng sớm qua chợ hoặc đón hàng gánh mua đồ ăn sáng cho cả hai ông bà và 4 đứa con nít, xong xuôi lo đút cơm, đút cháo cho con bà, rồi sửa soạn cho 2 đứa lớn đi học, bà cho má tôi ít tiền ăn sáng, rồi dẫn 2 đứa con của bà đi học. Má tôi để dành những đồng tiền ăn sáng đó về lục cơm nguội ăn, chờ vài ba tháng ngoại tôi lên thì đưa tiền cho ngoại, không mẻ một cắc. Bà Tư cũng biết, nhưng bà nhân hậu, không bao giờ hỏi, thỉnh thoảng lại còn cho tiền riêng dặn má tôi bỏ ống heo để dành cho ngoại.

    Má tôi từ nơi đồng chua nước mặn, chèo xuồng mót củi bán kiếm tiền cho ngoại, tối ngủ phải ung củi đước, người ngợm quần áo hôi mùi củi ẩm, tay chân thì đóng phèn, cơm thì bữa đói bữa no, bây giờ thì được quần quần áo áo, đồ cũ của đứa con gái lớn của bà, bà cho má tôi mặc, duy chỉ có điều mỗi ngày đi bộ đưa rước con bà mà không được đến trường học chữ như con bà, nhưng đối với người nghèo như má tôi có cơm ăn, có quần áo mặc là cũng quá tốt rồi.

    Một buổi tối nọ, đang chơi đùa giữ em thì ông ngoại tôi lên, ông có vẻ bệnh nặng lắm, mẹ tôi kể:

    -Ông của con ít khi nào lên thăm má, một tay giang hồ ngang dọc, giờ có vẻ bệnh, chắc cũng biết sức của mình, nên ghé thăm má lần cuối cùng trên đường phiêu bạc.

    Bà Tư biểu má tôi xuống bếp xem còn gì thì dọn cho ông ăn. Hồi chiều chị bếp có nấu món canh cải bẹ xanh cho cả nhà ăn, má tôi xuống trạn xem thì thấy còn nửa tô trong tủ, bà dọn cho ông ăn với cơm và chút thịt kho còn lại, mà chị bếp hay nấu dư và chừa lại cho má tôi ăn sáng. Đêm đó ông ngoại tôi ra đi trong giấc ngủ ngàn thu. Sau này má tôi hay dặn các con là “Không được ăn canh cải bẹ xanh vào chiều tối, nếu cảm thấy trong người không được khỏe.”

    Thời đó, khoảng năm 1945, đâu có điện thoại mà liên lạc, ông ngoại là tay giang hồ lãng tử, may là chết nơi nầy có người chôn, chứ có khi chết bờ chết bụi vợ con không ai biết, phải mấy tháng sau bà ngoại lên thăm má tôi mới biết là ông ngoại chết rồi.

    Bà Tư tốt bụng cho làm đám ma rồi chôn đất thí ở nghĩa địa Chí Hòa.

    Bà tốt bụng, xem má tôi như con cháu thân tình, bà cho những nữ trang vụn vằn mà khách bỏ không có tiền chuộc, má tôi con nhà nghèo mà có vàng đeo, bà Tư thấy ngoại ở xa mà chồng thì chết nên bỏ tiền mua căn nhà nhỏ xíu cho ngoại và các con ở mà không lấy tiền thuê nhà, miễn là má tôi cứ ở đợ nhà bà, ngoại tôi ở nhà đó mua bán đắp đổi qua ngày.

    Mỗi tháng má tôi lấy tiền để dành mua gạo rồi đội đến cho ngoại, má tôi dặn bà đừng đến nhà bà Tư mà bị nhà giàu coi rẻ lại sinh nghi kỵ (sau nầy má tôi cũng hay dặn câu ấy với các con, là đừng có thấy sang bắc quàng làm họ, mà phải biết phận mình). Mỗi ngày đi bộ đưa trẻ đi học thì chạy ù cho lẹ để thăm ngoại, mẹ tôi chạy đường tắt mà sau nầy cũng con đường tắt ấy mẹ tôi chỉ cho tôi để đội gạo đem cho bà ngoại và cậu dì mà nội tôi không hề biết.

    Năm má tôi 18 tuổi, trong một lần đến thăm nhà người bạn gái, má tôi đã gặp ba tôi. Ba tôi một thanh niên đẹp trai, có nghề sửa xe hơi, má tôi kết ba tôi vì biết lo làm ăn, ba tôi thương má tôi vì nghĩ rằng cháu của bà chủ tiệm cầm đồ lớn nhất chợ Hòa Hưng, chứ ông không biết rằng má tôi tuy danh nghĩa là cháu, nhưng là đầy tớ ở đợ không trả tiền công. Nhưng ngày má xuất giá theo chồng, bà Tư cũng cho má tôi một chiếc kiềng đeo cổ bằng vàng y để kỷ niệm. Sau nầy lúc có 4, 5 đứa tụi tui rồi má tôi bán chiếc kiềng để mua nhà riêng, không ở với nội nữa.

    Trải bao dâu bể, ba tôi bị động viên đi lính xa nhà, một mình má tôi vừa lo gia đình riêng của mình, vừa lo cho ngoại, ôi có bút mực nào tả cho hết sự giỏi giang của người đàn bà Việt Nam mà điển hình là má tôi.


    ***

    Ngồi trong chiếc phản lực nhìn đường bay chậm rì trên màn hình, tôi vượt 10,400 km đường chim bay để về thăm mẹ. Năm nay mẹ tôi 80 tuổi rồi, suốt cả đời lo cho bà ngoại, lo cho chồng cho các con, bây giờ còn lại chỉ một mảnh hình hài gầy yếu.

    Càng nghĩ, càng thương mẹ tôi quá chừng đi.

  6. #6
    Lễ Tạ Ơn Trong Viện Dưỡng Lão
    Nguyên Phương

    Theo lời khuyên của một vị thượng tọa, “nếu có dịp đại chúng nên đến thăm viện dưỡng lão, để an ủi, khuyến khích những cụ già trong đó, nhiều cụ cảm thấy thật cô đơn khi con cháu không có thì giờ đến thăm, hơn nữa đó cũng là một nơi mà mai mốt mình cũng sẽ phải tới…”.

    Nghe lời thầy chúng tôi thu xếp một chương trình để đi thăm viện dưỡng lão vào ngày lễ tạ ơn.

    Tôi y phục chỉnh tề ngồi ngay nơi cửa số để chờ mấy bà bạn đến đón, hôm nay chúng tôi hẹn nhau đến một viện dưỡng lão chung vui với các cụ trong ngày lễ tạ ơn.

    Viện dưỡng lão này có mẹ của Lan, cụ ở đó đã ba năm, từ khi cụ bị bệnh Alzheimer, gia đình Lan đồng ý đưa cụ vào trong đó thỉnh thỏang con cháu vào thăm. Ở nhà cụ thường bị lẫn và hay đòi đi ra ngòai đường, cửa ngõ lúc nào cũng phải đóng kín cẩn thận, bếp núc phải tắt kỹ lưỡng có khi cụ bật cả bốn cái bếp, khi Lan, con gái cụ, vào bếp thấy bốn cái bếp đỏ rực, hỏi cụ “mẹ nấu gì hả mẹ” cụ cười lắc đầu không biết.

    Quyết định đưa cụ vào nursing home cũng là một quyết định đau lòng, nhưng đành thôi, con cái người thì ở xa, Lan ở chung với cụ nhưng cũng không sao dành trọn 24 giờ một ngày cho me.

    Lúc đầu Lan ghé thăm cụ từng ngày, thỉnh thỏang đón cụ về nhà, đưa cụ ra ngoài ăn uống, nhưng gần đây thì cụ không biết nhiều, ngay cả con cái cũng không nhận ra, Lan bận ở xa nên chỉ thăm cụ mỗi tuần.

    Chúng tôi đến nơi thì xe đã đậu chật trong parking, nhưng nơi đây rất cẩn thận họ tổ chức valet parking cho những người không tìm được chỗ đậu xe.

    Vào đến nơi, tôi chóa mắt vì cảnh nhộn nhịp những trang hòang thật vui mắt, Lan đưa chúng tôi vào phòng lớn, nơi họ đang tổ chức ăn uống,các cụ được đẩy xe lăn ngồi sẵn tại bàn, những bình hoa tươi đang được sửa sọan cắm vào bình, và được đem tới từng bàn, bong bóng, hình ảnh, chữ viết tất cả chu đáo cho một ngày lễ tạ ơn. Nhạc sĩ đang sửa sọan nhạc cụ để giúp vui các cụ. Mẹ Lan đã được đưa ra ngồi ở bàn gần cửa ra sân. Cụ cười cười, Lan lại ôm lấy mẹ vuốt tóc cụ, Mai xà lại bên cạnh cụ hỏi thăm “mẹ nhớ con không?” (Mai thường gọi cụ bằng me). Đến nơi Lan sắn tay áo vào phụ giúp trong việc cắm hoa, bưng thức ăn đến từng bàn cho các cụ.

    Các cụ đều được ăn mặc tươm tất, các cụ bà đều được đánh móng tay móng chân, mặt mũi tươi cười ngồi ngay ngắn trên xe lăn trên mỗi bàn một bình hoa tươi, mới hái ở ngòai vườn.

    Mảnh vườn nho nhỏ nhưng hoa nở thật vui mắt, dù là đang cuối mùa thu nhưng cây vẫn xanh lá, hoa vẫn nở, khí hậu vùng nam California thật thích hợp cho những cụ già Việt Nam, thời tiết chỉ hơi se lạnh làm tôi liên tưởng đến Đà Lạt.

    Viện dưỡng lão này gồm nhiều sắc dân không riêng gì Việt Nam. Các cụ có lẽ sức cũng đã yếu nên không thấy chuyện trò với nhau, có cụ ngồi suy tư không hiểu cụ đang nghĩ gì, tôi tới hỏi thăm thì cụ không trả lời, cụ ngồi nhìn chăm chăm vào bình hoa, bữa tiệc chưa bắt đầu nhạc sĩ dạo vài nốt nhạc thử âm thanh và micro. Nhân viên tấp nập chạy ra chạy vào, khi nhạc bắt đầu, có những người vừa làm vừa nhún nhẩy, mặc dù đang cắm hoa, lấy nuớc, hay đang bưng thức ăn. Tiếng ồn ào tắt hẳn khi nhạc sĩ vừa đàn vừa hát, nhạc vang lên rộn rã, mẹ Lan lắc nhẹ đầu theo điệu nhạc, miệng cười chúm chím trông thật dễ thương, Lan chợt nhớ ra chạy vội vào phòng cụ mang ra con búp bê cho cụ, mặt cụ tuơi hẳn lên, ôm siết con búp bê vào lòng như người mẹ mới đi đâu về gặp con. Những người già thường trở lại như con nít, lúc nào cụ cũng bế con búp bê, âu yếm nựng nịu như chơi với một em bé thật. Tôi ghé vào tai cụ hỏi nhỏ “bác có vui không?” cụ gật đầu nhẹ một cái rồi lại tiếp tục lắc lư đầu theo địệu nhạc. Cụ âu yếm con búp bê như ôm con, cháu có lẽ để cho bớt cảm giác cô đơn, cho thấy rằng mình vẫn có người ở bên cạnh. Cụ không phải là người duy nhất thích “em bé”, một số các cụ bà khác cũng có cùng sở thích.

    Thức ăn bắt đầu được đem ra, mỗi cụ được quàng vào một cái yếm dãi cho khỏi rơi thức ăn ra áo. Ngồi chung bàn với cụ là một bà cụ người Đại Hàn nét mặt tươi như hoa, quần áo bảnh bao, tóc tai thật tươm tất, bà vào nhà bếp bưng ra một khay thức ăn rồi từ từ đút cho ông chồng. Bà cho biết ông chồng bị bệnh và được đưa vào đây đã bốn năm, con cái không có ai ở gần, chỉ có một mình bà mỗi ngày vào thăm và đút thức ăn cho chồng, nhìn cử chỉ bà thật là nhẹ nhàng và trìu mến trong mỗi muỗng thức ăn đưa lên miệng cụ ông. Hai cụ đều đã ngòai tám mươi. Một cặp khác bà vợ cố đút thức ăn cho ông chồng, tôi nghe ông cự nự nho nhỏ nhưng bà vợ vẫn dịu dàng và âu yếm đưa từng muỗng thức ăn vào miệng chồng. cặp vợ chồng này không già nhưng khôngcòn trẻ có lẽ ông chồng bị bệnh.

    Mai xí phần xúc thức ăn cho cụ mẹ của Lan. Cụ ăn nhưng mắt nhìn lên anh chàng nhạc sĩ, hai tay ôm chặt “em bé”. Tôi đề nghị ôm em thế cụ để cụ ăn, cụ càng giữ chặt hơn nhất định không đưa cho tôi.

    Có ba cô gái Việt Nam còn trẻ, mặc áo dài thật đẹp như ngày tết, các cô ào vào như một luồng gió xuân, các cô mang vào những trái bong bóng hình trái tim đến từng bàn đưa tặng mỗi cụ một trái bóng và gửi lời chúc mừng ngày lễ tạ ơn đến các cụ.

    Chỉ vỏn vẹn có một anh chàng nhạc sĩ vừa đàn vừa hát nhưng cũngđủ làm rộn ràng cả phòng, anh chàng hát đủ mọi lọai nhạc, khi hát nhạc Rock giọng anh ta hát không thua gì Elvis Presley, sau mỗi bản nhạc mọi người vỗ tay tán thưởng vang rân cả phòng, có cụ mải nghe nhạc không chịu ăn. Ông Director lại mời chúng tôi ăn chung vui với các cụ, chúng tôi từ chối. Director là một người Đại Hàn, anh ta còn trẻ, trông thật trẻ trung trong chiếc áo chemise mầu hồng, thật hồn nhiên yêu đời.

    Một cụ bà chắc khỏang ngòai bẩy mươi tuổi, cụ ngồi trên xe lăn nhưng chân tay như ngứa ngáy, Lan thấy vậy đến gần cụ vừa nhẩy vừa nắm tay cụ, chân cụ bơi bơi cho chiếc xe lăn chạy theo điệu nhạc, mọi người vui cười vỗ tay vang rền, cụ càng thích chí hơn, cười to hơn, đẩy xe bằng chân nhanh hơn, khi đến điệu nhẩy cha cha cha, cụ không dừng lại được nữa, cụ đứng lên và khiêu vũ không cần xe lăn, cứ thế cụ nhẩy khỏang hai muơi phút sợ cụ quá mệt Lan đưa cụ trở lại chỗ ngồi để cụ tiếp tục ăn, nhưng được vài phút cụ lại đứng lên nhẩy tiếp tục, ông Director lại nhẩy cùng với cụ và những thành phần ban giám đốc cùng những nhân viên cũng chung vui và kéo nhau ra nhẩy. Một ông cụ khác ngồi xe lăn cũng tham gia vào cuộc nhẩy vui nhộn này.

    Sau một hồi nhẩy cùng bà cụ anh Director lên sân khấu ca một bản nhạc thật vui, anh ta cất cao giọng hát lên chin từng mây, tôi tưởng tượng như mình đang nghe nghe một ca sĩ đang hát trong một cuốn phim Đại Hàn.

    Chúng tôi cũng vui theo niềm vui của các cụ, những tràng pháo tay tưởng như không bao giờ dứt. Nhưng cuộc vui nào rồi cũng tàn, đã đến giờ các cụ về phòng nghỉ ngơi, anh nhạc sĩ cũng cần nghỉ sau cả giờ đồng hồ một mình độc diễn.

    Khu của mẹ Lan là khu riêng biệt của những người bị Alzheimer nên phải đi qua một cái cửa có khóa, cần phải bấm nút hai cánh cửa mới được mở ra, hôm nay là ngày lễ, Lan yêu cầu cho mẹ ra khu ngoài chung vui với những cụ còn tỉnh táo. Đẩy xe cho mẹ Lan trở về phòng, trong khu này mỗi phòng đều có hình các cụ ở ngòai cửa để nếu có cụ nào lang thang không tìm thấy phòng mình thì nhân viên của viện có thể dắt cụ về đúng phòng của cụ.

    Cụ mẹ của Lan đã quên nhiều, hình như cũng không nhận ra con nhưng khi Lan chào từ biệt “mẹ ở lại con về đi làm” thì cụ gật gật đầu không hiểu cụ có hiểu không. Chúng tôi ra về trong sự bịn rịn, khi cánh cửa đóng lại các cụ trong đó sống với một thế giới riêng của các cụ.

    Bước ra ngòai, chúng tôi gặp một bà cụ Việt Nam ngồi xe lăn, cụ cười tưoi với cái miệng móm trông thật dễ thương và làm tôi nhớ mẹ của tôi. Tôi lại gần cụ hỏi thăm sức khỏe cụ, cụ vuốt cánh tay tôi một cách trìu mến:

    - Thỉnh thỏang nhớ vào thăm bà nhé.

    Chắc cụ nghĩ tôi là cháu cụ, tôi vuốt vai cụ thì thầm

    - Vâng thỉnh thỏang cháu sẽ vào thăm bà.

    - Nhưng cũng không còn lâu đâu cháu ạ, bà sắp đi rồi.

    Tôi giật mình, chắc cụ bị bệnh nặng và sắp qua đời, nhưng cũng cố vớt vát hỏi lại

    - Thưa bà bà có khỏe không?

    - Khỏe, bà đang chờ con đến đón về nhà đây, chúng không cho bà ở trong này mà muốn mang bà về nhà.

    Tôi thở phào và hoang mang không hiểu có thật vậy không nếu vậy thì thật mừng cho cụ, cụ lại vuốt cánh tay tôi và chỉ vào Mai:

    - Cô kia cuời tuơi quá nhỉ, xinh xinh quá

    - Con vui và cuời tươi giống bà. Mai nhanh nhẩu trả lời cụ.

    Chúng tôi chào cụ để ra về cụ lại nhắc thêm một lần nữa thỉnh thỏang nhớ vào thăm bà nhé.

    Vẫy tay chào, ra khỏi cổng chúng tôi cũng thấy buồn vui lẫn lộn, cuộc đời mai sau của chúng tôi là như thế đó, nhưng nếu mình biết thích hợp với hòan cảnh cuộc sống sẽ không đến nỗi buồn chán nếu còn sức khỏe vừa đủ để nếm hương vị của cuộc đời, thưởng thứcnhững ngày lễ mà ban giám đốc của viện cố gắng giúp vui. Những người già nơi xứ Mỹ cũng vẫn được chăm sóc, được nghĩ đến, được an ủi. Ngày thanksgiving, ngày mà người người đều được ở nhà để bên nhau cùng ăn mừng, những nhân viên của viện dưỡng lão đã phải đi làm nhưng họ vẫn vui vẫn cùng các cụ nhẩy múa, ca hát cho các cụ cái cảm giác không bị bỏ rơi.

    Thế hệ lớn hơn chúng tôi có thể sẽ buồn nhiều hơn vì chưa hòa nhập được những niềm vui của đời sống Mỹ về vấn đề ngôn ngữ, về phong tục tập quán.

    Cuộc đời như một bánh xe lăn, nếu mình không lăn theo thì sẽ bị văng ra ngòai, hoàn cảnh nào cũng có vui có buồn, tại sao mình không chọn những niềm vui? Nếu không còn một sự lựa chọn nào khác thì căn nhà cuối cùng của cuộc đời mọi người già trên đất Mỹ là Viện Dưỡng Lão, cũng không có gì đáng ngại.

    Chúng tôi cùng cười với nhau khi nhớ đến bà cụ buông cả xe lăn đứng lên nhẩy, hòa nhập với cuộc sống thật cũng không đến nỗi quá khó, chỉ cần mình biết tùy hỷ và tùy duyên.

  7. #7
    Quà Nô Ên
    Võ Kim Sơn

    Quà Noel. Quà Giáng Sinh. Không riêng trẻ con mong quà của Ông Già Nô Ên. Mà cả người lớn đều mong đợi mùa Giáng Sinh. Trẻ con hồn nhiên thích món quà mơ ước. Còn người trưởng thành thì có khi chờ gặp người cho quà hơn là chính món quà.

    Chiều nay 24 tháng 12, áp lễ Sinh Nhựt Chúa. Mẹ tôi bồn chồn, đứng ngồi không yên, thỉnh thoảng lại hỏì:

    - Chuyến xe cuối về tới chưa?

    - Dạ, chưa ba giờ mà Mẹ.

    Rồi đến ba giờ, bà mẹ lại hỏi:

    - Chuyến xe cuối về tới chưa?

    - Dạ chưa bốn giờ mà Mẹ.

    Đến bốn giờ bà mẹ không hỏi nữa mà tự ra bến xe đứng chờ. Xe trờ tới. Bà mẹ vội vã rảo mắt nhìn đến người khách cuối cùng rời xe. Không có bóng dáng người con gái thân yêu mới lấy chồng xa vài tháng trước đây. Bà mẹ thất thểu cầm gói quà của con gái gửi cho mẹ do anh “lơ xe” vừa trao. Thế là mùa Nô Ên nầy con không về. Mùa Giáng sinh đầu tiên bà mẹ không có con cùng làm bánh, nấu nướng để ăn “réveillon” sau khi đi Lễ Nửa Đêm về. Thế là đêm nay... “Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời…” không có tiếng con thân yêu hát chào mừng Thiên Chúa Giáng Trần. Thế là đêm nay vắng tiếng đàn organ của con mà Mẹ quen thưởng thức mười mấy năm qua. Năm nay không có tiếng đàn đệm réo rắc theo tiếng hát véo von “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” Con đã về nhà chồng. Mẹ phải tập quen dần vói món quà con gửi, thay con bên cạnh mẹ. Mẹ thích quà con gửi nhung có con bên cạnh quý hơn mọi thứ quà con ạ.

    Không ngờ câu nói nầy tôi lại được nghe lập lại. Cũng lại mùa Nô Ên. Bạn tôi bên Mỹ nhờ mua quà đem lại thăm bà mẹ của bạn ở Phú Nhuận. Nhấn chuông gọi cổng. Bà mẹ đang ăn cơm, buông đũa chạy ra. Lòng bà đang mong ước thấy bóng dáng đứa con thân yêu từ Mỹ về thăm Mẹ trong mùa Giáng Sinh. Ờ, biết đâu niềm mơ ước Mùa Giáng Sinh của bà mẹ được Chúa Hài Đồng ban phép mầu. Sững sờ, bà cụ ngạc nhiên nhìn một nguòi con gái lạ.

    - Thưa bác, con là bạn của Chị Thanh Vân.

    Nghe hai chữ Thanh Vân, bà mẹ mở cửa chạy bổ ra và ôm chầm lấy tôi như là chính con gái của bà. Rồi bà mẹ lôi tôi vào nhà. Vừa hỏi bà vừa đưa tay sờ vào đầu, vào mặt, nắn nót từng ngón tay của tôi:

    - Cháu ở bên con Vân về hả? Nó mạnh không Cô? Chừng nào nó về? Cô gặp nó, nói tôi nhớ nó lắm.

    Rồi bà mẹ quẹt nước mắt, nức nở:

    - Tôi không gặp nó sáu năm rồi. Không biết bây giờ nó mập hay ốm. Cô nói giúp, gặp nó là đủ cho tôi rồi. Về thăm tôi là đủ rồi, đừng mua quà cáp gì hết.

    Tội nghiệp bà mẹ ôm niềm mơ ước Mùa Giáng Sinh xuống tuyền đài. Còn bao nhiêu bà mẹ nữa cùng một mơ ước có được toại nguyện không? Tôi hay kể cho sinh viên nghe loại quà Giáng Sinh các bà mẹ mong muốn để khuyến khích sinh viên về thăm gia đình trong mùa Winter Break.

    Thế rồi hôm tôi về Việt Nam, Kim nhờ tôi mang về cho mẹ hai trăm đô la. Một món quà không nhỏ so với đời sống vất vả của một sinh viên sống hoàn toàn tự túc trong sân trường đại học. Nhìn địa chỉ của bà mẹ ở Cầu Ông Lãnh tại Sài Gòn, tôi hơi ngần ngừ nhưng tình con thương mẹ của Kim khiến tôi không nên chùn bước. Thế là tôi ra đi mang theo sứ mạng: Trao tận tay số tiền do công lao cực khổ của Kim dành dụm và chụp hình với bà mẹ. Kim rời bà lúc 12 tuổi. Xa nhau ngần ấy thời gian. Bao nhiêu là thương nhớ nung nấu trong lòng bà mẹ. Xe dừng lại trước địa chỉ trong khu Cầu Ông Lãnh. Quả là căn nhà nằm trong một nơi đúng như tôi lo sợ, một vùng nổi tiếng là “khu anh chị, khu của dân đá cá lăn dưa”. Chúng tôi quyết định tìm bà mẹ của Kim vào ban đêm với hy vọng được dễ gặp bà. Rời xe, tôi leo lên lầu của căn nhà và căn dặn mọi người trên xe:

    - Nếu không thấy tôi trở ra trong vòng 10 phút thì báo công an liền. Tôi không cầm gì trong tay. Không tiền. Không máy chụp hình.

    Lúc ấy là 10 giờ tối. Bước vào căn phòng lờ mờ nhờ ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường, tôi muốn vội trở ra. Người và người nằm xếp lớp trong phần đầu căn nhà. Tôi chìa tên bà mẹ ra và hỏi xem tôi có đến đúng chỗ không. Tuy tôi đến vào giờ phá giấc ngủ của người dân lao động, vậy mà mọi người đều ân cần hướng dẫn tôi đi dần vào phía sau. Qua phần thứ hai của căn phòng cũng chưa gặp bà mẹ của Kim. Cố gắng đi nhẹ nhàng như con mèo nhảy để khỏi phá giấc ngủ của những người cần lấy lại sức chuẩn bị lao động từ lúc hai giờ đêm. Tôi hối hận là không đến sớm hơn. Và cuối cùng tôi vỗ nhẹ vào vai người phụ nữ nằm gần cuối phòng. Nghe tiếng nói nhỏ mà bà mẹ đang trong giấc ngủ chập chờn ngồi phắc dậy:

    - Có thơ thằng Kim hả Cô? Thật vậy sao? Hơn mười năm rồi tôi không gặp nó. Thằng Kim bây giờ ra sao hả Cô? Chắc là nó lớn lắm rồi.

    Tôi nhỏ nhẹ:

    - Mời Bà theo tôi xuống đường nói chuyện để mọi người ngủ.

    Bà mẹ cố nén câu hỏi trong khi chúng tôi lần lượt ra cửa. Tôi cố nhìn trong ánh sáng tranh tối tranh sáng để không đạp lên thân người nằm chật cả lối đi. Ước lượng có trên hai mươi người nằm chen chúc trong căn nhà chật chội đầy mùi người và cũng đầy tình người. Xuống xe tôi mới lấy tiền trao cho bà mẹ, thư của Kim và chụp với bà một tấm ảnh. Tôi không kể về Kim nhiều ngoài sự chăm học của một sinh viên tự túc cố gắng tiến lên. Rồi đến lúc chia tay, bà mẹ mếu máo:

    - Nhờ Cô nói với thằng Kim, tôi nhớ nó lắm. Như Cô thấy, hai trăm đô la đối vói tôi nhiều lắm. Với cái thùng bán thuốc lá lẻ ở một góc đường có của ăn hàng ngày là mừng lắm chứ nói gì dành dụm được tới 200 đô la. Được số tiền của con gửi về mừng lắm. Nhung nếu tôi được đánh đổi ôm thằng Kim vào lòng, thà tôi nhịn đói cả tháng, thà chịu nghèo suốt đời tôi cũng đánh đổi hơn là cầm 200 đô la trong tay. Nói vậy không phải là phụ lòng Cô đâu. Nhờ Cô nói với nó để biết là tôi nhớ thương thằng Kim thế nào. Và nhờ Cô nói mùa Nô Ên nào tôi cũns mong gặp được con.

    Kim ơi, đă về gặp mẹ chưa? Được gặp cháu nội, chắc bà nội mừng lắm. Cho Cô tò mò hỏi em.

    Rồi đến lượt Mẹ Chồng tôi. Nghe tiếng gọi cổng, từ cổng bà chạy phóng ra. Tôi hoảng sợ, e ngại bà cụ bị ngã. Bà mẹ ngó dáo dát:

    - Thằng Sáu đâu? Nó còn trên xe hả?

    Sợ làm bà cụ thất vọng đột ngột tôi chậm rãi thưa:

    - Dạ anh con chưa dám về.

    Mặt bà cụ đanh lại để kềm tiếng nấc nhưng các giọt nước mắt vẫn trào ra cho vơi nhớ thương.

    Dìu bà cụ vào nhà, rót nước mời bà uống rồi từ từ tôi lấy cuốn tape mở máy:

    Thưa Má,

    Con của Má đây. Thằng Sáu hay đòi Má nấu món nấm tràm mỗi khi con về thăm nhà. Vợ con về trước thăm Má và các em. Con hứa là đến Mùa Giáng Sinh năm sau, con sẽ về đi lễ với Má và sẽ đàn Organ ở Nhà Thờ Đức Bà cho Má thưởng thức. Thế nào con cũng đàn bài Má ưa thích:“Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Bê Lem ánh sáng toả ra...” Con đã nhốt lòng nhớ thương trong gói quà gửi Má đây. Má có cảm nhận chưa? Má nhớ con bao nhiêu thì con nhớ Má bấy nhiêu đó. Má cứ lấy lá me, bứt rời ra từng lá phụ rồi xếp nối đuôi với nhau. Mỗi lá tượng trưng một ngày con chưa gặp Má. Hàng lá me dài lắm rồi phải không Má? Gần mười năm rồi nào phải ít ỏi gì đâu.

    Thôi, Má và con cùng chung lời cầu nguyện: “Xin Chúa ban Hòa Bình dưới thế”. Xin cho mọi gia đình được sum họp trong mùa Nô Ên. Đó là món quà người người đều mong ước. Và năm sau con sẽ về ôm Má vào lòng. Con ôm Má chứ không phải Má ôm con như ngày con còn bé nhen.

  8. #8
    Đạo lý gia đình
    Nam Huỳnh

    Sau 30-4-1975, như tất cả các Sĩ Quan QLVNCH còn ở lại miền Nam, bản thân tôi đã phải chịu hơn 6 năm tù cải tạo.

    Trước khi có dịp định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã nghe nhiều chuyện “dở khóc, dở cười” tại cái quê hương hợp chủng này, nên tôi luôn cẩn thận, chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng đối diện với thực tế.

    Đặt chân đến Mỹ vừa tròn 3 tháng, thì gia đình tôi đã phải ứng phó với sự “kỳ thị” của “cô con dâu”!

    Từ quê hương đau khổ, nghèo nàn, được sang một đất nước giàu mạnh, văn minh tột đỉnh, dân chủ thật sự, tự do nhất thế giới... thật là một phúc đức lớn lao! Nhưng niềm vui chưa trọn, thì chuyện buồn lại đến liên miên...

    Vì con trai tôi sponsor, nên bước đầu gia đình tôi phải về ở chung tại San José. Tôi cũng đã sòng phẳng “trả tiền phòng” hàng tháng coi như “share phòng” hầu tránh phiền muộn về sau. Thế nhưng càng ngày tôi thấy “cô con dâu” càng tỏ ra “kỳ thị” với 3 đứa em chồng và thường sửa sai, gây gổ luôn cả chồng. Bà vợ tôi phải lo đi chợ nấu ăn cho cả nhà nên bận rộn suốt ngày! Thế mà chẳng được ơn mà còn bị oán.

    Bạn hữu của cô con dâu thấy chuyện bất bình, đã lén gọi điện thoại lại báo cho chúng tôi. Cô ta nói với bạn, “Phải gắt gao với họ (chúng tôi) để chồng không dám giúp đỡ họ... và đoan chắc rằng họ chẳng bao giờ dám xa rời hoặc bỏ đi, vì lý do duy nhất là họ mới qua Mỹ, chưa có xe. Không tiền thì phải chấp nhận đau thương thôi!”

    Chịu đựng đau khổ được 3 tháng, vợ chồng tôi bàn nhau tìm đường “di tản”!

    May mắn làm sao, chỉ vài hôm sau, một người bạn thân từ Dallas gọi sang và rủ chúng tôi qua. Thế là chúng tôi quyết định “move” sang Garlant (Dallas) thuộc tiểu bang Texas.

    Chúng tôi ra đi vì hạnh phúc của con trai tôi, tôi không muốn cái hạnh phúc của con bị sứt mẻ vì sự hiện diện của chúng tôi, và cũng để cho chúng tôi được an thân.

    Thượng đế cũng thương nên qua Garland tôi tìm được việc làm tại hãng Mervyn. Làm “Machine Operator” được 3 tháng, thì nhận được “giấy” đi khám sức khỏe để vào permanent, nhưng vì vết thương chiến tranh còn để lại “nơi cột sống” nên tôi phải nghỉ việc.

    Một lần nữa, gia đình tôi phải “move” đi tìm việc làm. Cuộc phiêu lưu vì “đô la” bắt đầu.

    Chúng tôi di chuyển xuống Houston, một thành phố khá lớn, nằm phía Nam của Texas. Tại thành phố nghèo việc làm này, tôi cũng may mắn tìm được một job: lái xe đưa rước những gia đình H.O mới sang Mỹ đi học Anh ngữ ESL. Nhờ vậy, tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều bạn bè thuộc mọi giới trong xã hội để được tìm hiểu, học hỏi thêm kinh nghiệm.

    Mỗi người một số phận, mỗi gia đình một hoàn cảnh, tuy nhiên đa số đều giống na ná nhau: khó khăn về ngôn ngữ phong tục tập quán, trong gia đình thì vấn đề con cái đã trở nên nghịch lý.

    Tôi chỉ biết lấy kinh nghiệm của người đến Mỹ trước, an ủi tất cả anh em để họ có đủ niềm tin và an tâm, hầu vượt qua được bước “khởi đầu nan”! Và tôi đã đi thấy nghe, hoặc chứng kiến, nhiều chuyện “cười ra nước mắt”!

    Tháng 5/95 tôi có dịp giúp đưa một người bạn là chị H. đến “viện dữởng lão” để thăm “bà cô chồng”.

    Bà cô trong “Viện Dưỡng Lão” là một bà cụ đã 89 tuổi nhưng vẫn còn nét đẹp lão quí phái. Tóc trắng cả mái đầu, mắt vẫn còn long lanh, trong sáng. Bà đọc báo không cần mang kính lão. Bà chỉ có một khuyết tật nhỏ là hơi lãng tai. Khi tiếp xúc với Bà chỉ viết trên giấy để bà đọc, và bà trả lời rất rõ ràng.

    Lần đầu đi với chị H, và sau khi chị H trở về Cali, chúng tôi vẫn đến thăm bà ta những khi rảnh rỗi và rồi được bà kể là bà lập gia đình năm 19 tuổi, đến năm 24 tuổi thì ông nhà mất, để lại 3 đứa con, mà đứa con gái út chỉ mới lên 2 tuổi!

    Góa chồng ở lứa tuổi 24, tuy vẫn còn trong độ thanh xuân, nét mỹ miều còn làm bao thanh niên trong Quận theo đuổi, nhưng vì thương con, thương chồng, bà quyết ở vậy nuôi ba đứa con đến ngày khôn lớn.

    Bà tần tảo mua bán, lập nghiệp từ một ít vốn của ông chồng để lại. Sau đó bà làm chủ 2 tiệm vàng tại quận TB thuộc tỉnh Tây Ninh.

    Ngày 30/4/75 miền Nam thất thủ. Thời thế đổi thay. Bà cùng 2 con gái di tản sang Hoa Kỳ. Dù tuổi đời bà đã 69 tuổi. Quyết định bỏ cả ruộng vườn nhà cửa và chỉ mang theo 03 bao cát vàng.

    Đến cuối năm 1975, bà ta và 2 con được phép định cư tại Texas.

    Qua năm 76, dù mới định cư chưa được 1 năm nhưng với số vàng sẵn có trong tay, bà quyết định mua một ngôi nhà để cho con gái út (còn gọi là Út Thơm) và chồng cùng các cháu an cư rồi sẽ lập nghiệp, và các cháu được an tâm học hành.

    Sau 9 năm, hai cháu ngoại đã tốt nghiệp Đại Học. Một là Bác Sĩ, một là Dược Sĩ...

    Khi thấy cháu ngoại dự trù mở phòng mạch mà không có tiền, bà đã không do dự, mà còn khuyến khích, hỗ trợ bằng cách trao lại cho Út Thơm tất cả tài sản còn lại của Bà để Út Thơm lo cho cậu con bác sĩ có được phòng mạch...

    Theo bà nghĩ sở dĩ trước đây bà giữ số vàng mang theo là vì sợ con, cháu ỷ lại, tiêu pha hết. Không còn để phòng thân khi hữu sự. Nay, các cháu đã thành tài. Bà không cần lo nữa và an tâm sang luôn tên nhà, giao hết của cải cho Út Thơm.

    Một tuần lễ sau đó, Út Thơm cùng chồng và 2 con tổ chức đãi mừng Ngoại 79 tuổi và Út Thơm cùng chồng ngỏ ý đưa Bà đi nghỉ mát vùng xa... đổi gió. Bà ngập ngừng suy nghĩ nhưng vì 2 cháu năn nỉ thêm, nên miễn cưỡng bằng lòng cho gia đình được vui!

    Sáng thứ bảy, cả nhà dậy sớm lo cho Bà ăn sáng, quần áo và vật dụng thường dùng. Hai cháu ngoại dìu Bà ra xe để lên đường. Ngồi trên xe khoảng 30 phút, xe dừng trước một tòa nhà lớn lao, sang trọng.

    Tại đây, Bà được Bác Sĩ Mỹ khám bệnh trước khi đi chơi xa. Khám xong, Út Thơm vui vẻ bảo với Bà bác sĩ nói sức khỏe Mẹ rất tốt, ngoại trừ chỉ bị hơi lãng tai thôi! Sau đó Út Thơm dìu Bà lên phòng khách ngồi, mang cho Bà lon trà ướp lạnh, rồi bảo: “Mẹ uống nước chờ con vào trong thanh toán tiền cho Bác Sĩ, xong con trở ra chở Mẹ đi.”

    Ngồi chờ suốt mấy tiếng đồng hồ, Bà sốt ruột nên đi tìm. Chẳng thấy cô Út ở đâu! Bà bắt đầu lo sợ...thì xuất hiện cô y tá người Mỹ đến nói gì Bà chẵng hiểu và dẫn Bà vào phòng ăn. Đến nơi nhưng Bà không ăn, nhìn quanh toàn là những bà Mỹ già, chẳng có người VN và cũng chẳng có ai quen.

    Bà gọi tên Út Thơm... nhưng vô vọng! Bà chạy ra ngoài nhưng nhân viên trực không cho Bà đi. Bà la, khóc và nói thật nhiều nhưng chẳng ai hiểu Bà, vì Bà chưa hề biết tiếng Mỹ.

    Bắt đầu từ đây, Bà phải sống với bao nhiêu cực hình mà đám y tá Mỹ trắng, Mỹ đen rất bạc đãi, đôi khi còn xô đẩy Bà nữa!

    Khi tôi đến thăm thì Bà đã ở đây được 9 năm, tuổi đã 88 tuổi. Suốt 9 năm dài, Út Thơm, con gái Bà không bao giờ trở lại thăm mẹ. Con cháu Bà, tuy phòng mạch ở downtown cách nơi đây chỉ 20 phút lái xe, cũng chẳng hề thăm viếng!

    Gặp chúng tôi Bà vẫn còn sáng suốt. Bà yêu cầu chúng tôi giúp cứu Bà ra khỏi trại Dưỡng Lão này, liên lạc giùm với em trai của Bà, hy vọng sẽ đưa Bà trở về quê hương. Nhưng, than ôi, chúng tôi cũng như em trai Bà tất cả phải bó tay. Vì luật của Hoa Kỳ là ai gởi Bà vào thì chính người đó mới có quyền lãnh ra. Em trai Bà là cậu ruột của Út Thơm, đã có lần đến gặp Út Thơm để yêu cầu cô lãnh Bà ra giao cho gia đình Ông nuôi. Chẳng những bị Út Thơm xua đuổi, ông cụ còn bị gia đình Út Thơm hăm gọi cảnh sát vì chen vào nội bộ gia đình cô!

    Từ lúc hiểu được hoàn cảnh của Bà, chúng tôi thường dành thì giờ đến thăm Bà. Mang quà bánh biếu, Bà không ăn. Biếu tiền, Bà không nhận. Bà nói Bà tuyệt thực và cầu nguyện ơn trên cho Bà chết sớm. Từ hơn 2 năm rồi, Bác Sĩ ra lịnh bắt Bà ngồi xe lăn, nên đến nay Bà không đi đứng được nữa.

    Giữa năm 1995, vì tôi bị thất nghiệp nên phải move đi tiểu bang khác. Mãi đến năm 1998, chúng tôi trở về Houston thăm Bà ta...nhưng, tiếc thay Bà đã vĩnh viễn lìa bỏ cái “địa ngục xa lạ” này, ra đi trong cô quạnh. Hết một kiếp người!

    Hình ảnh bà cụ bị con cháu bỏ rơi trong viện dưỡng lão làm tôi trăn trở mãi. Mỹ quốc là một siêu cường quốc, có nền văn minh và phát triển cao nhứt thế giới, nơi có đủ thứ luật lệ bảo vệ con người. Một xứ xở tốt đẹp như thế, tại sao đạo lý lại không được quan tâm? Phải chăng đây là nơi suy tàn của đạo lý gia đình Việt Nam?

    Công Cha như núi bỏ hoang!
    Nghĩa Mẹ như nước lụt tràn lối đi!

    Nhớ bà cụ đã mất. Thương chính thân thế gia đình mình, tôi không muốn tin điều ấy là có thực. Đành chỉ còn biết cầu mong cho các thế hệ tương lai không còn thảm cảnh này.

  9. #9
    Một trăm một chén nước trà
    Người Buôn Gió

    Lúc ấy trời còn đang trong mùa lạnh, chỉ có trà nóng là bán được. Mẹ cứ gặp gió lạnh là nôn khan, hắn ngồi bán hàng thay cho mẹ. Giờ nhà chỉ còn hai mẹ con và quán nước chè của mẹ là kế sinh nhai.

    Hắn mới ra tù, sau nhiều năm trong trại cải tạo trở về cuộc sống bên ngoài còn nhiều bỡ ngỡ. Hôm đầu tiên hắn nhìn đường phố kêu sao chật thế. Mẹ cười bảo anh đi đến anh về nhà vẫn từng ấy mét, phố xá vẫn từng ấy thước, mất đi đâu mà kêu bé. Hắn phì cười, ừ nhỉ, chẳng qua mấy năm ở trên ruộng đồng, núi non rộng rãi sải bước chân quen rồi. Giờ đi mấy bước là đụng người, đụng vật bé là phải thôi. Còn nữa lúc ngủ chiều nghe tiếng kẻng đổ rác, hắn vùng dậy lao xuống giường, mẹ hỏi làm sao, hắn mới nhớ ra ở nhà mà cứ nghĩ tiếng kẻng báo thức ở trại giam. Tiếng kẻng mà bọn tù gọi là kẻng gọi hồn.

    Mẹ đưa 5 nghìn bảo đi chợ, dặn 2 nghìn mua gạo, 2 nghìn mua thịt ba chỉ, 1 nghìn mua rau cải. Thịt ba chỉ luộc lấy nước để nấu rau cải, xong đem thịt rim cháy cạnh. Hắn nấu cơm xong ăn trước rồi ra trông hàng cho mẹ ăn, mẹ dặn

    - Trà nóng một trăm một chén, trà đá thì hai trăm, thuốc lá hai trăm một điếu con nhé.

    Tối mẹ con ngồi ăn cơm, mẹ nói

    - Thôi anh mới về, cứ bán hàng với mẹ, rồi tìm công việc gì sau.

    Hắn bán hàng cho mẹ, mua báo Rao Vặt đọc mục tìm việc, chỗ đòi có xe máy, chỗ đòi có tay nghề. Hắn chỉ tìm được mục bảo vệ, đưa hàng (không cần có xe). Sáng mẹ cho hai nghìn ăn sáng, uống nước hắn mượn xe đạp hàng xóm đạp xe đến nơi xin việc. Hóa ra đều là văn phòng giới thiệu việc làm. Họ nói phải nộp 50 nghìn lệ phí.

    8 tờ năm nghìn, 5 tờ 2 nghìn, mẹ vuốt từng tờ thật phẳng kẹp gáy thành từng chục nghìn một. Hai tờ năm nghìn tờ nọ kẹp gáy tờ kia, một tờ 2 nghìn kẹp gáy 4 tờ còn lại. Đếm trong xong rồi đếm gáy, đủ 5 gáy tiền là đủ năm chục nghìn. Mẹ bảo cầm cẩn thận, anh là hay ẩu lắm, từng này là bao nhiêu chén nước trà của mẹ đấy anh biết không?

    Hắn làm bảo vệ cho một công ty THHH, hắn chỉ nghe nói vậy, cái công ty ấy có cái xác nhà không, chả thấy ai làm việc. Hàng ngày hắn đến ngồi ở cái phòng có đúng cái ghế và bàn cũ mèm. Trưa mua cơm hàng ăn, chiều khóa cửa về. Mỗi sáng hắn đi làm, mẹ nhìn thương mến lắm, mẹ khoe mấy bà hàng xóm cháu nó có việc làm, nét mặt mẹ rạng ngời niềm vui. Được bốn ngày thì người chủ công ty dẫn một người đàn ông khác đến, bảo hắn trao chìa khóa, ông ấy nói hắn làm không hợp, cứ về rồi mai kia công ty hoạt động sẽ gọi đến làm chân đi đưa hàng.

    Nghỉ nhà mãi cả tuần không ai gọi, mẹ bảo có khi họ không muốn anh làm họ đuổi khéo. Hắn mò đến chỗ nhà ấy, thấy có người ở, vào hỏi thi họ nói nhà này tôi mới mua được hai hôm, đang dọn đồ đến. Hắn hỏi công ty ấy người ta đi đâu, chủ nhà nói làm gì có công ty nào ở đây, nhà này tôi mua hai tháng nay, nhưng mới đặt tiền, hôm kia trao hết thì nhận chìa khóa người ta rao nhà là hoàn tất mua bán. Hắn quay lại văn phòng môi giới việc làm, hỏi sao lại thế, bên môi giới đưa nói họ chỉ biết giới thiệu việc làm và lấy phí, nào công đưa đi, công giới thiệu còn, đã có người nhận làm rồi, còn làm được hay không làm được thì là người làm với chủ thuê, làm sao họ biết được.

    Hắn lại ở nhà bán nước chè giúp mẹ, một hôm có hai người khách vào nói chuyện, họ nói về mở văn phòng môi giới việc làm, nhà đất là ăn nhất. Khách mua nhà cứ đưa đến chỉ nhà là lấy 50 nghìn, mua hay không mặc kệ chủ nhà với nhau, ngày 3 khách là cũng có 150 nghìn. Rồi họ còn nói là ông kiếm nhà nào quen cứ giả vờ là muốn bán, khách dẫn đến đòi giá cao không mua được, những cứ có 50 nghìn dẫn đi chia cho nhà kia mấy chục là ngon. Ồ thì ra là lừa đảo à, hắn chợt nghĩ đến việc mình đi làm, hỏi ông khách. Ông khách bảo môi giới việc làm thì cứ hợp tác với đứa nào đó, giả vờ nhận thử việc vài ngày đến 1 tuần rồi bảo không hợp. Mình có tiền thu phí, còn đứa kia được có kẻ làm thuê dăm hôm không bị mất tiền trả lương là được. Đứa nào cãi được mình cơ chứ, mình làm chặt chẽ, đúng luật, ông mua nhà được hay không việc của ông, tôi chỉ lấy công 50 nghìn dẫn đi, mua cái nhà thì 50 nghìn bõ bèn gì. Phần xin việc thì tôi chỉ giới thiệu, đưa đi, bảo đảm đúng công việc thỏa thuận môi giới. Ông làm được không với người ta là do khả năng của ông, tôi sao mà biết được.

    Hai ông khách trả 1 nghìn cho hai chén nước và hai điếu thuốc, không lấy tiền trả lại. Hắn cầm tờ một nghìn máu sôi sùng sục, răng nghiến chặt. Hắn từng chém người thuê, đòi nợ thuê được hàng trăm nghìn, miễn là đối tượng phải vào viện, có phải khâu thế là ngon tiền. Hắn biết chém vào đâu để đối tượng không chết, không di chứng hậu quả, nhát chém sâu từng nào đủ phải khâu, cứa dao thế nào để đủ khâu bao nhiêu mũi. Chém ở thời điểm nào, thoát thân ra sao...

    Ề chề, cay đắng, hôm nay hắn bị người ta chém, chém bằng luật lệ chặt chẽ. Chém đúng vào cái lúc hắn muốn tìm công việc lao động chân tay, sống bằng mồ hôi, sức lực sau bao năm vác đá, trồng rau nắng mưa ở trại tù. Lúc mà hắn và mẹ bưng từng chén nước trà lấy được 100 đồng có cả vốn lẫn lãi, công sức vào đó. 50 nghìn là bao chén nước chè của mẹ. Lúc mà bao thằng bạn giang hồ đảo qua thì thầm rủ rê mối nọ, mối kia bị hắn bỏ ngoài tai... Hắn cay cái con ranh ở phòng môi giới việc. Đm con chó con, bố mày chém người lấy tiền, từng phạm pháp đi tù, giờ về thương mẹ muốn làm người lành cho mẹ già vui những ngày còn lại trong đời. Không phải túi nhỏ, to lỉnh kỉnh đi tiếp tế cho con những ngày hè đổ lửa hay mùa đông mưa gió. Giờ những con chó như chúng mày lại chém cả tao lẫn mẹ tao lúc này. Cả đêm hắn không ngủ, chỉ mong sáng dắt dao đến hỏi tội con ranh xem chúng nó trả tiền lại không. Hắn nhớ lúc mẹ vuốt tiền đưa, lời mẹ như gửi hết hy vọng vào đó, một trăm một chén nước trà con ạ.

    Mờ sáng hắn dậy đánh răng, rửa mặt. Phải đợi thêm chút nữa mới mượn được xe đạp, hắn bọc con dao vào mấy lượt giấy báo nhìn đồng hồ chờ. Tiếng đồng hồ tích tắc, trong khi nghe tiếng tíc tắc ấy hắn nghe thấy thấy tiếng mõ của mẹ trên gác. Hắn lên đứng ở cầu thang nghe tiếng mẹ lần cuối thế nào. Hắn xử xong bọn này sẽ đi theo bọn thằng Thắng, biết bao giờ còn nghe tiếng mẹ. Tiếng mẹ rì rầm...

    - Nam mô quan thế âm Bồ Tát, Nam mô... con xin cho nam tử con là... tuổi Tân… năm nay sớm có được công ăn việc làm, sớm yên bề gia thất, con Nam Mô... phù hộ độ trì, con lạy Thánh… con lạy Mẫu... con lạy chín phương trời, mười phương Phật, con lạy...

    Hắn gục đầu vào bậc thang, đi lên các bậc thang kia là mẹ già đang cầu nguyện, đi xuống là đến chỗ con ranh ở văn phòng môi giới việc làm. Một lúc sau hắn bừng tỉnh khi nghe tiếng động mẹ cất mõ, chuông. Hắn đi lên xin mẹ tiền mua báo Rao Vặt.

    Mẹ cho 4 nghìn, bảo con ăn gì đó nhé, lâu rồi mấy khi anh dậy sớm để ăn sáng đâu.

    Mùa xuân năm đó hắn xin được việc làm không mất phí. Người đàn ông tuyển người gắt với hắn.

    - Tôi đăng báo là tuyển người có tay nghề cơ mà.

    Hắn nhìn sâu vào đôi mắt của ông. Nói chậm từng tiếng.

    - Em hứa với anh em sẽ biết nghề nhanh nhất, xin anh cho em được thử việc.

    Không biết người đàn ông khó tính ấy đọc được gì trong mắt hắn, ông thở dài.

    - Thôi tao cho mày thử một tuần.

    Được 3 ngày, ông gọi hắn bảo

    - Giờ tháng đầu lương mày là 300 nghìn.

    Ba tháng sau lương hắn được 800 nghìn. Lúc đưa tiền lương cho mẹ, mẹ bảo để dành rồi mẹ vay bát họ mua cho cái xe máy mà đi làm con ạ. Anh đi làm thế này là mẹ yên tâm, không lo còn dại dột như xưa nữa.

    Bây giờ mẹ hắn không còn bán nước chè nữa, nhưng thứ nước mà hắn thích uống nhất trên đời này vẫn là trà mạn, thích nhất cái thứ uống rẻ tiền lúc đầu chan chát sau vị ngọt đọng trên miệng lâm râm.

    Lần nọ trên đường phố của Châu Âu, hắn đi tìm mãi thứ nước ấy, sau người bạn đi cùng phải đưa hắn vào một quán ăn sang trọng. Hai thằng ăn hết gần 200 euro để được ấm trà tráng miệng nhạt toẹt. Hắn bảo bạn rằng.

    - Tôi không xa quê hương được đâu ông ạ, tôi nghiện trà.

    Bạn nói

    - Ở đây cũng có, tại ông muốn ngay, chứ mình tìm mua siêu thị thì cái gì bên Việt Nam có bên này cũng có, ở khu bán cho người Việt mình có hết, rau muống cũng có mà.

    Hắn lắc đầu

    - Không, tôi thích quán trà ở vỉa hè, hay đầu ngõ, nơi có những chiếc ghế dài bằng gỗ bóng loáng vì ngồi nhiều, có mặt bàn gỗ xước tróc, có những chiếc cốc Bát Tràng, có một bà cụ già áo nâu bán hàng cơ, ở đây không có được như thế. Ngày xưa mẹ tôi cũng bán nước trà mạn đấy, hồi ấy có một trăm đồng một chén thôi. Tôi còn làm thơ về điều ấy là.

    Một trăm một chén nước trà
    Mẹ đong từng chén để mà nuôi con.

  10. #10
    Đọc bài Đạo lý gia đình mình thấy cần phải nói một tí dù bị chửi tôi không quan tâm

    Những bài viết tương tự như thế này chỉ nói lên sự kém hiểu biết của tác giả. Một xã hội có luật pháp bảo vệ quyền lợi một con người già vô dụng tới mức tối đa không dính dáng gì tới vấn đề tình cảm hay cái gọi là luân lý đạo nghĩa của văn hóa riêng của gia đình.

    Sự ích kỷ của bà mẹ già đối với con cái xuất phát từ cái văn hóa ngu xuẩn dân trí thấp còn lại. Già rồi được chính quyền lo hết không phải bận tâm giấy tờ bills cộ sướng mà không biết mình được sướng. Con cái nó có cuộc sống riêng của nó, một gia đình riêng của nó, một cách sống riêng của nó, sự riêng tư của một tổ ấm mà nó cố gắng để thực hiện. Không có cái tổ nào mà thấy chim mẹ cõng chim ngoại mớm chim con ăn bao giờ.

    Phải rước họ về ở chung rồi mới thông cảm sự xung đột giữa những khác biệt. Nên nhớ mỗi một con người có một tâm tính...thói quen...tật xấu ...vv

    Cho nên, trước khi quyết định có con cái hãy nghĩ mình sẽ làm được gì cho con mình và chấp nhận hệ quả. Hãy suy nghĩ ngang với con chim thôi là mẹ vui khi thấy con chắp cánh bay.

 

 

Similar Threads

  1. Những buổi chiều còn mưa
    By ndangson in forum Thơ
    Replies: 419
    Last Post: 12-28-2016, 02:04 PM
  2. Lai rai chiều nay
    By thuynh in forum Gia Chánh
    Replies: 438
    Last Post: 07-30-2013, 09:18 PM
  3. 95 tuổi vẫn chăm chỉ chuyện phòng the
    By ngocdam66 in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 5
    Last Post: 11-22-2011, 09:49 PM
  4. Bé 3 tuổi chăm mẹ chết mòn trên giường bệnh
    By tử đằng in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 0
    Last Post: 10-12-2011, 07:59 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 02:06 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2018 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh