Register
Page 15 of 26 FirstFirst ... 5131415161725 ... LastLast
Results 141 to 150 of 253
  1. #141
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532
    -Kỷ niệm ngày Quân Lực - VNCH 19 tháng 6








    Hải chiến Hoàng Sa khơi dậy sóng
    Việt Nam anh dũng chống quân thù



    Last edited by HaiViet; 06-19-2017 at 04:39 AM.

  2. #142
    Biệt Thự dulan's Avatar
    Join Date
    Nov 2011
    Posts
    2,699

    ...


    Xin chúc mừng "Ngày QLVNCH 19 tháng sáu" đến với Khung Trời Kỷ Niệm và quan khách trong nhà anh Hải Việt nhé!










    Xin mời cà phê và bánh ngọt:





    ...



    Thân mến và chúc vui,
    Dulan


    ...


  3. #143
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532
    -Cám ơn DuLan tặng bánh nhân ngày Quân Lực VNCH

    -Mùa hè này có dịp đi du lịch Âu Châu một chuyến ngắm phong cảnh đẹp quá, vui với bạn bè nên ... lạc mất đường về.





  4. #144
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532

    Qlvnch 1968-1975

    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: 1968-1975 (RVNAF, 1968-1975)

    (Bài của nhà nghiên cứu về Việt Nam, Bill Laurie)/Nguyễn Tiến Việt dịch September 26, 2017


    A.37 của Không Lực VNCH vào chiến trận.

    Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.
    Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.

    Trong bản dịch dưới đây, những chữ in nghiêng trong ngoặc đơn là chú thích thêm của người dịch để làm rõ nghĩa câu văn Mỹ của tác giả, những chữ in đậm là nguyên văn tiếng Việt mà tác giả viết trong tài liệu. Hình ảnh lấy từ website của Trung Tâm Việt Nam, Lubbock, Texas.

    “…cần phải nhìn nhận rằng QLVNCH đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ. – Bill Laurie, Historian



    QLVNCH thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử.” Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của QLVNCH trước năm 1968.

    Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đã hiện hữu, hay chối bỏ rằng vấn đề tham nhũng, lãnh đạo kém cỏi không tiếp tục gây họa cho khả năng của QLVNCH bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của QLVNCH không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.

    Tôi đã tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971, phục vụ 1 năm tại MACV, rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở phòng Tùy Viên Quân Sự.



    Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Ðông Nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh của Việt Nam, và cả các đơn vị QLVNCH ở vùng IV.

    Trong 3 năm đó, tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44 tỉnh của VNCH, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và VNCH mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi thì đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết trình ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tuần lễ sau đó tôi có thể đã lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Ðịa Phương Quân, hay bay ngang tỉnh Ðịnh Tường trên một chiếc trực thăng Huey của QLVNCH, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Ðộng Quân Trà Cú bên sông Vàm Cỏ Ðông.

    Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong vòng một tháng sau khi tới Việt Nam, thật rõ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những gì tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi: “Nếu tất cả những người ở Mỹ quả là đang nói về Việt Nam, thì mình đang ở nơi nào đây?”

    Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài Gòn, Cao Lãnh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, mì, cháo… háo hức lắng nghe người dân người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều hơn những gì tôi từng học ở Hoa Kỳ.
    ***
    Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đã đọc hằng feet khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ những người cựu chiến binh gốc Ðông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong hằng trăm trang web Việt Nam và Ðông Nam Á trên Internet. Vẫn còn rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở những xứ ấy tự trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.

    Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Ðúng là có những tấm gương về lãnh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến vói Sư Ðoàn 9 Bộ Binh VNCH, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH, cái đơn vị mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức.

    Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đã nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Ðịa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này thì họ đã lập tức trực tiếp đe dọa Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh VNCH phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An Lộc), Sư Ðoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây An Lộc nhưng cũng đã buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đã sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.

    Nói vắn tắt, QLVNCH, một cách toàn diện, đã có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ.
    Ngày trước… và ngày nay cũng vậy.
    ***
    Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết trình này, ai cũng biết QLVNCH vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Ðiều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đã chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.

    Tuy nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng VNCH khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu. Năm 1966, một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân VNCH đã gây thiệt hại nặng và đã “giúp” giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ.” Ðại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đã mô tả người đối tác của ông, Ðại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ hãi. Tiểu Ðoàn 2 TQLC, mang huy hiệu Trâu Ðiên, đã từng bắt nạt nhiều đơn vị Cộng Sản miền Nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu “Trâu Ðiên” (càng có ý nghĩa đối với những ai đã từng gặp phải một con trâu đang nổi giận và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường trình trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”…

    Năm 1968, trong bối cảnh cuộc Tổng Công Kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rõ là kế hoạch Việt Nam hóa phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ: thời kỳ QLVNCH không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đã bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của QLVNCH đã vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.

    Rốt cuộc thì QLVNCH cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời thế chiến thứ hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội VNCH được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Ðồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây trình bày: (bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số).

    Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% QLVNCH (tác giả không đồng ý dùng nhóm chữ ARVN để chỉ QLVNCH, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam’s Armed Forces). Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm Cảnh Sát Dã Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các Toán Xây Dựng Nông Thôn. Lực lượng Xây Dựng Nông Thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực lượng Nhân Dân Tự Vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt Cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam’s Army trong nguyên bản). Có lần một toán Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn đã đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt Cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.

    Thành phần của lực lượng Nhân Dân Tự Vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng phòng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của Cộng Sản địa phương. Nhưng Nhân Dân Tự Vệ cũng là một yếu tố mà Cộng Sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trước đó không có lực lượng này, Việt Cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xã lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân Dân Tự Vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt Cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo cáo như sau: (trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).

    “Hai Việt Cộng đang bắt cóc một Nhân Dân Tự Vệ thì một Nhân Dân Tự Vệ khác xuất hiện, bắn chết hai Việt Cộng này bằng súng M.1 (không ghi rõ garant hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 ly.”

    Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân Dân Tự Vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”

    Còn nữa: “Một Nhân Dân Tự Vệ 18 tuổi đã là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An Lộc trong cuộc bao vây năm 1972.”

    Hà Nội không mấy hài lòng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:

    “Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nhìn, củng cố chính quyền bù nhìn và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân Dân Tự Vệ bù nhìn ở nhiều làng xã. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động cho lực lượng bù nhìn, thiết lập những tuyến phòng vệ, và dựng ra cả một hệ thống phòng thủ và đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt Cộng).”

    Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân Dân Tự Vệ được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do các lực lượng QLVNCH chuyển giao lại.

    Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa Quân, Ðịa Phương Quân với sự trợ giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như Cố Vấn David Donovan thuộc một toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:

    “Chúng tôi vừa vượt khỏi khu mìn bẫy chính thì bị hỏa lực từ một rặng cây trước mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay véo véo trên đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ giòn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm, không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt. Trung Sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội hình hàng dọc, bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của Abney tới được chỗ địa thế có che chở thì họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Dưới hỏa lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba người trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều xông tới. Chúng tôi đã hành động khá hay.”

    Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:

    “Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần, cảm thấy như mình là ‘kim cương bất hoại.’ Tinh thần chiến đấu và hăng hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích quân địch một cách gần như khinh suất, liều lĩnh.”

    Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lãnh đạo chỉ huy kém cỏi, chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suýt bị giết hay bị dọa giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không hòa thuận được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đơn vị mà họ cố vấn. Dù sao thì những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước Mỹ hay trong ý tưởng của những người Mỹ bình thường, cũng như trong những gì được dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.

    Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển hiện trong những lực lượng lãnh thổ và những Sư Ðoàn Bộ Binh VNCH, (là những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ động tấn công. Cố vấn về kế hoạch bình định của tỉnh Quảng Trị, Richard Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của một đơn vị thuộc Sư Ðoàn 1 Bô Binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng hỏa tiễn của quân Bắc Việt:

    “Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc… Ðây là cuộc hành quân thứ 13 như vậy do vị Tiểu Ðoàn Trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về những chuyên gia hết sức tinh thục trong những gì họ làm, những người đã từng thực hiện những công tác xởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực hiện… Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng: ‘Anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong hành quân, thì họ là người dạy chúng ta.’ Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau.” (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng, Ðại Học Hawaii).

    Ở miền Nam, trong lãnh thổ tỉnh Ðịnh Tường thuộc Quân Khu IV, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ Sư Ðoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay vì “lùng và diệt,” search and destroy), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh:

    “Vùng giải phóng bị thu hẹp… Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.

    Ở Bến Tre (tức tỉnh Kiến Hòa), Sư Ðoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều khó khăn. Hầu hết Sư Ðoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi” (tác giả trích dẫn David Chenoff và Ðoàn Văn Toại, sách Chân Dung Kẻ Ðịch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).

    Tình hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các đơn vị “Việt Cộng,” không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của Sư Ðoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên sườn của Sư Ðoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính. (tài liệu trích dẫn).

    Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rõ rệt: (Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 đã giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ còn 2 trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía Cộng Sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xã ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9,8%, thương vong vì chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt Cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%).

    Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía Cộng Sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Ðiều này xảy ra trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lãnh thổ, mà còn kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.

    Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xã ấp có an ninh thì lại còn kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rõ ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra điều gì khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân Việt Cộng và quân đội Bắc Việt trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971. Trong khi Việt Cộng, gọi như vậy để phân biệt với quân Bắc Việt, không bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có ảnh hưởng mạnh do họ kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện, Ðịnh Tường, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thì Việt Cộng ở địa phương cũng không còn là một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt và sự cung cấp vũ khí hiện đại, thì chiến tranh đã dần dần tự tàn lụi. Những đơn vị và khu vực của Việt Cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân đội Bắc Việt để sống còn.

    Tác giả “phản chiến” Frances Fitzgerald của cuốn “Lửa Trong Hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long), nhìn nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt Cộng lẫn QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 thì cơ hội sống còn của Việt Cộng chỉ còn 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành, sau 23 năm theo Việt Cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt Trận Giải Phóng là vô vọng. Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn vị Nghĩa Quân xã quận và các chương trình Nhân Dân Tự Vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được nữa. Stanley Karnow khẳng định thẳng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, thì “riêng phía Việt Cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài Gòn.”

    Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa sả om sòm những gì mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đã phải chịu đựng những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những điềm gở. Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:

    “Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở Quân Khu IV chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh Quân Ðoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn thì phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của họ thì chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi còn phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay thì chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đã tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập một chính quyền ổn định.”
    ***
    Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử dụng như hỏa tiễn tầm nhiệt phòng không SA-7, hỏa tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54 được yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh QLVNCH.

    QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đã gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển hiện rõ ràng. Nhưng cái Quân Lực đang nằm đo ván đã đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8, hồi phục sức lực và bẻ gãy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc đó. Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, đã tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là vì “…Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương Bắc.”

    Nhiều nhà bình luận, kể cả Tướng Ngô Quang Trưởng, nói tới không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, thì đó đúng là yếu tố chính. Nhưng những điều ngụ ý nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu như không có không lực Mỹ, thì đã thiếu sót hai điều căn bản:

    – Thứ nhất, quân đội Mỹ cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như QLVNCH đã được.

    – Thứ hai, là điểm người ta ít nhìn ra: không lực Hoa Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai lực lượng vượt trội của Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng pháo binh hơn hẳn, hỏa tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá quy mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km). Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm.







    Các vũ khí phòng không và xe tăng của khối Cộng Sản bị QLVNCH tịch thu.

    Tựu trung, trở lại đề tài không lực, thì Không Quân Việt Nam đã thi hành nhiệm vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới bình luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lãng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:

    “Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn đầu. Tôi la lên báo động, thì đã thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của Không Quân Việt Nam cũng ghi bàng hoàng hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị đạn phòng không bắn lên xối xả… Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.”

    “Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom đạn của họ trúng đích, không hề hấn gì. Hai phi công Không Quân Việt Nam đã trình diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục lòng can đảm của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó lòng can đảm ấy đã vượt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt về sự an toàn của cá nhân họ.”

    Ðây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên Không Quân của Mỹ chứng thực:

    “Không Quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972… Trong trận phòng thủ Kontum, KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu.”

    QLVNCH lãnh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết Mậu Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng có khoảng gần 150 ngàn quân Bắc Việt đã tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết ’68 chỉ có 84 ngàn quân Việt Cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế (ngoại trừ ở Quân khu I).

    QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi Hiệp Ðịnh Paris gian lận được ký kết và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng Mười Một năm 1973, một lực lượng đặc nhiệm VNCH đã đánh đuổi Sư Ðoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi Sư Ðoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau, Sư Ðoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mật khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Ðịnh Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suốt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phòng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền Cộng Sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần.

    Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên bất lực, chỉ là gián điệp cho Cộng Sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt Cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đơn vị Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến của VNCH.
    ***
    Tuy nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ “siết cổ” QLVNCH, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Ðến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đã giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:


    Năm 1972 Năm 1975 Tỉ lệ giảm
    Ðạn 105 ly: 180 viên 10 viên 94%
    Ðạn 155 ly: 150 viên 5 viên 97%
    Ðạn 175 ly 30 viên 3 viên 90%

    Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy. Nhiều binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay,… nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Ðói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu.

    Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến vì hằng ngàn vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ý hơn phải là tại sao QLVNCH đã có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đình cũng đói khát không kém?

    Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm vì những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhã sau cùng, vẫn có không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu đến phút cuối. Sư Ðoàn 18 BB đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai trò của của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi Quân Khu II đổ vỡ và kết cuộc đã gần, Sư Ðoàn 7 VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long với Sài Gòn.

    Vào ngày cuối, gọi là “Ngày Quốc Hận” (tác giả viết bằng tiếng Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nòng do các Trung Úy Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hỏa lực cho những đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đã mất hết rồi. Nhưng các trung úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do Thiếu Tá Trương Phụng và Ðại Úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn Ðại Úy Phúc sống sót, oanh kích đến khi hết đạn. Hai Trung Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đã chiến đấu đến mãi tận giây phút cuối cùng!

    Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đã bị thì không một quân đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, với thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối Cộng Sản cung cấp. Trước một đạo quân VNCH bị rút ruột vì cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đã phải tung ra tất cả những gì họ có. Chừng 400 ngàn quân Cộng Sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đã ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt Cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi Tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Ðoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng Cộng Sản hồi Tết Mậu thân 1968.

    Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như QLVNCH đã gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đã yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hỏa lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng 275 ngàn tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình khoảng 17 triệu. Nước Mỹ với dân số 200 triệu, nếu chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3 triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ. Ðiều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert Thompson, tuy biết rõ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:
    “Quân đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hoảng quốc gia và cá nhân mà có thể đã nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy trì được một triệu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương Quốc Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được điều này.” (được nhấn mạnh và thêm vào)

    Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:

    “Nam Việt Nam quả đã phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ròng rã, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xã hội nào mà tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến thế.”
    ***
    Kế hoạch Việt Nam hóa có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng?
    Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hóa có hiệu quả, nhưng lại bị moi ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974, có cuộc thăm dò các Tướng lãnh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương trình Việt Nam hóa thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:
    1. QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ý.
    2. QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai: 57% đồng ý.
    3. Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của lực lượng Việt Cộng – Bắc Việt trong tương lai: 25% nghi ngờ.
    4. Ý kiến khác và không ý kiến: 10%
    Như vậy 65% các tướng lãnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đã mang khuynh hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị Tướng phục vụ trong khoảng 1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen thuộc với Quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực lượng Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, vân vân… cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi: “Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như QLVNCH vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu?”



    Huấn luyện Nhân Dân Tự Vệ.

    Ðiều có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung, rằng các đơn vị QLVNCH đã thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh bại quân xâm lược Bắc Việt trong năm 1972, thường là không cần tới sự yểm trợ hỏa lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa Quân và Ðịa Phương Quân. Ðiều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.

    Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn không biết gì hơn, là thế hệ các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan QLVNCH trẻ trung hơn, hết lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không Cộng Sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đã có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày tỏ:

    “Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong thế giới Cộng Sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tưởng gì riêng cho mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó.”
    Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Ðoàn Lao Công Nam Việt Nam, tương đương với AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh hưởng và có thể xếp đặt cho con trai ông tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một sĩ quan Bộ Binh VNCH. Trong những tuần lễ sau cuối của VNCH, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư:

    “Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng ta… Họ phải cung cấp viện trợ quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết… Trong mọi tình huống, con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui.”
    Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.

    Bác Sĩ Phan Quang Ðán là Quốc Vụ Khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối lập với ông Ngô Ðình Diệm, nổi tiếng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các đơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, Ðại Úy Tuấn bị hỏa lực phòng không địch bắn rơi, tử trận. Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viết bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi, những sĩ quan trẻ trong Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù,… tất cả đều tình nguyện lãnh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “lưỡng đầu thọ địch,” với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam Cộng Sản, và với nạn tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn.


    Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tụy với chính nghĩa Quốc Gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:

    “- Anh sắp bị giết đó!
    – Vâng. -Một sinh viên sĩ quan trả lời.
    – Sao vậy? Ðã kết thúc rồi mà!
    – Tại vì chúng tôi không ưa Cộng Sản.

    Và, lòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết.”
    Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học trình có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em Thiếu Sinh Quân nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt:

    “Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng!… Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân Cộng Sản tiến vào, các Thiếu Sinh Quân đánh trả. Cộng Sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó.”

    Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của QLVNCH, và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.

    Giới truyền thông Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH, Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự mãn. Một cuộc thăm dò 9.604 chương trình truyền hình của NBC, CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiếu sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0,7% chương trình nói về việc huấn luyện QLVNCH. 0.8% về bình định. 2.7% về chính quyền hay Quân Lực VNCH hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2.7% toàn bộ các chương trình tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam. Không có một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH thiện chiến. Không có gì về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết Trung Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Ðông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh:

    “Cảnh tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40 xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng phòng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến thế… Sự anh dũng lạ thường của người lính Thủy Quân Lục Chiến Nam Việt Nam này đã khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đã bị mất đà tấn kích.”

    Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến thăm Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH, nơi đã trở nên một đơn vị có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lãnh đạo của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quân nhân trong sư đoàn nhận thức rõ giá trị những nông trại của sư đoàn do Tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của Sư Ðoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt:

    “Tôi cứ nghĩ mãi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim… Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đã có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn.”

    Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ Sư Ðoàn 7 đều là “những tay chính quy,” rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đã không để ý gì đến việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Ðông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt.

    Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như tôi đã làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đã biết trong mắt những người Việt ấy chủ nghĩa Cộng Sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hóa và truyền thống Việt Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng của Thiệu,” mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lý và giá trị của điều quyết tâm ấy.
    ***
    Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá gì hơn, mà còn mãn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng rãi ở Mỹ có chương sử về Việt Nam không hề nói đến QLVNCH, chỉ viết rằng: “Việt Nam hóa thất bại,” ngoài ra còn gom góp hơn 200 điều khẳng định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công sang Cambodia, nhưng không nói gì về việc quân VNCH tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300 quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính thức mở chiến dịch, quân đội VNCH đã tấn công trước vào các vị trí phòng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia. QLVNCH đã hoàn toàn vô hình, như một đề tài sẽ được trình bày nơi đây (trong cuộc hội thảo).

    Phim ảnh và truyền hình lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim tài liệu lịch sử. Cả cuốn phim “Bat 21,” nhằm miêu tả cuộc tìm cứu Trung Tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đã loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệt, người cùng thi hành công tác tìm cứu đó với người nhái Hoa Kỳ Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết bất kỳ điều gì khi mà chế độ “kiểm duyệt” trên thực tế đã bôi xóa tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của QLVNCH?
    ***
    Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng QLVNCH đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.

    Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và cần phải có hội nghị đó. Những chiến lược giả hiệu phát xuất từ Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường mòn Hồ Chí Minh. Không có con đường này thì cuộc chiến tranh của Hà Nội đã không thể nào tiến hành được. Không một việc gì được thi hành để giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền dưới hình thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất chúng. Không làm một việc gì mãi đến khi cơ quan CORDS được thành lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và bình định về mặt tình báo. Không làm một việc gì để khai triển một liên minh rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người Cambodia và Thái Lan, chống lại kẻ thù chung. Trong khi Hà Nội đã làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Ðông Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu vực. Lý cớ về lãnh đạo của Hoa Kỳ là mù lòa, lần mò vụng dại như con heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất ngu độn.

    Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược dòng lịch sử khó có thể được chứng minh hoàn toàn chắc chắn, và có thể chiến tranh (Việt Nam đã qua) là một cuộc chiến không thể nào thắng được.

    Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đã phục vụ sát cánh những chiến hữu của họ trong QLVNCH, “những chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột,” (viết tiếng Việt trong nguyên bản) mang trong lòng họ nỗi buồn sâu xa vì đã thua cuộc, hay đã mất biết bao bạn bè tận tụy, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc đã cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc đẩy vì những quan niệm tinh vi về địa lý chính trị thế giới, nhưng đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Ðông Nam Á đã biết yêu quý xứ sở, những con người đã “thề bảo vệ giang sơn quê hương.”
    Nhiều trang lịch sử còn chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nhìn qua con mắt người Mỹ, bị lọc qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một “giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần hỏi xem người Ðông Nam Á đã trải qua loại thử thách khổ đau nào. Ðầy rẫy những dữ kiện lịch sử quý giá và những nét quan sát sắc sảo nằm trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào). Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện.

    Những tác phẩm của Lý Tòng Bá, Hà Mai Việt, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đòi được dịch thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia Hoa Kỳ biết đến. Không tham khảo những nguồn đó thì chắc chắn là chiến tranh Việt Nam, cũng là chiến tranh Ðông Dương của Hà Nội, sẽ mãi là những bí ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của QLVNCH sẽ mãi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả định vô căn cứ.

  5. #145
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,486
    Cám ơn anh Hai Viet , đại loạn của QLVNCH là tham nhũng , những ông tướng khét tiếng tham nhũng chỉ làm cho người lính ngoài mặt trận chán nản ...những ngày cuối cùng ở Phan Rang , chúng tôi nghe lời hứa hẹn ông 3 sao ...để rồi một viên đạn pháo binh ( 105ly )cũng không có ...mở máy truyền tin nghe hôm qua tướng hứa hẹn đã lên máy bay , hôm nay tướng B lên tàu Hải Quân cùng với gia đình ...v...v...những tướng hèn cũng không nhiều nhưng lại là vây cánh của ông Thiệu .

  6. #146
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,486
    Anh HaiViet ,cho tôi hỏi : tại sao Mỹ không bỏ rơi Đài Loan ?

  7. #147
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532
    Quote Originally Posted by hoài vọng View Post
    Anh HaiViet ,cho tôi hỏi : tại sao Mỹ không bỏ rơi Đài Loan ?
    Câu hỏi của anh hoài vọng đã có bao nhiêu chính trị gia, bình luận gia …. Nói và viết về vấn đề này.
    Chắc ý anh muốn hỏi tại sao Mỹ bỏ rơi VNCH mà không bỏ rơi Đài Loan?

    -Tôi xin tóm tắt vài ý kiến riêng, đồng ý với anh là vấn đề tham nhũng đục khoét tài sản quốc gia, mua quan bán tước, chính quyền thối nát …. Đã làm nản lòng chiến sĩ và quan trọng nhất là những quyết định sai lầm của cấp lãnh đạo vào những ngày cuối của cuộc chiến khi ra lệnh rút quân khỏi Pleiku, Ban Mê Thuật, Quân Đoàn 1, Quân Đoàn 2, miền Trung …. Đã làm tan nát cả một đạo quân hùng mạnh vì mất tin tưởng nơi cấp chỉ huy. Mình oán trách người Mỹ cắt viện trợ từ hơn 1 tỉ mỗi năm xuống còn 300 triệu mà còn không nhận được trong khi miền Bắc được viện trợ ồ ạt từ các nước cộng sản Nga, Tầu về vũ khí, đạn dược, tiếp liệu …. Nhưng nói chung những quốc gia nhược tiểu đều bị nước lớn lợi dụng trên bàn cờ chính trị thế giới, lỗi của mình là quá tin tưởng vào sự giúp đỡ của người Mỹ cho đến một lúc Nixon bắt tay với Trung Cộng họ không cần đến chiến tranh Việt Nam để ngăn cản làn sóng đỏ, vì quá tốn kém (khoảng 300 tỉ đô la và 58,000 quân nhân Mỹ đã hy sinh)

    -Mỹ cũng đã bỏ rơi Đài Loan từ năm 1972 để thiết lập bang giao với Trung Quốc đấy chứ nhưng Đài Loan là một quốc gia độc lập, là hậu thân của Trung Hoa Dân Quốc với nền kinh tế vững mạnh, với quyết tâm chống cộng sản Trung Quốc bằng dân vận, quân vận, địch vận và quốc tế vận. Chống hoà hợp hoà giải với CS, chống văn hóa vận và liên hiệp với Trung Cộng ….., Đài Loan có nền ngoại giao khôn khéo và Mỹ duy trì sự cam kết bảo vệ Đài Loan để một phần nào ngăn cản Trung Cộng bành trướng ra biển đông.

    -Nhưng, anh hoài vọng và các bạn, cuộc chiến vẫn chưa tàn biết đâu một ngày nào đó tình hình thế giới sẽ biến chuyển tốt cho Việt Nam cũng như đâu có ai ngờ Liên Bang Sô Viết có ngày sụp đổ.

    Thượng nghị sĩ John McCain trong lần viếng thăm Hà Nội đã tuyên bố “the wrong side won the Vietnam War” và Tướng độc nhãn Do Thái, Moshe Dayan, khi qua quan sát chiến tranh Việt Nam đã tuyên bố: "Muốn chiến thắng CSBV thì hãy để cho chúng vào chiếm miền Nam..."

  8. #148
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,486
    Anh HaiViet ! Năm 72 khi vừa lấy lại Cổ Thành , tôi có xem một tờ báo từ Sài Gòn gửi ra thấy Kissinger đứng trước xác ướp
    ở bên Tàu ( vậy mà cũng chưa sáng mắt !) nên không biết chuyện Mỹ lơ là với Đài Loan , sau năm 75 xem bản đồ thấy đảo
    Kim Môn thuộc Đài Loan chỉ cách Trung cộng chưa đầy 3km mà vẫn ngạo nghễ trước thằng Tàu nên tôi đoán lại có chuyện
    ...bắt tay sau lưng ...có lẽ giới truyền thông Mỹ đã thay đổi ít nhiều nên thường đề cập đến QLVNCH ?

  9. #149
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532
    Trời đã vào thu chứa chan đầy màu sắc với hình dáng người thiếu nữ vấn vương theo mùa lá rụng.





  10. #150
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    532
    Thơ tình của người lính VNCH viết từ chiến trường trước Tháng Năm 1975
    Mường Giang

    Cuộc chiến Việt Nam kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già miền Nam thua trận đã may mắn được sống sót sau một cuộc đổi đời. Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi “xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm” ghi lại qua những “Tình Khúc” được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.

    băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông
    người lính mệt nhoài nằm ngủ
    đầu dựa góc đa
    hàng bình vôi trắng răng cười cợt
    thép súng khô dầu bụi nước hoen
    có phải hòa bình vừa nở một bông hoa
    nở giữa tình yêu và tiếng hát…
    (Thi Vũ tháng 1.1973 – Thơ Tình Của Người Lính)


    Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẫn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đặt chân tới. Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt?

    em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc

    ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao
    vòng tay thần thánh xa biền biệt
    ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau
    *em nhớ ta hay ta nhớ em?
    từng đêm lặn lội giữa bưng biền
    ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám
    róc vỏ thân chàm ta viết tên
    năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý
    núi sông biết mặt đứa phong trần
    yêu em ta bổng thành thi sĩ
    thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm…
    (Chiêm Bao – Tôn Nữ Kim Phượng)


    Ðó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Ðó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vả cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà Xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ “Mưa Xuân Ngoài Biên Khu” viết tặng Lâm Hảo Dũng:


    hãy uống cạn cho lòng vơi nỗi nhớ

    rượu chất đầy: nón sắt bình đông
    người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
    ta say khướt để quên đời dưới đó

    dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế
    bởi quanh năm ta với rượu: đôi bạn già
    (tiễn thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu
    mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly)…

    bó gối trong căn hầm tránh đạn
    chia nhau một cốc cà phê đen
    hít dăm ba điếu quân tiếp vụ
    ấy tết cô đơn của lính quèn

    rừng vẫn viễn miên buồn ủ rũ
    gục đầu tắm đạn pháo thương đau
    chim rừng cũng bỏ đàn về núi
    để mặc chinh nhân vạn cổ sầu…
    (Xuân Chiến Ðịa – Phong Nhân Hoài)


    Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. Nỗi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết “ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới” hay cùng lắm thì “vất mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá.” Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn:


    Ðêm nằm nghe vượn hú

    ba lô, súng gối đầu
    mắt mở trừng không ngủ
    rừng tiếp rừng âm u

    gió lòn qua kẽ lá
    cuốn tròn trong ba lô
    rét rừng cơn mệt lả
    đồi tiếp đồi bao la
    hay:
    dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng
    ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say
    có phải không em dù mây vẫn cứ bay
    và mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất
    em hãy giữ trong lòng những điều thành thật
    ta đã cho em và chưa vội mang theo
    giữa đời ta không phân biệt bạn thù
    chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút
    (Khi Xa Bình Tuy)


    Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ “Tự Sự” được viết như những “tình khúc chiến trường” vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cảm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn văn Chính… sáng tạo trước Tháng Tư 1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đo , trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế:


    Rừng thưa dạt gió Hạ Lào

    đêm nằm phục kích nhìn sao, nhớ nhà
    tháng tư thương nụ hoa cà
    hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời
    (viết ở căn cứ Tiên Sa)

    Phất phơ áo lụa trên cầu
    nắng nghiêng cổ tháp ngả màu thời gian
    gió xao sóng nước mênh mang
    thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông
    (Chiều Qua Sông)

    Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả
    đàn em nhìn như người lạ quây quanh
    chân khập khễnh đứng trên bờ đất lở
    tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành…
    (Trần Vạn Giả – Tình Cảnh Người Về)


    Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nổi tiếng khi ông viết “Tỳ Bà Hành” kể lại số phận hẩm hiu của người ca kỹ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ “Buổi Nhớ Núi”:


    mới hôm nào dừng chân ven núi

    bè có bè có đứa còn vui
    anh có anh, chúng ta đời lính
    còn lúc này tay nắm môi cười

    đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn
    chân co tìm giấu mất chân xưa
    ta bỏ quên bên ngoài biên trận
    tặng cho rừng ướt lá thêm mưa

    Buổi đến rừng cây cao nhớ núi
    gió nhớ đời ta nhớ anh em
    giờ một chân, tật nguyền đau dại
    mưa móc người, ơn núi nghĩa sông


    Ðời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó, đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sướt mướt trữ tình bằng họ?


    Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,

    Tao mày hiu hắt đón xuân chơi
    Một thằng lính bộ đời như bỏ
    Một đứa nhảy dù cũng tả tơi…


    Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người… Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỷ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi, sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nở. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã dốc ngược đời mình cho quê hương.


    Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí

    sa trường dung ruổi đã phơi thây
    đoàn quân hùng liệt nay về đất
    hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
    Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
    mà khóc quê hương khuất bến bờ
    đêm hát vang lừng nơi chiến địa
    mộng hoàng hôn khép giữa hư vô…


    Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nỗi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Ðức Uyển… những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, để cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã:


    giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới

    mùa mưa như một trận mưa liền
    châu thổ mang mang trời sát nước
    hồn chừng hiu hắt nổi không tên
    tiếp tế khó, đôi lần phải lục
    trên người bạn gục đạn mười viên
    di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
    trong vết thương người bạn nín rên
    người chết mấy ngày chưa lấy xác
    thây sình, mặt nát lạch mương tanh…
    (Qua Sông)

    bốn năm thằng lơ láo
    áo quần rách tả tơi
    ăn cơm bên xác người
    tay bốc tay cầm súng
    lòng nhớ mẹ phương tây
    ý thương em chạy giặc
    xóm làng sầu khôn khuây
    ăn xong múc nước ruộng
    uống đại cho qua ngày
    quê nhà em có biết
    chinh chiến thân lưu đày

    ăn được là điều may
    có khi hai ba ngày
    không ăn chẳng có uống
    ta nằm với cỏ cây…
    (Trần Dzạ Lữ – Bữa Cơm Ngoài Chiến Trường)

    Tự hỏi về đâu, đâu chả được?
    hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
    gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
    rừng núi sương mù ướt chẳng hay…
    (Trần Ðức Uyển – Buổi Chiều Ngồi Trên Ðá)


    Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương miền Nam suốt hai mươi năm chinh chiến.


    Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ

    buổi chiều thu uống rượu không cười
    ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt
    đêm trong rừng mộng gởi quê xa

    quê xa ta có em và mẹ
    nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
    nhớ người con gái bên hàng xóm
    chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa.
    (Vũ Hữu Ðinh viết cho Trần Dzạ Lữ)


    Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẽ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân. Cao Thoại Châu một người lính trẻ, hồi tưởng lại thời gian theo học tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức với tâm trạng thương nhớ em nên chỉ muôn cho mau tới kỳ đi phép hay mãn khóa để chúng mình lại tương ngộ:


    thứ hai này nhớ em buồn vỡ mắt

    ước làm chim bay qua cổng quân trường
    qua cánh đồng có lúa mạ xanh non
    những mái nhà đỏ tươi ngói mới
    muốn bay lên từ tối tăm hiện tại
    phải qua cổng nào em chọn cho anh?
    ký ức anh phai mờ như bụi đóng
    áo ngả màu ba lô mũ sắt
    và giấc ngủ vẫn rình trên mắt
    và tương lai như một góc phòng
    mà bóng đêm đã lấp dần ánh sáng
    như tận cùng ước muốn đời ta
    (Cao Thoại Châu viết trong cánh cửa quân trường)


    Ðời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò.

    Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ:

    Vào đêm em ngủ chưa em?
    Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không?
    Ðèn xanh thành phố xa trông
    Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao
    Mưa rừng tiếng lá xôn xao
    Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn…
    (Thơ Bùi Khiết viết trong Ðêm Mưa Hành Quân 1966)


    Nhận được tin con đầy tháng, Vũ Trọng Quang người lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh rất vui nhưng rồi buồn vì đang hành quân đâu có phép để về thăm con vợ. Cùng một tâm trạng, Tô Nhược Châu cũng viết những lời thơ rất nồng nàn trìu mến gửi lại cho vợ con trước giờ hành quân:


    Hay tin con đầu vừa tròn một tháng

    vui thì vui nhưng lòng cũng thật buồn
    vui vì con hiện hữu trên đời sống
    buồn bởi ta không được phép về thăm

    Ta còn phải lội vượt sông trèo núi
    đường vào Ba Gia trăm nẻo hiểm nguy
    sáng pháo Sa Huỳnh lửa chiều Mộ Ðức
    đêm nằm Trà Bồng xôi đậu phân ly…
    (Ðầy Tháng Con – 1973)

    Hãy ngủ ngoan đừng kinh hoàng nghe con
    dù đêm nay thật nhiều súng nổ
    hãy ngủ yên đừng đợi chờ nghe em
    dù đêm nay anh đi ra trận
    dù đêm nay anh đi không về…
    (Tô Nhược Châu – Lời dặn vợ con trước giờ hành quân)


    Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong:


    rượu pha xá xị đầy nón sắt

    dăm thằng chuyền nhau uống
    vòng vòng đuổi bắt nhau như ngày với tháng
    như khoanh tròn tựa một số không
    (Lính Thú – 1973)


    Ðà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nõn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuột, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Sư Ðoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẫy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hữu Ðịnh ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1980-1946):


    phố núi cao phố núi đầy sương

    phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
    anh khách lạ đi lên đi xuống
    may mà có em đời còn dễ thương

    em Pleiku má đỏ môi hồng
    ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
    nên mắt em ướt và tóc em ướt
    da em mềm như mây chiều trông

    xin cám ơn thành phố có em
    xin cám ơn một mái tóc mềm
    mai xa lắc trên đường biên giới
    còn một chut1 gì để nhớ để quên…
    (Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ)

    cũng có khi nào anh trở lại
    phố xưa đường cũ mùa mưa bay
    mưa như gió ướt nên lòng lạnh
    gió thổi sầu sương đậu tóc bay

    phố không đèn điện con đường lặng
    những ánh đèn cây sáng chập chờn
    anh gặp em ngồi đang rẽ tóc
    mái tóc dài xanh những ngón tay

    và anh yêu lấy sầu chẳng nói
    mình anh ở lại quán mù mù
    tưởng bao năm trước ta là bạn
    chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau.
    (Cũng Có Khi Nào)


    Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong “Quán Cô Hồn” với bữa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đỗi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa Ðông. Sau đó bạn ra đi và đã gãy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Ðoàn 218 ghi lại qua bài thơ “Nửa Mảnh Phi Bào” khóc bạn cố Trung Úy Nguyễn Văn Phú:


    cởi mảnh phi bào anh để lại

    trao về quê mẹ một trời xuân
    mai đây nếu có ai thương tiếc
    xin đốt cho người một nén hương

    ngày xưa anh đứng bên song cửa
    nhìn áng mây trời ngó cánh bay
    giờ đây mây trắng anh xây mộng
    lại biến vành tan buổi sum vầy…
    (Nửa Mảnh Phi Bào)


    Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít, với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên các nẻo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn, lẻ loi ngoài quan tái. Ai đã từng là lính, mới cảm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hữu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh” để rồi thui thủi “đêm từng đêm ngó mông lung, vỗ bờ kiếm thép hát rừng mà nghe.” Nỗi buồn của lính đã được Yên Bằng viết trong một bức thư gửi về cho người vợ lính của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, đọc sao mà thảm thiết quá:


    Nghe ta chết ở một nơi nào trong rừng U Minh

    em rót rượu uống mừng nhau nhé
    hỡi người vợ lính Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
    có nhìn thấy mặt trời mỗi khi lặn khuất
    là cuộc tình ta đó
    trên tháng ngày chờ ôm tấm mộ bia
    nên mỗi sáng ngồi uống chum cà phê
    ta bổng thấy tim hồng rớm máu

    Em hãy nhận giùm ta tấm thẻ bài
    ở đó có số quân cùng loại máu
    vì máu ta đã chảy
    trong khu rừng vàng úa cỏ vô tâm
    chẳng biết rằng khi chết có vui không?
    nhưng chắc hẳn em buồn quá đỗi
    vì ở Ðầm Dơi có nhiều chuyện lạ
    người chôn người như thể thù nhau…
    là nỗi đau thương của người vợ lính…

    quyển sổ dầy mở rộng
    tôi ghi gì nữa đây?
    từng đốt tay tê cóng
    máu trong tim đã đầy…


    Với lính thì tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Ðêm trừ tịch giữa tối ba mươi, cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa, trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh lùng. Nhớ từ đâu bổng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp. Chu Trầm Nguyên Minh, tác giả của “Cuộc Tình Người 1969” cũng là một người lính trẻ, viết thư gởi về cho người yêu trong một phiên gác đêm:


    Súng kê giấc ngủ mơ hồ

    đêm nghe tiếng nhảy ngựa thồ đổi phiên
    xin cho em ý ngoan hiền
    biển sương rơi đọng trên miền dung thân
    anh nhìn anh những phân vân
    đời trai giờ chỉ có ngần ấy sao?
    (Chu Trầm Nguyên Minh viết trong Phiên Gác Ðêm tại đồi 182)


    Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru Những Tình Khúc Chiến Trường giúp ta nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về trong kỷ niệm buồn vui của đời lính với những tết không bao giờ quên được dù nay bạn bè người còn kẻ mất, trong đó có rất nhiều anh em đã gục chết ngay giữa tuổi thanh xuân mộng thắm tràn đầy.


    Giữa đồi sương và gió

    Tình cờ ta ghé qua
    Ngu ngơ nhìn ngọn cỏ
    Quanh mộ đời phôi pha

    Giun dế đọc giùm ta.
    Tên một loài dễ vỡ
    Chim một bầy gọi nhỏ
    Tên một loài hư vô

    Người ôm bờ huyệt lạnh
    Ngủ cùng đất ngàn năm
    Ta ôm đời lẽ bạn
    Mang mang sầu quanh quanh…
    (Chinh Yên một chiều viếng mộ bạn)


    Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lửa tới Ðà Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tất cả là dân miền biển và miền Nam, nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi, cắÔt da tím thịt, trong bộ đồ trận mỏng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức. Viết sao cho hết nỗi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết? Dù đêm Xuân Ðà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngỡ như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Ðà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Ðà Lạt lại vô tình hờ hững.


    Xin chào mi, hỡi núi rừng Trung Việt

    Ta đã qua và ta đã dừng chân
    Ta đã nhiều đêm giấc ngủ chập chờn
    Những tối trăng sao không buồn ló dạng
    Những tối nghe mưa lòng buồn vô hạn
    Những hạt mưa như nước mắt mẹ già
    Những hạt mưa lạnh buốt cõi hồn ta
    (Hạ Ðình Thao giã từ)

    Không dưng mà lạnh thật đầy
    với hồn thương tích với thây ma người
    chiều lên ôm súng nhìn trời
    bâng quơ ngó xuống cuộc đời buồn tênh
    rượu đâu mà uống cho quên
    người đâu mà họp đủ phiên chợ nghèo
    lá rừng ai đốt đen thui
    chim về ngơ ngẩn ngày vui năm nào
    hỡi em tình thoảng chiêm bao
    giờ không khí đó đã vào cổ sơ
    (Giang Hữu Tuyền viết ở biên giới Việt Miên)


    Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử. Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt trời. số còn lại bổ sung cho TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.


    Những chiều Trường Sơn gió cao, gió nhớ

    Sao người không về theo gió chiều nay
    Cho em tình ấm vui hồn nhỏ
    Ðợi chờ nhiều, em giận cả mây bay
    Những chiều buồn đường lên dốc thẳng
    Em ngỡ chừng đang về cửa trời cao
    Mây đệm trắng êm đềm thân thể mới
    thông rừng xanh gọi gió nhớ lao xao
    Thôi Anh rượu đắng thôi đừng rót
    Sương khuya chùng lạnh xuống vai em
    Như đời băng giá trong đáy cốc
    Người đi làm rượu đổ nghiêng nghiêng…
    (Nẻo Cao – thơ Hoàng thị Bích Ni)


    Ðược vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao,khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và mùi hương của núi rừng Tây Bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả buôn không còn rượu và thịt:


    Ớ chàng trai lính ơi,

    đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
    đôi ta tình cờ quen nhau ngắn ngủi,
    nhưng em nguyện chờ chàng trở về…

    Mai mốt em về em về đâu?
    Con sông nước chảy trắng chân cầu
    Tiếng hát già nua người bạn cũ
    Ðêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
    Ngoài kia buồn buồn không em?
    Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
    Thương ai ái ngại tìm đôi mắt
    Chưa biết đêm nào thức trắng đêm…
    (Cõi Nghìn Trùng – Hoàng Trúc Ly)

    Ðón giao thừa một phiên gác đêm
    chào xuân đến súng xa vang rền
    Xác hoa tàn rơi trên bán súng..
    ngỡ pháo tung bay, ngỡ tóc em vương…


    Bài hát cũ của nhạc sĩ Nguyễn văn Ðông, mấy chục năm về trước, nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa.


    Buổi cà phê cuối cùng

    Thôi rời trường Thủ Ðức
    ta lên đường lên đường
    tiếng ca buồn ở lại

    Bốn đứa nhìn bàn ăn
    đĩa thịt bò kỷ niệm
    những bãi nắng khô cằn
    bước chân buồn xa lạ

    Chung quanh anh toàn là dây cháy chậm
    ô vuông bản đồ sao toàn màu rừng man thiên
    nhìn một bận bóng thiết tha nhòa bóng tối
    anh giật mình kinh rạch nhện đan luôn

    Anh trằn trọc từng nằm đêm nhẩm từng tọa độ địch
    màu bút chì xanh đỏ đứng nghênh nhau
    nghe một thoáng tên em nhòa tiếng súng
    anh đứng nhìn hoa lửa cháy trăng sao…
    (Thư gởi người phương cũ của Hoàng Yên Trang cũng là Trần Như Liên Phượng tử trận tại Chương Thiện năm 1965 mới 29 tuổi)


    “Chốn biên thùy này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người,” nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân cũ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học “tay anh ghì nhẹ trên báng súng, cứ ngỡ cùng em sóng bước xuân.”


    Dưới chân đồi Xích Thổ này có con sông

    Con sông có cây cầu bắc qua
    Bên này là vườn táo là nghĩa địa là ruộng hoang
    Là lô cốt là hầm chông là bãi mìn
    Buổi sáng anh ở nơi đây
    Ðu đưa lời tình bên khóm táo
    Với bầy te te với tiếng gió sang mùa
    Anh phải ngủ thật hiều vào ban ngày
    Ðể đêm từng đêm ngồi ôm súng gác
    Anh phải cười nơi đây thật to
    Ðể khỏi nghe tiếng súng
    Mỗi khi đài quân đội đưa lời ‘em yêu lính’
    Anh phải văng tục nơi đây cho đã
    Vì thiếu bóng đàn bà suốt tháng…
    (Huỳnh Hữu Võ viết nơi đồn trú dưới chân Ðồi Xích Thổ)


    Ðâu đâu cũng là chiến trường, nơi nào cũng chết chóc đau thương kể cả những ngày Tết đến. Bởi vậy chỉ mong gặp nhau một lần thôi để lòng bớt vấn vương thương cảm, rồi thì cứ phó mặc cho số phận đẩy đưa bởi chiến trận đâu phải là trò đùa:


    …sau những đợt xung phong ào thác lũ

    còn lại gì vườn trống cạnh nhà hoang
    và hoa cỏ im lìm nghe đón gió
    bầy gà con vừa lạc mẹ kêu đàn

    trên sân nắng nhiều quân thù phơi xác
    thanh AK Tiệp Khắc lỏng tay gầy
    ngoài bờ lúa nhiều anh em nhắm mắt
    vuông đất hồng làm gối lạnh từ đây

    khi tôi đến quê xa chìm tiếng hát
    chiều hành quân vai nặng túi cơm rời
    để nép bóng tòa bin đinh cao ngất
    trên đường về nghe đắng mặn đầy vơi…
    (Sau Chiến Trận – Ý Yên)


    Chiến tranh tàn nhẫn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt… chờ đón xuân về.

    thằng Vũ chết rồi trong trận Pleime đó em

    khủng khiếp và khốc liệt

    những lần về phép sau này em ra cửa đón anh
    sẽ không bao giờ thấy nó
    nó chết rồi
    nó chết cho quê hương đó…
    (Phan Huy Mộng – Người chết ở Pleime)


    Cố nhân xa rồi nên đâu còn ai thương nhớ ai, khiến cho người lính trận thêm cô đơn lạc lõng nơi chốn thị thành khi nhớ lại những ngày còn tóc bồng còm em mười sáu thơ ngây, để ngày ra đi người lính trẻ chỉ còn có môi em gói lại làm hồn nhớ bâng khuâng:


    mai ta trở về với núi cao

    có mây xanh ngắt lá reo sầu
    đêm chờ đạn nổ ngày tạp dịch
    ta còn lúc nào để nhớ thu

    mai ta trở về cùng khói núi
    tình mình còn chăng sợi khói bay
    nhớ thu ta đứng trên triền dốc
    mà lối đi về mây xám bay

    đã lỡ một đời thân lính thú
    còn mơ ước gì chuyện tương lai
    tuổi trẻ cháy dần trong khói súng
    ta lấy đời mình đánh cuộc chơi…
    (Vũ Hoàng – Với Thu Như Một Giã Từ)


    Một thời đại chinh chiến bao lớp người nối tiếp ra đi vì nước non nên chỉ biết giã từ tất cả mà Hoàng Trọng đã gom lại để viết thành một ca khúc rất nổi tiếng ngay từ năm 1962:


    biết đến bao giờ gặp lại người em thời thơ ấu

    để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa
    một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa
    quà nghèo chỉ có lời ca
    tặng nàng trước khi từ giã
    (Giã Từ)

    Em yêu hãy hôn anh một lần trước khi anh đi lính
    giữa thời đại chiến tranh cái gì cũng vội vã hết
    phải không em
    nhưng nhớ hôn anh một lần này thôi
    vì không chừng anh sẽ ra đi
    hoặc trong mười năm mười lăm năm
    hay vĩnh viễn
    bây giờ anh còn tay bây giờ anh còn chân
    bây giờ anh còn mắt
    bây giơ anh chưa đui mù
    chưa câm điếc chưa què quặt
    nhưng biết mai anh còn đủ không
    và cả trái tim anh nữa
    biết còn rung động hay im lìm ngừng đập
    nhiều lúc anh tự hỏi chiến tranh để làm gì?
    (Trần Uyên Phương – Trước Khi Ði Lính)

    tao để tiểu đoàn 6 cho mày
    trạm cứu thương
    có thằng Khiên mù
    có thằng Nhu ngọng
    tao để Vũng Tàu lại cho mày
    bãi trước bãi sau
    gió biển ngây ngây mùi gái
    hỡi thằng Y Sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi
    đi chưa bao giờ biết mệt
    chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
    Ðêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
    Chiều Cao Lãnh đạn ghìm sâu vào gối
    và Dakto mãnh sướt bờ vai
    để một sớm mai buồn chúng tao thức dậy
    lặng người đau đớn
    nghe tin mày hy sinh…
    (Trang Châu – Một Bài Thơ Cho Tuấn)


    Hình như giao thừa sắp đến, trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi yêu cũ, bạn bè, đồng đội, đồng bào… được may mắn an bình trong buổi hỗn mang dâu bể… Kỷ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẫn dắt hồn người lính trẻ về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lả tả giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghỉ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán. Nhưng em đã đi rồi từ khi tôi vào lính:


    năm năm rồi không gặp

    từ khi em lấy chồng
    anh dặm trường mê mải
    đời chia hai nhánh sông

    phong thư tình ngây dại
    đường xưa quen lối về
    trong mịt mùng gió cuốn
    nghe nhạt nhòa mưa qua

    ngày nhà em pháo nổ
    anh cuộn mình trong chăn
    như con sâu làm tổ
    trong trái vải cô đơn

    năm năm rồi ly biệt
    một màu tang ngút trời
    chúa buồn trên thánh giá
    nằm chơ vơ gác chuông…
    (năm năm rồi không gặp của Phạm Văn Bình)


    Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa đời lính về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đoạn nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bãi đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược.


    quê cũ mười năm mây lớp lớp

    mười năm mưa khóc buổi sang mùa
    dưới trời sương lạnh rơi tan tác
    rét mùa đông cũ rét lê thê

    đường tôi đi có bom và đạn
    có hận thù trên mỗi dấu chân
    ai thả vào hồn tôi mới lớn
    những mùa xương máu ngập tang thương…
    (Ði Giữa Chiến Tranh – Phạm Cao Hoàng)


    Những người tuổi trẻ như chúng ta một thời chinh chiến đã lần lượt rủ nhau đi trong lửa đạn, làm kiếp lang thang mây chiều, cũng vì ai mà xương máu ngất núi trên quê hương hận thù. Tan tác, chia ly kẻ còn người mất, kỷ niệm chỉ còn vương lại một hớp rượu cay mà ta cố giữ lại trên đầu lưỡi.

    Hồn ta nay đã mất, có còn chăng là dư ảnh của ngày xưa, của đồng đội bạn bè… như những giọt nước mắt cứ chảy dài của những người góa phụ trẻ mà Lê Xuân Hảo đã viết cho chồng là cố Thiếu Tá Pháo Binh VNCH Nguyễn Tấn Hưng thuộc Tiểu Ðoàn 155 ly Pháo Binh, đã mất tích tại Kon Tum vào mùa hè đỏ lửa 1972:

    Ngày anh lên thiếu tá

    với chữ cố đứng đầu
    em trở thành góa phụ
    trầm mình trong vực sâu

    ngày anh lên thiếu tá
    sao chẳng có rượu nồng?
    ngoài năm vành khăn trắng
    nay dật dờ cô đơn
    (Ngày Vinh Thăng của Anh)

    25 tuổi đầu, tôi làm góa phụ
    bốn đứa con thơ tỉnh yêu chưa tròn
    10 năm chiến chinh vai đời pháo thủ
    chồng tôi bây giờ nằm xuống cô đơn

    25 tuổi đầu tôi làm góa phụ
    má đỏ môi hồng còn gì nữa đâu
    thu đến đông sang xuân qua hè lại
    màu trắng khăn sô: tôi chít trên đầu
    (Góa Phụ 25)


    Trong số phát hành vào ngày Chủ Nhật, 28 Tháng Tám năm 1994, nữ ký giả Lily Le Diron của tờ Los Angeles Times đã đăng bài “A Viet Nam Odyssey” được Lê Xuân Hảo dịch ra tiếng Việt “Ði tìm cha tôi: một cuộc hành trình vô vọng.” Ðây là một câu chuyện có thật do cô Nguyễn Tấn Băng Phương, tức là nữ ký giả trên, ghi lại cuộc hành trình đi tìm xác người cha đã mất tích từ năm1972 trong cuộc chiến “Mùa Hè Ðỏ Lửa.” Ông là Cố Thiếu Tá PB/VNCH Nguyễn Tấn Hưng mà vợ là Lê Xuân Hảo đã nhắc tới trong bài thơ “Ngày anh vinh thăng cố thiếu tá và tôi là góa phụ,” đã được Phó Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương trao tặng giải nhất trong cuộc thi thơ năm 1973.

    Gọi là cuộc hành trình vô vọng dù cô Băng Phương đã ròng rã suốt hai tháng trường, đi khắp lãnh thổ Miền Nam, từ Nghĩa Trang Quân Ðội tai Biên Hòa ra tới miền Bắc, lên tận Pleiku, Kon Tum… nhưng tin tức của người cha yêu dấu vẫn biền biệt phương ngàn. Thật là cảm động biết bao về tấm lòng hiếu thảo của một người con chí hiếu, xin chân thành dâng lên một nén hương lòng lên các anh: Những người lính oai hùng của VNCH một thời lửa đạn, người có tên, người còn mồ hay người đã biệt tích. Tất cả đều xứng đáng được hậu thế tôn vinh,

    sử xanh ghi công rạng rỡ:

    mai về nẻo ấy chiều sương khói
    ta biết tìm đâu bước bạn hiền
    vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
    Paské héo hắt bóng trăng đơn

    mai về quê mẹ qua biên giới
    thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
    rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
    chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương
    (Phong Nhân Hoài – Thì Thôi Hãy Khóc Ðể Quên Ðời 1972)


    Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tìm chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mông lung muôn trùng.


    còn ba năm nữa anh sẽ về

    anh biết chắc không còn quê hương để ở
    em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
    làm bằng nắp hòm người lính nghèo
    chết ngoài mặt trận
    anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe
    mà không xin tiền
    chỉ tìm lại những đôi mắt trâng tráo
    những bước chân đi qua vỉa hè
    với nụ cười
    mà nhiều năm anh đã mất…
    (Khi Giải Ngũ – thơ Hà Nguyên Dũng)

 

 

Similar Threads

  1. Em Gái Của Trời - Tác Giả Cusiu
    By hongnguyen in forum Truyện
    Replies: 5
    Last Post: 04-25-2014, 07:19 PM
  2. Trời đánh 2 lần mà không chết
    By Đồ gàn in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 0
    Last Post: 03-16-2014, 03:25 AM
  3. Khung Trời Nhỏ - Thùy Linh
    By Thùy Linh in forum Thú Tiêu Khiển
    Replies: 54
    Last Post: 12-03-2012, 07:23 AM
  4. Khung công cụ khi viết hay trả lời
    By Yore in forum Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn
    Replies: 5
    Last Post: 11-14-2011, 04:51 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 11:18 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh