Register
Page 1 of 7 123 ... LastLast
Results 1 to 10 of 66
  1. #1
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558

    Lật trang sử cũ

    Cuộc Chiến Chưa Tàn.....




    Ngày bao hùng binh tiến lên
    Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
    Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
    Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành…..



    Chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, bao nhiêu thế hệ thanh niên của hai miền Nam Bắc đã hy sinh thân xác để mong khi đất nước hòa bình toàn dân được ấm no hạnh phúc, được ngẩng đầu hãnh diện với mọi dân tộc trên thế giới, người dân được kính nể vì sự văn minh tiến bộ như dân tộc bạn: Nam Hàn, Nhật Bản.....

    Nhưng, dường như cuộc chiến vẫn chưa tàn, người dân vẫn còn phải tranh đấu khỏi mọi áp bức, đàn áp, bắt bớ để bảo vệ đời sống, bảo vệ ruộng vườn khỏi bị cướp vào tay kẻ có quyền thế.

    Ngày xưa cuộc chiến quá nhiều bom đạn chết chóc, ngày nay cuộc chiến đầy bất công.


    Những người trong cuộc vẫn còn đây, những địa danh, dấu binh lửa vẫn còn trong sử sách và trong ký ức của mọi người......

  2. #2
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558
    Chuyện Biệt Kích

    Lôi Hổ âm thầm hy sinh trong đêm tối, thì vinh quang không vượt khỏi bóng đêm.



    Đời Nhảy Toán / Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật


    Khác hơn thường lệ, chiều nay mới bốn giờ toán chúng tôi đã được ăn cơm. Xong một lân nữa lệnh kiểm soát lại đồ đoàn. Toán chờ xuất phát. Thiếu úy Điệp (Phạm ngọc Điệp) trưởng toán (One zero), sáng nay đã bay Covey Ov10 quan sát bãi đáp, dự thuyết trình mục tiêu. Chuyến này Trung sĩ Quang (Trần Quang) toán phó (One one) phụ trách điện đàm, còn lại là bốn toán viên Biệt kích quân (BKQ). Tôi BKQ Hải (Nguyễn văn Hải) Thông dịch viên. BKQ Nguyễn duy Châu Khinh binh (point man) BKQ Hào (Lê thanh Hào) M79 sau cùng BKQ Cường (Nguyễn mạnh Cường) đoạn hậu.

    Sáu người trong toán được đưa lên chiếc xe bít bùng, đậu trong sân. Đây là cãn cứ đươc xây dựng đặc biệt để người bên ngoài không thể nhìn thấy gì bên trong. Thiết kế ba dẫy nhà liền nhau tạo thành chữ U. Mọi cửa phòng bên trong, mở ra chung mọt cái sân. Phía trước cái cổng sắt đặc liền, luôn có người gác, cửa đóng im ỉm. Đó là căn cứ Biệt kich nằm trong phi trường Nakhon Phanom (NKP). Xe bít bùng mở cửa sau, rồi de khớp vào cánh cửa hông của chiếc trực thăng CH53 Jolly Green. Bằng cách này người bên ngoài không thể nhìn thấy cái gì được chuyển từ xe lên trực thăng .Tức thì ,cửa trực thăng được đóng lại ngay, rồi tiếng đề pa của động cơ cánh quạt rít lên, từ từ xoay nhấc bổng rời bay đi.

    Nhìn qua khuôn cửa, trời đă nhạt nắng. Lên đến cao độ, trực thăng bay với sự hộ tống của hai Khu truc cơ A1 Skyraider đến từ lúc nào và đang bay kèm hai bên. Xem đồng hồ đã qua nửa giờ bay, nhìn qua cửa,bóng chiếc Covey OV10 (FAC) ánh lên cùng nắng chiều tà. Thiếu tá Thụ (Nguyễn văn Thụ) Sĩ quan Điều Nghiên và Không Thám, ra hiệu cho Toán chuẩn bị.





    Một Thượng sĩ người Mỹ đã đứng trước cuộn thang dây. Không có bãi đáp, Toán được xâm nhập bằng thang dây. Trực thăng nặng nề hạ độ cao. Ngoài cửa sổ chiếc A1 đang lao xuống dọn bãi đáp bằng đại bác 50, tiếng như bò rống. Toán đã sẵn sàng.Trực thăng ồ một tiếng lớn, rít lên rồi từ từ đậu bên trên ngọn cây bao quanh một hố bom trống trải. Toán từng người một leo bám vào thang dây lẹ làng đáp đất .

    Toán đã tiếp được đất an toàn, coi như xâm nhập thành công ...Có tiếng rên và tôi quay ngoắt lại. Cường nhóc sao nửa mặt đầy máu. Nhanh như cắt tôi nắm lấy máy truyền tin từ Quang gọi Covey báo cáo tình hình và mô tả vết thương. Nhìn máu chan hòa nửa gương mặt, Hào đang loay hoay phụ băng vết thương. Trước tình thế tôi thật sự nghĩ là nghiêm trọng và xin triệt xuất. Hỏi nguyên do chỉ vì cạnh ngoài chấn thang tự nhiên đập thẳng vào đầu. Người Mỹ trên Covey hỏi lại một lần nữa. Tôi đáp chắc chắn cái đầu nó bị bể. Thế rồi lệnh triệt xuất được truyền xuống. Trực thăng trở lại, sáu người leo lên thang, lựa chỗ cho đủ đứng rồi móc cái móc từ người vào thang. Thiếu úy Điệp người cuối cùng ở vị trí cuối thang ra hiệu trực thăng bay đi.

    Về đến phi trường NKP trời đã về đêm, dưới ánh sáng đèn trên trực thăng tôi thấy Cường nhóc ngoài cái băng trên đầu, trông nó như chả làm sao cả. Tôi giật mình khi người y tá vào trong khoang tầu săn sóc vết thương cho Cường. Thiếu tá Thụ đứng bên tỏ vẻ lo lắng vì thấy vết thương quá nhẹ... Xe bít bùng chở Toán đang đường về căn cứ. Ngồi trong xe ai ai củng tỏ vẻ ngượng ngập nhất là tôi và Thiếu úy Điệp. Nhìn cái băng cá nhân tí tẹo trê trán Cường nhóc mà thấy xốn sang trong dạ và chuẩn bị đối phó bởi báo cáo của mình không xác thực . Xe đã vào trong sân căn cứ. Thiếu tá Thụ vội vàng, trước nhất xuống xe đi thẳng vào phòng Hành quân, dẫy nhà bên hai Toán người Thượng nhìn có vẽ soi mói trong ánh đèn pha trên cột cao dội ánh sáng chói chan xuống sân. Một Trung sĩ người Mỹ gọi tôi và Điệp lên phòng Hành quân. Cửa vừa mở, hai tôi bước vào chưa kịp dơ tay chào, đã gặp ngay nét mặt nộ khí xung thiên của Thiếu tá người Mỹ trưởng căn cứ. Sau một hồi dữ dằn mắng chửi với khoa tay múa chân, khỏi cần thông dịch.

    Ông ta giờ có vẽ nguôi và đang giải thích về chi phi cùng những khó khăn của một quá trình xâm nhập. Thiếu tá Thụ ngồi bên hoàn toàn yên lặng... Bây giờ thì " Này các bạn, với tư cách Trưởng căn cứ, tôi tuyên bố Toán của các bạn đang trong muc tiêu " Rồi tiến đến bắt tay Thiếu úy Điệp và vỗ vào vai tôi ông nói giọng gằn từng tiếng " Nhớ, đừng quên học thêm tiếng Anh bạn ạ".


    Thiếu tá Thụ đánh thức chúng tôi dậy vào lúc năm giờ sáng, thông báo ba mươi phút nữa Toán đươc đưa ra sân bay. Cường nhóc ở lại NKP... Toán còn lai năm người hành quân.





    Chiếc MC130 Blackbird, loại có râu móc trước mũi đề bốc Toán theo kiểu James Bond 007 (Fulton Skyhook Extraction System). Cửa sau đã mở sẵn chờ đợi cửa sau của xe bít bùng chở Toán. Thiếu tá Thụ không đi theo. Máy bay lập tức ra phi đạo rồi cất cánh. Hơn nửa giờ bay, giờ phi cơ đang chuẩn bị hạ cánh, cái cảm giác nặng chịch trong lòng cùng buốt hai tai, tạo cho tôi cảm giác bay bổng nhưng rất khó chịu trong người. Một xe GMC chạy đến tận cửa sau máy bay đón chúng tôi.

    Nhìn vào nóc nhà xây trước mặt, trên nóc nhà hàng chữ. Phi trường Kontum. GMC chở Toán đên một khu vực cũng nằm trong phi trường, trên sân sáu chiếc Kingbee sơn mầu blackbird đang chờ, sẵn sàng cất cánh.




    Từ trực thăng, cảnh núi rừng trùng điệp. Bên dưới, đám mây trắng kéo thành một vệt dài dưới ánh nắng như chưa đủ sức làm tan loãng. Gió phần phật lốc vào làm ran rắt trên mặt cùng tiếng ầm ĩ của động cơ trực thăng. Người xạ thủ trực thăng, cạnh tôi mời thuốc hút.

    Đảo một vòng, trực thăng chở Toán bắt đầu đáp xuống, theo sau những chiếc đã xuống trước. Đoàn King Bee sáu chiếc, chỉ chở năm hành khách. Dưới bãi đáp, một Trung úy người Mỹ thông báo phi hành đoàn cùng toán trưởng vào dự thuyết trình. Ngay tức thì, Thiếu úy Điệp, đưa cây Car 15 cho tôi, rồi vào phòng Hành quân.

    Hai chiếc Kingbee cất cánh và một trong hai chở theo Toán. Vượt qua những ngọn đồi thoai thoải tiếp nhau, xa xa dẫy núi xanh mờ chắn ngang. Gió dữ dằn tung lốc ào ạt quanh quanh. Những đám mây lạ lạc bất thần tạt cái lạnh êm êm. Hai chiếc Cobra, đến từ lúc nào đang song hành hộ tống. Sự phối hợp không quân bài bản, nhuần nhuyễn với độ chính sác cao. Dưới kia giòng sông đỏ ngầu mầu đất ngoằn ngoèo chia cắt giữa núi cao và đồi cây. Xa kia, tầng mây trắng như cố bám lấy núi rừng và tuyệt vời hơn nữa, những đám mây mỏng nhỏ lang thang tạo thành bức tranh thần tiên lãng đãng. Người xạ thủ trực thăng ra dấu Toán chuẩn bị. Nhìn ra ngoài, đã thấy rõ chiếc OV10 (FAC) bay đằng xa. Theo thuyết trình hai chiếc Kingbee sẽ đáp xuống cùng một lúc hai bãi đáp khác nhau và chỉ có một chiếc là chở Toán, nhằm đánh lừa địch. Trực thăng hạ độ cao. Chiếc Cobra đang dọn bãi bằng đại liên sáu nòng và M79 tự động. Bằng vào một động tác hạ nhanh, trực thăng sát đất rồi trườn xa một quãng. Đáp vội trên con suối cạn, đá lởm chởm. Toán chúng tôi nhanh chóng thoát vào rừng cây.

    Cơn mưa ngày qua để lại dấu tích dễ nhận trên bề dầy của lá rụng, nơi sinh sản và cũng là căn cứ của loại vắt độc hại. Mùi khai nồng, hăng hắc của cây lá bung lên như muốn giao tình với ánh nắng trên cao. Nhưng nắng chẳng đủ sức xuyên qua tàn cây xòe rộng dù rằng nắng đang trực diện với đất. Lặng lẽ chúng tôi cố gắng di chuyển thật nhanh để tránh cái lộ của bãi xâm nhập. Khi máy bay đi rối, chắc chắn ở gần đây, địch sẽ đến và thám thính.

    Dự đoán không lầm, khi anh em ngồi nghỉ rồi ăn trưa, đất vẫn còn nhão, thêm sự tĩnh lặng, lẫn tiếng thú rừng thi thoảng âm vang rồi vọng lại. Tiếng súng địch bắn để báo động cho nhau. Rõ nhất vẫn là tiếng gà rừng mà tất nhiên không thể thiếu ở bất cứ một khoảnh rừng nào. Thiếu úy Điệp cùng Châu đang căn lại bản đồ lấy phương hướng. Hào thì vẫn cái mùi mắm ruốc xả kinh niên mà mỗi chuyến hành quân, vợ tịch thu hết lương khô, xong phát cho một hũ Ruốc xả có thề ăn dè được cả tháng. Có tiếng Covey lên bao vùng, tôi mở điện đàm chờ đợi. Toán phó Trần Quang đã giao điện đàm cho tôi để thế chỗ Cường nhóc đoạn hậu. Tiếng Đại úy Ginh (Trần trung Ginh) trên Covey gọi Toán, tôi chuyển ngay bức điện đã làm sẵn, rồi nhanh chóng di chuyển, đâm xâu vào mục tiêu.




    Khu rừng thật rậm rạp. Châu vất vả lắm để mở đường. Len tỏi, lạng lách, đánh vật với cây rừng, khi mà yêu cầu đi đúng đường. Chốc chốc hắn lại phải xem la bàn. Thiếu úy Điệp đi kế Châu, cây Car 15 luôn sẵn sàng bảo vệ. Trời quá chiều, ánh nắng hắt những tia cuối cùng. Muỗi như vã vào mặt và vắt thì nhiều vô kể, nó đi tìm mồi như người làm xiếc, di chuyển uốn dẻo thân mình rồi bung tiến tới mồi rất chính xác nếu chúng tôi lộ ra khoảng da thịt. Điệp đả chọn được chỗ nghỉ ăn cơm chiều. Có tiếng hú vọng lại, trầm ấm, lan tỏa rồi hình như lại dội lại. Trên tàn cây lao xao tiếng chim gọi nhau, thiếu đi giọng hót mượt mà ban mai. Tiếng súng địch quân vẫn thi thoảng nổ gọi nhau hay báo hiệu gì đó... Tay lấy lọ thuốc muỗi, xoa thêm vào mặt và tay để đối phó với sự tấn công quyết tử của vắt và muỗi. Nhá nhem tối, Toán đi tìm chỗ ngủ, lý tưởng nhất vẫn là gốc cây to, rễ bạnh. Trung sĩ Quang lên đi đầu. Di chuyển êm, chậm chạp và cẩn thận nghe ngóng.

    Trời tối hẳn, ánh trăng tỏa vằng vặc từ lúc nào. Đứng nghe ngóng một hồi lâu. Thiếu úy Điệp ra lệnh ai hút thuốc thì hút đi... Cẩn thận vì khói thuốc tỏa rất xa và đó là cái mùi không có ở núi rừng. Kinh nghiệm cho thấy, có Toán địch theo dõi cả ngày, đem đến, chỉ vì mùi thuốc lá dễ nhận, địch âm thầm bao vây và tấn công. Xong , Quang gài lại trái mìn M14 rồi di chuyển tìm chỗ ngủ. Địa điểm ngủ đêm đã được đồng ý. Toán chúng tôi hạ bàn tọa... Một đám mây đen lao thẳng vào mặt trăng, trời bỗng tối xầm rồi lại sáng. Ba lô là gối, lá cây rừng làm nệm. Dưới ánh trăng từng ngọn gió nhẹ lay động cây lá truyến tải ánh sáng phản chiếu lung linh. Cảm giác như lạc vào cõi kinh dị. Nghĩ bụng phải nhắm mắt lại ngay và đừng suy nghĩ cố mà tìm giấc ngủ. Đây là một kinh nghiệm, vì đã có những toán viên không ngủ được trong tình cảnh này, đã thút thít khóc gọi mẹ, để rồi bị chế giễu và sa thải, hay những toán viên đào ngũ chỉ vì đã từng để lại tiếng thở dài trong đêm hành quân.

    Trời sáng, sương đêm còn ướt nơi ngực, là đà quẩn trong gió, sương mù mỏng dần theo gió núi lành lạnh. Thông lệ Toán có một tiếng đồng hồ đễ vệ sinh và chuẩn bị cơm nước trong ngày. Point man Châu trở lại vị trí dẫn đầu, giờ đang cùng Thiếu úy Điệp căn lại phương hướng, xong Điệp đưa cho tôi bức điện tin vừa viết bằng mật mã. Bất giác tôi nhìn Châu, khăn mầu lá cây cột trên trán, cái răng vàng nhìn thấy rõ bởi cái miệng hắn hô, trên gương mặt lầm lì, xa vắng như nhớ vợ. Tự nhiên tôi bật lên tiếng cười. Lệnh di chuyển, ngoái lại thấy Trần Quang đang xóa dấu vết.

    Tiếng súng báo hiệu hôm nay, bên này đã trả lời. Cánh rừng bớt rậm, nhưng cây lớn nhiều. Thỉnh thoảng vài trái cây ném xuống từ trên cao, nhìn lên thằng khỉ đang nhăn răng cười tay gãi gãi vào nách. Không gian bao trùm âm thanh núi rừng, nắng chếch trên cao, sưởi ấm cái lạnh bên dưới nhưng không đủ sức. Châu bất thần ngồi xuống tay ra thủ hiệu dừng lại, mắt nhìn Điệp và tôi. Quan sát động tĩnh rồi ngó về phía trước... Một con đường mòn chắn ngang hướng di chuyển.

    Phân công ba người yểm trợ, Điệp và tôi lum cum đi lên thám thính... Con đường rất ít lá cây, có nơi nhẵn nhụi, lạ lùng nơi kia loang một vũng nươc nhỏ như có ai mới vừa tiểu tiện. Hoảng hốt tôi kéo Điệp trở lui, miệng lầm bầm "đồng chí mái" Điệp hỏi lại "sao Hải biết". Đến nơi đòng đội đang chờ, tôi giải thích... Vết lỗ đái nhỏ, xâu in trên đất, tại vũng nước loang tròn, hạn chế thì dứt khoát đó là tác phẩm của phụ nữ, các bà. Gọn ghẽ và thẩm mỹ. Thiếu úy Điệp phất tay ra dấu, vượt đường mòn từng người một, yểm trợ lẫn nhau, đi trên lá cây. Bở hơi tai, chúng tôi đến đươc nơi có thể ngồi nghỉ. Có tiếng Covey trên bầu trời. Điệp vội vàng thêm vài chi tiết vào bức điện. Đại úy Ginh từ Covey đang gọi Toán, tôi trả lời và mau chóng chuyển ngay bức điện. Bây giờ tôi mới nhân rõ Thiếu tá Thụ trên Covey. Hai ông đều nói tiếng bắc nên dễ lộn.


    5
    Tiếp tục tiến vào mục tiêu. Nửa tiếng ăn buổi trưa, Toán vội vã di chuyển để tránh địch theo dõi. Châu dừng lại bên tảng đá cao ngút đầu, ngồi xuống rồi đưa tay chỉ. Một con suối rộng, nước chảy lặng lờ trong kẽ đá. Xa xa mà mắt thường có thể nhìn thấy, bên bờ suối, trên dốc thoai thoải, nép vào những cây cao. Hai dẫy nhà bằng cây rừng tre lá, ẩn nấp dưới những tàng cây. Thấp thoáng vài bóng người. Bên này suối, xa hơn một tí, những ngôi nhà ngắn và nhỏ, lọt xâu giữa những tảng đá lớn. Vài tên bộ đội đang lấy nước.

    Toán nhanh chóng di chuyển càng xa càng tốt, nhắm hướng hạ lưu. Thấy có vẻ ổn, Toán dừng lại bàn bạc và đồng ý xin không kích. Định vị trên một vị trí có vẻ kín đáo và thuận tiện cho tác chiến. Tôi vừa ăn trưa vừa lo bắt liên lạc với FAC (Covey OV10), nhưng không được đành phải xài tới hệ thống máy cấp cứu P90. Một lúc sau, khọt khẹt và tiếng trả lời hoi: Sóng cấp cứu của ai lên với tần số...Tôi thông báo mật danh và được trả lời hãy đợi.

    Mười phút trôi qua, động cơ ì ì của Covey càng lúc càng rõ. Trong máy PRC74 đã nghe rõ tiếng gọi Toán. Một ông tây điều không, trả lời mật danh và chuyển lên bức khẩn điện, tôi yêu cầu Không-quân. Mười phút sau khi nghiên cứu bức điện và điều không. Lời yêu cầu được chấp thuận. Báo cáo với Điệp, hiểu ý Quang và Hào lẳng lặng lấy trong ba lô hai trái mìn Claymore, hỏi ý Điệp nên gài ở đâu. Chớp nhoáng Toán đã ở vào vị trí chiến đấu. Nép vào góc hai cục đá to, giữ cái PRC74 ở vào nơi tương đối an toàn. Tôi đang ở giữa bốn đồng đội. Trên tầng cây cao sau lưng, tiếng kêu ré lên đuổi nhau ầm ĩ của đàn chim, chúng đang tung chưởng đánh nhau.

    Covey lúc này đang vòng trên đầu chúng tôi. Hắn gọi Toán và xin mở cửa sổ (ý muốn thấy vị trí Toán bằng chiếu gương).Tôi cầm cái gương dưa lên mắt, ngó hướng mặt trời, lấy ánh sáng hội tụ tròn mờ trong gương và qua lỗ nhắm giữa gương chỉnh điểm ánh sáng tròn mờ lên thẳng Covey đang bay....À thấy rồi, xin cho mục tiêu. lúc này không còn cần mật mã, mà nói trực tiếp và bạch hóa.

    -Lima charlie (tên Covey)nghe đây, ngay tại triền suối, hướng Tây, khoảng cách 1000 mét
    -Pa pa oscar (tên Toán) nhận rõ, chuẩn bị panel cho oanh kích.

    Một Phantom F4 lúc này đang bay trên trời.
    -Papa oscar đây là Li ma charlie. Tao sửa soạn làm tình, xin cho ý kiến và trải panel vàng.
    Một cú bay xuống như tia chớp, chiếc Covey lao nhanh trực chỉ mục tiêu và trái rocket đã được bắn ra. Nhìn làn khói trắng bốc lên, tôi ước lượng và gọi Covey.
    -Lima charlie. Mục tiêu 200 mét về hướng bắc. Ngay triền suối.
    -OK Papa oscar. Hãy nhìn đây.

    Covey đảo nửa vòng cung, đầu chúc xuống, thêm một trái rocket thứ hai xuống mục tiêu. Máy bay múc thẳng lên cao, nghiên nghiên rồi ngừa bụng lên trời, tí sau mới lật lại, bay bình thường. Với câu hỏi:

    -Papa oscar. Đúng mục tiêu chưa. Tao chơi có khá không?
    -Lima charlie, Đúng rồi, thật tuyệt. Anh trình diễn giống như Elvis Presley.
    -Cám ơn cám ơn Papa oscar. Ha, ha, ha, ha.

    Liền tiếp theo sau, chiếc F4 xà xuống một trái bom ghim ngay mục tiêu khói trắng chỉ điểm.Tiếng nổ vang dội và một cột khói lửa bao trùm bốc cao. Ngay đầu tiên hắn đã xài loại 500 cân anh.Trên bầu trời lúc này còn thêm chiếc A1 Skyraider chả biết đến từ lúc nào? bất thần theo sau chiếc F4

    6
    Máy bay như ngừng lại khi khai hỏa một loạt đại bác 50 và rồi hất ra tung tóe như đậu vãi những trái bom bi cứ như nắm tay một, rồi nghiêng nghiêng tăng tốc vút lên cao. Chợt tôi hoảng hốt, nhìn thấy làn đạn xanh, đỏ từ dưới đất bắn lên.


    -Lima charlie. Đồ chơi có gai, ngươi thấy gì không? xanh, đỏ đang lên với bạn.
    -Cám ơn, Papa oscar, thấy rõ 5 trên 5, có lẽ còn trước cả bạn. Nó sẽ câm họng.

    Chiếc Phantom tiếp đến bổ nhào xuống và cắt một lúc hai trái bom, rồi biến mất sau cột khói mịt mù. Tiếng nổ khủng khiếp tạo sư chấn động, mà chỉ nhũng kẻ có tinh thần thép mới không khỏi sợ hãi khi mắt chứng kiến cảnh hãi hùng bom đạn, khói lửa bao trùm

    -Papa oscar ghi nhận có tiêng nổ phụ. Xin xác nhận.
    -Lima charlie...Đúng rồi và cháy dữ dội, có thể là kho tồn trữ nhiên liệu.

    Trên cao họ tinh tường thật, lúc này bình tâm tôi mới nhận ra và báo cáo...Tới tấp đánh vào mục tiêu, chiếc A1 bổ nhào ném thêm hai trái bom Napalm. Một vệt dài toàn lửa cháy dần loang, tung lên những cuộn khói đen kịt. Trên bầu trời đã mất hút chiếc F4 và chiếc A1 cũng nhỏ dần. Sau đám mây cuồn cuộn trắng. Chỉ con lại chiếc Covey quần đảo, để ghi nhận cùng xác định kết quả.

    -Papa oscar...Tạm biệt, thằng nhóc. Ta đã biết mi là ai rồi. Chuyển lời khen đến mi, con trai. Ta đi lo phần việc tiếp theo.

    Tháo gỡ hai trái mìn claymore phòng thủ. Quang và Hào đã sẵn sàng di chuyển. Ngoái nhìn mục tiêu, vẩn tiếng nổ rời rạc và lửa khói bốc cao. Toán nhanh chóng vượt con suối trống trải. Biến vào khu rừng bên kia... Tiếng súng quanh quanh vẫn bắn cú một truyền tin ... hay đang có một cuộc lùng sục của địch. Chiều tà mang mầu nắng vàng ệch soi rọi trên khuôn mặt mỗi người. Tàng cây rừng thưa cao nghất không đủ sức che chắn ánh nắng chiếu ngang tạo cảnh thu não lòng trên cùng hình ảnh năm cái bóng đổ dài như ma quái chập chờn. Cố gắng di chuyển thật nhanh để kiếm tìm sự che chắn. Toán bất chấp sự hiểm nguy, vì chẳng còn con đường khác. Phải nhanh chóng thoát khỏi khu rừng thưa náy.

    Mọi lo lắng rồi cũng qua, địa thế lại thuận tiện. Chúng tôi ăn cơm trong ánh sáng còn sót lại trong ngày. Tìm được chỗ ngủ, khi bóng tối bao trùm. Núi rừng bỗng trở nên yên lặng kỹ quái, như cố đẩy lùi những xao động vừa qua. Vài tiếng hú gọi nhau thê dài như có vẻ nhớ nhau. Trong ánh trăng chiếu rọi xuyên cành. Năm chúng tôi im lìm, lặng lẽ đi vào giấc ngủ.

    7
    Tiếng ngáy của thằng Hào làm tôi tỉnh giấc, chửi thề trong bụng, tôi nhoài người đưa tay lay gọi nó "mẹ cái thằng, đồ chết tiệt, ăn cho đẫy mám ruốc vào, ngủ rồi ngáy " Xem đồng hồ, mới bốn giờ sáng. Tôi nín cười vì bất chợt được thưởng thức bản hợp tấu tiếng người ngáy và gà gáy xen lẵn tiếng đệm âm trầm của thú rừng xa xa. Điệp hình như cũng đã thức. Trần Quang xích lại phía tôi rủ hút thuốc. Tôi buột miệng dút khoát"không được".Anh trăng treo ngang in nguyên cành lá trên gương mặt tẽn tò của Quang đã xấu lại càng xấu thêm.

    Hai trái claymore phòng thủ đã được thu hồi.Toán chuẩn bị di chuyển. Sương mù dầy đặc làm hạn chế tầm nhìn và cái lạnh ướt hai hàng mi. Có tiêng súng nổ rồi bên này đáp lại. Địch đang truyền tin cho nhau. Đến một con suối cạn, bên kia dốc cao. Ngồi quan sát địa hình... Châu và Điệp đang so lại bản đồ và địa bàn. Hướng đi được xác định, phải vượt suối và khắc phục dốc cao. Châu và Điệp sang trước, ba người bên này yểm trợ. Đã có nhửng hòn đá theo chân của Châu, Điệp lăn xuống lòng suối, phát ra những tiếng va chạm lớn theo đà lăn, gây sự nguy hiểm, chú ý nếu địch ở gần đây. Bắt đầu ba người còn lại vượt qua dưới sự yểm trợ của hai người sang trước.
    Vào ngay hướng đi của Toán, phía trước thoai thoải cánh rừng thưa, cây cao,bóng cả. Nắng chói rọi một mầu vàng vào từng đốm bãi cỏ bên dưới mà không bị che khuất bởi những tàn cây dâm mát. Xa xa tít ngoài, bìa rừng xanh thẵm, đẹp như tranh vẽ.

    Địa thế thật bất lợi và rất nguy hiểm cho di chuyển và tác chiến. Lộ nguyên hình trong nhiệm vụ Thám-sát đồng nghĩa với nhất chín,nhì bù. Thiếu úy Điệp ra lệnh phòng thủ đợi Covey, vì thường vào giờ này đã lên bao vùng. Một con khỉ đực lông vàng, to lớn có vẻ đầu đàn, nhăn nhở cười trên cây, tay gãi gãi mân mê khoe quả quí. Ở phía xa kia lũ chim líu lo, đanh đá đánh nhau hay đùa giỡn ầm cả một góc rừng. Có tiếng ì ì quen thuộc của Covey rồi Thiếu tá Thụ gọi. Tôi gửi ngay bức điện, Điêp đưa cho hồi sáng rồi trao máy cho Điệp trực tiếp xin yểm trợ ...Lệnh chấp nhận và Toán bắt đầu di chuyển. Covey vọng ngay trên đầu.

    Bở cả hơi tai, mồ hôi nhễ nhại. Cuối cùng cũng đã vượt qua trở ngại. Yên tâm hơn với địa thế hiện tại. Vẫn tiếng súng cú một quen thuộc, rồi tiếng đáp trả. Sự đe dọa tinh thần căng thẳng hay một cuộc bao vây đang hình thành vì điên tiết bởi trận oanh kích ngày qua. Point man Châu bỗng dừng lại. Tôi và Điệp lên quan sát. Con đường rộng, cách chúng tôi chừng tám hay mười mét, ngang hướng đi của Toán. Lên tiếp cận con đường, Điệp chụp ảnh và ghi nhận... Đường rộng hai mét, dấu vết thường xuyên và đang sử dụng, lá cây không bao phủ hết, lòi cả đất. Một vết trượt ngắn để lại dấu dép nghiên nghiên. Ngoắc tay ra hiệu cho Toán đi lên, chúng tôi vượt qua con đường.

    Nửa tiếng nghỉ ăn trưa. Một tiếng hú lạ tai dài hơi ở hướng bắc, bên này cũng hú đáp lại. Chúng tôi nhìn nhau, lòng cũng đã hiểu. Sự sợ hãi ập tới chen lấn và len lỏi trong tôi. Nhưng rất may chỉ thoáng qua. Ý tưởng vượt khó, lồng lẫn vài gương mặt mấy em cava, xinh sắn thơm như mít, đã làm tâm hồn dịu lại. Mồ hôi chẩy dài trên mặt người đi đầu thật vất vả. Cái mặt bóng lưởng bởi thuốc bôi trừ muỗi và vắt nay lại càng bóng thêm vì mồ hôi. Bất giác mọi người nhìn nhau như muốn hỏi... Tiếng chim ré lên lao xao như đang gặp người lạ... "Kệ mẹ nó, tiếp tục, chả có chi" Tiếng nói khẽ của Thiếu úy Điệp nghe đanh vả gọn. Vẻ lừng khừng. Châu lại tiếp tục mở đường.
    Một cơn dâm buổi chiều, che khuất ánh nắng đã ngả về tây. Ranh giới của rừng rậm,lui dần về phía sau. Trước mặt dốc thoai thoải trống trải tối mù bởi nhũng tàn cây xòe rộng. Nhũng cây cổ thụ vút lên cao vẻ thách thức. Một con đường lớn băng ngang ở phía trước chia cắt bên kia rừng chồi non, bên này cổ thụ. Toán khựng lại, án binh bất động. Thật đáng ghét, đành chờ tối hẳn... Trung sĩ Quang và Hào vùa giăng xong hai trái mìn phòng thủ. Vẫn tiếng súng phát một của địch, vẫn tạo ngay sự khủng bố tinh thần. Chẳng làm chúng tôi mê mụ đi.

    8

    Cơm vừa xong,thì trời vừa tối. Ngồi đợi trăng lên, nhưng thiết nghĩ trăng cũng chẳng đủ sức soi rọi qua những tàn cây rậm rạp, nhưng có thể cũng đủ để không khỏi va chạm. Âm thanh núi rừng bỗng bừng bừng trỗi dậy,ma quái, huyền bí, não nuột tiếng thú khàn đục vọng dội thê lương như mãi mãi cô đơn. Ánh trăng vừa treo chếch, cũng là lúc Toán tới chạm con đường. suýt vấp ngã bởi chỗ trũng trên con đường, bước băng ngang khoảng năm bước, lại một vết trũng. Cho tôi hiểu ra rằng, đây là con đường cho xe hơi chạy. Báo cáo xong với Điệp... Lệnh qua đường, tìm chỗ ngủ.

    Lắng nghe động tĩnh, nhìn đồng hồ đã mười giờ đêm. Thấy an toàn. Điệp ra lệnh cho Quang và Hào đi gài claymore phòng thủ... Cố dỗ giấc ngủ, bằng cách nghĩ một chuyện vui rồi vật vờ chìm dần... Bỗng giật bắn người lên, tiếng nhẹ xoay người từ đồng đội. Vểnh tai dựng đứng, nghe cho rõ hơn... Từng bước, từng bước. Tiếng bước chân và cành cây khô gẫy. Địch đang di chuyển thẳng vào Toán. Ánh trăng lao xao qua kẽ lá, không đủ để nhìn rõ quang cảnh. Tiếng bước chân bỗng ngừng lại. Không khí nặng nề lại nặng thêm. Tôi suy đoán địch chỉ cách chúng tôi chừng bốn hay năm mét. Nhưng rồi có tiếng khụt khịt, xong đi thẳng về chỗ chúng tôi. Thở phào nhẹ nhõm, mọi người hiểu ngay chỉ là thú rừng. Đến gần, con heo rừng cao cả thước đứng đánh hơi một chặp, mới chịu ra đi... Mẹ kiếp, đêm đến thấy vợ chưa về, bực tức đi tìm... Làm hú hồn.

    Nằm yên được một chặp.Trong đêm tĩnh lặng.Tiếng động cơ ì ì nặng chịch, ngay sau lưng chúng tôi. Chắc chắn trên con đường tối qua, với hai vết lõm hai bên. Gà gáy lao xao tứ phía, lâu lâu xen lẫn tiếng người ồn ào nhưng chẳng rõ nói gì. Trăng đang gặp núi cao bên hông, tỏa ánh sáng mờ đục đùa giỡn cùng sương mù bay bay theo gió. Nghĩ lại quả là đêm của những giật mình.


    Liên lạc xong với Covey, chúng tôi lại bỏ sau lưng những gì đã qua. Ngày mới lại đến, bình thường như đang trong mục tiêu.?! Mới mười giờ sáng, cái không khí oi nồng, nắng gắt trên cao và gió, gió biến đâu mất. Thời tiết tạo những cơn mưa đầu mùa. Thấy một địa thế ưng ý. Thiếu úy Điệp cho Toán nghỉ lại ăn trưa. Một chiếc phản lực lang thang ầm ĩ trên không. Ăn cơm xong, tôi thấy đau bụng lạ kì. Mượn chai dầu gió của Châu, dùng móng tay cái tôi cạo hai bên khủy tay, nhưng chẳng hết đau. Hay tại hũ mắm ruốc của Hào mà mình đã xin, sơi khi sáng.Điệp nhìn tôi e ngại. Tôi kêu Quang đưa viên thuốc và rồi "Điệp coi dùm ba lô máy". Tôi tất tả ra ngoài, vẹt xong lá cây, khoan khoái phóng thích của nợ. Kéo quần lên trong trạng thái thoải mái. xoay lưng chưa kịp về chỗ. Súng ầm ầm nổ chát chúa. Tôi chỉ kịp nghe tiếng của Điệp "Hải chạy đi"

    9

    Nhanh như chớp, tôi nhắm thẳng hướng bốn người vừa khuất. Mặc cho gai rừng quất vào mặt và cổ, cố sức phóng cho kịp đồng đội chạy trước... Thế rồi cám ơn Chúa, chúng tôi cũng đã cùng nhau một nơi. Vui thoáng qua. Bất giác tôi và mọi người cùng nhìn nhau. Chiếc ba lo máy của tôi vẫn còn trong trận địa. Ứa gan và hoảng hốt, rút vội cái máy P90 phóng làn sóng cấp cứu. Rồi nóng nẩy, điên tiết tôi nói "Trở lại lấy máy ngay,chần chừ là không kịp" Tự động tôi lao lên trước dẫn đầu, trở lại trận địa, mà cách đây chẳng bao xa.

    Bên dưới gốc cây, chiếc ba lo nằm ngang, chứng tỏ khi ra lệnh rút Điệp đả cố kéo mang theo. Quan sát động tĩnh, tôi cẩn thận nhôm từng bước, bốn đồng đội yểm trợ phía sau. Chỉ còn lại khoảng ba mét nữa,tôi dần bò vào.Ngồi dậy sốc cái ba lo vô vai,thở phào nhẹ nhõm. Chỉ là đám trinh sát địch. Dưới kia hai tên địch chết nằm xấp, vũ khí văng xa. Thiếu úy Điệp ra dấu lại đây, di chuyển. Tôi ra thủ hiệu chờ một tí, lẹ làng băng xuống lấy cây AK gần nhất, tiếc rẻ nhìn cây AK còn lại, tôi tặc lưỡi... Ôi, cũng chỉ làm quà cho mấy ông Tây mà thôi.

    Cây rừng chằng chịt, cản trở nhiều và lấy đi bao sức lực. Nhìn đôi găng tay đen của Châu, đã thấy rõ những vết sước tráng ởn... Mừng rỡ khi nghe tiếng Covey. Bật điện đàm tôi gọi ngay.

    -Hotel bravo đây Whisky yankee Toán đụng địch, xin trợ giúp khẩn cấp.
    -Whisky yankee. Tao đang tới, yên tâm.

    Tôi nhận ra ngay tiếng nói đặc biệt của Đại úy Storter, thanh tao như gái.
    Lấy cẩm nang mật mã, tôi đọc và gửi lên Covey báo rõ tình hình và xin triệt xuất vì Toán đã bị lộ.
    Tam nghỉ mệt ngồi chờ quyết định. Hào đang mân mê cây AK và lắc lắc tay ra dấu vô ích, súng hết đạn rồi.Trong máy có tiếng gọi Toán và Đại úy Storter thông báo, yêu cầu đã được chấp thuận và xin cửa sổ nhà tôi. Móc trong túi áo ngực lấy cái gương,chiếu thẳng lên Covey.

    -Whisky yankee. Đi về hướng đông 200 mét,có bãi đáp.

    Thông báo cho Thiếu úy điệp. Toán vội vã di chuyến, tẽ ngang hướng đông, được chừng 100 mét. Phía trước cây rừng thưa, từng bụi rậm rải rác chen lấn nhau. Điệp ra dấu ngồi xuống, quan sát địa thế. Toán đang đứng trên ngọn đồi. xa xa một khoảng trống bãi cỏ vàng, nhởn nhơ dưới ánh nắng vàng quá trưa. Thót người vì tiếng hú ngay sau lưng, kèm theo tiếng người. Rất nhanh, Toán đều tìm được mỗi người một gốc cây và sẵn sàng. Tôi gọi ngay cho Covey báo đụng địch và xin trợ giúp... Tiếng chân người xen lẫn những cánh tay vẹt cây rửng, từ từ đến thẳng chúng tôi... Sự căng thẳng, hồi hộp trên từng nét mặt, gần tôi, Hào đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt. Tôi, tim như ngừng đập theo từng tiếng bước chân của địch. Châu và Điệp tay đang mở bao bi đông nước trong có chứa khoảng hai mươi trái lựu đạn mini... Loạt đạn đầu tiên của Trung sĩ Quang đã làm hai tên địch đi đầu vật ngửa, mà chẳng kịp nhìn thấy ai...Tiếng hô hoán, ra lệnh bỗng chốc ầm ĩ sau loạt đan của Quang. Tiếp đó,cái không khí nặng nề lại đè lên hiện trường, kèm theo mùi thuốc súng cộng lá cây rừng. Bên này đồi ,nghe thấy tiếng quát thúc dục. Toán chúng tôi đang bị bao vây bằng hai cánh quân. Địch đã đến gần và trực diện với chúng tôi bằng những loạt đạn phủ đầu áp đảo. Nép vào gốc cây, nhìn nhũng vết đạn cày sước, đất bắn tung tóe. Tôi gọi Covey trong lúc bốn đồng đội tác chiến.

    -Hotel bravo. Anh có mang theo đồ chơi không,bật khói vàng cho anh chơi nhá.
    -Whisky yankee, rất tiếc tôi không trang bị đồ chơi.Hãy cố gắng...Con hổ mang đang trên đường đến... Chạy ra bãi đáp sau lưng.

    Bằng vào hỏa lực của mình.Toán cầm cự nhờ vào địa thế thuận lợi trên cao. Chúng tôi chơi lựu đạn dễ dàng và chính xác. Quang bò ra sau chúng tôi lo gài trái claymore để mở đường máu, tay đang sởi cuộn dây điện bấm mìn... Bất thần tiếng hô "Muốn sống đầu hàng đi, chúng mày bị vây chặt rồi "Đáp trả bằng một băng đạn vào chỗ tiếng nói. Nóng nẩy và điên tiết tôi gào lên "chửi thề". Bên dưới Quang đã gài mìn xong ra hiệu cho Toán rút xuống từng người. Đòn cân não và những loạt đạn qua lại chứng tỏ địch không đông... Giờ này địch đã chiếm được vị trí cao mà chúng tôi mới bỏ lại. Bên gốc cây to, bạnh. Điệp chỉ chiếc balo rách, đạn cày phá tung bên hông, nước trong bi đông giờ còn nhỏ giọt. Trên kia bốn cái xác địch nằm dài xuôi tay quanh những tay súng lâu lâu xuất hiện bắn xối xả vào chúng tôi. Địch đang chờ tiếp viện để làm cỏ Toán tôi.

    10 /last

    Tiếng súng xối xả của cả hai bên đánh bật đi tiếng Covey, mà có để ý mới nghe thấy. Tôi vẫn bấm mở máy điện đàm để Covey có thể theo dõi tình hình và thưởng thức diễn tiến trận đánh bằng âm thanh. Có tiếng thét thúc dục của cấp chỉ huy địch. Những lằn đạn cày sới, hất tung đất cát lên cao và lả tả vỏ cây văng vãi trên đấu và vai. Cây M79 của Hào tỏ ra thật hữu hiệu, áp đảo trận địa. Hào chứng tỏ sự nhanh nhẹn,t hông minh, chính xác trong tác chiến. Cây M79 của hắn thật tuyệt vời đã làm khưng lại cuộc tấn công, vì sau tiếng nổ của những trái M79. Phía địch gần như phải lo chống đỡ hoặc ẩn núp. Nhuần nhuyễn trong bài bản chiến thuật, lúc này mới thấy được tính hữu dụng của những giờ khó nhọc thực tập. Chiếc Covey xà xuống thật thấp, bay theo kiểu khủng bố với tiếng động cơ hết cốt. Xẹt,ào ào trên trận địa. Đèn xanh đã được bật,t rong chiến thuật quen thuộc. Covey gọi tôi.

    -Whisky yankee Phá vòng, chạy thẳng ra bãi đáp hướng đông.

    Tôi báo cáo cho Điệp, hiểu Điệp ra lệnh chơi lựu đạn... Bất chấp Toán đồng loạt đứng lên. Mỗi người tay lựu đạn lấy hết sức ném về phía đối phương. Trung sĩ Quang nổ trái claymore. Toán chúng tôi hè nhau, vắt giò lên cổ, chạy thục mạng, nhắm hướng đông có bãi đáp. Dưới sự che khuất bởi khói và đất cát mịt mù của lựu đạn và mìn nổ. Cố hết sức, kết cục cũng ra được tới bìa rừng và thấy rõ những chấm đen của trực thăng đang lao tới. Thoải mái và phần nào lạc quan. Nét hân hoan hiện lên tửng khuôn mặt chờ đợi trực thăng bốc về.

    -Whisky yankee. Con trai,mở cửa đi

    Thiếu úy Điệp ra khỏi tàn cây rồi lắc gương.
    -Whisky yankee. Thấy rồi. tiến ra khoảng trống, một trưc thăng sẽ bốc hết Toán.

    Tiếng trực thăng chém gió đang quần ngự trên đầu. Hai chiếc Cobra, vòng chờ đợi sự điều khiển của Covey. Trên cao bốn chiếc Kingbee vẫn chưa chịu hạ thấp.

    -Whisky yankee, ra ngay bãi đáp và chuẩn bị panel vàng. Hải, coi chừng phía bìa rừng.

    Toán chạy thẳng ra bãi trống, phất panel vàng theo mật lệnh, trong lúc loạt rocket đầu tiên bốn, năm trái đươc phóng xuống nổ tung dài theo bìa rừng... Xa luân chiến... Tiếp theo sau, Cobra thứ hai, bay đầu chúc chúc... Tiếng đại liên mini, cùng 40ly tự động nghe phần phật, rồi nổ văng vãi dưới đất. Hai chiếc Cobra đảo vòng hai cũng là lúc chiếc Kingbee đang xuống bãi đáp. Phía sau hỏa lực của Cobra lập thành hàng rào thép cho Kingbee. Chiếc Cobra thứ hai lù lù phía sau... Nằm vội xuống đất, trong khi từ bìa rừng, cách Toán khoảng 50 mét, tiếng súng thi nhau nổ... À,mày chơi cú chót... Tôi thấy rõ chiếc Kingbee xẹt ngang qua đầu. Cây đại liên M60 phun ra lửa. Người xạ thủ đứng hẳn lên, vãi đạn xuống bìa rừng. Nhưng trực thăng bỗng bốc lên cao.

    Hỏa lực của Cobra chơi bằng đủ mọi đồ chơi hiện có.Toán chúng tôi nằm chết dí tại bãi đáp. Địch đang nỗ lực chơi máy bay, tạm tha cho chúng tôi. Vẫn xa luân chiến, hai Cobra thi nhau tận dụng mọi hỏa lực và đang áp tải chiếc Kingbee xuống bãi. Người xạ thủ trên Kingbee nổ tới tấp vào bìa rừng, trong khi hỏa lực từ Cobra cày tung tóe đất cát. Một địa ngục lửa thép... Nhưng, rõ ràng là một thằng điên đứng chạy với cây thượng liên nồi xối xả bắn vào trực thăng. Lạ lùng cây M60 trên trưc thăng không làm hắn ngã được. Kingbee đáp hẳn xuống bãi. Hai Cobra vẫn bân bịu ở bìa rừng. Nhưng không thể ngăn được chừng cả chục tên địch đứng chạy bắn đuổi theo chiếc Kingbee. Trên trực thăng, tôi dơ cao khẩu AK chiến lợi phẩm dí dí thẳng vào mặt đối phương.

    Toán về đến CCC (Snowden Hall) . Trời vừa ập tối. Nhân viên phòng Hành-quân ra đón, tay bắt mặt mừng. Chiếc Kingbee đang được soi đèn đếm vết đạn. Ông Thiếu tá người Mỹ dơ cao cây AK tôi mới trao, miệng cười ha hả. Trên sân lúc này chỉ còn ba chiếc Kingbee, hỏi ra, một chiếc bận đưa người xạ thủ bị thương lên tận Pleiku.


    Toán Hải Sơn CCN (Command Control North)
    Chiến Đoàn 1 Xung Kích / Sở Liên Lạc / Nha Kỹ Thuật





  3. #3
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558
    Quote Originally Posted by NGOC HAN
    Anh Hai Viet
    Trên chiếc A-1 Skyraider trang bị 4 đại bác 20mm (800 viên đạn) chứ không phải đai liên 50mm, có thể tác giả là dân biệt kích nên lầm, ít hàng thông tin đến anh, chúc vui.
    Thân
    -Cám ơn anh Ngoc Han rất nhiều, anh nói rất đúng

    Douglas A-1 Skyraider

    Armament

    • Guns: 4 × 20 mm (0.79 in) AN/M3 cannon
    • Other: Up to 8,000 lb (3,600 kg) of ordnance on 15 external hardpoints including bombs, torpedoes, mine dispensers, unguided rockets, and gun pods.



    -Có bài gì hay hay mời anh và các bạn đăng lên cho mọi người đọc để nhớ lại những chiến công của người lính VNCH đã hy sinh cho cuộc chiến.

  4. #4
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,520
    Quote Originally Posted by HaiViet View Post
    Chuyện Biệt Kích

    Toán Hải Sơn CCN (Command Control North)
    Chiến Đoàn 1 Xung Kích / Sở Liên Lạc / Nha Kỹ Thuật





    Tin vui cho Hai Viet là khoảng 2014 , trong tiệc cưới con gái Lôi Hổ , tôi gặp Hải Đ... và Cường nhóc ...trận Phan Rang thì toán Hải Đ...cũng nhẩy và Cường nhóc đi thoát về Sài Gòn , sau này tôi và Cường nhóc hay uống cà phê với nhau .

  5. #5
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558



    KQ Vĩnh Hiếu
    Cao Điểm 601
    Một phi vụ trong trận chiến
    tại Đài Kiểm Báo Hải Quân Đề Gi, Bình Định.


    o O o
    Mới mười giờ sáng mà không khí đã oi bức, ánh nắng chói chang của miền Trung bắt đầu nung nóng vạn vật. Hai chiếc trực thăng võ trang ầm ĩ nối đuôi nhau trên mặt phi đạo chuẩn bị cất cánh. Ngồi trên ghế bay chiếc áo giáp nặng chình chịch đè nặng trên đùi ép chặt vào lồng ngực làm tôi cảm thấy ngột ngạt khó thở. Mồ hôi từ nón bay chảy rịn xuống trán. Cái nóng của Phù Cát vào mùa hè thật khủng khiếp!

    Kiểm soát đồng hồ phi cụ một lần cuối, tôi nâng cần cao độ đẩy nhẹ cần lái về phía trước. Dưới sức nặng của hàng ngàn viên đạn “mini-gun” cùng hai bó “rocket” đầy ắp con tàu rung chuyển nhớm mình rời mặt đất. Phi đạo chạy dài trước mặt, hơi nóng lung linh bốc lên trên mặt nhựa đường đen bóng tạo nên ảo tưởng của một mặt nước. Tàu lên tới ba ngàn bộ, tôi nghiêng cần lái bay về hướng biển. Phi trường Phù Cát với những “hangar” khổng lồ cùng những “barrack” màu trắng của quân đội Mỹ để lại nằm ngay ngắn bên nhau, từ trên cao trông như những mô hình xinh xắn. Những chiếc máy bay nằm trên bến đậu với mấy chiếc khu trục, vận tải bận rộn lên xuống như những đồ chơi trẻ con.

    Bên trái tôi, người hoa tiêu phụ đang theo dõi vào dãy đông hồ phi kế, tôi bâm nhẹ nút “intercom” chỉ về hướng biển:
    – Anh bay giùm tôi!

    Gió mát lồng lộng thổi vào thân tàu hai bên hông của mở tung, nghe phầng phậc như tiếng reo vui của không gian chào đón. Châm điếu thuốc Capstan, mùi khói tỏa thơm lừng. Tôi nhìn làn khói thuốc bay nhiễu loạn trong căn phòng lái nhỏ hẹp, nghĩ đến những tháng năm rong ruổi trên đường mây rộng, bôn ba khắp nẻo chiến trường vùng II Chiến thuật, từ mặt trận này đến mặt trận khác, đối đầu với bao nhiêu hiểm nguy, sống chết, đã làm chai mòn cảm giác khiến tôi không còn những xúc động như buổi ban đầu khi mới chập chửng lao vào vùng lửa đạn. Những con tàu bùng vỡ, bạn bè bỏ nhau đi, những cơn say chiến trận, săn đuổi, tàn phá, máu và mùi vị chiến trường,…tất cả đối với tôi bây giờ chi là nỗi dửng dưng như thói quen ăn, ngủ, làm việc mỗi ngày…

    Phi vụ hành quân ở Bình Định phía Đông con Quốc Lộ I địa thế không hiểm trở, rừng rú như ở vùng đất hướng Tây với dãy Trường Sơn trùng điệp hay ở vùng Tây Nguyên gần biên giới. Với những thôn xóm nghèo khó rải rác bên những sông rạch, ao hồ, cỏ cây èo uột dọc theo những cồn cát ven biển, khởi động một trận chiến nơi đây là tự sát cho địch. Không có chỗ ẩn núp, không có đường thoái chúng sẽ làm mồi cho phi pháo, trừ khí địch quân đã chủ tâm điều nghiên chuẩn bị cho một mặt trận mà chúng đã chọn lựa kỹ càng.

    Điếu thuốc vừa tàn thì hai chiếc trực thăng võ trang vừa đến vùng hoạt động. Trên bầu trời trong vắt, treo lơ lững những cụm mây trắng nõn, bên dưới là một vùng đồng bằng với những ngôi làng nho nhỏ nằm im lìm dưới ánh nắng mặt trời, kế bên những con suối xanh uốn éo giữa những ô ruộng hình bàn cờ, yên bình hiền hòa như chưa một lần bị tàn phá bởi bom đạn chiến tranh, về hướng Đông, sát biển là đầm Đạm Thủy nối với cửa Đề Gi, mặt hồ mênh mông như một tấm gương khổng lồ lấp lánh ánh mặt trời

    -Charlie!.. Charlie,..đây Mãnh Hổ!
    -Nghe năm, thấy hai bạn rồi….Nhìn về hướng mười một giờ, cao độ bốn ngàn bộ, thấy Charlie chưa?

    Tôi ngước đầu lên tìm. Chiếc Charlie (C and C = Com- mand and Control) bay tít mãi trên cao. Nhìn mãi tôi mới nhận ra một chấm đen bay vòng vòng trên dãy núi trọc cao không quá hai ngàn bộ phía Tây của bờ biển vài cây số. Ngọn cao nhất nằm hướng Bắc, thoai thoải về hướng Nam hai ngọn đồi tiếp nối. Phía chân núi về hướng Đông là đài kiểm báo của hải quân sát ngay mé biển. Những căn nhà mái tôn im lìm chấp chóa ánh nắng mai, vài chiếc hải thuyền neo cạnh cầu tàu im lìm như đang ngủ say. Kế bên tôi, người hoa tiêu phụ đang ngồi im lặng nhìn vào những phi kế trước mặt.

    -Này bạn!..đi lính như mấy ông Hải quân này sướng thật! Được sống bên bờ biển tha hồ câu tôm câu cá, không đánh đấm gì, chẳng bù với tụi mình…Bạn có nhớ một lần mình biệt phái bay cho Bộ chỉ huy Duyên hải không? Lần đó phi hành đoàn được mời ăn một bữa gỏi cá ngon quá chừng!

    Chợt có tiếng xè xè trong máy:
    -Mãnh Hổ!.. Charlie gọi!.. Bạn thấy ngọn núi cao phía Bắc không, nơi có khói đang bốc lên. Đó là căn cứ pháo binh bị mất tối hôm qua. Mình cần yễm trợ quân bạn tái chiếm, nghe rõ?

    Tôi nhìn về hướng Tây, trên dãy núi trọc về hướng Bắc một căn cứ pháo binh màu đất đỏ nằm chơ vơ trên đỉnh đồi.
    -Charlie!… Có phải chỗ hình tam giác màu đất đỏ không?
    -Đúng năm!., quân bạn đang bám sát xung quanh,..Hổ đánh cẩn thận.. .Nghe rõ trả lời?

    Giảm cao độ xuống thấp tôi bay đến gần đỉnh núi để quan sát rõ hơn. Ngay chóp núi trọc là một căn cứ hoả lực pháo binh hình tam giác, những công sự bị đạn pháo loang lổ phơi màu gạch đất, những cụm khói màu trắng xám đang âm ỉ vươn lên…Đêm qua căn cứ bị địch quân tràn ngập, bây giờ bám trụ tử thủ. Cao điểm nằm chênh vênh trên mõm núi, chung quanh là vách dốc ngược. Con đường mòn dẫn lên đỉnh chạy từ những ngọn đồi thấp hơn phía Nam đã bị địch cưa xẻ. Quân bạn đã phản công lên tới gần đỉnh thì bị cầm chân tại chỗ… Cao điểm nằm trên đỉnh núi, được mang tên đồi 601, là một điểm chiến lược vô cùng quan trọng. Từ vị thế cao có tầm quan sát tất cả những hoạt động bên dưới của căn cứ hải quân cũng như đài kiểm báo đóng ngay cửa khẩu Đề Gi. Từ đó chúng pháo xuống những vị trí quan trọng và chận đứng đường tiếp viện.

    Hai phi tuần khu trục được điều động lên từ sáng sớm nhưng không hoạt động được vì quân bạn quá gần mục tiêu.

    Tôi nói vói người hoa tiêu phụ:
    -“Target” nhỏ như cái đít chén thế này thì mấy ông khu trục chịu thua là phải!

    Nói xong tôi bấm nút liên lạc với chiếc trực thăng võ trang số hai đang im lặng bay theo sau:
    -Hổ 2 đây Hổ 1 gọi!.. Mình sẽ từ phía Tây “target” đánh ra biển,..nghe rõ?
    -Nghe năm! Trung úy Thành “râu” bay chiếc số hai trả lời.

    Tôi chăm chú nhìn vào mục tiêu một lần cuối rồi cho tàu chúi mũi lao xuống. Hai trái “rocket” đầu tiên như hai trái tên lửa phóng đi nổ ầm bên trong vòng đai cứ điểm tung lên đám bụi đỏ hồng…Cho tàu quẹo trái đưa hông cho người xạ thủ nhoài hẳn người ra ngoài, chỉa mũi súng xuống bên dưới siết cò, khẩu “mini-gun” sáu nòng rú lên như bò rống. Tiếng vỏ đạn rơi rào rào trên sàn tàu, tiếng động cơ, tiếng cánh quạt đập vào không khí kêu phành phạch tạo thành một âm thanh khủng khiếp bên tai. Huyết quản trong người tôi sôi sục. Chiếc phi cơ rung chuyển cùng nhịp điệu của từng sợi giây thần kinh trong cơ thể .

    Tàu bay ra khỏi tầm tác xạ, tôi ngậm miệng nuốt khan cho tai bớt ù, đoạn quay lại nhìn chiếc số hai đang cắm đầu xuống đỉnh núi, phóng ra hai trái hỏa tiễn kéo theo những làn khói trắng nổ lốm đốm trong vòng rào.Tôi la lên

    -Đẹp lắm Thành!…

    Trên đỉnh núi, hai đám bụi đỏ hồng nổ tung hòa lẫn với khói trang bốc lên cao rồi theo làn gió biển tạt về hướng Tây, từ từ tan loãng trong không khí. Đang theo dõi, bỗng ánh mắt tôi dừng lại ngay góc phía Đông của cao điểm: một đốm sáng nhấp nháy liên tục như ánh sáng từ một tấm gương nhỏ đang nhấp nháy dưới ánh mặt trời. “Phòng không!..”tôi nghĩ thầm. Một cảm giác như luồng điện chạy dọc theo sông lưng, tôi la lớn:

    -Hổ 2!..Hổ 2 “Break!.. break!..”Phòng không!., phòng không!..Giọng tôi lạc hẳn trên tần số.

    Dưới cao độ thấp hơn, chiếc số hai đang quẹo trái kéo theo làn khói xám của khẩu “mini-gun” đang quay vù, cánh quạt chấp chóa dưới ánh nắng mặt trời.

    Bên trái tôi người hoa tiêu mới nét mặt bất động, không biểu lộ một cảm giác nào. Có lẽ vì anh chưa đủ kinh nghiệm chiến trường để nhận thức được sự đe dọa của khẩu phòng không đối với chiếc trực thăng ồn ào chậm chạp này.
    Tay siết chặt cần lái, mồ hôi rịn chảy. Từ giây phút này trận chiến đã đổi chiều. Kẻ thù mà chúng tôi sắp đương đầu không phải là một nhóm du kích ô hợp mà là thứ kẻ thù có tầm vóc. Một đơn vị chính quy với hệ thống phòng không đang quyết tâm tử thủ cao điểm mà chúng đã bỏ máu xương ra để chiếm được.

    -Hổ 2!..Thành mày có nghe tao gọi không?..Có cây phòng không đặt ngay góc hướng Đông, mày thấy không?!..”
    -OK!…Chưa thấy!..Thành trả lời vắn tắt.

    Từ ngày khoác lên mình bộ áo phi hành với hàng ngàn giờ bay trên chiếc trực thăng võ trang này, đối đầu với bao nhiêu mặt trận lớn nhỏ, tôi đã ý thức rằng chiếc UH-1 với vận tốc chậm, hỏa lực hạn chế, chỉ hữu hiệu trong những phi vụ đổ quân, truy lùng du kích, đánh phá những mục tiêu có giới hạn.

    Đối đầu trực tiếp với phòng không vùng trời trơ trụi này là một sự chênh lệch, không tương xứng, như trứng chọi đá. Tôi luôn luôn dè dặt, thận trọng, tránh né những hành động nguy hiểm vô ích. Cuộc chiến chưa biết bao giờ chấm dứt, những ngày tháng chiến đấu còn tiếp tục, sự sống còn của phi hình đoàn phải được đặt lên hàng đầu.

    Với khả năng hỏa lực yếu kém của trực thăng võ trang, chúng tôi thường phải dùng những chiến thuật thích hợp với tình thế trên trận địa và gây tổn thất tối đa cho địch. Ở những vùng núi rừng cao nguyên chúng tôi thường bay thật sát ngọn cây, làm những vòng quẹo gắt, đột xuất đánh mau đánh mạnh rút nhanh. Trên mặt rừng cây rậm rạp, chiếc trực thăng sẽ được an toàn hơn khi bay thật sát đọt cây, địch không có thì đủ thời gian nhắm bắn những chiếc tàu bay vút qua đầu. Tôi còn nhớ trên mặt trận Quảng Đức, gần biên giới trong một phi vụ thả toán biệt kích. Bay ngang đường mòn Hồ Chí Minh nhìn xuống, tim tôi như muốn ngừng đập. Hai chiếc trực thăng chậm chạp ầm ĩ đưa bụng bay ngang một con đường, bên dưới những chiếc xe cắm đầy cành lá ẩn núp dưới nhũng tàn cây rậm rạp. Đôi khi tôi bất ngờ bắt gặp gần sát bìa rừng, những căn nhà lá ngụy trang kỷ lưỡng, những khoảng trống giây điện thoại giăng ngang, hay một vài con chó đứng chỏ mỏ nhìn lên trời, những con heo đen mọi đen thui thủi đang ủi đất kiếm ăn… Từ ngữ “đường mòn” có lẽ đã có từ lúc cuộc chiến tranh Việt Nam mới bắt đầu khi nó mới là con đường mòn thực sự, được thành hình bởi những bước chân của những cán bộ Cộng Sản xâm nhập vào miền Nam. Bây giờ cái gọi là “đường mòn” đó là một con đường đất đỏ, có chỗ hai xe có thể chạy ngược chiều…

    Trên vùng hoạt động, hai chiếc võ trang luôn bay theo đội hình tác chiến, một chiếc dẫn đầu theo sau chiếc số hai bay ở một khoảng khá xa đủ thời gian để phản ứng, yễm trợ cho chiếc số một nếu bị bắn. Những lúc bay ngang “đường mòn” HCM, tiếng động ầm ĩ từ xa của chiếc trực thăng đã làm cho địch chuẩn bị. Khi chiếc số một bay qua, địch quân đủ thời giờ để gờm súng phục kích chiếc số hai. Để bảo vệ cho “wingman” trong trường hợp này, tôi đổi chiến thuật và cho chiếc võ trang số hai bay song song ở khoảng cách khá xa, và cùng vượt qua đường một lần.

    Ngược lại ở vùng đồng bằng trống trải như giây phút này, chiếc trực thăng trước khẩu cao xạ không khác gì con vịt trời trước mũi súng của anh thợ săn. Hay nói một cách khác, địch và ta đối đầu như hai anh “cao bồi” đấu súng, địch bắn súng trường ta bắn súng lục. Đúng là trứng chọi đá!

    Bay vòng trên cao tôi suy nghĩ: nếu bay quá cao khỏi tầm súng phòng không của địch thì những trái hỏa tiễn sẽ không còn chính xác, và có thể rơi vào đầu quân bạn. Nếu bay gần với mục tiêu hơn thì…nghĩ tới đó tim tôi đập mạnh. Tiến thoái lưỡng nan!

    Giây phút này, tôi ý thức rằng muốn diệt được những ổ súng cao xạ, những trái “rocket” phải được bắn bằng một độ chính xác tối đa, điều đó đòi hỏi chúng tôi phải bay thật gần mục tiêu mới có thể khả thi được.

    Nhìn đồng hồ vừa quá mười giờ, ánh nắng gay gắt của mặt trời chênh chếch hướng Đông của đỉnh núi, tôi lóe ra một ý định. Bay một vòng về hướng Đông, từ bờ biển trên cao độ tôi sẽ dùng mặt trời để làm phương tiện ngụy trang. Tôi sẽ đánh từ trên cao xuống, địch quân sẽ bị chói lòa mắt khi nhìn lên để bắn trả. Với chiến thuật đó tôi cảm thấy được an toàn hơn. Tuy nhiên trục oanh kích sẽ gặp gió đuôi thổi từ biển vào sẽ làm cho sự chính xác trên mục tiêu khó khăn càng khó hon. Gió đuôi sẽ làm giảm sức nâng con tàu, và có thể làm lệch đường đạn đạo. Không có một giải pháp nào tốt hơn, tôi gọi Hổ 2 đang bay bám theo sau:

    -Hổ 2 sẵn sàng chưa,..quân bạn rất gần vòng đai, cẩn thận!..
    -OK!…nghe năm!..

    Tôi kiểm điểm lại phi cụ đồng thời bật hai nút “rocket” lên vị thế “on”. Từ tâm điểm của cái tam giác vây quanh công sự trên đỉnh núi, tôi vẽ một đường thẳng tuởng tượng tới mặt trời, con đường đó là trục xạ kích mà chúng tôi phải theo. Tôi cho con tàu bay ở cao độ vừa phải, đẩy cần lái, chiếc trực thăng võ trang chúi mũi cắm đầu xuống mục tiêu. Ngọn gió biển thốc vào đuôi tàu lắc lư lao xuống nhanh như một mũi tên. Tôi chi có vài giây đồng hồ để mắt vào máy nhắm rồi vội vã bấm nút. Một loạt tám trái hỏa tiễn từng cặp nối đuôi nhau rời dàn phóng.

    -Oành!…oành!..oành!…Bụi đỏ tung mù mịt trên đỉnh núi cao.

    Những đốm sáng chóp nháy trên đỉnh đồi! Vội vã tôi kéo cần lái, con tàu nghiêng mình, cánh quạt đập vào không khí kêu phầng phậc.

    -Hổ 1,.. Hổ l!…Charlie gọi!..Chiếc tàu chở cấp chỉ huy bộ binh đang quan sát từ cao độ la thất thanh trong tần số.
    – Ngưng tác xạ!..Hổ 1!.. ngưng bắn!..ngưng bắn!..

    Vừa lúc đó chiếc trực thăng thứ hai đang lao xuống, sáu trái đạn rải rác trên cao điểm.
    -Hổ,.. Hổ… ngưng ngay,., bạn bắn quá gần quân bạn. Ngưng ngay…Quân bạn đang la làng!..Hổ nghe không?

    Trong lỗ tai như có đàn ong đang bay vo ve vì tiếng gầm thét của khẩu súng sáu nòng, tôi nghe tiếng ồn ào la hét hỗn loạn của quân bạn trên tần số FM. Thất vọng, tôi kéo con tàu ra khỏi vùng bay lên cao độ, xong đưa tay vuốt những giọt mồ hôi đổ hột trên mặt. Trên cao bầu trời trong sáng treo lơ lững những cụm mây trắng nỏn, dưới chân đại dương xanh biếc những con sóng bạc đầu vô tư rượt đuổi dọc theo bãi cát vàng. Nghĩ đến khẩu phòng không đang im lặng, chờ đợi rình rập… tôi liên tưởng đến những con tàu nổ tung trên trời cao rơi xuống đất từng mảnh vụn ở vùng trời biên giới, những cánh chim gãy cánh để bảo vệ cho quê hương đất nước. Lòng tôi sôi sục. Tôi nghiến răng, ước ao con tàu được trang bị một hỏa lực mạnh mẽ hơn để yễm trợ cho chiến trường hữu hiệu hơn là những chiếc trực thăng chậm chạp ầm ĩ này.

    Sau nửa giờ bay vòng chờ trên không, hai chiếc trực thăng đáp xuống căn cứ hải quân kế cận mé biển đổ xăng và lấy thêm đạn dược. Mở cửa bước xuống, vươn vai làm vài động tác cho giãn gân cốt. Gần đó Trung úy Thành đang đứng “tưới cỏ” ngay đuôi tàu, nhe miệng cười. Tôi đi đến gần, tháo nón bay ra, trong tiếng động cơ ầm ĩ của hai con tầu, nói lớn:

    -Không xong rồi, mày check tàu coi lủng lỗ nào không?
    -Tao dính hai viên ở sau đuôi,., nhưng không sao. Nói xong Thành nhe miệng cười để đưa hàm răng trắng đều dưới bộ râu mép cắt xén cẩn thận, đẹp và rất đểu như tài tử Clark Gable. Thành nói tiếp:
    -Tao nghĩ mình chẳng làm gì được, chỉ đưa bụng vào cho tụi nó chơi thôi!

    Nhìn thấy một que khô, tôi cúi xuống nhặt rồi vẽ một hình tam giác trên mặt đất:
    -Này!..Thành,..đây là cao điểm,..tụi nó đặt súng góc này. Làm sao mà tao vô thật gần không bị bắn là dứt nọc được tụi nó. Mày che mắt tụi nó giùm tao.
    Thành lắng nghe chau mày chưa hiểu:
    -Mày bảo tao che mắt tụi nó bằng cách nào,., đưa bụng vào à!

    Không để ý đến câu mỉa mai của Thành, tôi tiếp tục:
    -Gió từ hướng Đông vào khoảng hai mươi “knot”,.. tao muốn mày trang bị tất cả bằng hỏa tiễn khói cho tao! Tính làm sao mà mày chỉ vào đánh một phát, phóng hết tất cả “rocket” xuống phía Đông sườn núi sát vòng rào,..không cần chính xác lắm. Tao chỉ cần một màn khói che họng súng tụi nó, phần còn lại để tao lo. Tao sẽ trang bị “rocket” loại lớn! Mày đồng ý là phải thụt ngay vào hố công sự tụi nó đào rất sâu mới khóa mồm được tụi nó hay không!? Đánh bậy xung quanh chẳng nhằm nhò gì mà chỉ tốn đạn!

    Những trái hỏa tiễn khói tôi muốn Thành “râu” đánh có sức công phá rất thấp, chỉ dùng cho những phi cơ quan sát đánh dấu mục tiêu để khu trục oanh kích hay chỉ điểm cho pháo binh.

    Thành “râu” nghe tôi nói xong gật gù, có vẻ đồng tình. Từ ngày về phi đoàn 215 Thần Tượng, chúng tôi đã bay chung với nhau biết bao nhiêu phi vụ, vui buồn sống chết bên nhau. Ngoài tục danh là Thành “râu”, một số bạn bè thường gọi anh là Thành “lưỡi lê” nhưng tôi đã không hiểu vì sao lại xuất phát cái tục danh đó. Anh là một trong những người bạn chí thiết từng cùng đi qua với tôi trong những đoạn đường gai lửa của phi công trực thăng thời chiến. Cuộc đời gian khổ nhưng đầy ý nghĩa cực cùng mà tôi đã yêu mê. Chúng tôi đã từng kinh qua những sự hiểm nghèo ngoài chiến trận, đã thương yêu gắn bó nhau trong những bữa cơm gạo sấy, nửa khoanh thịt hộp, cùng đói cùng no trong những ngày biệt phái hành quân. Nhớ những buổi chiều thua bài, không một đồng dính túi đã được uống những ly cà-phê dã chiến với những điếu thuốc gói ghém tình thương. Tình đồng đội vô cùng thắm thiết.
    Sau nửa tiếng trên bãi đáp, hai chiếc “gun” trở lại vùng. Vòng trên cao tôi nhìn xuống đỉnh núi quan sát. Khẩu súng phòng không im lặng,..chờ đợi…

    -Hổ 2, lúc nào sẵn sàng thì đánh!..

    Nói xong tôi bay vòng ra sau lưng chiếc trực thăng Hổ 2, kéo mũi tàu chậm lại, lơ lửng trên trục tác xạ như một chiến sĩ gò cương ngựa đứng trên đỉnh cao quan sát địch thủ trước khi quất ngựa tấn công xuống núi. Tim tôi đập nhảy nhịp, hồi hộp theo dõi chiếc trực thăng số hai đang cắm đầu lao xuống mục tiêu. Trên đỉnh cao, khẩu phòng không tức thì hoạt động, những tia chớp nháy cuống quit bắn những viên đạn vô hình vào chiếc trực thăng mong manh của Thành.

    Hai…ba…bốn…năm…sáu…bảy…Từng cặp một, những trái “rocket” tuôn ra từ hai bên hông tàu của Thành “râu”, kéo theo những lằn khói trắng dài. Tất cả mười bốn trái rơi rải rác đúng ngay ý muốn của tôi. Thành đánh như để, trông thật đẹp! Đám bụi mù nổ tung lên rồi bung những cụm khói trắng phau, chầm chậm vươn lên cao bay theo làn gió biển tạo thành một bức màn khói dày đặc che khuất gần hết căn cứ hỏa lực.

    Không một chút chậm trể, tôi đẩy cần lái, chiếc trực thăng võ trang cắm đâu như một con chim đại bàng lăn xả vào con mồi. Mắt không rời mục tiêu đã ghi sâu trong đầu tôi điều khiển con tàu theo làn gió đuôi lao xuống nhanh như một mũi tên, lắc lư như một tấm võng. Qua tấm kính của máy nhắm hỏa tiễn, màn khói dày đặc hiện ra giữa những vòng tròn sáng. Tôi nheo mắt, nín thở. Chiếc trực thăng lao xuống càng gần tôi càng thấy rõ từng bụi cây, từng phiến đá trên sườn núi, từng bao cát đỏ chồng chất ngoài vòng rào rách nát vì đạn pháo. Tàu rung lên bần bật. Khi mục tiêu trong đầu nằm sau màn khói dày đặc lọt vào ngay giữa hồng tâm của máy nhắm, tôi bấm nút liên tục:

    Xoẹt…xoẹt…xoẹt…Mười bốn trái hỏa tiển tranh nhau rời giàn phóng lao xuống mõm núi.
    Oành!…Oành!…Oành!…Tai tôi có nghe tiếng nổ của những trái “rocket” vang dội rung chuyển cả con tàu. Những tiếng súng bắn trả của địch rền vang dưới màn khói . Sau khi tung hê tất cả những gì đã có, tôi kéo ghì con tàu thật gắt về phía trái, đưa hông cho người xạ thủ đang chìa khẩu súng sáu nòng xuống bên dưới.

    -“Mini-gun”!.. “mini-gun”! Tôi hét to như gào!

    Whoo!..whoo!..Tiếng súng rú lên như bò rống, phun ra hàng ngàn viên đạn xuống đầu địch. Chiếc trực thăng rung lên bần bật trong tiếng cánh quạt chém gió phành phạch như muốn đứt lìa con tàu.

    Con tầu vừa khạc đạn vừa chúi mũi bay lài xuống triền núi.
    Trên cao độ, chiếc Charlie đang bay vòng quan sát.

    -Đẹp lắm!..Đẹp lắm!..Hổ 1,..ngay trên “target”!..

    Tôi thở hắt trên tần số chưa kịp trả lời, miệng khô đắng lại không nói thành tiếng, tim đập hỗn loạn…Tàu ra khỏi vùng lên cao độ, tôi liếc qua dàn phi kế trước mặt: tất cả đều bình thường, những chiếc kim màu trên trên các đồng hồ đều ở trên vạch xanh. Giao cần lái cho người hoa tiêu phụ, tôi móc gói thuốc Capstan bên tay áo rút ra một điếu châm lửa đốt. Điếu thuốc trên hai hai ngón tay run rẫy vì cảm giác…

    -Hổ 1, Charlie…
    Tôi lấy chân đạp nút “intercom” trả lời
    -Hổ nghe…
    -Hổ có monitor tần số FM của bộ binh không?
    -Không!..Súng nổ ồn quá!..
    -Quân bạn báo cáo dàn phòng thủ cũng như ổ cao xa đã bị tiêu diệt…Đẹp lắm, bộ chỉ huy quân bạn có lời khen tặng…Hổ!..bộ binh báo cáo một cái đầu của tụi nó văng xuống tuyến phòng thủ của quân ta bên dưới…Không biết có phải của thằng xạ thủ hay không?..Chút về tao kể cho nghe…

    Thở dài nhẹ nhỏm thấy vui trong lòng, tôi quay qua nói với người hoa tiêu phụ:
    -May mà mình không bị gì…Chút nữa đáp xem tàu có dính lỗ nào không?
    Tiếng Charlie lại một lần nữa oang oang trong máy với một giọng nói phấn khởi:
    -Hổ!..Thái Dương mời tất cả họp đoàn ăn cơm trưa tại bộ chỉ huy. Tất cả đáp tắt máy, xe sẽ ra đón… nghe Mãnh Hổ?

    Tôi bấm nút nghe tiếng xè trong máy thay câu trả lời, rồi đưa điếu thuốc lên môi hít một hơi dài. Hôm nay là ngày cuối cùng của hai tuần biệt phái tại Phù Cát. Mai về Nha Trang thấy lại biển thân quen, thấy hàng thùy dương bên bờ cát trắng và nụ cười của em yêu đang mong chờ…





  6. #6
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,520
    Ngày ở căn cứ Võ Định , PD Thần Tượng yểm trợ cho TD11ND đang chống trả với cộng quân , nghe qua máy truyền tin đã có mấy chiếc trực thăng bị rớt vì phòng không , mỗi lần rời vùng từ Charlie , trực thăng đáp xuống Võ Định , các phi công cũng " kiểm tra " những lỗ đạn trên thân tàu trong khi chờ đợi tiếp tục vào vùng...mấy ngày cuối cùng ở Charlie , một chiếc bị trúng đạn ở đuôi , bốc khói ,rơi xuống bên ngoài Võ Định , thế là khoảng chục chiếc đang nằm chờ cùng bay lên , xả đạn chung quanh Võ Định như trút sự căm giận để trả thù cho đồng đội .

  7. #7
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558
    Anh hoài vọng và anh NGOC HAN trí nhớ còn tốt quá.

  8. #8
    Biệt Thự HaiViet's Avatar
    Join Date
    Oct 2015
    Posts
    558
    ÐI BIỂN

    Tuyên Úy Nguyễn




    Chiếc máy bay dân sự được quân đội thuê bao (chartered), chở gần hai trăm quân nhân, đã cất cánh trong một buổi tối từ phi trường quốc tế Philadelphia trực chỉ hướng Ðông. Nguyễn ngạc nhiên vì tại sao họ không bay lên phía Ðông-Bắc rồi theo ven biển qua New Foundland, Iceland, Scotland, trước khi vào Tây Âu cho an toàn như những chuyến hàng không dân sự vượt Ðại Tây Dương? Chắc quân đội có đường bay riêng! Anh tự trả lời.

    Lần này, Nguyễn được lệnh công tác ngắn hạn, nhưng rất đặc biệt, vì vùng đất anh đến sẽ là Trung Ðông, hay đúng hơn vùng vịnh Persia (Ba-Tư), nơi Mỹ cùng các nước đồng minh Tây Âu và Ả Rập đã từ chối sự cưỡng chiếm Kuwait của Iraq, đánh bại và đẩy nước này về vị trí nguyên thủy của họ, trong trận chiến "Vùng Vịnh" gần mười năm về trước. Ðây cũng là khu vực vẫn đang được bộ quốc phòng Mỹ liệt kê là vùng có chiến tranh (war zone.) Ý tưởng "đi vào vùng chiến tranh" chợt đến, khiến Nguyễn hơi chột dạ! Không biết khoảng đầu thập niên 60's; lúc cuộc chiến Quốc-Cộng mới khởi đầu, nhiều quân nhân Mỹ đã đến Việt Nam cũng trên những chuyến bay "đi vào nơi đang có chiến tranh" tương tự; mang tâm trạng ra sao. Riêng Nguyễn, một chút hoang mang, một chút lo sợ, nhưng đồng thời nỗi hào hứng (excitement) cũng lẫn lộn trong tâm trí anh!

    Khoảng bốn tiếng đồng hồ sau khi cất cánh, viên phi công đã loan báo cho mọi người chuẩn bị để máy bay đáp. Nguyễn tự hỏi: "Ðáp? Ðáp xuống đâu? - đây là giữa biển!" Chỉ sau khi máy bay đã an toàn vào chỗ đậu và hành khách được xuống phòng tiếp tân ở phi trường, Nguyễn mới biết đó là một căn cứ Không Quân Mỹ nằm trên một hải đảo thuộc quần đảo Azores của nước Bồ Ðào Nha (Portugal.) Quần đảo này nằm ở vị trí khoảng 2/3 chiều ngang của Ðại Tây Dương, tính từ Mỹ, trên cùng một vĩ độ với Philadelphia và Lisbon, thủ đô của Bồ. "Vị trí chiến lược thật!" Nguyễn thầm nghĩ, chiều ngang Ðại Tây Dương đã như hẹp hơn cho những phi công của quân đội Hoa Kỳ vì họ biết rằng đã có quần đảo này cho họ "dừng chân" khi cần!

    Ðoàn người tiếp tục lên máy bay trực chỉ hướng Ðông. Bay khoảng bốn tiếng nữa thì phi cơ lại đáp xuống một phi trường thứ hai, ngoại ô thành phố Catania, nằm về phía Ðông của đảo Sicily, thuộc Ý. Trước đây, Nguyễn đã có dịp ghé hải đảo quê hương của những "Bố đỡ đầu" (Godfathers), đầu xỏ những băng đảng (gangsters) này. Họ đã đến Mỹ, lập những "xã hội đen" (Mafia) và gây xáo trộn không ít vào các thập niên đầu thế kỷ 20. Truyện của họ đã được thêu dệt thêm để viết thành sách, đóng thành phim cho cả thế giới đọc và xem. Anh đã đến Palermo, thành phố lớn nhất về phía Tây-Bắc của Sicily ở một chuyến du hành khác không phải là công tác trong quân đội.

    Nguyễn biết lần đáp kế tiếp sẽ là Bahrain, một quốc gia hải đảo, nằm rất gần bờ biển của nước Saudi Arabia trong vịnh Persia. Ðây cũng là nơi có bộ tư lệnh tiền phương của "Vùng Chiến Lược Miền Trung" (Commander-in-Chief Central Command -- CINC, đọc như chữ 'sink'-- Central.) Mỹ đã chia thế giới thành các vùng chiến lược (cũng như quân đội VNCH khi xưa được chia thành bốn vùng chiến thuật vậy.) Riêng Ðại Tây Dương đã được chia thành ba vùng: CINC Atlantic (North), CINC Central, và CINC Southern. Cả Thái Bình Dương chỉ là một vùng, CINCPAC, nhưng được chia thành hai vùng chiến thuật, Ðông và Tây Thái Bình Dương. Trung Ðông thuộc trách nhiệm của CINC Central mà vị Phó Ðô Ðốc (ba sao) tư lệnh hạm đội thứ Năm, gồm nhiều tiểu hạm đội (Battle Groups), đã đặt bản doanh ở Bahrain. Nguyễn sẽ công tác trên chiếc hàng không mẫu hạm (HKMH), USS Kennedy CV-67, đang hoạt động trong vịnh Persia.

    Ðể tránh những quốc gia "không thân thiện" lắm đối với Mỹ như Lebanon và Syria, máy bay đã phải vòng xuống phía Nam, bay qua không phận Do thái, Jordan, và Saudi Arabia trước khi đến Bahrain. Trời đã vào đêm, các thị trấn và xa lộ ở Saudi Arabia rực sáng bởi hệ thống đèn màu vàng, từ trên cao trông rất đẹp mắt. Nhờ có dầu hỏa, người dân thành phố ở quốc gia này đã có nếp sống cao không thua gì những nước Tây Phương.

    Nguyễn và đoàn người được đưa về nơi tạm trú qua đêm. Ðây là một khách sạn gần trung tâm thủ đô Manama, do quân đội Mỹ thuê dài hạn, có nhân viên giữ an ninh là các cảnh sát địa phương. Anh nhận ra ngay sự thiếu an toàn của khách sạn: Sát mặt đường, không hàng rào ngăn cản! "Ðáng ra người ta phải thận trọng hơn sau khi đã có những vụ nổ ở Saudi Arabia" Nguyễn nghĩ. Nhưng rồi anh lại mỉm cười với chính mình, vì chợt nhớ đến những tấm bảng anh rất ghét, khi phải đi qua các khu nhà của quân đội hay dân chính Mỹ năm xưa ở Sàigòn. Bảng đề "Cấm ngừng, cấm đậu, cấm đứng, cấm chụp hình." Nó có chút gì đe dọa, kiêu ngạo... Nhưng sáng mai, nếu anh thấy những tấm bảng tương tự quanh khách sạn này, thì chắc chắn anh sẽ nhìn chúng với ánh mắt nhiều thiện cảm hơn!

    Những chuyến xe bus chỉ cách nhau 15 phút, chuyên đưa đón người từ khách sạn vào bộ chỉ huy. Nguyễn vào thăm vị tuyên úy trưởng mà anh đã quen khi ông làm việc trong vùng New Orleans. Anh đã nói lên sự quan tâm của mình về tình hình an ninh của khách sạn, ông cho biết cấp trên đã có dự liệu làm cho khu nhà được an toàn hơn. Khi ra về, Nguyễn thấy một hạ sĩ quan gốc Á Châu đi ngược chiều. Anh chưa kịp nhìn kỹ hơn thì anh ta đã lên tiếng trước: "Chào cha!" Ngạc nhiên, Nguyễn hỏi lại: "Làm sao anh biết tôi là linh mục người Việt?" "Dễ thôi cha," anh ta trả lời, "Này nhá, cha đeo Thánh Giá trên cổ áo thì là tuyên úy rồi; lại mang bảng tên Nguyễn thì nhất định phải là người Việt còn gì?" Nguyễn đáp lại: "Bữa nào cho anh gặp một tuyên úy Tin Lành người Việt, để anh hết đoán mò." (Các tuyên úy Kitô giáo trong Hải Quân đều đeo chung một huy hiệu là cây Thánh Gía.) Thế rồi cả hai người cùng phá lên cười và thấy thân mật hơn trong cuộc hội ngộ tình cờ nơi vùng đất xa xôi đó.




    Buổi trưa, Nguyễn được chuyển ra HKMH Kennedy bằng chuyến "Greyhound" thường lệ (máy bay hai cánh quạt, C-2A, chuyên đưa đón nhân viên và quân nhu giữa tàu và bờ.) Trung tá tuyên úy trưởng đã lên "sàn bay" (flight deck) đón và đưa anh về lầu của các sĩ quan (officers' country). Khoảng lầu này lại được chia thành nhiều buồng lớn (compartments), mỗi buồng có đến 20 phòng (staterooms), mỗi phòng chứa hai người, có trang bị TV, tủ áo, bồn rửa mặt. Các nhà tắm và vệ sinh được cả buồng xử dụng chung. "Thoải mái chán," Nguyễn nghĩ, so với những chiến hạm khác, nhỏ hơn, mà anh đã có dịp đi. Tàu được thiết kế phức tạp như một ổ mối! Nếu không được hướng dẫn trước, người ta dễ dàng bị lạc và khó có thể tìm được lối ra. Trước tiên phải biết số từng lầu của mình (có 13 lầu, không kể đài chỉ huy với 7 lầu nữa), kế đến là số khoang được đánh số từ tước ra sau, và vị trí của mình thuộc phía phải hay trái của tàu. Quan trọng nhất là phải biết lầu nào có "highway" (hành lang bên trong, chạy suốt từ mũi đến cuối tàu - chỉ có hai lầu có hành lang này.) Vào highway trước, tìm "exit" của mình để ra là cách dễ nhất.

    Chiếc HKMH Kennedy là một thành phố nổi với trên 5000 thủy thủ, được chia thành hai ngành rõ rệt: Không Quân (Air) và Mặt Biển (Surface). Có một sư đoàn không quân (Carrier Air Wing) với nhiều phi đội gồm khoảng 100 máy bay đủ loại, đa số là các chiến đấu cơ F 14 và F 18. Gần 2000 quân nhân đã thuộc thành phần này. Thành phần còn lại là các thủy thủ (đúng nghĩa nhất) lo chăm sóc tàu. Mỗi ngành lại được chia thành nhiều ban (departments), rồi các toán (divisions). Bốn tuyên úy và tám hạ sĩ quan phụ tá là một ban độc lập (nếu cần, các tuyên úy có thể đi thẳng tới hạm trưởng, không phải qua hệ thống quân giai), mỗi người có một văn phòng riêng trong một buồng đặc biệt, bên cạnh là nhà nguyện chứa được khoảng 75 người. Cùng buồng lại có thư viện với trên 10 máy điện toán có thiết bị mạng lưới toàn cầu, khá nhiều sách báo, phim ảnh, băng nhạc. Ban truyên úy phải trách nhiệm thêm thư viện này. Thủy thủ được xử dụng các máy điện toán khắp nơi trên tàu để học thêm hay gửi điện thư (email) hàng ngày về gia đình, không phải mong chờ có khi cả tháng mới được một lần thư như trước nữa.

    Chiếc Kennedy cũng là soái hạm của Tiểu Hạm Ðội mang cùng tên, vì Phó Ðề Ðốc (một sao) chỉ huy trưởng đã đặt bộ chỉ huy ở đây. Cùng với HKMH còn có hai tàu ngầm loại tấn công (Attack Submarines), khoảng 6 chiến hạm khác gồm hộ tống hạm (Frigates), khu trục hạm (Destroyers), và tuần dương hạm (Cruisers) trong đó có chiếc Huế City CG-66, được đặt tên để ghi nhớ trận đánh lịch sử, tái chiếm thành nội Huế của các TQLC Mỹ và Việt Nam trong cuộc tổng tấn công của quân cộng sản đầu năm Mậu Thân, 1968. Với lực lượng này, cả tiểu hạm đội và các tàu tiếp liệu, như được bao bọc chặt chẽ bởi một mạng lưới phòng bị có đường kính bung rộng đến 600 hải lý (khoảng 1000 cây số.)

    Trước khi vào đến vùng trách nhiệm, tiểu hạm đội đã phải đi qua eo biển Hormuz, sát với bờ biển của Iran, một nước được kể là thù nghịch với Mỹ kể từ vụ bắt cóc toàn bộ nhân viên của tòa đại sứ Mỹ làm con tin vào các năm 1979-80. Cộng thêm những vụ khác như Iran thả mìn, bắn phá các tàu chở dầu qua eo biển này; vụ tàu chiến Mỹ bắn lầm vào một chiếc máy bay hàng không dân sự Iran làm thiệt mạng mấy trăm người.v.v... Tất cả những sự kiện đó đã khiến các tiểu hạm đội Mỹ phải hết sức đề phòng khi đi qua eo biển Hormuz. Thậm chí, ngoài các phi cơ đang bay trên không, những phi công trong phiên trực đã phải ngồi chờ ngay trên phòng lái của máy bay mình. Nếu bị tấn công bằng hỏa tiễn, họ chỉ có mấy chục giây để đối phó và phản công.





    Tiểu hạm đội Kennedy đang tham gia cuộc hành quân "Canh Phòng Miền Nam" (Southern Watch), không cho bất cứ máy quân sự nào của nước Iraq vượt qua vĩ tuyến 33 đến biên giới phía Nam của nước này. Từ vĩ tuyến 36 ngược lên phía Bắc Iraq là vùng trách nhiệm của các đơn vị Không Quân Mỹ và Ðồng Minh đang đặt căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey.) Nếu phi cơ quân sự Iraq vi phạm hai vùng không phận nêu trên, các chiến đấu cơ của Ðồng Minh có quyền bắn hạ. Các dàn đại bác hay hỏa tiễn phòng không ở dưới đất của Iraq cũng không được có hành động "gây hấn" nào. Chỉ cần họ mở máy radar để dò các phi cơ đang bay bên trên là đã có thể bị ném bom! Các phi công Mỹ trung bình đã phải xử dụng võ lực đến 25% trên tổng số các phi vụ của họ. Dĩ nhiên là nếu không cẩn thận, các phi cơ của Ðồng Minh cũng có thể bị bắn hạ bất cứ lúc nào!

    Ðời sống trên chiến hạm luôn luôn như một cái máy: giờ làm việc, khi ăn, lúc nghỉ, phải nhịp nhàng, ăn khớp với nhau. Chỉ cần một sự kiện nhỏ xảy ra như một chảo nấu thức ăn bị hư là các thủy thủ đã phải xếp hàng dài hơn, chờ lâu hơn, và những công việc khác phải đình trệ hơn... Cứ tưởng tượng ban ẩm thực phải nấu trên 15 ngàn phần ăn mỗi ngày để mọi người có đủ ba bữa, hay phải cung cấp hơn 10 ngàn qủa trứng gà chỉ để cho một bữa ăn sáng!

    Ðại đa số các thủy thủ trên tàu đang trong lứa tuổi 18 - 20, nhiều người lần đầu tiên xa gia đình. Thường thường cứ khoảng tuần lễ thứ ba sau khi tàu rời bến là bắt đầu có vấn đề. Thủy thủ nhớ gia đình, nhớ người yêu nhiều hơn, và bắt đầu xuống tinh thần. Họ xin gặp các tuyên úy để được an ủi, khuyên nhủ thường hơn, và vì vậy các tuyên úy đã phải thêm phần bận rộn. Ðôi khi ngay trong hàng ngũ hạ sĩ quan và sĩ quan cũng có người gặp khó khăn, thường là vì lý do gia đình.

    Cấp trên cũng hiểu tinh thần và tâm lý binh sĩ nên trung bình cứ khoảng từ 3 đến 6 tuần lễ là tàu lại ghé một bến nào đó để thủy thủ có dịp xả hơi. Một người bạn của Nguyễn, tuyên úy N.B.A., vừa được vinh thăng Hải Quân Trung Tá, trong chuyến đi biển 6 tháng ở vùng Ðịa Trung Hải (Mediterranean Deployment, gọi tắt là MedDep) cách đây vài năm, cũng trên chiếc HKMH này, đã có dịp ghé hải cảng Nice ở Pháp. Ông lên thăm một người bạn và được mời cùng đi xem phần trình diễn của đoàn "Con Rối Nước" (Water Puppets) từ Hà Nội qua. Sau đó, ông đã mời cả đoàn, khoảng 40 người, lên thăm tàu vào ngày hôm sau. Họ đã kinh ngạc đến sững sờ trước chiếc chiến hạm quá vĩ đại (dài và rộng bằng ba sân đá banh nhập lại.) Càng ngạc nhiên hơn khi tuyên úy N.B.A. đưa họ đi xem những nơi quan trọng như phòng chỉ huy (Captain's bridge), phòng radar, phòng của sĩ quan điều khiển không lực (Air Boss)... Họ đã trầm trồ: "Sao anh dám đưa chúng em đến những chỗ này? Không sợ lộ bí mật à?" Hoặc là: "Trong thời chiến tranh, chúng em chả hiểu tại sao nước Mỹ ở xa thế mà cứ chốc chốc lại có cả đàn máy bay vào đánh bom! Thật, bây giờ chúng em mới biết!!" Tội nghiệp cho những con người đã phải sống trong một xã hội bị bưng bít đến tối đa.

    Trong một bữa ăn có món thịt gà chiên, Nguyễn đã ngồi cạnh tuyên úy trưởng B.N. May. Ông này không lấy món phụ theo đúng kiểu Mỹ là khoai tây chiên, nhưng lại là cơm. Nguyễn tò mò, hỏi trêu: "Bộ ông khoái ăn cơm lắm hả?" Tuyên úy May không trả lời nhưng hỏi lại Nguyễn: "Năm '75 anh (you) ở trại tị nạn nào?" Anh đáp: "Fort Chaffee, Arkansas." Tuyên úy May nhìn vào khoảng không như đang hồi tưởng về một qúa khứ nào đó, rồi ông tâm sự: "Cha (Father) biết không, đầu tháng Năm, năm 1975, tôi đang là một trung úy phi công, lái trực thăng trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến ở Camp Pendleton, California. Khi trại tị nạn cho người Việt được thành lập ở đó, tôi đã được lệnh làm việc với ban điều hành trại, đặc trách các nhà ăn ở những khu 1, 2 và 3. Một hôm, các thông dịch viên đã đến nói với tôi: "Hôm nay, chúng tôi không được ăn cơm!" Tôi nói: "Nhưng các ông mới ăn cơm hôm qua rồi mà!?" Họ đáp: "Ðúng vậy, nhưng người Việt chúng tôi cần có cơm ngày ba bữa!" Tôi ngạc nhiên lắm, nhưng vẫn ra lệnh cho nhà thầu phải mua thêm thật nhiều gạo để nấu cơm mỗi ngày cho dân chúng. Thế rồi chính tôi cũng tập ăn cơm, lâu ngày thành quen, cho tới bây giờ."

    Vài năm sau kinh nghiệm có một không hai đó, trung úy May đã xin giải ngũ và theo học đại chủng viện. Sau khi được phong chức mục sư, ông đã xin tái ngũ và trở thành tuyên úy trong ngành Hải Quân cho đến hiện tại. Nguyễn bắt tay tuyên úy May thật chặt và nói: "Cám ơn Tuyên Úy, ông đã là người ơn, là chứng nhân sống động của một trong những trang sử bi thảm nhất của dân tộc chúng tôi." Tuyên úy May cũng xiết chặt tay Nguyễn và nhìn anh với cái nhìn hết sức cảm thông. Hai người đã trở thành thân thiết kể từ hôm ấy.

    Phòng tiếp khách của đại tá hạm trưởng (Navy Captain) cũng là nơi trưng bày những hình ảnh và di vật của cố tổng thống Kennedy mà tàu này đã lấy tên. Một buổi tối, Nguyễn đã vào ngồi một mình trong đó. Nhìn vào tấm ảnh phóng lớn của người quá cố, anh nói thầm trong đầu:

    "John Fitzgerald Kennedy, ông đã là tổng thống một quốc gia hùng mạnh hàng đầu trên thế giới. Nhiệm kỳ của ông tuy ngắn ngủi nhưng hai lần ông đã gây hệ lụy không nhỏ đối với những quốc gia được kể là "thân hữu" của Hoa Kỳ. Lần đầu, ở Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) ông đã phản bội những người bạn Cuba muốn đổ bộ trở về giải phóng quê hương của họ, đưa họ vào chỗ chết mà không hề tiếp cứu. Lần kế, quan trọng hơn, nghiệt ngã hơn nhiều, cuộc chiến tranh đã hủy hoại trọn một thế hệ và làm suy thoái cả dân tộc của họ! Khởi đi từ việc ông đồng ý cho lật đổ một chính phủ hợp hiến, hợp pháp lần đầu tiên được người dân Việt Nam bầu lên theo thể chế dân chủ, rập khuôn với chính phủ của ông. Ông đã tỏ ra ngạc nghiên và bất bình khi biết thuộc cấp của ông (đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam) và những người làm đảo chánh đã toa rập để giết chết vị tổng thống và người em của ông ta. Nhưng tội qui về người đứng đầu, (The buck must stop on your desk!) Ông phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hậu qủa đau thương đó. Thế rồi, người đời chưa kịp trách ông thì chính ông đã ngã gục trước viên đạn của kẻ sát nhân. Tôi còn nhớ, tối hôm ấy trên đường về nhà, tôi đã được nghe tin về cái chết của ông qua những máy thu thanh vang vọng từ nhà cửa ở dọc đường. Năm đó tôi chỉ vừa bước vào tuổi trung học, nhưng đã sớm nhận biết thế nào là tình nghĩa ở đời, nhất là "tình nghĩa" trên chính trường quốc tế!

    Thế nào là thân phận kẻ đang sống trong một quốc gia nhược tiểu. Ông đã xử "không đẹp" đối với một người đã được coi là bạn của ông! Nhưng hậu qủa giây chuyền của hành động đó mới đáng khủng khiếp, gần 60 ngàn quân nhân Hoa Kỳ và trên hai triệu người Việt Nam đã chết thảm vì chính sách sai lầm của ông và những người nắm quyền kế tiếp. Cho đến nay, một phần tư thế kỷ đã qua kể từ ngày im tiếng súng, nhưng Việt Nam vẫn chưa ngóc đầu lên nổi, vẫn bị kể là một trong những nước nghèo đói nhất trên thế giới! Ông đã là một giáo dân Công giáo, tôi là một linh mục; giả sử ông có cơ hội trở về xưng tội với tôi thì việc "đền tội" tôi trao cho ông sẽ là: "Dùng tất cả những ơn Chúa ban riêng để làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia thực sự có tự do, dân chủ, độc lập, và phú cường." Có như thế mới mong đáp lại phần nào lỗi lầm quá to lớn của ông." Nguyễn bước ra khỏi phòng, lòng buồn vui lẫn lộn như vừa ban phép hòa giải cho một hối nhân đã bỏ xưng tội đến gần 40 năm trời!

    Nguyên tắc thông thường của cái súng cao su mà trẻ con hay chơi, đã được Hải Quân Mỹ xử dụng để thêm sức, phóng các phi cơ đang rồ máy vọt tới, cho dễ cất cánh hơn. Có bốn dàn phóng (catapults, mà các thủy thủ gọi tắt là "cats") dùng sức ép bằng hơi; nhưng tối đa người ta chỉ có thể phóng ba phi cơ lên cùng một lúc, vì có hai dàn phóng chéo góc vào nhau. Mỗi phi vụ có từ 15 đến 20 phi cơ đủ loại. Họ bay khoảng một tiếng rưỡi, và trước khi họ trở về đến tàu thì một phi vụ khác lại được phóng lên. Cứ như thế, các phi cơ liên tục được xử dụng trong việc "Canh phòng miền Nam" nước Iraq. Ðể có giờ nghỉ ngơi, các phi công Hải Quân (Aviators) chỉ làm việc sáu ngày một tuần. Khi họ nghỉ thì các phi đội của Không Quân đang trấn đóng ở Saudi Arabia sẽ đảm trách thay. Ngược lại, họ cũng giúp bên Không Quân trong cùng một cách tương tự.

    Sau cuộc Chiến Tranh Lạnh (Cold War) cả Mỹ và Nga đều cắt giảm binh bị (nhưng nhiều nước khác lại gia tăng như Trung Cộng, Aán Ðộ, Pakistan, Iran...) Mỹ đã giảm hơn một triệu quân và hằng trăm tàu chiến. Số HKMH đang từ 15, hiện chỉ còn lại 12 chiếc. (Không kể 12 HKMH loại nhỏ (Amphibious Assault Ships) - các LHAs và LHDs - chứa trực thăng và phản lực lên thẳng Harriers với 2000 TQLC sẵn sàng đổ bộ bất cứ nơi nào cần.) Tuy nhiên, khi cho những chiếc HKMH cũ về "hưu" (de-commissioned) thì họ lại đóng thêm những chiếc khác tối tân hơn như Stennis CVN-74, Truman CVN-75, và Reagan CVN-76. Chiếc mới nhất CVX-1, chưa có tên, là một "class" (kiểu) mới, chỉ cần 3000 thủy thủ, hiện lên rất nhỏ trên màn ảnh radar, và hỏa lực của nó sẽ mạnh gấp nhiều lần hơn những chiếc đang được xử dụng. Cùng chiều hướng đó, cả quân lực Hoa Kỳ đã ít hơn về số lượng, nhưng sức mạnh của họ thì vẫn gia tăng không ngừng.

    Khuya nay đến phiên Nguyễn lên phòng lái và cũng là đài chỉ huy để đọc lời nguyện và chúc bình an cho cả tàu trước khi đi ngủ (thì giờ đi ngủ chỉ là trên nguyên tắc.) Anh đã lên sớm và ra ban công phía trước (weather deck) để có chút giờ tĩnh tâm. Bầu trời không trăng, dày đặc những vì sao, dải Ngân Hà như sáng hơn, tỏ hơn, trải dài như đến vô tận. Tàu đang đi về hướng gió, hướng Ðông, để chuẩn bị đón một phi vụ trở về. Nguyễn nghĩ thầm, chỉ cần bay về hướng này, năm tiếng đồng hồ nữa là đến quê hương. Anh mường tượng đến những thành phố có thể sẽ bay qua: Karachi, Calcutta, chếch xuống Rangoon, Bangkok, rồi Sàigòn, Huế, Hà Nội... Thật gần, nhưng cũng thật xa... Quê hương ngút ngàn đó, đã một lần anh hứa sẽ trở lại, nay vẫn dẫy đầy những bất công và đói khổ... Ðã qúa lâu... qúa xa... lòng người không khỏi mênh mang và trong một giây phút bi quan đã cảm thấy thấm thía nỗi xót xa đến u uất trong câu thơ của Ðăng Dung: "Nợ nước chưa xong đầu đã bạc"...

    Trên tàu có một thiếu úy và 6 nam, nữ thủy thủ người Việt, nhưng hầu hết họ còn qúa trẻ để có thể cảm thấy được hậu qủa sâu đậm của cuộc chiến; hay hoài bão về một quê hương xa vời vợi bên kia bờ đại dương. Làm thế nào để các bậc cha, anh có thể hướng dẫn, chỉ bảo thế hệ mới này, với hi vọng rằng một ngày nào đó họ sẽ tự tìm về đất Mẹ, quê Cha? Nguyễn giật mình chợt nhớ ra rằng anh đã sống ở Mỹ đến phân nửa cuộc đời! Bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu kỷ niệm đã đến với anh trong suốt phần tư thế kỷ trên dải đất lớn bằng cả một lục địa mà anh đã nhận làm nơi dung thân. Miệt mài trong công tác đôi khi đã làm anh lãng quên những cẩn trọng phải có. Một lần anh đã vô tình đi vào vùng tình cảm thế nhân, nhưng chưa kịp đặt chân xuống thì đã vội thu về vì biết rằng con đường đó không phải là lối anh đang đi. Ðể rồi anh đã phải trả giá bằng cơn đau ngất người kéo dài đến thật lâu! Anh nhận thấy con người của anh thật nhỏ bé, thật mỏng dòn và yếu đuối. Chính anh mới là kẻ cần phải xin ơn tha thứ nhiều hơn cả!

    Gần hai chục phản lực cơ trở lại tàu sau khi đã hoàn tất phi vụ. Ðáp đêm nhưng nhiều phi công vẫn móc đúng giây cáp thứ ba, chính xác và lý tưởng nhất! Các hỏa tiễn và bom đạn vẫn còn nguyên. Những vũ khí giết người đó đã không phải phóng ra nơi vùng đất phía Nam vĩ tuyến 33 ở Iraq trong phi vụ này. Ðêm nay đã không có máu đổ, không có tàn phá. Bốn thang máy, mỗi cái có thể đưa xuống "Hầm chứa" (Hangar Bay) một lượt hai chiếc phi cơ xếp cánh, đã nhanh chóng hoàn tất công việc. Tiếng động cơ ồn ào đã sớm tắt, trả lại sự yên tĩnh tương đối trên tàu. Cơn gío nhẹ - một phần nhờ vận tốc của tàu - đưa mùi biển thoảng hơi muối mặn, cái mùi đặc biệt đã dính liền với cuộc đời của những người lính vượt đại dương. Những gợn sóng nhỏ trên mặt nước không đủ làm chòng chành con tàu quá lớn đang lầm lũi lướt đi trong bóng đêm. Nguyễn nhớ đến bài hát về những người lính thủy Việt Nam năm nào: "Với biển cả, anh là thủy thủ... Với lòng nàng, anh là hoàng tử... Nhớ chuyện thần tiên xứ Ba Tư..." Xứ Ba Tư (Iran), cái xứ có truyện "Ngàn lẻ một đêm" ấy đang không xa trước mắt, nhưng với Nguyễn và hơn năm ngàn thủy thủ trên tàu, nó đã không còn thần tiên tí nào cả. Từ vùng đất "không thân thiện" đó luôn luôn vẫn có sự rình rập, vẫn đòi hỏi sự thận trọng và đề phòng tuyệt đối. Chỉ cần một sai lỗi nhỏ, chỉ cần hành động của một tên điên nào đó từ phía bên kia, là chiến tranh có thể sẽ xảy ra, là máu lại đổ, là nhà lại tan... Anh thấy nền hòa bình tạm bợ trong vùng cũng mong manh như thân phận con người.

    Nguyễn quyết định không dùng lời nguyện đã dọn sẵn, anh sẽ cầu nguyện tự phát từ đáy lòng mà chủ đề không gì khác hơn là HÒA BÌNH.




  9. #9
    Biệt Thự
    Join Date
    Oct 2011
    Posts
    1,099
    Nhảy Dù và Cổ Thành Đinh Công Tráng

    Sydney, Australia ngày 10 tháng Tám 2009
    Kính gởi Niên Trưởng Giao Chỉ (San Jose)

    Nhân đọc được bài “Trong đêm đen chợt thấy ánh mặt trời” của Niên trưởng, tôi đã quyết định cầm lại cây bút. Nặng nề, đắn đo, suy nghĩ suốt mấy đêm liền ……..Sau cùng tôi thấy mình có trách nhiệm phải nói lên một sự thật của lịch sử và nhất là vinh danh những chiến hữu, những đệ tử thâm tình đã vĩnh viễn nằm xuống bên bờ Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị) vào mùa Hè đỏ lửa 1972.
    Ngắn gọn để tự giới thiệu với Niên trưởng, tôi là cựu Thiếu Tá Trương Đăng Sỹ, xuất than Khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Dalat, Đại Đội trưởng Đại Đội 51 Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, được Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 trao trọn trách nhiệm tổng chỉ huy điều động lực lượng tiền phương tiến chiếm Cổ thành Quảng Trị vào năm 1972. Hiện nay, tôi đang sinh sống tại Sydney, Australia.
    Với tư cách và danh dự của một Sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị, tôi dám quả quyết với các niên trưởng rằng tôi sẽ nói hoàn toàn sự thật sau đây vì nó có tính cách lịch sử, mà theo tôi lịch sử phải là sự thật, đó là chân lý, đừng bẻ cong ngòi bút, đừng che dấu và đừng đánh bóng cá nhân, nhất là những người không trực tiếp tham dự cuộc chiến.
    Tôi được tham dự tất cả những trận đánh lừng danh trong quân sử của Việt Nam Cộng Hòa, từ năm 1966 mãi đến ngày mất nước 30/4/1975. Với tư cách là một sĩ quan thuần túy tác chiến, đi bộ, cầm bản đồ, địa bàn, tay bấm Combiné từ Campuchia qua Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, có thể nói chưa bao giờ thất bại, nhưng chua cay và gay cấn nhất là Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị). Sau đây là diễn tiến trận đánh.
    Tôi đồng ý với Niên trưởng ở điểm là hôm nay làm thế nào chúng ta phải có bản đồ trận liệt Quảng Trị, cũng như phóng đồ Hành quân tái chiếm Quảng Trị. Nếu không chúng ta cũng còn lẫn quẩn trong những nét đại cương.
    Nói riêng về trận tái chiếm Quảng Trị, tôi biết có rất nhiều người yêu cầu cũng như mong muốn tôi phải lên tiếng, nhất là bên ban quân sữ Mũ Đỏ. Nhưng tôi vẫn im lặng, im lặng gậm nhắm tất cả những đau thương chua chát. Im lặng để tôn trọng những người viết trước – những vị này đều không trực tiếp tham dự trận đánh. Từ Phan Nhật Nam, Trương Dưỡng, Trịnh Hữu Ân, đến Kiều Mỹ Duyên trong Chinh Chiến Điêu Linh ………. Chỉ có một bài làm tôi để ý là bài của Đại úy Hồ Tường, Đại Đội trưởng Đại Đội 52 trong Đặc san Mũ Đỏ, nhưng rất tiếc Hồ Tường cũng bị thương sớm, hơn nữa là đàn em nên tôi hiểu rất rõ Hồ Tường đầy đủ khả năng uống rượu, quậy phá và đánh giặc hơn là khả năng viết lách. Đại úy Trương Văn Út (Út Bạch Lan) cũng trường hợp tương tự.
    Tôi rất mong lá thư này đến trước khi cuốn phim tài liệu về trận đánh mà quý Niên trưởng sắp thực hiện, mục đích là vinh danh các chiến hữu đã nằm xuống bên bờ Cổ thành, vinh danh Binh chủng Nhảy Dù đã đổ quá nhiều xương máu cho một mục tiêu mà quả là cục xương khó nuốt, nhưng lại ảnh hưởng quá lớn trên trường chính trị. Ước mong quý Niên trưởng tôn trọng máu xương cua các chiến hữu và máu của cả tôi đã đổ quá nhiều cho cuộc hành quân này. Tôi có tật bẩm sinh trong đời binh nghiệp là không tranh giành chiến công vì quan niệm tất cả là của chung, của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như không đổ lỗI cho bất cứ một thất bại nào.
    Trở lại diễn tiến cuộc hành quân, ngày N có lẽ là ngày 28/6/1972, sau hai tháng tử thủ An Lộc, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù được không vận ra phi trường Phú Bài Huế để nhập cuộc. Toàn bộ Sư Đoàn tiến theo Quốc lộ 1 qua Hải Lăng, Triệu Phong, vượt qua Đại lộ kinh hoàng tiến về hướng La vang thượng.
    Qua bao nhiêu ngày tiến quân, dưới sự yểm trợ tối đa của phi pháo và đầu đội mưa pháo của địch quân, Đại Đội tôi cũng vào được Nhà Thờ La vang và tạm ngũ tại nghĩa trang một đêm để sáng hôm sau tiến chiếm mục tiêu làng Như Lệ.
    Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù vào Thánh Địa La Vang

    Nhưng sáng hôm sau, tôi được lệnh bàn giao khu vực La vang lại cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu tá Lê Văn Mễ băng qua Quốc lộ 1 và tiến về hướng làng Trì Bưu để từ đó làm bàn đạp tiến thẳng lên Cổ thành Đinh Công Tráng.
    Tôi nhớ rõ đêm hôm đó, trong tiếng pháo ầm vang của ta và địch, Trung tá Nguyễn Chí Hiếu cho họp Ban Tham mưu và các Đại đội trưởng để ban lệnh hành quân mới. Bên cạnh bản đồ và sa bàn Cổ thành Đinh Công Tráng, Trung tá Hiếu cho biết Tiểu Đoàn 5 được vinh dự nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải chiếm lại cho bằng được Cổ thành. Sau khi phân tích tình hình địch và bạn, phân chia nhiệm vụ, Trung tá Hiếu trịnh trọng hai tay cầm lá Quốc Kỳ trao cho tôi và ông nói:
    - “Đây là tất cả vinh dự của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và của Binh chủng Nhảy Dù, tôi đặt tất cả tin tưởng vào anh. Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, tất cả tiền quân đặt dưới quyền điều động của anh.”
    Tôi đưa hai tay nhận lá Quốc Kỳ nửa hãnh diện, nửa lo âu. Nói có vong linh Trung tá Hiếu: ông đã đặt tôi vào cảnh còn hơn Thái tử Đan, tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.
    Trong phiên họp, ông còn đề nghị dùng dây để leo lên thành, đánh như lối La Mã ngày xưa. Sau đó ông trao cho tôi một cái máy hình chữ nhật khoảng 2 tấc x 4 tấc của Mỹ, ông căn dặn trong trường hợp tuyệt vọng, bấm vào nút đỏ ngay lập tức, Không lực Hoa kỳ và hảI pháo từ Đệ thất hạm độ sẽ hủy diệt mục tiêu, kể cả quân bạn. Cho đến hôm nay tôi vẫn chưa hiểu đó là chiếc máy gì? Sau này, có lúc gần như tuyệt vọng tôi định đem ra xử dụng, nhưng nghĩ còn đến bao nhiêu sinh mạng dưới tay, sinh mạng của con người đó! Ngần ngại rồi lại thôi. Đêm hôm đó, không thể nào chợp mắt. Tôi chưa bao giờ từ chối bất cứ nhiệm vụ nào, nhưng linh cảm phải hy sinh rất nhiều xương máu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”.
    Nỗ lực chính đi đầu là hai đại đội 51 và 52. Sau hai ngày di chuyển ngày đêm, vượt qua một con sông nhỏ, trước mặt là cánh đồng trống, bên kia cánh đồng là làng Trì Bưu. Tôi biết trong làng địch quân bố trí chờ sẵn…lực lượng không biết bao nhiêu nhưng có cả 12 ly 8, cối 61 và 82 ly.
    Đặt ống dòm nhìn mục tiêu làng Trì Bưu, tôi gọi Hồ Tường đến ra lệnh cho một trung đội thật mỏng chiếm nghĩa trang giữa cánh đồng làm bàn đạp. Điều chỉnh xong phi tuần A37 xuống đúng mục tiêu, xin thêm 20 tràng (T.O.T = Time on Target). Sau đó là mười tràng đạn khói bao trùm làng Trì Bưu. Liền sau đó, xử dụng 3 trung đội hàng ngang xung phong cộng với 2 trung đội sẵn sàng tiếp ứng. Binh sĩ vừa bắn vừa hô xung phong, đẹp hơn ciné chiến tranh.

    Chịu không nổi hỏa lực khủng khiếp của phi pháo ta, địch tháo chạy bỏ lại chiến trường 6 xác chết mặc đồ khaki Nam định, chân dép râu, đầu đội nón cối.
    -“Trình 501, tịch thu 1 khẩu 12 ly 8, 1 cối 82 ly và một số AK47 và B40 ……”
    - “Tập trung lại tại chổ, tất cả bung rộng lục soát, cẩn thận tối đa.”
    - “Nhận rõ 501, 5 trên 5.”
    Từ làng Trì Bưu, về hướng Tây Bắc, mục tiêu kế tiếp là Nhà Thờ Trì Bưu. Tôi và Hồ Tường song song bung đội hình từng bước tiến lên, nhường làng Trì Bưu lại cho Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn. Đoạn đường từ đây đến Nhà Thờ Trì Bưu khoảng vài trăm thước cũng không phải dễ đi …
    Tôi đã xử dụng tất cả hỏa lực yểm trợ: 18 khẩu 105 ly, cơ hữu Nhảy Dù, 4 khẩu 155 ly, 2 khẩu 175 ly của Quân đoàn 1…

    Ngày nào cũng có ít nhất hai phi tuần oanh tạc. Ban đêm, thỉnh thoảng còn được hải pháo từ Đệ nhất hạm đội bắn yểm trợ. Nếu cần thiết, còn được 18 khẩu 105 ly của Thủy quân Lục chiến tăng cường. Ngày nào ít lắm cũng có một hay hai lần bắn “T.O.T”.
    Có lúc chúng tôi phải tiến quân trong mưa bụi của pháo binh, mục đích không cho địch quân ngóc đầu khỏi hố. Tôi áp dụng chiến thuật từng bước nhảy vọt. Hồ Tường tiến tới từ 50 đến 100m thì dừng lại bố trí, 51 tiến lên qua mặt 52, rồi lại tiến lên 50m đến 100m dừng lại hầm hố bố trí, cứ thế tiến dần …
    Nhưng sức kháng cự của địch quân còn quá mạnh, nhất là bên cánh phải còn khu làng nhỏ sát bờ sông Thạch Hãn, địch bắn qua quá rát. Ban đêm đôi lúc chúng tôi còn nghe cả tiếng chiến xa địch.
    Tôi quyết định xin thêm quân tăng viện và Đại đội 2 trinh sát của Đại úy Trương Văn Út (Út Bạch Lan) nhập trận. Tôi tung Út Bạch Lan qua bảo vệ sườn phải cùng song song tiến về hướng Cổ thành. Út Bạch Lan xông xáo, lanh lợi, gan lì ầm vang trong máy, nhất quyết dứt điểm mục tiêu.
    Sau 7, 8 ngày quần thảo với địch quân, di chuyển ngày không được chúng tôi tiến ban đêm… và một sự tình cờ ngẫu nhiên, một tiểu đội đi lạc vào Nhà Thờ Trì Bưu. Nghe báo cáo, tôi bèn ra lệnh chiếm giữ và tung thêm quân vào lục soát, một cảnh tượng hải hùng thương tâm hiện ra trước mắt – dân chúng kẹt dưới hầm của Nhà Thờ hơn 100 người……già trẻ, bé lớn vừa đói khát vừa thương tật…….. Hầm trú ẩn nhà Thờ dày và kiên cố.
    Gặp chúng tôi, họ mừng vui ra mặt, một giọng Huế thân thương vang lên:
    - “Mình được lính “con Ó” cứu rồi các ôn ơi!”
    Tôi ra lệnh cho y tá săn sóc thuốc men và phát thức ăn tạm cho đồng bào, chỉ hướng cho họ đi về phía sau, gọi máy báo cáo cho TĐ tiếp nhận và xin thêm quân lên giữ nhà Thờ vì sợ địch cắt đứt đường tiếp tế tải thương. Đại đội 54 của Trung úy Nguyễn Đình Dương lên chiếm giữ. Dương sau này được lệnh thuyên chuyển về Phủ Phó Tổng thống. Ban Chỉ huy còn tăng cường thêm 1 đại đội của TĐ11 Nhảy Dù (Song kiếm trấn ải). Đại đội trưởng là Trung úy Đinh Viết Trinh. Lúc mới ra trường, Trinh về TĐ5 và làm trung đội trưởng cho tôi. Nghe tiếng Trinh trong máy, tôi thấy Trinh tiến bộ, gan lì, xông xáo hơn trước nhiều. Trinh tiến lên bên cánh trái chiếm nghĩa trang, từng ngôi mộ…..tiến về hướng Cổ thành. Bên trái là TĐ6 Nhảy Dù đang chiếm giữ căn cứ Compound của Mỹ để lại. Nhà ga Quảng Trị đã có Mê linh Thiếu Tá Lê Văn Mễ TĐ11 trấn giữ.
    Có lần Hồ Tường đề nghị, nếu trường hợp bị địch dùng chiến xa và biển người cắt đứt đường tiếp viện giữa tiền quân và Bộ Chỉ Huy, chúng tôi sẽ có kế hoạch âm thầm di chuyển ban đêm về hướng TĐ6 Nhảy Dù. Dĩ nhiên tôi không chấp thuận lý do “Lá Quốc Kỳ chưa được tung bay trên Cổ thành”.
    Hằng giờ, hằng ngày và hằng đêm, Thiếu Tá Lê Hữu Chí B3 và 101(Trung tá Nguyễn Chí Hiếu) gọi máy hỏi thăm và hối thúc liên tục. Tôi như ngồi trên đống lửa, thuốc lá và café đen liên tục…
    Sức kháng cự của địch quân quá mạnh, thiệt hại nặng nhất cho tiền quân là đại pháo 130 ly từ dãy Trường sơn pháo xuống. Bên kia sông Thạch Hãn hỏa lực của địch bắn qua quá rát. Đại đội 2 trinh sát của Út Bạch Lan phải xử dụng sở trường dùng các toán trinh sát nhỏ chiếm từng ngôi nhà, lũy tre để tiến lên ngày và đêm…
    Tôi và Hồ Tường cho tiền quân nhổ chốt bằng lựu đạn, đánh cận chiến và liên tục xử dụng phi pháo tối đa. Cho dù phải sinh Bắc tử Nam, những tên lính điên cuồng Cộng sản tuyệt đối không thể nào làm khác hơn vì chân đã bị xiềng chặt vào các ổ phòng không, đại liên hoặc súng cối. Mỗi đêm trôi qua đều hải hùng, nặng mùi tử khí. Ban ngày khói lửa ngập trời. Cứ thế chúng tôi từ từ tiến bước….khoảng cách từ đây đến Cổ thành từ từ rút ngắn….
    Sự thiệt hại càng ngày càng nhiều, những cán bộ nòng cốt lần lượt bị thương hoặc tử thương phải rời trận địa. Bao nhiêu tiền sát viên đưa lên đều lần lượt bị thương và tử thương, vì họ quá hăng lên ngay tuyến đầu để quan sát điều chỉnh, có đôi lúc tôi phải kiêm luôn tiền sát viên, nhưng muốn được yểm trợ phải xưng danh hiệu, các pháo đội trưởng Dù đều quen biết nên không trở ngại nhiều.
    Vào một đêm tối trời, bên ngoài trời mưa lất phất, Út Bạch Lan gọi tôi qua tần số đặc biệt để báo cáo cho biết các toán trinh sát gần như tê liệt, đệ tử ruột thịt bị loại khỏi vòng chiến quá nhiều, thiệt hại đáng kể. Trong lúc tình hình địch mạnh lắm, đại pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly, phòng không 37 ly, hỏa tiển SA7, đại liên 12 ly 8, cối đủ loại tạo thành một bức tường hỏa lực dày đặc rất khó tiến quân. Bên kia sông Thạch Hãn, địch điều quân như chỗ không người. Út Bạch Lan lưu ý tôi nên thận trọng, báo cáo tình hình, xin thêm tăng viện. Nếu sườn bên phải bỏ trống, sẽ là một trở ngại và là nỗi lo âu to lớn cho tôi.
    Sáng hôm sau, tôi gọi máy đề nghị với 101 cho Đại đội 2 trinh sát lùi về sau giữ điểm tiếp tế tải thương và xin thêm quân tăng viện. Trong cùng một ngày, 2 Đại đội của Liên đoàn 81 Biệt kích dù được phái lên tăng cường và nhập trận. Có lẽ Bộ Chỉ Huy hành quân quan niệm Biệt kích chuyên đánh từng toán nhỏ, sở trường chiến đấu trong thành phố và mới nổi danh ở chiến trường An Lộc. Nhưng thật sự với tôi có một trở ngại lớn trong vấn đề phốI hợp và điều động chỉ huy. Vì hỏa lực của địch quá mạnh, nên 2 Đại đội 81 Biệt kích dù tiến hơi cẩn thận đôi lúc bị cầm chân tại chổ.
    Trong lúc Út Bạch Lan điều động Đại đội 2 Trinh sát lùi về sau thì bị chốt của địch khai hỏa dữ dội ngăn chặn, địch đã cắt đứt đường tiếp tế tải thương. Tôi nói với Út với bất cứ giá nào cũng nhổ cho bằng được các ổ kháng cự này. Tôi xin phi tuần Skyraider mang bom xăng đặc Napale và quyết định đánh sát cận rất nguy hiểm. Hai đầu là quân bạn, địch cắt ở giữa, phải làm thế nào đây?

    Tôi hỏi Út dám chấp nhận hy sinh không? Út gật đầu, và chúng tôi quyết định xử dụng bom Napale. Sau khi L19 bắn khói điều chỉnh, chiếc khu trục thứ nhất lao xuống thả 2 quả bom xăng đặc. Cả một vùng biển lửa bốc cháy……sức nóng tàn khốc tỏa rất gần quân bạn, tôi nghe một vài binh sĩ la lên:
    - “Check fire đi 501, nguy hiểm lắm!”
    Tôi lạnh lùng bấm máy gọi L19:
    - “Good, tiếp tục!”
    Chiếc thứ hai lao xuống, 2 quả bom nữa rời cánh phi cơ, cụm lửa cao lan rộng hơn tiêu hủy cả một vùng rộng lớn…………..
    Tôi gọi Út:

    - “Vịt con (VC) bị nướng sống hết rồi, vào lượm súng đi Út Bạch Lan!”
    - “Nhận rõ 501, tôi sẽ làm cỏ sạch bọn chúng.”
    Út Bạch Lan cho xung phong và thanh toán gọn các ổ kháng cự. Từ đó, con đường tiếp vận tải thương mới được khai thông.
    Trở lại với tiền quân, tôi và Hồ Tường mở bản đồ, tìm kế hoạch tiếp tục tiến quân. Con đường từ đây đến Cổ thành còn hơn 300m mà sao dài ra thăm thẳm……..và lắm gian nguy. Tất cả phi pháo đa phần đều dồn hết vào Cổ thành, nhưng tôi lại không muốn như thế, tôi lại muốn dồn hỏa lực lên phía Bắc sông Thạch Hản đến phi trường Ái Tử ra tận Đông Hà – phía Tây dãy Trường sơn, phải làm sao khóa họng các khẩu đại pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của địch.
    Cần nói rõ trong thời điểm này, không lực Mỹ và B52 không đồng ý oanh tạc trong thành phố Quảng Trị. Quảng Trị chìm trong biển lửa, điêu tàn và thảm khốc. Gần một tháng trời quần thảo với địch quân với hơn 2 Sư đoàn chính quy Bắc Việt: Sư đoàn 304 và 324 (?) Sự thiệt hại của đôi bên đã lên đến con số khá cao, nếu được tính chính xác.
    Vào một đêm đang ngồi trong hầm, bấm đèn pin xem bản đồ, suy nghĩ phương thức tiến quân thì hiệu thính viên đưa máy cho tôi và nói 101 muốn gặp:
    - “101, đây 501 tôi nghe!”
    - “Báo cho anh biết, đích thân Tông tông ra lệnh cho Quân Đoàn 1 và Đại bàng 1 (Trung tướng Ngô Quang Trưởng) ra lệnh cho chúng ta phải thanh toán mục tiêu Cổ thành bằng mọi giá, càng sớm càng tốt, nhận rõ trả lời.”
    - “Nhận rõ 101, tôi sẽ cố gắng!”
    Thẫn thờ buông máy, suy nghĩ mông lung…….
    Những Sĩ quan chủ lực của tôi lần lượt bị thương rời vùng, từ Trung úy Nguyễn Tiến Việt, Thiếu úy Nguyễn Văn Hội, Chuẩn úy Sanh…….đều bị thương. Bất đắc dĩ phải cho hạ sĩ quan cao cấp lên làm Trung đội trưởng, có người không biết đọc bản đồ, nhưng tác chiến rất lì lợm và kinh nghiệm.

    Vì sức kháng cự của địch quân còn quá mạnh, đại quân bị khựng lại. Tôi quyết định cho thành lập toán cảm tử, lợi dụng đêm tối tiến lên chiếm thành, hầm hố vững chắc, cố gắng cầm cự để tờ mờ sáng hôm sau, tôi dẫn đại quân lên chi viện và dứt điểm mục tiêu Cổ thành. Toán cảm tử này hoàn toàn tình nguyện. Đó là kế hoạch nhưng sự thi hành hơi khác.
    Số tình nguyện lên khá cao, đã hơn 10 binh sĩ. Nhiều quá dễ bị lộ! Tôi quyết định chọn ra 8 người. Hạ sĩ nhất Trần Tâm làm trưởng toán, Hồ Khang sinh trưởng lớn lên đi học tại Quảng Trị nên làm tiền sát dẫn đường, Hậu mang máy, Hồ Con, Lê Văn Lịch… Tôi không nhớ hết tên 8 người.
    Vào một đêm tối trời, tôi tập hợp tiểu đội tình nguyện này vào một căn hầm của dân để lại, căn dặn cẩn thận và nói rõ mục đích chuyến đi nguy hiểm này. Chúng tôi chia xẻ với nhau từng điếu thuốc quân tiếp vụ, sau cùng tôi lên tiếng:

    - “Các anh nên suy nghĩ kỹ lại đi. Không một ai có thể bắt buộc các anh, đây là vinh dự của Tổ quốc và Quân đội dành cho các anh. Tôi chỉ hứa nếu nhiệm vụ hoàn thành, tôi sẽ ký cho các anh 15 ngày phép về Saigon.”
    Hậu mếu máo nói với tôi:
    - “Chúng tôi không dám nghĩ đến những vấn đề quá cao xa, chúng tôi tình nguyện ra đi vì quá thương Đích thân, mấy ngày qua Đích thân không ăn một miếng cơm, chỉ uống nước, café và thuốc lá.”
    Tôi vỗ vai từng người và hứa:
    - “Tôi thề sẽ không bao giờ bỏ các anh đâu, yên chí, sáng hôm sau sẽ có tôi bên cạnh.”
    Hồ Khang xin mang theo lá Quốc Kỳ, Hậu mang máy PRC25.
    Đêm hôm đó, toán Quyết tử âm thầm lao mình vào đêm đen. Tôi thức theo dõi từng bước đi, thỉnh thoảng cho pháo binh bắn yểm trợ, soi sáng và chỉ hướng. Tiểu đội này đôi lúc phải lẫn lách tránh các ổ kháng cự của địch. Nửa đêm hôm đó, toán Quyết tử báo cáo đã thấy được Cổ thành và đang tìm cách lội qua hào sâu, sát bờ thành:

    - “Nước sâu quá Đích thân.”
    Hậu thều thào trong máy. Tôi gọi pháo binh bắn yểm trợ tối đa vào Cổ thành và xung quanh. Ra lệnh tiền quân sẵn sàng xuất phát.
    Tờ mờ sáng hôm sau, trong khi vạn vật chưa tỉnh ngủ, bỗng nhiên tôi nghe tiếng la lớn:

    “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm, Nhảy Dù muôn năm!”
    Tôi nghe hiệu thính viên đứt khoảng trong máy:
    - “Quốc Kỳ đã được dựng lên!”
    Liền sau đó tiếng nổ ầm vang tứ phía. Đại liên 12 ly 8, AK47, B40…….bắn xối xả vào một mục tiêu duy nhất – lá Quốc Kỳ!
    Sau đó mất liên lạc, tôi nhanh chóng ra lệnh xuất phát và gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu bạn và xin thêm đạn khói bao phủ Cổ thành. Pháo binh địch cũng bắt đầu lên tiếng trả đũa.

    - “Mưa rơi nặng hột (pháo địch mạnh lắm)”
    Nhưng cho dù mưa rơi dữ dội cách mấy, cho dù bảo tố tôi cũng phải đi. Tôi phải cứu các đệ tử của tôi. Tôi hối thúc Hồ Tường:
    - “Sắp tới rồi, còn không đầy 100m nữa thôi, nhanh lên 502!”
    Tôi và Hồ Tường song song tiến thẳng lên Cổ Thành, bỏ 2 Đại độ 81 Biệt kích bên cánh phải đằng sau, thế là sườn phải bị bỏ trống. Một vài binh sĩ bị thương vì pháo kích, tôi không màng để ý, cứ tiến thẳng lên Cổ Thành và xin thêm lá Quốc Kỳ thứ hai.
    Sáng hôm đó khi mặt trời ló dạng, chúng tôi đã nhìn thấy Cổ Thành trước mặt. Nhưng lại có một chướng ngại vật quá lớn, đó là thành quá dày và cao. Thành dày khoảng 5m, cao 5m và được bao bọc bằng hào sâu tới cổ, rộng gần 10m.
    Không thể xử dụng được hàng ngang, tiền quân bị khựng lại, đào hầm hố bố trí và tìm phương thức tấn công. Trên mặt thành, địch phòng thủ vững chắc trong các lô cốt, bắn xối xả vào quân ta.
    Hồ Tường cứ di chuyển ẩn núp sau các dãy nhà sụp đổ, chạy tới chạy lui và dùng súng bắn tỉa Việt cộng trên thành. Mỗi lần nhắm trúng một tên là hắn la lên vui mừng. Với tôi, trước tiên phải làm sao phá vỡ được thành mới tính tới chuyện xung phong. Nếu cho quân lội qua hào, rồi dùng dây leo lên thành, chắc chắn chỉ làm bia cho địch tác xạ. Cho xử dụng 57 ly không giật, kể cả 90 ly vẫn không thể phá nổi thành. Bên sườn phải, địch quân vượt song Thạch Hãn chi viện, bám đầu cầu và khai hỏa dữ dội bên phải. Trong tình thế chẳng đặng đừng, tôi điều động thêm một trung đội của Đại đội 54 do Chuẩn úy Thạch Hớn chỉ huy tấn công và giữ sườn bên phải.
    Nhưng một trung đội làm sao chống nổi biển người!
    Đêm hôm đó đành bám trụ cố thủ, cho thám sát mặt nước cũng như kéo xác toán cảm tử còn kẹt trong thành. Quả thật là một đêm kinh hoàng, tôi không thể nào chợp mắt, cafe hết, thuốc lá chẳng còn……… Xác đệ tử cách mình chỉ vài chục thước chưa kéo về được, bức tường thành kiên cố và hào sâu đầy chướng ngại, làm cách nào thanh toán đây?
    Khuya hôm đó, một binh sĩ toán cảm tử chạy về được báo cáo tôi biết: Hồ Khang, Trần Tâm, Hồ Con, Hậu đã tử thương trên thành, số còn lại đều thất lạc!
    Sáng hôm sau, tôi cho xử dụng hỏa tiển M72, 4 khẩu châu vào và bắn cùng một lúc với hy vọng phá nổi tường thành, nhưng bờ thành chỉ xây xuyển đôi chút rồi vẫn sừng sững giữa trời……..

    Ngày N+26, một ngày định mệnh đã xảy đến!

    Tôi quyết định xử dụng bom cực mạnh để phá thành. Sau khi ra lệnh cho binh sĩ hầm hố cho thật kiên cố, tôi cho gọi Hồ Tường đến chung một hố sơ sài của dân để lại. Một sai lầm lớn, không thể đặt hai bộ chỉ huy Đại đội chung cùng một hố. Ít nhất 4 cần antene và một số binh sĩ lố nhố sẽ là mục tiêu tốt cho địch pháo kích, nhưng để dễ chỉ huy điều động, tôi chấp nhận mọi hậu quả.
    Sau khi nghe tôi trình bày kế hoạch, Hồ Tường có vẻ lưỡng lự nhưng không dám cãi. Tôi quyết định đánh bom theo trục Tây Bắc xuống Đông Nam, nghĩa là đốt diện với tiền quân.
    Một chiến thuật hoàn toàn sai nguyên tắc, rất nguy hiểm cho quân bạn. Mục đích của tôi là muốn lấy gạch đất của thành để lấp hào sâu, làm bàn đạp xung phong vào thành. Chiếc khu trục đầu tiên nhào xuống, 2 quả bom rời cánh phi cơ, tất cả đều cúi sát mặt đất, nón sắt che đầu. Rồi chiếc thứ hai lao xuống, thêm 2 quả nữa nổ long trời lỡ đất, cát bụi tung phủ cả bầu trời………
    Khi ngẩng đầu lên nhìn trong đám bụi mờ, tôi thấy cả một niềm vui, tôi vổ vai Hồ Tường:

    - “Thành đã bị vỡ, chuẩn bị xung phong!”
    Sau khi gọi pháo binh, đầu nổ chụp lẫn chạm nổ, sau đó là 20 tràng đạn khói phủ ngập mục tiêu. Tôi ra lệnh 2 trung đội đầu bỏ balô tại chổ, một người cầm lựu đạn, một người cấm súng vượt nhanh qua hào sâu, bám chặt vào góc Cổ Thành đã bị vở. Nhờ đất đổ xuống lấp mặt nước hơi cạn, lợi dụng màn khói bao phủ, nên tiền quân vượt qua tương đối dễ dàng. Khi màn khói vừa tan, địch quân bắt đầu trả đủa dữ dội. Nặng nhất là hai lô cốt ở mặt tiền và giữa sân cột cờ Tiểu khu, địch còn ngoan cố trong hầm hố bắn trả rất mạnh. Tôi tung thêm vào thành một trung đội, bung rộng đội hình vừa đào hầm hố, vừa chống cự.
    Phi cơ quan sát L19 bao vùng báo tôi biết địch từ phía Bắc sông Thạch Hãn tràn qua như kiến! Tôi một mặt xin pháo binh yểm trợ, một mặt xin tiếp phi tuần oanh kích.
    Trong giờ phút dầu sôi lửa bỏng như thế, thình lình một tai họa xảy đến. Một quả đạn cối 82 ly nổ ngay hầm chỉ huy. Nói là “hầm” chứ thật ra chỉ là một ụ ẩn nấp sơ sài, trước mặt đường là hào sâu vì tôi muốn dễ quan sát tiền quân. Hồ Tường máu me đầy người, 3 hiệu thính viên: một chết, hai bị thương nặng. Riêng tôi cảm thấy cánh tay trái trĩu nặng, máu đào đã thấm ướt chinh y. Tôi cho gọi Thượng sĩ Trực lên tải thương và y tá băng bó tạm vết thương. Còn một tay vẫn còn xử dụng được Combiné. Lúc đó tôi đã là người say máu.
    Gọi máy báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn để nhận được lời khiển trách của 101:

    - “Căn dặn anh nhiều lần, đừng chụm hai bộ chỉ huy lại một chỗ, không nghe!”
    Thiếu tá Lê Hữu Chí B3 vẫn còn đùa cợt trong máy:
    - “Xử dụng Độc Cô cửu kiếm đi Lệnh Hồ đại ca!”
    Đôi lúc danh hiệu truyền tin của tôi là “Lệnh Hồ Xung”, với tình trạng này dù có 10 thành Cửu dương thần công, hay độc cô cửu kiếm cũng đành bó tay!
    Tôi cho củng cố, phối trí lại lực lượng. Hai Đại đội 51 và 52 nhập lại thành một. Bung 51 và Đinh Viết Trinh lên bên trái. Bên phải sát bờ sông Thạch Hãn, hối thúc 2 Đại đội 81 Biệt kích tiến lên giữ cạnh sườn. Nhưng vì sức kháng cự của địch quá mạnh nên cánh quân này bị dậm chân tại chỗ.
    Đã kéo về được 3 xác của toán Quyết tử: Hồ Khang bị chặt làm 3 khúc nhận ra được vì anh đeo thẻ bài dưới chân, Hồ Con gục ngã, Lê Văn Lịch bị bắn ngay giữa đầu……..số còn lại bị thất lạc.

    Ra lệnh cho các trung đội trong thành củng cố hầm hố, tôi quyết định cho dựng Quốc Kỳ lên lần thứ hai. Cờ vàng ba sọc đỏ là mối thù không đội trời chung của Cộng sản, cho nên vừa thấy lá Cờ tung bay là chúng khai hỏa dữ dội, nặng nhất còn ở giữa cột cờ Tiểu khu Quảng Trị. Hai khẩu 12 ly 8 ở lô cốt mặt tiền hạ nòng bắn xối xả, B40, B41, AK47 châu thẳng vào cột cờ. Quân ta cũng chống trả quyết liệt với quyết tâm giữ vững ngọn cờ!
    Tôi gọi L19 lên bao vùng và quyết định dùng bom đánh thẳng vào cột cờ Tiểu khu. Danh hiệu của L19 bấy giờ là Phi Long (nếu tôi nhớ không lầm).

    - Phi Long, Phi Long đây! 501 gọi, nghe rõ trả lời!
    - Phi Long tôi nghe.
    - Anh có nhìn thấy lá Quốc Kỳ ở góc Đông Nam Cổ Thành không?
    - OK, đã nhìn thấy rỏ!
    - Tôi đang ở đó. Anh cho đánh từ lá Cờ về hướng Tây Bắc từ 100 đến 150m, nhận rõ trả lời.
    - Nhận rõ 5/5.
    - Lưu ý anh là phòng không địch rất mạnh. Hỏa tiển SA7 và 37 ly đang chào đón các anh.
    Lưu ý dùm fighter đánh trên đầu khói, vì khói đang bay dạt về hướng tôi.
    - Đã nhận rõ, tôi sẽ gọi phi tuần đến ngay!
    Khoảng 10 phút sau, 2 chiếc A37 bán phản lực vào vùng, bay lượn xung quanh và chờ L19 chỉ điểm. L19 bay quá cao để tránh phòng không nên khi lao xuống bắn khói chỉ điểm không được chính xác, hơn nữa cụm khói đang từ từ theo chiều gió bay đến chúng tôi…
    Tôi vừa bấm máy gọi Phi Long thì chiếc A37 đã đầu tiên lao xuống, 2 quả bom rơi xuống ngay trung đội đầu.
    Tôi thất thanh la lớn: “Check fire ngay lập tức!”
    Nhưng sát theo sau là chiếc thứ hai lao xuống, 2 quả nữa chấn động cả vùng. Tôi ra lệnh tung khói màu và gọi “check fire”.
    Đã trễ rồi! “Phi cơ đã đánh lầm chúng tôi rồi!”
    Tôi cảm thấy lồng ngực ê ẩm, tay chân nặng trĩu. Cả một bầu trời sụp đổ thê lương. Hơn phân nửa của 3 trung đội đầu gần như tê liệt. Nhìn binh sĩ lần lượt tải thương, dìu nhau trở lại mà lòng tôi tê cứng. Tại sao? Định mệnh nghiệt ngã hay số trời?
    Tôi rút máy hình chữ nhật ra định tiêu hủy mục tiêu, lưỡng lự…..lại thôi! Rút colt 45 ra định kết liễu đời mình để đi theo chiến hữu, nhưng đệ tử xung quanh ngăn cản.

    Sau khi báo cáo về Bộ Chỉ Huy, tôi kiểm soát lại binh sĩ, tạm bố trí chờ lệnh. Chiều hôm đó, Trung Tá Hiếu cho Thiếu Tá Bùi Quyền lên thay và cho tôi về dưỡng thương. Nhưng tôi biết rõ, nếu tôi về đêm nay và nếu lỡ bị địch tấn công coi như tan rã. Tôi cần ở lại và quyết định từ chối tải thương.
    Thiếu tá Bùi Quyền cho biết lệnh ngày mai bàn giao Cổ Thành lại cho Thủy Quân Lục Chiến để nhận nhiệm vụ khác. Tôi không cần thắc mắc, vì thật ra tôi chỉ còn là một cái xác không hồn, đau thương, uất nghẹn…..

    Chỉ vì Cổ Thành Quảng trị, chỉ vì lá Quốc Kỳ, mà biết bao nhiêu chiến binh Mũ Đỏ đã bị thương và nằm xuống nhẹ nhàng và hãnh diện.
    Sáng hôm sau, 27/7/1972, bàn giao vùng trách nhiệm lại cho TQLC trong màn khói bao phủ để tránh địch quân quan sát, pháo kích và tấn công. Địa điểm đầu tiên cách bờ thành chưa đầy 100m, nằm trong tầm đạn của quân thù.
    Sau ngày 27/7/1972, chiến thuật và sự điều binh của TQLC tôi hoàn toàn không rõ.

    Thay lời kết:

    Tôi muốn nói: “Nhảy Dù” đã đánh và đã vào Cổ Thành Quảng Trị như thế đó. Vào bằng tất cả hỏa lực và máu xương. Vào bằng tất cả quyết tâm của tuổi trẻ hiến dâng cho Tổ Quốc, cho dân tộc. Quyết tâm dựng lại cho bằng được lá Quốc Kỳ.
    Nhưng than ôi: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Bây giờ, đã 37 năm trôi qua, trong lúc TQLC chuẩn bị làm Lễ Chiến thắng Cổ thành Quảng Trị thì cũng có một người đang âm thầm làm giỗ tưởng niệm các đệ tử thân thương của mình, cho dù đơn giản với một vài nén hương, một vài đóa hoa hay đôi dòng thương nhớ để nói lên sự hy sinh, lòng dũng cảm và hào hùng của những “thiên thần Mũ Đõ” trong trận chiến Cổ Thành.
    Hồ Khang, Hồ Con, Trần Tâm…..quê hương tôi nghèo, tên tôi không chữ lót, nhưng họ mới thật sự là những anh hùng.
    Một Đỗ Từ Long, đầu không bao giờ mọc tóc vì ba gai thành phố, nhưng đánh giặc thì lì lợm mấy ai bằng. Chạy lên chạy xuống xin lựu đạn để gục ngã trên hố quân thù. Ngày nào nó cũng nghêu ngao:

    “Tóc em dài em cài hoa Thiên lý,
    Tóc anh dài, Thượng sĩ cạo đầu anh….”

    Còn nhiều và rất nhiều nữa, Thượng sĩ già Nguyễn Văn Trực, Hậu, Lịch, Tống, Kình….tất cả đã cùng tôi dầm sương dãi nắng, qua bao nhiêu hiểm nguy binh lửa, mà phút chốc đã bỏ tôi nằm đây bất động…….
    Còn 52, còn Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, Đại đội 2 Trinh sát, Biệt kích 81 Dù, bao nhiêu người nằm xuống?!

    Lịch sử có ghi, xin hãy ghi dùm, HỌ mới đích thực là anh hùng. Chưa bao giờ họ được hưởng bổng lộc, chưa bao giờ được thấy vinh quang dù chỉ trong chớp mắt nhìn được Cờ vàng 3 sọc đỏ tung bay trên Cổ Thành Quảng trị, cho dù một phút giây, cho dù giữ không nổi, nhưng họ đã cho đó là sứ mệnh thiêng liêng của người lính VNCH, của chiến binh Mũ Đỏ.
    Hãy chờ tôi các em nhé! Cho dù sớm hay muộn, cho dù con đường có ngắn hay dài, tôi cũng sẽ gặp lại các em ở một nơi xa xăm nào đó, để cùng nhau nâng chén rượu đoàn viên:
    “Xin cho tôi một mộ phần,
    Bên ngàn chiến hữu của tôi.”

    Sydney, mùa đông 2009
    Trương Đăng Sỹ

    Hy v
    ọng NT Sỹ không phiền khi đem bài viết vđây.

  10. #10
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,520
    Quote Originally Posted by HaiViet View Post
    Anh hoài vọng và anh NGOC HAN trí nhớ còn tốt quá.
    Phải nhớ chứ , anh HaiViet ! nó quay vòng vòng ngay trên đầu ...sợ nó rớt u đầu


    Quote Originally Posted by NGOC HAN View Post
    Nhảy Dù và Cổ Thành Đinh Công Tráng
    “Xin cho tôi một mộ phần,
    Bên ngàn chiến hữu của tôi.”

    Sydney, mùa đông 2009
    Trương Đăng Sỹ

    Hy v
    ọng NT Sỹ không phiền khi đem bài viết vđây.
    Tôi đã xem bài này rồi , NT Trương Đăng Sỹ muốn nói đến người cắm cờ đầu tiên ở Cổ Thành thuộc TD5ND chỉ để tưởng nhớ toán cảm tử ....sau này , TQLC tràn vào Cổ Thành cũng chết khoảng hai ngàn người ...nói chung , tổn thất ND và TQLC cao hơn Hạ Lào .


    Uống đi mày ….ông già chống gậy
    Không ngon bằng , cô nhắc , uýt ky
    Uống đi mày …nhớ chiều Quảng Trị
    Lệnh Đích Thân…..lập toán Kinh Kha (*)
    Kinh Kha này chẳng qua sông Dịch
    Kinh Kha này ngạo nghễ cờ vàng

    ....m
    ấy câu ngớ ngẩn chưa có tên viết năm 2011
    Last edited by hoài vọng; 11-04-2016 at 08:13 PM.

 

 

Similar Threads

  1. Mỗi trang là một bài thơ
    By sôngthương in forum Chuyện Linh Tinh
    Replies: 2
    Last Post: 01-26-2016, 11:32 PM
  2. sang trang
    By n.c in forum Tùy Bút
    Replies: 5
    Last Post: 10-19-2014, 08:39 AM
  3. xin cho hỏi về trang...
    By visabelle in forum Làm Quen/Nhắn Tin/Hỏi Đáp
    Replies: 2
    Last Post: 04-04-2013, 01:34 AM
  4. Tỉa trái cây trang trí
    By lolem in forum Gia Chánh
    Replies: 1
    Last Post: 02-16-2013, 09:59 PM
  5. Sang trang
    By Hill in forum Không Gian Riêng
    Replies: 5
    Last Post: 06-03-2012, 03:09 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 06:03 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh