Register
Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 28
  1. #1
    Biệt Thự thuykhanh's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,083

    Uwe Siemon-Netto và chiến tranh Việt Nam

    ***

    Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

    Tác giả: BS Hoàng thị Mỹ Lâm
    Nguồn: Việt Báo




    UWE Siemon - Netto, phóng viên chiến trường trong trận tấn công Tết Mậu thân (1969) Huế, Nam Việt Nam

    Cuốn sách nguyên bản dày 306 trang với tựa đề “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam.
    Warum die Falschen siegten “, đã từng được các dịch giả Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền dịch lại với
    tựa đề “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi“,
    do chính tác giả Uwe Siemon-Netto trong dịp đến Berlin nói chuyện với Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam
    ký tặng đề ngày 23.03.2014, được trân trọng để riêng trong tủ sách quý gia đình từ bấy lâu nay.

    Mỗi lần lấy sách ra đọc lại tôi vẫn cảm thấy xúc động trước sự đồng cảm, sự trân trọng quý mến
    dân tộc Việt Nam bị tổn thương và phản bội trong dư luận quốc tế.
    Tuy bản dịch tiếng Việt rất công phu nhưng nguyên bản mới diễn tả được sự điêu luyện sắc sảo
    trong lời văn ngôn từ và kỹ năng của người viết. Thoạt nhìn hình bìa thì ai cũng tưởng đó chỉ là
    một cuốn sách viết về một đề tài chiến tranh khô khan, nhưng khi đọc người ta mới cảm nhận
    được sự thật kinh hoàng của chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của một Phóng Viên Chiến Trường
    có lương tâm nghề nghiệp và sự ấm áp tình người của một người từng đồng hành đồng khổ với
    người Việt miền Nam trong trận chiến đó.

    Ông Siemon-Netto là người Đức, sanh ngày 25.10.1936 và có một thời thơ ấu hồn nhiên ở Leipzig.
    Thân mẫu của ông là một Ca Sĩ Hợp Xướng sau này sống ở Frankfurt.

    Ông khởi nghiệp làm Phóng Viên Hải Ngoại ở Luân Đôn cho hãng truyền thông Đức Axel-Springer.
    Tại đây ông gặp người bạn đời Gillian vào năm 1962, một cô gái người Anh vừa đẹp tính lại vừa
    đẹp người. Hai người đã làm đám cưới vào cuối năm đó khi ông vừa 26 tuổi.

    Ngay sau đám cưới ông được hãng thuyên chuyển sang New York làm Phóng viên chuyên về
    phóng sự chính trị tại Liên Hiệp Quốc. Ba năm sau, đầu năm 1965, ông đặt chân lần đầu đến
    Saigon với nhiệm vụ Phóng Viên chiến trường cho Axel Springer và tiếp tục ở đây đến cuối năm 1969.

    Cuốn sách ”Duc, der Deutsche“ là một hồi ký, là những mảng ký ức sống động được chép lại năm
    2014 khi ông đã trở thành một Nhà Thần Học Tin Lành. Cũng nên nhắc lại là sau khi bỏ nghiệp
    nhà báo, ông Siemon-Netto đã theo học về Thần Học và chuyển sang làm nghề Chăm Sóc
    Tâm Linh cho các Cựu Chiến Binh đã tham chiến ở Việt Nam tại Hoa Kỳ.
    Năm 1992 ông trình Luận Án Tiến Sĩ về Thần Học và Xã Hội Tôn Giáo tại Đại Học Boston.

    Xuyên suốt cuốn sách có một câu tuyên bố của Đại Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp
    được Siemon-Netto nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “kẻ thù (nghĩa là kẻ Phương Tây )... không có khả
    năng về tâm lý và chính trị để chịu đựng một cuộc chiến tranh trường kỳ “, và đó cũng là cái cốt
    lõi và phương châm của Cộng Sản Việt Nam để liên tục khiêu chiến và duy trì cuộc chiến kinh hoàng
    với mục đích tối hậu là áp đặt chế độ Cộng Sản lên toàn cõi Việt Nam.

    Siemon-Netto đã chỉ trích nặng lời gíới chính trị Phương Tây là đã bỏ qua lời khuyên của
    Sir Robert G.K. Thompson, một chuyên viên người Anh về Chiến Tranh Du Kích đã rời Việt Nam
    vào năm 1965 vì Cơ Quan Tư Vấn của ông bị đóng cửa. Theo chiến thuật của Sir Thompson thì
    chính việc loại bỏ những tên Cộng Sản Nằm Vùng quan trọng hơn là việc diệt trừ những tên
    Cộng Sản Du Kích trong rừng sâu. Phương thức “Clear and hold “là làm sạch mầm móng Cộng Sản
    nằm vùng (clear) thì dân chúng địa phương tại đó sẽ đứng về phe chính phủ (hold ).

    Một hệ thống Cảnh Sát và Tình Báo hữu hiệu là yếu tố quyết định cho sự thành công của
    chiến thuật này. Trong chương 3 Siemon-Netto nêu lên sự thành công của một Ấp Chiến lược
    năm 1965 của Đại Úy Ngữ ở làng Long Khốt, cách Saigon 137km về hướng tây gần biên giới
    Căm Bốt, hình thành đúng theo chiến thuật Thompson với lực lượng Nhân Dân Tự Vệ bén nhạy
    và ông đã tỏ lòng hết sức kính phục vị Đại Úy Việt Nam này.

    Sự bỏ qua chiến lược này đã đưa đến những cái chết thảm thương của những người quốc gia
    chân chính sinh sống nơi xa xôi. Trong chương 5 Siemon Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng
    của một gia đình Xã Trưởng gồm 14 người bị du kích Việt Cộng hành hình ở vùng Tây Nguyên
    xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa cho ai không theo Cộng: họ từ từ giết cháu nhỏ
    nhất trước rồi tới các cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng ; sự kinh hoàng không ngừng ở
    đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng bằng cách cắt lưỡi rồi cắt bộ phận sinh dục nhét
    vào miệng trước khi treo cổ ; các người con trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi
    bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻo vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực
    hiện như người ta thi hành một bản án thường nhật.

    Trong một chương khác Siemon Netto nhắc lại ánh mắt căm thù sắt máu của những bộ đội
    Bắc việt đối với bà Monika Schwinn, một nữ Y Tá người Tây Đức bị bắt khi đang phục vụ tai
    Việt nam trong chương trình nhân đạo của Malteser , trên đường dẫn độ ra Bắc trên con đường
    mòn Hồ Chí Minh.

    Là một nhà Thần Học ông biết lòng căm thù và thú tính giết ngừơi không phải tự trời sanh ra.
    Sự căm thù cũng như thú tính giết người này phải được gieo vào tim vào óc những binh sĩ trẻ
    Bắc việt với một khuôn phép giáo dục đặc biệt mà chỉ có dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị.

    Trong chương 8 ông nhắc lại bài báo “Đồng cỏ nhuộm đỏ“ của mình đăng trên Die Welt
    ngày 13.12.1965 mô tả hiện trường sau một cuộc giao tranh ác liệt giữa Quân Đội Bắc Việt
    và Quân Đội Hoa Kỳ. Hàng trăm xác chết Việt Cộng phơi thây máu nhuộm đỏ cả bãi cỏ voi
    cao cả mét. Quân nhân Hoa Kỳ tử trận hay bị thương đã được di tản bằng máy bay trực thăng.
    Khi khám nghiệm hiện vật trong túi áo quần và ba-lô các tử thi Bộ Đội người ta mới phát giác
    được nhiều tử thi chỉ mới 15 tuổi. Trong ba lô chứa những bộ quần áo sạch xếp ngay ngắn
    hình như từ bàn tay của những người mẹ từ Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội; có một số ba-lô
    dấu những tờ truyền đơn kêu gọi hồi chánh của Miền Nam. Sau khi kiểm soát người ta thấy
    có đến một phần tư các binh sĩ trẻ em mang tờ truyền đơn này trong người để chuẩn bị cơ hội
    đầu hàng; nhưng cơ hội lớn của các em không dễ tìm, vì chỉ cần một động thái khả nghi là
    các em sẽ bị đồng đội bắn ngay vào lưng.

    Ngược lại Siemon-Netto cho người đọc thấy hình ảnh của những anh chàng GIs. Họ là những
    thanh niên còn quá trẻ để được phép uống bia rượu, nhưng đủ già dặn để đi quân dịch đem
    mạng sống giao cho rừng thẳm xa xôi. Phần lớn họ chỉ vừa đúng 18 tuổi và phải làm nhiệm vụ
    công dân.
    Những thanh niên này ngoài chút kiến thức căn bản về vũ khí chiến thuật, họ không được chuẩn
    bị tâm lý để đối phó với những sự tàn độc của quỷ dữ. Trong một cuộc hành quân chung ở An Khê
    ông đã chứng kiến một cái chết của một thanh niên Hoa Kỳ 17 tuổi, viên đạn Kalaschnikow kẹt
    trong lá phổi của anh ta, anh ta nằm trong cơn hấp hối như một đứa trẻ thơ, anh ta gọi mẹ rồi kêu
    trời. Đó là một trong nhiều cái chết của những người lính trẻ mà Siemon-Netto đã chứng kiến.
    Trước khi chết họ thường gọi mẹ và kêu trời và phần lớn là theo thứ tự đó.

    Sự tàn ác sâu độc của Việt Cộng còn được kể lại trong trận đánh tái chiếm Huế sau tết Mậu Thân.
    Khi những tay súng Việt Cộng nấp sau các cửa sổ phía bên bờ bắc sông Hương nã súng liên tục
    vào đoàn quân trong đó có Siemon-Netto đi theo, một binh sĩ Hoa Kỳ đã ném được một quả lựu đạn
    lọt qua một trong những cửa sổ ấy. Lựu đạn nổ. Tất cả trở thành im lặng. Đoàn quân reo vui vì nghĩ
    là đã đã hủy được mục tiêu. Nhưng cánh cửa chính bỗng bật mở, một người đàn bà trẻ bước ra,
    tay giơ lên xác một đứa trẻ đẫm máu. Anh chàng quăng lựu đạn hồi nãy chợt lên cơn khủng hoảng:
    ”Trời ơi, tôi đã làm gì ? tôi đã giết một đứa trẻ. Trời hãy cứu tôi, trời ơi, trời ơi.. “anh ta quay cuồng,
    trong khi lính Bắc Việt từ những cửa sổ khác tiếp tục nã đạn vào phía chúng tôi.
    Ngừơi Trung Đội Trưởng phải dùng sức đè anh lính xuống và sau đó cho anh rút ra khỏi vòng chiến.
    Người binh sĩ này đã bị hủy hoại linh hồn và có thể bị tổn thương tâm linh vĩnh viễn.

    Trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đó Siemon –Netto đã phân tích sự độc ác một cách khách quan là:
    trong khi Bắc Việt xem việc giết người là một một nhiệm vụ thi hành một chỉ đạo một quyết định tối
    hậu của nhà cầm quyền, kẻ giết người được ân thưởng tuyên dương công trạng. Còn người Mỹ
    xem chuyện giết người, điển hình là vụ Mỹ Lai, là một vi phạm pháp luật phải được nghiêm minh
    xét xử trước tòa án. Nhiều nhà báo quốc tế đã vô tình hoặc cố ý bỏ qua sự khác biệt về căn bản
    đạo đức này, khiến cho nhiều binh sĩ Hoa Kỳ khi giải ngũ về nước bị công dân Hoa Kỳ sỉ vả và bị
    làm tổn thương tinh thần trong suốt cuộc đời.

    Siemon-Netto cũng phân tích tại sao chế độ Dân Chủ không đủ sức chịu đựng áp lực tâm lý và
    chính trị để chống lại cuộc chiến Partisan như Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố. Nguyên do là chỉ vì
    nền Dân Chủ khác với Độc Tài ở điểm Hệ thống Dân Chủ lệ thuộc vào Cử Tri. Nhưng ai là kẻ đem
    tin tức đến Cử Tri. Chính là giới truyền thông. Và khi giới truyền thông loan truyền là sự kiên trì
    trong cuộc chiến tranh vũ khí không xứng đáng để kéo dài vì người được bảo vệ không đáng được
    bảo vệ. Như vậy là cuộc chiến phải chấm dứt, nếu cần thì thua thiệt cũng phải chấp nhận.

    Thế là Giáp thắng cuộc !
    Siemon-Netto lên án cực liệt giới truyền thông thuộc lớp trẻ, dưới ảnh hưởng của phong trào
    Hiện Sinh thập kỷ 1960, đã bóp méo hình ảnh chiến tranh Việt Nam đúng theo sự mong đợi
    như lời tuyên bố của Giáp: “Chiến tranh Việt Nam sẽ được đưa tới tận phòng khách từng nhà
    mỗi gia đình Mỹ“.
    Giáp khẳng định: “giới truyền thông Mỹ sẽ là một yếu tố quyết định trong sự
    thắng thế của Bắc Việt”.
    Điển hình là cảnh một đoàn quay phim ba người của một đài truyền
    hình Hoa Kỳ đứng bên cạnh một ngôi mộ tập thể ở Huế. Ngôi mộ này vừa mới được phát hiện
    sau trận đánh Mậu Thân. Tìm ra do những ngón tay còn sơn móng đỏ giơ ra khỏi mặt đất của
    những người đàn bà đã bị chôn sống khi đang cố bươi cào ra khỏi hố đất.
    Đoàn quay phim đứng hờ hững bên cạnh mộ và không có ý quay phim. Có người hỏi tại sao,
    thì họ trả lời: “Chúng tôi không đến đây để quay phim tuyên truyền chống Cộng Sản !!“.
    Nhắc về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Siemon-Netto trách đám nhà báo đồng nghiệp chỉ luôn
    đi theo hành quân với quân đội Hoa Kỳ hoặc quân đội Đồng Minh và gửi những hình của các
    Quân nhân này ra quốc tế, mà quên hẳn đi hàng quân tinh nhuệ đã bảo vệ quê hương họ cho
    tới những giờ phút cuối cùng trước khi mất Saigon ngày 30.4.1975.

    Ông ca ngợi những gương anh hùng quân đội: Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam,
    Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú.. là những nhân vật mà ông đã từng gặp trên đường nghiệp vụ và
    giờ đây họ đã đi vào lịch sử.
    Siemon-Netto yêu thương từ đứa trẻ bụi đời trên đường phố, đến thân phận những người đàn bà
    trong chiến tranh…Trong cuốn sách còn chứa đựng rất nhiều, về con người văn hóa lịch sử
    Việt Nam, về cái chết của vợ chồng Bác Sĩ người Đức Krainik và hai đồng nghiệp của họ:
    Alois Alteköster, Raimund Discher trong vụ tàn sát Mậu Thân Huế.

    Trong vài hàng giới thiệu này tôi không thể mang tất cả chi tiết trung thực và đứng đắn trong
    cuốn sách của Siemon-Netto, người mang sứ mạng cao cả của Nhà Báo và của nhà Thần Học
    để trải lòng viết ra cuốn sách có giá trị lịch sử này. Tôi thiết nghĩ và cầu mong cuốn sách này
    sẽ là cuốn sách kinh điển để lại cho thế hệ mai sau một cái nhìn trung thực và có lương tâm
    về cuộc chiến Việt Nam. Các bậc phụ huynh của những thế hệ sanh sau cuộc chiến hãy khuyến
    khích con cháu tìm đọc cuốn sách này để hiểu chính xác về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách
    được chính tay tác giả viết bằng hai thứ tiếng:
    tiếng Đức như đã nêu từ đầu: “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten"
    và tiếng Anh đã được xuất bản lần thứ hai là: “Triumph of the Absurd”
    Mong lắm thay!!!

    BS Hoàng Thị Mỹ Lâm
    Berlin, 27.11.2016

    Last edited by thuykhanh; 01-11-2017 at 05:55 PM. Reason: Sửa lại trình bày cho dễ đọc.

  2. #2
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    20,449
    Cuo^'n na`y di.ch ra tie^'ng Anh, Amazon ba'n co' 20 ddo^ My~ ha`. Co`n mua be^n na`y thi` 16 euro. Ai co' Kindle mua ebook co' 5 ddo^`ng ha`.

    ====> https://www.amazon.com/Triumph-Absur.../dp/194550000X

    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  3. #3
    Biệt Thự thuykhanh's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,083
    Quote Originally Posted by Triển View Post
    Cuốn này dịch ra tiếng Anh, Amazon bán có 20 đô Mỹ hà. Còn mua bên này thi` 16 euro. Ai có Kindle mua ebook có 5 đồng ha`.

    ====> https://www.amazon.com/Triumph-Absur.../dp/194550000X


    Hôm qua tk đặt rồi, anh Triển.
    Họ cho biết sách sẽ đến trong hai ngày.

  4. #4
    Biệt Thự thuykhanh's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,083
    tk mời Phố đọc:

    ĐỨC: TÁI BẢN Lần Thứ Hai


    VINH QUANG của sự PHI LÝ

    Iwe Siemon_Netto
    Bản dịch của Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền

    Lời giới thiệu của Ban Biên Tập

    Cuốn hồi ký của tác giả Uwe Siemon-Netto, nguyên phóng viên chiến trường tại Việt Nam trong các năm 1969-1972 hiện nay đã được tái bản lần thứ hai và được dịch và phát hành tại Âu Châu bằng tiếng Đức và tiếng Pháp.
    Được sự úy thác của tác giả, chúng tôi đã hoàn tất bản dịch tiếng Việt và hiện được bày bán tại: Amazon.com

    Trong thời gian gần đây, cuốn sách này đã được tái bản lần thứ hai (third edition) và được nhà xuất bản New Reformation Publications phát hành. Trong đợt tái bản này có nhiều bổ túc và sửa chữa, nhất là trong phần mở đầu. Được sự yêu cầu của NRP, chúng tôi đã dịch thêm những đoạn bổ túc và hiệu đính lại. NRP đã ngỏ ý xin phát hành bản tiếng Việt song song với bản tiếng Anh qua mạng lưới của họ.
    Các phiên bản tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức đều có bán trên Amazon.com.

    Chúng tôi nhận xét có lẽ lần đầu tiên cuộc chiến Việt Nam đã được giải nghĩa qua lăng kính một nhà thần học thành
    thử đã mang một giá trị đặc biệt và chứa đựng một thông điệp cao hơn nữa. Xin trân trọng giới thiệu với các độc giả
    phần mở đầu của "Vinh Quang của sự Phi Lý: Tình yêu của một hóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi"

    Mở Đầu (nguyên tác tiếng Anh)

    Đức: Vinh quang của sự Phi Lý

    Bốn mươi năm trước, sự phi lý đã ca khúc khải hoàn tại miền Nam Việt Nam. Vào ngày 30 tháng tư 1975, phía sai trái đã thôn tính cái đất nước đầy thương đau này. Bọn Cộng Sản đã không đạt được thắng lợi do nắm chính nghĩa, như đám xu nịnh trong thế giới phương Tây vẫn thường làm chúng ta lầm tưởng. Họ đã đè bẹp miền Nam bằng sự tra tấn, bằng thảm sát hàng loạt và những hành vi khủng bố tồi tệ với ý đồ chiến lược thản nhiên, bất chấp công pháp quốc tế.
    Tôi đang sống tại Paris lúc các chiến xa Cộng quân húc đổ cổng Dinh Độc Lập tại Sài Gòn. Trong lúc đang theo dõi sự kiện này trên màn ảnh truyền hình, tôi đã tự nhủ: làm sao mà họ có thể nắm thế thượng phong được sau các cuộc thất bại rõ ràng về quân sự mà tôi đã từng chứng kiến với tư cách một phóng viên chiến trường trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 tại Huế?

    Câu trả lời có thể tìm thấy trong câu tiên đoán nham hiểm của tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bắc Việt rằng: "Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây)... không có được những phương tiện tâm lý và chính trị để theo đuổi một cuộc chiến dai dẳng." Trong lúc bình luận về sự thất thủ của Sài Gòn, Adelbert Weinstein, một chuyên viên quân sự xuất sắc của tờ báo Đức nổi tiếng Frankfurter Allgemeine Zeitung đã tóm tắt lý do thắng cuộc của chế độ toàn trị này bằng một câu ngắn gọn đầy bi thảm là: "Nước Mỹ đã không thể chờ đợi được."

    Những lời tiên tri của Võ Nguyên Giáp và tĩnh từ "Phi Lý" sẽ xuất hiện nhiều lần trong các chương của quyển sách này.
    Đó chính là chủ đề được lặp đi lặp lại nhằm nhắc nhở quý độc giả tại sao mãi bốn thập niên sau tôi mới viết cuốn hồi ký
    về năm năm tôi đã sống tại Việt Nam. Tôi mong là nét chủ đạo này sẽ chiếu sáng xuyên qua đống táp nham của niềm vui hay của nỗi buồn, điều luyến ái cũng như sự tàn phá trong các chương tôi đã kể ra.
    Chủ đề thứ hai không kém phần quan trọng nằm đằng sau những mẩu hồi ức này là sự bộc lộ niềm thương yêu của tôi
    đối với dân tộc miền Nam Việt Nam nhiều đau thương, đã từng bị phản bội và bị bỏ rơi mà một số tác giả của nhiều cuốn sách khác viết về cuộc chiến này đã gán cho một vai trò phụ thuộc một cách đầy ngạo mạn và phi lý.

    Đây cũng là lý do tại sao tôi đã đặt tựa lại cho đợt tái bản cuốn hồi ký này là "Vinh Quang của sự Phi Lý," để thay thế cái tựa ban đầu là "Đức." Nhưng tôi muốn khẳng định rằng có ba lý do để cái tựa đầu tiên vẫn luôn nằm trong tâm trí tôi:

    1. Đức là tiếng Việt chỉ về người Đức (hay nước Đức) và nói cho cùng đây là những hồi ức của một phóng viên chiến trường người Đức.
    2. Đức là biệt danh mà các bạn người Việt đã đặt cho tôi khi tôi sống chung với họ.
    3. Đức là tên của hai nhân vật chính, một là đứa trẻ chăn trâu tại miền Trung và người kia là anh chàng bụi đời tinh quái mà tôi đã kết bạn tại Sài Gòn.

    Đức, anh chàng tôi vừa nói, người mà tôi muốn đề cập trong phần mở đầu này, là một thủ lãnh vóc dáng mảnh khảnh của một băng trẻ bụi đời vẫn thường lang thang trên vỉa hè nơi góc đường Tự Do "của tôi" tại Sài Gòn. Chúng tôi gặp nhau vào năm 1965 khi con đường Tự Do, hoặc Catinat cũ, còn mang dấu vết quyến rũ của thời thực dân Pháp với hàng me xanh tươi rậm rạp mà sau này là nạn nhân do khói thải của hàng chục ngàn chiếc xe gắn máy động cơ hai thì, và của những chiếc xe hơi cổ lỗ sĩ như chiếc Citroen màu xám đời 1938 "15 mã lực traction avant" của tôi, "chiếc xe của tụi băng đảng" trong những phim Pháp cổ điển. Chiếc xe này gần bằng tuổi tôi, một tấn khối thanh lịch trên bánh xe - và luôn luôn khát xăng; nó cho tôi tối đa được 8 dặm mỗi ga-lông xăng. Đó là nếu bình xăng không bị rò rỉ, một điều mà anh thợ máy của tôi vẫn thường giải quyết mau mắn bằng cách trét kín lại với miếng kẹo cao su Wrigley ẩm ướt móc từ trong miệng ra.

    Như quý vị sẽ thấy liền bây giờ, tình bạn giữa tôi với Đức và tình yêu của tôi dành cho chiếc xe được gắn bền chặt với nhau. Sự thật, chiếc xe cũng không hẳn là của tôi. Tôi đã thuê nó từ Josyane, một cô gái người Pháp khả ái nguyên là người được hãng cho thuê xe Hertz nhường quyền kinh doanh. Sau này tôi khám phá ra cô ta đồng thời cũng là gián điệp của một nhóm tình báo Tây Âu, trong đó có BND, một cơ quan Đức tương đương với CIA của Mỹ.
    Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao Josyane hay lén lút lục lọi những bản thảo trên bàn giấy của tôi mỗi lần cùng bạn bè đến
    dự những buổi "trà dư tửu hậu" tại căn suite số 214 của khách sạn Continental Palace nơi tôi trú ngụ. Tôi đã mơ mộng phải chăng cô ta mê cái mã Đức trẻ trung thanh mảnh và những ly rượu mạnh Dry Martini của tôi? Cô ta không hề lộ ra là cô biết tiếng Đức, thế tại sao cô cứ muốn dán mắt vào những bản viết của tôi, nếu cô không hiểu chúng?
    Giờ thì tôi đã rõ: cô ta là một con ma sói, theo lời viên xếp bộ phận Hòa Lan có lẽ là một trong những người tình của cô. Nhưng thế thì đã sao? Tôi mê cái xe của cô còn cô ta lại mê những ly Martini của tôi mà cô trao cho mọi người với một dáng dấp đáng yêu tuyệt vời. Cô có quyền đọc những bản thảo của tôi bất kỳ lúc nào, vả lại những mẩu tin này cũng để dành cho công chúng ai cũng có thể đọc được.

    Nhưng tâm trí tôi lại tản mạn rồi. Chúng ta hãy cùng trở về với Đức. Em là một đứa bé tinh ranh 12 tuổi đầu với một nụ cười tinh nghịch làm tôi nhớ lại bản thân mình khi đồng tuổi em. Tôi cũng từng là một cậu nhóc trong một thành phố lớn thời chiến. Sự thực tôi không bụi đời như Đức, mặc dù những chiếc phóng pháo cơ Lancasters của Anh quốc và pháo đài bay Mỹ ngày đêm dội bom Leipzig trong những năm cuối cùng của Thế Chiến Thứ Hai đã cố hết sức bắt tôi phải đi theo con đường đó. Giống như Đức, tôi từng là một thằng bé tinh quái thành thị đã vươn lên làm xếp sòng những đứa khác trong xóm.
    Tuy nhiên, Đức có những điểm khác tôi. Em là một đứa trẻ bụi đời có tinh thần trách nhiệm rất cao. Đức trông nom bảo vệ một nhóm trẻ mồ côi nhỏ hơn em sống trên khoảng đường Tự Do giữa đại lộ Lê Lợi và đường Lê Thánh Tôn. Đức báo cáo lại với một phụ nữ trung niên gọi là bà "Má" đóng đô trên lề đường bên ngoài quán La Pagode lừng danh với những món bánh Pháp, điểm hẹn nổi tiếng của đám "trẻ nhung lụa" của Sài Gòn trước thời kỳ Cộng sản. Bà Má là "trùm sò" mạng lưới phân phối báo chí của phần đất đó trong thủ đô. Bà ngồi chễm chệ trước cửa quán La Pagode bao quanh là từng chồng báo chí Anh, Pháp, Việt, Tàu; người Việt rất ham đọc báo. Đức và đám trẻ mồ côi cùng các nhóm lâu la khác được bà giao báo đi phân phối trong các khu vực lân cận.

    Theo những gì tôi nhận xét được, Đức là đàn em đắc lực nhất của bà Má và là xếp sòng giao báo của góc tấp nập nhất trong khu vực của em. Giang sơn của Đức là vỉa hè giữa quán Givral, một tiệm ăn nổi tiếng với món mì Tàu và món súp hành Tây chánh hiệu nhất toàn vùng Đông Nam Á, và cổng ra vào thông qua khu thương xá Eden, hồi đó là nơi đặt trụ sở bộ phận lãnh sự của Tòa Đại Sứ Tây Đức và văn phòng hãng thông tấn Associated Press. Tôi nghĩ tôi là một trong những khách mà Đức ưa thích nhất bởi vì mỗi ngày tôi mua của em tờ Saigon Daily News và tờ Vietnam Guardian, rồi tờ Saigon Post và tờ Journal d'Extrême Orient. Thỉnh thoảng tôi còn để em dụ mua một vài tờ báo tiếng Việt, chẳng phải vì tôi có thể đọc nổi chúng nhưng vì tôi cảm thấy hiếu kỳ bởi những khoảng trống thường xuyên xuất hiện trên những tờ báo đó, trò
    thủ công của nhân viên kiểm duyệt trong chính phủ.

    Trong một buổi chiều muộn khởi đầu của mùa mưa, tôi và Đức đã trở thành bạn hợp tác làm ăn chung. Những đám mây lớn trên bầu trời nhiệt đới vần vũ sắp vỡ tung ra. Những mảng nước đe dọa sẽ giáng xuống tôi với sức mạnh của lưỡi dao máy chém và sắp biến con đường lưu thông chính của thành phố Sài Gòn thành một dòng sông chảy siết. Tội vội vã lái ép chiếc Traction vào một khoảng đậu chật hẹp bên ngoài quán Givral, một bài tập thể dục thật cực nhọc vì chiếc xe với động cơ điều khiển bánh trước không có hệ thống lái trợ lực và chạy bằng động cơ sáu máy đúc gang rất nặng nề. Kiệt sức, tôi tắt máy xe. Đúng lúc tôi đang mơ tưởng đến một chai bia Larue trong sân lộ thiên của khách sạn Continental Palace thì Đức chận tôi lại.

    Cánh cửa chiếc Traction cũ kỹ mở ra phía trước, tức là ngược chiều với tất cả những chiếc xe tối tân hơn. Trong lúc tôi đang cố gắng lách mình ra khỏi xe, Đức đứng trước mặt tôi chỉ vào miếng giấy phép dán nơi kính chắn gió mới được tòa đại sứ cấp sáng hôm đó. Tấm giấy mang màu cờ quốc gia Đức, đen, đỏ và vàng, chứng nhận tôi là "Báo Chí Đức" tức phóng viên người Đức. Điều này nhằm bảo vệ tôi trong trường hợp đụng độ với Việt Cộng chặn đường trong những lần cuối tuần thỉnh thoảng vù đi chơi Cap Saint-Jacques, nay gọi là Vũng Tàu, một khu nghỉ mát ven biển được biết đến như St. Tropez của vùng Viễn Đông. Nó thực sự đã cứu tôi trong những ngày đó. Lần nào đụng nhằm toán tuần tiễu du kích Cộng sản mặc toàn đồ đen, họ đều bắt tôi đóng thuế nhưng cũng cho tôi đi, sau khi cấp cho tôi một biên lai có đóng dấu hẳn hòi.

    "Ông Đức!" Em khoái chí la lên. "Tên tôi là Đức! Cả hai người mình đều là Đức, giống như anh em với nhau!"

    Chúng tôi bắt tay nhau. Bây giờ tôi đã có một thằng em tại Sài Gòn. Sau này tôi học được là câu nhận xét đó còn có một ý nghĩa sâu hơn. Đó là một cách chơi chữ. Đức tiếng Việt còn có nghĩa là Đức hạnh.

    Thiết lập xong mối giao hảo, Đức vẫn chưa cho tôi đi. "Ô-kê, Ô-kê," em nói. "Mưa tới nơi rồi, ông Đức, mưa năm bờ ten." Tôi biết tiếng lóng dân Sài Gòn vừa đủ để hiểu là đứa em mới thân này không ám chỉ đây là cơn mưa thứ "mười." Không, "năm bơ ten" có nghĩa là xấu nhất, các lỗ sụp, những cái gì đó phải tuyệt đối tránh xa.

    "Ô-kê, Ô-kê," Đức tiếp. "Ông Đức, ông năm bờ oăn (số dách). Tôi với ông làm ăn chung nhé, Ô-kê?"
    Sau đó thì em phác họa sự hợp tác giữa chúng tôi: Tôi cho phép em và đám trẻ mồ côi được trú ẩn trong chiếc Traction. Nó sẽ thành chỗ ngủ của họ, và chúng hứa sẽ giữ gìn thật sạch sẽ. Nếu tôi có muốn để lại thứ gì quý giá trong xe, chúng sẽ giữ gìn cẩn thận. Vả lại khóa xe không còn dùng được nữa, điều này Đức đã chứng minh rõ ràng rồi.

    "Ô-kê, Ô-kê, ông Đức?" Em bồn chồn khẩn khoản.

    Tôi gật đầu. Đức liền huýt gió và tức thì có tám đứa bé chạy túa ra từ những cánh cửa chung quanh và chen chúc vào chiếc Traction của tôi. Ba đứa cuộn vào băng sau, hai đứa khác thì nhẩy vào hai cái ghế phụ nơi chỗ để chân, mỗi đứa một bên, một bé gái chiếm ngay cái ghế trước bên phải, một đứa nữa thì chui vào khoảng trống phía dưới, còn anh chàng Đức thì đương nhiên ngồi vào đằng sau tay lái.
    "Chúc ông Đức ngủ ngon, ông là năm bờ oan!" Đức nói, vừa đóng xầm cửa xe lại và quay kính lên.

    Ngay lúc đó, cơn mưa đổ ụp xuống tôi và chiếc xe. Bọn trẻ đã an toàn rồi. Tôi thì ướt đẫm thấu xương chỉ trong vòng vài giây đồng hồ. Tôi chạy vội về khách sạn Continental, nghĩ bụng phải cần một cái gì đó khá hơn là một chai bia Larue mới được. Đầu tiên tôi vào phòng tắm rửa, rồi sau đó nhâm nhi một ly huýt-ky ngoài sân mái hiên. Khi màn đêm buông xuống tôi ngóng qua đường Tự Do nhìn về phía chiếc xe Traction kềnh càng với những cửa kính mờ hơi nước bên ngoài tiệm Givral. Cảnh tượng này làm tôi hài lòng. Mấy đứa trẻ đã được khô ráo và ấm áp. Trong tất cả những năm sống tại Việt Nam, tôi ít khi nào cảm thấy hạnh phúc như trong buổi chiều hôm đó, một cảm giác hiếm có trong cuộc đời của một phóng viên.

    Tôi xin được dành cuốn sách này cho Đức bởi vì trong thâm tâm tôi, em tượng trưng cho những đặc tính đã tạo nên tình cảm và lòng ngưỡng mộ của tôi đối với người dân miền Nam Việt Nam, và sự cảm thông với họ sau khi bị bỏ rơi bởi những người đáng lẽ phải bảo vệ họ, lại còn bị phản bội bởi một số đồng nghiệp của tôi, mặc dầu không phải là tất cả. Giống như Đức, họ rất năng động và giỏi chịu đựng; họ không than vãn mà tự vươn lên được và chăm sóc cho nhau. Khi bị vấp ngã, họ lại trổi dậy nữa và thực hiện nhiều điều đáng kinh ngạc. Tôi rất ngạc nhiên trước những thành tựu của hàng trăm ngàn người miền Nam Việt Nam sống và làm việc gần nơi tôi cư ngụ tại miền Nam California.

    Lòng tôi đầy cảm phục đối với các cựu thuyền nhân và những người sống sót qua những trại tù cải tạo cộng sản, các cựu chiến binh còn đang âm thầm đau khổ vì chứng rối loạn tâm thần sau chấn thương và các bệnh tật nghiêm trọng khác gây ra bởi tra tấn và chấn thương đầu trong chiến tranh.

    Tôi mong mỏi tuổi thơ và cuộc sống trưởng thành của Đức cuối cùng sẽ là một câu chuyện thành công, nhưng tôi không rõ. 18 tháng sau cuộc gặp gỡ đầu tiên, chúng tôi mất liên lạc với nhau. Có khi nào em đã gia nhập quân đội miền Nam
    Việt Nam và có thể đã tử trận trong lúc chiến đấu? Hay là em đã theo Việt Cộng và đã mất mạng vì phục vụ cho họ? Em có trong số hàng ngàn thường dân bị Việt Cộng thảm sát trong đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968 hay không? Hay đứa trẻ tinh quái này đã xoay sở trốn thoát ra khỏi quê hương sau chiến thắng của cộng sản năm 1975? Cũng có thể em còn sống trong lúc tôi đang viết những dòng chữ này và là một doanh nhân 58 tuổi thành đạt tại thị xã Westminster, California, hoặc một chuyên viên thành công đang sống ngay đầu ngõ nhà tôi? Có lẽ em đang đọc cuốn sách này?

    Tôi nghĩ về Đức khi một cặp vợ chồng bạn Việt Nam tuyệt vời, Lý Văn Quý và cô vợ Quỳnh Châu, được biết đến nhiều hơn qua tên Jo, đã mời tôi phát biểu trong một buổi hội nghị của những cựu sĩ quan quân y quân đội miền Nam Việt Nam. Lâu nay họ vẫn thúc giục tôi viết lại những ký ức thời chiến tranh. "Ông phải làm điều đó cho chúng tôi," họ nói. "Cho những thế hệ con cháu của chúng tôi. Chúng muốn biết những gì đã xảy ra. Ông có được sự uy tín đặc biệt vì là người Đức và không bị thua thiệt với phía nào trong cuộc chiến này." Và rồi, sau khi nghe tôi kể lại những giai thoại, chẳng hạn như câu chuyện gặp gỡ của tôi với Đức, một số các vị bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ đã nghỉ hưu trong số khán giả cũng thốt lên điều tương tự, và phân tán bài nói chuyện của tôi trên mạng Internet.

    Tôi không mong viết lại lịch sử của cuộc chiến Việt Nam hay thậm chí tổng kết lại toàn bộ thời gian sau gần năm năm sống tại Đông Dương, trước hết với tư cách là phóng viên cho tập đoàn Axel Springer Group của báo chí Đức và sau đó là biên tập viên không thường trực của Stern, một tạp chí có uy tín đóng trụ sở tại Hamburg. Tôi xin các độc giả đừng trông đợi tôi đứng về phe nào trong các xung đột nội bộ của những thành phần trong miền Nam Việt Nam, phần nào vẫn còn tiếp diễn trong những cộng đồng lớn của các lưu dân Việt Nam. Khi tôi nhắc đến cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, điều này không có nghĩa là tôi ủng hộ ông ta hơn là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, hoặc ngược lại. Tôi ở đây chỉ để kể chuyện, trong đó bao gồm một số về ông Kỳ và một số khác về ông Thiệu mà không có nhu cầu phê phán ai hết. Số phận của họ chẳng ai ham muốn cả, nhưng họ đều đáng được tôi trân trọng vì đã dám đứng ra nhận lãnh những trách nhiệm nặng nề.

    Như tôi đã bày tỏ trong đoạn thứ nhất của chương mở đầu này, tôi không hoan nghênh chiến thắng của Cộng sản năm 1975. Họ xứng đáng để hưởng chiến thắng này một cách cũng nhỏ nhen như bọn Taliban ở Afghanistan cũng sẽ xứng đáng được hưởng chiến thắng, mà tôi sợ rằng nó sẽ đến một khi lực lượng NATO phải rời bỏ quốc gia này. Cũng vì viễn cảnh nham hiểm này trong trí, khiến tôi đã viết nên cuốn sách này.

    Ở Việt Nam, tôi đã từng là nhân chứng cho những hành động tàn bạo ghê tởm mà những người Cộng sản đã thực hiện như là một chính sách chung, là nhân chứng cho những vụ giết người hàng loạt và thảm sát; mà bên cạnh đó, những vụ vi phạm qui luật chiến tranh của phe Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam - rõ ràng không phải là một vấn đề chủ trương hay chiến lược - thật mờ nhạt khi so sánh chúng với nhau. Tôi biết là các phương tiện thông tin đại chúng Hoa Kỳ và quốc tế, các trường đại học đã bất công, tùy tiện và ngạo mạn khi nói xấu người miền Nam Việt Nam, và họ vẫn còn tiếp tục làm điều đó. Tôi đã ghê tởm về cách đối xử của những đồng hương của tôi đối với các cựu chiến binh GIs khi họ trở về và kinh ngạc trước sự kiện là những sự đau khổ liên tục của các cựu quân nhân miền Nam Việt Nam đã không được các báo chí Mỹ đánh giá một cách xứng đáng.

    Cuốn sách này là một bộ sưu tập của những bản phác thảo riêng về những sự kiện tôi đã thấy, đã quan sát, đã từng trải qua và tường thuật lại trong những năm sống tại Việt Nam, và về những người tôi đã từng gặp. Đó là một loạt những câu chuyện xen kẽ nhau về những kinh nghiệm cá nhân mà phạm vi trải rộng từ điều khủng khiếp cho đến cái phi lý, từ các cuộc theo đuổi tuyệt vời đưa đến phù phiếm, từ nỗi tuyệt vọng đến niềm hy vọng. Tất cả các nhân vật được nêu ra trong cuốn sách này đều là có thật, tuy trong vài trường hợp tôi đã thay đổi tên nhằm bảo vệ họ và gia đình họ.

    Việt Nam cũng đã tác động đáng kể dến cuộc sống tâm linh của tôi. Tiến trình này trải dài hàng chục năm và sẽ không được trình bày trong cuốn sách này bởi vì tôi có ý định sẽ giải thích nó cặn kẽ hơn trong một dạng hồi ký khác. Tuy nhiên tôi cũng muốn nhắc lướt qua trong phần mở đầu này. Những gì trải qua trong cuộc chiến Việt Nam đã từ từ đưa tôi trở về với niềm tin Thiên Chúa mà bà ngoại Clara Netto đã gieo vào đầu tôi trong hầm trú bom tại Leipzig trong lúc từng chùm bom rơi nổ chung quanh chúng tôi. Chính trong những giây phút kinh hoàng như vậy mà bà đã dạy tôi hãy đặt niềm tin vào Đức Chúa Trời. Bà đã ôm chặt và rót vào tai tôi những bản thánh ca Lutheran. Đặc biệt có một bài mà tôi còn nhớ mãi trong suốt quãng đời còn lại:

    Hãy ở cùng chúng con, ôi Chúa Giê-Su kính yêu
    Hãy ban cho chúng con sự ân sủng của Ngài
    Để quỷ Satan không thể hãm hại
    Và lòng chúng con không còn đắc tội nữa

    Nếu bảo rằng vào những năm 1960 trong tôi tràn đầy lòng tin Thiên Chúa thì không đúng sự thật. Giống như các bạn đồng trang lứa, tôi đã sa ngã trong một cuộc sống hoang đàng đầy những thú vui trần tục mà trong đó hút thuốc lá không ngừng tay chỉ là thứ ít độc địa nhất. Dường như nhựa ni-cô-tin đã có một tác dụng gây tê trong những tình huống chiến đấu, theo như lời xác nhận của hầu hết các binh sĩ ngoài tiền tuyến và các phóng viên chiến trường. Tấm hình ngoài bìa cuốn sách này chính là bản thân tôi đang nhăn nhó ngậm một điếu thuốc được chụp trong một phút tạm ngừng giao chiến trong biến cố Mậu Thân năm 1968. Chúng tôi đã chọn tấm hình này vì tính xác thật và hiện thực của nó. Đây là bộ dạng của một người khi đã chứng kiến những người khác chết chung quanh trong nhiều ngày đêm. Đây là hình ảnh của tôi lúc còn là một chàng trai trẻ bị đẩy vào một hoàn cảnh đáng sợ không thể nào quên được và điều đó đã định đoạt chặng đường còn lại của đời sống bản thân tôi.

    Dạo đó tuy sống theo chủ nghĩa khoái lạc nhưng tôi không bao giờ là một kẻ vô thần. Tôi vẫn đọc lời nguyện Thiên Chúa đều đặn, ngân nga trong đầu đoạn mở đầu lời dâng lễ Lutheran dựa trên Thi Thiên 51, “Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng. Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, Cũng đừng cất tôi khỏi Thánh Linh Chúa.”

    Mỗi lần bị rơi vào một tình huống chiến trận nặng nề hay nắm tay một người lính nào đó đang lìa trần, tôi vẫn thường thốt lên lời nguyện cầu: Lạy Chúa rủ lòng thương!

    Ngày nay tôi rất cảm kích đã được trở lại với niềm tin phụng vụ phong phú của Giáo Hội Lutheran vùng Saxony. Những lời giảng trích từ Kinh Thánh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi. Tuy nhiên ngày đó, theo gương thánh Augustine, tôi đã bỏ mặc Thiên Chúa ngoài phòng chờ của cuộc đời vì sự hấp dẫn của các kiều nữ tóc đen mà vòng tay đã an ủi các phóng viên chiến trường chúng tôi. Các món ăn và rượu của các nhà hàng Tây tại Sài Gòn quá sức tuyệt vời, cũng như tình bạn dí dỏm của các đồng nghiệp người Anh của tôi.

    Sau đó vào năm 1973, năm mà người Mỹ quay lưng lại với Nam Việt Nam, tôi đã thật sự kinh ngạc khi nhận thấy mình đang tuyên xưng đức tin Thiên Chúa trong một môi trường hết sức phi lý và vô thần của một phòng tin tức Đức mà tôi làm tổng biên tập. Những hoàn cảnh về một sự nhận thức bất ngờ này trong lúc tranh luận gay gắt với các thành viên cực tả trong khối nhân viên của tôi sẽ là một đề tài vui nhộn trong một chương của một cuốn sách khác. Không cần phải nói nhiều, đó là một bước ngoặt của cuộc đời tôi mà sau đó, sau nhiều cám dỗ và xung đột nội tâm, tôi đã ghi danh học tại trường Thần học Lutheran tại Chicago mười ba năm sau.

    Tựa như cách trị dĩ độc trị độc, Việt Nam đã từ từ biến đổi tôi. Thoạt đầu tôi tưởng chừng như đã được ơn gọi sắc phong mục sư. Nhưng cô vợ Gillian sắc sảo của tôi đã làm tôi tỉnh ngộ rằng bản tính ngông cuồng cộng thêm kinh nghiệm đau thương của một phóng viên chiến trường sẽ có khả năng làm tan tành bất cứ cộng đoàn nào chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Nàng nói: "Chỗ của anh không phải nơi bàn thờ hay cái bục giảng mà là cái băng dài phía sau để anh có thể chuồn ra quán rượu gần nhất khi nghe một bài giảng kém cỏi," Và cô ta hoàn toàn đúng.

    Tuy nhiên trước khi chọn con đường sư phạm Thần học đầy khó khăn, tôi đã ghi danh vào chương trình giáo dục mục vụ lâm sàng. Đó cũng là một điều kiện tiên quyết để được thụ phong tại Hoa Kỳ. Tôi tham gia khóa học này tại Bệnh viện Cựu chiến binh St. Cloud, Minnesota, nơi mà tôi xin các cấp trên cho tôi được chăm sóc các cựu chiến binh Việt Nam. Ngay lập tức tôi đã gặp hàng loạt những người đàn ông đau khổ thuật lại cho tôi sự đối xử tàn nhẫn đến tận xương tủy của dân chúng, nhất là giới phụ nữ. Mọi người đều hắt hủi họ. Tôi nhận thức ra là hầu hết đều cho rằng Chúa đã từ lâu đày họ xuống địa ngục đời đời. Họ cho biết Chúa đã ruồng bỏ họ tại Việt Nam.

    Điều này đã khiến tôi có một khởi điểm tuyệt diệu để chăm sóc mục vụ cho họ, đặc biệt là tôi đã tập trung rất nhiều vào nhận thức của Dietrich Bonhoeffer về Thần học Thập giá của phái Lutheran trong các công trình nghiên cứu của tôi. Cùng với Bác sĩ Tâm lý học James Tuorila của Bệnh viện Cựu chiến binh, chúng tôi đã thành lập các nhóm điều trị 30 người, từ binh nhì cho đến trung tá. Tôi cho họ đọc cuốn sách của Dietrich Bonhoeffer tựa đề "Các bức thư và bài viết từ trong ngục tù." Điều đã khiến họ sửng sốt nhất trong cuốn sách chấn động này là sự nhấn mạnh của Bonhoeffer về lời Chúa Giê-Su đã nói với các môn đồ tại vườn Ghết-sê-ma-nê: "Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được sao?” (Ma-thi-ơ 26:40). Bonhoeffer viết: "Đây là một sự đảo ngược của tất cả mọi thứ mà một người mộ đạo trông mong nơi Chúa. Con người đã được ơn gọi để chia sẻ sự đau khổ cùng với Chúa trong một thế giới vô thần."

    Đây là lần đầu tiên các cựu chiến binh đã được giảng về một sự thật căn bản của Thiên Chúa Giáo: Người Ki-Tô giáo được ơn gọi để cùng chịu đau khổ với Chúa trong thế giới này như là một hành động môn đồ. Niềm đau đớn của họ tại Việt Nam và khi trở về nhà chính là cái thánh giá mà Chúa đã đặt lên vai họ. Nhưng điều này có nghĩa là chính Chúa cũng đã chịu đau đớn trong cái thế giới vô đạo mà những chiến binh đã trải nghiệm hàng ngày. Như vậy, Chúa đã không từ bỏ họ như họ nghĩ. Ngược lại, Chúa đã chia sẻ với họ, là bạn đồng hành với họ vậy.

    Tôi đã thâu băng lại những cuộc thảo luận, hiệu đính và phê bình thêm, sau đó chuyển thành luận án Thạc sĩ của tôi tại Chicago và trình lại với trường Thần học Lutheran. Vào những năm 1990, bài luận án này đã được viết thành sách cho đến nay vẫn còn lưu hành và được sử dụng như là một cuốn sách giáo khoa để chăm sóc mục vụ cho các cựu chiến binh.

    Sau đó, tôi đã tìm thấy một cơ hội khác để khai thác về đề tài Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ tại Chicago, tôi được chuyển qua trường Đại học Boston để học Tiến sĩ liên ngành về Thần học và Xã hội học về tôn giáo. Điều này đã gây cho tôi sự chú ý về một hiện tượng xã hội học về tư duy: tính cách khuôn sáo.

    Được sử dụng như một phép ẩn dụ trong tư tưởng, các khuôn sáo khác biệt ở chỗ chúng có "khả năng đi tắt qua sự suy nghĩ và do đó, tác động một cách vô thức vào trong tư tưởng, đồng thời loại bỏ các khả năng liên tưởng trong phán đoán." (Theo nhà xã hội học Hòa Lan Anton Zijderveld trong cuốn "Bàn về các khuôn sáo," nhà xuất bản London 1979). Zijderveld viết: "Các khuôn sáo của xã hội này đã nằm sẵn trong tiềm thức của con người, sẵn sàng được tác động và mang ra sử dụng."

    Các khuôn sáo, hay khuôn mẫu do đó đã trở thành "những thùng chứa kinh nghiệm cũ" và "trở nên cũ rích và tầm thường vì bị dùng đi dùng lại quá độ," ông tiếp. Chúng được trao đổi " giống như những đồng tiền kẽm trong cái nền kinh tế lạm phát của chúng ta." Một khuôn sáo phải được xem như là "một cái mẫu mã của cách diễn tả nơi con người, tuy đã bị mất hết tính độc đáo nguyên thủy cũng như sức mạnh về chữ nghĩa của nó, nhưng lại dành được chức năng về xã hội."

    Zijderveld trông thấy một mối liên quan chặt chẽ về khuôn sáo và tính tân thời. Trong bài luận án Tiến sĩ, tôi đã diễn tả điều này sâu hơn nữa. Nếu Zijderveld đúng thì sự suy nghĩ theo khuôn sáo chính là anh em sinh đôi với phong trào Zeitgeist cũng không chấp nhận bất cứ một hình thức tương đối nào cả. Phong trào Zeitgeist có đặc tính chung với khuôn sáo mà Zijderveld đã diễn tả: "Chúng trở thành độc đoán vì các khuôn mẫu rất khó tránh khỏi trong một xã hội tân thời hết mức; chúng dễ bị trở thành các mẫu mực cho ý thức và ăn sâu vào trong cơ cấu của đời sống văn hóa xã hội và chính trị.

    Thực sự mà nói , Việt Nam không phải là đề tài chính của bài luận án của tôi, trong đó tôi đã phản bác ý tưởng khuôn sáo phổ cập cho rằng Martin Luther đã dẫn đường cho Adolf Hitler. Tôi đã thực hiện chuyện này bằng cách nêu ra nhiều giá trị tương đối khác phản bác lời phỉ báng đáng khinh đó. Tuy nhiên trong cuốn sách này, tôi muốn làm một điều tương tự liên quan đến Việt Nam, tuy không dùng phương pháp khoa học nhưng bằng cách liên hệ đến những kinh nghiệm và nhận xét riêng tư.

    Bốn mươi năm sau khi Cộng sản xâm chiếm Sài Gòn, một ý tưởng khuôn sáo nổi cộm đã đè nặng lên tâm thức tập thể của mọi người: cái khuôn sáo phi lý cho rằng chiến thắng này của Cộng sản, thành tựu được là do các phương tiện tra tấn và giết người hàng loạt, lại là một hành động giải phóng, tức là một điều hay ho. Do tính cách độc đoán của nó như Zijderveld đã nêu ra, ý tưởng khuôn sáo này đã không công nhận bất cứ yếu tố tương đối nào trong các dạng mà tôi sẽ mô tả hết sức tượng hình nhằm mục đích đối đầu lại với một sự dối trá mang tính lịch sử.

    Tuy nhiên để nhắc nhở các độc giả và bản thân tôi rằng cuối cùng đây là một cuốn sách về một cuộc chiến tranh bi thảm được kết thúc bằng sự thất trận của các nạn nhân của kẻ xâm lược, cứ sau một vài chương tôi sẽ chen vào một đoạn hồi tưởng nhằm nhấn mạnh ý niệm này, bắt đầu bằng sự mô tả vụ giết người hàng loạt mà Cộng sản đã thực hiện trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

    Tôi biết ơn nhiều người, đặc biệt là hai người bạn trung thành là Quý và Jo, đã luôn đứng đằng sau lưng hỗ trợ về mọi mặt trong lúc tôi khổ cực hoàn thành bản thảo cuốn sách này. Mỗi lần tôi viết xong một chương, Quý đã dịch ngay lập tức qua tiếng Việt với sự giúp đỡ của người bạn Nguyễn Hiền. Các anh đã thực hiện bản in, trang trí bìa và cung cấp cho tôi những lời khuyên hữu lý về các vấn đề văn hóa và lịch sử. Tôi rất hãnh diện trở thành một thành phần trong gia đình cổ truyền Việt Nam của Quý và Jo tại Quận Cam. Tôi cảm ơn anh họ của Quý là Tôn Thất Di và người vợ tên Trân là những người đã tiếp xúc với tôi lần đầu tiên khi tôi dọn về miền nam California và đã giới thiệu cho tôi đến với khối cộng đồng lớn đầy tính năng động của người Việt tại Quận Cam:

    Điều hiển nhiên là tôi biết ơn Đức, người em vắng mặt, và vô số bạn bè Việt Nam, Mỹ, Pháp, Anh và Đức mà tôi đã kết thân tại Việt Nam. Tôi cũng muốn cảm ơn các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà tôi đã phục vụ trong cương vị một giáo sĩ tập sự tại Trung Tâm Y Tế VA ở Saint Cloud, Minnesota, và những bác sĩ tâm lý, các mục sư
    đã cùng tôi làm mục vụ chung để giúp đỡ phần hồn cho các cựu chiến binh đó. Tôi hết sức cảm ơn anh bạn Perry Kretz
    đã cho phép tôi được phổ biến trong cuốn sách một số hình ảnh tuyệt vời của anh từ chuyến làm phóng sự chung tại Việt Nam vào năm 1972.

    Tôi cũng cảm ơn người bạn biên tập viên Peggy Strong và, đầu tiên và quan trọng nhất, Gillian, người vợ 50 năm của tôi đã luôn sát cánh bên tôi và đã từng chịu đựng những khoảng thời gian dài chia lìa vì công vụ của tôi tại một xứ sở huyền diệu đã bị chiến tranh tàn phá mà tôi rất yêu thương.

    Uwe Siemon-Netto
    Laguna Woods, California, tháng 01 năm 2015


    Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y
    Last edited by thuykhanh; 01-13-2017 at 04:54 PM.

  5. #5
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,531
    Có một số phóng viên ngoại quốc chỉ ngồi ở Sài gòn ( mà báo chí thời đó đặt tên là đài radio Catina ) viết theo tôn chỉ của chính phủ Hoa Kỳ ...những gì lợi cho Mỹ ...để dẫn dắt công chúng Hoa Kỳ ...nếu như phóng viên chụp ảnh , viết về Đại Lộ Kinh Hoàng thì mấy chuyện Mỹ Lai chỉ nhỏ bé như hạt cát.

  6. #6
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    20,449


    Chính phủ VNCH thiếu mấy ông như Thích Nhất Hạnh chịu khó làm việc cho phe quốc gia. Đi vòng vòng bên ngoài tố khổ Đại Lộ Kinh Hoàng thì cũng đâu cần gì phóng viên chiến trường của Mỹ.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  7. #7
    Biệt Thự thuykhanh's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,083
    Quote Originally Posted by hoài vọng View Post
    Có một số phóng viên ngoại quốc chỉ ngồi ở Sài gòn ( mà báo chí thời đó đặt tên là đài radio Catina ) viết theo tôn chỉ của chính phủ Hoa Kỳ ...những gì lợi cho Mỹ ...để dẫn dắt công chúng Hoa Kỳ ...nếu như phóng viên chụp ảnh , viết về Đại Lộ Kinh Hoàng thì mấy chuyện Mỹ Lai chỉ nhỏ bé như hạt cát.


    Những người lính Mỹ ở Việt Nam về cũng bị đối xử tệ lắm anh Hoài, có dịp tôi sẽ xin kể về mấy người mà tôi đã làm việc cùng.

  8. #8
    Biệt Thự thuykhanh's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,083
    Quote Originally Posted by Triển View Post


    Chính phủ VNCH thiếu mấy ông như Thích Nhất Hạnh chịu khó làm việc cho phe quốc gia. Đi vòng vòng bên ngoài tố khổ Đại Lộ Kinh Hoàng thì cũng đâu cần gì phóng viên chiến trường của Mỹ.

    Năm 2004 qua Đức lần đầu, có nghe nhắc đến vườn Mai, vườn Hồng gì đó; tk chỉ im lặng.

    Sách đến chiều hôm qua, anh à.
    Những người trẻ sanh sau 1975 không biết vụ thảm sát Tết Mậu thân là do Việt Cộng gây ra.
    Mấy đứa cháu qua đây học cũng không biết gì về trận chiến ở biên giới Việt Trung năm 1979.







  9. #9
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    20,449


    Quote Originally Posted by thuykhanh
    Những người trẻ sanh sau 1975 không biết vụ thảm sát Tết Mậu thân là do Việt Cộng gây ra.
    Chị ơi, cha mẹ chúng nó còn không dám nghĩ tới huống gì mang những tội ác khiến "dải khăn sô cho Huế" xuất hiện ra nói chuyện trong nhà. Cả nói chuyện về các vụ thảm sát của VC cũng không dám nói, vì sợ con cái mình ra đường phát biểu "bậy bạ không đúng chánh sách" là bị mời lên phường "làm việc". Thử hỏi trẻ con nào sanh sau đẻ muộn mà ..... "dám" biết? Chẳng trách ai được, sống trong sóng chén nào thì phải ráng khua theo cho đúng nhịp không thì bể dĩa bể tộ. Những ông những bà mà nói super hay ho ba cái chuyện lý thuyết, thì bỏ chạy ra nước ngoài ráo trọi từ năm 1975 tới nay. Người ở lại thì phải liệu cơm mà gắp mắm thôi.


    Quote Originally Posted by thuykhanh
    Mấy đứa cháu qua đây học cũng không biết gì về trận chiến ở biên giới Việt Trung năm 1979.
    Vụ này thì hơi lạ. Vụ năm 1979 Việt cộng và Trung cộng đập lộn đáng lý ra phải biết chứ.

    Last edited by Triển; 01-16-2017 at 12:57 AM.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  10. #10
    Biệt Thự
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    4,531
    Các cựu chiến binh vc còn không được làm lễ tưởng nhớ , mới đây chủ tịt TĐQ đã tuyên bố trên ti vi ...kiên quyết giữ gìn biển , đảo toàn vẹn....lời của ông Thiệu muôn đời vẫn đúng !

 

 

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 05-31-2015, 07:54 AM
  2. Replies: 16
    Last Post: 04-20-2014, 06:46 AM
  3. Vươn lên sau chiến tranh
    By Lotus in forum Chuyện Linh Tinh
    Replies: 1
    Last Post: 03-10-2013, 12:54 PM
  4. Replies: 1
    Last Post: 02-22-2013, 01:24 PM
  5. Facebook Việt xôn xao tranh 'lạ' về Việt Nam
    By Ba Ếch in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 12
    Last Post: 10-18-2011, 10:01 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 05:48 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh