Register
Page 11 of 11 FirstFirst ... 91011
Results 101 to 108 of 108
  1. #101
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2017
    Posts
    124



    Nhạc phẩm Phiên Gác Đêm Xuân một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được viết ngay tại tiền đồn Đồng Tháp Mười năm 1956, khi chàng sĩ quan độc thân Nguyễn Văn Đông 24 tuổi với cấp bậc Trung Úy, phải ở lại đơn vị trong mấy ngày Tết và ngồi trên tháp canh để canh gác trong đêm giao thừa cô đơn, lạnh lẽo không một bóng người thân, không bánh chưng xanh, không khói hương nghi ngút…. Chỉ có bóng dáng những mái nhà tranh chập chờn trong ánh sáng của đóm hỏa châu heo hút nơi cuối chân trời, làm chạnh lòng và tạo xúc cảm mãnh liệt cho người chiến sĩ trẻ đang mơ về một mái ấm gia đình đoàn tụ lúc Xuân sang … và " Phiên Gác Đêm Xuân " đã được viết lên ngay trong giờ khắc thiêng liêng nhất của đêm trừu tịch …

    Trong khi mọi người ở hậu phương, từ thôn quê đến thành phố đang chờ đón nàng Xuân, đang đợi Giao Thừa về để đốt pháo mừng năm mới thì chúng ta không thể nào quên được hình ảnh đơn lẻ của người lính trận đang đồn trú nơi rừng sâu giữa lúc quê hương còn chinh chiến.

    Ông tâm sự: “Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời. ….. Mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. ….. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài " Phiên Gác Đêm Xuân ” .









    Đón giao thừa một phiên gác đêm
    Chào xuân đến súng xa vang rền
    Xác hoa tàn rơi trên báng súng
    Ngỡ rằng pháo tung bay
    Ngờ đâu hoa lá rơi

    Bấy nhiều tình là bao nước sông
    Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
    Trách chi người đem thân giúp nước
    Đôi lần nhớ buâng khuâng
    Gượng cười hái hoa xuân

    Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
    Mơ rằng đây mái nhà tranh
    Mà ước chiếc bánh ngày xuân
    Cùng hương khói vương niềm thương

    Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
    Vì mơ ước trắng như mây chiều
    Tủi thân người năm năm tháng tháng
    Mong chờ ánh xuân sang
    Ngờ đâu đêm cứ đi

    Chốn biên thùy này xuân tới chi
    Tình lính chiến khác chi bao người
    Nếu xuân về tang thương khắp lối
    Thương này khó cho vơi
    Thì đừng đến xuân ơi




  2. #102
    Đêm Vũ Hoàng Chương

    Thi hào Vũ Hoàng Chương đã mất từ lâu. Khi miền Nam sụp đổ, CS tràn vào, trong phong trào bần cùng hoá nhân dân, triệt tiêu trí, phú, địa, hào, các giới chức của chính quyền miền Nam cùng văn nhân, trí thức đều lần lượt theo nhau vào trại cải tạo. Thi hào họ Vũ cũng nằm trong ngục tối. Vốn người văn nhược, lại tuổi già, sức chịu đựng của nhà thơ tàn tạ rất mau. Khi nhà thơ đã hấp hối, CS mới thả nhà thơ về để chết. Ông và gia đình lúc đó ở tạm nhà bà quả phụ Đinh Hùng, một căn nhà siêu vẹo trong ngõ hẹp bên Khánh Hội. Bà Vũ Hoàng Chương là chị ruột nhà thơ Đinh Hùng. Thi hào về nhà được vài hôm là mất. Đám tang ông xơ xác và tẻ lạnh. Bà Vũ Hoàng Chương, khuê danh Đinh Thực Oanh, cũng vừa từ giã cõi đời vào ngày nguyệt tận 29 tháng 3 âm lịch (7.5.05) vừa qua ở Sài Gòn.

    *

    Câu chuyện bắt dầu tại một ngôi chùa đường Trương tấn Bửu (cũ) gần giữa năm 1974, nhơn dịp 49 ngày anh Nguyễn Đức Quỳnh. Để sửa soạn cho ngày lên chùa viếng bậc đàn anh (1 trong 3 người chủ chốt trong nhóm Hàn Thuyên tiền chiến Trương Tửu, Nguyễn Bách Khoa, Lê văn Siêu, Nguyễn Đức Quỳnh) tờ Văn có ra một số đặc biệt Nguyễn Đức Quỳnh gồm nhiều người viết. Đến chùa, chúng tôi trịnh trọng dựng số báo trên bàn thờ chiêu niệm anh, nhà văn, nhà luận thuyết, nhà cách mạng.

    Quá trưa, sau khi thụ trai xong, dưới hậu liêu nhà chùa “đại hãn” Vũ Khắc Khoan mới cao giọng: “Tụi mình như thế là làm ăn vớ vẩn. Tại sao lúc sống không làm, cứ đợi đến lúc chết mới tuyên dương, chiêu niệm. Bây giờ dù mình nói gì đi nữa cũng bằng thừa, anh Quỳnh làm sao thấy, làm sao nghe?”. Chuyện hết sức cụ thể mà chưa ai nghĩ ra, chưa ai làm. “Nói phải củ cải nghe cũng được” nên chuyện vinh danh một văn nghệ sĩ miền Nam khi còn tại thế trở thành điểm nhắm của một số anh em chúng tôi.

    Chuyện nói thì dễ nhưng thực hiện không dễ. Nhiều vấn đề được đặt ra: vinh danh ai, ở đâu, hình thức tổ chức thế nào? Lúc đầu có nhiều ý kiến tham gia nhưng về sau nhóm tổ chức chỉ còn lại 8 người : Vũ Khắc Khoan, Cung Tiến, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Nam, Mai Thảo, Phan Lạc Phúc, Phạm Đình Chương, Tô Thùy Yên. Tuy ít người nhưng nhóm tổ chức cũng gồm đủ đại diện của các ngành nghệ thuật như văn, thơ, kịch, báo chí, âm nhạc... Họa sĩ Thái Tuấn tuy không chính thức đứng trong nhóm tổ chức nhưng anh là một “thành viên” tích cực trong nhóm chúng tôi.

    Lúc bấy giờ hằng năm chính quyền có tổ chức giải văn học, nghệ thuật (chúng tôi thường gọi đùa là giải Tổng thống), giải chính thức của nhà nước. Chúng tôi muốn thành lập một giải tư nhân, một giải riêng tổ chức trong vòng thân mật, không quảng bá rộng rãi, ồn ào, chỉ hạn chế giữa những người trong “làng” với nhau.

    Trong nhóm tổ chức 8 người Thanh Tâm Tuyền (TTT), Mai Thảo (MT) và tôi (PLP) cùng trong một tòa soạn Tiền Tuyến, Tô Thùy Yên (TTY) ở phòng Văn Nghệ gần đó nên những buổi họp thường diễn ra ở Câu lạc bộ gần tòa soạn chúng tôi. Vấn đề vinh danh ai được đặt ra đầu tiên. Tất nhiên phải là tài danh hàng đầu của đất nước nhưng ưu tiên cho những người có tuổi hay sức khỏe có vấn đề. Có 5 tên tuổi được đề ra: họa sĩ Nguyễn Gia Trí, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, tiểu thuyết gia kiêm nhà báo Bình Nguyên Lộc, học giả Lê Văn Siêu, kịch tác gia Vi Huyền Đắc. Đây thực sự là những vì tinh đẩu của văn học VN từ tiền chiến còn sáng đến bây giờ. Nhiều tuổi nhất là nhà viết kịch Vi Huyền Đắc nhưng cụ vẫn còn tráng kiện, cười khà khà, thơ văn sang sảng. Không nhiều tuổi nhưng yếu nhất lại là nhà thơ Vũ Hoàng Chương; nhà báo kiêm tiểu thuyết gia Bình Nguyên Lộc cũng cần được trân trọng: ông vừa mất một người con xuất sắc, một bác sĩ chuyên về thần kinh ở bệnh viện Biên Hòa.

    Sau một thời gian thăm dò, suy tính, nhóm tổ chức chúng tôi quyết định vinh danh năm đầu tiên nhà thơ Vũ Hoàng Chương vì ông yếu sức và gia cảnh ông cũng cần được yểm trợ: nhà thơ không còn đi dạy được điều hòa.

    Sau vấn đề vinh danh ai đến vấn đề tổ chức ở đâu? Trong nhóm tổ chức có Phạm Đình Chương “xếp sòng” Đêm Màu Hồng, một quán ca nhạc nổi tiếng và rất văn nghệ ở Sài Gòn; nhưng đi vào chi tiết Đêm Màu Hồng chật quá. Dù tổ chức trong vòng thân mật, không ồn ào nhưng phát hành 200 giấy mời như ước định (mới đủ sở hụi) Đêm Màu Hồng hết “gân” chỉ xếp được 120 ghế. Không đạt yêu cầu. Định bao nhà hàng La Pagode buổi tối nhưng ông chủ nhà hàng nêu giá quá cao; phần khác, nhà hàng “Cái Chùa” ở góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn lộ liễu quá không phù hợp với nguyên tắc kín tiếng và thân mật của nhóm tổ chức.

    Một bữa Mai Thảo và tôi lừng khửng bước vào phòng trà Khánh Ly trên đường Tự Do. Buổi sáng không phải giờ mở cửa hàng, cô chủ Khánh Ly còn chưa trang điểm, nhưng tươi tắn và sạch sẽ như “một đồng xu mới”. “Các anh cần gì mà đến em sớm vậy?” “Cũng có chuyện nhờ Khánh Ly đây”. Chúng tôi nói rõ ý định muốn mượn phòng trà một buổi tối, mà không phải là tối cuối tuần. “Thế thì dễ thôi, em để phòng trà tùy các anh sử dụng, chỉ xin các anh một khoản nhỏ tiền điện và chi cho mấy chú người làm”. Tôi cũng không ngờ kiếm được địa điểm tốt đẹp, giữa đường Tự Do sang trọng, rộng rãi (có gác lửng nên xếp được gần 200 ghế), có nhiều chỗ đậu xe ở gần với một giá “thân hữu” như thế. Tôi được biết là Khánh Ly ca hát thì rất tự do nhưng làm ăn thì cũng chặt chẽ lắm, “business is business”. Cô chủ nhà hàng như thế là rất điệu với văn nghệ. Mai Thảo ra về còn gật gù “Được đấy chứ”.

    Từ phòng trà Khánh Ly chúng tôi đi ngược ra phía bờ sông. Tới ngã tư gần rạp Majestic chúng tôi quẹo tay trái, đi một quãng ngắn là tới nhà in Kim Lai, nhà in tối tân nhất Sài Gòn. Theo quan niệm của Vũ Khắc Khoan đây là một cuộc “chơi” chọn lọc và tư cách, ngay từ cái thiếp mời gửi đi cũng phải trang trọng và lịch sự. Hai họa sĩ danh tiếng của Sài Gòn, Thái Tuấn và Tạ Tỵ, mỗi người “design” cho một mẫu thiếp mời. Chúng tôi tới nhà in Kim Lai hôm nay để cùng hai anh Phùng Tất Đắc giám đốc và Nguyễn Doãn Vượng chef atelier chọn 1 trong 2 mẫu. Sau khi so sánh, chúng tôi cùng các anh nhà in Kim Lai chọn kiểu dáng và màu sắc của Thái Tuấn nhưng dùng chữ vàng in nổi trên giấy màu ngà của Tạ Ty. Vì chỉ in có 200 thiếp nên giá thành chắc đắt. Tôi nêu vấn đề này. Đàn anh Phùng Tất Đắc xoa tay mà nói “Ai mà lấy tiền của các cậu làm gì”.

    Anh em trong nhóm định phát hành 200 thiếp mời, mỗi thiếp giá 3000 đồng. Nếu bán hết, thu được 600 ngàn. Nhưng trưởng nhóm Vũ khúc Khoan muốn chơi trội, cái gì cũng phải nhất nên tốn kém vô cùng. Rượu Champagne Pháp, finger food kiểu Ý, chả giò Như Lan, như thế là gần đi đứt 600 ngàn, còn đâu ngân khoản dự trù cho tác giả, mà cái khoản này cần thiết vô cùng. Sau rồi họa sĩ Thái Tuấn mới có sáng kiến biếu một bức tranh của anh (tranh Thái Tuấn lúc đó đang được khách nước ngoài, đặc biệt là Mỹ ưa chuộng) bán đấu giá gây quỹ. Thanh Tâm Tuyền cũng đề nghị lấy một số tác phẩm của Vũ Hoàng Chương gộp lại, đóng gáy vàng cùng với tranh Thái Tuấn làm “phần thưởng” đấu giá, cho nó thêm thanh thế, vừa có thơ, vừa có họa.

    Từ đó một vấn đề khác đặt ra. Nếu chỉ mời riêng văn nghệ như ý kiến ban đầu của Vũ khắc Khoan thì phần lớn anh em ta đều rách, chi một khoản 3000 cho cái thiếp là hết “gân” rồi, ai mua đấu giá đây? Chúng tôi sau khi bàn cãi chán ra rồi, phải đi đến một thỏa hiệp: không những văn nghệ, những người liên hệ đến văn nghệ, hay là bạn của văn nghệ cũng được mời cho nó vui vẻ cả làng...

    “Đại hãn” Vũ khắc Khoan, tác giả Thành Cát Tư Hãn kiêm ông thầy dạy văn trường đại học Văn khoa, thường nói “tôi chúa ghét những cái compromis” (thỏa hiệp). Đó là cái thế giới văn chương của anh, nhưng ở ngoài đời, nhất là những xã hội gọi là tự do, người ta sống bằng “compromis”; một nhà chính trị học nào đó đã nói: “chính trị thời buổi này là một nghệ thuật compromis”. Không có hay là chưa có một xã hội, một tổ chức lý tưởng, người ta phải bằng lòng với những gì tương đối, tạm thỏa hiệp mà sống với nhau.

    Trong tổ chức Đêm Vũ Hoàng Chương cũng vậy, phải “thỏa hiệp” nghĩa là không phải chỉ mời văn nghệ sĩ “sáng tác” như chủ trương ban đầu, mà mời luôn những người liên hệ với văn nghệ, những nhà Mạnh Thường Quân, những người có sinh hoạt dính líu xa gần với văn nghệ, nói cho gần là những ông chủ báo (chỉ đứng tên mà không viết), những vị chủ nhân nhà sách, nhà xuất bản, nhà phát hành, những nhà “yêu văn nghệ” vv… Không khí đêm Vũ Hoàng Chương như vậy có thể “loãng” đi nhưng bù lại, việc “bán đấu giá” mới có “thị trường”.

    Sự chọn lọc khách mời nhẹ đi, nhưng khoản thu của đêm văn nghệ sẽ nặng lên, hi vọng vậy.

    Mục đích của nhóm tổ chức chúng tôi là tuyên dương một văn nghệ sĩ hàng đầu của VN khi còn tại thế đồng thời “có thực mới vực được đạo” yểm trợ tác giả được tuyên dương một ngân khoản “coi cho được”. Thế nào là “coi cho được”? Ngày ấy, giải thưởng văn học, nghệ thuật hạng nhất của nhà nước (giải Tổng thống) mỗi bộ môn là 300 ngàn đồng (?). Chúng tôi hi vọng “giải tư nhân” của chúng tôi, tuy âm thầm, kín tiếng nhưng thực tế trọng hậu hơn giải “nhà nước”. Mong mỏi vậy thôi, không biết thực hiện được đến đâu? Do vậy, việc bán đấu giá tuy mới đề ra nhưng nó lại trở nên vô cùng quan trọng.

    Tổ chức một công chuyện giống như làm nhà, mỗi lúc mỗi đẻ thêm ra vấn đề. Khởi đầu, chúng tôi ước định mời tác giả hiện diện trong đêm tuyên dương nhưng khi có mục bán đấu giá, người có nhiệm vụ MC trong đêm là Phạm Đình Chương (PĐC) cho rằng sự có mặt của tác giả sẽ làm trở ngại cho tiến trình “mở hầu bao” của cử tọa. Tiến trình này thực sự là một vụ “xin thêm tiền”, tác giả có mặt thì cũng “khó coi” mà MC thì thật là “khó ăn, khó nói”. Sau nhận định của PĐC, phải xếp lại việc nhà thơ có mặt.

    Tất cả nhóm tổ chức chúng tôi có 200 thiệp mời, phù hợp với số ghế trong khán phòng và trên gác lửng phòng trà Khánh Ly. Nhóm tổ chức chúng tôi, 8 người phải chia nhau tự tay phân phối thiếp mời tới những đồng nghiệp, bạn bè theo đúng tiêu chuẩn đề ra, những anh em trong “làng” hay những người có liên hệ với văn nghệ, nhất định không phân phối tới người ngoài giới. Chúng tôi cũng hết sức tránh không dám mời “ông to bà lớn” sợ bị qui chụp dính líu tới chính trị. Trong nhóm chúng tôi cũng có 1 người đang “làm lớn”. Nhà soạn nhạc Cung Tiến (CT) tác giả Thu Vàng, Hương Xưa, Hoài Cảm… cũng là dịch giả “Giới hạn phát triển” (The limits of growth) của Club of Roma, “1 ngày trong đời Ivan Denisovich” của Solzhinitsyn (giải thưởng Nobel năm 1970) lúc ấy đang làm Tổng giám đốc Kế hoạch kiêm thứ trưởng cho ông tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng. “Đó là những người rất quí trọng văn nghệ”, CT nói về những đồng sự của anh trong bộ Kế hoạch nhưng chúng tôi chỉ xin trân trọng cảm ơn. Đã có lần ông phó thủ tướng phụ trách kinh tế Nguyễn Văn Hảo mời một số anh em văn nghệ chúng tôi tới nhà ông (đường Mạc Đĩnh Chi, trước cửa tư dinh ông đại sứ Mỹ Martin) ăn sáng, nhưng lần này chúng tôi không dám mời, sợ phiền nhiễu cho ông.

    Nhưng có một người đang ở trong chính quyền mà chúng tôi nhất định phải mời vì ông không những là đồng nghiệp mà còn là ân nhân của chúng tôi. Đó là ông Nguyễn Xuân Nghĩa ( NXN). Cách đó 6, 7 năm khi hội nghị Paris nhóm họp (1968), NXN đang học HEC (Hautes Études Commerciales) ở Pháp, NXN là “đặc phóng viên” của Tiền Tuyến. Khi về nước, trước khi làm thứ trưởng tài chính trong chính phủ, NXN đã là bỉnh bút cho Tập san Quốc phòng, một nguyệt san nghiên cứu kinh tế, chính trị tầm cỡ chiến lược của VNCH do Trung Tướng VL làm Chủ Nhiệm, Đại Tá VQ làm TTK Tòa soạn. Ông là đồng nghiệp lâu năm của chúng tôi và là một cây bút sắc bén về kinh tế, chính trị trong nước cũng như ngoài nước. Ở Pháp lâu năm nên ông ưa thích không khí khách thính văn học (salon littéraire) trong tổ chức Đêm Vũ Hoàng Chương. Ông là người ủng hộ nhiệt tình nhóm tổ chức chúng tôi bằng cách ký ngay một tấm chèque 50,000 đồng, mua trước 6 thiệp mời và tặng nhóm tổ chức 32,000 ngàn vào quỹ điều hành tiên khởi.

    Trong việc đấu giá, MC họ Phạm đề nghị thực hiện theo kiểu Huê Kỳ (không biết ở Mỹ có kiểu đấu giá này không?), nghĩa là người nào trả giá nào thì chi ngay cho giá đó, ví dụ ông A trả 5000 đồng thì ông đưa ngay 5000 hay ký cho một tấm chèque, mỗi người góp vào một chút là nó dễ dàng nên tấm, nên món, không phải chỉ trông vào một vài người hào phóng. Mỗi một “giá” được ấn định tối thiểu bằng giá một thiếp mời : 3000 đồng, càng hơn thì càng tốt. Lối bán đấu giá này có ưu điểm là nhiều người có thể tham gia, nhưng nó đòi hỏi phải tổ chức được một giây chuyền “thu tiền” tháo vát, lẹ làng. MC PĐC chỉ ra kinh nghiệm là “người thu tiền” càng dễ thương bao nhiêu thì đấu giá càng thành công bấy nhiêu. Trong nhóm chúng tôi có 2 người “phu nhân” là nhà văn nữ nổi tiếng, đã được tặng giải thưởng văn chương “tổng thống”. Đó là bà Thanh Nam, nữ sĩ Túy Hồng và “người yêu dấu” của nhà thơ Tô Thùy Yên, nữ sĩ Thụy Vũ. Chắc nhiều người chỉ “văn kỳ thanh” các nhà văn nữ mà chưa có dịp “kiến kỳ hình” nên nhân dịp này, vừa dự đêm Vũ Hoàng Chương vừa gặp gỡ các nhà văn nữ nổi tiếng. Một số nữ sinh viên văn khoa của “thầy Khoan” cũng được bổ sung vào giây chuyền thu tiền để hai nhà văn sai phái.

    Trong vấn đề tổ chức, phần trình diễn” nói về Vũ Hoàng Chương, chơi lại một màn kịch Vân Muội, thảo luận về nhà thơ họ Vũ (có sự tham dự của cử tọa) ngâm thơ Vũ Hoàng Chương… do Vũ khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền phụ trách. Cung Tiến, Tô Thùy Yên tiếp tân, Thanh Nam lo tiếp tế tổng quát, tôi phụ tá MC, đặc trách về bán đấu giá.

    Đại cương về đấu giá chúng tôi đã trình bày ở trên, nhưng đó chỉ là hình thức. Nếu chỉ trông vào những giá bình thường (3000 đồng) kết quả chắc không được bao nhiêu. Phải cần đến những Mạnh Thường quân (MTQ) chi cho những giá đặc biệt. Những MTQ này không tự nhiên mà có, phải tìm, phải mời. Tôi nghĩ tới những đối tượng tôi có thể tiếp cận được, những ông chủ báo, những chủ nhân nhà sách, nhà xuất bản, nhà phát hành… Giới chủ báo tôi nhờ Hà Chưởng Môn (nhà thơ Hà Thượng Nhân). Ông chủ nhiệm thở dài sườn sượt “cứt sắt cả, không cạy được đâu”. Tôi mới gợi ý: “Bà Bút Trà gửi mình mấy đứa con, cháu, đứa làm ty trị sự, đứa nhà ‘chữ’, bà cứ mời mình hoài mà mình chưa có dịp nào. Nhà phát hành Đồng Nai cũng vậy. Bây giờ đêm Vũ Hoàng Chương, mình mời tham dự, mỗi người trả cho vài giá đặc biệt, một công hai việc, nên quá đi chứ?” Chừng như vỡ lẽ, Hà chưởng môn mới nói “Để tôi bảo Viêm Hồng”. Người anh em Viêm Hồng trong tòa soạn chúng tôi chỉ là trung sĩ nhất nhưng anh lại là “quân sư quạt mo” của Saigon Mới , xưa nay dealing việc gì với Saigon Mới cũng xong.

    Tôi lại đi tìm ông Nhất Giang, chỉ là hạ sĩ nhất nhưng ông là “cố vấn tối cao” của nhà sách lớn nhất Saigon Khai Trí. Tôi nói với Nhất Giang: “Ông Khai Trí xưa nay vẫn có tâm với anh em văn nghệ. Kỳ này, đêm Vũ Hoàng Chương cậu mời hộ ông Khai Trí tham dự đấu giá, chi cho nhà thơ một khoản”. “Độ bao nhiêu là vừa anh? 100 ngàn đủ không?” Đẹp rồi, nhưng thêm chút nữa càng hay. “Xong rồi, đàn anh yên trí”.

    Thanh Tâm Tuyền (TTT) cùng ngồi một tòa soạn Tiền Tuyến được “chia” 45 thiếp mời tham dự Đêm Vũ Hoàng Chương phân phối cho anh em, đồng nghiệp, thân hữu. Mạnh thường quân Nguyễn Xuân Nghĩa (NXN) đã chi cho một khoản và mua một lúc 6 vé mời. Hà chưởng môn với các “bạn làng Ngang” của ông (những nhà thơ biếm xuất hiện trên mục thơ Đàn ngang cung hằng ngày) tiêu thụ được chừng 10 vé. Anh em trong nhà Tiền Tuyến 5 vé, tòa soạn bạn 15 vé, các nhà sách Khai Trí, Xuân Thu 4 vé, cũng coi như phân phối gần xong, còn vài vé lẻ tẻ tôi mời một vài người bạn không viết lách gì nhưng là thân hữu của giới văn nghệ. Đó là ông Nguyễn Hoàng Đạt (nguyên dạy học ở Chu Văn An) sau đi lính có thời làm sĩ quan báo chí cho ông tướng QK2 “gió lạnh mưa mùa”. Ông rất thân với báo chí Saigon. Không hiểu sao báo Sống của anh Chu Tử lại cho ông sĩ quan báo chí này biệt danh “tri phủ” Nguyễn Hoàng Đạt (NHĐ). Nhưng trong giới anh em thân cận thì lại gọi là “Đạt nhắng”. Ông đi đến đâu, chưa thấy người đã thấy tiếng, nổ liên tu bất tận nhưng ông là người hào hiệp, dễ thương, vui tính. Từ khi giải ngũ, vô business làm phó giám đốc Amtraco (?) ăn nên làm ra thì NHĐ lại càng “lên nước”, nhà mới, xe mới, tháng này tiệc nhỏ, tháng sau tiệc lớn, mời anh em văn nghệ ăn hút tưng bừng. Tôi gửi thiếp mời đồng thời nói lên ý nghĩa Đêm Vũ Hoàng Chương. NHĐ nói thẳng “Cái gì chứ ủng hộ đàn anh Vũ Hoàng Chương là 'có tôi ngay’. Tôi đã có lúc hân hạnh được là đồng nghiệp của anh dưới cùng mái trường”.

    Tôi còn mời một người bạn khác. không ở trong làng văn nghệ mà trong giới thể thao. Ông Nguyễn Đức Ân, ông bầu của đội banh vô địch một thời Quan thuế, khi “lưỡng thủ vạn năng” Phạm Văn Rạng và “ông thầy lừa” Đỗ Thời Vinh đang ở đỉnh cao phong độ. Ông Ân không những là bạn ở cầu trường mà đối với tôi, ông còn là chỗ thân tình: ông là con của ông thầy học cũ của tôi, thầy Nguyễn Trọng Giáp, dạy Moyen 1ère année trường tiểu học Đỗ Hữu Vị. Trước ông làm lớn ở quan thuế. Sau ông ra làm giám đốc cho hãng Esso ở Nha Trang. Tết nào ông cũng mời bạn cũ tới nhà tiệc tùng, quà cáp lia chia. Tôi tới ông Ân nhưng lại đụng độ bạn ta ở đấy. Nguyễn Đức Ân cũng là bạn của Mai Thảo. Tôi rút lui, nhường cho Mai Thảo “mối” này.

    Công chuyện sửa soạn từ giữa năm mà tới cuối năm 1974 mọi việc mới tàm tạm đâu vào đấy. Đêm Vũ Hoàng Chương phải đình hoãn một lần vì tình hình quân sự, chính trị càng ngày càng căng thẳng. Đáng lẽ tổ chức vào dịp cuối năm phải dời lại đầu năm 1975. Nhưng càng để lâu, tin dồn về đêm thơ càng nô nức. SàiGòn như con đà điều giấu đầu trong cát, muốn quên đi những phong ba, bão táp bên ngoài trong cõi thơ bát ngát Vũ Hoàng Chương.

    Thiệp mời không còn đủ dể phân phối. Sức chứa phòng trà Khánh Ly không thể hơn 200 chỗ ngồi. Trong một buổi họp gần ngày tổ chức để kiểm điểm những chi tiết cuối cùng, hai bạn Mai Thào và Phạm Đình Chương có cho hay là ông bà “Phó Kỳ” phone đến nhiều lượt, muốn tham dự đêm thơ.

    Hai ông bạn tôi thường vô ăn nhậu trong trại Phi Long, PĐC thường coi mình là người Sơn Tây đồng hương với ông Kỳ; có thời ông Kỳ cũng lên radio ca hát và đã hơn một lần ông có ý muốn lấy biệt hiệu là Hoài Nam trong ban hợp ca Thăng Long danh tiếng dạo nào. Trưởng nhóm Vũ khắc Khoan dạy Chu văn An nhiều năm khi ông Nguyễn Cao Kỳ (NCK) còn là học sinh nên thời Ủy ban Hành pháp Trung ương, ông NCK là chủ tịch, “thầy Khoan” được anh em gọi đùa là “quốc sư”. Tuy phải sống với những “compromis” nhưng Vũ khắc Khoan cũng như phần đông anh em trong nhóm nhận định rằng: Nguyên tắc của mình là kín tiếng và thân mật nên không nên mời những ông to, bà lớn. Đây là một cuộc chơi thuần túy văn nghệ, không dính líu đến chính trị, mời ông Kỳ có thể bị hiểu nhầm, qui chụp bè nọ, phái kia nhất là sự hiềm khích giữa ông “chánh tổng” Thiệu và ông “phó tổng” Kỳ lúc ấy đang lên cao độ. Ông Kỳ xưa nay yêu văn nghệ, sẵn sàng mở rộng hầu bao nhưng sự hiện diện của ông gây khó khăn không ít cho nhóm tổ chức.

    Chúng tôi thực hiện việc này trong sự âm thầm, tự nguyện không loan báo mà cũng không xin phép. Chỉ là một buổi họp mặt thân mật giữa những anh em văn nghệ với nhau, tuyên dương một thi sĩ. Nhưng nếu nhà đương cuộc “ngứa mắt” họ có thể lấy lý do an ninh, trật tự giải tán vì “họp mặt có chủ đề mà không xin phép, không phải là sinh hoạt thường xuyên của phòng trà”. Trong chương trình có bán đấu giá, nếu muốn “kiếm chuyện”, sở Thuế có thế hỏi thăm sức khỏe.

    Đó là những mối lo qui ước, dựa vào luật pháp. Tôi là chân “chạy ngoài” phải lo những chuyện đó nên tôi một bữa phải đi tìm ông cò Hùng “xùi”, trung tá nhảy dù, có thời làm ông cò quận 1, nơi tọa lạc phòng trà Khánh Ly thuộc đường Tự Do (Đấy là tên đường cũ của chúng ta một thời yêu dấu, bây giờ thì “Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do” lâu rồi). Dù ông cò không còn ở quận 1 nữa nhưng đàn em ông vẫn còn đó. “Ông ngồi hộ chỗ đó đi ông; có ông, không tên nào dám rỡn mặt”. Còn vụ sở thuế, tôi lại phải nhờ ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông là thứ trưởng tài chánh, ông làm ơn “bỏ nhỏ” đàn em ông một tiếng.

    Có thể có những mối lo “bất qui ước” nữa nếu “người phá đám” muốn sử dụng bàn tay đen, ví dụ một số tên đầu trâu mặt ngựa, giả vờ say sưa nhào vào phòng trà, gây sự, đập phá , hay gửi một vài tên đàn em quân nhân ba gai, vô tư cách tới gây lộn, bắn dăm ba phát súng hay lăm lăm cầm trái lựu đạn đã rút tròng... Tôi lại phải đi tìm ông Ngọc “Chả cá”, đeo lon thiếu tá nhưng ngày xưa là trùm công tử Càn Long Hà Nội, bây giờ qui ẩn rồi nhưng bản mặt ông, danh tiếng ông vẫn còn làm khiếp đảm quần hùng. Trong phone người anh em khu phố cũ (ở Hà Nội ngày trước tôi ở phố hàng Vải, Ô. Ngọc ở ngõ Chà Cá, gần nhau lắm) nói rằng: “Đàn anh cho uống rượu Tây, đồ nhắm tốt ngồi trông nom mấy đứa đàn em, chuyện nhỏ, xin có mặt”. Về vụ mấy anh lính vô kỷ luật tôi lại phải nhờ ông xếp sòng Quân cảnh một thời, đại tá Thiệt, xin ông phái tới cho vài anh em, quân phục chỉnh tề, súng ống gọn ghẽ để cho mấy tên lính ba gai nó khiếp.

    Theo như dự định đây là một đêm thơ , người trình diễn không chuyên nghiệp mà chính là những nhà “tổ chức” hay những văn nghệ sĩ tham dự trong đêm sẽ tùy hứng mà diễn, ngâm, đọc tác phẩm của Vũ Hoàng Chương. Phần chương trình thật ra chỉ là một sự gợi ý, nó trông đợi rất nhiều vào phản ứng của cử tọa. Việc của tôi là “chạy ngoài”, sau đó là “bán đấu giá” nhưng tôi lại phải cùng Mai Thảo và Phạm Đình Chương “trấn an” mấy nhà ca sĩ. Khánh Ly, cô chủ nhà đồng thời là tiếng hát đang lừng lẫy săm soi: “Em hát bài gì đây?” Thái Thanh, tiếng hát “vượt thời gian” cũng náo nức: “Thái Thanh trình bày bản gì nào? Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy?”. Đại hãn Vũ Khắc Khoan vốn lừng khừng, xoa tay mà nói: “Đây là đêm thơ. Không ai hát bài nào hết”.

    Thái Thanh và Khánh Ly nhìn Mai Thảo và tôi. Chúng tôi gật đầu. Một cái gật đầu hết sức khiếm nhã nhưng chúng tôi biết nói gì hơn...

    Không những chúng tôi “từ chối” các giọng ca hàng đầu của Sài Gòn (một sự khiếm nhã không thể tránh được) nhóm tổ chức cũng không mời những giọng ngâm nổi tiếng như Nguyễn Thanh, Hoàng Thư, Tô Kiều Ngân nhằm giữ cho Đêm thơ Vũ Hoàng Chương một vẻ hoàn toàn “tài tử”. Nhưng nguyên tắc này không giữ được chu toàn, giống như câu cửa miệng của Pháp “Toute règle souffre une exception” (luật tắc nào cũng có biệt lệ). Chúng tôi vinh danh nhà thơ nhưng không mời anh hiện diện để cho việc phát biểu ý kiến về Vũ Hoàng Chương của nhóm tổ chức và cử tọa được khách quan, trung thực hơn, việc bán dấu giá được dễ dàng hơn nhưng chúng tôi không thể từ chối ước nguyện của chị Vũ Hoàng Chương (chị Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng) khi chị yêu cầu Hồ Điệp (giọng thơ nức nở đặc biệt yêu thích của chị) ngâm bài “Tố của Hoàng ơi Tố của anh” trong Đêm Vũ Hoàng Chương. Có thể đây là một ký niệm không thể nào quên của anh chị.

    Chúng tôi phải chấp nhận một “compromis” nhưng bây giờ nghĩ lại thấy thỏa hiệp chúng tôi dành cho Hồ Điệp cũng có đôi chút ý nghĩa. Giọng ngâm thân quý của chúng ta, Hồ Điệp thập niên 80 sau này, đã tuyệt mù tăm tích trong một cuộc vượt biên, không biết Hồ Điệp đã bỏ thân dưới đáy dại dương hay tại một hải đảo âm u, quạnh vắng nào ? Đêm thơ Vũ Hoàng Chương cũng vô hình trung là đêm vinh danh không ngờ của Hồ Điệp. Xin vĩnh biệt cô Nhu, tên tại quê nhà của Hồ Điệp; thân mẫu của Hồ Điệp và thân mẫu của Thái Hằng, Thái Thanh, Phạm Đình Chương là 2 chị em ruột, quê ở Hạ Hiệp, Quốc Oai, Sơn Tây, do đó Chương mới nhận mình là người Sơn Tây. Thân mẫu Hồ Điệp lấy một người chú họ của tôi ở làng Hữu Bằng, chỉ cách Hạ Hiệp có một cánh đồng, nên Hồ Điệp với tôi là đồng hương. Chuyện không ai ngờ trước được. Thời kháng chiến chống Pháp gần 30 năm về trước, tôi là thành viên của ban Tuyên truyền Xung phong của tỉnh (cùng với Khuất Duy Đàm (Quách Đàm) mỗi khi trình diễn, người vỗ tay ủng hộ chúng tôi nhiều nhất là cô Nhu. Bây giờ tôi lại là người nhiệt liệt hoan hô Hồ Điệp. Một lần nữa, xin vĩnh biệt cô bạn đồng hương thân quý “Hồ Điệp - Cô Nhu” .

    Tôi cũng không còn nhớ rõ ngày tổ chức Đêm Vũ Hoàng Chương là ngày nào? Trên 30 năm đã trôi qua rồi nhưng tôi chắc một điều đó là đầu tháng 1-1975 và là một ngày trong tuần, ngày “làm việc” ít ai đi chơi tối, thuận tiện cho việc “văn nghệ, văn gừng” chơi một đêm riêng. Phòng trà Khánh Ly, nơi tổ chức vẫn như thường lệ, không banderole, không affiche, chỉ có một biểu ngữ nhỏ dán trên cửa kính “Đêm Vũ Hoàng Chương”. Trong công chuyện “chạy ngoài” tôi phải liên hệ mật thiết, xin các báo, các đài phát thanh đừng loan một giòng nào, một tin nào về đêm thơ họ Vũ.

    Càng riêng tư cho văn nghệ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Chương trình 8 giờ tối mới bắt đầu mà 7:30 giờ phòng trà Khánh Ly đã gần như hết chỗ. Trong cái hiu hiu lạnh còn lại của Noel. người ta ăn mặc chỉnh tề đi dự Đêm Vũ Hoàng Chương. Những người có bổn phận “ra sân khấu” đều đẹp hơn thường lệ. Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo trong những bộ complet xẫm màu lịch sự; lần thứ 2 tôi thấy Thanh Tâm Tuyền đeo cravate (lần đầu trong ngày cưới của anh). Cung Tiến với cái style Cambridge anh mang từ Ăng Lê về cùng với vẻ trí tuệ của Tô Thùy Yên tạo thành một cặp tiếp tân chững chạc. Thanh Nam lo tiếp tế tổng quát cùng với các nhà văn nữ Túy Hồng (Thanh Nam “phu nhân”), Thụy Vũ (Tô Thùy Yên “phu nhân”) phụ trách đường giây thâu tiền khi bán đấu giá . Tôi lo an ninh bên ngoài, phụ tá MC Phạm Đình Chương khi đấu giá vào cao điểm.

    Các khuôn mặt văn nghệ, báo chí Sài Gòn đều có mặt. Các bậc tiền bối như kịch tác gia Vi Huyền Đắc, học giả Lê Văn Siêu, tiểu thuyết gia Bình Nguyên Lộc, nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc, đại diện Sáng Tạo ngoài Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền trong nhóm tổ chức còn có Doãn Quốc Sĩ, các họa sĩ Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, đại diện Quan Điểm ngoài Vũ Khắc Khoan có Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ, đại diện nhóm Thế Kỷ có anh Bùi Xuân Uyên, nhóm Tự Do có Như Phong, Mặc Thu, bạn làng Ngang có Hà Thượng Nhân, Bảo Vân, Cả Tếu, hội chủ báo có Chu Tử, Quốc Phong, hội Văn nghệ sĩ Quân đội có nhạc sĩ Anh Việt, nhà thơ Cao Tiêu, Viên Linh, nhà báo QĐ Đặng Trần Huân, Phạm Huấn vv… Có những người tôi không biết mặt, biết tên hoặc trí nhớ lâu ngày mòn mỏi nên nhớ lầm, thiếu sót nhưng khi đến giờ khai mạc phòng trà Khánh Ly đã không còn chỗ trống.

    Rõ ràng phòng trà Khánh Ly với khả năng 200 chỗ ngồi không đủ cho đêm thơ hôm nay, mặc dù thực hiện trong vòng riêng tư, im lặng. Về chuyện “an ninh” bên ngoài, thực sự không có bàn tay đen nào quấy phá nhưng có những sự kiện ngoài dự liệu. Thiệp mời dự đêm thơ Vũ Hoàng Chương, chưa biết hay dở ra sao, nhưng một số người “sành điệu” ưa làm collection tấm thiệp kiểu dáng của Thái Tuấn, màu sắc của Tạ Tỵ, chữ vàng in nổi trên giấy quí do nhà in tối tân nhất Sài Gòn Kim Lai thực hiện. Một số người không mua được thiệp mời, đến đêm thơ kéo đến phòng trà Khánh Ly, định mua tại chỗ nhưng thật sự số thiệp in (200) đã phân phối hết. Cô chủ Khánh Ly, Thanh Nam và tôi lại phải hết lời cảm tạ và xin lỗi.

    Có một phái đoàn chừng 5 người từ miền Tây, vì hâm mộ Vũ Hoàng Chương nên kéo lên Sài Gòn đêm ấy mặc dù không có thiệp mời. Họ yêu cầu được tham dự, bao nhiêu tiền “vào cửa” họ cũng sẵn sàng. Đâu có chỗ nào mà ngồi nữa. Lại còn mấy anh em nhà binh đi phép về Sài Gòn chơi, đến đường Tự Do thấy Đêm Vũ Hoàng Chương thì ngừng lại. Hai ông sĩ quan kêu rằng: “Ngày trước tôi học Chu Văn An, thầy Chương dạy chúng tôi Việt văn. Cho tôi gặp thầy Chương”. Chúng tôi nói rằng “Thầy Chương không có mặt đêm nay ở đây. Chỉ có thầy Khoan” . “Cho chúng tôi gặp thầy Khoan cũng được. Thầy Khoan dạy sử”. Để cho yên, chúng tôi vội mời Vũ Khắc Khoan. Thầy Khoan ra, mấy ông nhà binh đang hùng hổ bỗng ngoan như cừu “Lạy thầy, thầy nhớ con không” rầm rĩ. Để tạm thời giải quyết việc này, lại phải nhờ Khánh Ly, kê tạm hai cái ghế băng dài để cho các vị khách “không mời mà đến” ngồi ngoài hành lang, tham dự.

    Riêng tôi, vì phụ trách bán đấu giá nên ngoài những khuôn mặt văn nghệ, phải cần sự có mặt các Mạnh thường quân. Ông Viêm Hồng, trong tòa soạn Tiền Tuyến, “phụ trách” bà chủ nhiệm Sài Gòn Mới, bà Bút Trà. Ông Viêm Hồng tới cho hay bà Bút Trà không đi, nhưng có ông Khiết, con trai bà đi thay. Nhà phát hành Đồng Nai cũng đã có đại diện. Ông Nhất Giang đã cùng ông Khai Trí đích thân tới. Tôi có ý tìm nhà Mạnh thường quân Nguyễn Đức Ân, cựu chủ tịch đội banh Quan thuế, giám đốc Esso bây giờ nhưng không thấy. Tôi có hỏi Mai Thảo. Tác giả “Tháng giêng cỏ non” vỗ vỗ vào túi áo nói rằng: “Ân nó bận không từ Nha Trang về được nhưng bạn đã gửi cho một khoản đây rồi”.

    Ông “tri phủ” Nguyễn Hoàng Đạt, phó giám đốc Amtraco, đã đến rất sớm. Tôi có ý nhắc ông nán lại, xin ông gia tâm về việc bán đấu giá vào hồi cuối đêm thơ. Ông cười hăng hắc mà nói rằng: “Yên chí đi ông, để tôi lo việc đó…”

    Vũ Khắc Khoan (VKK) trưởng nhóm tổ chức, trong không khí trang trọng và ấm cúng của một đêm họp mặt tại phòng trà Khánh Ly đầu năm 1975 gồm những văn nghệ sĩ và những người bạn của văn nghệ Sài Gòn, đã là người đầu tiên lên diễn đàn, trân trọng cảm ơn sự hướng ứng nồng nhiệt của quan khách và thân hữu, một cử tọa thân quý và chọn lọc.

    Tác giả Thần Tháp Rùa cũng trình bày thêm là nhóm tổ chức chúng tôi có ước nguyện sau đêm Vũ Hoàng Chương (VHC) hôm nay, sẽ thường niên dịp đầu năm dương lịch, cuối năm âm lịch, tuyên dương một văn nghệ sĩ VN tiêu biểu. Đêm nay là lần đâu tiên chúng tôn vinh nhà thơ lớn của VN: Vũ Hoàng Chương. VKK cũng cho hay là Đêm Thơ hôm nay không có chương trình cố định, ngoài việc Thanh Tâm Tuyền (TTT) nói đôi lời về tiểu sử tác giả, Mai Thảo (MT) nhìn lại một vài kỷ niệm với nhà thơ, Hồ Điệp ngâm một bài do chính bà VHC yêu cầu, phần còn lại do chính “quí vị, những nhà văn, nhà thơ của đất nước, những người bạn, những đồng nghiệp của tác giả, sẽ nói lên cảm nghĩ của mình đối với VHC. Một tác giả lớn bao giờ cũng ghi được dấu ấn của mình trong quảng đại quần chúng đương thời và có thể, mai hậu nữa”.

    Vì công việc của tôi phải lo “chạy ngoài” không thường xuyên trong thính phòng nên tôi không theo dõi được bạn tôi TTT nói những gì trong phần tiểu sử. Chỉ nghe loáng thoáng VHC quê Nam Định (đồng hương với MT) và điều đáng lạ là nhà thơ thời đi học lại đậu tú tài toán (Math Elem) không phải là tú tài triết hay văn (cũng giống trường hợp TTT, đậu tú tài toán, sau rồi làm thơ và dạy văn). Nếu tôi nhớ không lầm, TTT cho rằng VHC không phải là nhà thơ lãng mạn mà nếu phải xếp theo trường phái, anh gần gũi với nhóm Thi Sơn (Partnassien). Thơ VHC bao giờ cũng đẹp đẽ tài hoa, nghiêm chỉnh về luật tắc và vần điệu.

    Hôn nhoè cặp má hoa bên cửa,
    Ghì hững đôi tay nguyệt trước giường
    Tình bẽ bàng duyên vò nát mộng
    Nằm điên cuồng nhớ đập tan gương…


    Trong phần kể lại kỷ niệm, MT nhắc tới những chuyện bù khú VHC đi “giang hồ vặt” hay đắm chìm trong tửu sắc cùng những bạn hữu thời tiền chiến như Nguyễn Bính, Huyền Kiêu, Tô Hoài… để nguôi quên mối sầu đời của người dân mất tự do, mất nước. Vì muốn được “đi” nên VHC không làm ông tham, ông phán mà xin làm Chemins de fer (sở Hỏa xa) để tiện dịp ngao du cùng bạn hữu.

    Quang Dũng thời đó (chưa nổi tiếng) nhưng học sư phạm xong rồi cũng đi làm Hóa xa và đi sang Tàu luôn, học trường Hoàng Phố. Ngày ấy, câu danh ngôn của một nhà văn Pháp đã được nhiều văn nghệ sĩ VN chiêng ngưỡng: “Ta muốn sau khi ta chết, sẽ có người thuộc da ta làm chiếc va li”.

    Sau khi Hồ Điệp ngâm bài thơ chứa đầy kỷ niệm “một đời” do chị VHC yêu cầu “Tố của Hoàng ơi Tố của anh”, Khoan “tôi” (VKK khi nói về mình thường tự xưng như vậy) lại lừng khừng, ly rượu trên tay, đứng ra đọc lại một đoạn kịch thơ Vân Muội. MT thấy vậy cũng tiến ra, ứng diễn. Diễn được một đoạn là quên. Một người bạn trong thính phòng, tôi không biết là ai, nhảy ra đọc tiếp. Hết kịch thơ Vân Muội đến thơ Say, thơ Mây, thơ Rừng Phong… ai thuộc bài nào đọc bài đó. Bây giờ, mọi người tham dự đều là nhà thơ, nhà kịch; không khí VHC thấm đẫm thính phòng. Khoan “tôi” vốn là Phật tử thuần thành nên anh cao giọng đọc “Lửa từ bi” một tác phẩm theo anh là một đỉnh cao của VHC:

    … Nam mô đức Phật Di Đà
    Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay
    Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
    Người rẽ phăng đêm tối, đất dày
    Bước ra ngồi nhập định hướng về Tây
    Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ...
    Không khí vặn mình theo khóc òa lên nối gió
    Người siêu thăng giông bảo lắng từ đây…


    Lửa từ bi đã dậy, một bạn làng Ngang, không nhớ rõ là Hà chưởng Môn hay nhà thơ Bảo Vân lại “phi “ lên sân khấu, đọc bài “Lửa từ bi” dịch sang tiếng Pháp “Feu de Sacrifice” do nhà thơ nữ người Bỉ Simone Kuhnen de la Coeuillerie chuyển dịch.

    … L ‘air se tort et se brise,
    Les sanglots du vent se muent en cyclone.
    Le grand BRONZE s'est livre vivant à la flamme,
    II est rentré au Nirvana;
    tous les orages se sont calmés…


    Khách mời vừa nghe thơ, đọc thơ vừa thưởng thức thức ăn nhẹ kiểu Ý, kèm thêm giò, chả Như Lan uống rượu vang Pháp, các bà, các cô dùng nước ngọt. Đã thấy ngà ngà, đêm thơ đã ngả về khuya. VKK liền mở một chai Champagne chúc sức khỏe nhà thơ họ Vũ và xin bắt đầu buổi bán đấu giá các tác phẩm của VHC đóng tập bìa da chữ vàng, buộc “nơ” đỏ cùng với một bức tranh Thái Tuấn. Lúc đó. những bức tranh màu “lạnh” của Thái Tuấn đang được khách nước ngoài, đặc biệt là Mỹ ưa chuộng. Nó mang một tinh thần “nostalgia” về VN rất thấm, rất sâu. Phải ghi lại một lần nữa ở đây, anh Thái Tuấn tuy không đứng trực tiếp trong nhóm tổ chức nhưng công sức anh đóng góp thật nhiều.

    MC Phạm Đình Chương (PDC) vào cuộc. Mỗi giá tối thiểu bằng một vé tham dự 3000đ, ai trả giá nào, chi cho giá đó. Hai nữ sĩ Túy Hồng, Thuỵ Vũ cùng các cô sinh viên của “thầy Khoan” xôn xao, chạy đi, chạy lại thu tiền. Nhiều người trả giá 5000, có người 10,000. Chừng nửa giờ, phẩm vật đấu giá đã lên trên trên 200,000. Tôi vội vàng di “thăm” mấy nhà Mạnh thường quân. Nhà phát hành Đồng Nai vừa chi cho 1 giá 15,000. MT lục túi áo đưa ra 20,000. Ông bạn cũ Nguyễn Đức Ân, từ Nha Trang không về được nhưng gửi trước một chút quà. Tôi giục ông Viêm Hồng bên báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà và ông Nhất Giang đang cùng hiện diện với ông Khai Trí, xin tham dự. Tôi cũng tợp một hớp Champagne với “tri phủ” Nguyễn Hoàng Đạt (NHĐ). Ông này nghiêng đầu nói với tôi: “Tôi sẽ chơi nước rút vào giai đoạn cuối”. Sau đó, ông Khiết (con trai bà Bút Trà) cùng ông Khai Trí mỗi người chi cho 2 giá: Sài Gòn Mới 20,000 một giá, nhà sách Khai Trí 25,000 một giá. Ông tri phủ bây giờ mới lên tiếng 30,000. Báo Sài Gòn Mới im tiếng thì nhà sách lớn nhất thành phố trả lời 35,000. NHĐ lập tức chi ngay 40,000. Cái giá của phần vật đã lên tới trên 400,000 mà chưa biết 2 người còn lại. NHĐ và ông Khai Trí ai sẽ thắng ai ?

    Đúng lúc đó tôi được thông báo “Có khách mới”. Tôi vội chạy ra. Hai ông bà “phó tổng” Nguyễn Cao Kỳ (NCK) đang sắp sửa bước vào. Đây không phải là khách mời của tôi; chắc là của MT và PĐC. Để tránh mọi sự hiểu lầm có thể có cùng sự qui chụp về chính trị, chúng tôi đã có ý định không mời ông “phó Kỳ” nhưng bây giờ ông bà cứ tới, biết làm sao đây. Vì phép lịch sự, chúng tôi trân trọng mời ông bà tham dự. Cùng lúc ấy, MC họ Phạm mời mọi người tiếp tục tham gia đấu giá. Ông NHĐ chi thêm một giá 40,000 nữa là nhà sách im tiếng. MC đã đếm 1, 2 sắp sang số 3 kết thúc thì ông NCK lên tiếng 50,000. Ông phó giám đốc Amtraco trả lời 60,000 thì ông phó Kỳ “tố” thêm 80.000. ông “tri phủ” đang cơn “bốc đồng” hét giá 100,000. Phẩm vật đấu giá đã lên tới trên 700,000.

    Nhóm tổ chức chúng tôi ước định bán đấu giá được chừng 500,000 là lý tưởng. Bây giờ lên tới trên 700.000 rồi, cắt đi là vừa. Lên gần 1 triệu đồng, có thể bị sở thuế “hỏi thăm sức khỏe” nếu phẩm vật thuộc về ông Kỳ lại có thêm điều tiếng. Vả chăng, cho đến lúc ấy, NHĐ là người đã chi nhiều nhất, trên 200.000 nên tôi lưu ý PĐC đếm 1,2,3 khá mau để kết thúc bán đấu giá giành phẩm vật về tay NHĐ. Nhưng ông phó giám đốc Amtraco cũng là người lịch lãm nên sau khi kết thúc, ông lại mang phẩm vật tới tặng lại ông bà NCK. Ông NCK cũng lịch sự không kém: “Cảm ơn ông, chúng tôi không dám nhận, xin ông cứ tự nhiên”.

    Ít ngày sau, chúng tôi tới thăm anh chị Vũ Hoàng Chương, lúc ấy ở một phòng trong biệt thự gần Lăng Cha Cả của bà Thất tiểu muội (bà quả phụ nhà thơ Đông Hồ) cùng với chút tặng phẩm đêm bán đấu giá. Chúng tôi được chị Chương và chị Đinh Hùng mời ăn một món rất Bắc Ký : bún thang, cà cuống. Nhà không sẵn sàng tiếp khách, nên cứ ngồi xuống chiếu mà húp xì xụp cứ như đi ăn cỗ ở thôn quê. Chúng tôi bữa ấy đưa đến được hơn 700,000 nhưng điều anh Chương lấy làm vui hơn hết là cuốn băng thu lại đêm thơ. Chúng tôi rút kinh nghiệm là nếu mời anh tới, tác giả được vinh danh có thể sẽ xúc động hơn nhiều.

    Nhưng rút kinh nghiệm để rồi không bao giờ dùng đến nữa. Chúng tôi chỉ vinh danh được một người rồi là “nước mắt nhà tan”. Trong nhóm tổ chức 8 người năm ấy, 4 người đã bỏ chúng ta mà đi: Thanh Nam, Vũ Khắc Khoan, Phạm Đình Chương, Mai Thảo. Còn lại 4 người Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến ở Minnesota, Tô Thùy Yên ở Houston, tôi ở Sydney. Vài tháng trước, chị Chương (Đinh Thục Oanh) mới mất nên mới cảm khái mà nhớ đến chuyện xưa bạn cũ. Où sont les neiges d’antan?

    Ký giả LÔ RĂNG

  3. #103
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2017
    Posts
    124
    Những đêm thanh vắng, hồn tôi trở về dĩ vãng nhớ nhung kỷ niệm dấu yêu. Những giây phúc đó lòng mình cô đơn lạ nhưng cũng hạnh phúc lắm! Thật buồn cười quá, vì có mấy ai cho mình Hạnh Phúc khi Cô Ðơn ???


    Hạnh Phúc khi mình có nhau và hạnh phúc khi mình mất nhau mà vẫn còn nhớ về nhau! Những kỷ niệm, dĩ vãng không mất đi nó như những hạt bụi trong đáy ly bị lắng đọng. Những hạt bụi đó sẽ bị khơi động, trỗi lên khi chiếc ly rung lên nhịp cũ. Tiềm thức chúng ta cũng như thế; những dĩ vãng cố chôn vùi, cất giấu vào những ngăn kín của tiềm thức. Và khi những môi trường tương tự, quen thuộc kéo đến, là kỷ niệm xưa như quay cuồng bộc lửa trong những ngòi than âm ỉ ...

    Trong những đêm thanh vắng, tôi ngồi nghe tiếng côn trùng rĩ rã, tiếng nước róc rách chảy để nhớ đến ngày xưa chúng ta quen nhau bên đảo vắng , bên chiếc suối đặt tên "ngọn suối hẹn hò". Ngọn Suối Hẹn Hò của ngày xưa chỉ còn trong kỷ niệm Nghìn Trùng Xa Cách, chỉ là một ảo tưởng xa xôi, nhưng sao quá thân thương nhung nhớ !

    Tôi mong được một lần đối mặt với thực tế ! Ðược nhìn thấy người sau bao năm xa cách. Ðể ôm người một lần cuối và nói với người lời từ ly mà chúng ta chưa một lần thật sự nói với nhau. Nói với nhau lòng đau xa cách ! Vì mình chỉ có duyên không nợ, đời mình như ánh sáng và màng đêm ....





    Thật chậm sao tình yêu đến muộn
    Thật sớm tình yêu tan biến mau
    Thật dài tháng năm buồn vương vấn
    Thật ngắn những ngày vui bên nhau.

    Thật gần yêu người trong giấc mộng
    Thật xa khi ta tỉnh cơn mê
    Thật trống vắng người đem giá lạnh
    Thật lạ sao ta mãi một mình.

    Ngày lại qua ngày làm bạn với Cô Đơn
    Ngày lại qua ngày thấy đời mình buồn hơn
    Có những đêm dài chợt sáng, tìm người trong tiếng hát
    Nghe tiếng buồn ru, sao ta mãi một mình ??

  4. #104
    Như một giòng sông
    Ngọc Minh

    Có nhiều người thường nói với tôi: làm ca sĩ như các cô sướng thật. Đi khắp nơi, vừa có tiền vừa được biết những thành phố đẹp nổi tiếng. Điều đó quả có đúng thật. Nhưng chỉ đúng một phần nhỏ. Nếu quí vị cứ giả vờ làm ca sĩ như chúng tôi một thời gian ngắn thôi chắc chắn quí vị sẽ thấy điều chúng tôi sắp tâm sự dưới đây là có lý vô cùng.

    Ở xứ văn minh ghê gớm như xứ Mỹ này, con người phải làm việc còn hơn máy mới sống nổi. Không làm, khỏi ăn. Vì thế, những ngày cuối tuần là thời gian tuyệt vời nhất của những ai hùng hục kéo cày trả nợ cơm áo suốt năm dài đăng đẳng từ sáng sớm cho đến chiều tối. Tới nhà, nằm vật ra như một trái bong bóng xì hơi thảm hại.

    Ngược lại với quí vị, ca sĩ chúng tôi ngày thường có thể thong thả đôi chút, nhưng vừa chớm cuối tuần bắt đầu căng gân cổ để làm việc mua vui cho đời. Nếu hát lanh quanh vùng Little Saigon còn dễ thở tí ti, nhưng chẳng may phải đi hát xa thì cả là một chuyện dài đủ cả hỉ, nộ, ái, ố. Tuần qua, tôi hát tại Houston, Texas. Ban tổ chức nào cũng giống nhau mà thôi. Chọn hãng bay rẻ nhất, dĩ nhiên, tiền nào của nấy, giờ giấc của chuyến bay rất phù hợp với giá tiền của chiếc vé hạng bét. Muốn có mặt kịp giờ bay, tôi phải dậy từ năm giờ sáng, giờ mọi người đang yên giấc trong chăn êm nệm ấm, tay xách nách mang, mắt nhắm mắt mở chạy ra phi trường. Đến nơi, đã có một hàng dài ngưòi đứng đợi để lấy thẻ lên tàu. Sở đĩ có cảnh sắp hàng như vậy là vì hãng Southwest chơi kiểu open seat. Anh đến sớm anh lấy dược số nhỏ, được leo lên tàu trước muốn ngồi đâu tùy ý. Anh đến sau cứ việc chờ thiên hạ an tọa đâu đó mới tới phiên mình, đôi khi tới lượt mình chỉ còn hàng ghế restroom còn trống, và đó là trường hợp của tôi trong chuyến đi này.

    Cầm số thứ tự một trăm năm mươi mấy. Khi leo được lên máy bay chỉ còn hàng ghế chót dư hai chỗ. Ác nghiệt thay, chỗ cửa sổ và ngoài cùng đã có hai người Mỹ bé nhỏ cân nặng chừng ba trăm pounds chiếm ngự. Vất vả lắm tôi mới vượt qua được cây thịt vĩ đại của ông bạn đồng hành ngồi chễm chệ ghế ngoài cùng để vào chỗ của tôi, một chỗ ngồi thật khiêm nhượng vì hai nguời nặng ký đã chèn qua gần hết chỗ của tôi. Sau màn hello kiểu American tôi ngồi giữa hai cây thịt nín thở vì hình như ông nào cũng sặc sụa mùi ruợu.

    Tiếng chị chiêu đãi viên hàng không cất lên không mấy ngọt ngào: “Đây là chuyến bay số... hân hạnh được đón tiếp quí vị, chuyến bay của chúng ta sẽ ngừng bốn trạm, trạm cuối cùng sẽ là Houston”. Nghe qua tôi rụng rời tay chân.Nếu bay thẳng từ Los Angeles tới Houston chỉ độ hơn ba tiếng, nhưng stops nhiều kiểu này phải gấp đôi giờ ngồi trên máy bay là cái chắc. Liếc mắt nhìn sang hai người bạn đồng hành đang gục đầu ngủ gật, tôi chỉ muốn kêu lính bắt bỏ bót cho rồi vì chỗ ngồi đã chật, người họ còn đổ lên đổ xuống choàng cả sang người tôi. Chả thấy làm ca sĩ sung sướng đâu. Chỉ thấy phải ngồi chịu đựng trên chuyến bay này quá khổ. Đã xong đâu, vì giá vé rẻ nên hãng này không cho hành khách ăn dù điểm tâm, trưa hay tối. Máy bay cất cánh được một lúc, mấy chị tiếp viên thí cho mỗi người một gói đậu phụng bé tí teo và một ly nước ngọt, và chỉ ngần ấy thôi. Người Mỹ ăn uống rất khỏe, thành ra thay vì ăn họ gào thét nước uống cả chục lần. Chỉ nội đưa ly ra cất ly vào cũng đủ làm tôi chóng mặt muốn xỉu. Uống cho cố, lại có màn sắp hàng nhau để vào toilet. Lát lát, anh Mỹ to béo ngồi cạnh cửa sổ lại đứng lên excuse me trèo qua tôi để đi đé. Ôi đời sao khổ quá xá.

    Bước ra khỏi chiếc máy bay khốn khổ, tôi như trút được ngàn cân. Người mỏi rừ vừa đói vừa mệt. Nhưng đã hết chuyện đâu, về tới chỗ hát ăn sơ bát phở để rồi còn phải dượt với ban nhạc nữa. Tập dượt xong đã gần tối. Về phòng tắm ào một cái, nhìn đồng hồ đã tới giờ sửa soạn.

    Tàn cuộc vui hai giờ sáng. Ăn tô cháo một cách uể oải vi tôi đã quá mệt không còn thấy ngon miệng, nhưng vẫn phải ráng ăn cho hết kẻo buồn lòng vợ chồng người bạn nhất định mời tôi đi ăn đêm cho bằng được vì lâu quá không gặp. Sau khi take off phấn son, tôi chỉ còn vài tiếng phù du nữa là đến giờ ra phi truờng trở lại Cali. Xếp đại quần áo vào cái xách tay nhỏ, tôi ghé mình chợp mắt một chút để lấy sức tiếp tục cuộc hành trình không mấy thú vị, cảnh đẹp Houston tôi cũng không biết có những gì. Tôi chỉ biết duy nhất đường từ phi trường tới chỗ hát và ngược lại.

    Ai bảo làm ca sĩ sướng nhỉ? Vạn lần đi như một, có lần nào thoải mái enjoy đâu, chi thấy vất vả và vất vả... nhưng làm sao được. “Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui” (riêng mình khổ ai biết).

  5. #105
    Alpha Film Saigon
    Thanh Lan

    Những ai đã từng là người Saigon của trước 1975, mấy ai mà không nghe nói về hãng phim Alpha tọa lạc tại góc đường Hiền Vương và Trương Minh Giảng. Một tòa building đồ sộ cao 3 tầng lầu, trong đó có phòng chiếu phim, phim trường dành cho việc quay phim, phòng kỹ thuật với đầy đủ máy móc. Trên lầu có cả phòng dành cho diễn viên ở lại đêm khi cần thiết, để khỏi phải đi đi về về hàng ngày, giúp cho việc quay phim thêm thuận tiện, đỡ mất thì giờ cho cả hãng phim và diễn viên. Phải nhìn nhận rằng vừa sau khi đất nước chia đôi được vài năm mà ông Thái Thúc Nha đã xây dựng lên một phim trường như vậy, thì quả là phải có đam mê và niềm tin mạnh mẽ mới dám dấn thân vào ngành nghệ thuật thứ bảy tại một quốc gia bé nhỏ như Việt Nam vào đầu những năm 60.

    Vào những năm 60, ông Thái Thúc Nha là một tên tuổi lớn của Saigon hoa lệ. Trong tất cả các đại hội điện ảnh không thể không có mặt ông. Ông cũng là một thành viên trong Ban Tổ Chức của kỳ thi hoa hậu đầu tiên của Saigon năm 1965. Lúc đó tuy còn nhỏ nhưng Thanh Lan cũng được Mẹ dắt đi xem. Phải công nhận Hoàng Kim Uyên đẹp trội hơn những cô khác rất nhiều, nhưng vì đã có gia đình nên bị loại và Thái Kim Hương được đội vương miện Hoa Hậu của Saigon. Có vài người cho rằng Thái Kim Hương chắc là họ hàng với ông Thái Thúc Nha nên mới là hoa hậu, nhưng không phải vậy. Thanh Lan xin làm chứng ở đây là tuy cùng họ Thái nhưng cô ấy chẳng có họ hàng gì với gia đình này hết.

    Alpha Film nằm ngay sau lưng bãi đất trống ở góc đường Hiền Vương và Trương Minh Giảng, có một thời đã được đoàn Holiday On Ice của Đức Quốc chọn làm nơi trình diễn những màn trượt tuyết đẹp mê hồn, trước những cặp mắt tròn xoe của hàng ngàn khán giả Việt Nam, là những người chưa hề nhìn thấy tuyết bao giờ. Người nữ xướng ngôn viên bằng 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Việt trong tuần lễ huy hoàng đó chính là Mme Chi Lan, Mẹ của Thanh Lan.

    Làm sao kể hết những kỷ niệm tại Alpha Film? Tại nơi đó Thanh Lan đã quay cuốn phim đầu tiên trong đời là phim Tiếng Hát Học Trò do ông Thái Thúc Nha đạo diễn và một ông director of photography người Phi Luật Tân quay hình. Cả hai ông bây giờ đều không còn nữa. Cả tài tử Huy Cường cũng đã về bên kia thế giới từ lâu. Chị ca sĩ Thu Hương đóng vai Mẹ của Thanh Lan hiện giờ ở Pháp. Anh Ngọc Phu còn ở Cali. Trong phim có một người nam ca sĩ góp mặt trong đó là anh Chế Linh. Bây giờ mà được nhìn lại những hình ảnh đó thì thật là… chẳng biết cảm giác sẽ ra làm sao, thật là khó tả khi nhìn lại hình ảnh mình vào độ tuổi đôi mươi.

    Đó là nói về nghề nghiệp, nhưng những kỷ niệm sâu xa nhất lại là với đại gia đình họ Thái trú ngụ tại Alpha Film. Mẹ Thanh Lan gọi ông Thái Thúc Nha bằng chú, nên Thanh Lan phải gọi ông bằng ông. Và có thời gian khoảng 4 năm, Thanh Lan đã sống tại phim trường này. Họ Thái, là họ bên ngoại của Thanh Lan, có 3 giòng chính là Thái Văn, Thái Nguyên và Thái Thúc. Họ Thái đa số thông minh học giỏi. Ông ngoại Thanh Lan là ông Thái Nguyên Đào, hiệu trưởng lycée ở Thanh Hóa và cũng có lúc làm quan Bộ Học (Bộ Giáo Dục) tại triều đình Huế.

    Giòng Thái Nguyên cũng có họa sĩ Thái Bá, Thanh Lan gọi bằng cậu, học ngành họa tại Pháp nhưng có thời gian ở Orange County rất lâu. Cậu vẽ những bức tranh rất thuần túy Việt Nam được in thành những tấm thiệp chúc Tết.

    Nếu có những ai từng làm ở Bộ Ngoại Giao trước 1975 thì chắc chẳng quên được ông Thái Văn Kiểm, mẹ của Thanh Lan gọi ông bằng anh, nên Thanh Lan phải gọi bằng bác. Không được biết về ông nhiều, nhưng cách đây 2 năm có lần qua Pháp hát, Thanh Lan có hỏi thăm về ông thì được biết ông đã nghỉ hưu và về dưỡng già tại Việt Nam.

    Đó là nói chung về bên ngoại, Thanh Lan không được biết hết tất cả thân tộc vì ngày xưa Ba Mẹ không có dịp dẫn đi chào tất cả, nếu có sơ sót xin họ hàng bên ngoại tha thứ cho Thanh Lan. Hoặc nếu có dịp gặp xin nhận họ hàng cho đỡ cô đơn nơi xứ người.

    Trở lại với Alpha Film, không biết ai đã đặt tên cho phim trường nhưng bây giờ phân tích lại thì người ấy hẳn kỳ vọng vào nơi này ghê lắm. Như quí vị biết, người Mỹ cũng hay nói “he thinks he is the alpha dog” để nói về một chú cẩu nhanh nhẩu tinh nhuệ. Vậy thì có lẽ lúc đó ai cũng ước vọng Alpha Film sẽ là số một, sẽ sản xuất những cuốn phim hay nhất, được ăn khách nhất. Đó là nói về cái tên gọi thôi, còn thực chất bên trong thì sao? Thưa quí vị, ở nơi đó Thanh Lan đã trải qua những năm thăng hoa của sự nghiệp, rồi đến những lúc khốn khổ sau tháng 4, 1975. Nếu ngồi mà nhớ lại từng chi tiết thì có lẽ kể đến cả tháng cũng chưa hết chuyện nên thôi thì vắn tắt lại mà thôi.

    Trước 75 thì thôi đông vui quá rồi. Gia đình ông bà Thái Thúc Nha cùng các con, cậu Didi, dì Hoàng Lan, cậu Minh, cậu Phong, cậu Cường, rồi tới gia đình ông bà Thái Thúc Thuần và các con, rồi gia đình cậu Thái Nguyên Sao và các con, rồi gia đình ba mẹ của Thanh Lan (và các con), tất cả quây quần sống thuận hòa thân thiết với nhau tại đó. Sau 75 cậu Phong và vợ con đi vượt biên bị đắm tàu, Thanh Lan buồn vô cùng vì lúc đó Thanh Lan thân với cậu Phong nhất. Tuy gọi bằng cậu nhưng nhỏ tuổi hơn, lúc nào cũng thương Thanh Lan như một người chị. Có những ngày đầu năm 75, sáng sớm 6 giờ dậy đi đóng phim với hãng phim Nhật (Phim Number Ten Blues), chính cậu Phong là người chịu khó dậy sớm chở Thanh Lan tới nơi quay phim. Thanh Lan không quên đâu cậu Phong.

    Sau 75, có thời gian gia đình cậu Thái Nguyên Liêm, cũng về trú ngụ nơi đây trước khi tìm đường vượt biên, hiện cậu ở Monterey Park. Khi hãng phim bị tịch thâu, mỗi gia đình phải tách rời ra, không còn được xum họp một nhà như trước nữa. Hiện nay cậu Didi ở tại Úc, dì Hoàng Lan ở Pháp. Ông bà Nha, cậu Phong, cậu Cường đã mất. Và mới đây thôi, một ngày Thứ Sáu 13 buồn bã lạnh lùng, cậu Minh đã qua đời tại Dalat. Chỉ mới cách đây mấy năm cậu Minh còn gọi phone: “Thanh ơi, đi làm phim với cậu Minh không?”. Thanh Lan đã mời cậu đến nhà, chỉ cho cậu một cảnh gần đó rất giống ở Việt Nam để quay thử một đoạn phim cho một cô diễn viên trẻ mới được tuyển. Rồi sau đó bà Nha mất ở Việt Nam nên cậu về lo cho bà. Rồi bây giờ cậu từ giã cõi đời này mà đi luôn không bao giờ nghe giọng nói của cậu nữa.

    Thái Thúc Hoàng Minh là một người rất đa dạng. Những nhận xét đầu tiên mà mọi người nhìn thấy ở Hoàng Minh là nét khỏe khoắn, lanh lẹn của một người đàn ông rất mực đàn ông. Trong gia đình, Hoàng Minh kề cận bên ông Thái Thúc Nha trong tất cả những dự án làm phim. Hoàng Minh rất hết lòng hết sức bất kể ngày đêm làm tất cả những gì mình làm được. Quay phim, đặt đèn, đôn đốc, giúp đỡ các nhân viên trong phim trường. Hoàng Minh thật tình đặt hết lòng vào công việc tương lai là sẽ gánh vác sơn hà, tiếp nối sản xuất phim khi Ông Thái Thúc Nha muốn được nghỉ ngơi khi tuổi già sức yếu. Nhưng… đời không như là mơ nên Alpha Film sụp đổ không còn gì. Đặt mình vào địa vị của Hoàng Minh, Thanh Lan cũng cảm thấy mình thật là hụt hẫng. “Xót xa lắm cậu Minh ạ”.

    Alpha Film. Một thời tuổi trẻ, một thời mất mát, một kỷ niệm không phai.

    Tuy bây giờ chắc chẳng còn giống trong ký ức, nhưng 4 năm sống tại đó đầy ắp những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn. Khi không còn phim trường nữa, ông Nha dọn về căn nhà nhỏ gần chợ Bến Thành mở tiệm chụp hình để sinh sống. Ông có nhắn Thanh Lan đến để ông chụp hình cho, và vừa cười buồn vừa nói: “Le chat qui mord sa queue”.Ý ông nói quanh đi quẩn lại thì lại làm cái việc cũ là việc chụp hình (trước khi ông có phim trường). Cuộc đời là một cuộc bể dâu, không có gì là tồn tại mãi mãi, duy có ký ức thì đầy ắp và tràn về khi mình có được đôi lúc ngồi một mình nhìn biển cả lấp lánh trong nắng chiều.

    Cháu Thanh Lan xin gửi nơi đây nén hương lòng cho những thân nhân họ Thái đã khuất và cầu xin cho tất cả thân tộc được khỏe mạnh, an vui trong năm Ất Mùi 2015.

  6. #106
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2017
    Posts
    124
    Khoa cảm ơn những bài viết ChiecLaVoTinh posted trong thread này . Chu'c ChiecLaVoTinh một ngày vui vẽ ...

  7. #107
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2017
    Posts
    124
    Mẹ nằm đấy ... tuy thân xác Mẹ ở đây nhưng thật ra Mẹ không còn nữa. Tôi đưa tay sờ nhẹ lên mặt Mẹ . Tôi muốn được sờ Mẹ lần cuối. Tôi đưa tay vuốt nhẹ lên cái hoa mà tôi đã gài lên tóc Mẹ và đẩy nhẹ cái thư nhỏ tôi đã viết cho Mẹ vào túi áo Mẹ. Ðể làm gì ? Tôi cũng chẳng rõ. Tôi chẳng mong Mẹ sẽ đọc được thư của tôi nhưng rồi tôi cần viết ra những gì trong đầu tôi, trong lòng tôi lúc bây giờ . Tôi đọc cho Mẹ với những giọt nuớc mắt còn lại trong tôi . Viết lá thư cuối cùng cho Mẹ để rồi tôi sẽ không bao giờ còn có dịp viết thư cho nguời Mẹ hiền của tôi nữa.

    Hai hôm nay , đã nhiều lần tôi đưa tay níu lấy tay áo của Mẹ , rồi nghĩ rằng ... nếu tôi kéo Mẹ mạnh mạnh một chút, biết đâu ... biết đâu ... biết đâu Mẹ sẽ tỉnh lại và cuời với tôi ?

    " Mẹ chờ con để Mẹ ôm con " , lời nói vưà hôm kia , bây giờ , mỗi lần nghĩ đến , là mỗi lần tôi rơi nuớc mắt ....


  8. #108
    Quote Originally Posted by Khoa1221 View Post
    Khoa cảm ơn những bài viết ChiecLaVoTinh posted trong thread này . Chu'c ChiecLaVoTinh một ngày vui vẽ ...



    Nhớ Trần Lê Nguyễn

    Đây là tấm hình Trần Lê Nguyễn dặn vợ con là khi nào anh mất (mùng 7 rạng mồng 8-7-99) hãy đưa tấm hình này lên bàn thờ ... Sáng 1 tháng 7 vừa qua, anh em văn nghệ còn lại ở Sài gòn như họa sĩ Tú Duyên (80 tuổi ngoài mà vẫn còn mạnh giỏi), ông Khai Trí, ông Văn Quang, ông Uyên Thao, ông Vương Đức Lệ ... và gia đình đã đưa anh lên Bình Hưng Hoà hỏa táng. Chị Trần Lê Nguyễn có đưa cho ông Văn Quang tấm hình này với lời trăn trối của anh ... Ông Văn Quang liền gửi sang cho tôi. Anh Trần Lê Nguyễn là người viết kịch, là đạo diễn kịch cho nên anh chọn hình rất đúng. Trần Lê Nguyễn đây rồi: Trần Lê Nguyễn bằng xương bằng thịt. Nhưng thật ra bây giờ, Trần Lê Nguyễn chỉ còn là một nắm tro tàn.

    Tôi được quen biết Trần Lê Nguyễn từ lâu lắm, gần 60 năm về trước. Ngày ấy tôi là một anh học trò nhà quê ra tỉnh học. Chủ nhật, ngày lễ là đạp xe về quê. Tôi lúc ấy 15, 16 tuổi đang học năm thứ 2 bậc trung học. Còn Trần Lê Nguyễn, bậc đàn anh của tôi đã 20 tuổi, đang học năm cuối sư phạm. Lúc bấy giờ chưa có tên Trần Lê Nguyễn. Đó là bút hiệu của anh sau này. Khi ấy tôi chỉ biết anh là Nguyễn Huy Tạo, người mà khắp vùng tổng Thạch Xá chúng tôi đã bắt đầu gọi anh là “anh giáo”. Nghề giáo là nghề “gia truyền” của gia đình anh. Ông thân sinh ra anh là ông giáo Nguyễn Huy Khôi. Ông chú anh là ông giáo Nguyễn Huy Đôn (bạn nào làm ở đài phát thanh Sài gòn lâu năm, chắc nhớ ông giáo Nguyễn Huy Đôn sau này làm công chức biên tập viên tiếng Pháp phòng ngoại ngữ). Làng tôi, làng Hữu Bằng tổng Thạch Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai - Sơn Tây) còn được gọi là làng Nủa chợ - có nghề dệt và nhuộm vải nâu ...

    Em ơi ngày xưa làng ta vui
    Say mộng bình yên làng ta cười
    Tiếng nói mỗi chiều chày đập sợi
    Rộn ràng hát với màu nâu tươi
    Đời lành như lá vải
    Êm êm xa ống quay đều...
    (Tào Mạt - 1949)

    Người bạn xưa làm thơ Tào Mạt đã nói lên nỗi nhớ quê khi chúng tôi đi tản cư nhớ về làng cũ và nhắc đến nghề nghiệp của nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Còn Thạch Xá, làng của anh Nguyễn Huy Tạo cạnh làng tôi lại có nghề làm chè lam, làm bỏng mật, kẹo bột, kẹo vừng nức tiếng và nghề “kéo vó “. Một bậc đàn anh khác của tôi, anh Bùi đình Diệm (nhà thơ Quang Dũng) ở Phùng (Đan Phượng) tạt vào vùng tôi chơi đã có câu thơ nói về làng Thạch:

    ”Làng xóm xông hương bỏng kẹo
    Chè lam thơm, cơm mới chuối tiêu vàng“.

    Từ Phùng vào Nủa chợ phải đi qua Hạ Hiệp, quê của Phạm Đình Chương. Những ngày nghỉ học, Chương và tôi đạp xe về thăm “quê ngoại” đều đều.

    Từ cổng Giếng làng tôi, đi qua Giếng Bìm tới đường cái “Cao Vòng” rẽ tay trái là sang làng Đặng - làng của Tú Kếu Trần Đức Uyển. Rẽ tay mặt tới Gò gai nơi đàn anh Nguyễn Lộc người sáng lập ra Vovi Nam dạy những bài học đầu tiên cho môn sinh, rồi qua Cầu Đá tới làng Thạch của Nguyễn Huy Tạo. Làng này là làng chiêm trũng, trông giống như một cù lao xanh nổi lên giữa Đầm Bùi nước bạc. Khi mùa Ngâu nước lũ, các làng chung quanh chưa ngập, làng Thạch đã ngập rồi. Quê nội chúng tôi ở làng Nủa chợ, quê ngoại chúng tôi là làng Chàng (còn gọi là làng Nủa Quạt), phải qua làng Thạch mới tới nơi. Đi ăn giỗ bên nhà mẹ tôi có năm nước lớn quá, cả nhà tôi, nhà dì tôi (mẹ tôi và dì tôi đều lấy chồng bên Nủa chợ) phải đi một chiếc thuyền thúng lớn. Đi vòng Đầm Bùi xung quanh làng Thạch rồi mới tới làng Chàng. Quê tôi miền trung du nên núi đồi, cây cổ thụ, đá ong khô rất sẵn ... Thật ít khi tôi được đi qua một vùng sông nước rạt rào, những bờ tre, bãi mía, những vỏ bè hiu quạnh soi mình trên giòng nước bạc xa xa một cánh cò trắng bay về phía núi Sài Sơn. Phong cảnh như cắt ra từ một bức tranh thủy mặc

    ”Lạc hà dữ cô vụ (lộ) tề phi ...
    Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” (1),

    Quê hương như vậy, Nguyễn Huy Tạo lúc đầu tiên làm thơ là đúng Chúng tôi những ngày hè thường sang quê ngoại thăm ngôi trường tư của ông cậu tôi cậu Ba Nguyễn Hợp. Ông cậu tôi đậu diplôme nên có mở một lớp luyện thi certificat cho “sĩ tử” quanh vùng. Sau rồi cậu tư Nguyễn Sùng mới đậu cử nhân luật cũng thường tới đây giảng bài, nói chuyện văn chương thi cử nên chúng tôi vẫn thường sang tham dự.

    Những người đồng khóa với cậu cử Sùng như ông cử Chu Văn Bình trên Quảng Oai (nhà văn, nhà báo Chu Tử sau này), ông cử Cù Đình Lộ ở Đan Phượng cũng thường vào chơi. Các ông, qua lời đàm luận đang có ý định mở một ngôi trường trung học (hoặc ở phủ Quốc Oai, hoặc trên tỉnh lỵ Sơn Tây) để cho học trò vùng này, nhiều người sáng dạ lắm có chỗ mà học hành, khỏi phải ra Hà nội. Nhưng cái tên trường Khôi Việt có lẽ không hợp ý nhà cầm quyền người Pháp nên cái trường trung học ấy mãi mãi vẩn chỉ là dự thảo. Những thanh niên lớp sau như chúng tôi, cái mộng lớn nhất là trở thành ông giáo ở trường trung học đầu tiên ở tỉnh mình, cũng không bao giờ thành tựu.

    Anh Nguyễn Huy Tạo là học trò cũ của ông cậu Nguyễn Hợp chúng tôi. Anh sang chơi, ông cậu tôi thỉnh thoảng lại nhờ anh dạy giúp một vài giờ. Những học sinh của trường này lạ lắm. Phần lớn là những anh nhiêu, anh khán, răng đen, áo the, khăn lượt hay là đội mủ casque ... đã trượt certificat ít nhất một vài lần ... bây giờ cố đi học lấy cái bằng “cơ thủy” để về làng làm chân chưởng bạ hay là lý trưởng. Có anh vừa đậu được certificat ở trong vùng cận sơn mổ heo ăn mừng rầm rĩ.

    Những học trò giỏi của ông cậu tôi đã qua trường này là Nguyễn Huy Tạo là Nguyễn Mạnh Du. Có những bài luận văn tiếng Pháp (rédaction francaise) của các anh được nhà trường giữ lại làm bài mẫu cho học sinh lớp sau. Các học trò “nhiêu, khán” nhìn anh “trưởng tràng” Nguyễn Huy Tạo, Nguyễn Mạnh Du như là thẩn tượng.

    Cũng không biết thế nào mà nói trước. Anh Nguyễn Mạnh Du người viết văn rất xuất sắc lại trở thành kỹ sư. Anh Nguyễn Huy Tạo, thơ ca đầy người lại trở thành nhà biên kịch Trần lê Nguyễn. Còn anh Bùi Đình Diệm người vẽ rất đẹp, vẽ trên cổng, trên tường nhà thì lại trở thành nhà thơ Quang Dũng ...

    Kẻ Trước, Người Sau...

    Người dời bỏ vùng quê hương mến yêu ấy ra đi đầu tiên là tác giả “Đôi mắt người Sơn Tây”, anh Bùi đình Diệm (nhà thơ Quang Dũng). Năm ấy là năm 1942 thì phải. Tôi vừa ở Hà Nội về bỗng nhận được tin dữ mật thám Tây về khám nhà cụ tổng Phùng, lùng bắt anh Bùi đình Diệm. Nhưng Tây không bắt được anh... anh đã kịp thời trốn chạy. Nghe nói, anh Diệm học sư phạm xong rồi nhưng không đi dạy học mà xin vào làm ở sở hoả xa; không phải anh muốn đi làm '“công, tư chức” mà anh làm ở đó để tìm đường, tìm phương tiện cho đồng chí của anh Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt, đi sang Trung Hoa. Đang làm hoả xa thì công việc bại lộ. Mật thám truy tầm anh ở Hà nội, ở Phùng (Đan Phượng) nhưng anh đã xa chạy cao bay. Sẵn đường hỏa xa anh Bùi đình Diệm đi sang Trung Hoa luôn - và sau đó anh theo học một phân hiệu miền Nam của trường võ bị Hoàng Phố... Năm 1945, 1946 sau Đệ nhị thế chiến, trong Đệ nhất phương diện quân Trung Hoa của tướng Lư Hán sang giải giới quân đội Nhật Bản ở phía Bắc Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 trở lên) đã có mặt Trung uý Trung Hoa Dân quốc Bùi Đình Diệm.

    Không biết vì lý do nào anh đã ở lại Hà Nội, sau khi giải giới xong quân đội Phù Tang... Năm 1946 anh là sĩ quan Vệ quốc đoàn làm việc trong ban liên lạc quân sự 3 bên: Trung Hoa - Pháp - và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Thật cũng khó tìm được một sĩ quan liên lạc như anh: vừa là cựu sĩ quan Trung Hoa, vừa thông tiếng Pháp vừa là đại diện cửa quân chính địa phương. Vì lẽ nào anh ở lại, xung vào Vệ quốc Đoàn đối với tôi, dù rất gần gũi với gia đình anh vẫn còn là một vùng bóng tối.

    Tôi chỉ biết ở Đan Phượng, sau khi cụ Tổng Phùng ông thân anh mất, có một bà mẹ già đêm ngày ngông ngóng chờ con – có một người thiếu nữ, em một người đồng chí của anh, người đã lo cưu mang dấu điếm anh khi anh bị lùng bắt, đã trở thành chị Bùi đình Diệm, chị về Đan Phượng chờ anh. Có một đàn em anh vừa trai vừa gái...đang chờ người anh cả về để làm “quyền huynh thế phụ”.

    Những bức tranh anh vẽ trên cổng, trên tường nhà ở Đan Phượng thời gian kháng chiến chống Pháp...khi sửa sang lại tôi đã thưa với cụ Tổng mẹ anh là phải giữ lại hết. Những bức tranh đã phai mờ theo năm tháng...nhưng vẫn là những gì còn lại của anh Diệm trong khu nhà này. Anh ở hậu phương đi kháng chiến chống Pháp...đi sang Lào theo đoàn quân Tây Tiến rồi trở về làm “văn nghệ”. Dù anh cố gắng đến đâu chăng nữa, người ta vẫn không quên cái gốc tiểu tư sản của anh.

    Anh là một sĩ quan bị đánh giá thấp nên anh về Quần Tín làm văn nghệ dưới quyền ông tướng Nguyễn Sơn ở khu 4 (Thanh Hoá). Ông tướng văn nghệ Nguyễn Sơn đi rồi là những nghệ sĩ “tiểu tư sản” như anh không còn đất sống.

    Bài ca Tây Tiến của Quang Dũng được những người thanh niên đi kháng chiến khắc sâu vào tâm trí, coi như bài thơ bi hùng lãng mạn nhất của thời kỳ đầu kháng chiến lại bị trùm văn nghệ Bôn Sê Vích là Tố Hữu phê bình lên án nặng nề. Từ đó anh cam phận “hàng thần lơ láo”. Anh đói suốt đời, đói Tự Do và bao tử anh luôn luôn đói. Trong tuyển tập thi ca 30 năm cách mạng của Hà nội xuất bản sau năm 1975, Quang Dũng, người có thơ được cả nước thuộc nằm lòng chỉ được hiện diện trong tuyển tập này bằng 1 bài thơ vô thưởng vô phạt “Những cô gái trồng cây”. Những thi sĩ công thẩn của chế độ như Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông...được tuyển từ 8 đến 5 bài...Thi sĩ 1 bài như Quang Dũng, lại là bài thơ “không giống ai” được coi như thi sĩ hạng bét của chế độ.

    Có những “giai thoại” về chuyện ít khi được ăn no của Quang Dũng. Anh người cao lớn... chừng 1m75 thuộc loại “vừa văn nhân vừa tráng sĩ”. Có bức hình chụp Quang Dũng lúc ở trong Quân đội Trung Hoa, cưỡi ngựa hồng đeo “pặc hoọc” râu hùm, hàm én... Nhưng tráng sĩ này không có cái niêu cơm thẩn thoại của Thạch Sanh nên suốt dời thiếu ăn. Truyện kể rằng ông Nguyễn Tuân vừa lĩnh được món tiền nhuận bút liền mời ông Quang Dũng đi ăn xôi, gà.

    Ông Nguyễn ăn uống cảnh vẻ - gẩy gẩy từng hạt xôi. Đĩa xôi của ông Nguyễn chưa vơi thì ông Quang Dũng đã ăn xong. Ông Nguyễn liền hỏi “ông dùng thêm đĩa nữa”. Ông Quang Dũng trả lời “xin vâng”. Ông Nguyễn chưa ăn xong đĩa xôi của mình thì ông Quang Dũng đã 6 lần “xin vâng” cùng ông Nguyễn.

    Một người bạn văn buổi tối đến thăm Quang Dũng. Anh không có nhà. Vừa mới đi ra cửa thì gặp Quang Dũng trở về. “Ông đi đâu về đây” “Tôi đi ăn ốc”. Thật ra buổi tối ở Hà nội không còn ai bán ốc. Quang Dũng, để cho quên cái đói, đi ra đường ăn “ốc xy” (dưỡng khí).

    *

    Năm 1942, anh Bùi đình Diệm ra đi thì vài tháng sau, anh Nguyễn Huy Tạo (Trần Lê Nguyễn) cũng lên đường. Đây là thời kỳ Pháp ra sức khủng bố và càn quét cơ sở của các đảng phái Cách Mạng Việt Nam. Đang học năm cuối bậc Sư Phạm, anh Tạo bỏ học. Một buổi tôi lang thang ra đồng đi ra chỗ cây Đa Lò Ngói xem nước năm nay cao thấp thế nào. Cây đa Lò Ngói nằm sát ngay Đầm Bùi, nhìn sang làng Thạch của anh Nguyễn Huy Tạo. Mùa nước lên cao nhất là vào tháng 7. Tháng 8 nước rút... Nhìn cây đa Lò Ngói xem ngấn nước in trên thân cây đa - là biết nước năm nay cao hơn hay thấp hơn năm ngoái. Đầm Bùi vẫn còn sóng nước bao la - những chiếc vó bè cao, thấp, gần xa ẩn hiện chung quanh làng Thạch.

    Vì làng Thạch là làng chiêm trũng như vậy, ruộng lại ít nên ngoài nghề bỏng kẹo, còn làm nghề cá, chuyên sinh sống trẽn sông nước. Đang đứng bên cây đa Lò Ngói chợt tôi thấy một người đánh dậm áo tơi, nón lá quần sắn lên tận đùi đang mang một cái dậm đi về phía tôi (Dậm là một cái nơm bắt cá bằng tre đan thưa có tay cầm ở giữa; khi bắt cá đưa phần miệng mở của cái nơm áp vào bờ ao, bờ mương, dậm chân cho cá chạy vào rồi nhắc lên bắt cá tôm). Khi đến gần tôi nhận ra anh Nguyễn Huy Tạo. Anh nói khẽ “theo tôi”. Tôi theo anh tới một bờ tre, có một chiếc thuyền con dấu ở trong đó. Anh lấy thuyền ra, bảo tôi ngồi lên rồi anh nhanh nhẹn, chống sào cho thuyền đi vào Đầm Bùi mênh mang nước bạc.

    Thuyền chúng tôi tới gần một chiếc vó bè. Đây là phương tiện “chủ lực” của việc đánh cá dưới Đầm Bùi. Ở những chân ruộng sâu hay theo giòng nước chảy, người ta thiết lập những vó bè to lớn. Một chiếc vó rất rộng, hình vuông có 4 cái khung là 4 cây tre căng chiếc vó ra, được một cái bè làm bằng những cây bương lớn hạ chiếc vó có chiếc nôm ở dưới đáy phủ xuống một vùng sông nước. Ở đằng sau chiếc bè có một cái lều nhỏ để cho người trông nom vó bè sinh hoạt. Tùy theo con nước, mưa nhiều nước lớn thì kéo chừng 5,7 phút một lần - nếu nước lặng trời êm thì kéo chừng 15 phút một lần. Khoảng nửa buổi, người trông nơm vó bè lại đi thuyền ra thăm chiếc nôm đổ cá thu hoạch được vào rổ lớn trong thuyền. Kéo vó bè có thể bắt được loại cá “trắng” như cá chép, cá trôi, cá mè, cá diếc và cả cá “đen” như cá rô, cá trê, cá quả...có khi kéo được cá lươn.

    Từ chiếc vó bè tôi nhìn xung quanh. Vì đồng không mông quạnh - nên ngồi đây có thể bao quát cả một vùng. Đường tới làng Thạch, từ phía trái, phủ Quốc Oai qua phía làng Đặng của Trẩn đức Uyển - từ cầu Niêu trên Thạch Thất về phía trước mặt, qua phía phải từ Đan Phượng qua Hạ Hiệp, Canh Nậu trở vào… những động tĩnh xung quanh cứ ngồi đây là theo dõi được hết. Tôi cũng lờ mờ hiểu vì sao anh không ở trong làng mà lại ở trên vó bè như thế này. Nếu có chuyện, từ giữa Đầm Bùi anh sẽ có nhiều đường tẩu thoát. Tôi không dám hỏi nhưng tôi biết chắc những bậc đàn anh của tôi thời đó, ít hay nhiều đều dính vào quốc sự.

    Trong chiếc lều nhỏ, có một nồi cháo đang sôi trên cái hoả lò, anh cúi xuống mở nắp nồi, mùi hạt tiêu và rau thìa là thơm phức...Anh nói nhỏ “Có con cá quả khá to lên đây ăn cháo với tôi”. Anh bày hai chiếc bát chiết yêu, so đũa. Chừng nhớ ra điều gì anh ra đầu lều, sẽ huýt sáo. Một lát có tiếng chèo khua nước. Một cô gái quê áo nâu non, tóc đuôi gà mắt lá dăm, người tròn lẳn như một con cá trôi dấn bước lên lều. Cô gái không chào...cứ mím miệng cười. Anh Nguyễn Huy Tạo giơ tay đỡ lấy chai rượu từ tay cô gái. Anh không nói gì, miệng khẽ phác một nụ cười, như một lời cảm ơn thẩm hay một lời chào hỏi. Cô gái quay xuống còn ngoái lại một cái nhìn tinh quái, sắc như dao. Tôi lúc bấy giờ là một gã trai mới lớn, nhìn người con gái như một thế giới mơ ước đầy huyền hoặc, trong đầu óc luôn lởn vởn một hình bóng Graziella hay một Thôi Oanh Oanh ẻo lả và quyến rũ. Nguyễn Huy Tạo và tôi bắt đầu nhấp rượu. Trời đất say say. Tôi nhìn ra khoảng Đầm Bùi vắng lặng - hai cái lều con giữa khoảng trời nước mênh mông, ở đó có một người thanh niên 20 tuổi và người thiếu nữ vừa mới dậy thì. Chuyện gì đã xảy ra giữa khoảng trời mơ mộng ấy. Tôi bỗng nhắc đến câu thơ lấy ý từ Lamartine:

    Người yêu mười sáu tuổi đầu
    Vâng, mười sáu tuổi yêu nhau được rồi....

    Đàn anh Nguyễn Huy Tạo nghe xong, vỗ vai tôi mà nói “Cậu đang bước vào thời kỳ lãng mạn. Còn tôi mai đây, phải từ biệt nó rồi”. Nói xong, nụ cười của anh bỗng tắt trên môi. Bên ngoài trời động, sấm rền từ phía chân trời xa. Nguyễn Huy Tạo. nhìn mông ra Đầm Bùi nước bạc mà nói “Có lẽ đêm nay hay ngày mai tôi đi”... Anh khe khẽ đọc cho tôi mấy câu thơ tạm biệt

    Ta đi Trời cũng rưng rưng khóc
    Cái thế không đừng ta phải đi
    Chờ cho thiên hạ thôi mùa khổ
    Ta hẹn nhân gian cái nẻo về...
    (Nguyễn Huy Tạo 1942)

    Đi Hay Ở

    Những bậc đàn anh của tôi dạo ấy, như anh Bùi đình Diệm (Quang Dũng) anh Nguyễn Huy Tạo (Trần Lê Nguyễn) hay trên một chút nữa như các ông cử Chu văn Bình (Chu Tử), Nguyễn Sùng, Cù Đình Lộ đều coi chuyện “ra đi” hay đóng góp một cái gì cho đất nước là bổn phận… Đó là tâm cảm chung của một thế hệ được truyền lại từ các bậc tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ...Người cỏ chút chữ nghĩa kẻ trước người sau đều tính chuyện “lên đường”. Nhân vật lý tưởng của thanh niên thời ấy, đầu thập niên 40 là nhân vật Dũng trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Đang có địa vị. đang có người yêu nhưng Dũng dời bỏ thành phố ra đi. Nhất Linh không nói rõ mục đích của sự ra đi ấy (vì người Pháp còn đang đô hộ đất nước này) nhưng “giữa những dòng chữ” phải hiểu Dũng ra đi vì quốc sự. Hình ảnh một người thanh niên sương gió... “một buổi chiều đìu hiu gió cuốn, trên một bến sông xa, nhớ về người yêu bé nhỏ ở quê nhà” là một hình ảnh hết sức lãng mạn mà cũng vô cùng lý tưởng.

    Kịch thơ “Lên đường” của Hoàng Cầm được đăng tải và công diễn tại nhà Hát lớn Hà Nội đầu thập niên 40, kể rằng: Thái người thanh niên của một giòng họ lớn...đêm 30 Tết gần giao thừa lên bái biệt cha, một nhà nho khí tiết theo một văn thân là ông Tú đi ra hải ngoại. Ông đồ tiễn biệt con khi pháo giao thừa nổ… vợ Thái ôm con thơ, tiễn chồng bằng câu hát:

    “Ba năm lưu lạc giang hồ
    Một ngày xây dựng cơ đồ vẫn nên...”

    Rồi Tổng hội sinh viên Việt Nam đưa ra những bài ca lịch sử, gọi hồn sông núi. Bài hát trong cửa miệng mọi người ngày ấy là “Anh em ta cùng nhau xông pha lên đường”. Cái thời “tài hoa son trẻ” ngồi ôm một giấc mơ vị kỷ không còn nữa. Tuyết Hồng lệ sử, Tố Tâm... thời thanh niên khóc hoa, chôn hoa đã qua rồi. Tiếng bom súng của đệ nhị thế chiến (1937 Nhật Bản xâm lăng Trung Hoa 1940, 1945 phe Đồng Minh chống phe Đức - Ý - Nhật) cùng với phong trào giải thực (décolonisation) đã đánh thức nhân dân các nước bị trị đứng lên đòi độc lập cho xứ sở.

    *

    Có một bài thơ của Quang Dũng ít được truyền tụng, nhưng nó lại là “tâm sự” của Quang Dũng, trước khi anh ra đi. Nằm trong chăn ấm đệm êm, bên mình là một người yêu bé nhỏ nhưng Quang Dũng cảm thấy một “nỗi buồn êm ấm”. Nằm đây sao được khi ngoài kia tri kỷ muôn phương đang ngóng đợi - nước non đang thúc giục lên đường:

    Có những đêm trường buông gối chăn
    Giận mình êm ấm chán tình thân
    Tủi hờn với cả lời săn sóc
    Của những người lo tới phận mình
    Vi vút nỗi niềm ai thấu nhẽ
    Chao ôi, tri kỷ ở ngàn phương
    Đêm đêm gió cuốn từng cơn nhớ
    Từng trận sầu tư lướt thướt đường...
    (Quang Dũng 1941)

    Đàn anh Nguyễn Huy Tạo (Trần Lê Nguyễn) chia tay với tôi một buổi chiều thu trên chiếc vó bè hiu quạnh ở Đầm Bùi sóng nước bao la cũng nằm trong chiều hướng ấy.

    Rồi 4, 5 năm sau, thế hệ chúng tôi cũng theo chân người trước, lên đường. Cuối năm 1946, ngày 19 tháng 12, khi cuộc kháng chiến chống Pháp thực dân theo quân đội Anh (giải giới quân đội Nhật) đến tái chiếm đất nước Việt Nam này, tôi đã là Tự vệ Thành Hà Nội. Chiến đấu bằng súng trường mousqueton, lựu đạn nội hóa, bom xăng tự chế... chúng tôi cũng giữ được Hà Nội trên 60 ngày. Một buổi sớm mùa xuân 1947 Tự Vệ Thành rút qua cầu Long Biên, sang bên kia sông Hồng, nhìn về thủ đô Hà Nội đang rừng rực cháy. Chúng tôi đi về hậu phương tiếp tục cuộc chiến chống Pháp, đòi lại Độc Lập cho xứ sở. Đối với chúng tôi và tất cả những thanh niên từ giã gia đình đi kháng chiến đó là việc phải làm không bàn cãi gì nữa. Chúng tôi lao vào cuộc chiến, hân hoan náo nức như đi vào một ngày hội lớn.

    Nhưng cái hân hoan náo nức ấy theo thời gian mà nguội lạnh dần. Càng đi vào cuộc chiến dưới sự lãnh đạo của Việt Minh chúng tôi nhận ra rằng đây không phải là cuộc chiến của mình. “Đoàn kết đại đoàn kết” chỉ là khẩu hiệu của một thời. Người thanh niên yêu nước khi đi chiến đấu đặt vấn đề độc lập cho dân tộc, tự do cho xứ sở là chủ yếu. Người Bôn Sê Vích chỉ huy cuộc chiến chỉ dùng dân tộc như một bức bình phong để chiếm lấy quyền lãnh đạo. Mục tiêu tối hậu của người Cộng Sản đệ tam là xây dựng một nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đầu tiên tại vùng Đông Nam Á. Trong cái Xã Hội Chủ Nghĩa ấy, không có chỗ cho trí, phú, địa, hào - giai cấp tư sản sẽ không còn tồn tại. Chỉ có người vô sản ngự trị, toàn quyền sinh sát.

    Chế độ vô sản chuyên chính chủ trương xóa bỏ tư hữu. Tư hữu vật chất như nhà cửa, ruộng nương, đất cát, tiền bạc... - tư hữu tinh thần như nhận thức, tư tưởng ... không bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê nin. Những thanh niên đi kháng chiến có đôi chút học thức, một sớm một chiều nhận thấy mình có tội, bản thân mình không có chỗ đứng ở đây. Người có học không được sử dụng theo khả năng, những đồng chí bần cố nông cốt cán mới học xong bình dân học vụ tốt nghiệp “i tờ” sẽ chỉ huy mình, xài xể mình và một ngày không xa... người tư sản vật chất hay tinh thẩn, sẽ bị triệt hạ.

    Trong khi đó quân Pháp trở lại Đông Dương, dưới niêm hiệu lực lượng của thế giới Tự Do ngăn chặn làn sóng đỏ, đã bắt đầu thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc vĩ tuyến 17 - và quân đội Anh ở miền Nam; người Pháp xua quân mở rộng vùng “bình định”, với hậu ý đặt lại ách thực dân tại xứ sở này. Nhưng lòng khát khao độc lập của dân tộc Việt Nam đã lên cao cùng một lúc với phong trào Giải Thực của Liên Hiệp Quốc đang được cổ võ nên quân Pháp phải đưa ra một giải pháp mới: mời cựu hoàng Bảo Đại (ông vua cuối cùng của triều Nguyễn) về chấp chính với danh hiệu Quốc Trưởng quốc gia Việt Nam và Pháp sẽ trao trả dần dần quyền nội trị cho chính phủ này. Nhưng người Pháp “nói một đằng, làm một nẻo” nên chính phủ Quốc Gia non trẻ phải cùng một lúc chiến đấu trên 2 mặt trận. Một mặt đòi Pháp phải trao trả lại độc lập thực sự, mặt khác ngăn chặn vết dầu loang Mác xít Lê nin nít...

    Đầu năm 1950 tôi nghe tin các bậc đàn anh của tôi như ông cử Bình, ông cử Sùng đã hồi cư về Hà nội. Ông cử Sùng đã hồi cư về Hà nội. Ông cử Cù Đình Lộ - Quang Dũng, Tào Mạt còn ở lại...Nguyễn Huy Tạo (Trần Lê Nguyễn) không biết ở phương trời nào? Năm 1951 Phạm Đình Chương... và gia đình Phạm Duy cũng về thành. Tôi từ hậu phương trở về quê nhà Sơn Tây rồi ra Hà Nội mà hoang mang buồn bã. Tâm sự tôi giống như tâm sự Tất Vinh khi giã từ kháng chiến:

    Đi nữa hay về đây
    Thương em và thương mày
    Sầu lên cao ngút núi
    Mưa mùa Xuân bay bay
    (Tất Vinh 1949)

    Đi Tìm

    Năm 1950 tôi “dinh tê” trở về Hà Nội thì năm 1952, tôi bị động viên học khóa 2 trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Thật cũng trớ trêu. Đang đi kháng chiến đánh Tây thì ngày một ngày hai trở về lại “đi lính cho Tây”. Chúng tôi không còn chọn lựa nào khác. Ở ngoài bưng, sau 4 năm kháng chiến chúng tôi nhận thấy cuộc chiến này không phải của mình. Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc chỉ là một chiêu bài để người Bôn sê vích thực hiện chính quyền chuyên chính vô sản trên đất nước này. Còn người Pháp, tuy mang danh là trở lại Đông Dương chống sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản nhưng thật ra người Phú Lang Sa đang âm mưu đô hộ nước ta một lần nữa. Lứa thanh niên như chúng tôi dạo ấy thật là “trở đi mắc núi, trở lại mắc sông”.

    Về thành phổ ít lâu... ông tướng cao ủy Pháp De Lattre de Tassigny ra lệnh bất cứ thanh niên nào có bằng trung học trở lên là “a-lê” vô trường sĩ quan, đào tạo cán bộ khung cho quân đội. Trước đó, chưa có quân đội quốc gia Việt Nam mà chỉ có lực lượng địa phương như Bảo Chính đoàn (Bắc Việt) Việt Binh Đoàn (Trung Việt) thân binh (Partisans) ở Nam Việt. Tất cả chỉ là những lực lượng phụ thuộc (forces supplétives) của quân đội viễn chinh Pháp. Bây giờ trong sự trao trả quyền độc lập cho Việt Nam, dù rằng độc lập giới hạn trong khối Liên Hiệp Pháp chăng nữa, nước Việt Nam cũng cần phải có một quân đội riêng. Những sĩ quan tình nguyện thuộc trường Đà lạt không đủ cung cấp cho một quân đội đang trên đà phát triển. Những tiểu đoàn Việt Nam (bataillon Vietnamien) trên hình thức là những đơn vị đầu tiên của quân đội quốc gia - nhưng trên thực tế đó là những tiểu đoàn tác chiến có tính cách phòng thủ diện địa, cất đỡ gánh nặng cho quân đội viễn chinh Pháp đang phải đối phó với những binh đoàn Cộng Sản được Trung cộng và Nga Sô chi viện hết mình càng ngày càng lớn mạnh.

    Quân đội Quốc Gia (hay nhìn rộng hơn chính nghĩa quốc gia) được hình thành trong một tình trạng “trên đe, dưới búa” như thế nên không dễ dàng bây giờ? “Chao ơi! trời đất vô cùng rộng. Ta biết dừng chân ở chốn nào?

    Mỗi người một tâm sự - một nghiệp duyên nên đã xảy ra rất nhiều hoàn cảnh éo le. Biết được mọi người thông cảm. Những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản … mà cũng không ưa người Pháp thực dân như lứa thanh niên vừa lớn chúng tôi phải sống ở đâu bao nhiêu người như anh Bùi đình Diệm (Quang Dũng) từ thuở đầu đời đã ra đi vì quê hương, đất nước, một sớm một chiều nhận ra sự khủng khiếp của chủ nghĩa tam vô nhưng không lùi được nữa, sống hắt hiu ... cho đoạn tháng qua ngày. Biết bao nhiêu người khác, có gene tư sản trong đầu - mà không đầu hàng giai cấp hay giai cấp mới không chấp nhận, đã tồn tại như cỏ cây hay bị triệt tiêu trong những đợt thanh trừng, cải tạo. Bậc đàn anh Nguyễn Huy Tạo, anh giáo Nguyễn Huy Tạo của tôi bây giờ anh ở đâu?

    *

    Tôi từ biệt anh Nguyễn Huy Tạo tại chiếc vó bè hiu quạnh trên đầm Bùi nước bạc ở quê nhà mùa thu năm 1942. Mãi 12 năm sau, cuối năm 1954 ... tôi mới gặp lại anh trong một trường hợp tôi không ngờ trước được.

    Ngày ấy sau hiệp định Genève 1954, như mọi người đã biết nước VN bị chia đôi, từ sông Bến Hải (vĩ tuyển 17) ra Bắc thuộc quyền Cộng sản - từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam thuộc quyền quốc gia. Trong cái không may chia cắt đất nước lại có một cái may là người Việt quốc gia có được thời cơ và địa lý để thiết lập một cơ chế không Cộng sản, mà cũng không bị thực dân đô hộ. Người Pháp thực dân đã bắt đầu rút về nước. (Người Mỹ lại tới Việt nam nhưng đó là chuyện sau).

    Theo như hiệp định Genève 1954 đã minh thị, sau khi ký kết. Có 300 ngày để người Việt quốc gia từ miền Bắc di cư vào miền Nam - Các chuyến phi cơ, các chiến hạm Mỹ đã liên tục chuyên chở người di cư từ Bắc vô Nam lên đến con số gần một triệu người. Ngược lại cũng có những điểm tập trung ở Nam bộ - Trung bộ để các cán bộ Cộng sản ở miền Nam tụ họp, chờ ngày lên tàu thủy tập kết ra Bắc. Một trong những điểm tập trung của cán binh Cộng Sản ở miền Trung là Vân Canh - Phước Lãnh thuộc quận Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Tiểu đoàn tôi, tiểu đoàn 6 Việt nam mà tôi phục vụ từ ngày ra trường là một đơn vị đụng trận liên miên. Nguyên là tiểu đoàn ứng chiến (bataillon d'intervention) cho tiểu khu Phủ Lý - rồi sau tiểu đoàn 6 tham gia binh đoàn lưu động (groupement mobile) đầu tiên ở miền Bắc. Bây giờ sau hiệp định Genève, tiểu đoàn tôi cũng trấn đóng ở nơi đầu sóng ngọn gió. Từ Nha Trang đổ bộ lên, kéo vô Tuy Hòa (Phú Yên) rồi đi tuốt vào vùng miền cận sơn La Hai - đóng sát vùng tập trung của cán binh Cộng sản trước khi tập kết ra Bắc.

    Suốt miền này trước đây là liên khu 5 của cộng sản gồm Nam, Ngãi, Bình, Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên). Chỉ trừ tỉnh lỵ Nha Trang và miền Đà Nẵng - Hội an suốt liên khu 5 trong những năm kháng chiến vừa qua được coi là ATK (An toàn khu) của cộng sản. Đây là lần đầu tiên, chính quyền và quân đội Quốc gia đặt chân lên miền đất này. Tiểu đoàn tôi là một đầu cầu, hay là đơn vị tiên phong ... để sau 300 ngày, tiến vào tiếp thu những vùng đất còn lại của liên khu 5. Một đặc điểm của khu vực cộng sản là bao nhiêu cầu đường trong vùng - theo sách lược tiêu thổ - đều bị phá hoại hết. Chỉ trong thời gian trên 2 tháng, ông tiểu đoàn trưởng của tôi Thiếu tá Nguyễn Văn Vĩnh (sau này là đại tá quân trấn trưởng Sài gòn Gia định Vĩnh “hèo”) đã cho quân sĩ vá đường và làm lại cầu suốt từ Tuy Hoà (tỉnh lỵ Phú yên) cho đến La Hai - Phước Lãnh.

    Tỉnh Phú Yên vừa thành lập chưa có ty công chính cho nên việc “thông đường” của tiểu đoàn tôi được toà tỉnh trưởng Phú Yên hết lòng tán thưởng. Thật ra, công việc này cũng là nhu cầu thiết yếu của một đơn vị trong chiến thuật và tiếp vận. Ông tiểu đoàn trưởng của chúng tôi đã cho xe GMC lên sân bay Nha Trang “mượn tạm” những tấm vỉ sắt lót sân bay về làm cầu – còn nhân công thì đích thân tiểu đoàn trưởng cởi trần ra cùng binh sĩ bắt tay vào, nên công việc làm xong khá sớm.

    Đã gần đến Tết. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi (lúc ấy tôi là đại đội trưởng đại đội chỉ huy kiêm sĩ quan tác động tinh thần): “Đây là cái tết đầu tiên xa quê hương...ông phải liệu liệu làm sao cho binh sĩ và gia đình họ có một cái Tết đỡ nhớ nhà. Ai đi phép thì đi… tôi và ông phải ở lại đây lo cho anh em ăn Tết...” Dù chỉ ở La Hai có 10 tháng, nhưng có những nhu cầu trước mắt tiểu đoàn phải thanh thỏa. Đi theo tiểu đoàn từ ngoài Bắc vào đây có đến gần 1000 gia đình binh sĩ. Phải lo nhà cho họ ở. La Hai là miền cận sơn, cứ lên rừng lấy gỗ, lấy tre, lấy nứa, lấy tranh về làm nhà. Phần lớn anh em trong tiểu đoàn theo Thiên chúa giáo, nên “họ đạo” trong tiểu đoàn dựng nhà thờ trên sườn đồi. Anh em Thiên chúa giáo có nhà thờ - anh em Phật giáo cũng phải có chùa để gia đình bên “lương” ngày Tết ra chùa lễ Phật. Có người tới ở đông thì phải có chợ để đổi trao. Mua bán với người địa phương. Phải có trường cho trẻ con học. Trẻ con trong tiểu đoàn đi học đã đành - trẻ con “địa phương” xin vô học ... cũng nhận luôn. Đêm đêm, trên tiểu đoàn bộ ... còn có phát thanh, ca nhạc “cây nhà lá vườn” ... Hai cái loa điện chĩa ra 2 phía ở trên đồi, ở xa hàng cây số còn nghe rõ.

    Hôm ấy là 29 tết. Ông tỉnh trưởng Phú Yên Lương Duy Ủy đi xe Landrover từ Tuy Hòa vào La Hai thăm tiểu đoàn tôi - đồng thời khánh thành văn phòng phó quận trưởng quận Đồng Xuân thiết lập ở La Hai theo yêu cầu của thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Ông tiểu đoàn trưởng của tôi muốn binh sĩ và gia đình phải tuân theo pháp luật của chính quyền địa phương, không được ỷ quyền “có súng” mà làm càn. Ông tỉnh trưởng đi qua chiếc cầu La Hai vừa làm xong, bắt tay ông tiểu đoàn trưởng trong tiếng reo hò của binh sĩ và nhân dân địa phương đứng đợi. Một tràng pháo nổ mừng Xuân sớm vang lên cùng với tiếng kèn đồng đón chào tân khách.

    Ông tỉnh trưởng hôm ấy đi với một thanh niên âu phục tím gọn gàng mà ông giới thiệu là nhà văn, kiêm “trưởng ty thông tin” tương lai của tỉnh Phú Yên. Ông giới thiệu nhà văn đó là Nguyễn Hoài - hay Trần Hoài tôi nghe không rõ. Nhưng khi “nhà văn” bỏ kính mát ra ... tôi giật mình. Dù đã trên 10 năm xa cách người thanh niên âu phục tím kia chính là Nguyễn Huy Tạo, người đàn anh của tôi. Anh Tạo có một cái sẹo nhỏ ở mắt bỏ kính ra tôi càng nhìn rõ. Hơn nữa người Sơn Tây chúng tôi dù có đi đồng đất nước người ... nhưng trong giọng nói vẫn còn lại một chất Sơn Tây không giấu được. Mỗi người dân Sơn Tây có sẵn một căn cước trong giọng nói. Giọng Thạch Xá của Nguyễn Huy Tạo vẫn còn nhận rõ trong cách nhấn cuối câu, không còn lầm được nữa. Lúc đó anh không nhận ra tôi. Khi tạm biệt anh tôi còn là thiếu niên vừa mới lớn, 15, 16 tuổi. Bây giờ tôi đã 27, 28 tuổi - cuộc đời quân nhân làm tôi đổi khác. Y phục nhà binh, phong cách nhà binh càng làm cho tôi khác xa với cậu học sinh mơ mộng ngày nào.

    Trong khi ông tỉnh trưởng và ông Tiểu đoàn trưởng đi thăm văn phòng phó quận trưởng Đồng Xuân... nhà văn “Nguyễn Hoài” nêu “nguyện vọng” muốn đi thăm khu Phước Lãnh - Gò Bồi vùng tập trung của cán binh Cộng sản “để có thêm dữ kiện viết bài”. Tôi là người lái xe Jeep đưa “nhà văn” lên Phước Lãnh. Ở đây có một trung úy Pháp và 1 trung đội lính lê dương thay mặt cho Ủy hội quốc tế giữ an ninh khu vực. Trung uý Pháp này là “friend” của tôi nên việc nhà văn đi vào khu vực tập trung không thành vấn đề… Chừng một tiếng đồng hồ ... anh đi ra ...

    Lúc đi anh săng sái bao nhiêu ... lúc về anh buồn bã bấy nhiêu. Tôi không tiện hỏi nhưng sau đó trên đường về anh cho hay là suốt trong thời “kháng chiến 9 năm” anh cùng một ban văn nghệ đã “đi suốt khu này”. Xe đang chạy anh yêu cầu tôi ngừng lại dọc đường. Anh tha thẩn đi vào một vùng thôn xóm. Anh đang đi tìm một hình bóng nào, một kỷ niệm nào đã khuất đã xa? Tôi mới hỏi “ông bạn tìm ai?” - Anh trả lời “... một người rất thân ... nhưng không biết bao giờ gặp lại”. Tôi không hỏi thêm mà anh cũng không nói gì thêm. Tôi tự nghĩ trong đầu “một người bạn ... một người tình ... người ở lại đây ... người mai đây sẽ lên đường tập kết”.

    Trời đã xế chiều. Gió đông bắc thổi về rét mướt. Mưa bụi giăng giăng trên sông La Hai mờ nhạt. Tiễn anh ra xe về lại Tuy Hoà, khi anh bắt tay, tôi mới hỏi “Anh Nguyễn Huy Tạo, anh không nhận ra tôi sao. PLP ở Hữu Bằng đây”. Anh nhìn sững rồi bỗng ôm chặt lấy tôi mà nói “Người tôi đi tìm không gặp. Người tôi không tìm lại gặp ở đây”…

    Tác Phẩm Lớn Viết Chưa Xong

    Cuối năm 1956 tôi đổi về Sài gòn, làm sĩ quan báo chí thuộc P5 - bộ Tổng Tham Mưu. Chưa lập gia đình, tôi ở với bạn cũ Thanh Nam (bạn từ thuở mới hồi cư về Hà nội) ở ngõ Nancy. Nơi đây là “trụ sở” của ban thi văn Tao Đàn nên tôi gặp tại nhà Thanh Nam nhiều bạn cũ, mới: Đinh Hùng - Phạm Đình Chương ... Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo. Trong một buổi họp mặt, anh em có ý định dựng kịch ở Sài gòn. Có 2 vở được đề ra, đều là kịch thơ, hoặc Lên đường của Hoàng Cầm, hoặc Bến nước Ngũ Bồ của Hoàng Công Khanh. Nhưng người phản đối là Mai Thảo. Nhà văn của “văn nghệ hôm nay,” người chủ trương tạp chí Sáng Tạo đề nghị chỉ nên công diễn kịch của thời đại chúng ta, không diễn lại kịch cũ, dù nó có giá trị. “Nó thuộc về lịch sử - nó đã qua rồi” Mai Thảo nói vậy. Và Mai Thảo giới thiệu một vở kịch mới. Bảo Thời Đại của một kịch tác gia mới Trần Lê Nguyễn.

    Lúc bấy giờ chưa mấy người biết Trần Lê Nguyễn là ai. Một buổi, Mai Thảo và tôi ra quán “Cái Chùa” (La pagode) uống cà phê - đợi một người bạn viết. Một lát có một thanh niên 30 tuổi ngoài, đeo kính mát, tóc bù rối, ăn mặc xuề xoà tiến tới. Mai Thảo liền kéo ghế mời ngồi và giới thiệu với tôi: Trần Lê Nguyễn - Vừa giơ tay bắt, tôi và người mới tới liền ôm lấy vai nhau. Mai Thảo vội hỏi “Quen biết trước rồi à?” “Người bạn viết” mới tới trả lời “Khỏi cần giới thíệu”. Tưởng Trần Lê Nguyễn là ai - hoá ra anh là người bạn lớn của tôi khi tôi còn niên thiếu: anh Nguyễn Huy Tạo. Và cũng từ giờ phút ấy, tôi mới biết anh là Trần Lê Nguyễn. Trong câu chuyện Mai Thảo tỏ ý muốn đưa vở kịch Bão Thời Đại của anh lên sàn tập để kịp công diễn vào mùa Noel năm ấy. Nhưng tác giả tỏ ý ngại ngần. Trần Lê Nguyễn nói: “Tôi viết vở này bằng kinh nghiệm của “kháng chiến 9 năm”, khi kịch Trung Hoa và Việt Nam còn đang nằm trong vùng ảnh hưởng của Lôi Vũ. Bây giờ về đây rồi, tôi hi vọng là xã hội này không phải là xã hội “không lối thoát”, của gia đình Chu Phác Viên”. Mai Thảo liền gặng hỏi “Sửa đi không được sao?” Trần Lê Nguyễn tiếp “Không sửa được - nó là một thời kỳ đã qua rồi. Chúng ta phải ra khỏi sự chi phối của Tào Ngu trong Lôi Vũ”.

    Tuy tác giả Bão Thời Đại phát biểu như vậy nhưng sau đó vài năm, tôi không nhớ rõ là năm nào, chắc là cuối thập niên 50, khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa đã thực hiện được những cơ chế căn bản của một quốc gia có chủ quyền, tổng thống Ngô Đình Diệm liền cho thiết lập Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc lần thứ nhất. Đây là một giải thưởng văn học nghệ thuật gây ấn tượng sâu đậm. Những người được trao giải đã vinh danh cho giải như Đinh Hùng được giải thơ với “Đường vào tình sử” - Bình Nguyên Lộc được giải văn với truyện dài “Đò dọc”, Trần Lê Nguyễn được giải kịch với “Bão Thời Đại”. Vở kịch này, tuy tác giả của nó chưa hài lòng, nhưng nó là một trong những vở kịch tiêu biểu của Văn Nghệ Miền Nam - cùng với “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan – “Bão loạn” của Tinh Vệ - “Sân Khấu” của Dương Kiền – “Ba chị em” của Thanh Tâm Tuyền (chỉ mới kể qua về thoại kịch, chưa kể những kịch bản cải lương, tuồng chèo).

    Sau Bão Thời Đại, dường như Trần Lê Nguyễn bị một cái “choc” tâm lý nào đó mà anh chưa vượt qua được. Anh sáng tác ít đi. Một đôi lần gặp, tôi mới gợi ý hỏi tại sao anh không ở lại Phú Yên làm “Trưởng Ty Thông Tin” như ông tỉnh trưởng Lương Duy Ủy ngày nào (1954) đã từng giới thiệu. Anh chỉ ậm ừ nói cho qua chuyện. Ngày ấy Trần Lê Nguyễn rất thân với Thanh Tâm Tuyền. Có những buổi tôi theo anh xuống Gia Định, vào căn ngõ nhỏ sau tòa bố Gia Định, trèo những bực thang xanh rêu có hoa khế tím rụng đầy đi lên căn phòng của Thanh Tâm Tuyền uống trà, nói phiếm hay rút xì còm với Mai Thảo, Vũ Duy Hiển, Phạm Đình Chương ... Ngày đó anh Vũ Khúc Khoan ngoài việc giảng văn tại Văn Khoa ... anh còn phụ trách phân khoa thoại kịch tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Anh có mời Trần Lê Nguyễn làm giảng viên ... nhưng sau một vài lần “thỉnh giảng” Trần Lê Nguyễn không nhận làm giảng viên thường trực. Một đôi lần tửu hậu trà dư, anh có cho hay là kịch nói hiện thời nên phá bỏ sân khấu hộp 3 chiều, chia cách sàn diễn với khán giả thành 2 thế giới mà phải làm sao đem sân khấu vào cuộc đời. Sân khấu mới là sân khấu không có màn, không tiền trường hậu trường, không cánh gà úp mở, không phông cảnh ... mà người diễn viên trực diện trước, sau, phải, trái với khán giả. Theo anh, phải “sống” kịch - không còn là “diễn” kịch nữa. Sân khấu lý tưởng nhất là sân khấu diễn viên và khán giả hoà lẫn vào nhau - hay nói một cách khác, tạo một sự đồng cảm, đồng diễn giữa diễn viên và khán giả. Quan niệm này phần nào giống như quan niệm của B. Bretch nhà đạo diễn lừng danh của Đức. Trần Lê Nguyễn còn phát biểu thêm “Các buổi hát ví hát chèo nghèo khó ở quê mình, thật ra lại thực hiện một quan niệm sân khấu rất hiện đại. Một cô gái đang đi cấy giữa đồng chiêm. Trên đường cái quan gần đó chợt một người thanh niên đi tới. Trong cảnh trời chiều bảng lảng, cô gái tức cảnh sinh tình hát gọi:

    Ấy ai đi đấy hỡi ai
    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Người thanh niên nghe vậy, ngừng chân hát đáp:

    Tìm em như thể tìm chim
    Chim ăn biển Bắc đi tìm biển Đông.

    Đó là một hình thức kịch hát tự nhiên, sinh động nhất, Trần Lê Nguyễn nói tiếp: “Hoặc là trong một buổi nông nhàn, mấy người nông dân hội họp nhau ở bãi cỏ đầu đình hay sau nhà tổ bên chùa. Đầy đủ ra thì có một cái trống đế, hoặc một cây đàn nhị. Hoặc không hẹn mà gặp thì trống bằng mồm, tay vỗ nhịp cũng xong. Một người bước ra, giữa vòng người đông đảo ... cúi đầu đưa tay gạt ngang nước mắt mà sử oán (2): “Thương ơi! bát cơm hẩm với quả cà meo - Đói bấm bụng (mà) ăn sao cho được”. Trống mồm của những anh em quanh đó liền phụ họa bung, bung, bung, bập, bùng. Đấy là cảnh Lưu Bình đến nhà Dương Lễ, bị bạn xưa (giả vờ) hất hủi ... rồi sai vợ ba Châu Long đi nuôi bạn thay mình ... Những người nông dân kia vừa là diễn viên, vừa là khán giả. Họ làm văn nghệ, thưởng thức văn nghệ, tự nhiên thoải mái như thở, như ăn.

    Nghe Trần Lẽ Nguyễn bàn về kịch hát như thế, tôi lấy làm chịu lắm - Dạo sau này thời đệ nhị Cộng Hoà ... tôi được phụ trách biên tập cho tờ Tiền Tuyến nên trong những số đặc biệt hay số Tết ... có đông đủ những cây bút thời danh, tôi luôn luôn mời anh Trần Lê Nguyễn viết cho một kịch bản ngắn hay trích đăng một lớp trong một kịch bản dài. Anh nhận lời nhưng phút cuối cùng đành phải “đi” bài khác vì tìm không ra Trần Lê Nguyễn ở đâu.

    Theo như tôi nhận thấy, hình như anh không muốn gần tôi, trừ những trường hợp đặc biệt. Theo nhiệm vụ, tôi được dịp tiếp xúc với các nhà văn nhà báo đương thời, nhưng bao đàn anh của tôi. Trong những ngày mới lớn ở quê nhà Thạch Thất, Quốc Oai - Sơn Tây anh là người “trưởng tràng” sáng giá, là người đã vẽ ra cho tôi những giấc mộng đầu đời. Anh là người đã “lên đường” đi tìm một cái gì thật đẹp, thật lý tưởng cho quê hương đất nước. Nhưng có mấy ai thực hiện được những giấc mơ như thế. Sung sướng thay những người lớn lên mà không mơ một giấc mơ nào. Họ dễ dàng chấp nhận cuộc đời. Những người ôm ấp một giấc mơ càng lớn bao nhiêu, càng dễ thất bại bấy nhiêu ... giờ tôi vẫn coi anh Trần Lê Nguyễn như là một type đam mê không bao giờ thỏa mãn. Trước những thất bại đắng cay, những bủa vây trùng điệp của đời thường ... người ta phải tìm quên mà sống. Càng quên được bao nhiêu, dễ sống bấy nhiêu. Trong sự tìm quên như thế, mỗi lần Trần Lê Nguyễn gặp tôi là vô hình trung, anh lại nhớ đến những giấc mộng đầu đời - những giấc mộng có thể viển vông nhưng vô cùng đẹp đẽ. Mà cuộc đời hiện tại không rộng rãi với anh, những trói buộc thê nhi - những khắc nghiệt đời sống “nợ áo cơm phải trả đến hình hài”.

    Hơn nữa gặp anh là tôi lại theo thói quen “đòi bài”. Tôi muốn được in ra những suy nghĩ mà tôi tin là rất tiến bộ của anh về kịch nghệ. Nhưng có một quan niệm đổi mới sân khấu là một chuyện - nghệ thuật hoá, sinh động hóa quan niệm ấy thành tác phẩm lại là chuyện khác. Nó đòi hỏi chất liệu - kinh nghiệm, và cảm hứng. Trần Lê Nguyễn có hội đủ những điều kiện ấy? Hơn nữa anh lại mang danh là một người viết kịch “hàng đầu”. Anh không thể sản xuất ra “thứ phẩm” mà phải cho ra đời “tác phẩm”. Có thể đó là những xung động tâm lý khiến Trần Lê Nguyễn viết ít sau Bão Thời Đại - và nó cũng là lý do xa gần khiến anh không muốn gặp tôi

    Tôi cũng được anh em nói lại là để tìm quên anh Trần Lê Nguyễn thường tìm đến trường đua Phú Thọ. “Nhìn ngựa chạy gần đến đích như là nó chạy trên ngực mình”. Nhưng cái tìm quên của anh như vậy nó gây thiệt hại. “Đường vào trường đua có trăm lần thua, có một lần huề” …

    Vào khoảng năm 1992, khi tôi đã tạm cư ở Úc, tôi nghe tin anh Trần Lê Nguyễn bị quỵ ở trường đua ... Anh bị liệt bán thân từ ngày ấy …

    Trần Lê Nguyễn là một “tác phẩm lớn viết chưa xong”. Tôi nhớ đến bài thơ tiễn biệt của anh tại chiếc vó bè hiu quạnh ở quê nhà Thạch Xá năm 1942 khi anh lên đường làm việc lớn “Chờ cho thiên hạ thôi mùa khổ - Ta hẹn nhân gian cái nẻo về”. Mùa khổ của thiên hạ, của quê ta vẫn còn chưa chấm dứt mà anh đã “về” rồi. Có sớm quá không thưa anh Trần Lê Nguyễn.


    Chú thích:
    (1) Trích bài phú Đằng Vương các của Vương Bột “Trong giáng chiều cánh cò cô đơn bay liệng. Nước mùa thu và trời xanh bao la một màu”.
    (2) Sử oán: một lối hát kể chuyện của chèo - giọng bi thương.

    Ký giả LÔ RĂNG

 

 

Similar Threads

  1. Ca nhạc sĩ Viêt Dzũng đã qua đời
    By ngocdam66 in forum Chúc mừng/Phân ưu/Cảm tạ
    Replies: 31
    Last Post: 01-22-2014, 10:24 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 05:04 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh