Register
Results 1 to 8 of 8
  1. #1

    CHUYỆN TÌNH BUỒN - Truyện ngắn

    CHUYỆN
    Tình Buồn

    Đến lúc bao nhiêu của cải chắt chiu dành dụm , từng ngày từng ngày mang ra tằn tiện đong đo những lon gạo đầy đá sạn bông cỏ may với giá hạng bét , từng chút mắm muối để dành ăn mà sống cũng cạn kiệt . Chị nhìn hai đứa con ốm o khẳng khiu nước mắt không sao ngăn lại nổi , thì cứ khóc , khóc cho hả hê khóc thiệt ngon lành . Dòng nước mắt đâu có vơi đi cho chị chút nào những sự lo âu khắc khoải từng đêm nằm thao thức ôm con mà lòng chị cứ quặn thắt từng khúc ruột .

    Ngày mai mình phải làm gì ? chị tự hỏi rồi chính chị tự nhìn ra hoàn cảnh của mình hiện tại để hốt hoảng lo âu trong vũng tối của bóng đêm tịch lặng, chị nhìn hai đứa con bên cạnh , giấc ngủ thơ ngây của hai con lại vực dậy trong cái thân xác cũng đã cằn cổi theo tháng ngày một niềm an ủi . Chị nhìn ra bên ngoài cuộc sống thấy tình trạng thê thảm của bao nhiêu người cũng đang gánh chịu chứ đâu phải chỉ riêng chị . Vốn liếng với đồng lương của chồng có bao nhiêu đâu mà để ra ngoài buôn bán kiếm sống . Chồng chị cấp bậc Trung úy trong quân đội chỉ với đồng lương chính phủ , chị giỏi thu vén dành dụm đâu có đáng là bao , rồi tới ngày tiễn chồng ra ngồi chòm hỏm kiểu nước lụt ở nơi trụ sở phường khóm để tập trung cùng bao nhiêu số phận của những người lính thua trận , họ được khoác vào chiếc áo nguỵ quân nguỵ quyền bất đắc dĩ , ngồi nghe những kẻ chiến thắng bảo đi một tuần lễ học cho đã thông chính sách của đảng rồi sẽ được trả về nhà . Không biết khi con người ta rơi vào tận cùng của sự tuyệt vọng thì người ta ngây thơ và dễ tin hay sao . Thế là anh an ủi vợ con yên tâm bảo : " chắc họ đưa đi cao lắm là một tuần hoặc mươi ngày là cùng ". Chị dầu có sắc sảo hiểu biết cách mấy trong lúc này đầu óc cũng bị mù mờ cũng tin vào những lời hứa hẹn thật hết sức man trá để rồi anh ra đi biền biệt nơi đâu cũng không hề biết .

    Mãi năm sau được tin anh đang cải tạo ở một nơi đèo heo hút gió , chị phải băng ngàn vượt suối để tìm đến , mang cho anh một ít lương thực mà chị và hai con đã gói vào đó biết bao tình thương yêu nhớ nhung . Ngày gặp lại anh chị khóc cũng không dám , hai anh chị nhìn nhau đôi tròng mắt đỏ hoe , anh căn dặn đừng đi thăm anh nữa cố gắng thay anh nuôi con , anh chỉ sợ chị có mệnh hệ nào thì con cái phải bơ vơ . Anh nhìn sâu vô mắt chị bảo " anh sẽ không sao " .Với sự canh gác chặt chẻ , anh chị chỉ biết nhìn nhau cho đến khi những giây phút thăm viếng phù du trôi qua . Trên đường về nhà thế là nước mắt chị cứ trãi dài theo trên lối đi và chỉ một tháng sau chị được biết thêm tin tức về anh đã bị đưa đi cải tạo một nơi khác . Nơi hình như không có loài người sinh sống .

    Rồi chị vâng lời anh lo chăm sóc con cái trong cái thế giới hổn mang đầy sự nghi kị , tráo trở lọc lừa .Có cô bạn chí thân cũng không đủ khả năng để giúp chị trong lúc này " lá rách đùm lá nát" cũng đều xác xơ như nhau . Đất nước đang đưa những kẻ bại trận đi tới khúc quanh vô cùng nghiệt ngả , chị đã có lúc nghĩ quẩn mua thuốc rầy về thuốc chết hết ba mẹ con cho xong , và mỗi đêm chị nghẹn ngào trong tiếng kêu bi thương " trời ơi sao mà khổ quá vậy trời !...". Tiếng kêu than trong đêm thâu uất ức não nùng . Rồi từng ngày qua đi và chị phải trân mình ra đi trong mưa đêm để bán cho xong những chiếc bánh hầu mong kiếm chút tiền lời mang về nuôi con ,hay chạy đưa hàng họ trên chiếc xe đạp cà rịch cà tàng từ Sài Gòn vô Chợ Lớn , từ Chợ Lớn qua Phú Lâm , nơi đâu chị cũng cố đạp xe bằng chút sức mong manh giữa cơn nắng cháy da thiêu thịt ,công sức chị bỏ ra cũng chỉ đủ đong vài lon gạo nuôi con từng ngày,hình ảnh của anh luôn hiện ra trong những lúc chị gần như muốn buông xuôi tất cả , khi chiếc xe đạp ngừng lại sau một ngày làm việc , thì toàn thân chị run lập cập trên đôi chân như hai óng sậy chị hổn hểnh ngả quị xuống ngay bậc thềm nhà .

    Sức khoẻ chị mỗi ngày mỗi yếu , tin tức về anh thì thật mơ hồ nhưng cho dầu nếu chị có biết , chị cũng không có đủ khả năng để đi thăm nuôi chồng đang bị cải tạo . Chị thấy có lổi với anh và sống trong lòng cứ luôn tự trách . Khổ cực nuôi con đã bào mòn thân xác , đau khổ vì không lo được gì cho chồng khiến cho chị đã bị bệnh bao tử , căn bệnh không làm chị chết nhưng đã làm khổ chị suốt mấy năm dài đăng đẳng với nỗi nhớ thương về anh .
    ...

    Mười lăm năm sau chị bàng hoàng khi được nhận được giấy tờ bảo lãnh của anh gửi về để lo cho chị và hai con qua nước Mỹ .Trong thư anh chỉ nói ngắn gọn không đủ bù đắp cho sự khao khát nhớ nhung của chị trong suốt thời gian qua , chị mừng mừng tủi tủi , tâm trạng hổn loạn hoang mang , nhưng với giác quan bén nhạy của người đàn bà chị đã có cảm giác nghi ngờ một điều gì đó , nhưng thôi tất cả giờ đây đang mở ra một tương lai trước mắt đầy hy vọng , chị dẹp bỏ mọi nghi vấn để sống và chờ ngày ra đi đoàn tụ với chồng .
    Đón chị ở phi trường là một người đàn ông thật lạ đang dương cao tấm bảng viết tên của chị , những phút giây hồi hộp khi phi cơ vừa hạ cánh vẫn kéo dài cho tới khi chị cùng hai con bước ra bên ngoài vẫn còn hiện rỏ trên gương mặt tái xanh khô héo . Chị ngở ngàng cùng hai con bước tới chổ người đàn ông lạ mà khi trên đường về được biết tên là Kính . Người đàn ông cho biết là bạn của chồng chị và sẽ thay mặt để đưa chị cùng hai con đi làm đủ mọi thủ tục khi đến nơi đây . Chị là người đàn bà ít nói ,trước người đàn ông lạ chị lại càng ngại ngùng không dám hỏi gì thêm, chỉ nghe ông Kính nói là chồng chị đang bận bịu chuyện làm ăn nên chưa gặp chị ngay bây giờ được .

    Trong một căn biệt thự được nằm trên triền núi , nơi khu vực của những căn nhà trị giá trên bạc triệu , bên ngoài mùa thu đã bắt đầu với những chiếc lá vàng thi nhau rơi rụng phủ ngập cả không gian . Bên khung cửa người đàn ông ngồi trong chiếc xe lăn thật mệt mỏi với căn bệnh âm ĩ kéo lê theo số phận của ông , căn nguyên của những ngày tháng bị đày đoạ trong lao tù , trong rừng thiêng nước độc , ông không chịu đựng nỗi mang số mạng ra đánh một ván vài định mệnh , ông đã trốn thoát khỏi nhà tù hắc ám , né tránh tất cả mọi liên hệ , sống chui nhủi ở những nơi bãi rác hôi hám với ý chí nung nấu phải tìm cách ra khỏi cái đất nước đang nằm trong tay kẻ thù , ông đi lang thang như một kẻ hành khất ,nước mắt ông đã khô , có nhà mà không dám trở về thăm vợ con vì sợ họ bị liên luỵ , có quê hương mà sao như một kẻ lạ xa .

    Bỗng đâu định mệnh xãy ra trong một tình cờ đầy sự ân sủng của thượng đế , một đêm ông lang thang tìm chỗ ngủ , vô tình ngủ ngay khu vực được người ta bỏ vàng ra mua để đưa người vượt biên . Thế là trong lúc họ đưa người đi vượt biên ông được kéo lên tàu vì lầm tưởng là người trong đường giây . Gã hành khất lang thang đâu ai biết là một sĩ quan trong quân đội , lại là người đứng ra quyết định cho những sinh mạng trên chiếc tàu mong manh khi bị lạc mất phương hướng giữa biển khơi . Trước sự quả quyết của viên sĩ quan mọi người đặt hết niềm tin và con tàu đã được đưa vào bờ một cách an toàn .
    Định mệnh lại thêm một lần nữa đã mang người thiếu nữ đi chung một chuyến tàu đến gần bên ông . Người đàn ông trong phút giây yếu lòng đã bị cột ràng vào hệ luỵ , ông làm sao mà có thể quên vợ con cho được , nhưng người đàn bà bên cạnh vì quá yêu ông đã trở nên ích kỷ , tìm đủ mọi cách để ông chỉ thuộc về bà . Họ được đưa qua Mỹ , cùng nhau lo toan cuộc sống nơi đất lạ , ông đã có thêm một đứa con , đứa con là sợi dây cột chặt đời họ lại với nhau . Rồi cũng có những xung đột xảy ra trong gia đình khi ông có ý muốn bảo lảnh vợ con qua và lần nào ông cũng chán chường với những luận điệu của người vợ , buồn bã và bệnh hoạn đã làm cho ông chán nản mọi thứ để mặc cho vợ muốn làm gì thì làm , mãi cho tới khi người vợ đang chung sống với ông phát hiện ra căn bệnh của ông đã không còn hy vọng . Bà mới hé mở trái tim để cho ông làm cái việc mà đúng lý ông phải làm từ lâu . Khi có một niềm hy vọng thì căn bệnh của ông như đứng lại để đợi chờ người vợ và hai đứa con tội nghiệp đang còn ở lại bên kia bờ đại dương .

    Cánh cửa phòng hé mở , người đàn bà dáng dấp sang trọng bước vào đi đến ngồi đối diện với ông , bà nói
    _ chị đã qua tới , mình có muốn cho chị gặp không ?
    Ông đưa đôi mắt lờ đờ , căn bệnh tiểu đường đã huỷ hoại gần như toàn bộ trên thân xác của ông .
    _ thôi hãy để cho chị mang theo hình ảnh ngày xưa của anh như vậy tốt hơn
    Người đàn bà quì xuống dưới chân ông nước mắt ràn rụa
    _ em xin lỗi mình là em đã sai rồi , em ích kỷ vì quá yêu mình mà ra cả , em là tội nhân nặng lắm mình cứ chưởi em đi .
    Ông đưa tay ra để vuốt lên mái tóc của bà ra điều tha thứ , mái tóc xanh xưa một lòng một dạ theo ông cho tới bac màu , và cái sản nghiệp có được hôm nay , để cho ông được an nhàn gần hết cuộc đời cũng có một đôi tay của bà năng nổ gầy dựng , bà đã không chê bai khi ông lếch thếch như một con chó hoang không nơi nương tựa , khi ông chỉ còn một thân xác tàn tạ mất hết ý chí hồi sinh . Bà đã đến thật đúng lúc để vực ông trở dậy , cho nên trước những hành động ích kỷ hẹp hòi bà cũng chỉ là một người đàn bà đáng thương mà thôi .

    Chỉ hai tháng sau ông qua đời , bà hứa với ông là vẫn không cho người vợ và hai đứa con biết tin . Bà đã giao hết trách nhiệm cho chú Kính lo toan mọi thứ cho cuộc sống của những người vừa qua nơi đây . Nhưng bà không bao giờ có thể che giấu hay ngăn ngừa nổi tâm linh của một con người .
    Một năm sau ngày giổ đầu của chồng , bà cùng con đi viếng mộ . Sau khi bày biện mân quả vái lạy , bà cầm trong tay bó nhang lớn để đi thắp chung quanh ngôi mộ của chồng như một hành động thân tình với những người khuất mặt khuất mày . Mộ ở Mỹ thường nằm sát xuống mặt đất , bà đứng lên sau khi thắp cho những ngôi mộ phía trước và hai bên , bà bước lui sau ngôi mộ của chồng , bà đã đứng chết sửng khi trên tấm bia đá tấm hình của người đàn bà mà chú Kính đã rữa thêm mang về cho bà một tấm để biết mặt vợ con của chồng mình . Trên bia mộ khắc ngày chết chỉ sau ngày chồng bà qua đời đúng một tháng .

    Lúc họ còn sống bà có thể cản ngăn , nhưng bà cũng không thể cản ngăn được tấm lòng của chú Kính , người đã không thể nhẫn tâm giấu mãi những tình huống đau thương . Chú Kính đã cho người vợ đau khổ biết hết sự tình , chị vẫn luôn là một người đàn bà nhận mọi thua thiệt về mình , chị cảm thông và tha thứ cho lổi lầm của anh như chị đã tự cởi bỏ ra niềm tự trách bấy lâu nay . Chị thanh thản không còn dùng chút hơi sức mỏi mòn để cố níu giữ lại thân xác của mình nữa , chị đã buông tay theo anh về bên kia thế giới , có lẻ họ còn có rất nhiều điều cần phải nói cho nhau ...

    Mầu Hoa Khế ( Ngô Ái Loan )
    Aug9.2010



    Last edited by MưaPhốNúi_; 04-27-2018 at 12:06 PM.




    Mừng được là chiếc lá,
    Trong ngất ngây vũ trụ,
    Hòa quyện vào thiên thu
    (VTA)

  2. #2
    Cái Thằng Bưng Phở
    Quyên Thi

    Từ ngày định cư ở Hoa Kỳ, nghe lời mấy ông anh, tôi chỉ biết lo cắm đầu cắm cổ đi học để lấy được một cái bằng bốn năm để còn tìm được công việc tốt mà kiếm sống. Bốn năm học ở trường đại học, thế mà chẳng kiếm được một người bạn thân. Bạn trong trường thì chỉ là bạn học, còn cuối tuần thì chẳng ai rủ mình đi đâu cả. Bạn gái cũng chẳng có, bạn trai cũng không. Cuối tuần tôi chỉ biết chui vào thư viện học, hoặc là lui cui ở nhà, hết đứng lại ngồi, hết ngồi lại nằm, hết nằm lại đứng. Chán lắm cơ! Có lẽ vì tôi cũng có phần lớn tuổi hơn những người bạn trong lớp cho nên không hợp gu chăng?

    Rồi vào một cuối tuần Mẹ tôi bảo rằng “Ngày mai có Bác Thu tới chơi. Bác Thu là con chú con bác ruột với Bố mày. Họ của Bác là cùng họ với chúng mày đấy.”

    “Ủa vậy hả Mẹ, cùng họ như thế là gần lắm. Lâu lắm rồi con không gặp Bác Thu.”

    Chiều hôm sau con gái của Bác Thu là Chị Xuân chở Bác đến thăm Mẹ tôi. Chị em gặp nhau mừng rỡ, trò chuyện huyên thuyên. Tôi ra chào Bác. Sau vài câu thăm hỏi “Cháu học ở đâu, chừng nào cháu ra trường?” Bác Thu giới thiệu Chị Xuân để hai chị em chơi với nhau cho có bạn. Rồi Bác nói luôn “Này Cháu, xem có ai giới thiệu cho Xuân, nó cũng lớn tuổi rồi mà chẳng có ai.”

    “Cháu đang đi học, cháu đâu có quen ai đâu Bác. Thân cháu, cháu còn lo chưa xong nữa là lo cho thân Chị.”

    Bác lại xoay sang Mẹ tôi “Mợ xem có ai giới thiệu cho Xuân nhé.”

    Gia đình của chị Xuân sang Hoa Kỳ năm 1975, cho nên lúc gặp tôi Chị đã có bằng bốn năm và đã có job rất bảnh. Ôi thôi tôi súyt xoa “Chừng nào em mới được như Chị”.

    Chị lớn hơn tôi hai tuổi, hai chị em cũng gần băm cả rồi cho nên vừa gặp nhau là hợp ngay. Chị Xuân có tướng rất sang, tầm thước thật là hết xảy, cao 1m65, gầy mảnh khảnh, ăn nói hoạt bát, dí dỏm mà lại chưa có ai. Thật là cũng khó hiểu. Tôi cũng thắc mắc không ít. Ở Mỹ bao lâu nay rồi, đi làm rồi mà lại không có người yêu hay bồ bịch gì thì cũng hơi lạ.

    Sau khi gặp Chị, cuộc đời tôi có thêm mắm muối; vì cứ đến cuối tuần hai chị em lại rủ nhau đi lang thang phố Bolsa. Nào là đi ăn chè Hiển Khánh, đi xem xinê, đi shopping và nhất là lại có dịp để nói chuyện đời với nhau. Đi đến đâu Chị cũng gặp người quen.
    “Hi ông chủ, sao ông chủ tiệm khỏe không? Dạo này không thấy đi họp nữa?”

    “Ồ anh thường thôi Xuân. Bận quá, lu bu quá còn họp hành gì được. Xuân sao?”

    “Xuân cũng thế, chẳng có gì mới lạ. Hôm nay Xuân dẫn nhỏ em đi ăn chè của anh đây.”

    “Quyên, nhỏ ăn gì?”

    “Ôi chè chuối nhìn ngon quá, cho em một bát chè chuối đi anh.”

    Chị Xuân trêu “chúi ra hay chúi vào đó nhỏ?” Rồi hai chị em tôi tủm tỉm cười. Sau khi hai chị em ngồi vào bàn ăn chè tôi thì thầm

    “Úi cha, Chị quen cả ông chủ cơ à? Oách thế nhỉ! Đẹp trai trí thức ra phết, sao Chị không nhảy vào cho xong.”

    “Ôi, con nhỏ này nhỏ ăn nói có duyên ghê. Nhảy vào được thì tao đã nhảy vào từ lâu rồi đợi gì đến nhỏ nói.”

    “Vậy hả, tiếc thật!”

    Tôi lại tiếc hùi hụi giùm cho Chị. Lại một chàng đẹp trai trí thức con nhà đề huề không còn available.

    Một hôm chị điện thoại cho tôi, “Ê nhỏ, cuối tuần này đi chụp hình với tao không?”

    “Ui cha sao sướng vậy? Ai chụp cho mình?”

    “Nhỏ chưa cần biết, Chủ Nhật 10 giờ sáng tao sẽ đến đón, chuẩn bị mặc đồ trang điểm lên cho đẹp nhe nhỏ. Dịp may hiếm có đó. Đi đường rồi tao kể cho nghe”.

    Sao cái bà chị này hay thật, mình chưa gật mà bà ấy đã ok rồi cúp phone ngay. Thế là tôi cũng đành chịu trận, xí xọn trang điểm, día đồ lên và đi theo Chị.

    Sáng Chủ Nhật như đã hẹn, Chị Xuân đến đón tôi. Vừa vào xa lộ tôi nóng ruột hỏi ngay “Ai chụp hình vậy, sao mà bí mật thế?”

    “Ồ cái thằng cha này tao mới quen.”

    “Thằng cha nào mà chị mới quen mà Chị lại gọi là thằng chả?”

    “Bác (mẹ của Chị Xuân) giới thiệu chứ ai, con bà bạn nào đó.”

    “Bác giới thiệu? Chị gặp lần nào chưa mà hôm nay đi chụp hình?”

    “Gặp một lần rồi. Rồi thằng chả nổ biết chụp hình, thành ra tao gạ ổng chụp hình hôm nay để cho nhỏ gặp mặt luôn.”

    “Tướng tá ra sao?”

    “Thì lát nữa nhỏ gặp rồi nhỏ cho tao biết ý kiến.”

    Đến nơi, chàng vừa ngủ dậy. Chàng mời hai cô vào

    “Xin lỗi Xuân nhe, tối hôm qua anh đi ngủ trễ cho nên sáng nay anh ngủ quên. Ngồi đợi anh tí nhé.”

    Thế rồi chàng chạy vào đánh răng xúc miệng tiếp hay sao đó. Thừa dịp không có ai, Chị Xuân húc cùi chỏ tôi

    “Sao, nhỏ thấy sao?”

    Tôi lắc đầu thì thầm “trời đất ơi, sao nhìn thằng chả giống dân xì ke vậy.”

    “Ừ”

    Ngay sau đó chàng bước ra, “Hai em uống gì không? Cà-phê không?”

    “Cảm ơn anh, bọn này uống rồi.”

    “Vậy hả, vậy đợi anh đi pha miếng cà-phê đã nhe. Không thôi chụp nó run tay.”

    Thế là hai cô lại kiên nhẫn ngồi chờ thêm năm phút pha cà-phê, năm phút lấy máy ra, rồi lại thêm độ mười phút lau chùi ống kiếng và ráp phim vào. Tôi nghĩ thầm, cái thằng cha này câu giờ ghê.

    Đến gần mãi đến giữa trưa chàng mới ra tay trổ tài. Tưởng đi đâu chụp chứ, ai dè, chàng dẫn hai chị em tôi ra ngõ hẻm sau nhà. Trời mùa hè thì nắng chang chang, ngõ hẻm không một bóng cây, chỉ toàn là xi măng với một bức tường và vài cái thùng rác nữa chứ. Ôi cha mẹ ơi vậy mà cũng đòi chụp hình để lấy le với mấy cô!

    “Ok, Xuân, em vô đứng dựa vào tường đi em.”

    Bà Chị lại hành tôi “nhỏ, nhỏ vô chụp trước đi.”

    Cả nửa tiếng đồng hồ, chị em tôi thay phiên đứng dưới nắng ngay bờ tường ẻo qua ẻo lại, miệng cười như mếu, mồ hôi thì nhễ nhãi. Đã thế thỉnh thoảng một luồng gió nhẹ thổi ngang làm cho những mùi thơm tho ở phía thùng rác lại có dịp nhảy múa quay cuồng, chịu không thấu! Sau đó chàng còn mang cả cái thang nhỏ để làm tiền phong, rồi còn đạo diễn cho chị em tôi đứng lên thang nữa chứ! Thật là không phù hợp với bộ đồ tôi mặc tý nào!

    Sau độ một tiếng đồng hồ, “ồ, thôi chết, anh trễ hẹn rồi Xuân, khi nào anh rửa hình xong anh sẽ gọi em nhé.”

    “Vâng, cảm ơn anh nhé. Bai anh.”

    Hai chị em tôi ra đến xe, không ai nói một lời nào. Khi xe vừa ra đến ngoài con đường chính, hai chị em tôi mới cười ôi thôi là cười. Cười rung cả ghế, chúng tôi cười lăn bò càng đến độ chảy cả nước mắt.

    “Nhỏ, thôi ngừng cười để tao còn lái xe. Nè tao đói bụng rồi, đi kiếm cái gì ăn nhe. Gần đây có cái tiệm Thái ăn được lắm, vào đó ăn nhé.”

    “Vâng, em đói cũng muốn xỉu rồi. Ăn gì cũng được.”

    Sau khi hai chị em gọi các món ăn xong xuôi, chúng tôi lại nói tiếp chuyện đời.

    “Em cũng không hiểu nổi tại sao Bác lại làm mai cho Chị cái ông như xì ke này.”

    “Ôi, Bác lớn tuổi rồi, cũng muốn cho tao quen người này người nọ, thành ra gặp bà bạn nào có con trai là cũng muốn tao làm bạn với con trai họ.”

    “Thì em cũng đồng ý thôi, nhưng mà cũng phải tùy người mà giới thiệu chứ. Mà thôi Bác lo cho Chị là cũng good thôi. Nhưng mà nè, hôm nào Chị đi lấy hình xong rồi thì bái bai chàng luôn cho em nhe Chị nhé. Không thôi thì lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy là nguy đó.”

    “Ừ, nhỏ khỏi lo. Tao mà có ưng hay yêu chàng cũng không thành đâu mà lo.”

    “Uûa, Chị nói cái gì mà kỳ vậy?”

    “Ừ, Bác kỳ lắm nhỏ không biết hả? Bác giới thiệu vậy chứ tới lúc mà Bác thấy có mòi mà hai người mà thân thân một tý là Bác bắt đầu nói ra nói vào, chê bai đủ điều.”

    “Ngộ vậy? Mà Bác chính là người giới thiệu cho Chị cơ mà.”

    “Đúng thế. Thế tao mới nói là kỳ! Đây đâu phải lần đầu. Lần nào cũng y như lần ấy. Có lần có một chàng kia Bác giới thiệu cũng được mã lắm, cũng con Bà bạn. Tao đi chơi với chàng được mấy lần rồi là Bác bắt đầu chống đối. Chửi bới om sòm cả lên.”

    “Thế rồi sao?”

    “Thì thôi chứ sao. Đi chơi nữa để rồi nghe chửi nữa à.”

    “Vậy lần này Bác giới thiệu chị đi gặp làm chi nữa cho nó mất thì giờ, nếu đã biết trước là sẽ không đi tới đâu?”

    “Tao không đi thì cũng bị nghe chửi thúi đầu liên tục một tuần lễ. Không những bị nghe chửi mà Bác còn giận với hờn rồi Bác lại còn bịnh lên bịnh xuống nữa chứ. Nhỏ không biết chứ mệt lắm! Thành ra tao đi cho nó xong chuyện, cho đỡ nhức đầu căng thẳng.”

    “Vậy hả? Thật là khó hiểu, không biết Bác muốn gì nữa. Thế từ hồi nào đến giờ chị chưa có bồ à?”

    “Hồi lúc tao học ở trung học, cũng gặp được nhiều đứa dễ thương lắm, nhưng mà không có dám hó hé gì cả. Hó hé một tý là bị cạo đầu luôn. Rồi lúc tao vào đại học thì ông bà già lại đe “lo học cho xong đi nhé, bồ bịch yêu đương hãy gác qua một bên.” Rồi lúc tao vừa ra trường thì ông bà già lại nói ngay “Đi kiếm ai mà đi lấy chồng đi chứ?” Nhỏ thấy đó, bao nhiêu năm không cho tao quen ai, đùng một cái bắt tao đi lấy chồng. Mấy ông bà già thật là mâu thuẫn!”

    “Em đồng ý với chị 100%. Còn một điều mà em thấy nữa là mấy ông bà già ngộ lắm cơ. Cứ hễ thấy mình vừa mới quen với ai là cứ nghĩ mình yêu mê yêu muội rồi sắp đòi cưới đến nơi rồi. Chị có thấy như vậy không? Có lẽ cái thời của ông bà già mình nó là như thế chị nhỉ.”

    Trên đường chở tôi về, hai chị em tôi ít nói hẳn đi. Mỗi người chìm trong tư tưởng của mình. Tôi thì cứ thắc mắc không hiểu tại sao Bác Thu lại có những cư xử kỳ cục như thế. Còn chị suy tư cái chi cũng không rõ, có lẽ cũng hơi buồn cho số phận mình chăng?

    Khuya hôm ấy, tôi thao thức trằn trọc mãi không ngủ được, vì đầu óc bận rộn suy nghĩ về Bác Thu. Câu hỏi “tại sao Bác lại kỳ như thế” cứ quay vòng vòng trong đầu tôi. Lăn qua rồi lăn lại suy nghĩ miên man. Bố của Chị mất được hơn một năm, các anh chị lớn trong gia đình thì ai nấy cũng đã có chồng có vợ cả rồi, Chị là con gái út, Bác lại ở với Chị. Thôi chết rồi! Có phải chăng đây là tình thương ích kỷ của một người mẹ già? Một đằng cũng muốn con gái mình đi lấy chồng, một đằng thì không muốn. Vì nếu Chị đi lấy chồng rồi thì ai chăm sóc cho Bác đây. Chị lại là con gái út nữa cho nên tình mẹ con cũng có phần gắn bó. Phần con, đành nào con bỏ mẹ ở một mình. Vui lòng với giải đáp này, tôi ngủ thiếp đi hồi nào không hay.

    Sáng hôm sau, tôi có kể lại cho Mẹ tôi nghe, Mẹ tôi cũng có vẻ đồng ý với suy luận của tôi.

    “Mẹ thấy không, tụi Mỹ họ đá con cái của họ ra khỏi nhà lúc con họ vừa 18 tuổi cũng có cái hay của nó chứ nhỉ. Như thế tình mẫu tử không bị ràng buộc bởi một sợi dây gì cả. Bổn phận cha mẹ đến đó cũng coi như là xong. Còn VN mình, bổn phận của cha mẹ và bổn phận của con đối với cha mẹ sao mà con thấy nó nặng nề quá!”

    Mẹ tôi ầm ầm ừ ừ. Chắc mẹ tôi nghĩ cái con nhỏ này mới sang Mỹ có vài năm mà đã Mỹ hóa mất rồi.

    Ngày tháng lại trôi đi. Một ngày đẹp trời Mùa Xuân, hai chị em tôi vừa đi xem phim “Fields of Dream” xong do chính tài tử Kevin Costner vừa là đạo diễn lại vừa đóng vai chính.

    “Thằng cha đẹp trai thật. Nè nhỏ, hôm nay mình đi đâu ăn đây?” Chị Xuân nói.

    “Hừm, Chị đi ăn phở Hiền Vương ở trong Phước Lộc Thọ bao giờ chưa?”

    “Chưa, ở đó có món gì đặc biệt?”

    “Em cũng chả biết nữa. Hôm nay mình đi ăn thử ở đó không? Em nghe mấy đứa bạn trong trường nói là chủ tiệm phở Hiền Vương là Ông thầy dạy toán của em ngày xưa.”

    “Thầy của nhỏ? Sao ai nhỏ cũng kêu là thầy hết vậy?”

    “Thầy là thầy dạy toán của em năm em học lớp 7 và lớp 9 ở VN. Những năm đó em làm trưởng lớp và thầy là giáo viên đảm nhiệm lớp của em. Ừ thôi hôm nay mình đi ăn Phở Hiền Vương xem coi có gặp thầy và xem thầy có nhận ra em không.”

    “Ok, vậy thì đi.”

    “Em còn nhớ hồi đó Thầy cứ gọi em là con nai vàng ngơ ngác?”

    “Vậy hả, ngơ ngác, nai vàng cái khỉ mốc!”

    Vào quán, chúng tôi được một anh chàng bồi bàn với nụ cười làm não lòng người tiếp đón nồng hậu và mời vào ngồi.

    “Hai cô dùng chi?”

    Tôi trả lời “chúng tôi cũng chưa biết nữa, ở đây món gì ngon nhất?”

    “Hai cô chưa ăn ở đây lần nào hả? Vậy thì tôi đề nghị ăn món phở áp chảo. Phở áp chảo ở đây là ngon số một.”

    Chị Xuân tiếp, “nói thiệt không đó, ăn hổng ngon khỏi trả tiền há?”

    “Bảo đảm ngon mà.”

    Chị Xuân nói “Ok, vậy thì cho tôi một cái phở áp chảo. Còn nhỏ ăn gì?”

    “Thôi thì tôi cũng ăn phở áp chảo luôn cho rồi. Nè anh, có phải ông chủ tiệm phở này là của ông Thầy dạy toán không?”

    “Đúng rồi, cô biết thầy hả?”

    “Ừ, thầy là thầy dạy toán của tôi lúc còn ở VN. Vậy thầy có ở đây không anh?”

    “Ồ, ổng ít ra đây lắm. Tôi là cháu ruột của ổng đó.”

    “Ủa vậy hả?”

    “Để tôi đi nói ông đầu bếp làm hai dĩa áp chảo và tiếp mấy người khách rồi lát nữa tôi lại nói chuyện cùng các cô nhe.”

    Bây giờ anh bồi bàn không còn là một anh chàng bồi bàn bưng phở người phàm nữa mà là cháu của ông thầy đó nhe.

    Sau khi chàng đã đi rồi, tôi thì thầm “Chị Xuân, chàng này vui vẻ hoạt bát đó chứ. Ăn nói cũng có duyên ra phết. Tướng tá cũng tốt ra phết chị nhỉ. Lại cỡ tuổi bọn mình.”

    “Ừ...” Thế là hai chị em tôi nháy mắt nhau.

    Sau khi khách đã nguôi đi, chàng lại bàn của chúng tôi, “Xin lỗi các cô nhé, tôi tên Bảo, còn hai cô?”

    “Tôi tên Quyên, còn bà chị tôi tên Xuân.”

    Vì chàng là cháu của Thầy, cho nên cuộc nói chuyện thật cởi mở hào hứng. Chị Xuân và tôi có bao nhiêu chiêu duyên dáng sổ ra hết. Cười cười nói nói vang cả tiệm. Lâu lắm rồi mới gặp được một người nói chuyện hợp gu như thế mà.

    Chị Xuân hỏi Bảo, “Thế Bảo chỉ làm ở tiệm này thôi hả? Có đi làm ở đâu nữa không?”

    “Bảo chỉ làm ở đây thôi. Làm chi nhiều cho mệt. Sáng sáng 10 giờ mới ra đây. Trước đó thì Bảo chạy bộ ở bờ biển Huntington Beach đó. Tối đến 9 giờ đóng cửa Bảo lại ra biển ngắm trăng sao.”

    Chị Xuân thốt lên, “Trời đất sao mà sướng quá zdậy? Sao mà sống giống kiểu tài tử quá zdậy?”

    Bảo cười rồi hỏi, “Ăn xong, tối nay Xuân và Quyên có làm gì nữa không?”

    Lúc này coi như chị Xuân dành nói hết, “Không, ăn xong thì đi về thôi.”

    “Vậy hả, vậy Xuân và Quyên ngồi chờ đến 9 giờ được không?”

    Chị Xuân hỏi “Ngồi chờ đến 9 giờ để làm gì?”

    “Có gì mình ra biển ngồi nói chuyện chơi.”

    Tôi nghĩ thầm, anh chàng Bảo này tấn công hơi mạnh đó nhe. Cặp mắt của Chị Xuân tôi thì lóe lên một tia hy vọng, nhìn chị là tôi biết chị muốn đi ghê lắm. Ngay lúc ấy, có khách vào, cho nên Bảo phải chạy đi tiếp khách.

    Chị Xuân hỏi ngay “Sao nhỏ, đi ra biển không?”

    “Thôi đi chị, cho em xin. Mới quen đây mà đi cái gì, kỳ lắm.”

    “OK, vậy thì hẹn hôm khác vậy nhe.”

    Khi Bảo quay lại bàn của chúng tôi, Chị Xuân cáo lỗi “Bọn này muốn đi lắm nhưng đợi đến 9 giờ mới đi thì tối quá. Thôi để dịp khác nhe.”

    Trước khi ra về, chúng tôi trao đổi số điện thoại. Bảo hứa sẽ gọi cho chúng tôi. Hôm ấy phở áp chảo phải nói là ngon tuyệt cú mèo! Trên đường về, hai chị em cười cười nói nói như pháo nổ. Bàn tán xem Bảo sẽ gọi cho ai. Thiệt tình thì tôi không có nhã ý gì hết, chỉ muốn Bảo cho Chị mà thôi. Nhưng Chị Xuân thì sợ là Bảo thích tôi hơn vì dù sao tôi cũng nhỏ tuổi hơn chị. Nhưng giác quan thứ sáu của tôi cho tôi biết rằng Bảo thích chị Xuân hơn tôi. Trước khi về tôi còn trêu chị “Nè chị, hôm nay đúng là chị “fill of dreams” (tràn đầy hy vọng, ước mơ) đó nhé.”

    Chị khoái chí cười thật to.

    Một tuần sau đó, tôi còn nhớ hôm đó là tối Chủ Nhật lúc 8 giờ tối, tôi đang ngồi học bài thì điện thoại reng.

    “Nhỏ hả, đang làm gì đó nhỏ, chàng gọi cho nhỏ chưa?”

    “Chưa, chàng gọi cho chị chưa?”

    “Chưa luôn. Tao tưởng chàng gọi cho nhỏ rồi chứ.”

    “Chị đừng lo, em biết chắc chàng sẽ gọi cho Chị mà.”

    “Ok, vậy thôi học bài tiếp đi. Có tin gì cho tao biết nhé. Bye.”

    Độ nửa tiếng sau, điện thoại lại reng. Lần này Chị Xuân có vẻ thích chí quá sổ luôn tiếng Anh “You are not going to believe this! Guess who just call?”

    “Oh my, chàng gọi cho Chị hả? Thấy em nói có đúng không? Nói chuyện có lâu không?”

    “Không, nói chuyện có một tý xíu thôi. Thôi bye nhé.”

    “Ấy làm gì mà vội vàng thế, kể em nghe với chứ.”

    “Tao phải đi thay đồ bây giờ đây. Chàng đến tao ngay bây giờ đây.”

    “Trời đất, sao mà chàng gân vậy, 9 giờ tối rồi mà còn đến chị nữa. OK thôi bye nhe. Good luck nhe.”

    Tối hôm ấy tôi đi ngủ với một nụ cười toe toét trên môi.

    Ngày hôm sau, trong lúc giờ nghỉ giữa các lớp học, tôi gọi cho Chị ở sở của Chị.

    “Sao, sao rồi vui không, chàng đến chơi lâu không, kể em nghe với.”

    Giọng của chị buồn bã, “Thôi không xong rồi...bực cả mình.”

    “Cái gì, mới có tới chơi có một lần mà đã nói không xong rồi, tại sao?”

    Chị tức lên nói “Tại Bác chứ sao. Tao và Bảo ngồi nói chuyện ở ngoài phòng khách, nói chuyện vui vẻ lắm mà cứ mỗi năm phút là Bác đi ra đi tới đi lui. Rồi được độ nửa tiếng Bác chịu hết nổi rồi Bác lên tiếng “Này Cậu, mai Xuân nó còn phải đi làm sớm đó.”
    “Trời đất, rồi sao nữa?”

    “Thì tao nói với Bác là không sao, ngày mai tao đi làm trễ được. Rồi tao và Bảo lại nói chuyện tiếp, nói chuyện hợp ghê lắm. Còn Bác thì cứ đi ra đi vào, tao cố tình lờ tít. Rồi Bác lại đuổi khéo nữa “Này Cậu, khuya lắm rồi, ngày mai Xuân nó còn phải đi làm.”

    “Đến đó tao chịu hết nổi rồi tao phải nói với Bảo là “Thôi Bảo về đi, để mai Xuân gọi nhe.”

    Sau khi Bảo về rồi, Bác nổi cơn tam bành “Ối giời ơi là giời, quen ai không quen, đi quen cái thằng bưng phở thế kia. Mà giời đất ơi, đàn ông con trai gì mà đến nhà con gái người ta giữa đêm hôm mà còn mặc quần cộc nữa, lông lá gì mà cứ đầy ra, chân cẳng thì to như cái thùng tô nô thế kia, thế có chết không cơ chứ! giời ơi là giời!”

    Tôi chỉ còn biết thốt lên những tiếng trời ơi nho nhỏ khi nghe chị kể.

    “Rồi chị nói với bác ra sao?”

    “Thì tao nói mới có là bạn thôi mà Mẹ làm gì mà dữ vậy. Bác lại lên tiết, bạn cái gì mà bạn, bạn với ai chứ bạn với cái thằng bưng phở ấy à, mày muốn tao bịnh, mày muốn tao chết ngay để lấy cái thằng bưng phở phải không?”

    “Nói đến đó rồi thì tao còn dám nói gì nữa. Hôm nay Bác giận tao rồi bịnh rồi kia. Mày thấy có chán đời không?”

    “Ừ. Thế Chị đã gọi Bảo xin lỗi chưa?”

    “Hồi sáng đến giờ tao gọi hai lần rồi, xin lỗi rối rít cả lên và hẹn lần sau gặp ở chỗ khác.”

    “Vậy hả, Bảo chịu không?”

    “ Bảo chỉ nói không sao, không sao, đừng quan tâm, và có vẻ ừ ừ lấy lệ. Tao nghĩ vậy là xong rồi, Bảo sợ hú vía rồi còn gì. Tao nghĩ mà thật tiếc vì tao và Bảo hợp ghê lắm.”

    “Thôi chị đừng bi quan quá, chị đợi vài hôm nữa rồi gọi lại cho Bảo nữa xem sao.”

    Đến chiều thứ sáu, tôi gọi lại cho Chị để xem tình hình chiến sự đến đâu rồi.

    “Bác vẫn còn giận tao, không nói một lời, nằm bịnh liệt giường kia kìa mà Bảo thì vẫn không kêu. Tao chán quá nhỏ à. Ngày mai nhỏ có bận học bài không, lên tao chơi đi, rồi có gì nói chuyện với Bác dùm tao luôn.”

    Thương chị, tôi lên để rủ chị đi chơi cho khuây khỏa. Vào đến nhà, chị Xuân bỏ vào buồng tắm. Bác Thu thấy có khách đến nhà, lò dò đi ra.

    “Dạ thưa Bác, Bác có khỏe không Bác?” tôi giả vờ như không biết cái chuyện gì xẩy ra.

    “Ối giời ơi, khỏe làm sao nổi cháu ơi. Cái Xuân nó đang hành Bác đây này.” Bác nói luôn, “Cháu, không biết hả, đời thủa nào nó đi quen với cái thằng bưng phở cháu à.”

    Rồi Bác làm một hơi những câu nói nặng nề y như cái cơn tam bành hôm Chủ Nhật vừa rồi. Khi Bác diễn tả “chân cẳng thì to như cái thùng tô nô” Bác dơ hai tay ra cho tôi xem nó to bự như thế nào. Tôi chỉ nói “Vậy hả Bác.” Nhưng trong thâm tâm tôi, tôi nhớ lại cái câu các cụ vẫn nói “lấy vợ kén tông, lấy chồng thì kén giống.” Vậy thì giống này tốt quá đi chứ! Chân được như thế vì nhờ chạy bộ hàng ngày ngoài biển. Còn gì bằng. Nhưng nghĩ thế thôi, nào tôi có dám hé răng để mà nghe chửi thêm nữa.

    “Thôi Bác ơi, Bác giận chị làm chi để đến nỗi bị bịnh. Chị Xuân mới quen, mới là bạn, mới tìm hiểu nhau thôi mà đã là cái gì đâu mà bác lo.”

    Từ dạo ấy đến nay đã là mười bốn năm! Bác đã vào chùa ở, còn Chị Xuân của tôi vẫn phòng không gối chiếc, cuối tuần cũng đi chùa luôn cho gọn. Cái tuổi mơn mởn ham muốn đi lấy chồng nay không còn nữa. Bây giờ chị chỉ buông xuôi cho dòng nước muốn chảy đi đâu thì chảy.

    Tôi cũng biết được thêm vài người cùng cảnh ngộ như chị vậy. Nào là không môn đăng hậu đối a, không có mác kỹ sư hay bác sĩ a, không cùng một tôn giáo, không cùng một chủng tộc a..., để rồi cái tuổi xuân thì của các cô không còn nữa, và đều ở giá hết cả.

    Gia đình của chị và tôi đều là thế hệ đầu tiên ở trên đất Hoa Kỳ này, các cụ không ít thì nhiều cũng còn một chút cổ hủ trong lối sống và tư tưởng của mình. Nhưng, cho chúng con xin đi! Chúng con đi lấy chồng cho chúng con chứ đâu phải cho các cụ đâu cơ chứ! Tôi hy vọng thế hệ của chúng tôi, nay cũng may mắn đã leo lên thành bậc cha mẹ, sẽ làm ngơ cho đời con cháu của mình được mặn mà hơn.

    Từ khi còn bé, chúng con đã ê a “tình mẹ bao la như biển Thái Bình”, nhưng mẹ có biết chăng tình chúng con với mẹ cũng bao la không kém. Mẹ có biết rằng tối đến lòng chúng con lạnh giá như tấm bia phủ đầy tuyết trắng? Nước mắt cũng cạn khô, chúng con khóc cho ai nghe đây? Mẹ có hiểu cho hoàn cảnh của chúng con không hỡi Mẹ yêu dấu?

    Nhắn tin: Anh chàng bưng phở ơi, nếu anh có duyên đọc được bài nay, cho tôi xin lỗi vì những lời nói nặng của bà Bác tôi nhé!

  3. #3
    Cám ơn Chiếc Lá Vô Tình đã rơI xuống Chuyện Tình Buồn của o Khế với một truyện ngắn CTBP




    Mừng được là chiếc lá,
    Trong ngất ngây vũ trụ,
    Hòa quyện vào thiên thu
    (VTA)

  4. #4
    Tình Trưng Vương
    Lan Đàm

    Thuở đó anh qua vườn Bách Thảo
    Theo dáng em hiền nhẹ bước chân
    Em nghiêng nón, hồn anh giông bão
    Cổng then cài, còn đứng phân vân

    Trời Sài Gòn nắng tươi màu má
    Giờ tan trường đàn bướm nhởn nhơ
    Anh đợi em người-quen-mà-lạ
    Chót thầm yêu hay chỉ để chờ?

    Anh chưa nói hay không dám nói
    Đời vội chia hai ngả thật buồn
    Anh phiêu bạt, cách ngăn diệu vợi
    Áo trắng nào lồng lộng Trường Sơn

    Đôi ba lần về thăm chốn cũ
    Nguyễn Bỉnh Khiêm sầu vắng bóng em
    Hoa sao rụng quay tròn tư lự
    Phố ngậm ngùi, trưa bặt nhạc chim

    Khi nước mất anh thân tù tội
    Mười lăm năm vẫn nhớ em hoài
    Ngày trở lại, lối quen bối rối
    Nhạt dấu giầy, lạnh ngắt Thiên Thai

    Anh nhìn cây, cây gầy ngơ ngác
    Trong lá rơi, đâu tiếng em cười?
    Anh nghe gió, điệu hờn u uất
    Thiếu bầy tiên sao gió lả lơi!

    Từ lưu lạc tháng ngày lận đận
    Đêm cô liêu kỷ niệm võ vàng
    Em thoáng hiện ngạt ngào hương phấn
    Khuya mông lung, hạnh phúc mênh mang

    Có bao giờ nghĩ mình hội ngộ
    Rất tình cờ, đất khách thấy nhau
    Em ngồi đó, áo xanh thiếu phụ
    Xa nhưng gần như mãi xưa sau!

    Ơi Trưng Vương tình nhân muôn thuở
    Trăm nghìn năm anh kẻ bên lề
    Tâm đã động cuối chiều gặp gỡ
    Em đi rồi, anh chợt tái tê

  5. #5
    Bát Nhã Tâm Kinh https://www.youtube.com/watch?v=DndBtGLDcw0

    NGƯỜI TỚI NHƯ MỘNG
    Phan Tấn Hải

    Tôi đã gặp những người như thế. Những người như mộng, như thật. Những người đã tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật. Họ tới để nói rằng cõi đời này là bất khả nghĩ bàn, nói mộng cũng hỏng, mà nói thật cũng sai.

    Có những người đã bước vào trần gian này, mà tôi có cơ duyên gặp được nơi này hay nơi kia, và rồi biến dạng như những làn khói lẩn khuất, hư ảo. Để rồi chỉ còn thoảng trong trí nhớ của tôi những nụ cười như hoa nở, một giọng nói dịu dàng như gió sớm, hay như một tà áo phủ mát những giấc mộng đêm hè. Và rồi, người hiện ra như thật, và biến đi như sương khói, để những bàn tay nắm lấy chỉ còn là một cảm giác run rẩy mỗi khi nhớ tới, và rồi lại buông ra để đi thật xa.

    Với những người bạn ở cõi này, Diệu My là một người như thế trong trí nhớ của tôi. Thực ra, nhóm bạn chúng tôi quen gọi một cô bé ở Thủ Dầu Một thế cho tiện, chứ tên đời và tên đạo đều không phải thế. Nhưng có sao đâu. Có ai bảo tên là thực, để rồi cân nhắc xem là phải gọi thế nào. Cũng đâu có ai bảo thân này là thật, để rồi cứ mãi tìm trong trí nhớ bóng người của nhiều thập niên trước.

    Diệu My đẩy nhẹ tôi ra, lùi vài bước, đưa tay phải lên vẫy chào trong khi nở nụ cười trẻ thơ trông hệt như thời của nhiều thập niên trước, và quay lưng bước đi. Tôi còn đứng ngẩn ngơ với mùi hương tóc rất lạ còn phảng phất, nhìn Diệu My bước hẳn vào sương mù nơi chiếc cầu trên đường State Street, nơi vào phố chính của thị trấn Santa Barbara, rồi mới bước về ga xe lửa Amtrak, chờ về lại Quận Cam.

    Ngồi trên xe lửa, tới gần trạm Anaheim, trước mắt tôi vẫn thấy vài sợi tóc của Diệu My bay trong gió biển Santa Barbara. Tôi đưa hai bàn tay mình lên, nhìn ngắm. Cảm giác nơi tay vẫn còn rung động như điện chạy, cảm giác khi nắm tay nàng và buông ra. Y hệt như nhiều thập nước trước đã tình cờ chạm tay nhau.

    Và lần này, cảm giác nơi tay vẫn còn trong vòng ôm từ biệt, khi vòng qua bờ vai nàng, xiết nhẹ và bàn tay áp lên lằn ngấn áo nịt ngực sau lưng của nàng. Người tôi run rẩy. Khi nàng đẩy nhẹ ra, tôi thâý như mắt nàng có tia nhìn tinh nghịch.

    Tinh nghịch như câu nói rộn tiếng cười của nàng qua điện thoại tuần trước: "Anh à, anh nói anh 60 tuổi sống đơn độc, chỉ biết sách vở, chưa biết gì tới bạn tình nào... chỉ có Diệu My này tin thôi. Chỉ vì, huyền thoại bao giờ cũng đáng tin, kể cả huyền thoại trong năm 2012 này, phải không?"

    Tôi cũng không ngờ Diệu My đã sang Hoa Kỳ, sau nhiều thập niên xa cách. Luôn luôn, cô bé vẫn là nhỏ út của chúng tôi, một nhóm bạn tu học nơi sân Chùa Tây Tạng, Bình Dương, từ những năm của thập niên 1970s. Và rồi bây giờ gặp lại, thì mới biết cô nàng đang về tìm việc ở thị trấn miền trung California này, và là nơi rất vắng người Việt. Tôi tự nhủ, để rồi sẽ gửi email hỏi Sơn xem sao.

    Tôi nhớ hồi đó, nhỏ út Diệu My cứ nói rằng bài Bát Nhã Tâm Kinh khó nhớ quá, học cả mấy tháng mà chưa thuộc, tuy hễ rãnh là tụng đọc hoài. Lúc đó, tôi nói đùa, tại vì giọng của nhỏ út hay quá, nên khi giọng cất lên, là chữ bay mất đâu rồi, không thấy bay vào trí nhớ. Mà giọng của nhỏ út hay lắm, nói chuyện bình thường cũng đã như nghe nhạc rồi, không thành ca sĩ mới lạ. Sinh ở Đà Nẵng, nhưng vào Bình Dương sống từ nhỏ, nên tiếng nói của nhỏ út pha giọng như hòa âm, như dường tiếng nhạc.

    Rồi cũng tới lúc nhỏ út thuộc được bản kinh chỉ có một trang này. Tôi lại nói, thuộc mà không có hiểu hết đâu nhen. Lúc đó, nhỏ út lại cười, vuốt tóc che một bên mặt, và nép người vào một góc cột chùa, trong khi nhóm chúng tôi ngồi uống trà, nghe Thầy Thích Tịch Chiếu nói về giáo pháp.

    Gọi Diệu My là nhỏ út là để cho tiện, riết thành quen. Cả nhóm đều gọi cô bé như thế, nhỏ nhất thì được gọi thế là phải. Lúc đó, nhỏ út chưa qua bậc trung học, trong khi nhóm bạn chúng tôi hoặc đã học xong đại học, hoặc đang ở năm cuối. Nhỏ út ưa lên ngôi chùa này, vì nhà ở khu chợ Thủ Dầu Một, đạp xe một chặp là tới. Còn nhóm chúng tôi là từ nhà ở Sài Gòn, nguyên nhóm đều là cựu sinh viên Đại Học Văn Khoa, hễ cuối tuần là đi xe đạp, hay xe gắn máy về Chùa Tây Tạng ở Bình Dương những ngày cuối tuần, và có khi cả những ngày trong tuần, khi được rãnh rang.

    Nhỏ út cũng siêng lắm, khéo lắm... biết cách ủ tương, làm chao. Trong khi Sơn và tôi cũng có lúc về khu đất An Phú Đông ở hẳn cả tuần để làm ruộng giúp chùa. Tay chân đầy bùn đất, nhưng thời đó thật là vui. Nói vui, là vui khi ngồi ở rẫy, khi nghe Thầy nói về Thiền, hay khi ngồi thiền, tụng kinh... Chứ đất nước ngổn ngang, tâm sự chúng tôi đứa nào cũng bời bời. Mấy tên bạn trong Nhóm Triết, cũng là học trò của ngôi chùa này, còn đi tù cải tạo chưa về.

    Vào những ngày chủ nhật, có những ông cụ, bà cụ cũng vào tụng kinh, niệm Phật, thăm hỏi Thầy. Tôi còn nhớ hình ảnh bác Diệu Quang thường ngồi nơi hàng thứ nhì. Bà cụ có lần giải thích với tôi rằng, ngồi hàng đầu thì kỳ quá, còn ở hàng thứ nhì thì gần Phật hơn là ngồi ở các hàng sau.

    Lúc đó, tôi giả bộ quay qua nói với Sơn, tụi mình cứ ưa ngồi hàng chót, rủi tụng kinh Ông Phật không nghe thì sao. Bác Diệu Quang nghe được mới cười, rung rinh mái tóc trắng, nói thêm rằng bác đang lo vì có hai người con trai ở tù cải tạo xa, nên bác cần phải tụng kinh cho Đức Phật nghe không sót chữ nào, mới "hồi hướng công đức cho hai đứa nó về sớm," theo bác giải thích. Lúc đó, Sơn khều tôi, ra dấu im lặng, đừng bàn nữa.

    Bác Diệu Quang tụng kinh chậm, vì tuổi lớn rồi, có khi đọc vấp. Một lần tụng Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa, chuyện Đức Bồ Tát Quan Thế Âm hóa hiện nhiều ứng thân để cứu chúng sinh, bác Diệu Quang nghẹn lời, cúi mái tóc trắng thấp hơn, nhưng tôi kịp nhận ra bác đưa tay áo lên chùi nước mắt.

    Cũng chất phác như thế là bác Bảy Trụ, cô Diệu Tâm, và nhiều người khác. Một thời đầy những lo buồn, ai cũng thế. Chẳng hiểu sao nước mình nó như thế.

    Tới chùa lúc đó, mỗi người là một thế giới đau thương, cứ những ngày sóc vọng, lễ kỵ, tới tụng kinh cũng chỉ mươi người, không đông bằng các chùa ở Sài Gòn. Còn ngày thường thì vắng bặt, có khi chẳng thấy bóng ai, chỉ còn Sơn với tôi ngồi thưa chuyện với Thầy. Không khí căng thẳng thời đó là như thế.

    Thỉnh thoảng Thầy ra ngồi ở ghế đá trước sân. Nơi này hồi đó cũng có một vài kỷ niệm. Có những đàn chim sẻ thường sà xuống, bay quanh quẩn trong sân, bạo dạn tới mức có khi nhảy lóc cóc tới gần chân thầy. Một lần nhỏ út Diệu My thấy vậy mới lấy tay quơ quơ cho chim sẻ bay, làm sao lại vấp té, tôi kịp đưa tay đỡ dậy. Bàn tay tôi nắm lấy bàn tay Diệu My, kéo đứng dậy, cảm giác lạ thường nơi tay tôi kéo dài mấy ngày. Tay nhỏ út Diệu My tất nhiên mềm mại, con gái mới lớn thì thế, tôi nghĩ thế. Nhưng đó là lần đầu tiên tôi nắm tay một thiếu nữ, tuy rằng nhỏ út vẫn trông như con nít trân, có vẻ như không thấy khác thường khi tôi nắm tay cô bé. Lúc đó, trong đầu tôi chợt nghĩ ra vài câu thơ, bây giờ không nhớ hết, nhưng đại khái là hình ảnh một đàn chim sẻ bay lên, làm những nỗi buồn rơi lại và nhà thơ ngồi ôm mặt khóc vì nhớ những ngày qua đi... Đại khái là thế. Nhưng tôi không bao giờ viết xuống giấy các dòng như thế cho trọn một bài thơ. Sao mình lại nặng nghiệp như thế nhỉ.

    Khoảng mươi phút sau, Thầy nói rằng chúng ta phải học như chim, cất cánh bay đi nhưng không để lại ảnh hình hay dấu chân chim nào trong không gian, cũng như trong tâm mình, những niệm khởi sinh và biến dạng đi. Tôi sực nghĩ, có vẻ như Thầy thấy được cảm giác của tôi khi chợt nắm tay cô bé.

    Thầy nói, nếu còn để lại dấu vết, còn nắm giữ cảm thọ của những gì của hôm qua, những gì của quá khứ thì sẽ không giải thoát nổi. Tôi muốn hỏi rằng có phải Thầy nhận ra rằng tôi đang lưu giữ cảm giác nơi tay tôi, nơi vừa nắm tay Diệu My, nhưng rồi thôi. Mà như thế thì có phạm giới gì không, vì nguyên khởi cũng là tình cờ thôi. Ai biết. Nhưng mắt Thầy nhìn thẳng vào mắt tôi, khi nói về cánh chim bay không lưu lại dấu vết ở cõi này. Tôi phải thú nhận, cảm thọ nơi bàn tay tôi như có điện chạy, y hệt như cô bé làm ra điện giựt. Cảm giác đó nhiều thập niên sau vẫn còn nơi tay tôi, mỗi khi nhớ tới.

    Một lần, sau khi mọi người tụng kinh xong hết và lui ra, nhỏ út Diệu My ngồi lại một mình trong chánh điện và tụng một mình bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bấy giờ tôi mới ngẩn ngơ, đúng là giọng nhỏ út như tiếng hát rất lạ. Một đàn chim sẻ sà xuống trước sân, nhảy múa theo giọng nhỏ út tụng kinh. Không phải hình ảnh bình thường hằng ngày. Đúng là một điệu vũ lạ. Đàn chim sẻ, lung linh trong nắng mặt trời. Sắc bất dị không, không bất dị sắc... Và khi nhỏ út ngưng tiếng, đàn chim sẻ cũng ngừng lại một chặp, và rồi bay lên. Tôi nhìn qua Sơn, thấy hẳn cũng nhìn mình, cùng ngạc nhiên vì điệu vũ lạ của chim.

    Buổi tụng kinh tuần sau, tôi và Sơn ngồi hàng sau cùng. Và cùng thấy rằng, khi tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, giọng của nhỏ út Diệu My nghe như tiếng nhạc trong âm vang hội chúng chỉ mươi người, và ngó ra sân thì thấy đàn chim sẻ sà xuống, nhảy múa hay tụng đọc gì theo kiểu riêng của loài chim. Tôi chợt nghĩ ra một câu thơ, kiểu như hẳn rằng kiếp trước em là chim, hát theo một câu kinh giữa sân chùa, nhưng rồi cũng không dám viết xuống cho thành trọn bài. Lúc nào tôi cũng sợ nghiệp. Nhất là cứ nhớ mãi lời Thầy dạy là hãy như chim bay, không để lại hình ảnh nào trên không.

    Nhiều thập niên sau, tôi về sống lặng lẽ, bình thường ở khu phố Little Saigon, Quận Cam. Mãi nhớ câu thơ Nguyễn Du, "Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên," lòng tôi lúc nào cũng nghĩ tới quê nhà nhưng chuyện mưu sinh cứ mãi làm mình loay hoay cả đời. Trong căn chung cư hẹp, rất hẹp, nơi giành cho người cao niên, sống đơn độc với những trang sách cổ, tôi chỉ có niềm vui là dò tìm và viết lại những ẩn nghĩa của cuộc đời.

    Những khi bước dọc theo phố Bolsa buổi trưa, dưới nắng ấm mặt trời, lòng tôi lại nhớ tới những tia nắng lung linh với đàn chim sẻ ở sân Chùa Tây Tạng Bình Dương.

    Bạn thân ở quê nhà thì nhiều, nhưng thường liên lạc qua email vẫn là Sơn, người bây giờ chỉ còn niềm vui duy nhất là tu học và dịch kinh sách Tây Tạng. Thỉnh thoảng, Sơn gặp chữ khó, không dò được qua tự điển, lại email sang hỏi tôi. Hóa ra, hai thằng bạn năm xưa bây giờ lại là hai cư sĩ ưa dịch kinh sách.

    Mới tuần trước, tôi nhận được một cú điện thoại lạ. Giọng nhỏ út Diệu My tôi nghe là nhận ra mang máng. Tôi bất ngờ, vì nhiều thập niên qua rồi, vẫn nghĩ là Diệu My còn ở Việt Nam, vẫn đang ngồi ở một góc núi nào đó. Tôi vẫn nhớ cách nhỏ út hất nghiêng mái tóc, cách ngồi thẳng lưng, với hai bờ vai nhỏ của một đứa con gái chưa lớn trộng.

    Tôi đã từng nói với Sơn rằng giọng nhỏ út nói là pha giọng Đà Nẵng với Bình Dương, nhưng thực ra phảỉ nói là giọng pha tiếng nhạc trời, tụng bài Tâm Kinh là không có bản nhạc nào hay hơn. Những lần như thế, Sơn lại bảo rằng tôi nghiệp còn nặng. Vì, Sơn bảo, còn thấy có người nghe tụng kinh say mê giọng tụng kinh của người tụng, thì vẫn còn ở cõi này hoài thôi; lẽ ra, phải thấy ngay tất cả đều là vô ngã, thoắt hiện và thoắt mất, thì mới nhận ra ý kinh.

    Diệu My nói rằng, nàng bay từ New York tới thăm Quận Cam một buổi, rồi hôm sau sẽ đi xe lửa về Santa Barbara nhận việc làm mới. Tôi nói, cho tôi mua vé đi theo, để tiễn nàng út vào nơi ở mới.

    Tôi nói để sẽ đón ở phi trường John Wayne, cô nàng bảo thôi, vì nàng sẽ xách hành lý tới trước cửa căn chung cư của tôi vào buổi sáng Thứ Bảy. Không gì khó, giọng cười qua điện thoại của nàng già dặn, so với giọng tụng kinh thời thơ dại, nhưng vẫn là một thứ giọng pha cả Miền Trung và Miền Nam. Cũng vẫn như một tiếng nhạc năm xưa.

    Diệu My tới bất ngờ, gõ cửa. Tôi nhìn kỹ. Cô nàng bây giờ tuổi lớn rồi, có một chút má hồng, môi son, nhưng vẫn là mái tóc nép bên cột chùa, mắt nhìn vẫn thơ trẻ. Và dĩ nhiên, không phải chiếc áo tràng màu lam, mà là một áo khoác xám.

    Tôi bảo nàng để hành lý trong phòng, rồi đưa nàng ra phố Bolsa ăn trưa. Khu chung cư tôi ở là nơi chính phủ tài trợ. Tôi nhìn quanh mấy hành lang, ngó xuống phố, tự hào vì đi bên cạnh một người phụ nữ dễ thương như thế.

    Ngay vừa suy nghĩ thế, tôi chợt nhớ tới câu Sơn nói năm xưa rằng nếu tôi thấy thật là có thì sẽ hỏng, mà nói thật là không thì sẽ đi lạc, lúc tôi nói rằng giọng tụng kinh của Diệu My thật tuyệt vời, nghe một lần là cả ngàn triệu kiếp không quên.

    Tôi mơ hồ có ý nghĩ muốn giữ nàng ở lại Little Saigon luôn, nhưng để rồi xem sao. Tôi nghĩ, Santa Barbara thì gọi là khá gần, lái xe ba giờ rưỡi, lên thăm nàng là chuyện dễ mà. Tuy nhiên, tôi không dám hỏi về hoàn cảnh gia đình của nàng, như sợ nghe những chuyện buồn, vì đời người đâu dễ có được bao nhiêu niềm vui.

    Khi đưa Diệu My tới trước thương xá Phước Lộc Thọ, một đàn chim bay sà xuống trước mặt nàng. Tôi thấy như dường cảnh này đã thấy lâu lắm rồi. Thời nào đó, mơ hồ, nhưng đã thấy rồi, kể cả khi khu phố Little Saigon chỉ là những vườn cam và rau.

    Tôi đưa nàng đi trên các phố ngợp nắng Bolsa, vào một tiệm cơm chay trong góc Phước Lộc Thọ, lấy xe chở nàng ra Huntington Beach nhìn biển mươi phút, rồi lại quay về. Tôi chỉ cho nàng thấy chiếc bàn tôi ngồi làm việc hàng ngày, chiếc máy điện toán cổ lỗ và chậm rì nhưng cũng còn nối mạng được. Tôi chỉ cho nàng thấy chiếc giưỡng tôi nằm, nói mỗi đêm và rạng sáng tôi vẫn ngồi thiền trên giường, vì phòng này chật quá, không dư chỗ để làm thiền phòng hay gì hết, kể cả một bàn thờ. Kiến trúc căn chung cư này gọi là studio, nghĩa là hẹp lắm. Hẹp tới nỗi anh Vũ Huy Quang mỗi lần từ San Jose ghé thăm Quận Cam, nằm ngủ nơi sàn là tôi đi phảỉ nhón chân, vì sợ giẫm nhằm nhà văn khó tính này.

    Tôi nói, tôi muốn thời gian ngừng hẳn lại, muốn điạ cầu đừng xoay nữa, muốn nắng chiều đừng tàn thêm.

    Nàng cười và hỏi, sao vậy.

    Trời ạ, tôi muốn ngất đi khi nhìn thấy nụ cười của nàng, y hệt như thời trẻ dại.

    Tôi nói, vì tôi không muốn nàng bước ra khỏi căn phòng nãy nữa.

    Nàng lại cười và nói, anh nói chuyện kiểu như thế, mà bảo là vẫn độc thân tới bây giờ là lạ đó.

    Tôi nói, đời người ngắn quá, cứ ngồi dúi đầu vào đọc sách, viết sách, ngẩng đầu lên là thấy tóc trắng rồi, lòng chẳng còn nghĩ ngợi gì nữa.

    Nàng bảo tôi, "Sư huynh ơi, bước ra hành lang giùm," để chờ trong khi nàng tắm và thay trang phục để mời tôi đi ăn tối. Oh man, tôi lại nhớ rằng, nhóm bạn chúng tôi đôi khi gọi nhau là sư huynh và tiểu muội, chỉ vì có lúc gọi là anh hay em không tiện. Mà tại sao không tiện thì chẳng ai hiểu. Hay tại cái sân chùa Bình Dương này như thế.

    Tôi mới nhớ, căn chung cư này hẹp quá, mà tấm bạt che phòng tắm lại là tấm nylon trắng, chẳng thơ mộng gì.

    Tôi nói, thôi thì anh bước ra chờ. Tôi nghĩ, nếu ngồi trong nhà, chỉ nghe tiếng nước xối tắm, thế nào lòng mình cũng sẽ suy nghĩ tầm bậy, tầm bạ. Bước ra chờ là phảỉ rồi.

    Thực ra thì không ăn tối. Nàng bảo là không ưa ăn chiều, ăn tối. Chúng tôi đêm đó, tới tiệm cà phê Starbucks trên đường Brookhurst, góc Edinger. Nàng mang theo một iPad, ngồi gõ và xem. Tôi nhà quê lắm, những thứ máy móc phức tạp là chịu thua.

    Khi tôi nói thế, nàng ngẩng đầu lên cười, Trời ạ, đây là nụ cười thỉnh thoảng hiện về trong giấc mơ của tôi, mà tôi không bao giờ nhận ra là ai và từ đâu.

    Về nhà, việc đầu tiên là tôi mở máy, vào mạng Amtrak để mua vé xe lửa cùng chuyến với nàng.

    Lòng tôi vui như mở hội. Tôi biết rằng, đời mình sẽ không còn như cũ nữa. Những ngaỳ mai sẽ khác, khác hẳn với những ngày hôm qua. Tại sao, tôi cũng không rõ. Nhưng hiển nhiên là, có những niềm vui lớn tới mức khắp đất trời như rực sáng, và mọi chuyện không còn như cũ nữa.

    Tôi bảo nàng nằm ngủ trên giường, để tôi nằm dưới đất.

    Nàng bảo không được, huynh phải nằm giường. Tôi không cãi. Tôi đưa một lô mền cho nàng đắp, bảo coi chừng cảm cúm, mệt dễ bệnh lắm. Tôi ngủ không được. Trằn trọc mãi. Có đất trời làm chứng cho tôi rằng, cả đời tôi chưa bao giờ nằm ngủ chung một phòng với phụ nữ cả. Không hiểu tại sao, cái nghiệp mình nó thế. Có ai gọi thế là có căn tu, nhưng tôi không nghĩ thế.

    Tôi nói, ngọn đèn nhỏ cắm dưới chân bàn có làm Diệu My ngủ được không.

    Nàng nói, không hề gì, có 500 chiếc xe ngựa phóng trước mặt cũng không hề gì.

    Tôi ngồi thiền như thường ngày, hít thở đều đặn. Nhưng quả nhiên là mọi chuyện không như cũ nữa. Mùi hương của tóc nàng như dường bay ngợp cả phòng. Mắt tôi mở nửa chừng, nhìn thấy chiếc mền nàng đắp phập phồng, nhìn thấy chiếc mền phủ lên hai chân nàng duỗi song song.

    Trời ạ, tôi nhắm mắt. Chịu thôi, tôi lại nằm, tập hít thở, giả như đang chết, quán toàn thân mình nằm như xác chết. Nhưng giả chết thế nào được. Hình ảnh cô bé đuổi theo đàn chim bay ở sân chùa năm xưa. Rồi hình ảnh đàn chim sà xuống trước mặt nàng ở sân thương xá Phước Lộc Thọ. Rồi hình ảnh hai chân nàng duỗi song song.

    Tôi ngồi dậy, mở đèn, hỏi nàng có ngủ được không.

    Nàng bảo sắp ngủ.

    Tôi bảo, rằng sư huynh muốn nghe nhỏ út tụng giùm một biến Tâm Kinh Bát Nhã. Tụng nhỏ thôi, không cần chuông mõ, vì khuya rồi, hàng xóm khu chưng cư này đa sự lắm.

    Nàng hỏi, sao hai anh em mình không tụng kinh chung nhau.

    Tôi tự nhủ, anh tụng thế nào được nữa. Nhưng tôi nói, rằng anh nhớ hồi xưa anh dò xem nhỏ út thuộc bài kinh này chưa. Bây giờ chỉ muốn nghe thôi.

    Nàng ngồi dậy, bảo hễ tụng là ngồi, không dám nằm. Và nàng đọc nho nhỏ, rằng sắc bất dị không... Nàng ngưng laị một chút, hỏi tôi nhớ gì không.

    Tôi nói là nhớ. Nhớ chứ, hồi đó, tên Sơn có một lần chận lại chỗ này, nói sắc đây không phảỉ nhan sắc, mà sắc chính là hình tướng. Thôi đọc tiếp đi, nhỏ ơi.

    Nàng đọc lại, đọc trọn bài kinh, giọng như ca hát, giọng như mang theo sóng biển Đà Nẵng và gió rừng Bình Dương.

    Tôi nằm xuống ngủ. Đêm đó, tôi nằm mơ thấy một đàn chim bay nương theo gió biển Huntington Beach.

    Tỉnh dậy, tôi thấy nàng đã dậy từ khi nào, hành lý đã sẵn sàng.

    Trên xe lửa, tôi nói là tôi sẽ cần liên lạc với nàng.

    Cô bé cười, bảo là nàng sẽ liên lạc. Tôi vẫn nhầm hoài, bé thế nào nữa nhỉ, vì tóc nàng có vài sợi bạc rồi.

    Nàng nói thêm, như chim bay trên trời, không để lại dấu tích, giữa không gian vô định nhưng vẫn biết nơi cần đến.

    Hiển nhiên, ngôn ngữ của nàng không còn là của cô bé ở sân chùa năm xưa nữa.

    Tiếng xe lửa chạy âm vang, dĩ nhiên không ồn như xe lửa ở quê nhà. Tôi ngồi bên cạnh nàng, cùng nhìn ra cửa sổ về hướng biển xa.

    Tôi không dám hỏi những chuyện đời, kiểu như nàng làm việc gì, lương bao nhiêu, và bà bạn đón về sở mới là ai, quen ra sao. Có vẻ như, tôi sợ những chuyện như thế làm rạn vỡ đi bầu không gian đầy sương khói giữa chúng tôi.

    Tôi muốn nói một câu, nhưng rồi ghìm lại, rằng sẽ có lúc anh bật khóc vì nhớ em.

    Xuống xe lửa, nàng bảo muốn đưa tôi ra nhìn biển Santa Barbara một chút, để rồi sẽ từ biệt. Nhà ga chỉ cách trăm bước là tới biển.

    Đứng nhìn biển một chặp, nàng ho khúc khắc. Tôi bảo gió lạnh đó, coi chừng bệnh.

    Nàng để mặc cho tóc bay theo chiều gió, mỉm cười nhìn thẳng vào mắt tôi. Một chặp.

    Và rồi nàng bảo tôi, hãy ôm em từ biệt đi.

    Tôi ôm nàng, choàng tay vòng qua vai, bàn tay tôi kinh ngạc và run rẩy khi cảm nhận lằn dây nịt ngực qua lớp vải áo nơi lưng nàng. Một chặp. Và nàng đẩy nhẹ tôi ra, bước đi.

    Tôi vẫn còn ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mình không hôn nàng. Nhưng mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi, còn nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn về chuyện các bạn ở quê nhà.

    Sáng hôm sau, tôi đọc email trả lời từ Sơn, trong đó kể nhiều chuyện đổi dời dâu biển. Từ chuyện ngôi chùa Tây Tạng Bình Dương, tới chuyện đất ruộng An Phú Đông bây giờ đã giao cho Sư Đăng cất chùa. Sơn kể rằng bác Diệu Quang và bác Bảy Trụ đã từ trần cả rồi.

    Còn nhỏ út Diệu My thì đã xuất gia từ lâu, bây giờ là một ni sư, trong hơn hai thập niên không hề bước xuống phố chợ.

    Tôi kinh ngạc khi đọc như thế. Nhìn lại trên bàn, tôi thấy hai vé xe lửa, một của tôi, và một của nàng. Tôi còn nhớ, trên xe lửa, tôi đã nói với nàng là tôi sẽ giữ tờ vé đó để làm kỷ niệm.

    Trong phòng vẫn còn thoảng hương tóc nàng, lẫn trong hương gió biển từ xa bay về.

    Tôi vẫn nhớ như in rằng, nàng nói dịu dàng, "Sư huynh ơi, bước ra hành lang giùm," khi nàng sửa soạn tắm.

    Tôi nhìn hai tay mình, cảm giác như điện chạy vẫn còn, kể cả cảm xúc rất lạ khi ôm nàng và cảm nhận lằn dây nịt ngực dưới lưng áo nàng. Làm sao quên được, đó là lần đầu tiên trong đời, tôi được ôm một phụ nữ.

    Bên tai tôi, vẫn còn âm vang bài Bát Nhã Tâm Kinh nàng tụng đêm qua...

  6. #6
    EM CÒN NHỚ KHÔNG?
    THÁI-VINH

    Tôi thường đùa, “Năm ba mươi tuổi nếu không gặp được người mình yêu, tôi sẽ đi tu!” Không ngờ năm ấy tôi gặp được nàng. Quê nàng ở tận Lyon, một thành phố thơ mộng nằm bên bờ hợp lưu hai dòng sông Rhône và Saône chảy êm đềm về phía đông nam nước Pháp, cách Paris 470 km. Người Việt ở Lyon và các vùng phụ cận phần lớn theo đạo Phật, nhưng lúc đó chưa có chùa. Tín đồ bên Công Giáo may mắn hơn đã có linh mục chăm sóc đời sống đức tin. Linh mục Bernard Trần Ngọc-Hải là tuyên uý đầu tiên của Cộng Đoàn Công Giáo người Việt ở Lyon được thành lập từ tháng 10 năm 1975 với các sinh hoạt bao gồm Thánh Lễ Chúa Nhật, thăm viếng các trung tâm tiếp cư, tìm gia đình bảo trợ, thông dịch, kiếm việc làm... được sự hỗ trợ của thầy element Thể (thụ phong linh mục năm 1979), soeur Marie Germaine Tâm, soeur Marie Léa Lou-Li-Tchen, sinh viên, cơ quan Cứu Trợ Công Giáo, và cựu chiến binh Pháp. Cộng đoàn đã thuê một căn nhà của giáo xứ Immaculée Conception (Lyon 3), và lấy tên là Trung Tâm Liên Lạc Công Giáo Việt Nam. Thứ Bảy có các lớp giáo lý, tiếng Việt cho trẻ em và tiếng Pháp cho người lớn. Năm 1985, Cộng đoàn mang tên Mission Catholique Vietnamienne. Kể từ năm 1989, Cộng đoàn được dùng nhà thờ Saint Pierre Chanel cho các sinh hoạt tôn giáo và hội họp được sự trợ lực của các thầy dòng Tận Hiến Đức Mẹ Vô Nhiễm (Missionary Oblates of Mary Immaculate).

    Linh mục Bernard Trần Ngọc-Hải là chủ tế ban phép hôn phối cho chúng tôi. Năm nào nghỉ hè, chúng tôi cũng đưa con về Lyon thăm Ngoại, thăm bà cụ cha Hải, và đi lễ tại nhà thờ giáo xứ Immaculée Conception; nhưng lần nào tôi cũng vẫn không dám thân thiện đến thăm riêng linh mục Bernard Trần Ngọc-Hải chỉ vì trông ông không giận mà rất nghỉêm. Tôi đùa với nàng, “Cưới em, anh đã cướp mất tiếng sông Hồng trong Hội Trùng Dương của ca đoàn thì làm sao dám gặp mặt nhạc trưởng?” Cho đến mùa xuân năm 1992, chịu hết nổi mùa đông băng giá và cô đơn ở thành phố biên thùy Northvale của tiểu bang New Jersey giáp New York, tôi bỏ nước Mỹ đi sang Pháp, rồi về Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) tái hợp với mẹ con nàng. Trong ba tháng ở Lyon, tôi học nghề sửa Radio, Tivi, và Telephone với cậu Phục. Lúc đó Phật tử ở Lyon đã có Thiện Minh Tự. Mấy ngày Tết, tôi theo cậu Phục đi chùa, coi chợ Tết Sinh Viên, tham dự Bữa Cơm Xã Hội và Văn Nghệ do chùa Thiện Minh tổ chức tại Centre Culturel Oecumenique tại Villeurbanne. Trong buổi văn nghệ ấy, cậu Phục lén ghi tên tôi lên sân khấu hát. Không ngờ bài thơ “Tình Quê Hương” của Đại uý Phan Lạc Tuyên (1928-2011) viết sau chiến dịch giải phóng thôn Sa Huỳnh năm 1954 với những lời thật thơ mộng được Đan Thọ phổ nhạc mà ít người còn hát, cũng là bài hát mà linh mục Bernard Trần Ngọc-Hải từng ưa thích:

    Anh về qua xóm nhỏ
    Em chờ dưới bóng dừa
    Nắng chiều lên mái tóc
    Tình quê hương đơn sơ

    Quê em nghèo cát trắng
    Tóc em lúa vừa xanh
    Anh là người lính chiến
    Áo bạc màu đấu tranh

    Em mời anh dừng lại
    Đêm trăng ướt lá dừa
    Bên nồi khoai mới luộc
    Ngát thơm vườn ngâu thưa

    Em hẹn em sẽ kể
    Tình quê hương đơn sơ
    Mẹ già như chiều nắng
    Nhớ con trai chưa về

    Ruộng nghèo không đủ thóc
    Vườn nghèo nong tầm thưa
    Ngõ buồn màu hoang loạn
    Quê nghèo thêm xác xơ...

    Ông có mặt hôm đó, khen tôi hát hay vì biết nắm cái hồn của bài hát. Chúng tôi đã nhanh chóng trở thành đôi bạn văn nghệ. Vài hôm sau, nhờ Bản Tin Cộng Đoàn Công Giáo Lyon, tôi tìm thăm và kết bạn với nhạc sĩ Trịnh Hưng (1924- 2008), tác giả các ca khúc nổi tiếng vào giai đoạn thanh bình nhất của Miền Nam từ năm 1954 đến năm 1960 như Tôi Yêu, Lúa Mùa Duyên Thắm, Lối về Xóm Nhỏ, Trăng Soi Duyên Lành... Nhờ nhạc sĩ Trịnh Hưng, tôi lại quen thi sĩ kiêm bác sĩ Nga, người thường chữa bệnh miễn phí cho nhạc sĩ Trịnh Hưng. Và những tâm hồn văn nghệ ở Lyon đã có một buổi văn nghệ cháo gà đầu năm tại tư thất của bác sĩ Nga. Buổi văn nghệ ấy đã cho tôi nhận thấy cái hồn nghệ sĩ nồng ấm trong con người tu sĩ khổ hạnh lúc nhạc sĩ linh mục Trần Ngọc-Hải đánh đàn Hạ Uy Di (Hawaiian Steel Guitar) và hát hai bản tình ca do ông sáng tác từ thuở đôi mươi khi còn là sinh viên hoạt động trong phong trào Thanh Sinh Công tại Miền Nam Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1960. Cần nói thêm phong trào Thanh Sinh Công đã du nhập vào Việt Nam từ năm 1937 do các sư huynh Lasan thành lập và phát triển đem tinh thần Phúc Âm vào đời sống sinh viên và học sinh. Đại hội Thanh Sinh Công toàn quốc đầu tiên được tổ chức tại Sài Gòn năm 1961; và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhóm họp tại Đà Lạt vào ngày 20 tháng 4 năm 1964 đã công nhận Thanh Sinh Công là phong trào hoạt động tông đồ có tính cách toàn quốc cho giới sinh viên và học sinh.

    Biết tôi rất yêu thích, ông đã chép lại mấy bản nhạc tâm tình của mình, rồi tức tốc cỡi xe đạp đến gặp tôi tại một quán nước trên đường Felix Fauré trước giờ tôi ra ga xe lửa giã từ Lyon vào ngày 14 tháng 4 năm 1992. Chúng tôi xa nhau từ độ Tết năm ấy. Tôi đã mang những bài hát của nhạc sĩ Trần Ngọc-Hải đi lang thang khắp nơi qua một phần tư thế kỷ mà chưa có cơ hội phổ biến. Trong quãng thời gian ấy, đôi khi vô tình bật tiếng hát vu vơ “Em còn nhớ không...” tôi giật mình chợt nhớ lại tâm tình trong “Những Buổi Chiều Xưa” của người bạn sống đời tu sĩ:

    Em còn nhớ không?
    Những hôm mây bay đầy trời
    Đường về nhà em có sao chiều đưa lối
    Đường về nhà em có tiếng hát thơ ngây
    Có em tôi mơ màng vương buồn về xa xôi
    Em còn nhớ không?
    Những hôm trăng thanh ngày mùa
    Rộn ràng từ trên xóm ai cười ai nói
    Giọng hò nhẹ vang bên gánh lúa ven đê
    Sáo êm đưa lối về
    Ôi tình quê chứa chan!
    Mơ ngày về thăm quê nhà
    Về thăm mái lá đơn sơ
    Về thăm đồng quê xanh mờ
    Có bóng con đò trôi khi sương chiều buông lơi
    Anh nào đã quên lũy tre xanh đầu làng
    Một ngày đầu thu gió may về xơ xác
    Một ngày đầu thu anh thấỵ dáng em đi
    Bước chân em qua thềm, ôi giờ đây nhớ quá!
    Anh nào đã quên những hôm mưa rơi mịt mù
    Trời buồn làm sao! Nghĩ thương mình thương quá!
    Lặng nhìn thời gian, anh thấy kiếp bơ vơ
    Kiếp muôn năm đợi chờ, âm thầm mơ lứa đôi

    Làm sao quên được buổi trưa năm ấy trong một quán nước yên tĩnh trên đường Félix Fauré, tôi đã khen:

    - Thật là một bản tình ca yêu người và yêu quê hương thơ mộng êm đềm! Những bài hát có lời đẹp và hay như “Những Buổi Chiều Xưa” ngày nay không còn nữa. Chắc hẳn đó là bức tranh làng quê của tác giả ở miền Bắc?

    Thoáng một chút cảm động, người nhạc sĩ mơ màng về phương trời kỷ niệm:

    - Hồi ấy, năm 1960 tôi biết Quy qua những lần sinh hoạt trong phong trào Thanh Sinh Công. Rồi chúng tôi học cùng một lớp với nhau tại trường Trường Sơn để dọn thi tú tài. Năm 1961 chúng tôi dính bảng. Một buổi sáng trong tuần dọn thi vấn đáp, tôi lại nhà chị Bá ở vùng Bàn Cờ đường Phan Đình Phùng với anh Liễm (sẽ là anh rể của tôi sau này). Tôi thấy Quy đang nói chuyện say mê với mây cô bạn cùng tuổi. Họ đều là những người đẹp. Tôi có nói lời chào Quy và không được đáp lại. Buồn lòng tôi yên lặng ra về và dặn với linh hồn mình rằng sẽ không bao giờ trở lại chốn này nữa. Ngày hôm sau, trời Sài Gòn đầy mây trắng, tôi ngậm ngùi làm nhạc để kể lể sự cách biệt “muôn đời” giữa tôi và Quy. Sự cách biệt tàn khốc mà tôi không ngờ trong “nháy mắt” đã đặt tôi trên bờ một dòng sông. Và từ bờ bên này, tôi đã hát vọng sang bờ bên kia để kể lại cho Quy nghe những nhớ nhung của mình về tiếng hát dịu dàng của một người, về những lần đã nói chuyện với nhau vui như những ngày Tết, về những bước chân người đó đã in trên các đường phố, nhất là về cảnh trí ngôi làng sinh trưởng của Quy ở vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Tôi bảo đảm cảnh này là cảnh có thực do chính Quy đã kể lại và tôi đã cẩn thận vẽ lại trong trí tưởng tượng của tôi. Rất may, nhờ nhạc mà cảnh này vẫn còn xinh tươi mặc dù ngôi làng đã bị những trận bão lụt liên tiếp tàn phá; và mặc dù trong thực tế, chúng tôi đã xa cách nhau từ ngày ấy... Nhạc làm xong, chị tôi biết được câu chuyện, đem kể lại cho Quy. Quy mời tôi lại chơi đằng nhà chị Bá vì hồi đó Quy thích ở trên nhà chị Bá, có lẽ vì sự yên tĩnh để học. Chúng tôi đã nói chuyện lại với nhau. Tôi đã hát bài này cho Quy nghe khi Quy ngồi trên bậc thứ hai của một cầu thang gỗ; và tôi, trên một chiếc ghế đẩu bên cạnh. Nghe hát xong, Quy nói nhẹ một câu, hình như chỉ để riêng cho tôi nghe “Cũng cảm động lắm”. Tôi rất tiếc không được nhìn thấy giọt nước mắt trên khuôn mặt của Quy. Sự thiếu giọt nước mắt này đã cho tôi hiểu một điều như là sự thật rằng Quy không có yêu mình nhiều như mình tưởng! Chính vì ý nghĩ ấy mà trong dịp chép lại bản nhạc này vào cuốn nhạc ký của Quy, một thứ lưu bút ngày xanh do Quy chế ra, tôi đã viết một câu “Tôi không sợ ngày chúng mình phải xa nhau bởi vì tôi biết rằng chuyện đó tự nó, nó sẽ xảy ra và chuyện buồn của chúng mình vì thế bao giờ cũng vẫn đẹp”.

    Bị thu hút bởi câu chuyện quá đẹp trong bức tranh “Những Buổi Chiều Xưa”, tôi say sưa ngồi nghe mối tình đầu ấp ủ trong quãng đời sinh viên vẫn không phai mờ trong tâm hồn của một nghệ sĩ linh mục. Thượng Đế đã cho mỗi người một trái tim biết rung động; nhưng không phải lúc nào cũng gặp được một trái tim khác hoà điệu cùng một nhịp. Những mối tình đẹp thường là những mối tình câm, nên từ đó thơ nhạc được ra đời. Nhạc phẩm “Những Buổi Chiều Xưa” được nhà in Tương Lai xuất bản tại Sài Gòn ngày 9 tháng 11 năm 1961. Bài hát này đã được trình bày nhiều lần trên đài phát thanh Sài Gòn và Quân Đội qua tiếng hát của Ánh-Tuyết, Anh-Ngọc, và Ngọc-Quang. Thời đó sinh hoạt văn nghệ của Miền Nam thanh bình rất sôi động. Nhiều ban nhạc trẻ ra đời. Ba nhạc sĩ sinh viên Ngọc-Hải (đàn Hạ Uy Di), Ngọc-Quế (đàn violin và piano), và Ngọc-Quỳnh (piano và guitar) đã thành lập ban nhạc trình diễn ca hát và mở lớp dạy nhạc tại 645/39 đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Sau một năm sinh hoạt văn nghệ, mối tình câm đã không phai nhạt mà còn phát triển đến tuyệt đỉnh có thể “đếm từng tiếng mưa rơi”; và chỉ có người trong cuộc bị yêu thầm, sau khi đi lấy chồng mới thật sự thấm thìa nỗi đau đớn của bản thất tình ca Đàn Lòng Xa Cách:

    Ngày nào gặp em
    Hoa nắng rắc hương ấm loang trên hè vắng
    Đàn anh buông lơi theo tiếng hát không lời
    Nhạc lòng chơi vơi
    Tìm về đôi mắt
    Ôi nhớ quá đôi mắt chứa chan mộng ước
    Lặng mơ miên man anh đã thầm mơ đến
    Một kiếp duyên lành
    Rồi một chiều mưa rét mướt
    Tìm đến em tôi
    Đường về nhà em khuất lối sầu lắng khôn nguôi
    Đếm từng tiếng mưa rơi
    Đếm từng phút chia phôi
    Kỷ niệm xưa sao quá xa xôi!
    Đàn lòng xa cách
    Anh cố nén thương nhớ, ấp trong nguyện ước
    Nhạc trầm đâu đây, vang tiếng hát êm đềm
    Niềm thương xa xăm
    Đường đời muôn lối
    Hoa thắm sắc phơi phới, lúa reo mùa mới
    Thì lòng anh đây, sao vẫn còn vương vấn
    Tình đã xa mờ?

    Tháng 9 năm 1962 Trần Ngọc-Hải vào tu viện Châu Sơn ở Đơn Dương. Năm 1967 xuất ngoại du học, và chịu chức linh mục vào năm 1973 tại Hauterive, Thụy Sĩ. Sau 30 năm làm tuyên úy cho người Việt tại giáo phận Lyon và 7 năm cho giáo xứ người Pháp tại Roanne, nhạc sĩ linh mục Bernard Trần Ngọc-Hải đã gác đàn quy ẩn. Trong số hàng trăm bản nhạc vừa đạo vừa đời sáng tác bởi một nhạc sĩ linh mục, không biết nhạc phẩm “Lời Nhắn” được ông viết ra năm nào? Nhưng tôi cho “Lời Nhắn” là bản đàn êm ái cuối cùng của một mối tình âm thầm đã khép lại để thăng hoa thành tình yêu mới giữa con người và Thượng Đế là Cha của chúng ta ở trên trời:

    Anh ưa đếm những vì sao trên trời vắng
    Được một nghìn anh sẽ chia đều cho em
    Làm vốn những khi trời nhẹ buồn
    Vì đường về còn xa lắm em!
    Anh sẽ rắc nỗi lòng anh trên ruộng lúa
    Một ngày nào lúa chín như ngàn sao xa
    Nhìn ngắm hoa nhạc vừa chào đời
    Lòng anh vui như nước về khơi
    Quy ơi, em sẽ đi về bến nào?
    Mộng đời em đã xong chưa ?
    Còn chiều nay? Ngày mai?
    Hỏi thăm em đã nhớ ai?
    Mơ ước thành mơ?
    Thương là thương nhớ em
    Là thương tiếng em êm đềm vang trên đường đi
    Là thương nếp sống
    Anh nhớ thương em qua núi qua sông
    Qua tiếng kinh cầu
    Qua suối tình yêu
    Ngày mai nắng lên gieo hương nồng
    Ngàỵ mai có những vui ngày mai
    Và nếu có nhớ ai xa xôi
    Em cố quên sầu gói trong mộng vàng
    Quy ơi, anh nhắn em một câu này
    Dặn rằng em nhớ yêu Cha
    Một mình Cha mà thôi
    Mộng đời em đã xong chưa ?
    Em có mừng không?
    (Em thấy gì không?)

  7. #7
    Quyên Trang Và Tôi
    Thảo Nguyên Phương

    Các ông đều biết nhưng lắm khi quên, rằng phụ nữ chúng tôi quan tâm đến vẻ đẹp của nữ giới hơn là của nam giới. Nếu thấy chúng tôi hướng mắt đăm đăm về một cặp nào đó, thì có nghĩa là chúng tôi đã nhìn bà, chứ không phải nhìn ông đâu nhé, đừng có hiểu lầm! Chúng tôi thường nhìn như thế để liệu xem mình có nên hay không nên giống bà đó, có nên hay không nên bắt chước bà ta về cách ăn vận, cách trang điểm v.v. Ngoài ra, chúng tôi còn nhìn cái bề ngoài ấy để đánh giá bên trong.

    Tôi rất ngại nói về mình, nhưng nếu không nói thì câu chuyện tôi sắp kể mất đi ít nhiều ý nghĩa. Tôi năm nay đã 49 tuổi. Theo nhận xét của những người quen biết thì tôi thuộc loại phụ nữ trẻ hơn tuổi. Tôi cùng đứa con trai lớn vượt biên qua Mỹ năm 1992, sau đó bảo lãnh chồng và hai đứa con còn bị kẹt lại. Chỉ một năm sau tôi đã dành dụm tiền mở được một tiệm móng tay, hai năm sau mở thêm một tiệm bán bánh donut và một tiệm ăn. Tôi nghĩ mình cũng thuộc loại phụ nữ tháo vát và tương đối thành công trên xứ Mỹ. Tuy thế tôi từng nhiều lần ước mơ mình giống một người nào đó mà mình thấy trên truyền hình, thấy trong báo chí hay gặp ngoài phố. Một trong những lần đó là lần tôi gặp một phụ nữ trong tiệm Lee Sandwich ở góc đường Brookhurst và Westminster.

    Nghe nói Lee Sandwich rất phát đạt, tôi cùng bà chị dâu đến đây để xem cách làm ăn của họ, hy vọng có thể học hỏi được điều gì chăng, đồng thời để mua một ít thực phẩm chuẩn bị cho chuyến đi chơi ngoài trời của mấy đứa con. Sau khi mua ba ổ bánh mì, ba đòn chả lụa và một số bánh mứt, tôi cùng bà chị dâu ngồi đợi ông xã tôi đang quanh quẩn đâu đó. Trước mặt chúng tôi có một bà cụ đang cầm xấp báo, một ông đang ngồi ngáp và vài đứa bé đang gặm bánh mì. Không đáng chú ý chút nào cả! Xa hơn nữa có mấy cặp trai gái đang cười đùa với nhau. Họ trẻ quá đối với tôi, không có gì đáng để tôi lưu tâm.

    “Thao có thấy con nhỏ đứng gần cửa ra vào không?”

    Bỗng nhiên bà chị dâu lấy cùi chỏ hích vào người tôi và nói. Tôi hỏi:

    “Đâu?”

    “Đó! Nó vừa cầm hộp bánh mứt vừa nhìn tụi mình đó. Đừng có nhìn nó liền, đợi chút đã!”

    “Yên trí, em có cách nhìn lén mà, đừng lo em bất lịch sự. Thấy rồi. Đẹp quá!”

    Đó là một phụ nữ trên 30 tuổi, dáng người cao với cái eo nhỏ và bộ ngực nẩy nở, với vẻ mặt tuyệt đẹp được trang điểm sơ sài, với làn da trắng nuột, với mớ tóc óng mượt. Cô ta vận bộ đồ vét đen xanh, trên cổ quàng một cái khăn mỏng nhỏ màu ngà lấm tấm màu da cam. Tôi nói:

    “Ăn vận và trang điểm được, nhưng quàng khăn nơi cổ thì hơi xưa.”

    “Người đẹp thì ăn vận thế nào cũng đẹp. Nếu cái mông không lép thì ăn đứt hoa hậu Phương Mai.”

    “Phải. Nhưng sao nó cứ nhìn dáo dác khắp nơi vậy? Kìa nó đang đi ra.”

    “Thấy cái mông rồi. Hết chê. Theo Thao thì cô ta thuộc loại người nào?”

    “Chỉ biết là thuộc loại có học, thành công, nếu có chồng thì chồng có địa vị. Nhưng kìa. Nó lại quay vào và đang nhìn chúng mình cười. Phải chi mình là đàn ông.”

    “Hay nó đồng tính?”

    Bà chị dâu nói và chúng tôi cùng cười.

    “Ước gì em được như nó, dù có giảm thọ 10 năm em cũng chịu.”

    Bà chị dâu cười:

    “Giống như nó đương nhiên được trẻ hơn 10 năm.”

    “Trẻ và thọ là hai cái khác nhau. Bảy phi hành gia của phi thuyền con thoi vừa rồi vẫn còn trẻ mà.”

    “Im! Nó đang tiến về phía mình”

    Tôi giả vờ quay mặt qua nhìn cái quầy hàng. Có tiếng nói, giọng Bắc Kỳ 75:

    “Chào hai chị ạ!”

    Tôi quay lại:

    “Chào cô.”

    Cô ta không đợi mời, kéo chiếc ghế bên cạnh tôi ngồi xuống. Bà chị dâu hỏi:

    “Mời cô ngồi chung cho vui. Chắc đợi ông xã hả?”

    Cô ta buồn rầu lắc đầu.

    “Người yêu?”

    Cô ta lại lắc đầu:

    “Có ông xã nhưng mà. . .”

    Chị dâu tôi cười nói:

    “Chắc ông xã ghen quá, giận, gây lộn?”

    “Sao chị biết?”

    “Đẹp như vậy, ai mà không ghen.”

    “Nhưng mà ghen quá, ai chịu nổi.”

    Tôi cười nói:

    “Sao? Kể cho nghe được không?”

    Cô ta ngập ngừng một lát rồi nói:

    “Chị không bảo kể, em cũng kể. Em định nhờ hai chị giúp em.”

    “Cứ nói đi!”

    “Xin lỗi. Cho biết tên được không? Em là Quyên Trang.”

    Tôi nói:

    “Đây là Vi, chị dâu tôi. Tôi là Thao.”

    “Rất hân hạnh. Ông ấy chỉ mới bảo lãnh em qua Mỹ được chừng hai tháng.”

    “Ai?”

    “. . .Chồng em”

    “Ông ta gặp em tại Việt Nam, bảo lãnh em theo diện fiancée.”

    “Rồi sao?”

    Cô ta lại ngập ngừng, lần này khá lâu, rồi khóc nói:

    “Ông ta gần như nhốt em trong nhà gần cả tháng nay, không cho liên lạc với bên ngoài. Khi em muốn đi đâu, ông ta chở đi. Ông ta nói em chưa có giấy tờ chính thức, không nên ra ngoài một mình. Ông ta còn nói Việt Kiều ở đây phần nhiều là người xấu, không nên quan hệ.”

    Tôi hỏi:

    “Vậy cô muốn chúng tôi giúp cô thế nào?”

    “Hai chị có biết anh John Lê làm ở Công ty Sáng Electronics không?”

    “Tôi không biết John Lê, nhưng Sáng Electronics thì biết.”

    “John là anh họ của em. Hai chị làm ơn giúp em nói cho John biết em hẹn gặp John lúc 5 giờ chiều mai tại đây.”

    “Cũng dễ thôi. Nhưng sao cô không đến chỗ John hay gọi điện thoại?”

    “Không biết địa chỉ chính xác, không biết lái xe, quên số điện thoại anh ấy cho, mọi cái đều lạ lùng, làm sao mà tìm; vả lại em trốn khỏi nhà được hơn nửa giờ rồi, phải trở về ngay. Ông ấy ra ngân hàng, sắp về nhà. Không thấy em, ông ấy có thể báo cảnh sát. . .”

    Cô ta nói dến đây thì ông xã tôi đi vào, trên tay khệ nệ một xấp báo Xuân:

    “Việt Báo Xuân năm nay in hình con dê đẹp quá. Phải chi có vải áo dài như hình bìa này, tôi mua tặng bà may áo Tết. . .”

    Ông xã tôi bỗng im bặt khi nhìn thấy Quyên Trang.

    “Chào cô.”

    “Chào anh”

    Tôi nói:

    “Đây là ông xã tôi; đây là Trang. Tôi kể chuỵện Trang cho ông xã tôi nghe được không?”

    Quyên Trang gật đầu.

    Nghe xong câu chuyện, ông xã tôi đập bàn nói lớn:

    “Không thể được! Xứ Mỹ này sao lại có người chồng như vậy được. Cô cần phải liên lạc với John ngay. Nếu anh ấy không giúp đã có. . . tôi.”

    Tôi đưa mắt nhìn chồng tôi như ngầm bảo: “Tại sao hồi thằng em tôi bị vợ nó phang một chiếc guốc vào đầu anh không giúp gì cả mà nay lại nổi máu anh hùng Lương Sơn Bạc như thế?” Hình như hiểu ý tôi, anh ấy ngồi im, nhìn lơ đi nơi khác. Chị Vi nói:

    “Trang ở gần đây không? Tụi này tới nhà Trang được không?”

    “Chỉ chừng 5 phút đi bộ. Nhưng. . .”

    Ông xã tôi nói:

    “Tôi biết cô muốn nói gì rồi. Ta làm như thế này. Chúng tôi làm bộ tìm nhà quen, gõ cửa nhà ông ấy. Cô đứng sẵn trong nhà, nghe tiếng bấm chuông hay gõ cửa là mở cửa ngay. Chúng tôi sẽ. . . xông vào cứu cô, à quên, chúng tôi sẽ nói chuyện thiệt hơn với ông ấy.

    Chị Vi nói:

    “Dượng nói giỡn chi hả, mình có quyền gì làm vậy?”

    Tôi suy nghĩ một lát rồi nói:

    “Như thế này. Khi chúng tôi đến nhà, cô làm bộ tình cờ nhìn ra chúng tôi là người quen hay bà con gì đó, mời chúng tôi vào nhà, sau đó chúng ta tương kế tựu kế.”

    Mọi người đồng ý đề nghị của tôi và hẹn gặp nhau đúng một giờ sau tại địa chỉ mà Quyên Trang vừa ghi và đưa cho tôi.

    Sau khi Trang về nhà chừng bốn mươi lăm phút, chúng tôi đi xe đến ngã tư Westminster và Dawson, đậu xe gần tiệm Bò Bảy Món Anh Hồng, rồi đi bộ đến chỗ Trang ở.

    “Đây là số 119. Gần đến rồi”

    Ông xã tôi vừa nói đến đó thì tôi nghe có tiếng kêu rú nhỏ ở ngôi nhà mang số 123 ngay bên cạnh. Tiếng kêu rú giọng đàn bà khá nhỏ nhưng cũng đủ làm cho cả ba chúng tôi chú ý. Ông xã tôi nhanh nhẩu chạy đến cửa trước, không bấm chuông mà gõ cửa rất gấp. Chị Vi nói:

    “Dượng làm cái gì vậy? Từ từ.”

    Trong nhà có tiếng mở cửa lách tách rồi Trang thò đầu ra:

    “Xin lỗi hỏi ai?”

    Tôi nói:

    “Đây có phải là nhà. . . anh chị Thanh không?”

    “Không phải. Nhưng sao...”

    “Nhưng sao. . .gì?”

    “Trông chị giống một người em quen. Có phải chị Thao không?”

    “Phải.”

    “Trời! Chị Thao thật sao? Sao chị lại đến đây. Tìm anh chị Thanh nào đó hả?”

    Trang nói và ôm chầm lấy tôi. Kể ra cô ta đóng kịch cũng hay thật.

    Chúng tôi cùng nhau vào nhà. Một người đàn ông cao lớn đang ngồi trên sô-pha khẻ gật đầu chào chúng tôi. Ông ta độ 70 tuổi, không đẹp trai, nhưng tráng kiện và gân guốc. Trang giới thiệu:

    “Đây là . . . đây là. . .”

    “Tôi là chồng cô ấy.”

    Ông ta nói và cười khẩy. Mấy giây im lặng nặng nề trôi qua.

    Tôi nói:

    “Xin lỗi đã làm phiền”

    “Không có gì!”

    Cô ta đổi giọng:

    “Anh kéo tóc tôi suýt đứt như thế này mà nói không có gì.”

    “Tôi nói với khách, không phải nói chuỵện lúc nảy. Cô định lấy dao đâm tôi mà”.

    “Tôi chỉ doạ thôi.”

    “Tại xứ Mỹ này cô không thể doạ như thế được. Tù rục xương, bị tống về Việt Nam. Sao tôi nói gì cô cũng không nghe vậy?”

    Ông ta đứng dậy đi tới đi lui một lát rồi nói:

    “Cùng là người đồng hương cả. Thôi, hãy kể thật câu chuyện. Đây cũng là một kinh nghiệm.”

    “Ông im đi! Đừng có láo khoét.”

    “Được! Cô an tâm, tôi chỉ tóm tắt câu chuyện thôi, nhưng mọi người cũng đủ hiểu. Tôi goá vợ nên về Việt Nam tìm một người vợ và gặp một cô 35 tuổi tên Quyên Trang. Cô ta nói rất thích một người chồng lớn tuổi, vì tâm trí cô luôn luôn in hình ảnh của người cha đã khuất mà cô rất kính trọng và thương yêu. Khi gặp Trang tôi thích ngay nhưng rất ngại ngùng về tuổi tác chênh lệch. Tôi đã kể thật cho Trang nghe hết về đời sống Mỹ, nhất là về hoàn cảnh của tôi, loại người tương đối nghèo, làm chủ một căn nhà nhỏ, không có gia sản, chỉ sống nhờ vào tiền hưu khiêm nhường. Tôi nói với Trang khi về Việt Nam thì tôi trông cũng... oai thật đấy, Việt Kiều mà, nhưng ở Mỹ tôi chẳng là cái gì cả. Tôi nói Trang hãy cố hiểu những điều tôi diễn đạt để không vỡ mộng. Tôi cho Trang một tuần lễ để suy nghĩ. Sau một tuần cô ta trả lời đã hiểu tất cả và thề thốt đủ điều. Thế là tôi bảo lãnh Trang qua đây. Nhưng chỉ có mới non một tuần lễ, cô ta đã làm những cái không giống ai. Tôi không ngờ cô ta hấp tấp rời bỏ tôi như vậy, trong khi giấy tờ chưa xong. Cô ta ngờ nghệch quá, lại nghe lời những người muốn lợi dụng cô ta hoặc rất dốt về luật di trú.”

    “Ông im đi!”

    Nghe Trang nói, ông ta lại cười khẩy rồi tiếp tục:

    “Cứ y như là ngựa. Chạy lung tung hết chỗ này đến chỗ nọ. Gặp ai cũng cười cuời nói nói, hỏi thăm có biết anh này, có biết anh kia không, lại cho luôn cả địa chỉ và số điện thoại nơi mình ở, chẳng ra thể thống gì cả. Tôi bực quá mới đóng cửa nhốt cả tôi và cô ta nguyên ba ngày, lại doạ đủ điều, hy vọng cô ta chừa bớt tánh. . . cà chớn. Thế mà mới đây cô ta cũng gặp được anh chàng tên John xưng là kỹ sư, làm tại Sáng Electronics. Tôi đến đó hỏi, chẳng có tên John nào cả. Chiều hôm qua cô ta... nổi chứng ra đường đứng dựa vào cột đèn nhìn mọi người đi qua cười toe toét, cứ y như là...”

    “Ông im đi!”

    “Trưa hôm nay lại đi biệt. Tôi tức quá mắng cho một trận. Nếu một người không có tánh như cô ta thì tôi cần gì phải đối xử như vậy và cũng không phải nói xấu. . . vợ như thế này. Tôi chỉ sợ người ta cười.”

    Tôi đứng dậy nói:

    “Chuyện nhà của ông bà. Chúng tôi không dám có ý kiến. Xin cáo từ. Chúc mừng năm mới.”

    “Bye, nhưng năm mới chẳng có gì đáng mừng cả.”

    Ông ta nói rồi cười, một cái cười như mếu, vô cùng đau khổ.

    Trên đường đi đến chỗ xe đậu tôi ngẫm nghĩ:

    “Không biết ông ta nói có trung thực không? Nhưng dầu sao, giống cô ta mà thọ thêm 20 năm nữa mình cũng không muốn.”

    Tôi về nhà quên bẵng câu chuyện kể trên cho đến một hôm tình cờ nghe được những lời thì thầm của cánh đàn ông trong bữa tiệc do tôi tổ chức mừng khánh thành một cơ sở kinh doanh.

    “Chắc anh có nghe chị kể về cô Quyên Trang.” Ông xã tôi nói nhỏ với ông anh tôi “Con nhỏ đẹp tuyệt! Nó đang làm chiêu đãi viên trong cà phê Quá Khứ.”

    “Cà phê Quá Khứ ở đâu?”

    “Cà phê Quá Khứ mà không biết ở đâu.”

    “Làm sao tôi biết được.”

    “Thì chỗ có mấy cô tuyệt đẹp, “thiếu thốn” áo quần làm chiêu đãi viên đó”.

    “À, biết rồi. Nhưng làm ở đó thì có sao đâu.”

    “Đâu chỉ có làm nơi đó. Nó còn làm một chỗ rất độc. Anh muốn không?”

    Đáng lẽ tôi gọi ông xã tôi vào phòng “dần” cho một trận bằng. . . mồm, nhưng rồi tôi nghĩ:

    “Nó đâu có đáng để mình bận tâm.”

  8. #8
    Chuyện tình đôi đũa lệch...
    Hoàng Thanh

    Hơn hai mươi năm gặp lại, Hòa vẫn trẻ và dịu dàng như xưa. Ngồi quanh chiếc bàn một buổi sáng, nhâm nhi ly cà phê trong một quán nhỏ ở Seattle, tôi hỏi Hòa về công việc đang làm. Hòa đáp cô đang làm kỹ sư cho hãng máy bay Boeing. Tôi chợt quay sang hỏi anh Thu - ông xã Hòa - người đàn ông trung niên trông rất chân chất, hiền lành: “Anh Thu chắc làm chung hãng với Hòa hở?”. Hòa nói ngay, giọng vui và đầy hãnh diện: “Không, ảnh là thợ hàn. Nếu không có ảnh thì Hòa không có được như ngày nay đâu…”. Còn anh Thu thì chỉ cười hiền lành, nhìn vợ đầy trìu mến...

    Ngày ấy…

    Hòa xin đi du học ở Canada, nhưng vì ở đó một mình cu ki nên mẹ Hòa, ở Việt Nam, rất muốn Hòa tìm cách qua Mỹ sống, vì dù sao gia đình Hòa cũng có người quen ở Mỹ. Mẹ Hòa có một cô bạn đang ở Mỹ có một người con trai làm chung với anh Thu, thấy anh Thu đi làm mà ngày nào cũng như ngày nấy đều mang theo bữa trưa là vài hộp cơm “food to go”, anh lại còn độc thân vui tính, thấy anh đàng hoàng, dễ thương, nên muốn giới thiệu với Hòa. Khi đó anh Thu có gọi điện thoại cho Hòa vài lần, nhưng Hòa không thích. Hòa nghĩ thời đại này mà còn giới thiệu thấy giống cải lương quá, nên chỉ nói chuyện qua loa trong điện thoại. Mẹ Hòa thì cứ thúc giục hoài, nên Hòa đành phải xin qua Mỹ với chương trình du lịch.

    Với chương trình này, khi qua Mỹ mà muốn ở lại thì Hòa phải kết hôn, nên anh Thu đồng ý làm giấy tờ cho Hòa ở lại. Thật tình, khi đó anh Thu tốt và muốn giúp Hòa thôi, chứ không hề có vấn đề tiền bạc gì cả, và Hòa cũng đã nói rõ là Hòa chưa có ý muốn lập gia đình, vì không muốn vướng bận gì vào lúc đó. Thời gian đầu thì có yêu đương gì đâu, mọi thứ đều rõ ràng, giúp thì mình mang ơn, chứ duyên vợ chồng thì không bao giờ nghĩ tới. Nhưng một khi ở Mỹ rồi, thì cứ nghĩ đến việc đi học lại sao mà ngao ngán. Vì chỉ muốn đi làm kiếm tiền, nên Hòa định đi làm nail, vì lúc đó làm nail rất là có tiền, nhưng anh Thu không chịu. Anh khuyên: “Anh đã ngu dốt, không có điều kiện đi học, trong khi em có điều kiện, có khả năng, mà lại không đi học, uổng lắm”. Vậy là Hòa quyết định đi học lại. Thời gian đó buổi sáng Hòa đi học college, rồi trưa đến nhà một người quen để may quần áo kiếm thêm, chiều Hòa đi làm ở nhà hàng Thái để có đủ tiền đóng học phí. Hòa học 2 năm rưỡi thì lấy bằng college.

    Học xong college thì phải nói là Hòa... đuối. Vừa học, vừa làm 2 việc, người Hòa cứ tóp dần như... “con mắm”. Anh Thu thấy vậy nên thương, anh bảo thôi dọn vào ở chung với anh, đỡ tiền nhà hằng tháng thì cũng nhẹ gánh phần nào cho Hòa. Vì quá mỏi mệt, Hòa bằng lòng, nhưng thiệt tình, anh Thu rất tốt và không có ý lợi dụng hay sàm sỡ gì cả. Hai đứa ở với nhau một thời gian, và chính vì tình thương yêu, quan tâm chăm sóc tận tình của anh, đã khiến Hòa nhiều đêm suy nghĩ. Liệu rằng mai này mình có tìm được một người đàn ông nào yêu mình chân thật và lo lắng cho mình được như anh ấy? Và đó là lý do mà bé Andy ra đời...

    Anh Thu kể với tôi: “Anh là con trai trưởng trong nhà, nên khi đến tuổi phải đi nghĩa vụ quân sự, thì má anh sợ quá nên bắt anh đi vượt biên - lúc đó chỉ mới 21 tuổi. Anh cùng với một đứa em trai đi vượt biên và được tàu Pháp vớt. Anh sống ở Pháp được 10 tháng, sau đó được một người chị ở Mỹ bảo lãnh qua Mỹ. Chỉ một tuần sau khi đặt chân lên đất Mỹ là anh đi học nghề thợ hàn rồi đi làm ngay, nuôi em ăn học, và tính tới nay, anh đã làm nghề hàn được 30 năm rồi. Anh làm thợ hàn cho một hãng ở gần biển, sửa tàu của những tàu đi Alaska về...”.

    Hòa tiếp lời: “Sau khi lấy nhau, ông xã Hòa vẫn đi làm. Tuy anh là một thợ hàn có tay nghề lâu năm, nhưng công việc rất là nặng nhọc. Mùa đông ở Seattle rất lạnh, phải làm ở hãng đóng tàu gần biển, nên Hòa thấy tội ảnh quá, ráng đi tìm việc cho ông xã ở trong một cửa hàng nào đó cho đỡ lạnh. Ông xã Hòa nói là ảnh không dám đi xin ở đâu cả, vì tiếng Anh thì không biết, mà điền đơn thì lấy ai mà giúp, nên cứ một hãng mà làm, nếu bị mất việc thì ở nhà chờ hãng kêu lại. Sau cùng Hòa điền đơn giúp cho ông xã xin làm cho một hãng khác, vấn đề thử test tay nghề thì không lo, vì anh có nhiều kinh nghiệm mà khéo tay nữa, nên được nhận vô làm từ đó đến nay. Công việc của ông xã cực lắm, nghe ảnh kể nhiều lúc thấy thương. Lương cũng đâu được bao nhiêu. Hai vợ chồng ráng mà đùm bọc nhau qua ngày, nhưng phải nói đó là những tháng ngày nhiều kỷ niệm nhất. Anh Thu lo hầu hết mọi việc trong nhà, tạo điều kiện cho Hòa có thời gian học bài. Anh an ủi, khuyến khích mỗi khi Hòa nản chí.

    Sinh Andy được khoảng một tháng, thì Hòa đi học lại. Lúc đầu Hòa dự định học lại ngành Dược (vì lúc rời Việt Nam, Hòa đã là dược sĩ), nhưng học lại Dược mất rất nhiều thời gian, nên Hòa quyết định học kỹ sư, vì thời gian học ngắn hơn. Nhưng lúc đó thì cũng phải nỗ lực học dữ lắm, vì muốn vô được ngành kỹ sư điện (Electrical Engineering) của trường đại học University of Washington thì điểm trung bình GPA phải từ 3,50; nếu không đủ diểm thì phải học trường tư Seattle University, với tiền học phí rất cao; còn nếu không nữa thì phải đi xa, mà Hòa thì có gia đình có con nhỏ nữa, nên không còn có cách nào chọn lựa là phải học để lấy điểm trên 3,50 để được vô ngành EE. Hòa may mắn được nhận vô học liền, nên không mất nhiều thời gian. Thời gian đầu học đại học, thì trong tuần Hòa đi bỏ báo, đến thứ Bảy thì đi bán hàng lẻ trong các cửa hàng kiếm tiền phụ với ông xã, vì một mình anh Thu gánh không nổi, vừa tiền nhà, tiền ăn, tiền đóng học phí, nên tụi Hòa rất là vất vả. Được vài tháng Hòa không kham nổi vì bài vở quá nhiều, Hòa đành phải bỏ bớt nghề giao báo, rồi thì bỏ luôn ngày thứ Bảy chạy hàng.

    Lúc đó Hòa xin làm Tutor dạy toán cho trường University of Washington, nên cũng kiếm được chút đỉnh tiền phụ với ông xã, cộng thêm tiền mượn nợ sinh viên của chính phủ, nên cuộc sống của đôi vợ chồng cũng đỡ vất vả hơn. Đây là thời gian khó khăn nhất của tụi Hòa. Sáng 6 giờ là Hòa mang con đi gởi cho người ta, rồi lái xe đến parking đậu đó, đón bus đi học; chiều 3 giờ ông xã Hòa đi làm về đón con, rồi ông xã Hòa phải lo cho con, thay tã, cho ăn, tắm rửa. Nhiều khi Hòa có phải làm dự án hoàn tất đến 4 giờ sáng mới về, không thấy mặt chồng con. Lắm lúc cực quá Hòa khóc muốn buông xuôi, thì anh Thu lại lau nước mắt, vỗ về rồi lại khuyến khích.

    Học gần 3 năm thì Hòa tốt nghiệp ra trường. Ngày tốt nghiệp người ta có gia đình cha mẹ anh em đông đủ đến để chúc mừng, còn Hòa thì chỉ có hai vợ chồng với đứa con trai nhỏ. Lễ tốt nghiệp tổ chức trong sân banh của trường đại học, tất cả sinh viên tốt nghiệp đông lắm, khoảng mấy trăm người. Lúc đó thân nhân phải ngồi ở phía ghế của khán giả không được vào trong sân. Andy lúc đó gần 3 tuổi nhưng rất là lanh, nó nói với cảnh sát là ‘Mẹ của Andy ở trong đó, mẹ tốt nghiệp đại học phải để cho Ba vào bên trong, vì Ba là người thương và lo cho Mẹ nhất’. Khi Hòa hãnh diện khoe với ông xã tấm bằng kỹ sư vừa mới nhận, có lẽ anh không hiểu hết những chữ tiếng Anh viết trên đó, nhưng Hòa thấy mắt anh ướt. Anh ôm chầm lấy Hòa để chia vui, bởi vì chính anh là người duy nhất đã luôn luôn ‘sẻ buồn’ với Hòa ròng rã trong những tháng ngày qua. Có lẽ ngày ra trường là ngày mà ông xã Hòa mừng nhất, anh còn mừng hơn cả Hòa nữa.

    Nhưng xui xẻo vào lúc đó thì sự kiện 911 do tụi khủng bố gây ra, nên khi ra trường, kinh tế trên đà xuống dốc, nên Hòa không sao tìm được việc làm. Hòa nộp đơn khắp nơi, hễ chỗ nào kêu là làm, dù chẳng đúng ngành nghề mình học. Nhiều khi chỉ làm một tuần cho hãng may, Hòa cũng không ngại, rồi Hòa làm cả nghề ‘mailman’ lái xe đi bỏ thư nữa chứ, cũng vui lắm”.

    Hòa khôi hài bảo tôi, “Ông bà mình hay nói ‘Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh’. Còn Hòa thì có lẽ ‘Vạn nghệ không tinh, nên vạn lần cực nhọc’…”.

    Làm được đâu chừng khoảng 10 tháng, thì Hòa được hãng máy bay Boeing gọi phỏng vấn. Hòa nói với anh Thu: “Thôi kệ đi cho vui chứ chắc gì được”. Khoảng 3 ngày sau, lúc đang đi giao thơ thì anh Thu gọi nói là “Boeing gởi một cái gói cho em”; nhưng vì không biết tiếng Anh, nên khi mở ra thì anh Thu nói: “Anh chỉ biết là trong đó có viết số tiền, chắc là tiền lương của em một năm đó”. Hòa mừng như bắt được vàng, chạy ngay về nhà, lật đật đọc lá thư trong lo âu và hồi hộp. Hòa nửa tin nửa ngờ quay sang ông xã nói, “Em được nhận làm rồi anh ơi”. Rồi hai vợ chồng lại ôm nhau mà khóc.

    Hòa tâm sự: “Được việc làm thì mừng nhưng lo thì không ít, không biết vô trong đó mình có làm được không? Công việc có dễ không? Tiếng Anh của mình có đủ để ứng phó hay không? Hòa lo đến nỗi không ngủ được. Thì cũng lại ông xã an ủi, ‘Không sao, em ngủ đi, đừng lo quá, khi xưa không có việc này thì vợ chồng mình cũng sống mà, em mà lo quá lỡ ngã bệnh thì anh và con sống với ai?’. Nghe mà lại thương ảnh thêm...”.

    Sáu tháng đầu làm cho Boeing, mỗi lần nghe phone reng là trái tim Hòa thắt lại, chỉ sợ mình làm sai cái gì đó, rồi sẽ bị đuổi việc; nhưng cũng may là những người làm chung với Hòa rất tốt, chỉ cho Hòa từng việc một, nên Hòa quen dần với công việc. Hiện tại Hòa làm ở bộ phận Wire Installation Design của công ty Boeing, chịu trách nhiệm thiết kế các mẫu máy bay 747-8. Hòa cho biết: “Công việc thì vui vì đúng ngành mình học, đôi khi rất là căng thẳng, nhưng giờ cũng quen rồi, không đến nỗi như lúc ban đầu...”.

    Bây giờ…

    Với công việc mới và đồng lương kỹ sư, cuộc sống gia đình Hòa đỡ hơn trước rất nhiều, có nhiều thời gian ở với nhau hơn. Hòa nói: “Ông xã Hòa qua Mỹ lâu nhưng không được đi đâu cả, nên Hòa tự hứa sẽ cho gia đình mỗi năm đi một chỗ cho biết; nên sau khi ra trường, năm nào gia đình Hòa cũng để 2 tuần ra đi du lịch, Hawaii, Alaska, California, Disneyland, Hollywood, Houston…”.

    Hòa tâm sự: “Có lẽ ai ai cũng đều đồng ý là trong cuộc sống vợ chồng, thường thì không nên có sự chênh lệch quá nhiều về học thức. Người đàn ông có bằng cấp cao, hiểu biết hơn người đàn bà thì đã là khó hòa hợp rồi, đằng này gia đình Hòa thì ngược lại. Thời gian đầu, tụi Hòa cũng cãi nhau hoài, vì Hòa nói gì anh đều không hiểu được ý của Hòa muốn nói, nên cứ cãi nhau suốt ngày. Dần dần Hòa nhận ra rằng, khi nói chuyện với ông xã thì phải nói thật là giản dị thì ông xã mới hiểu; có lẽ từ đó mỗi lần muốn nói gì, Hòa phải cố gắng dùng các từ ngữ đơn giản, mộc mạc nhất, tìm cách nào để hai vợ chồng không hiểu lầm nhau. Cũng chính nhờ vậy, mà Hòa ngày một tiến bộ hơn trong việc giao tiếp với người ngoài, với đồng nghiệp và nhân viên. Trong sở làm, mọi người đều khen là Hòa dễ gần, nói chuyện chân thật, không màu mè, nhất là nhân viên thuộc cấp thì mến và thương Hòa lắm. Ai cũng khen là Hòa có ‘nghệ thuật ăn nói’, biết nói sao cho người đối diện hiểu mình và thông cảm cho mình, tất cả nghệ thuật này có được ngày hôm nay đều là nhờ ông xã”.

    Hồi nhớ lại khi xưa, Hòa tiếp, “Lúc đầu Hòa cũng rất là mặc cảm, vì có một người chồng không có ăn học; nên Hòa rất ít khi muốn đưa ông xã đi đâu. Một số người khi biết về nghề thợ hàn của anh Thu thì họ coi thường ảnh, đối xử không tốt với ông xã Hòa; nên từ đó bọn Hòa ít đi đâu và không muốn giao thiệp rộng với nhiều người nữa. Nhưng cũng có nhiều bè bạn có tấm lòng, như anh Chánh, chị Lài, anh Điệp, chị Trâm... thường đến nhà Hòa chơi. Họ không coi thường ông xã Hòa, mọi người đối xử với ông xã Hòa rất tốt, Hòa không cảm thấy mặc cảm khi có một người chồng không có ăn học cao. Ở ông xã, Hòa tìm thấy một tình yêu thương hết lòng, một người chồng tốt, một người cha tốt. Học cao làm gì mà đối xử không tốt với nhau, lòng người ngày càng cách xa vì địa vị, tiền tài, và học vấn. Hòa không mặc cảm mà lại thấy tự hào Hòa có được ngày hôm nay, tất cả là nhờ vào tình yêu thương, lòng hy sinh của ông xã. Chính tình yêu thương của ông xã là động lực và sự hỗ trợ đã giúp Hòa vượt qua thời gian khó khăn vừa qua”.

    Tôi hỏi: “Có khi nào Hòa cảm thấy hối tiếc về cuộc hôn nhân này?”

    Hòa mỉm cười: “Hoàn toàn ngược lại, Hòa cảm thấy mãn nguyện về cuộc hôn nhân này, vì Hòa đã may mắn có được một người chồng yêu thương Hòa hết mực, hy sinh để cho Hòa có được ngày hôm nay. Cuộc sống vốn không có gì là toàn hảo, nhưng điều quan trọng là mình biết thế nào là đủ và đừng kỳ vọng quá cao”.

    “Hòa có lời khuyên nào cho các bạn đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân và trong việc lựa chọn người bạn đời?”

    “Học vấn không phải là vấn đề không quan trọng trong cuộc sống vợ chồng, nhưng điều quan trọng nhất đối với Hòa, đó là tình yêu thương lẫn nhau; vì nếu không thật sự yêu thương, thì không thể vượt qua được những chướng ngại của cuộc sống. Hãy chọn người thật sự yêu thương mình - không vì tiền tài, vật chất, địa vị, hay học vấn - vì có tình yêu thương chân thật, thì đó sẽ là người luôn luôn lo lắng, an ủi, khuyến khích mình trong mọi trắc trở của đường đời. Cuộc sống vốn thăng trầm, đời người thì lắm lúc ‘lên voi, xuống chó’. Ai là người đến với mình lúc mình đang ở tận cùng của hố thẳm cuộc đời, nói đúng hơn là khi mình đang ‘xuống chó’, thì mới thật sự là người thương mình nhất. Phải biết cám ơn người ấy và mai này khi ‘lên voi’, thì cũng đừng nhẫn tâm mà ‘vắt chanh bỏ vỏ’”.

    “Giờ nhìn lại, Hòa nhận thấy điều gì đã giúp Hòa thành công với mảnh bằng kỹ sư làm việc cho một công ty lớn như vậy?”

    “Động lực giúp Hòa thành công ngày hôm nay, đó là nhờ vào tình yêu thương của ông xã. Không có tình thương là không có tất cả. Với Hòa yêu thương và được thương yêu là niềm hạnh phúc lớn nhất trên đời. Ngày xưa người ta thường nói, ‘Đằng sau một người đàn ông thành công, luôn luôn có bóng dáng một người đàn bà’; nhưng với Hòa thì, bên cạnh sự thành công của người đàn bà, luôn luôn cần phải có một người đàn ông biết yêu thương, chia sẻ, thông cảm và hy sinh”.

    Hòa chỉ ước muốn tâm sự cùng tất cả các bạn: “Cuộc sống vốn có rất nhiều thăng trầm, mình nên biết chấp nhận với những gì mình đang có, vì hạnh phúc ở ngay bên cạnh mình, không cần phải đi tìm kiếm đâu xa. Nếu mình cảm thấy như thế là hạnh phúc, là mãn nguyện, thì tự khắc nó sẽ có…”.

    Anh Thu nãy giờ ngồi im lặng lắng nghe, bỗng nhiên anh khoe với tôi: “Bà xã anh hát hay lắm đó. Hòa làm thơ và hát cho thiền đường Seattle đó em...”. Thế là Hòa cười thật tươi và hát nho nhỏ cho tôi nghe:

    Hạnh phúc ở quanh đây đâu là chuyện bất ngờ
    Cũng như ai khôn lớn chưa từng yêu tiếng ru
    Cũng như em ca hát cho đời xanh mơ ước
    Cũng như em ca hát cho đời còn ước mơ …

    Rồi Hòa lại nói: “Ông xã đã tập cho Hoà từng nốt nhạc để đi vào đời, bằng lời nói chân thật, tấm lòng nhân ái, để từ đó Hòa biết nói thế nào cho mọi người vui, làm thế nào cho người ta cảm thông được cho mình. Một người có học vấn cao chưa chắc đã làm được điều đó, có phải không?

    Giờ phút này Hòa vô cùng bằng lòng với hiện tại, có chồng yêu thương, có con trai ngoan ngoãn nghe lời. Hòa rất là vui, vì con Hòa là một đứa bé có hiểu biết, đôi khi Hòa sơ ý nói điều gì về ông xã, là Andy bênh ba nó ngay: ‘Ba không biết nói giống Mẹ, nhưng con hiểu ‘cái bụng’của Ba’. Andy rất là thương Ba, nó cứ nói hoài: ‘Ba làm cực khổ hơn mẹ, vì ba làm bằng ‘body’ (vì nó không biết diễn tả thế nào là lao động chân tay); còn Mẹ làm bằng cái đầu...’. Thương lắm mỗi lúc Andy nói là ‘Ba làm cực hơn Mẹ vì Andy thấy tay Ba hay bị chảy máu’…”.

    “Nếu chỉ nói một vài lời về người chồng của mình, thì Hòa sẽ nói gì?”

    “Nói về anh? Thì Hòa sẽ phải nói về Hòa trước đã. Vì nhờ có anh, mới có được cô kỹ sư Hòa ngồi đây hôm nay. Hòa là người hạnh phúc, và may mắn. Ước mong lớn nhất của Hòa bây giờ là mọi người hãy sống trong tình yêu thương, chỉ có tình yêu thương chân thật mới có đủ sức mạnh để cảm hóa trái tim, như anh Thu đã làm được với trái tim Hòa vậy...”.

    Quay sang anh Thu, tôi hỏi:

    “Còn anh, nếu chỉ có vài lời về bà xã, thì anh sẽ nói gì?”

    “Anh cảm thấy hãnh diện, hạnh phúc hơn mọi người. Anh không mặc cảm, cũng không tự ái. Mỗi khi có ai khen vợ mình thì anh thấy đó là một niềm tự hào. Những lúc bà xã đọc thơ, văn trước bạn bè, anh rất là xúc động đến ứa nước mắt. Anh thấy anh là người hạnh phúc, may mắn nhất trên đời này, vì có được một người vợ tài ba...”.

    Câu chuyện của người bạn cũ gợi nhớ cho tôi về đôi đũa. Không phải ngẫu nhiên mà đôi đũa thường được dân gian ví với hình ảnh đôi vợ chồng. Hai chiếc đũa luôn luôn đi liền với nhau, thật nhịp nhàng, thì mới hoàn thành được động tác gắp thức ăn, cũng như hai vợ chồng khi đồng tâm cộng lực, thì có thể cùng nhau tát cạn cả biển Đông. Người con gái khi bị mẹ ép gả vào nơi không tương xứng, đã thốt lên lời than cay đắng:

    “Bây giờ chồng thấp vợ cao
    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng”.

    Mỗi người chúng ta là một chiếc đũa, và chiếc đũa nào cũng luôn luôn mong tìm gặp chiếc kia của mình để thành đôi. Cách lựa chọn là của mỗi người với các tiêu chuẩn mà mình cho là đúng. Nhưng các đôi đũa bền theo năm tháng, thì dễ có được mấy đôi như cặp đũa Thu Hòa?

    Đôi đũa vô tri: tre, gỗ khô cằn
    Nhưng khắng khít bên nhau không ganh tị
    Hai chiếc đũa cùng nhau chung một ý
    Bữa ăn nào cũng phải có mặt cả đôi.
    Cùng với nhau , theo ta trọn cuộc đời
    Dẫu bằng gỗ, tre, ngà... hay bằng nhựa
    Nhưng vẫn bên nhau cùng giữ gìn lời hứa
    Gắn bó cả đời suốt bữa tiệc cùng mâm.
    Hai chiếc đũa bên nhau có vẻ âm thầm
    Sẽ ngừng gắp khi mất đi một chiếc
    Chỉ còn một là mất đi bữa tiệc
    "Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia".

    Tôi đã từng đi dự biết bao tiệc cưới trong đời, những bữa tiệc linh đình chúc mừng các “đôi đũa ngà” xứng đôi vừa lứa, và để rồi sau đó phải nghe tin buồn rằng cặp đũa đã rã đôi.

    Hôm nay, lần đầu được nghe về câu chuyện tình một đôi đũa lệch, tôi rất xúc động. Mừng cho Hòa, cho hạnh phúc của hai bạn, và tôi rất mong cuộc đời này sẽ có thật nhiều những đôi đũa mãi mãi bên nhau cho đến cuối mâm tiệc của cuộc đời...

 

 

Similar Threads

  1. CHUYỆN TÌNH BUỒN - Truyện ngắn
    By MưaPhốNúi_ in forum Truyện
    Replies: 0
    Last Post: 04-22-2015, 10:54 AM
  2. Truyện ngắn Mặc Bích
    By Frank in forum Truyện
    Replies: 10
    Last Post: 05-31-2014, 12:08 PM
  3. Replies: 0
    Last Post: 08-10-2013, 01:44 PM
  4. Truyện ngắn của Mưa PN
    By Mưa PN in forum Truyện
    Replies: 16
    Last Post: 11-02-2012, 09:30 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 06:36 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh