Register
Page 7 of 7 FirstFirst ... 567
Results 61 to 70 of 70

Thread: Coi chùa

  1. #61
    Nhà Ngói
    Join Date
    Jan 2015
    Posts
    140
    Chùa ta, chùa Nhật

    Qua những tiết lộ về chùa Ba Vàng, người ta thấy khuôn mặt ghẻ lở của Phật Giáo quốc doanh. Từ đó, nhiều người có cái nhìn tiêu cực về Phật Giáo. Đúng ra, đó không phải là Phật Giáo, cũng không phải là Phật giáo VN. Đó là Phật giáo quốc doanh, chỉ có ở những nước Cộng Sản . Không phải ở đâu người ta cũng ‘’hành đạo’’ một cách côn đồ, đểu cáng kiểu Thích Thanh Quyết, Thích Trúc Thái Minh.


    SÂN CHÙA

    Hãy thử viếng một ngôi chùa Nhật Bản. Chùa cực kỳ thanh tịnh, khách rơi vào một thế giới bình yên, tự nhiên quên phiền muộn, oán thù.
    Chùa cực kỳ đơn giản, bởi vì Phật Giáo, trước hết là thoát khỏi sân si, cám dỗ, từ bỏ những hệ lụy vật chất.




    Điển hình là sân nhà chùa, nhiều khi chỉ trần trụi sỏi, đá vụn ; để cái nhìn, tâm hồn của người tu hành, hay Phật tử viếng thăm, không bị chi phối bởi ngoại vật, dù một bức tượng, một cành hoa. Chỉ có mình với đá, với Phật. Với mình

    Mỗi ngày, một người có tâm Phật tới cào sân đá. Đó là cả một nghệ thuật, phải học suốt đời. Cái gì ở xứ Phù Tang cũng là nghệ thuật. Mỗi cử chỉ nhỏ là một biểu tượng. Một nhà sư có thể giải thích cho bạn tại sao người ta trồng cây này, không trồng cây khác, tại sao trồng ở nơi này, không ở chỗ khác; cây cầu không phải chỉ để qua suối, những con cá muôn mầu không phải chỉ là vật trang trí.
    Những luống đá, sỏi trên sân chùa là một trạng thái của tâm hồn.
    Cào sân là một cách thiền.
    Một hoà thượng trụ trì một hôm nhìn sân đá vừa cào, hỏi người cào sân :
    đệ tử có gì bất an trong lòng ?
    Người cào sân ứa nước mắt, thú thực có chuyện buồn trong gia đình, khiến cho tâm động,
    để cái bất ổn trong tâm trí hiện trên đường chổi, trên những luống đá sỏi




    Người tu hành không có người hầu hạ, phải thức dậy từ 3, 4 giờ sáng để lau chùi, quét dọn và kinh kệ.
    Tham dự vào đời sống hàng ngày cũng thuộc hoạt động của người tu hành.
    Tu hành là đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, không phải từ bỏ đời sống.
    Trước khi đọc kinh phải học tập để hiểu ý nghĩa, không phải chỉ ê a cho có.
    Đọc kinh mỗi ngày khi hiểu kinh để những lời kinh thấm vào đầu óc, thể hiện trong cách xử thế, không phải để cho Phật vui lòng.
    Cũng không phải cầu xin gì, ngoài việc nhờ Phật giúp mình tìm cái thanh tịnh cho tâm hồn.


    Bữa ăn cực kỳ thanh đạm, không có cảnh các bà, các cô chạy lên, chạy xuống, rót rượu, quạt mát cho các thầy quốc doanh ngồi phưỡn bụng nhậu nhẹt, đưa cay với bia, với Martell đắt tiền , đùa dỡn như vỡ chợ.

    Bữa ăn yên tĩnh, nghe tiếng ruồi bay, bởi vì khi ăn phải suy ngẫm về ý nghĩa của sự dinh dưỡng, về thiên nhiên, về môi trường đã cho cây quả, cơm gạo.
    Bởi vì Phật tử phải biết sống giây phút hiện tại.
    Chẻ một sợi rau, rửa chén bát phải đặt hết tâm vào chuyện rửa chén, chẻ rau.
    Tìm cái vui, cái hạnh phúc trong mỗi cử chỉ nhỏ hàng ngày.
    Trong nhiều chùa, nhà tu khi ăn để bên cạnh 9 hạt cơm.
    Một chú tiểu đi thu những hạt cơm đó, đem ra vườn cho chim chóc.
    Bởi vì khi ăn, khi hưởng thụ, phải nghĩ tới chúng sinh. Người tu hành không sống một mình, không sống cho mình.




    PHẬT TẠI TÂM

    Chùa chiền Nhật Bản, đôi khi cao 3 hay 5 tầng, bao giờ cũng hoà hợp với thiên nhiên, với cảnh vật chung quanh. Mỗi ngọn cây, mỗi khóm trúc, mỗi dòng suối đều có ý nghĩa, là biểu tượng cho một triết lý sống.

    Người ta không vạt cả một ngọn núi, san bằng ngọn đồi để làm những ngôi chùa to tổ bố, bê tông cốt sắt, trang trí xanh, đỏ, tím vàng, để vênh váo khoe khoang đã xây một ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á ( nhưng lờ đi không nói bạc tỷ lấy đâu xây chùa ? )

    Riêng chuyện tàn phá thiên nhiên, kho tàng của đất nước, đã là một cái tội nặng ngàn cân. Chưa nói tới chính sách ngu dân thô bạo. Bên cạnh những bài dạy về tư tưởng bác Hồ, những lời dạy kỳ quái về y khoa (ung thư là do các oan hồn nhập vào thân, chiếm các tế bào, bệnh tâm thần vì đã vô lễ với… quan, bị các vong hồn trả thù ; muốn hết ung thư, hết bệnh phải đóng tiền cho ‘’vong‘’, ít nhất 9 triệu 7 !)

    Người Nhật biết kính trọng môi trường trước khi từ ngữ đó ra đời.
    Ở VN cũng vậy, chùa chiền ngày xưa có bao giờ kệch cỡm, thô tục như ngày nay ?

    Phật không trọng hình thức. Phật không đòi chùa bạc tỷ. Phật tại tâm.

    Chuyện xưa : một chú sãi theo một vị chân tu học đạo. Mặc dù siêng năng, thuộc lòng kinh kệ, suốt ngày rung chuông gõ mõ, vẫn bị thầy chê là chưa hiểu giáo lý nhà Phật. Một đêm trời cực kỳ lạnh, thầy trò đốt hết vật dụng trong nhà để sưởi. Hết bàn ghế, giường tủ, thầy sai trò vào chánh điện, tìm những gì có thể đốt được. Trò mang hết chổi cùn, rế rách ra đốt. Lửa tàn, trời lạnh hơn nữa, thầy sai trò đi tìm củi. Chú sãi vào chánh điện, quả thực không còn gì, ngoài tượng Phật bằng gỗ quý. Đành gãi đầu, gãi tai, mang ra, đốt. Thầy khen đệ tử đã bắt đầu hiểu giáo lý nhà Phật.

    NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

    Ngoài khía cạnh mỹ thuật, không xa với nghệ thuật, mỗi ngôi chùa Nhật Bản là một kỳ công kiến trúc. Ngày nay người ta hiểu tại sao một ngôi chùa 5 tầng đứng vững hàng ngàn năm ở một xứ động đất như cơm bữa.

    Chùa Nhật, trừ ngoại lệ, cất 100% bằng gỗ, vật liệu thiết kế mềm nhất, tự uốn mình khi đất rung động. Chùa không có một cây đinh, tất cả đều là gỗ lắp với nhau, khi bị lay động, những then gỗ dựa nhau, cản sức chuyển động.
    Mỗi tầng độc lập với nhau, không gắn liền một khối ; khi gió bão những nơi bị lay động không kéo cả toà nhà đổ theo.
    Những tầng trên nhỏ hơn tầng dưới, khi động đất, toà nhà lắc lư, như một điệu múa của rắn, tạo quân bình.
    Nếu tầng dưới nghiêng về bên phải, tầng trên nghiêng bên trái.
    Tất cả những thành phần di động, uyển chuyển đó dựng chung quanh một cột trụ trung tâm vững chắc, để dù lay chuyển tới đâu, toàn bộ kiến trúc cũng có chỗ dựa, để đứng vững ngàn thu.
    Trong cái kỹ thuật kiến trúc thần tình đó có cả cái triết lý nhu đạo.
    Lấy cái mềm trị cái cứng, lấy cái yếu chống cái mạnh.
    Đó là triết lý sống của cây sậy trước gió bão
    Những nguyên tắc ngàn xưa đó của chùa chiền Nhật Bản ngày nay được học hỏi, nghiên cứu để xây cất một thành phố với những cao ốc đồ sộ nhưng an toàn ở những thành phố bị động đất thường xuyên ở Nhật Bản.





    Mặc dầu vậy, người ta không kiêu ngạo, khoe khoang. Người ta để cái độc quyền vỗ ngực huênh hoang cho những người chưa xây xong cầu đã sập, vừa khánh thành đường đã ngập ổ gà.

    Hy vọng không có người Nhật nào mò tới thăm viếng những động ma quỷ , gọi là chùa, người Cộng Sản dựng lên để làm tiền. Và thâm độc hơn nữa, để thực hiện chính sách ngu dân, đưa dân trở lại thời đại đồ đá với thần núi, thần đá, với vong hồn suốt ngày ra rả vòi tiền.

    Qua ngưỡng cửa một ngôi chùa Nhật, hay một ngôi chùa ở miền Nam trước 75, người ta rũ bụi trần, bước vào thế giới thanh tịnh từ bi.
    Qua cửa BOT của chùa VN ngày nay, người ta bước vào thế giới ma quái của oan hồn, của ‘’vong‘’ ngất nghểu, ra rả đòi tiền như nặc nô đòi nợ.

    Đó không phải là Phật giáo. Đó không phải là Phật Giáo Việt Nam.
    Khổng Tử : danh có chính, ngôn mới thuận.
    Albert Camus : dùng chữ không chỉnh là đem cái hỗn loạn vào cái hỗn loạn đã có.

    Đừng nói Giáo Hội Phật Giáo VN. Hãy gọi nó là Giáo Hội Quốc Doanh.
    Hãy trả chùa chiền cho Phật, cho những người tu hành, cho Phật tử.

    Paris, cuối tháng 3/2019
    TỪ THỨC



    ****************************************


    Tu hành không phải là buông bỏ,
    mà là thấu hiểu lẽ hoán đổi trong đời


    Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:

    Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?
    Sư phụ: Không đúng!
    Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?
    Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?

    Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy đạo Phật luôn nhìn vấn đề tiêu cực.

    Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo? Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”.

    Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.

    Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?
    Sư phụ: Thay thế và hoán đổi!
    Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!

    Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?
    Đệ tử: Không thể được.

    Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?
    Đệ tử: Con nghĩ không được.
    Sư phụ: Tại sao?
    Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.
    Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?
    Đệ tử: Vậy thì được.
    Sư phụ: Tại sao?
    Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.

    Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán đổi.

    Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn.

    Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ.

    Dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham.

    Dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng.

    Dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp.

    Dùng chính niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng.

    Dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ.

    Dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được đau tim.

    Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán đổ
    đổi trong đời



    (sưu tầm)



    Ngôi đền do người Việt xây giúp thay đổi một khu phố ở Mỹ



    ******************************

    Khi bức tượng Phật xuất hiện ở một trong những khu vực phức tạp ở thành phố Oakland, việc buôn bán ma túy và mại dâm biến mất.

    Khu vực gần đại lộ số 11 (11th Avenue) và phố Đông 19 (East 19th) từng là một phần nhộn nhạo ở thành phố Oakland thuộc bang California, Mỹ. Đây là khu vực có các hoạt động bất hợp pháp như xả rác bừa bãi, trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm, bạo lực...

    Bức tượng Phật ban đầu được đặt trực tiếp trên khu đất trống. Ảnh: Odd.
    Những tệ nạn này bắt đầu biến mất khi một người dân có tên là Dan Stevenson mua bức tượng Phật cao 60 cm và đặt nó ở góc phố đối diện nhà mình. Trước đó, đây là nơi mọi người thường vứt rác, đệm cũ... và chất đống như một bãi rác. Do không muốn chỗ mình ở trông nhếch nhác, Dan đã mua bức tượng về để đặt ở nơi này. Tuy nhiên, chính anh cũng không ngờ mọi thứ lại thay đổi một cách nhanh chóng và tích cực đến vậy, theo Odd.

    Đầu tiên, việc xả rác dừng lại và điều này khiến không chỉ Dan mà những người xung quanh cũng rất vui mừng. Những điều kỳ diệu lần lượt diễn ra. Mọi người bắt đầu dọn dẹp những bãi rác, thùng rác đã có sẵn quanh đó. Không còn xuất hiện những hình vẽ bậy trên tường nữa. Các nhóm buôn ma túy và gái mại dâm cũng rời đi.

    Những người Việt nhập cư đã xây một ngôi đền nhỏ vào vị trí đặt tượng ban đầu của Dan Stevenson. Ảnh: Odd.


    Thời gian ngắn sau, những người Mỹ gốc Việt bắt đầu đổ xô tới khu vực đặt bức tượng, mang theo nhiều lễ vật như trái cây, hoa tươi và nhang. Một người hàng xóm có tên là Vina Võ và con trai bà, Cúc Võ đã xin phép Dan được chăm sóc tượng Phật. Người đàn ông này vui vẻ đồng ý.

    Sau đó, hai mẹ con gốc Việt tiến hành xây một ngôi đền nhỏ để bài trí tượng Phật và đặt tên là Pháp Duyên Tự. Họ xây một cái bục nhỏ và đặt tượng lên trên. Cúc Võ giải thích, trong tín ngưỡng của anh, không được phép đặt tượng Phật trực tiếp lên mặt đất. Anh cũng bắt đầu quét dọn và bày biện khu vực xung quanh. Tượng được sơn mới và phủ bên ngoài một chiếc áo choàng màu vàng.

    Mỗi lần thay đổi điều gì đó với khu thờ Phật, gia đình họ Võ lại gửi tặng cho Dan những đĩa trái cây hoặc món ăn ngon khiến anh rất vui.
    Kể từ khi bức tượng xuất hiện đến khi xây xong đền, tỷ lệ tội phạm trong khu phố đã giảm mạnh. Từ năm 2012 đến 2014, các vụ báo cáo vì bị cướp từ 14 xuống còn 3, các vụ tấn công nghiêm trọng từ 5 giảm xuống không còn vụ nào. Các vụ trộm cũng giảm một nửa còn tệ nạn ma túy, mại dâm không còn.

    Dan cho biết, anh cảm thấy điều này rất tuyệt. Mọi người hàng ngày đến đây thắp hương. Có những người không tới thờ cúng mà chỉ dắt chó đi dạo, đi tập thể dục... cũng qua đây và dừng lại tán gẫu, trò chuyện.
    Ngôi đền này nổi tiếng đến mức được báo chí và truyền thông Mỹ đưa tin. Nhiều người cho rằng, đó chính là sự màu nhiệm của Đức Phật mang lại. Với những người không theo đạo, họ cũng cho rằng đây là một sự thay đổi tích cực và thú vị.
    Anh Minh







    Last edited by SP500 SPY; 07-24-2019 at 01:02 PM.

  2. #62
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    21,764
    Quote Originally Posted by SP 5 trăm
    Chùa ta, chùa Nhật

    Qua những tiết lộ về chùa Ba Vàng, người ta thấy khuôn mặt ghẻ lở của Phật Giáo quốc doanh. Từ đó, nhiều người có cái nhìn tiêu cực về Phật Giáo. Đúng ra, đó không phải là Phật Giáo, cũng không phải là Phật giáo VN. Đó là Phật giáo quốc doanh, chỉ có ở những nước Cộng Sản . Không phải ở đâu người ta cũng ‘’hành đạo’’ một cách côn đồ, đểu cáng kiểu Thích Thanh Quyết, Thích Trúc Thái Minh.




    Mấy cái chùa Việt Nam vĩ đại và mắc mỏ mọc lên như nấm
    như chùa ba vàng bốn vàng gì đó người ta đồn là chỗ rửa tiền của
    tụi ma quỷ cán bộ, chánh quyền, đầu trâu mặt ngựa ...v.v.v!


    Last edited by Triển; 07-24-2019 at 03:43 PM.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  3. #63
    Cám ơn bác bổ túc. Bác nào thích tiếng Anh (thiền sư Eido dịch từ Nhật ngữ)
    https://www.thedailyzen.org/2015/05/...suis-one-mind/
    Quote Originally Posted by Triển View Post

    * dịch giả: Vy Khanh

    https://plumvillage.org/galleries/?a...98401263581190
    ĐƯỜNG VỀ MAI THÔN
    Tịnh Thủy

    Nhân chuyến du lịch Âu Châu, chúng tôi đến thăm Làng Mai, một trung tâm Phật Giáo, gần thành phố Bordeaux nước Pháp, do một vị Thượng tọa xuất thân từ chùa Từ Hiếu, Thừa Thiên-Huế, Việt Nam thành lập.

    Nhóm chúng tôi, đến Paris vào buổi sáng ngày đầu tháng năm, từ phi trường Los Angeles. Vì nhằm đúng ngày nghỉ lễ Lao Động Quốc Tế, và vào dịp cao điểm của cuộc vận động bầu cử Tổng thống Pháp, nên Paris có nhiều biến động chính trị, nhiều hội họp và biểu tình, do đó tình trạng kẹt xe nhiều hơn những ngày thường. Trời Paris đầu tháng năm vẫn còn hơi lạnh với những cơn mưa chợt đến và chợt đi.

    Sau một ngày và một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi, với sự giúp đỡ của một người bạn tại Paris, thuê chiếc xe Opel với giá khoảng 1.000 USD một tháng, lái thẳng xuống miền Nam nước Pháp, trực chỉ thành phố Bordeaux, cho kịp dự những ngày cuối của lễ hội mừng Làng Mai hai mươi tuổi.

    Được biết, nhân dịp kỷ niệm đạo tràng Mai Thôn đầy hai mươi tuổi, Làng Mai tổ chức một khóa tu đặc biệt dành cho người Việt khắp Âu Châu về tham dự, bắt đầu từ 7 giờ sáng 27 tháng 4 đến 13 giờ ngày mồng 4 tháng 5 2002. Chúng tôi không ghi danh tham dự trước, vì chỉ có ý định tham quan hai ngày, để biết các sinh hoạt của một cộng đồng Phật giáo ở Âu Châu, đã được báo chí Pháp ca ngợi.

    Làng Mai nằm ở hướng Đông thành phố Bordeaux, cách Paris khoảng 600 cây số về hướng Nam. Chúng tôi theo bản đồ nước Pháp, lái xe đến thành phố Bordeaux rồi đi Libourne, một thị trấn nhỏ gần Bordeaux vào buổi chiều. Từ đây dùng hương lộ D 670 rồi D 936 đến Sainte Foy La Grande, cửa ngõ vào Làng Mai. Mặc dầu có bản đồ chỉ dẫn in từ Website Làng Mai, nhưng chúng tôi vẫn bị lạc sau khi đã đến Sainte Foy La Grande.

    Làng Mai có tên cũ là Làng Hồng được Hòa Thượng Nhất Hạnh thành lập vào năm 1982. Làng gồm có ba nông trại: nông trại mua đầu tiên ở làng Loubès-Bernac thuộc tỉnh Lot & Garonne, nông trại thứ hai ở làng Thénac thuộc tỉnh Dordogne và nông trại thứ ba ở làng Dieulivol thuộc tỉnh Gironde.

    Ngày nay Làng Mai được Hòa Thượng Nhất Hạnh tổ chức thành bẩy nhóm nhà, hay còn gọi là bảy “Xóm”, nằm rải rác trên ba ngôi làng nói trên, gồm có: Xóm Thượng, Xóm Trung và Xóm Đoài ở Thenac; Xóm Hạ ở Loubès-Bernac; Xóm Mới, Xóm Mới Đầu Thôn, Xóm Mới Lưng Đồi ở Dieulivol. Khi thành lập trung tâm Phật Giáo này vào năm 1982, Hòa Thượng Nhất Hạnh đặt tên là Làng Hồng để tưởng nhớ “Làng Hồng” ở Việt Nam. Hồng ở đây là một loại cây ăn trái, tiếng Mỹ tên là persimon. Đến năm 1983, nhân khi đứng trên đỉnh đồi thầy thấy, có lẽ bằng trí tưởng, hoa mai trắng nở cả đồi, nên Hòa Thượng đổi tên “Làng Hồng” thành “Làng Mai” (Plum Village), hay còn gọi là “Đạo Tràng Mai Thôn”.

    Hiện nay mỗi xóm có một ngôi chùa, như Xóm Thượng có chùa Pháp Vân, Hòa Thượng đặt tên chữ là “Thệ Nhật Sơn Pháp Vân Tự” dành cho tăng sinh. Xóm Hạ có chùa Cam Lộ, tên chữ là “Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự” dành cho ni sinh. Xóm Mới có chùa Từ Nghiêm, tên chữ là “Thiên Ý Thôn Từ Nghiêm Tự” cũng dành cho ni sinh.

    Thật hơi khó diễn tả để cho độc giả chưa từng đến Làng Mai mà chỉ biết về Làng Mai qua báo chí, qua sự truyền khẩu, và đã có sẵn dấu ấn đẹp về một ngôi làng quê Việt Nam trong tiềm thức. Khi đến đây, ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là Làng Mai không giống như như báo chí diễn tả. Chùa không có mái cong, không có cổng tam quan, như chùa Thiên Trù, chùa Tây Phương ở miền Bắc Việt Nam hay chùa Đức Viên hoặc chùa Huệ Quang ở bang California, Hoa Kỳ. Thực tế, Làng Mai là những xóm nhà nằm rải rác, tọa lạc trên ba ngôi làng, thuộc ba tỉnh khác nhau và cách xa nhau bằng những cánh đồng nho và nhà cửa của dân chúng địa phương. Từ Xóm Thượng xuống Xóm Hạ đi bộ mất hơn một giờ. Còn từ Xóm Hạ muốn đến Xóm Mới, đi bộ phải mất nhiều tiếng đồng hồ, nếu nhẩn nha đi, phải mất hơn nửa ngày đường. Tuy thế, cảnh trí từng xóm nhà thuộc Làng Mai có những nét đẹp riêng, rất gần gũi với thiên nhiên và quê hương, với những bụi trúc vàng, lũy tre xanh, những ao sen, ao súng nho nhỏ, cùng với vườn mận và những con đường thiền hành quanh co....Có lẽ đây là những nét đặc thù riêng của Làng Mai, một quê hương Việt Nam ngự trị trong miền đất tạm dung.

    Đối với những du khách như chúng tôi, đến Làng Mai chỉ để thăm viếng, cho nên cái biết hay cái nhìn của chúng tôi có thể khác với cái biết cái nhìn của những người đến tu hay những người có những liên hệ mật thiết với thầy, với bạn, với tăng chúng thường trú tại đây. Quả đúng như vậy, chính Hòa Thượng Nhất Hạnh nói “...cái nhìn của Hòa Thượng Thích Minh Cảnh từ Việt Nam qua ở đây hai tuần, không bằng cái thấy của Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn...”, (hay sư cô Thích Nữ Đàm Nguyện cũng từ Việt Nam qua ở đây). Hai vị này được thầy tấn phong chức Giáo Thọ, rồi tháp tùng với tăng đoàn Làng Mai đi Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới.

    Sau hơn một tiếng đồng hồ lái xe đi lạc từ Sainte Foy La Grande đến làng Dieulivol, chúng tôi mới đến được Chùa Từ Nghiêm thuộc Xóm Mới. Sư cô tri khách người Tây Phương nói tiếng Anh lưu loát, đã sắp xếp để chúng tôi gặp sư cô Chơn Không.

    Trong lúc chờ đợi sư cô Chơn Không tiếp tại trai đường của Chùa Từ Nghiêm, chúng tôi có dịp quan sát trong và ngoài trai đường. Phía trên lò sưởi, nơi chính giữa trai đường, là bức hình Phật và Chúa Jesus đứng bên nhau. Chung quanh tường được trang hoàng bằng những chữ viết tay, như là “Ngày Em Hai Mươi Tuổi”, “Ngày Ấy Bên Nhau”, “Trong Ấm Ngoài Êm”, “Hai Sương Một Nắng”....

    Vì gặp lúc đang tổ chức thiền trà, nên chúng tôi phải chờ hơi lâu mới được gặp sư cô. Qua khung cửa kính, chúng tôi thấy dáng sư cô đi từ thiền đường về trai đường, vẫn thong thả như bao giờ. Gặp chúng tôi, sư cô vui vẻ tiếp chuyện, với giọng nói của người miền Nam chậm rãi và nhỏ nhẹ. Chúng tôi giới thiệu từng người trong nhóm, ngỏ lời thăm hỏi sức khỏe sư cô và trao một thùng quà 50 CD nhạc Phật Giáo của ca sĩ Hà Thanh ở Boston gửi tặng Làng Mai. Sư Cô hỏi thăm chúng tôi đến ở bao lâu và bảo sư cô tri khách thu xếp nơi ăn và chỗ ở. Sư cô nói cho chúng tôi nghe về khoá tu và những sinh hoạt của Làng Mai. Sư cô giảng về hiện pháp lạc trú và thiền chánh niệm. Sư cô nói rằng: “... chúng ta không cần đi đâu hết, không cần đợi tới sau khi chết rồi mới đi vào thế giới Cực Lạc, an trú trong hiện tại với tâm có niệm và có định thì chúng ta có được tất cả những gì mầu nhiệm ở cõi Cực Lạc....” Một người bạn trẻ trong nhóm chúng tôi trình bày với sư cô về Kinh Quán Vô Lượng Thọ và hỏi ý sư cô về một cõi Cực Lạc mà đức Thích Ca đã đề cập đến trong kinh này, và được sư cô cười trả lời: “đến đây để nghe pháp hay thuyết pháp”.

    Một người khác thưa với sư cô, nếu muốn xin xuất gia, gia nhập Làng Mai, sau khi nghỉ hưu có được không. Sư cô cho biết là được, nhưng với điều kiện là phải xả bỏ hết tài sản, không được gửi tiền hay sang tên tài sản của mình cho con cháu hay người thân vì kinh nghiệm cho hay, nếu không làm như vậy, vẫn còn trở ngại trên đường xuất gia. Tuy nhiên, có một điều chúng tôi ghi nhận là đa số quý tăng ni sinh tu ở đây đều là giới trẻ, thường là đã tốt nghiệp đại học, có một số vị đã tốt nghiệp cao học (thạc sĩ) và tiến sĩ, và thường nói giỏi hai ngôn ngữ. Anh K., người đã hỏi câu trên, cho chúng tôi biết, hồi còn ở Việt Nam, vào những năm đầu thập niên 60, anh đang là sinh viên, có đến gặp thầy Nhất Hạnh tại Chùa Ấn Quang, để xin xuất gia, nhưng thầy khuyên nên học xong đại học rồi đến gặp thầy. Bây giờ anh đã lục tuần, có vợ con và vẫn chưa đủù duyên xuất gia. Anh K. cũng cho chúng tôi biết thêm, thầy Giác Thanh, đã được anh giúp vượt biên qua Hoa Kỳ rồi sau này qua Pháp, gặp Hòa Thượng Nhất Hạnh. Nay Thượng Tọa Giác Thanh không còn nữa.

    Sau khi dùng cơm chiều xong, chúng tôi được tham dự khoá lễ buổi tối lúc 20 giờ tại thiền đường Chùa Từ Nghiêm.

    Qua hôm sau, thứ Bảy ngày 4-5-02, chúng tôi tham dự với tính cách quan sát khoá lễ truyền Tam Quy Ngũ Giới, được tổ chức vào lúc 5 giờ 30 sáng, dưới sự chủ lễ của Hòa Thượng Nhất Hạnh. Buổi lễ quy y không có đông người tham dự.

    Thiền đường Từ Nghiêm rộng và thoáng, được thiết trí rất nhiều cửa sổ, nhìn ra ngoài thiên nhiên, sức chứa có thể lên tới 1.000 người, trang trí rất đơn sơ nhưng không kém vẻ trang nghiêm. Chính giữa là bàn thờ Phật với tôn tượng đức bổn sư mạ vàng cao khoảng hai mươi lăm centimeters và một bình hoa lan. Bên cạnh là bàn thờ tổ Khương Tăng Hội, sơ tổ thiền tông Việt Nam. Tất cả bồ đoàn và tọa cụ đều một mầu tím. Thiền sinh ngồi trên tọa cụ đặt thành từng hàng trên sàn thiền đường. Sau lễ truyền tam quy ngũ giới thì chúng tôi dùng điểm tâm vào lúc 7 giờ.

    Đến 9 giờ sáng, tất cả tăng ni và cư sĩ tại bảy xóm, đều vân tập về thiền đường Từ Nghiêm tham dự lễ bế mạc. Chúng tôi ước chừng hôm nay có khoảng trên 250 người tham dự. Khi buổi lễ bắt đầu, Hòa Thượng Nhất Hạnh bước vào từ cánh cửa bên hông thiền đường, theo sau là một ni cô thị giả giúp thầy cởi bỏ áo khoác ngoài và phụ đắp y cho Hòa Thượng. Dáng Hòa Thượng nhẹ nhàng khoan thai hướng về chiếc bục gỗ và ngồi xuống trong tư thế kiết già. Hòa Thượng bắt đầu giảng dạy bằng giọng nói miền Trung thật nhẹ, nhẹ đến nỗi chúng tôi phải cố gắng lắng nghe mới nghe được. Thỉnh thoảng Hòa Thượng nâng chén trà bằng cả hai bàn tay và uống chậm rãi từng ngụm....

    Chủ đề của buổi thuyết pháp hôm nay là “Con người chết sẽ đi về đâu?”. Mở đầu Hòa Thượng giảng về thuyết “ẩn tàng và biểu hiện”, về 18 giới và 10 cõi... Hòa Thượng giảng: “Chết chỉ là ý niệm và Niết Bàn là sự thật vượt thoát khỏi bát bất, tức vượt thoát tám ý niệm: có và không, tới và đi, sinh và diệt, một và khác. Kiến tánh là thấy được tự tánh của mình, thấy được bản chất của sự vật, không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không một cũng không khác, không tới cũng không đi....” Hòa Thượng đưa thí dụ “hãy nhìn vào từng đợt sóng biển, sóng là sinh tử, nước là Niết Bàn. Nếu sóng nhận biết mình là nước, thì sẽ vượt thoát khỏi sinh tử và thấy Niết Bàn hiện tiền, không còn sợ sinh tử. Chúng ta đang là Niết bàn. Chúng ta đang an trú trong Niết Bàn, không cần phải tìm kiếm Niết bàn đâu xa, cũng không phải đợi tới vài chục năm nữa chúng ta mới chết. Ta đang sanh, đang trú và đang diệt trong từng sát na, trong giây phút hiện tại....”

    “...Niết Bàn không phải là một thực thể riêng biệt. Niết Bàn không thể nào tìm thấy ở ngoài cõi sinh tử, vậy nó ở đâu? Câu trả lời rõ ràng là: nó phải được tìm ngay trong thế giới sanh diệt, trong giây phút hiện tại. Cái không sanh diệt phải tìm ngay trong cái sanh diệt. Tìm Niết Bàn nơi đâu? Tìm ngay nơi những hiện tượng vô thường của thế gian...”

    Hòa Thượng giảng tiếp: “... Những đám mây trên trời từ đâu đến và bay về đâu? Mây đã lên đường và chúng ta cũng đã lên đường. Một phần mây đã thành mưa, thành tuyết, đã đi luân hồi và trở thành một phần của bông hồng. Bản chất của mây là bất diệt . Chúng ta cũng vậy, đã lên đường chứ không đợi chết mới đi. Vì thế, chúng ta cần phải chuyển hóa những cái xấu, chuyển hoá những giận ghét, phiền muộn, tham đắm thành hoa trái (tươi đẹp) để đi luân hồi. Đức Thế Tôn của chúng ta cũng đi luân hồi, nhưng đi luân hồi với trí tuệ và từ bi. Chúng ta phải nhìn sự vật qua hai dạng chủng tử và hiện hành hay hai trạng thái “ẩn tàng và biểu hiện”. Nhìn hoa lá thấy mây trời... Chúng ta vì chấp tướng nên mới sầu khổ, nên hãy nhìn sự vật bằng con mắt vô tướng...”

    Sau bài thuyết giảng về con người chết sẽ đi về đâu của Hòa Thượng, thì tăng đoàn Làng Mai đồng ca bài “Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm” để tạ ơn Phật và chư tổ đã gia hộ cho khóa tu được thành công viên mãn.

    Được biết, Thiền Chánh Niệm là phép thực tập căn bản ở Làng Mai, và chánh niệm có nghĩa là an trú trong hiện tại, thấy được cái gì đang xảy ra trong hiện tại. Pháp môn thực hành hiện nay tại Làng Mai là phối hợp pháp môn Thiền Tịnh, được thầy diễn giải trong sách Thiết Lập Tịnh Độ.

    Hiện nay, Làng Mai có khoảng gần 100 vị xuất gia thường trú và Hòa Thượng Nhất Hạnh đã sáng tạo ra “chương trình bốn năm đào tạo người xuất gia và thường sau 5 năm sẽ trở thành GiáoThọ”, tức làm thầy dạy. Hiện có 70 vị giáo thọ xuất gia và 30 vị giáo thọ tại gia, đi khắp nơi giảng dạy. Bên cạnh đó, Làng Mai còn có một dòng, gọi là dòng Tiếp Hiện gồm khoảng 700 người và ở khắp nơi trên thế giới. Những vị này có thể là tu sĩ và cư sĩ, họ tuân thủ 14 giới. Với cư sĩ tiếp hiện, những vị này là cầu nối giữa tăng đoàn xuất gia và Phật tử tại gia.

    Có thể nói Đạo Tràng Mai Thôn tức Làng Mai hiện nay là một tu viện Phật Giáo Việt Nam ngoài Việt Nam, có đông người xuất gia nhất. Và người có công nhất, ngoài Hòa Thượng Nhất Hạnh là sư cô Chơn Không, mà một người trong nhóm chúng tôi cho rằng, sư cô là một nhà administrator giỏi. Ngoài ra, phải kể đến Thượng Tọa Giác Thanh, một vị sư mà mọi người đều quý mến, là chất liệu xúc tác không thể thiếu trong mọi tiến trình xây dựng và vun trồng.

    Hòa Thượng Nhất Hạnh còn tiến xa hơn nữa, là đang có “khuynh hướng toàn cầu hóa, pháp môn chánh niệm, không mang mầu sắc tôn giáo”, Hòa Thượng đã và đang mang những lời dạy của Phật vào nhà thờ, vào trại tù và nhà thương. Hòa Thượng đang vượt ra khỏi ranh giới tôn giáo. Đây là điểm rất đặc biệt của một tổ chức Phật giáo đương đại, các đệ tử xuất gia cũng như tại gia của thầy, được dạy là “phải vượt khỏi cái hạn hẹp “tôn giáo” của đạo Phật, để tới một cái trí tuệ không màu sắc tôn giáo mà phụng sự đời”. Chiều hướng của Hòa Thượng Nhất Hạnh là hòa đồng các tôn giáo với nhau. Phật với Chúa Jesus là anh em, cùng dắt tay nhau đi thiền hành. Một bằng chứng cụ thể là Năm Giới Cấm của Phật tử tại gia, được Hòa Thượng viết lại với thể văn trong sáng, phù hợp với thời đại và đặt tên lại là Năm Chánh Niệm. Một quyển sách hòa đồng “Living Buddha Living Christ” cùng một bức hình vẽ Phật và Chúa Jesus đứng bên nhau, được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Tây Phương. Ngoài ra còn 14 giới tiếp hiện cũng do Hòa Thượng sáng tạo, dành cho dòng Tiếp hiện. Khi mới đề ra 14 giới tiếp hiện này Hòa Thượng Nhất Hạnh đã bị chống đối rất nhiều và không thể áp dụng tại Việt Nam được, vì có một giới liên hệ đến sự “cho ra đời những sinh mạng mới”. Nay Hòa Thượng đã cho sửa đổi giới này để tu sĩ hay cư sĩ nhập dòng đều thọ được. Hiện tại, dòng Tiếp Hiện đang được tiếp nhận ở phương Tây một cách chậm rãi, cũng như Hòa Thượng và Làng Mai, sau ba mươi năm hiện diện trên đất Pháp, người dân Pháp mới lặng lẽ đón nhận.

    Hòa Thượng Nhất Hạnh, theo báo chí Pháp cho biết là một trong những nhà tu Phật giáo nổi tiếng hiện nay trên thế giới. Dáng người nhỏ, bước đi chậm rãi nhưng đã bước những bước thật chắc và đã gieo trồng hạt giống Phật tại nhiều nơi. Chính sách của hòa thượng đang vượt thoát khuôn khổ tôn giáo của đạo Phật. Điều này, có lẽ phải mất nhiều thập niên mới thấy được kết quả hướng đi mới này.

    Trời đã xế trưa, trước khi từ giã Xóm Mới, chúng tôi dạo quanh chùa Từ Nghiêm, ghé thăm quán sách, chụp hình và quay phim lưu niệm. Chúng tôi gặp lại anh Cao Thái, anh ruột sư cô Chơn Không, một ca sĩ mà chúng tôi biết từ Việt Nam, có sáng tác nhiều bài thơ thiền. Anh đọc cho chúng tôi nghe một số bài, trong đó có bài thơ “Con Cá”(*). Chúng tôi xin ghi lại đây như là một kỷ niệm với anh trong dịp viếng Làng Mai. Sau đo, sư chú Pháp Từ, một tăng sinh đến đây tu học từ Việt Nam, đã hướng dẫn chúng tôi tham quan Chùa Cam Lộ, vườn mận và gác chuông, thuộc Xóm Hạ. Cuối cùng chúng tôi đến thăm Xóm Thượng, thiền đường Chuyển Hóa và dùng cơm chay tại trai đường Chùa Pháp Vân.

    Chúng tôi giã từ Xóm Thượng, giã từ Làng Mai và sư chú Pháp Từ trong niềm lưu luyến, trong nắng chiều vàng nhạt trên những lũy tre xanh. Con đường quê quanh co, không biết dẫn chúng tôi về đâu chiều nay?

    Tịnh Thủy

    (*) CON CÁ
    Tôi là con cá dưới sông
    Có cha, có mẹ, có chồng có con
    Trông con trông mỏi trông mòn
    Trông khi họp mặt coi còn đủ không
    Ngày ngày dong ruổi chạy rong
    Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
    Bữa kia nghe tiếng con tôi
    Mẹ ơi con đã mắc mồi rôì me
    Lạy Trời lạy Phật chở che
    Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
    Thành người tôi sẽ ước mơ
    Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.
    (Cao Thái)


  4. #64
    Đi Sao Cho Hết Một Đêm Hoang Vu
    Phúc Quỳnh

    Ngày xửa ngày xưa - ở tuổi ngũ tuần, đối với tôi thì những chuyện gì đã xảy ra trên một năm đều có thể được xếp vào folder quá khứ “ngày xửa ngày xưa” - tôi có đọc tác phẩm “Đi Cho Hết Một Đêm Hoang Vu Trên Mặt Đất” của Phạm Công Thiện.

    Tính cho đến tháng Tư 2013 này, ông mất đã hơn một năm, để lại nhiều sách, bài viết thuộc hạng “cao siêu” vượt quá đỉnh đầu lưa thưa tóc bạc của tôi. Như nhiều người mà tôi từng có dịp nói chuyện, tôi chẳng hiểu ông Phạm Công Thiện viết gì trong những tác phẩm siêu phàm đó. Nói là siêu phàm vì đằng sau những câu văn, lời viết cho dù khó hiểu của ông Thiện, tôi vẫn linh cảm những ý niệm đầy thi tính, đạo vị của ông ở một cõi khác, xa lắc xa lơ cõi ta bà này. Nãy giờ viết lòng vòng như vậy vì tôi có ý mượn tựa “Đi Cho Hết Một Đêm Hoang Vu Trên Mặt Đất” của ông cho bài viết ngắn, rất ngắn này.

    “Đêm Hoang Vu” của tôi không có gì là siêu phàm, siêu nhiên, siêu thực hay bất cứ cái gì có thể gọi là “siêu” như của ông Thiện, một người được xem là một nhà thơ, nhà văn, nhà triết mà tôi được hân hạnh gọi là “Anh” trong những lần gặp gỡ những bậc đàn anh trong giới viết lách ở chốn Bolsa thời thập niên 1980. “Đêm Hoang Vu” của tôi là những đêm đi bộ của hai vợ chồng chúng tôi. Đã hơn 1 năm nay, tức là từ “thời xửa, thời xưa,” chúng tôi đi bộ mỗi đêm từ nhà đến một ngôi chùa ở đầu đường trong cùng một khu phố, xong quay về. Ngoại trừ những đêm mưa lớn hoặc xa nhà, chúng tôi “đi đêm” như vậy ngày này qua ngày khác, mùa hè qua mùa đông.

    Nhà của chúng tôi “tọa lạc” gần góc đường Magnolia và Hazard, tức là ngay trong khu phố Little Saigon. Nơi đây chắc chắn không là chốn hoang vu, hoang dã khỉ ho cò gáy (hoang mang thì may ra vì nơi đây thường xảy ra lắm chuyện sôi nổi, đấu đá lung tung khiến người ta không biết đâu mà lường, mà hoang đàng thì đương nhiên không đúng, chưa đúng). Chúng tôi có phước, tôi tin vậy, vì được sống gần một ngôi chùa, một nhà thờ trong khoảng cách đi bộ chừng 15 phút. Có lẽ nhờ ở gần những nơi tâm linh như thế, lúc nào cũng thấy Phật, thấy Thánh Giá, chúng tôi luôn được gợi nhắc về một cuộc sống với giá trị đặt bên trên vật chất, được che chở trước những làn hung khí mà lúc nào cũng lăm le, đe dọa cuốn trôi tâm hồn vào những chốn sa đọa, ngục tối.
    Cũng trong vòng 15 phút đi bộ từ nhà, tôi có thể đi một hướng khác đến một quán cà phê nơi mà hầu như lúc nào (ban ngày) cũng có các “em” tiếp viên trên đôi mươi mặc đồ ngủ rất tươi mát. Một phần vì đã đứng tuổi, một phần vì không hợp với mùi cũng như khói thuốc lá, không chịu nổi những mẩu chuyện tào lao bên ly cà phê của mấy “anh” tóc bạc ngồi quán, nên tôi chưa đến quán cà phê đó bao giờ.

    Trở lại với chuyện “đêm hoang vu,” tôi không nhớ rõ vợ chồng bắt đầu đi bộ mỗi đêm đến chùa từ lúc nào. Chỉ biết có một đêm chúng tôi muốn đi bộ để vừa tập thể dục, vừa ghé chùa để được thấy Phật. Lẽ đương nhiên ở đâu cũng có Phật, nhưng đến chùa dễ thấy Phật hơn. Bạn hãy tin tôi đi, đừng kiếm cớ để tránh đi chùa. Tuy không bị “khổ sai” quá đáng như những người bị nhốt trong tù cộng sản, hai đứa chúng tôi cũng “lao động” quần quật từ ngày này sang ngày khác vì chuyện cơm áo, rất hiếm khi có dịp rảnh để cùng nhau đi chùa tụng kinh. Đứa nào có thời giờ thì đứa đó tự lo đọc sách, nghe băng để hiểu thêm về đạo. Trong lãnh vực “tự tu” này thì tôi thua xa vợ. Không chỉ đã bắt đầu chạy trước tôi khá xa, nàng còn thông minh hơn, có trí nhớ khá, đọc đâu nhớ đó. Tôi thuộc dạng cảm nhận đạo nhiều hơn là hiểu đạo, đọc sách hôm trước quên hôm sau, nghe băng giảng năm ngoái năm nay quên tuốt luốt, nghe lại tưởng mới nghe lần đầu, tụng kinh mà thường khi không biết mình tụng cái gì cho dù miệng cũng ê a không thua các bác lớn tuổi. Chẳng hiểu mô tê vậy mà tôi cứ thích đi chùa, lễ Phật.

    Với những lý do như vậy, những đêm khuya đi chùa là dịp cho chúng tôi cùng bước chung trên con đường đạo. Đó là dịp cho vợ chồng chia sẻ, giải tỏa những khổ đau, phiền não đè nặng trĩu xuống đôi vai suốt từ sáng sớm đến tối khuya. Công việc ở sở lúc nào cũng căng thẳng, phải đối phó với chủ với đồng nghiệp. Chuyện gia đình luôn có kẻ bệnh, người đau, đứa phá của, đứa báo đời. Đó cũng là thời gian chúng tôi trao đổi một thứ hạnh phúc của vợ chồng già. Hai đứa thường đàm đạo, nêu những thắc mắc, trao đổi, có khi gân cổ cãi cọ về chuyện đạo. Bạn có thể tưởng tượng một cặp vợ chồng ốm ròm, mặc áo ấm ba, bốn lớp, đầu đội nón len, quàng khăn che kín cổ, đi co ro trong cơn lạnh giữa mùa đông mà miệng lại hăng tiết luận bàn chuyện đạo, máu trong người nóng lên như đang thi đấu đô vật sumo.

    “Anh thấy tu theo nguyên thủy mới đúng. Phật tu sao thì mình tu y chang vậy, thêm thắt chi cho rườm rà, phát triển kinh điển tùm lum tùm la, dễ trật đường rầy, chẳng bao giờ giác ngộ, giác nghiếc gì hết trơn.”

    “Nghĩ vậy chưa chắc đúng à nhen. Phật nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu. Có phát triển mới tạo nhiều cơ duyên cho thêm chúng sanh được tu. Tùy căn cơ mà mình chọn con đường cho thích hợp mà cuối cùng vẫn tới cùng một đích, cho dù gọi đó là vô ngã hay chân không cũng vậy.”

    Ai đúng ai sai có lẽ không quan trọng trên con đường đi bộ từ nhà đến chùa của chúng tôi. Hiểu rằng trong muôn vạn kiếp luân hồi, được đi cùng con đường trong cùng một khoảng khắc quả là một hạnh phúc lớn, một phép mầu, huống hồ được đi nhiều đêm như vậy trong hơn một năm trời.

    Thường thì chúng tôi bắt đầu đi bộ sau 9 giờ tối, có khi nửa đêm tùy công việc của mỗi đứa. Cuộc đi bộ dài chừng nửa tiếng. Từ nhà nằm trên đường Jennrich, chúng tôi quẹo ở ngã ba đường đến chùa Giác Lý ở góc Titus - Hazard. Đúng ra đây là tịnh xá chứ không phải chùa. Sân trước tịnh xá không đóng cửa, người ngoài có thể bước vào bất cứ lúc nào, nửa đêm hay giữa trưa. Trước các tượng theo thứ tự Quán Âm, Địa Tạng Vương, Phật Thích Ca và Phật Di Lặc, chúng tôi cung kính lễ lạy. Tôi không biết vợ khấn nguyện như thế nào, riêng tôi, mỗi lần thấy Phật hoặc Bồ Tát, ở tịnh xá này hay ở bất cứ nơi nào khác, tôi luôn tự nhắc mình hãy sống với lòng từ bi, nhẫn nhục, sống cho tha nhân, hãy quên mình, quên cái ngã luôn trỗi dậy để thống trị mọi ý nghĩ, việc làm trong ngày.

    Sau khi ghé tịnh xá, lộ trình đi chùa đêm theo hướng kim đồng hồ của chúng tôi tiếp tục qua công viên Westminster. Dạo này thành phố cắt giảm ngân sách nên công viên bị tắt đèn điện vào ban đêm, khiến nơi đây không được sáng như lúc trước. Giữa công viên vắng vẻ, có những đêm chúng tôi vừa đi vừa nghe âm vang pháo bông bừng nổ trên công viên Disneyland từ xa vọng lại, đâu đó sau 9 giờ 30 tối. Có đêm giao thừa, chúng tôi nghe vang rền tiếng pháo đì đẹt của đồng hương đón mừng năm mới sau nửa đêm. Màu sắc và âm thanh của pháo, cho dù rực rỡ, huy hoàng trên không trung hay rộn ràng, hân hoan trước cửa nhà, chúng đều gợi nhắc những niềm hạnh phúc ngắn hạn của kiếp người.

    Và cũng có nhiều đêm dưới ánh sáng mông lung hắt từ xe chạy ở góc đường, công viên chìm trong không trung hoàn toàn tĩnh mịch, trầm lắng, chỉ có bóng hai đứa tôi di chuyển đều đặn băng qua một quãng đường đi lại hằng đêm mà tưởng chừng như vô tận, đi hoài không hết. Quãng đường đó có lẽ là con đường đạo nhiệm mầu mà chúng tôi đang lần đi giữa đêm hoang vu không bờ bến của kiếp nhân sinh. Đi từng đêm mà không mong cầu sẽ đến đích, chỉ nguyện được đi trọn với nhau chung một kiếp người. (PQ)

  5. #65
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    21,764
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post
    Đi Sao Cho Hết Một Đêm Hoang Vu
    Phúc Quỳnh

    Đi từng đêm mà không mong cầu sẽ đến đích, chỉ nguyện được đi trọn với nhau chung một kiếp người. (PQ)
    Thấy chưa cái giá trị của năng vận động còn vào văn học luôn mà. Tuy nhiên sư huynh này đêm nào cũng đi mà không cầu đến đích cũng lạ thiệt ta.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  6. #66
    Quote Originally Posted by Triển View Post
    Thấy chưa cái giá trị của năng vận động còn vào văn học luôn mà. Tuy nhiên sư huynh này đêm nào cũng đi mà không cầu đến đích cũng lạ thiệt ta.
    Walking meditation!

    https://vietbao.com/p112a277442/2/nh...-gia-mat-tong-

    Những Năng Lực Kỳ Lạ Của Hành Giả Mật Tông !
    Phương Chính Nguyễn Quang Đạt

    Trước khi đi vào đề tài này, chắc hẳn đa số trong quí độc giả đã từng xem qua quyển “ Hành Trình Về Phương Đông” của của tác giả Baird T. Spalding nguyên tác English do Nguyên Phong chuyển ngữ ? Trong chương 6: “Những Sự Kiện Huyền Bí “có đề cập đến một phái đoàn học giả Anh quốc trong một chuyến đi nghiên cứu những sự kiện huyền bí, để ghi nhận theo tính chất và phương pháp khoa học những điều mục kích thực tại hiện tiền với ngũ quan: tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi, vị giác nếm qua và xúc chạm với đối tượng khảo sát tại nước Ấn Độ…Họ có đến tìm gặp pháp sư Vishudha. Pháp sư này đã đem đến cho những học giả Anh quốc từ sự ngạc nhiên này đến biết bao điều kinh ngạc, thán phục kinh qua phương pháp khoa học cổ truyền ”Thái Dương Học” của giống dân Atlantic ngày xưa! Pháp Sư Vishudha chỉ với một kính lúp đưa lên thu lấy ánh sáng mặt trời, ông có thể tạo ra các mùi hương trong không khí như hương: hoa lài, hoa kim hương (tulip)… và ngay cả những mùi vị hóa chất, những mùi acid trong phòng thí nghiệm, tạo ra và làm biến mất ổ bánh mì từ trong không khí và nhiều thứ khác…! Đó là chuyện thời xa xưa tưởng đâu không bao giờ có thể chứng nghiệm được những hiện tượng tương tự như vậy trong thế kỷ khoa học tân tiến như hiện nay. Như chúng ta đã biết, trong thân thể con người chứa đựng các nguyên tố vật chất mà trong nguyên lý Đông Phương “gọi” chỉ danh là Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa. Dựa vào đó một vị Pháp Sư tài giỏi hay một một Hành Giả Mật Tông (Vajrayana – Phật Giáo Kim Cang Thừa, Tiên Gia Việt Tộc, Bửu Sơn Kỳ Hương, Thất Sơn Đạo Gia, Bửu Hoà Tiên Đạo, …) với khả năng tu luyện cao thâm có thể làm hoán đổi, xáo trộn sự vận hành của các nguyên tố trong cơ thể qua những hình thức và trạng thái như: thư ếm, bùa ngãi làm mê hoặc hại người trục lợi của giới tà phái, hoặc tạo hiện tượng bằng cách tách ly một phần nguyên tố vật chất ra ngoài cơ thể để khảo sát, chứng nghiệm…

    Do nhân duyên, tôi (người viết) đã có cơ hội tiếp xúc với một hành giả Mật Tông trong thời gian gần đây, và đã chính mắt chứng nghiệm những hiện tượng rất lạ lùng và quá hiện thực không thể ngờ đến! Xin chia xẻ với quí độc giả qua câu chuyện dưới đây:

    Vào sáng thứ Bảy ngày 03 tháng 02 năm 2018 được sư huynh Trịnh Khải Hoàng (một hành giả trong giới Mật Tông xưa kia) tạo duyên trường cho tôi tới nhà của anh ở vùng Westminster – California, để gặp một trong những người bạn đồng môn thâm giao cùng thời, cùng Thầy, Tổ với anh gần nửa thế kỷ qua hiện đang có mặt tại nhà … Tôi liền lái xe đưa vợ tới nhà anh Hoàng và hạnh ngộ với sư huynh NLV, rồi từ đây được biết Anh vốn là sĩ quan Cảnh Sát Mỹ đã nghĩ hưu và thường lui tới Nam California thăm bạn bè thân tình, và lần này vì sự yêu cầu của một gia đình đang gặp nạn tai, cần anh giúp cứu giải cho được bình an (rất tiếc không được nêu danh tánh theo sự yêu cầu) ! Khi gặp vợ chồng tôi, anh NLV hoà nhã, thân thiện và ân cần hỏi:

    - Hai em có điều gì muốn hỏi hoặc cần anh giúp gì không?

    Tôi nói:

    - Dạ thưa không có, em và vợ em chỉ đến gặp cho biết mặt vì nghe sư huynh Hoàng kể rất nhiều về anh! Thực tình tôi cũng chưa biết mình định hỏi han những gì? Nhưng sư huynh Trịnh Khải Hoàng đã tiếp lời: “Tôi nghĩ V… quan sát xem có thể cần thiết giúp cho 2 đứa em này được điều gì không?”

    Anh NLV đưa mắt nhìn quan sát vợ chồng tôi xong, anh cho biết vợ tôi có nhiều chất sắt trong người, nên lưu ý nếu không sẽ sinh bệnh về sau… Kế đến anh nói sẽ lấy ra một số chất sắt (iron) vốn từ những thực phẩm, nguồn nước, môi trường sinh sống bị ảnh hưởng, thâm nhập và tích tụ trong thân thể của vợ tôi quá nhiều năm … và chúng tôi sẽ nhận thấy ngay liền kết quả trước mắt.

    Tôi có hơi tò mò ngạc nhiên và muốn xem anh sử dụng phương cách nào để lấy những chất sắt trong thân thể của vợ tôi ra ngoài hiện thực? Anh dùng 2 bàn tay, một dùng đầu ngón tay cái định vị và bấm ấn huyệt rồi kéo vuốt dọc từ cánh tay đến cổ tay, còn bàn tay kia thì nắm chặc những đầu ngón tay, và cuối cùng thì anh ấn mạnh ngón cái vào huyệt lao cung giữa lòng bàn tay của vợ tôi. Sau đó anh đổi qua cánh tay khác cũng làm y như vậy. Sau khi bấm huyệt dọc theo đường Thủ Âm Kinh (dọc theo bên trong cánh tay) xong…thời gian độ vài giây thì vợ tôi quay sang nói với tôi hình như có mùi hôi hôi tanh tanh của sắt thép bị rỉ sét phát ra từ trong lòng bàn tay!. Quả thật như vậy vì chính tôi cũng đã bắt đầu ngửi được mùi của sắt thép hay đồng thiết hoen rỉ trong không khí! Sau đó anh lấy chai nước lã rót một chút nước trong lòng bàn tay của vợ tôi, chỉ trong ít phút thì nước trong trẻo đang bắt đầu đổi sang màu xám đen và có mùi hôi tanh của sắt thép rỉ sét. Anh nói cho vào một chút nước trà sẽ thấy phản ứng hoá học tăng nhanh thêm vì trà vốn kỵ sắt thép bởi tính chất hoá học! Thật quá kỳ lạ phải không quí vị? Xin xem hình dưới đây:

    Qua những câu chuyện khảo luận và quan sát sự việc cho tới thân mật… Sau đó anh hỏi tôi muốn hỏi điều gì không thì nhân dịp này cứ thân tình tìm hiểu, vì thường anh rất bận rộn đi xuyên bang và over sea, khi có thời gian rảnh rỗi thì làm thuốc trị bệnh giúp từ thiện, nên ít khi có ở nhà ? Tôi nói với anh là tôi muốn biết vị Linh Sư (vị Thầy trong thế giới tâm linh vô hình) đang hướng dẫn tôi là ai? Anh lặng yên quan sát tôi một lúc rồi nói rằng vị Thầy đó cho biết chưa đến lúc, khi đến thời cơ tự sẽ được biết (chắc còn phải lo tu học thêm dài dài, bỏ hết chuyện thế sự ngoài đời để được bình tâm chăng?).

    Anh nói thêm chỉ có thể giúp cho tôi biết được vị Thầy đang hướng dẫn tôi có phải thuộc chánh phái và tôi có duyên theo học hay không? Vì không chuẩn bị giấy vàng tinh sạch và bút mực đỏ thường được thấy theo tiêu chuẩn, qui luật để viết chữ linh ngữ (chữ linh ngữ là loại từ ngữ, ký hiệu của cõi trời Sắc Giới), nên anh xé đại một tờ giấy trong tập note book thường và dùng bút đỏ thường không có gì đặc biệt để “vẻ” lên vài chữ chú nguyện bởi năng lực của Tâm.

    Sau đó anh xếp tờ giấy nhỏ lại để trong lòng bàn tay, chấp hai tay khấn niệm một lúc rồi trao cho tôi và bảo tôi thành tâm khấn niệm theo lời hướng dẫn của anh...và xin nếu như đúng y vị Linh Sư đã và đang dạy tôi là một Chân Minh Sư thì cho tờ giấy này tan biến trong nước lã, còn bằng như ngược lại thì mảnh giấy nầy vẫn y như nguyên trạng trong ly nước. Khi đã khấn nguyện xong, anh bảo tôi bỏ tờ giấy vào trong ly nước và dùng chính bàn tay của mình bịt kín miệng ly ngay lập tức và đếm từ 1 đến 10 thì mở ra…. Thật kỳ diệu thay, trong ly nước chỉ còn bột giấy và mầu đỏ của mực đang hoà tan và loang dần. Sau khi dùng muổng khuấy qua lại vài lần thì chỉ còn một ly nước màu đỏ ! Viết tới đây sẽ có người đa nghi về tờ giấy (xin miễn bàn tiếp vì chính như cá nhân tôi cũng đã quan sát rất kỹ). Xin xem hình:

    Tôi có quay video clips bằng cell phone 2 hiện tượng trình bày như trên để làm tài liệu tham khảo cho các sư huynh đệ sau này. Tôi nói với anh đây là đầu tiên tôi chứng nghiệm hai hiện tượng quá hiện thực…! Anh nói cho biết còn nhiều thứ loại kiến văn khác nữa mà người sống trong thế gian vật chất này khó có thể nghĩ bàn, vì vốn hiểu biết và học thuật của chúng ta còn bị giới hạn nhiều, khác chiều không gian Dimensions, thân thể vật chất và tầng số rung động giác quan của chúng ta rất thô kệch, giới hạn mà Vũ Trụ thì vô tận, chúng ta chấp ngã và ngông ngu thường lấy cái trí tri giới hạn và qui ước cố “nhốt” chân đế vô tận vào ảo kiến mà sinh ra biết bao nhiêu di hoạ không lường! Sau đó anh có hướng dẫn tôi một vài phương pháp để có thể tu tập về sau nếu như muốn bước đi trên đường học Đạo. Thế giới Mật Tông thật có quá nhiều điều lạ phải không quí vị? Tôi chỉ thâu nhận kiến thức trong sự e dè và thận trọng! Có duyên thì sẽ được biết rất nhiều, không phải muốn tìm gặp là được.

    Xin cám ơn sự hướng dẫn và giúp đở tận tình của 2 sư huynh NLV và Trịnh Khải Hoàng, nhất là được sự góp ý của sư huynh Hoàng đề tài liệu này có thêm đầy đủ chi tiết hơn.

    Thưa quí độc giả, một hành giả Mật Tông chân chính khi thực hiện những khả năng đặc biệt này, dĩ nhiên không phải để khoe khoang mà điều có những mục đích riêng của nó trên con đường hành Đạo. Rất tiếc không thể trình bày chi tiết hơn nữa trên vấn đề này.

    Để kết thúc câu chuyện, người viết xin trích một đoạn văn trong quyển sách “Hành Trình Về Phương Đông” để quí độc giả tự suy xét thêm về mục đích của những sự kiện tâm linh: “…Các ông đã thấy, tôi đã lạm dụng các định luật huyền bí giúp tôi thực hiện ý muốn. Tôi vừa đốt cháy đồ vật mà tôi tạo nên. Làm như thế tôi đã lạm dụng một điều luật bất di bất dịch của thiên nhiên. Nếu tôi tiếp tục làm thế thì không những món đồ bị đốt cháy, mà chính kẻ sáng tạo là tôi cũng chịu chung số phận. Các ông đã ngửi mùi hương và việc tôi làm chậu hoa hồi sinh, cũng như chùm nho xuất hiện…. Tôi có thể sử dụng quyền năng này khi làm một việc có ích cho nhân loại, hoặc với một lòng bác ái thanh cao vì đó là hợp với luật vũ trụ, hợp với thiên ý. Trái lại, chỉ với một ý định xấu xa như khoe trương bản ngã, tôi sẽ đi lệch đường và chịu trách nhiệm về việc làm của mình nghĩa là sẽ gặp ngay sự phản tác dụng về hành động của mình. Tôi đốt cháy một vật thì tôi cũng có thể cháy thành than tức khắc. Nếu con người phụng sự thượng đế, hành động đúng theo thiên ý, hợp luật trời thì y đã bước chân vào cõi trời rộng mở còn ngược lại thì y đang bước vào cánh cửa của địa ngục rồi đó…

    Vishudha nhìn thẳng vào mặt mọi người:

    - Này các ông, những nhà thông thái, thế đã thỏa mãn các mong ước, hiếu kỳ của các ông chưa? Nếu các ông còn mê man trong các cuộc khảo cứu, ghi nhận các hiện tượng lạ lùng mà khoa học chưa giải thích được thì khắp thành phố này, có hàng trăm đạo sĩ, pháp sư có thể làm những chuyện đó. Điều đáng tiếc rằng rất ít người hiểu biết về cái hậu quả họ sẽ phải gánh chịu. Các ông muốn ghi nhận những phép thuật thần thông để làm gì? Phải chăng các ông sẽ công bố cho mọi người Âu Mỹ biết hay sao? Như thế có ích lợi gì? Liệu đã có mấy ai tin tưởng rằng những điều các ông nói không phải là một sự tưởng tượng? Có thể họ sẽ lên án các ông là đằng khác. Có bao giờ các ông nghĩ rằng mình đang làm một chuyện vô ích hay không? Có lẽ các ông sẽ làm những phúc trình về các hiện tượng lạ lùng nhưng rồi sẽ đi đến đâu? Cuộc đời đâu phải chỉ quan sát ghi nhận rồi làm những thống kê, có phải không? Này các nhà thông thái, các ông đã khám phá thế nào là mục đích cuộc đời chưa? Nếu các ông chưa tự hỏi mục đích cuộc đời mình để làm gì thì ghi nhận, nghiên cứu có ích lợi gì đâu? Khi chưa tìm được giải đáp cho chính mình thì các phúc trình, thống kể cũng vô ích thôi, có phải như thế không?”

    Thật quá hay phải không quí độc giả? Đời sống con người không phải chết là hết và không phải chỉ có một thế giới mà chúng ta đang sống?

    Chứng nghiệm rồi, hiểu được rồi thì chúng ta sẽ làm gì cho cuộc sống tâm linh?

  7. #67
    TÁCH TRÀ BUỔI SÁNG VÀ NHỮNG MẬT NGÔN TÌNH CỜ
    Huệ Trân

    Mỗi tuần, tôi có một ngày để làm hai việc tuyệt vời. Đó là, thứ nhất: làm thinh, thứ hai: không làm gì cả!

    Hôm nay đang là phút giây tuyệt vời đó.

    Sau những ngày lạnh bất thường, nắng sáng nay rất đẹp, vàng óng và ấm áp. Cây cỏ hoa lá rộ lên niềm vui. Mọi cánh cửa mở rộng để nắng ghé vào, mang hương thơm của đất trời chuyển hóa. Không mùi hương nhân tạo nào so sánh được với hương gió núi mây ngàn. Ít nhất, chủ quan tôi như thế.

    Một ngày đẹp như vầy, được tự tại với hai việc: làm thinh và không làm gì cả, thì có tuyệt vời không!

    Chậm rãi pha một bình trà.

    Hốt nhiên, tôi thích thú với ý tưởng khởi lên rõ rệt “Tôi không đang PHẢI LÀM cái việc pha trà, mà là ĐANG HƯỞNG sự pha trà”.

    A! Bấy lâu nay, hàng ngày ta làm đủ thứ việc, lẫn lộn giữa những cái “phải làm” và những cái “đang hưởng” mà mấy khi nhận rõ như thế. Cũng hành động đó, cũng công việc đó, nhưng làm bằng trạng thái “hưởng”, tất hạnh phúc gấp bội hơn là “phải”.

    Vậy, cánh cửa niềm vui là ở đây chăng? Đâu là chìa khóa chuyển hóa “phải’ thành “hưởng” để ta tra vào ổ khóa của cánh cửa này?

    Trà sen bạn cho đã lâu, nhưng được ủ kỹ nên hương vẫn còn ngát. Sen mọc dưới ao bùn mà lại mơ màng tới bốn câu kệ Làng Mai:

    Trà trên đỉnh núi Tản
    Nước giữa lòng sông Đà
    Thiền vị chỉ một ngụm
    Tịnh Độ đã sinh qua.

    Trước đây, mỗi khi nghe hai tiếng “Tịnh Độ” là tôi chỉ có thể nghĩ đến cõi Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Sau này, nhờ dần dần được học thêm, tôi mới biết, tùy căn cơ chúng sanh, Đức Phật đã chỉ bày tới bốn thế giới Tịnh Độ tiêu biểu, chứ không chỉ một.

    Còn nhớ, khi biết điều này, tôi vô cùng hứng khởi, như kẻ đang dọ dẫm, được dắt từ cái hữu hạn tới cái mênh mông vô hạn.

    Mỗi thế giới Phật cũng đã mênh mông, nhưng từ một, tới vô cùng mênh mông, quả là bội phần hạnh phúc, như cánh cửa bất ngờ mở tung, mới biết ánh sáng ban mai ngoài kia chan hòa, rực rỡ!

    Khi Đức Phật tới thành Xá Vệ thuyết giảng kinh A Di Đà dưới hình thức “vô vấn tự thuyết”, nghĩa là không ai hỏi mà tự giảng. Nguyên do, vì khi đó, vua Ba Tư Nặc quá yêu kính Đức Phật và Tăng đoàn nên đã ban một sắc luật hy hữu: “Nếu là người xuất gia thì dù phạm tội gì cũng không bị trừng phạt”. Do khe hở quá lớn của sắc luật đó, mà nhiều thành phần bất lương đã len lỏi vào Tăng đoàn để lợi dụng làm nhiều điều bất thiện. Họ đã quy tụ tới sáu nhóm ác tăng mà dân chúng thời đó gọi là Lục Quần Tỳ Kheo!

    Những vị chân tu không thể chung sống trong môi trường bất tịnh, nên cùng nhau xin với Đức Phật để được rời đi nơi khác. Đức Phật bèn khuyến tấn họ nên nhiếp tâm niệm Phật thì dù hoàn cảnh xung quanh thế nào, cũng chiêu cảm được mười phương Chư Phật.

    Và thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà được Đức Phật Thích Ca giới thiệu trước thính chúng, như sự khẳng định hứa khả đối với những ai có tín tâm bất hoại.

    Đó là dấu mốc đầu tiên để hành giả pháp môn Tịnh Độ nương vào thế giới này như một Điểm Tới lý tưởng, khi thân tứ đại tan rã nơi cõi ta-bà.

    Nhưng thế giới Phật không ngừng ở đó.

    Khi sự sinh hoạt của Tăng đoàn tạm yên ổn, thành phần ác tăng, kẻ được chuyển hóa, kẻ bị lộ diện không nơi ẩn núp, đành tự rời đi, thì Đức Phật đã tạo điều kiện để tăng chúng phát khởi Bồ Đề Tâm.

    Và Pháp Hội Yêm La thành hình ở thành Ca Tỳ La Vệ.

    Nơi đây, hình ảnh Thế giới Tịnh Độ không phải chỉ là Tây Phương Cực Lạc, với ao thất bảo, với chim thuyết pháp, mà thính chúng trong Pháp Hội Yêm La không chỉ thụ động thính pháp. Tinh thần của Pháp Hội là thính chúng vừa được chứng kiến, vừa đóng góp vào sự nhiệm mầu của tương quan giữa cá nhân và tập thể. Pháp hội, với số lượng đông đảo hàng nhiều chục ngàn vị, đủ cả Phạm Thiên, Bồ Tát, Tỳ Kheo, nhưng tất cả đều nhận được lời Phật dạy, theo căn cơ và sở đắc riêng của mình nên tâm mỗi vị đều trở nên thanh tịnh. Mỗi tâm thanh tịnh đó đã tương quan với nhau, thành Thế Giới Phật Thanh Tịnh.

    Ở cõi Tịnh Độ này, sự quán tâm là chính.

    Ở cõi Tịnh Độ Tây Phương, lấy câu trì danh hiệu Phật A Di Đà làm chuẩn.

    Nhưng rốt ráo, quán tâm và trì danh hiệu Phật để làm gì? Có phải để đạt được đoạn trừ phiền não, tiến tới giải thoát nghiệp chướng, ra khỏi vòng sinh tử luân hồi?

    Cũng thế, theo căn cơ chúng sanh, Đức Phật dẫn dần tới cõi Tịnh Độ ở Kinh Hoa Nghiêm với tư tưởng đại thừa “Trùng trùng duyên khởi” và Kinh Pháp Hoa với lời hứa khả “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật”.

    Như thế, mọi điểm đi (hình thức) có khác, mà mọi điểm tới (kết quả) thì như nhau. Suy ra, hành giả chọn pháp môn nào, hướng về Thế Giới Tịnh Độ nào, cũng khởi từ tâm mình. Tu Thiền mà đạt tâm thảnh thơi thì cũng như tu Tịnh mà đạt tâm an lạc.

    Người tu thiền chạm vào công án “Người niệm Phật là ai?” có khác người tu Tịnh, kiên trì với từng chuỗi hạt “Nhất tâm bất loạn”?

    Một con chim bay ngang bờ hiên, cất tiếng gọi bạn, chợt đưa tôi về với tách trà, về với hai việc của ngày tuyệt vời là: Làm thinh và không làm gì cả!

    Nếu nhìn qua lăng kính tích môn, tôi đang làm thinh và không làm gì cả. Cái thân tứ đại vẫn đang ngồi yên, không nói và không làm.

    Nhưng nhìn qua lăng kính bản môn, nghĩa là nhìn sâu vào những bước đi của tâm linh, thì dường như tôi đang nói nhiều và làm nhiều.

    Khi tâm khởi lên hình ảnh những Thế Giới Tịnh Độ thì bỗng nhiên cái công án nổi tiếng “Niệm Phật thị thùy?” (Người niệm Phật là ai?) cũng đồng thời hiện ra. Công án này được coi là cây cầu nối liền giữa Thiền và Tịnh, mà một lần Sư Ông Làng Mai đã gợi ý, là người tu Tịnh mà giải được công án này thì sẽ trở thành thiền- sư.

    Không thấy ghi lại ở đâu, có hành giả tu Tịnh nào đã giải công án này, nhưng con đường tìm học, tự nó, không hề tự dựng nên rào cản nào. Hành giả mọi pháp môn, mọi căn cơ, trong lúc nâng tách trà, nhấp một ngụm, đều có thể bâng khuâng tự hỏi “Người niệm Phật là ai?”

    Người học Phật, đều biết trên Lý, rằng vạn hữu, gồm mọi người, mọi loài, đều biến diệt, đổi thay từng sát na. Lớn như hòn núi, đứng đó khi ta chưa sanh, còn đó khi ta chết đi, tưởng như nó vô sanh bất diệt. Nhưng sự thực nào phải thế! Sự biến chuyển, hao mòn của núi chỉ là quá chậm, quá nhỏ đối với kích thước của nó, khiến ta không thấy mà thôi. Rồi phải tới lúc, nó không là rặng núi, mà chỉ là ngọn đồi, tang hải hóa nương dâu, huống chi thân người mong manh! Cái gì biến hoại, cái đó là Vô Thường.

    Trái với núi, những biến diệt trên thân người có thể thấy thật gần, thật rõ. Tóc mới xanh, nay đã bạc, đẹp đẽ bao lâu, mà nay xấu xí, mới vừa khỏe mạnh, nay sao ốm o …. Phàm những gì đổi thay, thành hoại, cái đó là vô thường. Thân ta đã vô thường, còn chấp cái Ngã nào là ta không?

    Có một giai thoại khi hành giả về tham thiền, hỏi thiền sư Duy Khoang:

    -Thưa thiền sư, đạo ở đâu?

    Thiền sư buông gọn hai tiếng:

    -Trước mắt!

    Hành giả chau mày:

    -Con không thấy.

    Thiền sư tội nghiệp:

    -Vì ngươi đang bận nghĩ tới Ta và Người.

    Hành giả hào hứng, như câu giải đáp sắp tới đích:

    -Thiền sư thấy không?

    -Nếu ta cũng đang bận nghĩ về Ta và Người thì ta không thấy.

    Kiên nhẫn tới đây, hành giả tin rằng câu giải đáp phải ngay sau câu hỏi kế tiếp. Bèn hỏi:

    -Nếu không còn bận nghĩ gì về Ta và Người thì thiền sư có thấy không?

    Thiền sư cười lớn:

    -A ha! Khi tâm đã rỗng rang, không bận nghĩ gì về Ta và Người thì làm gì còn ai hỏi, để mà trả lời đạo ở đâu, thấy hay không thấy!

    Tách trà suýt rơi khỏi tầm tay khi giai thoại này bất ngờ tung một móc xích vào công án oái oăm :”Người niệm Phật là ai?”

    Khải bạch Như Lai,

    Trong Bát Nhã Bát Thiên Tụng, có đoạn: “Tâm Như Lai không trụ bất kỳ ở đâu. Không trụ trên các pháp hữu vi, không trụ trên các pháp vô vi. Do đó, không hề rời khỏi sở trụ.”

    Thiện tai! Thiện tai!

    Vậy thì, Sở Trụ này ở đâu? Phải chăng Sở Trụ này chỉ do Thức, khởi lên từ Vô Thức? Nó vốn Như Thị. Nó vốn Như Thế. Nó được gọi là Sở Trụ mà lại chẳng phải là Điểm Trụ; vì nếu là Điểm Trụ, nó sẽ là đối tượng chướng ngại, ngăn đường đến cảnh Phật! “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” Hãy để cho tâm tự tại khởi lên, can chi phải cố định nó ở nơi nào!

    Đến đây thì, người niệm Phật là ai?

    May quá, phút trước đỡ kịp tách trà; chứ không, phút này lấy gì thấm giọng mà hào sảng ngâm lên hai câu bất hủ của Thiền sư Chân Nguyên:

    Vì Người đưa một nét,
    Đầu núi ánh dương hồng.

    Nào hay, sức mạnh ngút ngàn vô song của nội lực trí tuệ tiềm ẩn trong mỗi tâm-sanh mới dũng mãnh nhường nào!

    Bình trà buổi sáng của kẻ phàm phu chưa cạn, đã thấy thấp thoáng bóng Ngài Trúc Lâm trên non Yên Tử, đang thong dong đãi khách một Thiền Trăng:

    “Bình xưa dốc nguyệt, trời khuya nấu trà!”

    (Tào-Khê tịnh thất một ngày tĩnh lặng)

  8. #68
    Tiếng chuông triêu mộ
    Võ Hồng

    Trong thơ văn Phật giáo có hai câu thơ quen thuộc:

    Thấy nguyệt tròn thì kể tháng
    Nhìn hoa nở mới hay xuân
    .

    Các bạn trẻ hôm nay có thể nghĩ rằng đó chỉ là văn chương, là nói quá, thậm chí là nói không thật. Không phải vậy đâu. Thời nay của các bạn, gần như nhà nào cũng có tờ lịch treo tường, có xấp lịch gở từng ngày một. Hồi xưa thì không. Năm mươi năm trước, ở mỗi làng chỉ có chừng hai nhà mua được cuốn lịch Tàu, ghi ngày tháng âm lịch. Cuốn lịch phổ biến trong dân gian là phiên chợ. Như ở vùng tôi, chợ Hôm họp mồng 1, mồng 6, 11, 16, 21, 26. Tiếp tới chợ Giã: mồng 2, mồng 7, 12, 17, 22, 27. Rồi chợ Ðèo: mồng 3, mồng 8, 13, 18, 23, 28. Chợ Thành: mồng 4, mồng 9, 14, 19, 24, 29. Chợ Sen: mồng 5, mồng 10, 15, 20, 25, 30 hay tháng thiếu thì 29.

    Với nhà Chùa thì ngày rằm được báo hiệu bằng mặt trăng. Tăng Ni nhìn trăng mà biết tháng, nhìn hoa mà biết mùa, vì các Chùa chiền đều nằm xa xóm làng, nằm ở chân núi hay lưng chừng núi, nằm ở cánh đồng heo hút xa xôi: Chùa Ðồng Mạ, chùa Ðồng Tròn, chùa Ðồng Tranh, chùa Bảo Sơn, chùa Ðá Trắng. Có cây xanh bao phủ xung quanh, có hồ sen, có chậu hoa, luống hoa trong sân, trong vườn. Hoa quí phải nở theo mùa như cúc, như mai..., hoa bình dân nở quanh năm như cây bông điệp, thân mạnh như cây keo, cây táo, mỗi khi có cúng kỵ bà con trong xóm lên chùa xin vài nhánh. Nhà quê không có lệ mua hoa cắm bình. Không dư tiền. Không ai dám nghĩ đến việc mua hoa, nên không có người bán hoa. Nhà chùa càng thêm gần gũi thân thiết với người nghèo. Chùa nằm ở chân núi thì người đi đường ghé chân nghỉ mệt, người lỡ bộ đường có thể ghé nghỉ qua đêm. Nhà chùa nằm ở cánh đồng thì anh đi cày, chị đi cấy, trẻ chăn bò ghé xin nước uống, mượn chỗ nằm nghỉ lưng ở hiên sau, ở chái liêu. Cửa tam quan suốt ngày không đóng. Thánh đường nhiều tôn giáo thường đi theo sát tập thể quần chúng, nhằm hoàn thành công tác mục vụ. Chùa chiền Phật giáo thì không. Như cố ý lánh xa, như gắng tìm một thâm sơn, xích gần lại với thiên nhiên, núi rừng, nên khi người tìm đến thì đồng thời cũng là dịp người gắn với thiên nhiên. Cùng với tiếng chuông và tiếng tụng niệm, màu xanh của cây lá, sự tĩnh mịch của đá của đất, sự bao dung của khoảng rộng trời cao cùng góp phần giải khổ, cùng nhẹ thổi niềm an vui, niềm hy vọng, niềm tin.

    Bà con nông thôn gần gũi với chùa, thương kính ông Phật, không phải vì hiểu biết giáo lý Phật giáo. Những tiếng Tam quy, ngũ giới, Thập nhị nhân duyên... đa số không biết, không hiểu, mà chỉ biết nhìn theo các Thầy mà làm lành lánh dữ, cố gắng theo gương các Thầy mà bớt phạm sát sinh. Triết lý vốn sáng mà lạnh. Rất hay để nói, rất êm để nghe, mà phàm nói hay thì thường ít làm. Thì hãy cứ vui hồn nhiên như người đàn bà kia, tin rằng lễ Phật xong, đem tiền phát cho những người nghèo ngồi đợi xin ở bậc thềm trước chùa là lúc chết sẽ được Phật dắt về Tây phương Cực lạc.

    Trong thời gian làm nghề dạy học, tôi có dạy ở một trường trung học Bồ đề, được dạy cho các Tăng Ni. Lúc vãn niên, mỗi khi có vị Tăng Ni nào đến thăm là tôi dạy đứa cháu ngoại vốn rất cứng đầu nghịch phá phải đứng nghiêm thủ lễ, chắp tay cúi đầu mà "A Di Ðà Phật". Nó tuân lời, không miễn cưỡng. Tôi đã hiểu đúng tâm lý màu áo lam áo nâu, trang nghiêm thanh đạm, giọng nói khoan hòa, cử chỉ từ tốn... đã chinh phục nó. Phần tôi, mỗi lần có Ðại đức hay Ni cô tới thăm, khi ra về tôi xin phép được đưa tiễn đến tận cổng, ra lề đường rồi chắp tay cúi đầu xá nhiều cái. Vì Ðại đức, Ni cô thường là học trò cũ, tôi phải giải thích:

    Tôi muốn biểu lộ sự tôn kính đối với một vị tu hành khổ hạnh. Cho dầu vị ấy trẻ. Tôi biết nhiều người đang nhìn chúng ta, và xã hội chung quanh thì đang ùn ùn nhiều tệ nạn, thói hư tật xấu.

    Ðạo Phật hiện diện trầm lặng trong ta. Câu chuyện năm người mù sờ voi, tôi đọc hồi học tiểu học, trong cuốn sách tập đọc viết bằng tiếng Pháp, sau này mới biết đó là truyện cổ Phật giáo. Truyện người đàn bà có con chết, khóc lóc van lạy xin Ðức Phật cứu sống con. Phật dạy: "Hãy lấy tro bếp nơi nhà nào không có người chết, đem về đây ta sẽ cứu cho". Truyện Mục Kiền Liên, ở một kiếp nào đó là một người mê vợ đẹp. Vợ thuê người dắt mẹ Mục Kiền Liên đem bỏ trên núi cho chết đói, nhưng bà cụ dẫu mù mắt cũng lần về được. Lần này vợ sai chính Mục Kiền Liên dẫn mẹ lên núi và bắt phải đánh cho chết. Nào ngờ Mục Kiền Liên vừa đập một gậy thì mẹ kêu lên: "Con ơi, chạy lẹ đi! Kẻo cướp nó đánh chết!".

    Ðạo Phật hiện diện êm đềm quanh ta. Trong một thời gian dài, cứ chặng năm giờ sáng là nằm trong giường tôi nghe tiếng gõ mõ tụng kinh của ông láng giềng phía sau nhà. Bốn giờ sáng, bà con khu Hồng Bàng - Xóm Mới nghe tiếng chuông của chùa Linh Thứu. Bà con xóm Mã Vòng - Phường Củi nghe tiếng chuông chùa Long Sơn. Bà con Ðồng Nai nghe tiếng chuông Phật Học Viện. Những bà con phải sống xa quê hương, ngoài nỗi nhớ cô bác họ hàng, ngôi nhà tổ tiên, khu vườn cây lá, ắt có lúc chợt nhớ những hương thơm của hoa bưởi hoa cau, tiếng con trâu, con nghé ọ kêu mẹ, tiếng mái chèo khua nước trên sông, tiếng gà gáy vang lại từ thôn xóm xa..., và tiếng chuông chùa.

    Những năm sau này tôi có nhận dạy ở lớp chuyên khoa của Viện cao đẳng Phật Học miền trung. Ði từ nhà đến Phật Học Viện, tôi thẩn thờ đếm bước một mình trên con đường đất đỏ uốn lượn ở đầu núi. Những bụi cây mọc theo ven lối đi, không hàng lối, mạnh ai nấy mọc.. Những bụi cây âm thầm. Những doi đá nằm lấn ra, những khe suối khoét lõm vào. Tiếng chim nói chuyện với nhau chi chích trong các bụi rậm, ở trước mặt, ở bên phải, bên trái. Mùi thơm của lá, của hoa thoang thoảng. Vừa giã từ thành phố trong năm phút, mắt tôi, tai tôi đã được nghỉ ngơi trong khung cảnh hoang sơ này.

    Mỗi tuần một lần như vậy, tôi được gần gũi với thiên nhiên, và tâm hồn tôi bỗng được buông xả, nhẹ nhàng. Lắm lúc tôi quên mất hiện tại mà trở về hồi nào không hay, cái tâm trạng của một đứa nhỏ mười tuổi, mười hai tuổi, say mê màu xanh của lá, màu trắng màu vàng của hoa và mùi thơm ngai ngái của nhựa cây.

    Con đường càng gần đến Phật Học Viện càng thêm âm u râm mát. Những cây cao lặng yên tỏa bóng hiền lành. Tôi leo lên con dốc nhỏ, bước qua cái cổng gỗ. Nơi đây bắt đầu giang sơn của các bụi hoa và những thân cây có danh tính. Những cây quỳnh lá xanh óng ả. Những giò phong lan đong đưa trên cành cao. Bụi trúc lá nhảy lăn tăn theo cơn gió dưới đồng thổi lên. Những chậu hoa tỉ muội, hoa đơm đỏ thắm từng chùm.

    Tôi không phải là người văn cảnh, không phải là khách nhàn du, dưới tay tôi là một cặp sách. Tôi sắp có hai giờ dạy, buổi học bắt đầu bằng ba hồi niệm Phật, và chấm dứt bằng bốn câu kệ:

    Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
    Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
    Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
    Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.


    Mỗi lần chắp tay lắng nghe các Tăng Ni niệm bốn câu kệ, lòng tôi xúc động rộn ràng. Có hôm cơ hồ muốn rơi nước mắt khi nghe tụng tới câu PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ÐOẠN. Tôi muốn cất tiếng kêu lên: "Ðức Phật ơi, hãy giúp giùm cắt đứt mọi phiền não bủa vây tâm hồn con. con đang cô đơn biết bao".

    Tôi không là Phật tử. Không biết tụng kinh. Nhưng tôi lại dễ xao xuyến dạt dào mỗi lần nghe tiếng kinh tiếng mõ. Những lúc đó tôi tự nhiên trút bỏ mọi ảo vọng ở đời mà cuối nhìn xuống thân phận yếu đuối nhỏ mọn của mình. Chỉ một hơi thở thôi, cuộc đời chỉ có nghĩa là một hơi thở mà thôi, rất nhẹ và rất mong manh. Chỉ cần hơi thở ngừng lại nửa phút là giũ bỏ tất cả.

    Như vậy, những buổi chiều thứ sáu đối với tôi có một giá trị tinh thần không nhỏ. Và con đường sỏi đá lượn quanh co trên đầu núi là một loại con đường hành hương dẫn tôi đi vào cái khung cảnh thanh khiết, nơi đó tôi gạn lọc các ô nhiễm kết tập trong suốt một tuần lễ, từ cái thành phố sống đầy bụi bặm dưới kia.


    .

  9. #69
    https://vietbao.com/images/file/VUUc...qua-bo-kia.jpg

    Đọc "Thiền Tông Qua Bờ Kia" của Nguyên Giác Phan Tấn Hải
    BÍCH NGA

    Ông Nguyên Giác Phan Tấn Hải sinh ngày 22 tháng Hai, 1952 tại Sài Gòn. Hiện là chủ bút của tờ Việt Báo ở Nam California và trang tin vietbao.com. Ông đang cư ngụ tại Westminster, Quận Cam. Ông từng cộng tác với nhiều báo như Tập San Nghiên Cứu Triết Học (Đại học Văn Khoa, Sài Gòn), Tự Thức, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Việt Báo, Tạp chí Giao Điểm, Giác Ngộ và nhiều báo khác. Ông từng góp bài trong một số tuyển tập Văn học nhiều tác giả.

    Ông xuất bản cả thảy chín cuốn sách về Phật Giáo và Thiền. "Thiền Tông Qua Bờ Kia" là cuốn sách thứ mười. Sách dày 345 trang, ấn loát rất mỹ thuật theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, do Ananda Viet Foundation xuất bản và Amazon phát hành.

    Trong lời thưa, tác giả viết rằng, "Tác phẩm được viết trong hạnh phúc vô cùng tận, và tác giả muốn chia sẻ hạnh phúc với độc giả trong nỗ lực đọc lại lời Đức Phật dạy."

    Trong phần giới thiệu, cư sĩ Tâm Diệu thuộc Thư Viện Hoa Sen, cho biết, "Thiền Tông Qua Bờ Kia là một tuyển tập về các pháp hành Phật giáo với nhiều điểm giống nhau rất cơ bản giữa các trường phái, bộ phái, qua đó tác giả khảo sát về các phương pháp tu tập trong Phật Giáo, từ đơn giản đến phức tạp. Đơn giản như pháp thiền hơi thở đến phức tạp như pháp thiền trong Kinh Nhật Tụng Sơ Thời khi Đức Phật còn tại thế, nhưng phần lớn các pháp thiền thuộc dòng Thiền truyền thừa được lưu truyền từ các tổ sư."

    Cư sĩ Tâm Diệu nhận xét, "Trước khi đi vào các pháp môn tu tập phức tạp, tác giả dành nửa đầu cuốn sách để nói về sự lan tỏa pháp thiền chánh niệm, từ núi rừng về thành thị, từ Á sang Âu, sang Mỹ; từ chùa, viện len vào trường học, nhà giam, đến công sở, quốc hội và chính quyền lẫn quân đội… Hiện nay tại Bắc Mỹ và Châu Âu, Thiền Phật Giáo được các nhà giáo dục và khoa học lược bỏ phần giáo lý để còn lại pháp Chánh Niệm nhằm đáp ứng nhu cầu cho tất cả mọi người không phân biệt tuổi tác, giới tính và tôn giáo."

    Tuy nhiên, theo cư sĩ Tâm Diệu, tác giả cũng không quên nhấn mạnh đến Giới, bước đi đầu tiên trong ba môn học của nhà Phật: Giới, Định và Huệ. Nhất định là phải giữ giới trước. Nếu không có giới chẳng thể tu thiền được cũng như không có huệ được. Giới sinh Định và Định sinh Huệ. Tác giả cho rằng việc giữ giới là quan trọng nhất. Giữ giới là ưu tiên hàng đầu, không những cho hàng xuất gia mà còn cả hàng Phật tử tại gia nữa. Giới còn thì Đạo Phật còn. Thực hành thiền Chánh Niệm hay bất cứ pháp hành thiền nào một cách miên mật tức là giữ giới (thiền giới).

    Để khẳng định như thế, tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải hỏi rằng, "Suốt 2,000 năm hầu như không tu thiền Vipassana, tại sao Phật giáo vẫn gắn bó với rất nhiều dân tộc? Hiển nhiên, đó là do chư tăng nghiêm túc giữ giới, học kinh. Hãy hình dung, nếu quý Thầy phá giới, Phật giáo có thể biến mất chỉ trong vòng vài thập niên. Nhưng khi quý thầy giữ giới và tụng đọc kinh điển, Phật giáo vẫn trường tồn suốt hai thiên niên kỷ trong khi thiền tập "bị bỏ lơ và bị bỏ quên." (Bài thứ 12)

    Vậy pháp Chánh Niệm hiện nay đang thực hành phổ thông tại các trường học ở Úc, Hoa Kỳ, Canada và Anh như thế nào? Cô giáo Jen Leslie hướng dẫn 21 em trong một lớp tập thiền đơn giản (áp dụng từ lớp tiền-mẫu-giáo cho hết lớp 5). Cô nói, "Các em hãy chú tâm vào hơi thở, hơi vào và hơi ra nơi mũi. Nếu muốn, có thể nhắm mắt. Ghi nhận lồng ngực phồng lên và xẹp xuống với từng hơi thở vào và ra."

    Ngoài thiền Chánh Niệm đi vào các trường học, Thiền tập cũng đang được huấn luyện trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng, theo tác giả họ chỉ áp dụng một phần nhỏ pháp thiền Phật giáo là "giữ tâm tỉnh thức không phán đoán." Là khi đi thì biết là đi, khi ngồi thì biết là ngồi, khi niệm khởi thì biết là niệm khởi, khi niệm diệt thì biết là niệm diệt… chỉ quan sát chuyển biến ở thân thọ tâm pháp, mà không cần phán đoán đúng hay sai. Chánh niệm là chỉ biết mà không có sự phân biệt.

    Bắt đầu từ bài thứ 14, tác giả đưa người đọc đi tìm pháp hành. Pháp hành phổ biến hiện nay ngoài pháp hành chánh niệm như đã trình bày ở trên còn có pháp "ở đây và bây giờ" mà người đọc thường biết đến là "Hiện Pháp Lạc Trú." Đức Phật dạy rằng: "Quá khứ không truy tìm. Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận. Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại. Tuệ quán chính ở đây."

    Câu hỏi được tác giả đặt ra là: "Có phải pháp hiện tại mà Đức Phật nói đến là bây giờ và ở đây? Có thực rằng chánh niệm là để tâm vào 'bây giờ' được không? Khi mà thực tướng cái 'bây giờ' là ảo tưởng, và cái 'ở đây' thực ra là mơ hồ, vì không chỉ rõ ở đâu trên thân và tâm, vì chúng ta chỉ có thể để tâm vào cái 'ở thân' hay 'ở tâm,' hay chỉ có thể để tâm vào cảm thọ (niệm thọ) hay vào hơi thở (một phần của niệm thân)."

    Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết đoạn kinh này hay những đoạn kinh tương tự khác đều có nghĩa là "buông bỏ cả ba thời." Hãy giữ tâm vô sở trụ, đừng dính mắc tâm vào quá khứ, hiện tại hay tương lai. Chính Đức Phật đã dạy như thế trong Kinh Pháp Cú kệ 348 và Kinh Kim Cương.

    Từ "Hiện Pháp Lạc Trú" với ý nghĩa buông bỏ, tác giả đưa người đọc về với pháp tu không có gì để nắm giữ, một pháp tu khá phức tạp. Nói là pháp tu nhưng thực ra theo Thiền Tông, là không có một pháp tu nào hết. Cốt yếu chỉ là giữ tâm vô sở trụ. Không trụ vào bất kỳ nơi đâu, không trụ vào bất kỳ pháp nào, xa lìa tất cả những dính mắc. Chỉ cần buông bỏ hết thân và tâm.

    "Thiền Tông Qua Bờ Kia" cho độc giả biết pháp "Ưng Vô Sở Trụ" trong kinh Kim Cương có mặt từ thời kỳ bình minh của Phật Giáo qua kinh Atthakavagga và kinh Parayanavagga tức kinh "Con đường đến bờ bên kia." Hai kinh này được tìm thấy trong hệ Pali, Kinh Tiểu Bộ và được các nhà học Phật xếp vào thời kỳ Phật Giáo Sơ Thời (Early Buddhism). Có một điều đặc biệt là các kinh này không mở đầu với câu "Như thị ngã văn" và thường là những kinh ngắn gọn, trực tiếp, không nói gì về Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thiền, Thất Giác Chi.

    Có thể nào độc giả ứng dụng pháp tu này trong đời thường?

    Tác giả cho biết rất dễ dàng. "Đức Phật dạy rằng hãy luôn tỉnh giác, hãy nhìn thế giới là rỗng rang không thực tướng, và hãy ưng vô sở trụ. Cốt tủy là như thế. Bây giờ, bạn hãy lắng nghe dịu dàng từng hơi thở của bạn, tuổi thọ chúng ta đang ngắn dần từng hơi thở đó. Bạn hãy lắng nghe dịu dàng từng hơi thở xem, hãy cảm nhận vô thường đang ngấm vào ngay nơi hơi thở đó… Ngay khi bạn tu như thế, tức khắc là an lạc."

    Cư sĩ Tâm Diệu kết luận rằng, "Điều chúng tôi cảm thấy thích thú là cuốn sách này trình bày rõ ràng nhiều điểm giống nhau rất cơ bản giữa tất cả các trường phái và tông phái Phật giáo. Chúng tôi xin chúc mừng Cư sĩ Nguyên Giác về tác phẩm này với công trình khảo sát và dịch thuật rất cẩn trọng của ông. Chúng tôi cũng ước mong độc giả sẽ tìm được lời hướng dẫn - và nguồn cảm hứng để chọn cho mình một pháp hành. Vì chỉ có pháp hành mới giúp cho hành giả chúng ta an trú tâm và an tịnh nội tâm."

    Các tác phẩm đã xuất bản:

    - Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ - 1990
    - Thiền Tập - Biên dịch
    - Ba Thiền Sư - Tác giả: John Stevens, Nguyên Giác dịch Việt
    - Chú Giải Về Phowa - Tác giả: Chagdud Khadro, Nguyên Giác dịch Việt
    - Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn
    - Cậu Bé Và Hoa Mai - Tập truyện ngắn
    - Ở Một Nơi Gọi Là Việt Nam - Tập thơ
    - Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh - Tập truyện ngắn
    - Teachings From Ancient Vietnamese Zen Masters
    - Teachings and Poetry of the Vietnamese Zen Master Tue Trung Thuong Sy (1230-1291) (Song ngữ)
    - Tran Nhan Tong (1258 - 1308): The King Who Founded A Zen School (Đức Vua Sáng Tỏ Một Dòng Thiền) Song ngữ
    - The Zen Teachings of Master Duy Luc (Song ngữ)
    - Thiền Tập Trong Đời Thường

  10. #70
    BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG, NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN
    Phùng Annie Kim

    Năm 2008, trong chuyến về Việt Nam ngày mùng 4 Tết, gia đình tôi tổ chức du lịch thăm Tứ Động Tâm tại Ấn Độ. Sư cô chùa A-Di Đà tại Mỹ nhờ tôi mang chút quà sang cho sư em là Thầy Chiếu Tuệ tại Bồ Đề Đạo Tràng. Tại đây, nơi bệ thờ Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng tôi đã gặp lại người du tăng đang tu học ở Ấn Độ nay có pháp hiệu là Thích Tánh Tuệ. Sau nhiều năm không gặp, Thầy vẫn trẻ, vui vẻ, tươi cười trong chiếc y vàng, chào đón hai người khách hành hương thân tình năm xưa.

    Cái duyên đến xứ Phật không dừng tại đó. Năm 2016 tôi đi với Chị NC về miền Nam Ấn thăm các tu viện lớn của Tây Tạng, dự lễ đăng quang của Ngài Tukku, dự sinh nhật của Đức Đạt Lai Lạt Ma, dự các buổi giảng pháp của các Ngài tu viện trưởng. Năm nay 2019, sau chuyến đi Bhutan một tuần lễ với Thầy, tôi lại có duyên theo Thầy và đoàn hành hương khỏang 50 người tiếp tục đến Bồ Đề Đạo Tràng tu tập và thăm vài thánh tích.

    Trong kinh Phật có viết rằng ai đó trong đời may mắn một lần đến xứ Phật, có công phu tu tập và hành trì giới luật, có niềm tin thanh tịnh, khi rời khỏi thân xác này sẽ đến những cảnh giới tốt đẹp hơn thay vì phải đọa lạc vào tam đồ ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Lần này đến Bồ Đề Đạo Tràng là cơ hội để tôi tu tập và thực hành những gì mình thọ nhận từ các bài Pháp, để nhìn lại mình ở lứa tuổi “thất thập cổ lai hy” đã buông bỏ những gì, chuẩn bị tư lương là những gì cho một chuyến đi xa. Trên hết, tôi trở về Bồ Đề Đạo Tràng như người con đi xa nhớ về một quê hương tâm linh cội nguồn mà mình đã lãng quên.

    Các tôn giáo trên thế giới đều có các thánh địa và các thánh tích ghi lại cuộc đời hay hành trạng của vị giáo chủ như đạo Thiên Chúa có Jesusalem, Lourdes, Rome, đạo Hồi có Mecca, Đạo Phật có Bồ Đề Đạo Tràng. Là một thánh tích có ý nghĩa lịch sử, nơi đây chứng kiến sự giác ngộ của một con người có thật, một vị hoàng tử bỏ ngai vàng đi tu và trở thành một vị Phật. “Budha”, Phật hay Bụt có nghĩa là người giác ngộ.

    Tại phi trường, Ama, hướng dẫn viên du lịch Ấn Độ gắn bó với Thầy trong nhiều chuyến hành hương “Theo Dấu Như Lai” trước đây, anh cùng với hai sư cô Huệ Lạc và An Phụng ra đón đoàn với vòng hoa vạn thọ quàng vào cổ từng người. Đoàn chúng tôi lên xe về khách sạn, lãnh chìa khóa về phòng nghỉ ngơi, sau đó ăn trưa. Từ khách sạn đến Bồ Đề Đạo tràng đi bộ chỉ mất 10 phút, đi xe lam chỉ mất 50 rupee cho một cuốc xe bốn người. Chương trình chiều nay sẽ có họp mặt và tu tập đầu tiên tại tháp Đại Giác lúc 5 giờ.

    Về lại xứ Phật nơi đức Phật sinh ra, tu hành, giác ngộ và hoằng pháp, lòng tự hỏi phải chăng đây là đại nguyện phổ độ chúng sinh của Ngài vì Ngài sinh ra nơi đất nước đông dân hạng nhì thế giới có cảnh nghèo thâm căn cố đế, nơi có sự phân chia giai cấp rõ rệt, có sự phân biệt nam nữ mà khi còn sinh tiền khi đi hoằng Pháp, Ngài đã làm một cuộc “cách mạng” muốn thay đổi trật tự xã hội, tạo sự bình đẳng cho giai cấp bần cùng và những người hạ tiện bị xã hội coi rẻ như thu nhận người thợ hớt tóc U-Ba-Ly vào tăng đoàn, độ cho vũ nữ Ambapali đắc quả A-La-Hán, độ cho bà lão nghèo có vài xu mua dầu cúng Phật, thành lập ni đoàn tỳ kheo đầu tiên của bà Kiều Đàm Di...

    Trở về thăm lại Bồ Đề Đạo Tràng, thánh tích có nhiều thay đổi làm cho lòng người buồn, vui lẫn lộn xen lẫn chút bâng khuâng. Vui vì thấy người đông, nhà cửa xây dựng nhiều, hàng quán buôn bán sầm uất, xe lam và xe kéo ồn ào, tấp nập, người lên kẻ xuống không lúc nào ngớt. Bâng khuâng khi nhìn lại “cảnh cũ người xưa”. Đội quân bán dạo từ khắp nơi ùa ra, kẻ mua người bán, kẻ chào mời, người trả giá các mặt hàng như hoa cúng Phật, các hình tượng Phật, các lá bồ đề ép khô, các vòng, chuỗi... Nền kinh tế của quận Gaya lấy nguồn lợi từ các khách du lịch đến Bồ Đề Đạo Tràng xem ra có vẻ khấm khá nhưng nhìn chung trên nét mặt những người bán dạo này đầy nét mệt mỏi và ưu tư.

    Tôi hoa mắt trong thế giới mua bán ta bà và ngôn ngữ Ấn Độ khi thấy chiếc xe kéo chở đầy các tượng Phật, những người bán dạo lam lũ vây quanh, xòe ra trước mặt tôi các hình ảnh, tôn tượng đủ loại Phật lớn, Phật nhỏ, Phật đứng, Phật ngồi. Thế mà Ngài vẫn yên lặng nhìn chúng sanh với nụ cười từ bi. Ngài bao dung với những bàn tay vung vẩy mời chào. Có lẽ Ngài đã thấu hiểu nỗi khổ cực của kiếp người đang phải vật lộn để mưu sinh.

    Thật là nghịch lý trong khi chúng tôi phải bỏ ra hàng ngàn đô-la đến đây để đảnh lễ Phật, tìm an lạc và sự giải thoát trong sự tu tập và hành trì theo giáo pháp của Phật thì chúng sanh nơi đây sinh ra tại xứ Phật nhưng không biết gì về giáo lý của Ngài, xem Phật như một vị thần thứ chín trong hàng trăm các vị thần khác. Họ chưa đủ thiện duyên và phước báu để được nghe và hiểu thấu được bài giảng đầu tiên tại xứ Phật là một chữ “khổ” mà nhiều đời nhiều kiếp họ phải chịu đựng. Họ không biết hơn 2600 năm trước, hình tượng vị giáo chủ họ đang cầm rao bán trên tay đã mất năm tuần lễ đi bộ từ Bồ Đề Đạo Tràng đến vườn Lộc Uyển giảng bài Pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế. Vị giáo chủ này đã nêu lên một chân lý về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ. Âu cũng là định nghiệp của cá nhân, xã hội và đất nước Ấn Độ khi giáo pháp của Đức Thế Tôn đã bị ngoại đạo tiêu diệt ở xứ sở này.

    Trước mắt tôi là một đội quân đi xin để kiếm ăn. Họ là những người nghèo, đói, xơ xác đến tận cùng của xã hội nghèo, không hơn gì cái nghèo đói trơ xương của người dân Phi Châu. Đó là những người tàn tật mất tay hoặc mất chân hoặc không còn tay chân. Trên mặt đường đầy cát bụi và rác rưởi, họ bò, lăn, lê, lết hoặc bám trên những miếng gỗ. Tay chân họ đen đủi, da dẻ trầy xước, sưng đỏ, chảy máu hoặc mốc đến trắng xát nhưng miệng vẫn không ngớt nài nỉ, van xin vài đồng rupee.

    Họ là những đứa trẻ trai gái đủ mọi lứa tuổi, quần áo sờn rách, gầy ốm, nhếch nhác, bẩn thỉu, tóc rối như rơm, hai tay gãi đầu liên tục. Đứa nào đứa nấy da ngăm đen, khuôn mặt ngây thơ, đôi mắt sáng, to, hai hàng mi dài cong vút. Chúng nhanh như chớp vừa thấy khách hành hương là chạy ùa theo và chìa tay lẽo đẽo xin tiền. Chúng kiên nhẫn theo đến tận nơi khi nào khách động lòng thương hoặc muốn yên thân đành phải móc tiền ra cho. Nếu lỡ cho rồi thì khách phải đi nhanh kẻo một đội quân “nhí” khác sẽ dí theo đến tận xe lam hay trên đường về.

    Đó là những bà mẹ mang thai đi xin ăn, bụng to, ngồi ngửa tay, đôi mắt tha thiết hướng về khách qua lại, miệng niệm A-Di-Đà-Phật vì biết khách hành hương là những người Việt Nam. Chung quanh bà là những đứa con lăng xăng chạy theo đám người lớn xin tiền, may mắn có được đồng rupee nào, chúng hí hửng chạy về xà vào bên mẹ, khoe tiền rồi chạy đi xin tiếp.Tôi tự hỏi đứa bé nghèo khổ từ trong bụng mẹ sắp ra đời kia khi lớn lên tương lai rồi sẽ ra sao? Nó sẽ tiếp tục cái nghề cùng mạt này của gia đình từ bao nhiêu thế hệ. Sự phân chia giai cấp có từ thời đức Phật đã làm cho giai cấp nghèo khổ bần cùng của xã hội Ấn Độ sẽ không bao giờ có cơ hội đổi đời và thăng tiến cũng như quyền lợi của giai cấp cao sang quyền quý lãnh đạo sẽ không bao giờ chấp nhận sự thay đổi này.

    Hàng ngày, mỗi buổi sáng tôi thường vén màn nhìn xuống sân khách sạn để thấy cảnh một gia đình chùm nhúm nhau đi xin ăn. Ông bố ngồi trên chiếc nạng gỗ ở vệ đường, thỉnh thoảng lết vào đưa cho đứa con gái khi thì miếng bánh, khi thì trái chuối. Bà mẹ trẻ gầy guộc, lam lũ, có đứa con còn bú trên tay. Bà đặt đứa bé nằm ngửa, đứa bé giẫy giụa trên chiếc xe đẩy bằng gỗ. Con chị ngồi bên góc trái chơi với đứa em. Thằng anh trai dáng người nhỏ xíu, hai chân có tật, miệng ú ớ, nằm cong vòng cạnh hai đứa nhỏ. Bà mẹ đẩy ba anh em co cụm trong chiếc xe gỗ, dừng lại trước cổng khách sạn và ngồi đúng vào cái chỗ có bóng mát để xin tiền. Bà đang niệm A-Di- Đà- Phật mỗi khi có khách hành hương ra vào.

    Kinh nghiệm của Thầy và những người đi trước đã dặn kỹ rồi nhưng lòng từ bi vẫn lấn át lý trí. Khách hành hương lần đầu tiên đến Ấn Độ thấy cảnh khổ phát lòng thương bố thí cho những người ăn xin đông như thế không tránh khỏi bị phiền nhiễu. Bố thí chưa thấy phước báu đâu đã thấy lòng mình dấy lên cái tâm sân bực bội. Bố thí mà lòng không thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì hối hận khi cho người này trong khi người kia đáng thương hơn. Bố thí mà tâm sợ hãi khi thấy họ tranh giành, cãi lộn, đánh nhau vì mấy đồng rupee. Bố thí mà cái tâm tính toán kẻ cho nhiều người cho ít. Bố thí mà lòng nặng trĩu vì bàn tay nhỏ bé của mình không che lấp được nỗi khổ trùm khắp nơi thánh địa này. Thầy chỉ cho cách bố thí tốt nhất là nhờ Ama gọi những người ăn xin tụ tập trật tự trước sân khách sạn vào giờ nhất định rồi cho tiền một lần, đồng đều, cùng một lúc. Họ hoan hỉ. Chỉ cần 150 rupee tức khoảng hơn 2 đô-la là ngày đó họ không bị đói.

    Có đi để thấy phước báu của mình có được ngày hôm nay không do một ai ban phát cả mà là chính mình tạo tác. Luật nhân quả từ vô lượng kiếp của đạo Phật giải thích tất cả sự khác biệt giữa con người với con người tại sao có người sinh ra tại đất nước giàu như nước Mỹ, có kẻ sinh vào xứ nghèo như làng Bihar? Tại sao có người giàu như tỷ phú, có người không có ăn phải lê lết đi xin từng rupee sống qua ngày? Tại sao có kẻ đẹp người xấu, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, kẻ khỏe mạnh người bệnh tật, kẻ thông minh người ngu dốt ...? Bao nhiêu câu hỏi tại sao đạo Phật lý giải bằng một chữ “nghiệp”.

    Ngày xưa khi đi qua đèo Ngang nhớ về cố đô Thăng Long một thời hưng thịnh của các triều đại phong kiến, bà huyện Thanh Quan cảm tác về sự đổi thay “...Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”nay chỉ còn là “Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” thì trái lại tại Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đây “nền cũ”, đền đá của ngôi tháp vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” và các đoàn hành hương vẫn đến chiêm bái mặc dù trời đã về chiều.

    Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) nằm bên bờ sông Ni Liên Thuyền trong ngôi làng nhỏ, chung quanh là rừng nơi đó có khu rừng đức Phật đã tu 6 năm khổ hạnh nay là thánh tích Khổ Hạnh Lâm. Về Bồ Đề Đạo Tràng để tưởng niệm hình ảnh Đức Thế Tôn được thờ tại Tháp Đại Giác ( Mahabodhi Temple). Đây là ngôi tháp được vua A Dục xây vào khoảng 250 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn. Tháp hình vuông, có chiều dài bốn bên mỗi bên dài khoảng 15 mét, đầu tháp hình nhọn, kiến trúc trang nhã, xây bằng gạch đá xanh, cao 55 mét bao bọc chung quanh là 4 tháp nhỏ. Tháp không lớn lắm, trên tháp thờ xá lợi Phật, dưới là ngôi chánh điện thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khoác y vàng. Có một vị sư quen với công việc trông coi ngôi chánh điện, đón nhận và thay những chiếc y và hoa của các đoàn hành hương đến đảnh lễ và cúng dường. Bên ngoài tháp, chung quanh là một khuôn viên rộng gần 5 mẫu thờ các hình tượng Phật, Bồ Tát và các vị thần khắc trong các hốc đá được dát bằng vàng. Nhìn chung quanh tháp có các cột, cổng chính, các cửa sổ được chạm trổ hình hoa văn, khảm xà cừ và các loại đá quý. Các dãy hành lang chạy dài, nơi đó các đoàn hành hương đi kinh hành, các vị sư ngồi Thiền, tụng niệm hay cầu nguyện.

    Đứng bên giòng sông Ni Liên Thuyền, chung quanh là các Phật tử, Thầy có dịp nói về địa điểm địa lý này phù hợp với các sự kiện lịch sử trong kinh điển. Nơi đây chứng kiến một sự kiện quan trọng đó là con đường đi của nhà tu khất thực Tất Đạt Đa, sau khi từ bỏ lối sống khổ hạnh tại Khổ Hạnh Lâm, Ngài thọ nhận bát cháo sữa cúng dường của nàng Sujata gần đó, Ngài đến tắm gội tại bờ sông Ni Liên Thuyền ( Neranjara) trong thành phố Gaya, Ngài tiếp tục đi đến Bồ Đề Đạo Tràng ngồi thiền 49 ngày đêm dưới bóng cây Bồ Đề và giác ngộ như lời đại nguyện.

    Về Bồ Đề Đạo Tràng, nhìn về phía Đông cách ngôi tháp khoảng 5 mét là cây Bồ Đề lịch sử, hậu duệ đời thứ năm của cây Bồ Đề nguyên thủy được vua A Dục trồng vào năm 260 BC. Trải qua bao biến cố thăng trầm, bị tàn phá, tiêu diệt, hủy hoại vì thiên tai, chiến tranh và lòng tham ác của con người, năm 1881, cây Bồ Đề này được một nhà khảo cổ người Anh Alexandre Cunningham dùng hạt giống trồng lại. Tiếp tục mầm sống của cây Bồ Đề tổ tiên, ngày nay cây vẫn đâm chồi nẩy lộc, phát triển tàn lá sum suê. Hình ảnh 2600 năm trước, cây Bồ Đề đã từng che bóng mát cho Phật ngồi thiền và thành đạo. Cho đến bây giờ, cây Bồ Đề mãi mãi là niềm tin bất thối chuyển của các tín đồ Phật giáo, ở đâu có cây Bồ Đề là có Phật. Cây Bồ Đề còn là biểu tượng sức sống của đạo Phật tuy không còn phát triển tại xứ Ấn Độ nhưng cành lá của nó đã lan tỏa, vươn rộng sang các phương trời Âu Mỹ.

    Dưới cội Bồ Đề là một di tích lịch sử tên gọi là Kim Cang Tòa bằng đồng, mạ vàng, dài khoảng 3 mét, rộng hơn 1 mét, khắc các hoa văn trang trí mỹ thuật. Đây chính là nơi đức Phật đã ngồi Thiền và thành đạo cách đây 2600 năm.

    Bồ Đề Đạo Tràng còn là một chứng tích được các nhà khảo cổ xác nhận và trong kinh điển có ghi đó là chiếc hồ Mucalinda nơi đó có hình ảnh rắn thần Mucalinda dùng đầu to che đức Phật trong một đêm mưa gió, sấm sét, Ngài đã ngồi thiền bất động và an nhiên suốt bảy ngày vào tuần lễ thứ sáu.

    Qua cổng an ninh khám người và túi xách, chúng tôi theo con đường dẫn vào bên trong tháp, tập trung tại phòng tiếp tân, bỏ giày dép bên ngoài, mặc áo tràng, sắp thành một dãy dài, tâm ý thanh tịnh, vừa đi vừa niệm Phật. Từng bước chánh niệm theo tiếng tụng niệm của Thầy và các sư cô, chúng tôi vào nơi chánh điện đảnh lễ Phật rồi đi kinh hành ba vòng quanh Tháp.

    Ai đến Bồ Đề Đạo Tràng đều được nghe một loại âm thanh đặc biệt, chan hoà, lan tỏa trong không khí tu tập, vang lên từ những lời kinh tụng bằng những ngôn ngữ khác nhau. Đó là tiếng tụng niệm ê a hay tiếng cầu nguyện thầm thì của nhà sư và khách hành hương. Đó là âm điệu trầm bổng vang lên từ các các đoàn hành hương Thái, Miến, Trung Quốc, Nhật Bản, Sri- Lanka, Tây Tạng,Việt Nam... Họ đến đây được nghe những lời kinh dù ngôn ngữ khác nhau nhưng nguồn gốc đều từ tiếng Pali và Sankrit là ngôn ngữ cổ thời đức Phật. Chúng tôi được nhìn thấy hình ảnh đẹp của những sắc y vàng hay nâu đỏ của các sư, các vị Hòa Thượng, Đại Đức không phân biệt Phật giáo Nam truyền hay Bắc truyền; Phật giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Phát Triển; Tịnh Độ Tông, Thiền Tông hay Mật Tông, các vị đều là trưởng tử của Như Lai, đang đi theo con đường hoằng pháp của người Cha tâm linh, gieo rắc các hạt giống Phật pháp cho những người con Phật.

    Thầy và các sư cô đã dọn sẵn một không gian khá rộng bên hông tháp để chúng tôi tụng kinh và ngồi Thiền. Chương trình sáng sớm ngày mai đoàn sẽ đến Bồ Đề Đạo Tràng làm lễ dâng y tại chánh điện, dâng hoa cúng Phật, đi kinh hành và tụng kinh. Chương trình kế tiếp cho những ngày còn lại là đi thăm các thánh tích, dự lễ xuất gia gieo duyên, lễ cúng dường trai tăng, thăm các chùa quanh đây, làm từ thiện tại một làng nghèo. Mỗi chiều lúc 5 giờ là thời khóa tu tập đều đặn tại Bồ Đề Đạo Tràng trước khi về khách sạn ăn cơm tối.

    Xe bus từ Bồ Đề Đạo Tràng đi qua làng Kiriyarma, vượt qua nhiều cánh rừng và những con đường làng, dọc theo hai bên đường là những mái nhà tranh lợp bằng rơm rạ, những người ăn xin đi lang thang và những người nông dân gầy gò, dầm mưa dãi nắng trên những cánh đồng lúa. Xe đậu ở khu đất trống có lối đi dẫn lên núi Dhunheswara. Năm 2005, Hội Phật Giáo Lào tài trợ kinh phí xây con đường lên núi bằng xi măng, nhờ vậy các đoàn hành hương sau này đến thăm thánh tích Khổ Hạnh Lâm đỡ vất vả phải leo trên những đoạn đường dốc, gồ ghề sỏi đá. Bây giờ có thêm dịch vụ chuyên chở bằng xe ôm vừa nhanh vừa tiện, chỉ mất khoảng vài chục rupee.

    Chúng tôi đến Khổ Hạnh Lâm trên đồi Dungeswari thấy cờ phướn đủ màu, qua vài khoảng sân rộng là đến hang Prabodhi nơi đức Phật ngồi Thiền trong 6 năm khổ hạnh.

    Đúng như lời kể trong kinh, nhà điêu khắc nào đã khéo tạc hình tượng đức Phật bằng đồng, màu vàng, nét mặt khắc khổ và những lóng xương nhô lên trên thân thể gầy ốm. Ngài ngồi trong tư thế thiền định trên bệ thờ trải khăn vàng trong hang đá tối tăm leo lét vài ngọn đèn mờ ảo và vài vòng hoa vạn thọ.

    Đọc lại Kinh Trung Bộ, đức Phật kể chuyện thời trai trẻ của Ngài “... Khi ta còn trẻ, là nam tử tóc còn đen nhánh đang giữa tuổi xuân xanh, Ta cắt bỏ râu tóc mặc dù cha mẹ Ta phản đối việc này với mặt đầy nước mắt.Ta vẫn khoác áo cà sa xuất gia từ bỏ gia đình...”

    Khi tu khổ hạnh, Phật đã kể về nỗi sợ hãi khi một mình trong rừng vào ban đêm “...Một con công làm gãy cành cây hay một cơn gió xào xạc giữa đám lá Ta cũng kinh hoàng hốt hoảng...”.

    Ngài kể về hình hài của mình “... Vì ăn quá ít cơ thể Ta trở nên gầy yếu..., tay chân như lóng tre..., xương sống cốt tủy lồi ra giống chuỗi hạt..., xương sườn long rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát.., đồng tử nằm sâu trong hố mắt..., da đầu khô héo như trái mướp.., da bụng đụng nhằm xương sườn..., đi đại tiện ngã úp xuống đất..., đám lông mục rụng trong tay...”

    Nhiều Phật tử đến đây đã không cầm được nước mắt khi thấy từ môt vị hoàng tử, Ngài bỏ tất cả để đi tu tìm đường giải thoát, mang hình hài của một nhà tu khổ hạnh. Bằng kinh nghiệm bản thân, Ngài đã dũng cảm chọn con đường trung đạo để rồi với trí tuệ và công phu tu tập, Ngài đã chứng được đạo quả vô thượng và thốt lên “Ta đã được giải thoát. Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành. Các việc cần làm đã làm xong, Ta không còn trở lại đời này nữa.” .

    Đối chiếu với bản đồ và kinh điển ghi lại, xe chúng tôi vượt qua cầu Falgu về hướng Nam cách sông Ni Liên Thuyền khoảng 2 cây số là một ngôi tháp khá lớn có tấm biển xanh ghi rõ nơi đây nàng Sujata đã dâng bát cháo sữa cho Phật. Đây cũng là nền nhà cũ của nàng Sujata. Tháp có đường kính khoảng 10 mét, chiều cao khoảng 4 mét được xây vào thế kỷ thứ 18, lúc đầu chỉ là một tháp nhỏ, được cộng đồng Phật tử Ấn xây lại lớn hơn. Đền thờ của nàng Sujata là một khoảng sân rộng có tượng Phật Thích Ca, bên cạnh là tượng nàng Sujata quỳ dâng bát cháo sữa. Lòng thương người tu khổ hạnh bị gục ngã trong rừng già và lòng thành kính dâng vật thực cúng dường với tâm thanh tịnh, nàng Sujata đã thác lên cung trời Đao Lợi hưởng phú quý.

    Trong chuyến đi này chúng tôi được chứng kiến buổi lễ phát nguyện xuất gia gieo duyên đoản kỳ của 4 chị và 1 anh trong đoàn. Ngoài ra còn khoảng 20 anh chị khác xin được Thầy nhấp kéo và đắp y màu nâu. Buổi lễ được Thầy và các sư cô tổ chức trang nghiêm và cảm động. Sau khi làm lễ sái tịnh, tụng kinh, nhắc lại tam quy và ngũ giới, những mái tóc đã rơi xuống. Có chị đã khóc vì hạnh nguyện đã thành. Có chị rưng rưng nước mắt:

    “Sáng nay cạo sạch mái tóc
    Mở thêm rộng lớn con đường
    Nguyện đoạn vô biên phiền não
    Một tâm mà động mười phương”

    Thầy giải thích về bốn chữ “xuất gia gieo duyên”. “Xuất gia là lìa gia đình thế tục để sống đời sống của người tu. “Gieo duyên” vì còn vướng bận gia đình, chưa thực hiện hoàn toàn đời sống xuất gia. Đây là cơ hội để các Phật tử tìm về nơi thanh tịnh, làm quen với đời sống tu sĩ, trau giồi Phật pháp, nhờ “duyên” đã được “gieo” từ trước mà sau này nếu đủ thiện duyên sẽ trở thành tu sĩ. Sau buổi lễ, các sư cô giúp các Phật tử cách đắp y. Cùng Thầy và các sư cô, chúng tôi đi kinh hành quanh tháp với chiếc y mới và chụp hình kỷ niệm. Sau buổi tối tụng kinh thường lệ, chúng tôi được Thầy thông báo sáng mai sẽ có một buổi lễ cúng dường tịnh tài và vật thực cho hơn 250 vị tăng ni tại Bồ Đề Đạo Tràng.

    Từ sáng sớm, các sư cô đã chuẩn bị bàn thờ Phật, hoa trang trí, trái cây cúng Phật, chiếu trải, nước uống, các phong bì, các túi quà tặng. Chúng tôi đến cùng lúc với các sư khoảng 250 vị đã được Thầy mời từ các chùa Miến, Thái, Lào, Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam gần Bồ Đề Đạo Tràng. Sau khi các vị tề tựu ngồi đông đủ trên chiếu, các Thầy, các sư cô và Phật tử Việt Nam lễ Phật, tụng kinh, Thầy ngỏ lời cảm ơn các sư. Các Sư đọc tụng những thời kinh chúc phúc bằng tiếng Pali. Các anh chị Phật tử trong đoàn trân trọng cầm những phong bì và những phần quà cúng dường đến trao tận tay các vị. Ý nghĩa của buổi lễ cúng dường cũng như bố thí là pháp tu của các Phật tử nhằm gieo trồng công đức hộ pháp và phước báu cho người cúng dường. Buổi lễ chấm dứt, lộc trái cây cúng Phật được phân phát cho mọi người, ai cũng hoan hỉ vì được góp phần tạo chút phước lành hộ trì Phật Pháp tại xứ Phật.

    Buổi chiều, chúng tôi cùng nhau gọi xe lam đi thăm và cúng dường một vài ngôi chùa Thái, Tây Tạng,Việt Nam gần đó. Tại Bồ Đề Đạo Tràng có hai ngôi chùa Việt Nam lớn là chùa Viên Giác do Thầy Hạnh Tấn trụ trì và Việt Nam Phật Quốc Tự do Thầy Huyền Diệu trụ trì. Trong một không gian chu vi khoảng hơn năm cây số, hơn một chục ngôi chùa của các nước tụ hội rải rác về đây, mỗi chùa đều có một sắc thái riêng biệt mang đậm nét quê hương của họ trong lối kiến trúc, các tượng Phật, cách hành lễ, sinh hoạt và hình ảnh các tu sĩ. Trong cái nôi chung là tại xứ Phật, mỗi nước mang cái hồn thiêng riêng của đất nước mình thể hiện qua hình ảnh ngôi chùa, tạo thành một quần thể thiêng liêng tiêu biểu cho sức sống của đạo Phật trên thế giới. Đây cũng là một địa điểm du lịch cho những ai một lần đến Bồ Đề Đạo Tràng đều ghé qua.

    Buổi sinh hoạt cuối cùng của đoàn chúng tôi là làm từ thiện tại một ngôi làng nghèo Ấn Độ cách xa Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 15 cây số. Được sự chuẩn bị từ trước, Ama và những người dân địa phương đã phát thẻ lãnh quà cho dân làng, chuẩn bị các vật dụng như mền, vải sari, gạo, bột, muối, dầu ăn, bánh ngọt và tiền lẻ để phân phát cho họ.

    Chúng tôi đến nơi đã thấy những chiếc xe cam nhông chở các thùng quà đậu sẵn và dân địa phương đã sắp hàng từ lúc nào. Trong cái nắng và cái nóng gay gắt vào buổi trưa, với sự kiểm soát của các thanh niên trong làng, người nào có thẻ cầm trong tay mới được vào khu lãnh quà. Thầy đứng trên bục cao dặn dò và chỉ dẫn các Phật tử người đứng bên trong chuyển quà cho người đứng ngoài và thay phiên nhau mỗi người phát một món theo thứ tự. Giá trị của những món quà khoảng 15 đô-la.

    Trước đây chúng tôi chỉ được xem các buổi lễ phát chẩn cho người nghèo Ấn Độ trên trang mạng của Thầy. Đây là lần đầu tiên chúng tôi trực tiếp cầm những món quà trao vào tay họ. Nhìn những nụ cười méo mó nở trên nét mặt nhăn nheo của những người già lụm khụm ôm những gói quà, những ánh mắt sáng trên khuôn mặt đẹp của các cô thôn nữ, những nụ cười thơ ngây, vô tư và vui mừng của các trẻ em Ấn Độ chạy theo bố mẹ, chúng tôi hoan hỉ từ giã ngôi làng nghèo và ước gì có khả năng nhiều hơn nữa để quà tặng thêm phần nặng ký và nụ cười của họ thêm tươi hơn.

    Ngày cuối cùng tại Bồ Đề Đạo Tràng chúng tôi tự do đi mua sắm. Các cửa hàng bán quần áo, khăn quàng, túi xách dọc theo con đường đi vào lúc nào cũng đông khách hành hương. Trước giờ ra phi trường, Thầy có một buổi họp mặt để nghe những lời chia sẻ cảm nghĩ của các Phật tử trong tuần lễ tu tập tại đây. Mọi người đều bày tỏ sự an lạc khi :

    “ Con đã về đây với Thế Tôn
    Buồn vui xen lẫn ở trong hồn
    Như từ lâu lắm chưa hề gặp
    Biết nói làm sao với ý ngôn...?”(1)

    Một tuần lễ thăm thắng cảnh chùa, tháp và các tu viện tại “ Bhutan, xứ sở của hạnh phúc” và tuần kế tiếp tu tập tại Bồ Đề Đạo Tràng, mặc dù chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa” nhưng chúng tôi đều cảm nhận niềm hạnh phúc khi đến đất nước Bhutan nơi Phật giáo là quốc giáo và người Bhutan sống và hành trì theo giới luật của đạo Phật. Bhutan, đất nước của thiên nhiên xanh đẹp, môi trường trong sạch, nếp sống hiền hòa và yên bình, người dân an lạc và hạnh phúc.Có một năng lượng tích cực, thiêng liêng và lành thiện tỏa ra từ sự bảo hộ của chư Phật, Bồ Tát tại xứ sở này, mang cho người khách hành hương một tâm thái thanh thản và bình an.

    Ấn Độ, nơi vị giáo chủ Thích Ca Mâu Ni sinh ra cách đây 2600 năm, nơi đạo Phật có một thời vàng son nhưng giờ đây chỉ còn là những thánh tích. Đến Bồ Đề Đạo Tràng để thấm nhuần luật vô thường của vạn pháp, về giáo lý Tứ Diệu Đế, về luật nhân quả và phát khởi lòng từ bi đến muôn loài chúng sinh bất hạnh. Đến Bồ Đề Đạo Tràng để về nhà tiếp tục tinh tấn trên con đường tu tập giải thoát và giác ngộ theo Phật.

    Cảm ơn Thầy và các sư cô đã tạo điều kiện cho đoàn hành hương có cơ hội trở về “quê của tâm linh niềm an lạc” (2) để “tắm đời mình trong ánh dương” (3) của chư Phật.


    Chú Thích (1) (2) (3) bài thơ “Dấu Chân Từ Phụ” của nhà thơ Như Nhiên.

 

 

Similar Threads

  1. Vào chùa Việt
    By Dân in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 1
    Last Post: 11-20-2013, 06:50 AM
  2. Học chùa
    By Triển in forum Giáo Dục
    Replies: 2
    Last Post: 06-29-2013, 10:11 PM
  3. Các Ni sư tự xây chùa Ni Viên Thông Tự ở Houston, Texas
    By Mây Hồng in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 10-07-2012, 10:29 AM
  4. Lên chùa cúng sao
    By Triển in forum Khoa Huyền Bí Học
    Replies: 69
    Last Post: 03-16-2012, 10:46 AM
  5. Con sãi ở chùa lại quét lá đa
    By Triển in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 2
    Last Post: 11-15-2011, 11:25 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 05:15 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2020 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh