Register
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 20
  1. #1

    Những Bước Đi Cuối Đời tức "Hồi Ký Tư Lé"

    Xuân-Hạ-Thu-Đông

    Có thể ví hành trình cuộc đời của một nhân sinh trên trần thế này như là sự tới lui của 4 mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông.

    Mỗi mùa chỉ xuất hiện một lần trong một năm. Mỗi lần xuất hiện như thế kéo dài ba tháng. Trong ba tháng đó biết bao nhiêu là ân tình, vô số vui buồn lẫn lộn, vô số lo toan tất bật, và cũng có nhiều hơn là chỉ có một khoảnh khắc quẩn trí trong mỗi chu kỳ ngắn ngủi ba tháng đó “muốn chết phức đi cho rồi !”

    Đã thực sự bước đi được bao nhiêu mùa Xuân ấm áp vui tươi? Đã thực sự khổ sở bực bội như thế nào để lướt qua nhiều mùa Hạ nóng sốt oi bức? Đã có bao nhiêu mùa Thu lá bay để làm thơ yêu đương nhung nhớ? Đã có bao niêu u buồn,ê chề, tang tóc, ảm đạm trong những ngày mùa Đông rét mướt co ro và cô đơn?

    Tuổi thơ, lớn lên, đi lính, bôn ba với đời rồi ở tù, rồi chạy trốn nhưng đó khôngphải là những trải nghiệm qua từ bốn chu kỳ Xuân-Hạ-Thu-Đông đến rồi đi, đi rồi đến nhưng những điều đó đã xảy ra trong hai chu kỳ mùa mưa, mùa khô tại miềnNam một vùng đất nước nằm ở phía Bắc bán cầu có khí hậu nhiệt đới - gió mùa, biến động thường xuyên, đầy sóng gió lũ lụt, giặc giã kéo dài triền miên, khổ nghèo khắp chốn. Quê Hương đó giống như hình ảnh của một bà mẹ già còng lưng vát hai đầu gánh nặng ấp hận thù tình cốt nhục anh em! Vậy đó. Đó là chốn chôn nhau cắt rốn, là Quê Hương thứ nhất cha sinh, mẹ đẻ của Thiện, Nguyễn CôngThiện.

    Thiện cũng có một biệt danh rất ư là bình dân: “Tư Lé” mặc dù Thiện không phải là đứa con thứ tư trong gia đình của mình mà đôi mắt của Thiện cũng không lé một chút nào nhưng rất tinh anh và rất có thần.
    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 03-07-2019 at 06:47 AM.

  2. #2
    Những Bứơc Đi Cuối Đời (tiếp theo)




    1-Chào đời và tuổi trẻ
    Tôi sinh ra đời không có gì đặc biệt, không có điềm thần linh báo trước, không có mặt trời chui vào bụng mẹ, không có rồng vàng đế vương phủ phục quanh phòng khi tôi lọt lòng. Tôi chỉ là một bào thai tầm thường, khá hơn một chút so với những đứa trẻ con do những bà mẹ ăn mày ăn xin đẻ ra nơi đầu đường xó chợ. Khá hơn vì tôi là con của một thầy thông phán làm việc cho chính quyền Pháp tại Kho Bạc Rạch Giá, khá hơn vì mẹ tôi là vợ của một công chức tại một tỉnh nhỏ được nhiều người gọi là cô phán, bà phán mặc dù lúc đó bà đã có có 5 con nhưng vẫn còn trẻ khi tôi chào đời tại ngôi nhà nơi làng VĩnhThanh Vân-Rạch Giá vào năm 19. . ..

    Như vậy, tôi sinh ra nhằm năm Mậu ... và là một con . . . 4 chân, trọn vẹn từ đầu tới đuôi không lai căn đầu con nầy. . . mình con kia. . .hoặc đầu con kia . . . đuôi con nọ . . . Trong số bạn bè đến thăm, có người đã xem tướng số cho tôi và nói với ba mẹ tôi như sau: tuổi nầy đào hoa nhưng sẽ bị cô đơn suốt đời vì theo tử vi thì Canh Cô, Mộ Quả: Mộ ở đây tức là Mậu. Và tôi hiểu lơ mơ rằng: Cô là cô độc, đơn côi, Quả là một mình, đơn thân không có bè bạn đồng hành. Mạng của tôi là mạng Thổ nhưng lại là Thành Đầu Thổ, chỉ được dùng xây đắp bờ thành để bao bọc an toàn cho những người khác sống nhởn nhơ anlành phía bên trong thành. Vì là đất xây thành cho nên sẽ không được ai để mắtngàng tưới nước bón phân, số của tôi sẽ nghèo mạc kiếp.


    Bạn bè của cha mẹ tôi là nhưng thầy thông, ông phán, những công chức cấp dưới nơi tòa Hành Chánh của tỉnh lỵ Rạch Giá và trong số đó, saunầy khi tôi lớn lên mới biết được, có cô Năm trưởng tòa, vợ nhỏ của một ông lụcsự tòa án tên là Cao Thiện V. . . và một người nữa làm nhân chứng trên giấy khai sinh của tôi tên là Ngọc. Hình như ông Cao Thiện V. . có một cô con gái riêng tên là Cao Thị Ng . . .mà các chị của tôi thường gọi là chị Ng . . . và mãi về sau, khi tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt bị xử tử bằng máy chém ở Sài Gòn thì tôi đọc báo thấy rằng vợ của tướng Ba Cụt cũng có cái tên là Cao thị Ng . ..và phân vân không biết bà nầy có phải con gái của cậu Năm Cao Thiện V. . .quen thân với ba mẹ ở Rạch Giá ngày xưa hay không?

    Tông tích của cô Năm thì chưa bao giờ tôi được nghe cha mẹkể cho biết nhưng khi tôi lớn lên ở Sài Gòn, cô Năm vẫn thường hay tới lui ăn ở tại nhà cha mẹ và dưới con mắt trai trẻ yêu đời của tôi lúc đó, cô Năm là mộtngười đàn bà đẹp sắc nước hương trời, là dân chơi tứ chiến, vẫn còn đẹp mặc dù tuổi của cô đã về chiều bóng xế. Trong tình bạn bè giao du, tôi nhận biết được cô Năm có một cảm tình thầm kính đặc biệt nào đó với cha tôi . Chắc mẹ tôi cũng thấy được điều đó nhưng lúc nào bà cũng đối xử với cô Năm như tình ruột thịt chị em trong nhà. Riêng chị em, anh em chúng tôi thì rất thương mến cô Năm vì cô Năm thương chúng tôi như con ruột và cũng bởi vì cứ mỗi khi tới nhà thì côNăm thường có vịt quay, heo quay mang theo, khi ra về thì cô Năm thường phânphát tiền kẹo bánh cho "mấy đứa nhỏ".


    (còn tiếp)





    Last edited by nguyễn công tánh; 03-08-2019 at 07:11 AM.

  3. #3
    Những Bứơc Đi Cuối Đời (tiếp theo)

    Tôi biết hai câu chuyện nhỏ về thuở ấu thơ của tôi khi cha mẹ còn ở Rạch Giá: chị Hai Đào của tôi kể rằng hồi nhỏ, lúc mới biết đi lững chững, tôi thường được mẹ cho mặc một chiếc áo khỉ bằng vãi cô-ton màu trắng vìsợ lậm gió vào phổi, còn phần dưới thì cứ để tồng ngồng cho thoáng gió không bịẩm hơi và đỡ phải thay tả. Tội nghiệp cho chị Hai, chị có bổn phận trông giữ đứa em út tuổi con cọp và mẹ kể rằng, vì sợ em té u đầu mà phải ăn đòn cho nên lúc nào chị Hai cũng bồng nách, sóc bế đứa em đến mức da cạnh sườn của chị Hai trở thành chai cứng và tróc ra từng về rất rát buốt! Bây giờ thì chị Hai đã ở xa, ởtận trời Âu, không thèm ngó tới mặt, không thèm hỏi tới tên thằng em Út vì nó đã lỡ lời lớn tiếng với chị ngày chị đến từ giả nó để đoàn tụ với con trai củachị ở bên Bỉ Quốc.

    Sanh tôi được một năm thì gia đình từ Rạch Giá dọn về MỹTho, đi theo về nơi làm việc mới của ba. Chị ba Thơ có kể lại một câu chuyện vềviệc tôi "tập trận kháng chiến" như sau: lúc đó tôi vừa được 2 tuổi,đã biết chạy giởn tung tăng phá phách khắp trong nhà ngoài ngõ và vẫn mặc áo khỉ, phần nửa dưới vẫn tồng ngồng. Vào thời điểm nầy, ở Việt Nam có nhiều đảng phái xuất hiện, trong số đó đảng Cộng Sản Đông Dương là đảng hoạt động lấn luớt hơn các đảng phái khác. Sau ngày chính quyền Pháp ban hành sắc lệnh ngày 26-9-1939 giải tán và cấm mọi hoạt động của các tổ chức cộng sản; đảng cộng sản đông dương bí mật hội họp tại Hốc Môn –Bà Điểm (tỉnh Gia Định) quyết định thànhlập mặt trận dân tộc thống nhứt phản đế (đế quốc) Đông Dương và kêu gọi dân chúng chống Pháp, chống Nhật. Ở các tỉnh nhỏ, xuất hiện những đoàn tráng niên, những đội thanh niên nam nữ "kháng chiến" vát tầm vong vạt nhọn tập luyện diễn hành ọt đơ, ọt đơ (un, deux : một hai, một hai) trên các con đườngvắng người đi lại hoặc nơi những khoảng đất trống kín đáo. Những khi có đoàn thanh niên tập diễn hành trên con đường vắng trước nhà, thằng nhỏ tồng tồng cũng vát bẹ lá chuối diễn hành theo các bậc anh chị "kháng chiến" và có lần vì quá hăng say với cuộc diễn hành cho nên cứ tiến tới hoài và bị lọt rớt xuống một hầm trú ẩn ở lề đừng, leo lên không được, sợ quá la khóc vang trời khiến cho các anh chị kháng chiến phải chạy đến tiếp cứu bồng về giao lại cho chị Ba Thơ.


    (còn tiếp)





    Last edited by nguyễn công tánh; 03-09-2019 at 08:37 AM.

  4. #4
    (Tiếp theo kỳ trước)

    Mẹ cũng kể cho biết rằng tôi có 2 người bác – trong Nam, bác nghĩa là người anh trai của cha mình - ở bên Hà Tiên, bác Ba và và bác Tư. Mặt mũi của bác Ba thế nào cho đến bây giờ tôi cũng chưa biết nhưng tôi được cha tôi kể lại rằng, hồi cha tôi còn trẻ, ông nội bà nội đã mãn phần, bác Ba thaythế nuôi nấng ba nhưng không giữ ba ở Sóc Trăng mà gởi ba lên Sài Gòn để đi học rồi thi vào trường sư phạm. Ba cũng kể lại cho biết rằng, bác Ba cũng tập luyện võ nghệ và học gồng nữa: gồng là một loại công phu của người Miên miền dưới dùng để biến cho da thịt của người ta trở nên thành đồng vách sắt dao chém không đứt, gươm đâm không thủng. Kẻ luyện tập gồng phải đi chuộc củ ngãi ngậm vào miệng trong khi tập luyện và nhất là tuyệt đối không được ăn thịt chó. Có lần cha tôi muốn thử tài nghệ của bác Ba, lựa lúc bác Ba đang ăn bún gà cà ri,cha tôi hô lớn: " Anh Ba, chém nè! Ráng mà gồng ! . . .", và cha tôi chém thật! Bác Ba phải ngậm nguyên họng bún cà ri trong miệng, phùng mang trợnmắt lấy hơi gồng cứng thân mình rồi đưa lưng ra cho cha tôi chém xuống. Kết quả cuộc thử thách: lưng của bác Ba bị hằn nhiều vết đỏ nhưng không bị đứt chảy máu và cha tôi được bác Ba bồi đáp bằng một cán gậy ba ton đập lên đầu, máu phunướt mặt để rồi sau đó cha tôi trở thành ngơ ngơ ngẩn ngẩn suốt nhiều năm liềncho tới khi ba thi đậu vào trường sư phạm Sài Gòn. Chuyện bác Ba dùng gậy đậpđầu cha tôi khiến cho tôi cảm thấy ghét hận người bác nầy cho đến khi tôi trưởng thành.

    Tôi chỉ được nhìn thấy hình của bác Tư qua một tấm ảnh chụpbác đội mảo áo lính san đầm (gens d'armes), một hình thức cảnh sát của trào Pháp thuộc. Trong hình, trong bác hao hao giống như người Pháp với bộ ria mép cắt tỉa thật gọn và kiểu cách. Bác Tư gái (bác dâu) không biết nghe theo lời của một ông đạo nào đó ở Hà Tiên đã nhập đạo tu tiên khỏa thân trên một hòn đảonhỏ ngoài khơi biển Hà Tiên có tên là hòn Củ Tron: người theo đạo sau khi được tắm trần truồng bằng nước múc lên từ giếng tiên ở hòn Củ Tron thì sẽ đắc đạo thành tiên. Những người đắc đạo có thể trở vào đất liền để lo làm ăn sinh sống và thu nhận đệ tử, nhưng khi trở về cảnh tiên Củ Tron thì không được vướng lụy với áo quần của trần tục. Cứ vài tháng, bác Tư gái phải ra hòn Củ Tron tham thiền nhập định và tắm gội nước giếng tiên để được trường sanh bất lão. Có lần bác Tư trai đã mướn ghe vượt sóng gió, mang theo súng săn hai nòng ra đến tận hòn Củ Tron để bắt bác gái quay trở vào đất liền, nhưng sau đó thì hình như hai người xa nhau và bác gái vẫn tiếp tục con đường tu tiên của mình.

    (còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 03-11-2019 at 11:09 PM.

  5. #5
    Hồi ký của Tư Lé (Tiếp theo )

    Không được bao lâu, khi người Nhật sắp can thiệp vào cuộcchiến tranh Đông Dương, ba mẹ về Sài Gòn và được chính quyền cấp cho một căn phố bỏ hoang số 12 ở đường Frères Louis (sau đổi tên là đường Võ Tánh), đối diện trại lính Ô Ma (camp des Mares, về sau trở thành trụ sở của Tổng Nha Cảnh Sát Công An trước năm 1975). Lúc nầy bác Tư cũng đi theo về ở chung với gia đình ba mẹ tại căn phố nói trên. Lúc đó tình trạng thiếu thốn lan tràn khắp vùng Sài Gòn - ChợLớn ngay cả củi đốt, diêm quẹt dùng để nấu ăn cũng không có, trên trời thì máy bay thả bom hầu như mỗi ngày khiến cho nhà cửa dinh thự sụp đỗ khắp nơi. Không hiểu bằng cách nào, bác Tư đi tha lôi về được một khúc cột nhà bằng cây dầu lớn tròn, dài hơn 3 mét và cứ để nguyên cây cột dài như thế để chụm lửa nấu cơm và ngọn lửa tiếp tục được giữ cháy tại chỗ từ ngày nầy qua ngày khác hơn cả tuần lễ để rồi sau đó bác Tư lại đi tha về một gốc cột khác.

    Khi cường độ thả bom của máy bay gia tăng và có lệnh tản cư,gia đình tôi liền thu góp quần áo và "tài sản" chạy tránh giặc ở Tân Qui thuộc vùng Lái Thiêu. Hồi đó tôi chưa phân biệt được chạy giặc là cái gì và không biết ai là giặc.

    Cả hai người bác chết lúc nào, chôn cất ở đâu, tôi không biết.

    Ông nội tôi có một cái tên rất là Sóc Trăng: Nguyễn Văn Hương dit Gồng (dit = tự là). Sóc Trăng là vùng của người Việt gốc Miên(Khmer). Cho tới bây giờ tôi vẫn còn một thắc mắc: ông nội không biết có phả ilà người Miên hay không, sao lại họ Nguyễn mà còn chen thêm hai chữ dit Gồng? Nước da của cha tôi, của chị Hai Đào, chị Ba Thơ, chị Tư Thi, của anh Năm Tâm và của tôi đều ngâm ngâm màu ô liu, giống như màu da của những người Miên ở xứ Chùa Tháp! Nếu người Miên thì đã sao? "Tam đại đồng đường"của ông Gồng đã nhận Việt Nam là đất tổ của mình thì họ sẽ sống chết trên mãnh đất quê hương đó. Xương cốt của ông nội đã được mẹ tôi trân trọng rước đón từ Sóc Trăng đựngvào hủ, đưa về Thủ Thiêm đặt tại một miếu thờ ở ấp Cây Bàng, chỉ cách Sài Gòn có một con sông. Chưa bao giờ tôi đến miếu thờ nầy để viếng thăm đốt hương thắp nhan cho ông nội, và không biết tôi còn có dịp nào để đến với ông nội nữa hay không, xa quá là xa rồi ông nội ơi! Tôi sẽ bị đời cho là kẻ mất gốc, quên tổ tiên ông bà, quên cội nguồn và tôi chỉ còn biết gụt đầu nhận chịu tiếng đời thị phi.

    Ba gặp mẹ làm sao, cả nhà không ai biết. Từ Sóc Trăng, ba lang thang đi đâu, lên Sài Gòn để rồi qua gặp mẹ ở Thủ Thiêm? Ba mẹ không bao giờ hở môi về chuyện tình của hai người. Có thể ba gặp mẹ vào thời điểm ba lên Sài Gòn để vào trường Sư Phạm. Nhưng sao lại không lo học hành, lại đi lạc quaThủ Thiêm làm chi? Thật là duyên tiền định!

    Sau nầy tôi mới biết ba tôi là người rất đa tình và cảm thấy thích thú nghĩ rằng có lẽ sự nghiệp thầy giáo gỏ đầu trẻ của ba nửa đường gảy gánh là vì ba đã bị mẹ mê hoặc mất rồi! Năm đứa con của ba sau nầy hơn phân nữa số cũng đa tình như ba, gái cũng như trai, nhất là đứa con trai Út . Có một thời mẹ cũng phải điêu đứng rình rập, theo dõi ba để bắt ghen, đánh ghen với sự trợ chiến của cô Năm trưởng tòa và chị Sáu Xành. Vì ba đa tình cho nên ba thường phải nói dối vòng quanh để chạy tội với mẹ. Có lần, sau giờ tan sở, ba đi hoang suốt đêm trong ở đường la Côte (nay là đường Phạm Hồng Thái) đến sáng chúa nhật ba mới mò về nhà bên Thủ Thiêm. Bị mẹ hạch sách, ba chống chế nói rằng ba bị bắt cóc! Hỏi ai bắt? Ba nói chiếc xe hơi lớn sơn màu đỏ! Mẹ kêu trời bảo rằng ba bị xe chữa lửa bắc cóc đem đi xịt vòi rồng cho tan tành thể xác và làm xẹp hết cáit úi da đựng tiền của ba!

    (Còn tiêp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 03-18-2019 at 09:42 AM.

  6. #6
    Hồi ký của Tư Lé (tiếp theo kỳ trước )


    Ngày ba qua đời, tôi đang bị giam nhốt trần truồng, toànthân lở lói trong một căn ngục tối ở vùng Mỹ Tho. Khi tôi được tha về, mẹ kể rằngba chết không nhấm mắt vì trong gia đình còn thiếu thằng con út về vuốt mắt vàđể tang cho ba! Việc đầu tiên tôi làm sau khi được tha về tới Sài Gòn là ù ra bếnđò dưới ở bến cảng Sài Gòn về Thủ Thiêm, hối hả vào nghĩa địa "đấtthánh" rồi quỳ gụt xuống trước ngôi mộ của ba khóc rống vang dội như tiếngchó tru sủa nơi một vùng hoang địa vắng bóng người. Không phải chỉ khi ba sắpchết ba mới nhớ tới thằng con út. Mẹ kể rằng ba thường nhìn mẹ hỏi: "ThằngÚt đâu có làm gì ác đâu! Sao mấy ổng cứ nhốt nó hoài vậy ? Chừng nào nó mới về?"Những lúc như thế, mẹ biết ba đang nhớ thằng con "cưng" và cứ mỗi lầnbị ba cật vấn mẹ lại phải đặt điều "Nó đi làm xa!. Xa lắm . . .Chưa về được!"

    Ba tuổi Sửu, mẹ tuổi Rồng, hạp hay không hạp? Chỉ biết ôngbà rất hay cãi cọ với nhau nhưng vẫn sống, vẫn đùm bọc, chia ngọt xẻ buồi trongnhững bước thăng trầm của cuộc sống.

    Mẹ không đẹp lắm, hơi thấp một chút nhưng trong bộ áo ki mônô mẹ mặc ngồi xếp bằng trên nền thảm để chụp hình, với lọn tóc cuốn cao, trongmẹ y hệch như một người đàn bà Nhật Bản. Người ta có câu: Ăn cơm Tàu, ở nhàTây, lấy vợ Nhật. Mẹ không phải là người Nhật, mẹ là Mẹ Việt Nam nhưng mẹ khéonuôi con, chiều chồng, xây dựng gia tộc còn hay hơn là người vợ, người mẹ NhậtBản như người đời thường ca tụng. Mẹ bỏ Thủ Thiêm, theo chồng về Rạch Giá, sanh5 đứa con rồi lại theo chồng quay về Sài Gòn, mướn nhà ở Thủ Thiêm để ba đi đòmỗi ngày sang bờ sông bên kia làm việc ở Kho Bạc tọa lạc trên đường Charner(nay là đường Nguyễn Huệ).
    Ba tôi thi rớt cuối khóa trường sư phạm? Tại sao thi rớt? Phảichăng vì bận biệu nhiều quá với mẹ tôi? Mẹ gặp Ba ở đâu? Những câu hỏi nầy nằm ởtrong tâm trí của tôi cho mãi đến sau nầy mới được chị Ba Thơ giải đáp như sau:

    <<Lúc đó, Ba đã đi dạy học ở trường tư thục HuỳnhKhương Ninh ở Sài Gòn và Mẹ thì đi may cho một tiệm may người Pháp cũng ở SàiGòn. Cuối tuần, thường là buổi chiều thứ bảy, khi đi may về, Mẹ thường ra các sạpbán bông ở đường Charner ( sau nầy đổi gọi là Nguyễn Huệ; ngày trước đại lộ nầycó một dãy quán hàng bán bông ở giữa chạy suốt từ bờ sông Sài Gòn tới toà ĐôChính) để lựa mua bông huệ về chưng bàn thờ bên nhà bà ngoại ở Thủ Thiêm và nhờvậy Ba mới gặp Mẹ rồi đi theo tò tò và sau đó, một người bạn trai của Ba, giađình ở Thủ Thiêm có quen biết với gia đình của Mẹ, mới dắt Ba qua Thủ Thiêm giớithiệu để Ba lân la làm quen và nhờ vậy Ba Mẹ mới trở thành chồng vợ.>>

    Còn chuyện Ba đã tốt nghiệp trường Sư Phạm hay chưa người viếtkhông biết nhưng thiễn nghĩ, Ba làm thầy giáo trường tư thục Huỳnh Khương Ninhcó lẽ nhờ Ba là cựu sinh viên trường Sư Phạm cho nên người ta mướn dạy học chứkhông phải vì Ba có bằng cấp sư phạm. Nếu Ba tốt nghiệp trường Sư Phạm với bằngđíp-lom (diploma) thì Ba đã được bổ dụng làm thầy giáo các trường công lập dochính quyền người Pháp thành lập.

    Mẹ kể rằng, thời Ba Mẹ, nghề nào cũng bắp bênh, chỉ có đilàm công chức (tức là làm việc cho chính quyền) mới bền vững không sợ thất nghiệp,vì vậy khi có kỳ tuyển dụng công chức vào hai cơ quan chính quyền ở Sài Gòn lúcđó là Kho Bạc và Quan Thuế, Ba đã làm đơn xin dự thi tuyển gửi đến 2 cơ quanđó, và Ba thi đậu cả hai bên nhưng Ba chọn Kho Bạc để khởi đầu nghiệp kiếp côngchức sáng xách dù đi chiều chống dù về của Ba.

    (còn tiếp)

  7. #7
    HỒI KÝ CỦA TƯ LÉ (tiếp theo kỳ trước )

    Cuộc đời của chị Hai Đào là một cuộc đời trầm lặng vì chịgiõi chịu đựng và an phận. Chị chưa bao giờ hé môi kể lễ cho tôi biết về cuộc đờicủa chị. Tôi chỉ biết được một điều quan trọng, thật quan trọng: chị Hai Đào rấtthương thằng em Út tuổi con cọp của chị!

    Năm 1944 chị Hai Đào theo học nghề hộ sinh ở bệnh viện bảosanh Từ Dũ tọa lạc nơi gốc đường d'Arras (Cống Quỳnh) và đường ChasseloupLaubat (Hồng Thập Tự) ở Sài Gòn. Chị phải ở nội trú cho nên không có mặt thườngxuyên trong nhà Ba Mẹ ở xóm trên Thủ Thiêm. Vào lúc phong trào kháng chiến chốngTây ở Thủ Thiêm bắt đầu hoạt động mạnh, đội lính lê dương (Légionaires) củaPháp đã ra lệnh thiết quân lực để giới hạn việc qua lại trên sông, từ Thủ Thiêmqua Sài Gòn, khiến cho gia đình tôi phải lo âu vì chị Hai Đào bị kẹt một mình ởTừ Dũ. Có lần, đích thân chị Ba Thơ thay mặt ba mẹ mạo hiểm đi bộ xuống tới đồnCá Trê để đi đò chèo "lậu" (đưa đón hành khách qua sông một cách lénlút) qua miệt Tân Thuận rồi từ đó đi bộ ngược về hướng bảo sanh viện Từ Dũ đểtiếp xúc thăm hỏi về tình cảnh sinh sống của chị Hai Đào. Hỏi chị Ba Thơ đồn CáTrê nó như thế nào thì chị trả lời rằng nơi bến đò "lậu" ở đó ngườita gọi là bến đò đồn Cá Trê, còn chị Ba lúc bấy giờ phải đi đứng một cách lénlút sợ Tây nó bắt gặp thì chết, đâu còn tâm trí nào nữa để mà ngắm cảnh vậtchung quanh cho nên đâu biết mặt mũi cái đồn đó như thế nào!

    Rồi chị Hai Đào gặp anh Bảy Rớt, có thể là họ gặp nhau ở SàiGòn khi chị đang tập sự "bà mụ" ở viện bảo sanh Từ Dũ. Chị Ba Thơ kểrằng anh Bảy Rớt người Nha Trang, đi lính thủy trong đội hải quân của Pháp. TàuPháp bị kháng chiến phục kích, chỉ huy tàu bị chết, anh bảy Rớt may mắn sốngsót, đào ngũ, lưu lạc vào Sài Gòn. Lúc đầu gặp gỡ, có lẽ anh Bảy Rớt đứng bánhàng tại một nhà thuốc Tây (Pharmacie) nào đó ở Sài Gòn, theo một người bạn vàotrường bà mụ (École de Maternité) Từ Dũ để thăm vợ đang tập sự nội trú ở đó vànhờ vậy anh Bảy Rớt được giới thiệu với chị Hai Đào. Chị Hai Đào không đẹp lắmnhưng anh Bảy lại thương và theo chị sát nút .Cả nhà không ai hay biết về chuyệnchị Hai Đào có người để mắt ở bên Sài Gòn. Khi ba đưa mẹ và cả nhà tản cư lênTân Quy-Lái Thiêu thì chị Hai Đào vẫn còn tiếp tục tập sự bà mụ ở Sài Gòn cònthì ba vẫn tiếp tục làm việc ở Kho Bạc trên đường Charner (nay là đường NguyễnHuệ) để cuối tuần đạp xe đạp lên Tân Quy thăm và tiếp tế cho vợ con

    Không hiểu vì sao chị Hai Đào bỏ ngang chương trình tập sựlàm "bà mụ" mà chỉ ở nhà phụ giúp mẹ lo việc nội trợ và đi chích dạoquanh xóm. Rồi anh Bảy Rớt qua gặp Ba Mẹ ở Thủ Thiêm xin hỏi thẳng để cưới chịHai, không có mai mối trung gian, không có đình đám rình ran phô diễn. Cướixong, vợ chồng chị Hai Đào ra riêng, mướn một căn phố nằm trên con hẽm lát gạchdẫn vào tu viện dòng mến thánh giá của các dì phước và trường nữ tiểu học của họđạo Thủ Thiêm. Anh Bảy Rớt thương yêu vợ rất mực và ngoan đạo một cách kỳ lạ mặcdù anh theo đạo của vợ. Anh lại rất hiếu thảo với Ba Mẹ và chìu chuộng các đứaem vợ. Gặp thời buổi khó khăn, trong giai đọan khởi đầu cuộc Nam Bộ kháng chiến,anh Bảy Rớt bổng nhiên trở thành cột trụ của gia đình chúng tôi.


    Chị Ba Thơ cũng xin được vào làm việc ở Kho Bạc Sài Gòn. ChịTư Thi hình như lúc đó ở nhà tự học thêu còn anh Năm Tâm không biết lúc đó đanglàm gì, ở đâu?.

    (Còn
    tiếp)

  8. #8
    Hồi ký TL (Tiếp theo kỳ trước )

    Cuộc đời của TL gắng liền với vùng đất Thủ Thiêm từ thời đồng ấu và đây có xem như là quê hương thứ hai của mình cho đến khi đến tuổi đi làm, lập gia đình.

    Thủ Thiêm Xóm Dưới

    Thủ Thiêm chỉ cách thành phố Sài Gòn có một con sông rộng khoảng một ngàn mét, tưởng gần nhưng hoá ra lại xa. Thủ Thiêm từ bao nhiêu đời đã bị sách vở bỏ quên không thèm ngó tới.

    Sinh ra ở miền Tây nhưng lại được nuôi dưỡng lớn lên ở đất Thủ Thiêm, từ lúc nhỏ tới tuổi đi học đánh vần ABC, qua thời Kháng Chiến Nam Bộ dưới thời Pháp tái chiếm Đông Dương, lớn lên ở chung với cha mẹ, thời gian thật khá dài để người viết thấy Thủ Thiêm ì ạch thay đổi theo thời gian và Sài Gòn rung chuyển biến thái theo bom đạn.

    Ngày đó, từ thời người viết mới đi học lớp đồng ấu ở trường họ đạo Thủ Thiêm do các dì phước dòng tu Mến Thánh Giá làm cô giáo dạy dỗ, Thủ Thiêm phải kể là bắt đầu từ giòng Ông Tố, xuống Bến Đò Trên, qua cầu Ông Cậy, tới Xóm Dưới – thường được gọi là Xóm Cây Bàng- và tiếp tục đi xuống nữa để tới đồn phòng thủ thời của các ông vua đầu đời nhà Nguyễn mà trong lịch sử gọi là đồn "Giác Ngư" còn gọi là đồn Cá Trê (Về sau, thời Pháp thuộc vi trí của đồn nầy có thể là nơi xây cất những bồn chứa xăng dầu thường được gọi là kho xăng Nhà Bè. Kho xăng nầy có lần bị cháy lớn, khói đen bốc lên cao cả ngày chưa dứt, không biết có phải vì bị kháng chiến đột kích hay không. Xin giới hạn đến đồn nầy vì thuở nhỏ người viết "sợ ma" không dám đi xa hơn và sẽ nói thêm về đồn Cá Trê và kho xăng Nhà Bè ở phần dưới .

    Thủ Thiêm thời Gia Long là vùng đất của nhóm ghe cướp gọi là Tàu Ô mà phần đông là hạng người tứ chiến giang hồ từ nước Trung Hoa chạy vào miền Nam và được họ Nguyễn dung nạp cho qua tập trung và trú cư ở Thủ ThiêmTừ bến đò dưới cuối đại lộ de La Somme (sau gọi là đại lộ Hàm Nghi) tức là từ cột cờ Thủ Ngữ, mà thời Pháp người thường dân gọi là Point des Blagueurs ở phía Sài Gòn, (xin tạm dịch là: Địa điểm dành cho những người tán gẫu, (không biết địa điểm nầy ngày nay đã thay đổi ra sao), phải xuống các bậc thềm đá xanh để xuống đò chèo qua sông Sài Gòn rồi lên bến đò dưới ở xóm Cây Bàng, Thủ Thiêm .
    [IMG]Nguồn[/IMG] https://www.flickr.com/photos/tedpha...ream/lightbox/

    Bến đò dưới thời đó là một nhà sàn lợp lá dừa nước cất lấn ra bờ sông và một chiếc cầu ván vừa đủ một người đi chạy dài ra ngoài sông khoản 60 mét gọi là cầu đò xóm dưới. Chiếc cầu nầy càng ra xa thì càng hẹp đi cứ mỗi khi nước "ròng " (tức là khi mực nước sông xuống thấp) thì hành khách qua đò bước lên cầu nầy phải thật cẩn thận nếu không sẽ bị trượt chân té xuồng "sình" (tức đất bùn trơn trợt). Những con đò đưa khách sang sông Sài Gòn đóng theo kiểu trong Nam, hai người chèo, người chèo phía sau dùng chân để điều khiển cần tay lái, có một sạp lót ván cho vài người ngồi còn bao nhiêu đều phải đứng. Số người chuyên chở cho mỗi chuyến đò không nhất định nhưng ít nhất phải được khoảng 10-15 người khách thì đò mới chịu tách bến; đông khách nhất là buổi sáng giờ đi làm và buổi chiều giờ tan sở: có lúc vì tham lam ghe đò chở quá khẳm đến độ bờ ghe chỉ cách mực nước khoảng 20 phân tây (xin nói rõ 20 phân Tây= 20 cm !): sóng yên gió lặng thì tạ ơn trời phật, gặp lúc mưa gió lớn thì phú dâng hồn xác cho hà bá! Trong thời thơ ấu, đã chứng kiến biết bao nhiêu lần tai nạn chìm đò thảm thương nhất là những vụ chìm đò vì bị các chiếc tàu buôn ngoại quốc khi quay mũi tàu trên sông Sài gòn xả hết tốc lực quạt chân vịt nổi sóng xô đẩy chiếc ghe đò nhỏ bé đầy ập hành khách lật bổ giữa lòng sông trong khi những tên thuỷ thủ ngoại quốc trên bon tàu đứng chống tay nhìn xuống miệng cười hô hố vui thích! Đó là đò chèo của bến đò dưới Thủ Thiêm .

    Từ bến đò dưới ở phía Thủ Thiêm, dọc theo bờ sông là những dãy nhà sàn lụp sụp lợp lá dừa nước chạy suốt dọc dài xuống phía dưới nữa, đối diện ngang với kho 10, kho 5 (kho hàng của bến tàu "Thương Cảng" Sài Gòn). Phần lớn những nhà nầy đều có một chiếc ghe nhỏ "tam bản" đóng bằng 3 miếng ván để chèo ra khơi cập hong tàu buôn ngoại quốc vào sông Sài Gòn, đu dây lên tàu để mua hàng lậu thuế rồi tuột xuống quay trở vào bờ Thủ Thiêm .

    Lên đò, quẹo về phía tay mặt khoảng 50 mét là chợ nhóm ngoài trời của ấp Cây Bàng, mặt hàng buôn bán ở chợ thường là cá, tôm, tép lưới câu từ sông Sài Gòn hoặc đi xúc, đi câu treo từ trong ruộng đưa ra. Một vài hàng tạp phô mắm, muối, đồ gia vị, tuy không dồi dào nhưng cũng đủ cung ứng cho cả ấp. Cũng có nhà ở bờ sông đặt vài bàn bi da loại có lỗ, 12 trái banh (khác với loại bi da 3 trái banh). Từ chợ đi thẳng sâu vào bên trong là vùng đất ruộng mà ngày trước người viết thường hay xách rỗ và chai đựng từ xóm trên xuống đi vào trong đó để hớt cá lia thia. Sau lưng chợ Cây Bàng là một dãy phố 18 căn mới cất so với dãy phố cũ 10 căn cùng một hướng.

    Con hương lộ từ bến đò chạy song song với sông Sài Gòn đi dài xuống đến kho 5, kho 10: dọc sát bờ sông là những trụ sắt chôn xuống đất với xi măng (Cement) trộn đá sỏi chèn cứng dùng cho các tàu buôn ngoại quốc cột giữ tàu để đợi tới phiên lên hàng ở các nhà kho phía Sài Gòn. Càng đi xuống xa về hướng đồn Giác Ngư thì nhà ở càng thưa thớt, quang cảnh có vẻ âm u vắng lạnh. Người viết ngày nay còn một ấm ức trong lòng là chưa tới được đồn Giác Ngư vì hồi đó sợ ma, lúc đã lớn lên thì không còn dịp nào để tới chỗ đó, cho nên bây giờ cứ tiếc hoài!

    Từ bến đò bước lên thì gặp ngay nhà của cha mẹ người viết bài nầy, sát với lề đường (Ở River Side! Ở ngoại quốc chỉ có dân triệu phú mới dám cất nhà sát bờ sông). Trước đó thời Nam Bộ Kháng chiến, nhà cũ của cha mẹ người viết ở Xóm Trên. Căn nhà Xóm Dưới Cây Bàng chỉ được cất sau ngày Tây gần thất trận rút lui khỏi Việt Nam.

    Cũng xin nói qua sơ sơ về vùng kháng chiến Thủ Thiêm. Vào thời nầy, vùng kháng chiến Thủ Thiêm do hai ông Bảy Môn, Mười Lực của Bình Xuyên làm chỉ huy lực lượng đánh Tây. Hai ông nầy người viết chưa bao giờ được gặp mặt nhưng mẹ già 98 tuổi (Bây giờ đã được 100 tuổi) hiện còn sống ở bên Mỹ biết rất rành rọt về hai ông Bảy Môn, Mười Lực. Tuy nhiên có một chuyện mà người viết còn nhớ hoài cho đến ngày nay về tổ đánh Tây của Xóm Dưới: đó là việc tổ kháng chiến lấy cây giả làm ụ súng cà nong (Cannon) đặt dưới gầm cầu ông Cậy nhắm qua hướng các tàu chiến của Tây đậu dọc bờ sông Sài Gòn ở cuối đường Catinat để thị uy, (trước khách sạn Majestic; đường nầy sau đổi là đường Tự Do); hậu quả là súng đại liên trên tàu chiến của Tây bắn qua như mưa khiến bà con chạy lăn cù lăn chiên trong số đó có cha của người viết bài nầy. Dù là đồ giả để chống lại đồ thiệt, nhưng cũng làm cho giặc Tây e dè vùng kháng chiến Thủ Thiêm nhất là vùng Xóm Dưới Cây Bàng.

    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 03-30-2019 at 08:56 PM.

  9. #9
    Hồi Ký của Tư Lé (tiếp theo kỳ trước)

    Từ bến đò dưới Thủ Thiêm quẹo về phía trái khoảng 10 mét là cầu ông Cậy. Chiếc cầu nầy là một di tích lịch sử đáng được bảo tồn. Từ Sài Gòn, cuối đường Charner (Nguyễn Huệ), nhìn thẳng qua Thủ Thiêm chúng ta có thể nhìn thấy chiếc cầu nhỏ lịch sử đó. Cầu làm bằng xi măng cốt sắt vừa đủ rộng cho một chiếc xe chở hàng cỡ nhỏ chạy qua, hai bên có hai bậc thềm thấp dành riêng cho người đi bộ có bờ lan can an toàn suốt dọc chiếc cầu nhỏ bé. Chiếc cầu có thể ngày xưa do một viên quan võ triều đình nhà Nguyễn cai trị vùng Thủ Thiêm đứng chỉ huy xây cất cùng một lúc với con đường hương lộ cho nên dân chúng trong vùng gọi là cầu ông Cai (tức cầu do ông quan Cai trị xây cất) nhưng lâu ngày có thể đọc trại đi là cầu ông Cậy (nếu bạn nào biết rõ xin làm ơn bổ túc cho tên gọi của chiếc cầu nầy). Con rạch chảy ngang dưới chiếc cầu là một nhánh thật nhỏ của sông Sài Gòn cũng gọi là Rạch Ông Cậy. Sở dĩ chúng tôi gọi là "một di tích lịch sử bởi vì nó là nơi mà lính Tây dùng làm pháp trường để bắn chết thả trôi sông những người đánh Tây ở vùng Thủ Thiêm bị họ bắt được sau những cuộc bố ráp, đốt phá mà dân Thủ Thiêm gọi là "bao bố nhìn mặt": Tây mua chuộc người địa phương, cho trùm bao bố lên đầu để dấu tung tích rồi cho ra nhìn mặt những người bị Tây bắt trong những cuộc lùng xét: người nào bị bao bố gật đầu thì kể như đi tắm sông ở cầu ông Cậy.

    Đúng ra ngày xưa, chắc là lâu lắm, con rạch ông Cậy có tới 2 cái cầu: một cái sát bờ sông Sài Gòn chỗ miệng cửa con rạch và một cái nữa tức là cái cầu thứ 2 cũng bắt ngang qua con rạch nhưng hơi xế về phía trong một chút, cách cái cầu thứ nhứt chừng 50 mét. Cái cầu thứ 2 nầy nối con hương lộ thứ nhì tới dãy phố 18 căn ở xóm Cây Bàng bây giờ biệt tâm biệt tích không còn dấu vết nào và chỉ còn cái cầu sát với bờ sông Sài Gòn ngày nay mà người Sài Gòn có thể đứng ở đầu đường Charner (Nguyễn Huệ) ở bên nầy bờ sông nhìn thẳng qua Thủ Thiêm để nhìn thấy nó.
    [IMG][/IMG]

    Nguồn hình chưa được ghi chú
    https://www.flickr.com/photos/tedpha...ream/lightbox/

    Nghe đồn bây giờ đang có chương trình phát triển vùng Thủ Thiêm, các vùng gần bờ sông Sài Gòn, kể cái cái cầu ông Cậy lịch sử cũng sẽ bị san bằng ủi sập và nếu như vậy thì kẻ nầy chỉ còn biết dụi mắt khóc thầm tiếc nuối cho một di tích lịch sử bị mai một! Bạn nào có dịp về thăm quê nhà, hãy đi đò qua Thủ Thiêm, hỏi thăm dân tình ở đó chỉ cho biết rồi đến đứng trên chiếc cầu ông Cậy nhỏ bé nầy nhìn qua phía bên kia sông Sài Gòn nguy nga sáng lạng rồi ngó xuống lòng nước để bùi ngùi tưởng niệm cho những người kháng chiến vô danh đã từng bị kẻ ngoại quốc xử tử bắn chết trên chiếc cầu nầy rồi quăng xác xuống rạch.

    Cũng xin nói thêm, hồi đó, có lần người viết cũng bấm gan làm liều phiêu lưu đi dọ thám sâu xuống miệt dưới với ý định tới thăm đồn Cá Trê một chuyến bởi vì nghe mẹ già kể lại rằng đồn nầy đã từng đụng độ hết quân Tây Sơn rồi lại đụng độ với quân Pháp khi họ đưa tàu binh vào sông Nhà Bè để đánh chiếm Sài Gòn. Đi dọc trên con lộ trải nhựa nứt nẻ đầy ổ gà, khi hết ranh giới của xóm Cây Bàng thì sẽ gặp một chiếc cầu bằng xi măng bắt ngang một con rạch nhỏ. Lấy can đảm đi một đỗi nữa thì tới một cái cầu nhỏ khác rồi tới một cái cầu lớn hơn bắt ngang một con rạch khá lớn gọi là rạch Ba Chia. Sở dĩ gọi là rạch Ba Chia vì khi đi sâu vào miệt ruộng, con rạch nầy chia ra thành 2 nhánh, một nhánh nước chảy về hướng đông bắc, còn nhánh nhỏ kia chảy xuống hướng đông nam. Trước khi tới cầu rạch Ba Chia thì thấy phế tích của một ụ đồn bót nằm chơi vơi sâu về phía bên trong đồng ruộng. Tới đây thì kẻ thám hiểm bắt đầu bụng đói và sợ ma, muốn quay về vì thấy mình bị chơi vơi đơn độc quạnh quẽ quá mức nhưng không hiểu tại sao đôi chân cứ tiếp tục cuộc hành trình. Rồi lại tới một cái cầu nữa bắt ngang qua một con rạch nhỏ. Kẻ thám hiểm đứng trên cầu nầy ngó quanh ngó quẩn nhưng vẫn không thấy tăm dạng của đồn Cá Trê nó nằm ở đâu trong khi trời đã về chiều, hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Thôi, tới đây thì đành bỏ cuộc, kíp mau quay về kẻo bị ma trơi, ma gáo bắt dấu nhét đất vào miệng! Sau nầy mới biết rằng chỉ cần tiến bước thêm chừng vài cây số nữa thì sẽ gặp được đồn Cá Trê, tiếc ơi là tiếc !

    Khi lớn lên và theo ba mẹ dọn qua ở Sài Gòn, có một chuyện thời sự đáng chú ý: kho xăng dầu Nhà Bè bị cháy khói đen bóc lên cao gần 2 ngày trời mà đội lính chữa lửa của đô thành Sài Gòn không thể đàn áp được sự tàn phá của thần hỏa. Dân Sài Gòn ngày đó khi nói tới 2 chữ Nhà Bè thì thường nghĩ đây là vùng đất bên kia đầu cầu Tân Thuận, đinh ninh rằng kho dầu xăng nầy nằm ở về đoạn cuối hửu ngạn của sông Sài Gòn bây giờ tức là nằm đối diện với phía Thủ Thiêm. Trên thực tế, địa điểm của kho xăng Nhà Bè nằm trên lãnh vực của Thủ Thiêm đối diện với Sài Gòn và vị trí xây cất của nó có thể là vị trí đồn Cá Trê ngày xưa nằm trên tả ngạn của khúc sông Nhà Bè.

    Đọc lại sử cũ thì sông Sài Gòn có tên là sông Tân Bình và hai bên bờ sông Tân Bình, ở khúc sông ngày nay gọi là sông Nhà Bè, triều đình nhà Nguyễn ở Gia Định có đặt 2 tiền đồn phòng thủ: một ở bờ sông vùng Tân Thuận đi xuống gọi đồn Hửu Bình và một ở phía Thủ Thiêm gọi là đồn Tả Bình. Hửu Bình tức là thuộc hửu ngạn sông Tân Bình và còn có tên khác là đồn Nam hoặc đồn Thảo Câu. Tả Bình tức là tả ngạn sông Tân Bình cũng có tên khác là đồn Bắc (nằm lấn về hướng Bắc nếu so chiếu với đồn Nam ở Tân Thuận) hoặc đồn Cá Trê. Ngày nay, vết tích 2 tiền đồn lịch sử nầy của miền Nam Việt Nam có lẽ đã bị xóa mất hết rồi!

    Chiếc cầu và con rạch Ông Cậy phân chia Thủ Thiêm thành 2 xóm: Xóm Trên và Xóm Dưới. Xóm dưới chúng ta đa đi qua; bây gờ chúng ta đi lên Xóm Trên sau khi bước ngang qua cầu ông Cậy.

    (còn tiếp)
    Thủ Thiêm Xóm Trên.

  10. #10
    (Tiếp theo kỳ trước)

    Xóm dưới chúng ta đa đi qua; bây gờ chúng ta đi lên Xóm Trên sau khi bước ngang qua cầu ông Cậy.
    Phải nói ngay rằng từ 1941-1948 là thời ấu thơ của TL trải qua ở Xóm Trên Thủ Thiêm và như trên đã viết, chiếc cầu và con rạch Ông Cậy phân chia Thủ Thiêm thành 2 xóm: Xóm Trên và Xóm Dưới.

    Đúng ra ngày xưa, chắc là lâu lắm, con rạch ông Cậy có tới 2 cái cầu: một cái sát bờ sông Sài Gòn chỗ miệng cửa con rạch và một cái nữa tức là cái cầu thứ 2 cũng bắt ngang qua con rạch nhưng hơi xế về phía trong một chút, cách cái cầu thứ nhứt chừng 50 mét. Cái cầu thứ 2 nầy nối con hương lộ thứ nhì tới dãy phố 18 căn ở xóm Cây Bàng bây giờ biệt tâm biệt tích không còn dấu vết nào và chỉ còn cái cầu sát bờ sông Sài Gòn ngày nay mà người Sài Gòn có thể đứng ở đầu đường Charner (Nguyễn Huệ) ở bên nầy bờ sông nhìn thẳng qua Thủ Thiêm để nhìn thấy nó.
    [IMG][/IMG]
    Xóm trên ngày nay
    1- Nhà ba mẹ người viết. 2- Hương lộ đi xuống Xóm dưới Cây Bàng. 3- Nhà xứ. 4- Nhà bếp. 5- Lầu chuông. 6- Trường Nữ. 6 bis- Trường Nam (?) 7- Dãy phố vợ chồng chị Đào ở. 8- Hẽm đấp đi vào Đất Thánh (nghĩa địa của nhà thớ) Hẽm nầy ăn thông vơi con lộ cũ dọc theo bờ sông đi xuống xóm dưới. 9- Hẽm vào dòng nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Thiêm. 10- cầu nhỏ xi măng ngang rạch Thủ Thiêm để đi vào Dòng tu. 11- Nhà nguyện riêng của dòng tu Mến Thánh Giá. 12&13 - Nóc nhà thờ đã được tân tạo. 14,15,16 – Đất Thánh nay đã bị ủi bằng. 18 Nhà cậu Chín Ngọt. 19- Nhà ông Mười Vàng bị Tây bắn trên cầu Ông Cậy rồi thả trôi sông. 20-Khu cơ xưởng của hảng CARIC.

    Từ xóm Cây Bàng qua cầu ông Cậy thì ở phía tay mặt của đầu cầu có một dãy phố lợp ngói, vách tường (gạch). Cuối dãy phố là căn nhà của Ông Mười Vàng nằm sát con rạch. Ông Mười cũng bị Tây bắt rồi đem xử bắn trên cầu ông Cậy xô xuống rạch, xác chìm trôi mất đi nhưng mấy ngày sau xác của ông lại nổi lên nằm sấp trên mặt nước và trôi trở về tắp vô bên bờ rạch sát căn nhà của mình. Trước đó, gia đình của ông đã mướn người lặn hụp khắp nơi hoặc dùng móc câu sắt rà lên rà xuống bờ sông Sài Sài Gòn và bên trong rạch ông Cậy để tìm xác nhưng không vớt ông lên được. Người ta đồn ông Mười bị chết oan thành "thằng chỏng chết trôi" nhớ nhà nên trở về đoàn tụ với vợ con : người bị chết chìm, sau vài ngày xác chết nổi lên mặt nước trôi lên trôi xuống và người dân miền Nam gọi xác chết trôi sông nầy là thằng chỏng, bởi vì cái xác nằm úp, đầu và mặt chìm dưới mặt nước, còn cái mông thì chỏng cao nhô lên khỏi mặt nước. Người ta còn đồn rằng đàn ông chết trôi khi xác nổi lên thì nằm úp còn xác đàn bà khi nổi lên thì nằm ngửa không biết có đúng hay không. Người viết đứng trên cầu ông Cậy đã tận mắt trông thấy người nhà vớt xác của ông Mười lên, máu trong miệng, trong mũi, trong lỗ tai của ông trào ra khi ông được đặt nằm ngửa trên bờ rạch, trên ngực của ông lỗ chỗ nhiều vết đạn xuyên thấu.

    Gia đình ông Mười Vàng có một cậu em trai tên là cậu Hai Bàn. Hai Bàn người mập mạp cao lớn nhưng ít học, làm nghề y tá chích dạo đầu trên xóm dưới và được dân tình Thủ Thiêm xem như là thầy thuốc lưu động những lúc bị cảm cúm, nhức đầu, nóng lạnh, ho hen. Hai Bàn còn có một nghề khác: nuôi cá lia thia, loại cá Xiêm (có thể là du nhập từ nước Xiêm) để đá độ ăn tiền. Giống cá lia thia nầy rất hiếu chiến và gan lì khác với loại cá lia thia của ta được vợt xúc từ trong các đồng ruộng, tuy màu mè đẹp đẽ nhưng nhỏ thó hơn và khi đụng trận thì không hung bạo gan lì như giống cá Xiêm. Cá lia thia ta so với cá lia thia Xiêm cũng giống như so sánh gà trống "Tàu" lớn con với gà trống Tre óm yếu tong teo. Cá lia thia Xiêm của Hai Bàn nổi tiếng là cá hạng nhất và được những dân đá cá ăn tiền vùng Thủ Thiêm chọn mua đem về nuôi nấng, tập luyện để đưa ra đấu trường cáp độ. Con nít ở thủ Thiêm cắt ca cắt củm, nhịn kẹo, nhịn bánh để giành tiền chạy xuống cậu Hai Bàn mua cá Xiêm. Hai Bàn cũng nuôi gà nòi để cáp độ. Gà nòi được Hai Bàn tẩm nghệ vàng khắp mình mẫy để cho da thịt được rắn chắc và đôi cựa được chuốc gọt nhọn lễu để có thể đăm sâu ngập vào da thịt của gà đối thủ. Gà nòi đá nhau rất hăng và trận đấu kéo dài có khi cả giờ đồng hồ cho tới khi có một con chịu thua bỏ chạy. Trong những trận cáp độ ăn thua lớn, chủ gà hai bên cột ghép thêm hai lưỡi dao nhọn sắc bén vào đôi cựa của con gà nòi rồi cho lâm trận: gà bị thua thường nằm gụt chết tại đấu trưòng vì những vết đăm chém tuôn máu khắp lòng ngục, đầu cổ trông thật dã man rùng rợn còn con gà thắng trận thì cũng máu me đầy mình nằm một chỗ thoi thóp đợi chủ gà mang về trụng nước sôi nấu cà ri.

    Đối diện với nhà ông Mười Vàng, ngang qua con lộ, là nhà của bà Năm Vang, chồng Bắc Kỳ vợ Nam Kỳ. Bà Năm là bà mụ chuyên môn hộ sanh cho cả vùng trên, xóm dưới của Thủ Thiêm. Trước nhà bà Năm có treo một bản "Nhà bảo sanh Thủ Thiêm" để mấy bà bầu biết mà chạy tới khi đau bụng. Một trong 2 người con trai của bà Năm tên Toàn là bạn chí thiết của người viết. Vào lúc tập kết, Toàn rủ rê người viết qua Sài Gòn để xuống tàu tập kết ra Bắc mặc dù cả 2 đứa không biết tại sao đi tập kết và tại sao lại bỏ cha, bỏ mẹ ra đó để làm chi. Cuối cùng chỉ có một mình Toàn ra đi, hai đứa hai nơi, bất đắc dĩ bạn hóa địch thù thật đau đớn !
    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 04-14-2019 at 11:23 AM.

 

 

Similar Threads

  1. Cho Đến Cuối Cuộc Đời
    By MưaPhốNúi_ in forum Truyện
    Replies: 0
    Last Post: 09-30-2017, 06:39 PM
  2. Cuối ...
    By dulan in forum Thơ
    Replies: 75
    Last Post: 01-17-2013, 04:35 PM
  3. Lạc Bước Rừng Thiền
    By ngocdam66 in forum Nhân Văn
    Replies: 2
    Last Post: 10-20-2012, 08:20 PM
  4. Bước không qua số phận
    By ngocdam66 in forum Phê Bình Văn Học Nghệ Thuật
    Replies: 1
    Last Post: 03-22-2012, 09:54 PM
  5. Replies: 0
    Last Post: 10-12-2011, 08:09 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 12:30 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh