Register
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 13
  1. #1

    TRỐNG ĐỒNG Soạn giả: Nguyễn Công Tánh

    TRỐNG ĐỒNG
    Soạn giả: Nguyễn Công Tánh

    Trống đồng là một cổ vật của chung miền Nam Á, gồm cả Trung Hoa, Việt Nam, Miên, Thái, Phi, Miến, Mã Lai, Nam Dương... mà nơi phát xuất lớn nhất là Việt Nam trước khi có những cuộc khai quật quy mô các trống đồng tại vùng lãnh thổ của Sắc dân Choang (Zhuang) mìền nam nước Trung Hoa là những dân tộc ít người đông nhất ở Trung Hoa.
    Ghi chép cổ nhất có liên quan đến trống đồng xuất hiện trong Sử Bản (chữ Hán: 史本), một cuốn sách Trung Quốc từ trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Cuốn sách này nay không còn, nhưng được dẫn lại một phần tại một cuốn sách cổ khác: cuốn Thông điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑).
    Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận....". Sách này còn chép rằng Mã Viện, tướng nhà Hán, sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào khoảng 40-43, đã tận thu trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và cột đồng Mã Viện.
    Ở Việt Nam, các cuốn Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14 ghi lại nhiều truyền thuyết về trống đồng. Các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến trống đồng.

    I- Trống đồng ở Việt Nam

    1 - Các cuộc phát hiện và phân loại trống đồng ở Việt Nam
    1.1 – Phát hiện

    Theo học giả Linh Mục Kim Định ghi chép nơi chương Dẫn Nhập trong tác phẩm “Sứ Điệp Trống Đồng, xuất bản vào năm 1984 thì vào thời Pháp thuộc, khoản 1885-1895, thực dân Pháp xem trống đồng là một di vật rất quý, nên tìm mua khắp nơi. Có 6 chiếc trống đồng loại thời danh nhất vào lúc đó: (Nguồn: http://searchvn.net/QueHuong/DiSan/t...g-kimdinh.html)

    - Một do Moulié (Trống Sông Đà) lấy được của một người đàn bà góa quan lang người Mường ở miền Sông Đài tỉnh Hoà Bình. Chiếc này được đem trưng bày ở Hội Chợ Quốc Tế Paris 1889 rồi biến mất không còm tung tích nhưng đến năm 1936 lại thấy xuất hiện ở bảo tàng viện Guimet. Còn gọi là trống Moulié

    Trống Sông Đà
    (https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B...on_Guimet.jpg)

    - Chiếc thứ 2 là trống Khai Hóa, do Gillet lấy được ở một tù trưởng Miêu tộc trên Vân Nam, cũng đưa đi đấu xảo ở Paris, rồi mất tích. Sau thấy xuất hiện ở bên Đức, tại bảo tàng viện dân tộc học thành Vienne. Còn gọi là trống Bắc kỳ Gilet I hay trống Viên
    - Chiếc trống đồng thứ ba là trống Ngọc Lũ của chùa Long Đại Sơn, làng Ngọc Lũ, tỉnh Hà Nam. Năm 1901, trường Viễn Đông Pháp đã nhờ trung gian chánh sứ Phủ Lý lấy trống ấy về Viễn Đông Bác Cổ, nay ở Hà Nội.
    - Chiếc trống thứ tư là trống Hoàng Hạ, tìm được vào năm 1932, nhân lúc khai sông gần làng Hoàng Hạ, tỉnh Hà Đông. Trống được trao cho trường Viễn Đông Pháp, để ở bảo tàng viện Finot, nay cũng ở Hà Nội. Đó là cặp trống đẹp nhất, cổ nhất, hơn cả 2 trống Sông Đà và Khai Hóa...
    - Chiếc trống thứ năm, gọi là Trống Hà Nội, được Anderson mua, đưa về Stockhom.
    - Và chiếc thứ sáu là trống Lào, tìm được bên đường cái Oubon bên Lào vào năm 1924. Theo Goloubew, chiếc trống này rất đẹp, cũng vào hạng cổ nhất, vì ít bị kiểu thức hóa. Mặt trống rộng 86 cm, cao 54 cm. Vòng 1 có 5 cặp vật giống giao long châu đầu vào nhau. Có nai và cả cá nữa. Về loại to nhất có trống Đông Hiếu (Nghệ An) rộng 89 cm, hiện ở Hà Nội.
    - Theo Goloubew, còn một chiếc trống rộng tới 1 mét (3 ft) của một tay chơi người Pháp tên là Nelson trước ở Bắc Xế, Lào.
    Nguồn: http://www.persee.fr/doc/befeo_0336-...%20de%20bronze
    Cũng theo học giả Linh mục Kim Định thì có chứng cớ cho thấy bên Tây Âu đã biết về trống đồng từ năm 1682 (xem Asie du Sud Asiatique, Tome II Le Vietnam, L. Bezacier, Paris, Picard 1972). Nhưng mãi tới cuối thế kỷ 19 mới có học giả bàn về trống đồng như Hirth (1890) mà ông cho là từ Trung Quốc phát nguồn. Rồi De Grooth (1901) cho là của Việt Tộc. Ông Franz Heger, một học giả người Đức làm cố vấn trong hội nghị nghiên cứu về Viễn Đông ở Hà Nội năm 1902 đã cho xuất bản tại Leipzig 2 quyển về trống đồng cổ ở Đông Nam Á. Sách in khổ lớn, có 45 hình và một bản mục lục về tất cả các diễn đề. Ông Heger chống lại ý kiến của Hirth cho trống đồng là sản phẩm của Trung Quốc, ủng hộ ý kiến của Grooth cho là của Việt Tộc, quả quyết trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng phải là ở Bắc Việt, và xin người Pháp chú ý đến di vật đầy tính chất văn hóa này.
    Số trống đồng cổ trong công trình nghiên cứu của Franz Heger là 165 nhưng theo H... Parmentier, (Architecte diplômé, Chef du Service archéologique de l'Ecole Française d'Extrême-Orient) thì còn có những trống đồng khác đã được nhiều tư nhân ngoại quốc phát hiện tãn mạng ở vùng Viễn Đông trong số đó có một chiếc đang được lưu giữ ở viện Bảo Tàng Viễn Đông Bác Cổ, nâng tổng số trống đồng lên đến con số 188 vào thời đó cần được khảo sát và phân loại (H. Parmentier - Anciens tambours de bronze. BEFEO T. XVIII. Hà Nội. 1918 Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient Année 1918 Volume 18 Numéro 1)

    1. - Phân loại trống đồng ở Việt Nam trong thời Pháp thuộc


    Ông Heger phân chia 165 chiếc trống được biết vào lúc ấy thành 4 loại.



    • Loại I: thuộc vào loại trống đồng cổ xưa nhất giống như chiếc trống được trưng bày nơi Bảo Tàng Viện Viễn Đông Bác Cổ ngày trước. Loại nầy thường có kích thước lớn và chia thành 3 vùng khác nhau: vùng giữa là thân trống thẳng đứng với tang trống phình cong; vùng trên cao là mâm mặt trống cong gắn nối vào tang trống; vùng thứ 3 là chân đế hình nón cụt của trống.



    Trống đồng Hoàng Hạ, loại Heger I, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam
    - Loại II: không có tang trống phình cong xen kẻ giữa mâm mặt trống và thân trống. không có hình người hay vật nữa, thay vào toàn là hoa văn hình học chũ S. Trên mặt trống thường có hình khối 4 con cóc, đôi khi 6 con, mặt trời 8 tia.

    Trống đồng Tân Độ, loại Heger III, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
    Phần quai trống là một chi tiết quan trọng của loại trống nầy. Thông thường mâm mặt trống thuộc loại nầy được trang trí bằng những con cóc hay bằng các mô hinh dũng sỹ. Mô hình cóc hay dũng sỹ thường được sắp xếp quy hướng theo chiều kim đồng hồ đi ngược. Hoa văn trình bày trên các trống loại I có tính cách đặc trưng; loại trống cổ xưa nhất nầy thường có hoa văn đơn sơ cách điệu với những hình dạng kỳ lạ khó thể nhận thức về người, thú vật, nhà cửa, ghe thuyền vân…vân… Loại II này được tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam, ở miền Nam Trung Quốc và vùng hải đảo Mã Lai.
    Loại II và loại III có nhiều nét trùng hợp giống nhau. Nhất là mâm mặt vòng tròn của trống thường lớn quá khổ so với thân trống; các vùng hoa văn có những chi tiết nhiều hơn ở loại I nhưng lại là những chi tiết li ti và giống như những mắt khúc đồ đan lát. Mâm mặt trống thường được trang trí bằng 4 hoặc 6 con cóc đặt ngoài rìa mâm mặt trống.
    Một cách tổng quát, những dạng thức trên trống loại II đôi khi có khác biệt một ít so với loại I; quai trống không còn là một chi tiết quan trọng và thường chỉ là một loại quai đơn hình cong tròn. Hình ngôi sao thường có ít tia nhánh hình chỉ mành. Những vùng phân chia trên mâm mặt trống thường là số ít và cách trang trí thì đa số trường hợp được thực hiện bằng hai loại hoa văn chen kẽ nhau. Sự cách điệu hóa của những hoa văn nổi bật hơn so với trống loại III. Vào thời Pháp thuộc, theo Heger thì người ta không thể biết được xuất xứ, nguồn gốc của trống đồng loại II và vì thế người ta phải quy hướng sự phát xuất loại trống nầy từ vùng miền nam Trung Quốc. Tuy nhiên trong số 13 trống được tìm thấy thì đã có 6 trống loại nầy tìm được ở vùng Bắc Việt Nam thời cổ.
    - Loại III: với hình dạng kém và thường là loại trống nhỏ và đôi khi chỉ được trang trí bằng hình những con cócđúc nổi gắng chồng cặp đôi trêm mâm mặt trống nhiều nhất là 4 cặp đôi. Hình thể thùng trống đơn giản hơn loại I; trục óng trụ choáng chổ nhiều hơn hết và phần dưới ít khi thấy loe ra. Quai trống nhỏ và thanh lịch giống như những mẫu sợi tam giác bện chung lại với nhau. Thùng trống cũng được trang trí giống như thế. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây "đời sống". Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc).


    Trống đồng Tân Độ, loại Heger III, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

    Loại Heger III
    - Loại IV: Có kích thước thường nhỏ, không có cóc. Ngôi sao bao giờ cũng 12 tia.
    Tìm thấy ở Trung Quốc và Việt Nam.


    Trống đồng Long Đọi Sơn, loại Heger IV, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
    https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%...%91%E1%BB%93ng

    loại Heger IV
    Vào thời Pháp thuộc, người Pháp ở Việt Nam đã tìm thấy được 10 chiếc trống loại nầy trong số đó có 6 chiếc được tìm thấy ở Vân Nam Phủ/Trung Quốc mang về. Tất cả loại trống nầy đều giống với mẫu hinh của trống loại I nhưng đôi khi có trộn lẫn những chi tiết hoặc mẫu tự Trung Quốc.

    Hoa văn mặt trống loại IV
    Nhỏ hơn những trống trong nhóm I và II, hình dáng thấp; ngôi sao luôn luôn là mười hai tia và con số này hình như có quan hệ với chu kỳ 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi?) bởi vì có nhiều trống loại IV mang những dấu chỉ hay hình những thú vật sắp xếp theo chu kỳ. Loại trống nầy không bao giờ có những con cóc (?). Les grenouilles n'apparaissent jamais sur ce type; ……. La présence de grenouilles sur le plateau fait supposer que ces objets ont pu jouer le rôle de tambours de pluie. (?) [Cần lưu ý về điểm nầy].
    (Còn tiếp)

  2. #2
    (Trống Đồng Tiếp theo kỳ trước)
    1- Phát hiện và xếp loại

    Trống Ngọc Lũ được tìm thấy hữu ngạn sông Hồng vào khoảngnăm 1893 - 1894, do một số người Việt Nam thi hành nghĩa vụ dân công đắp đê ởxã Như Trác huyện Nam Xang (Lý Nhân).

    Khi đào ở bãi cát bồi thì thấy ở dưới độ sâu 2 mét lộ ra mộtvật bằng đồng rất lớn, các người dân công nầy vội lấp đất rồi đến đêm mới kéora đào thì thấy một trống đồng, họ khiêng về cúng vào đình làng Ngọc Lũ. Sau 7,8 năm một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình thấy trống liền báo cho Công sứPháp ở tỉnh Hà Nam. Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15 - 11 - 1902 ở Hà Nội, trống đượctrường Viễn đông Bác Cổ mua lại với giá 550 đồng. Từ năm 1958 đến nay trống đồngNgọc Lũ được lưu giữ, bảo quản và giới thiệu tại hệ thống trưng bày chính của Bảotàng Hà Nội Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ngày).


    Mặt trống
    Ngọc Lũ


    [IMG][/IMG]
    Trống đồng Ngọc Lũ được xếp vào loại H1 - Heger (theo sựphân loại của học giả F. Heger người Áo vào năm 1902). Trống có màu xanh ngảxám Trống có kích thước lớn, hình dáng cân đối và đặc biệt có hoa văn trang tríđẹp nhất trong số những trống Đông Sơn được phát hiện ở Việt Nam. Trống có đườngkính mặt: 79,3cm; đường kính chân: 8cm; Cao: 63cm. Trọng lượng của trống: 86kg.Trống gồm 3 bộ phận chính: Mặt trống, tang trống, thân trống bao gồm chân trống.

    Mặt trống chính giữa đúc thành ngôi sao nổi 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi. Đây là núm sao để đánh trống. Xen giữa các cánh sao lànhững họa tiết hình lông công. Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn: chấm nhỏ,vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến, những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp, văn răngcưa, hình người hóa trang lông chim nhảy múa, người giã gạo chày đôi, ngườiđánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn và chim mỏ dài đứng.

    Tang trống hay phần phình ra của trống là chiếc hộp cộng hưởngkhiến cho âm thanh trở thành vang dội.
    Phần trên có 6 vành hoa văn hình học: những đường chấm nhỏthẳng hàng, hoa văn răng cưa, hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhaubằng những tiếp tuyến song song.

    Phần dưới: là 6 chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải,chở người tay cầm vũ khí và tù binh, xen giữa là những hình chim cò ngậm cá,chó săn được thể hiện theo lối cách điệu.

    Gắn giữa tang và thân trống là hai đôi quai kép đúc nổi hoavăn bông lúa, đối xứng nhau.
    Thân trống hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh. Phần giữacủa thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hìnhchữ nhật. Trong ô là các dũng sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừamúa. Phần dưới của thân là ba vành hoa văn hình học, giữa là vành văn vòng trònchấm giữa có tiếp tuyến. Hai bên là hai đường chấm nhỏ. Ngoài cùng là hai đườngchỉ trơn.

    Chân trống hình nón cụt, không có hoa văn, là cửa mở để âmthanh thoát ra và tỏa rộng nhanh chóng.

    Trống đồng Ngọc Lũ thuộc nhóm trống đồng được tìm thấy tại mộtvùng địa dư có tên gọi là Đông Sơn,: là đại diện loại hình hiện vật tiêu biểunhất của nền văn hóa của vùng địa dư nầytrong khu vực Đông Nam Á. Trong những chiếc trống được phát hiện từ trước đếnnay (chưa hề có chiếc nào giống nhau hoàn toàn), trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếctrống có kiểu dáng và kích thước hài hòa nhất, đề tài trang trí đẹp và phongphú nhất. Hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ phản ánh nhiều nét đặc trưng văn hóacủa cư dân xã hội nơi vùng Đông Sơn.

    Trống đồng giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt đa dạngcủa cư dân xã hội Đông Sơn. Cơ bản thì trống là một nhạc khí dùng trong những lễtiết lớn của dân tộc. Trống đồng còn được dùng trong lễ mai táng chôn theo ngườichết, trong lễ hội cầu mùa. Trống đồng còn là biểu tượng quyền lực của tầng lớpthống trị thời cổ ở miền Bắc Việt Nam.

    Trên trống thể hiện rất nhiều hình trang trí khác nhau, diễntả nhiều trạng thái sinh hoạt khác nhau của xã hội Đông Sơn. Khi nghiên cứu tìmhiểu đầy đủ và có hệ thống những hình hoa văn độc đáo ấy, người ta phần nào hiểuđược đời sống vật chất và tinh thần của tổ chức xã hội cư dân thời đại đó.

    Trống đồng là một chứng vật lịch sử nói lên tài năng, kỹ thuậtsáng tạo đồ đồng thau tuyệt vời của chủ nhân đã sáng tạo ra chúng. Điều đó đượcchứng minh bằng việc trống đồng Ngọc Lũ đã được đúc thể nghiệm lại rất nhiều lầnnhưng vẫn không có được sự thành công thực sự như người xưa. Có biết bao điềubí ẩn về sự kết hợp pha chế của nguyên liệu khi đúc trống cho sản phẩm có đượcđộ âm vang khi đánh, sự kết hợp hài hòa giữa tạo dáng và hoa văn trang trí trêntrống.

    Chính vì có một vị trí quan trọng nổi bật như thế nên trốngđồng Ngọc Lũ luôn được sự chú ý quan tâm, nghiên cứu của các thế hệ học giả ViệtNam và quốc tế.1
    ____________
    1 (Nguồn tin: Viện Bảo Tàng LịchSử. http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Bao-vat-quoc-gia/2013/01/3A923522/)

    *
    2- Các hình ảnh và hoa văn trên trống đồngĐông Sơn/Heger I

    Những di chỉ khai quật từ những ngôi mộ vùng Đông Sơn và nhữngtrống đồng đã được tìm thấy từ trước tới nay trên nhiều vùng đất ở Việt Nam đãđược các học giả quốc tế và quốc nội chú ý đặc biệt nhất là đối với những hìnhvẽ trên các loại trống đồng. Bởi vì từ những hình vẽ đó người ta suy định vàđánh giá một nền văn minh thời cổ ở vùng Đông Sơn.

    Vấn đề then chốt gây hao tốn nhiều giấy mực ở đây là những sựsuy diễn của nhiều học giả xưa nay chuyên nghiên cứu về trống đồng để cố gắngtìm ra ai là chủ nhân thật sự đã kết tạo ra những trống đồng đó. Hai học giảtiên phuông ngoại quốc là Henri Parmentier, Victor Goloubev đã tỉ mĩ mô tả cáchình vẽ đó và về phía Việt Nam thì có các học giả như Lê Văn Siêu, NguyễnPhương, Đào Duy Anh đào sâu vào chi tiết các hình vẽ trên các trống đồng ĐôngSơn đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ.

    Hoa văn trang trí trên trống đồng Ngọc Lũ rất phong phú vàsinh động, phản ánh nhiều sắc thái khác nhau về đời sống vật chất, tinh thần củacư dân Đông Sơn thời tiền sử, hoa văn được thể hiện cụ thể như sau: giữa mặt trốnglà hình ngôi sao nhiều cánh nổi dày (tượng trưng cho mặt trời toả sáng), xen giữacác cánh sao là họa tiết lông công, quanh ngôi sao là những vành đai hoa vănhình học gồm đường chấm nhỏ, vòng tròn có tiếp tuyến ngoài. . .v.v... Vành đaihoa văn hình người gồm: hai người giã gạo chày đôi, người đứng, ngồi trong nhàsàn, người đang đánh trống đồng, đoàn người đang nhảy múa... đan xen trong vànhđai hoa văn hình người là các vật như: nhà sàn mái cong, nhà sàn mái úp, trốngđồng, chuông đồng, vũ khí, nhạc khí.... Vành đai hoa văn động vật có: chim mỏngắn, mỏ dài, hươu.... Tang trống trang trí hình thuyền chở người có vũ trangtrong nhiều hoạt động khác nhau. Thân trống trang trí hình võ sĩ cầm vũ khí,khiên chắn và rìu chiến. Quai trống đối xứng từng cặp đúc nổi hình bông lúa...Như vậy những hoa văn hình học là một đặc trưng của trống đồng Ngọc Lũ và khiếncho mặt Trống Đồng Ngọc Lũ trở nên thần bí trọng vọng, khác biệt với các mâm đồngdùng làm vật gia dụng dọn cơm bưng nước hằng ngày của người dân phàm tục. Thiếunhững hoa văn hình học cầu kỳ đa dạng nầy thì mặt trống đồng Ngọc Lũ trở thànhmột mâm đồng trần truồng để dùng làm một vật một gia dụng tầm thường không mangmột ý nghĩa cao quý nào khác. Các hoa văn trang trí trên trống đồng rất đa dạng,thể hiện nhiều góc cạnh của một xã hộithời Cổ xưa được tìm thấy trên địa bànĐông Sơn. Các hoa văn này xuất hiện trên mặt, tang, thân và ngay cả chântrống đồng, chủ yếu gồm có hoa văn mặt trời, hoa văn kỷ hà, hoa văn tả cảnhsinh hoạt và những hình động vật.

    Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn (hình trên đây đượcđánh số thứ tự từ vòng trung tâm số 1 ra vòng ngoài rìa số 16) gồm có: những chấmnhỏ, vòng tròn tiếp tuyến, có chấm giữa, những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp,hoa văn răng cưa. v.v.., hình người hóa trang bằng lông chim đang nhảy múa, ngườigiã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hưu (lộc nai) đang đicùng đàn chim mỏ ngắn đang bay và đàn chim mỏ dài xòe cánh cũng đang bay phíatrên một đàn chim (hay gà rừng?) đang đứngvới nhiều tư thế khác nhau.
    - Ngôi sao là họatiết trung tâm quan trọng trên mặt trống Đồng Ngọc Lũ
    - Vòng 11 trênTrống Ngọc Lũ có chiều rộng nhỏ hơn và hầu như ngang bằng với vòng 9.
    - Chim mỏ ngắnđang bay (vòng số 9) trên mặt trống Ngọc Lũ nguyên thủy gồm có 2 đàn chim mỏ ngắnvới số lượng khác nhau: một đàn có 6 con và một đàn có 8 con (Cộng chung 14).
    - Có 2 nhóm lộcnai: nhóm 10 con với 6 chim mỏ ngắn đang bay và nhóm 10 con với 8 chim mỏ ngắnđang bay (vòng số 9)
    - Vòng số 7 gồmcó hình 4 căn nhà và những hình người được xếp đặt gần như đối xứng nhau so vớivòng trung tâm của ngôi sao.
    - Vòng số 9 gồmcó chim mỏ dài xòe cánh đang bay phía trên một đàn chim (hay gà rừng?) đang đứng(dưới đất?) với nhiều tư thế khác nhau..
    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 03-29-2019 at 01:36 PM.

  3. #3
    Trống Đồng Ngọc L ũ(tiếp theo kỳ trước)

    - Ngôi sao là họatiết trung tâm quan trọng trên mặt trống Đồng Ngọc Lũ
    - Vòng 11 trênTrống Ngọc Lũ có chiều rộng nhỏ hơn và hầu như ngang bằng với vòng 9.
    - Chim mỏ ngắnđang bay (vòng số 9) trên mặt trống Ngọc Lũ nguyên thủy gồm có 2 đàn chim mỏ ngắnvới số lượng khác nhau: một đàn có 6 con và một đàn có 8 con (Cộng chung 14).
    - Có 2 nhóm lộcnai: nhóm 10 con với 6 chim mỏ ngắn đang bay và nhóm 10 con với 8 chim mỏ ngắnđang bay (vòng số 9)
    - Vòng số 7 gồmcó hình 4 căn nhà và những hình người được xếp đặt gần như đối xứng nhau so vớivòng trung tâm của ngôi sao.
    - Vòng số 9 gồmcó chim mỏ dài xòe cánh đang bay phía trên một đàn chim (hay gà rừng?) đang đứng(dưới đất?) với nhiều tư thế khác nhau.


    Sau đây là chi tiết những hình vẽ trên mặt và thân trống NgọcLũ.

    A/ Mặt trống đồng NgọcLũ

    Mặt trống là phần được những nghệ nhân (Đông Sơn) tô điểmcông phu và đặc biệt nhất. Từ vòng trung tâm (v.1) đi lần ra tới bờ vòng ngoàicùng (v.16), trước hết là một ngôi sao nhiều cạnh chiếm lĩnh trung tâm điểm củamặt trống rồi đến những vòng trang trí theo nhiều kiểu cách trình bày hình họckhác nhau hoặc hình người, hình cầm thú.

    a/ Ngôi sao: (v.#1)




    Ngôi sao trên mặt trống Ngọc Lũ (vòng #1) có 14 cánh tia. TrốngHoàng Hạ có 16 cánh tia. Các loại trống Nelson, Bosc, Vienna, Battambang có 12cánh tia. Trống Đông Sơn nói chung thì có loại chỉ có 8 cánh, có loại lại có tới20 hay 22 cánh. Cuối đầu nhọn các tia của ngôi sao tiếp giáp với với vành vẽvòng tròn chia cắt quãng giữa các cánh thành những mặt tam giác và bên trongcác mặt tam giác đó lại được trang trí bằng các mô hình giống như hình thớ lôngcủa con công có con mắt ở giữa. Loại hoa văn nầy chỉ thấy trên những loại trốngĐông Sơn lớn mà nhà khảo cổ người ÁoHeger gọi là nhóm I của loạiH1 như: NgọcLũ I, Hoàng Hạ, Sông Đà, Khai Hóa, Bản Thôm và Quảng Xương nhưng không tìm thấytrong các loại trống đồng Đông Sơn thuộc các nhóm khác cùng loại H1.
    Gọi mặt trời nhằm giải thích tục thờ mặt trời; gọi ngôi saolà nhằm miêu tả chứ không có ý nghĩa là một giải thích hợp lý.

    Hình tượng ngôi sao chiếm đúng trung tâm mặt trống nơi đánhtrống. Ngôi sao bao gồm 3 phần: tâm, cánh tia và khoảng cách giữa các cánh tia.Tâm là một mảng tròn đúng tâm mặt trống. Từ tâm tỏa ra các cánh tia số lượng ítnhất là 4.

    Có hai nhóm hình tượng sao:

    - nhóm I: tâm ngôi sao phẳng, cánh sao hình tâm giác (chủ yếutrống loại I, III, IV Heger)
    - nhóm II: tâm ngôi sao nổi lên thành u tròn, cánh tia ngôisao như Mặt trống Ngọc Lũ, một đường thẳng nhọn đầu hơn là hình tam giác, gọilà tia sao chứ không gọi cánh sao (chủ yếu trông loại II Heger)
    Số lượng cánh sao mỗi trống khác nhau: 6, 7, 8, 10, 12, 14,16. Chủ yếu là số lượng cánh sao chẵn. Số lượng cánh, tia quan hệ với đườngkính mặt trống, trống cỡ lớn thường có 12 tia. Các khoảng trống giữa cánh saotrang trí dầy kín, tạo thành hào quang hay tia sáng của ngôi sao trung tâm.
    b/ Các vành trang trí hình học: (v.#2, #3, #4, #5, #6, #8,#10, #12, #13, #14, #15, #16)
    Các vành nầy là thành phần chung của 2 vành lớn: một sát vớivành ngôi sao (A), một ở vành rìa ngoài mặt trống (B) và gồm có nhiều loại môthức khác nhau:

    - Vành A:
    (Còn tiếp)

  4. #4
    (Tiếp Theo)
    [IMG][IMG]

    - Vành A:
    (i) Mô thức số #4 là một vành lớn nằm ở giữa đặt nối tiếp nhau với những hình chữ S (hay chữ Z) viết nghiêng. Mỗi chữ đều có đường viền.
    (ii) Mô thức #2, #3 đối xứng với #5, #6.
    - Vành #2 và #6 giống nhau gồm có những chấm nằm giữa hai đường vòng đồng tâm .
    - Vành #3 và #5 giống nhau gồm có những vòng tròn nhỏ có chấm ở giữa và liên kết chéo với nhau bằng những đường tiếp tuyến đơn. Trên các trống đồng Đông Sơn khác thuộc nhóm 2 loại H1 cũng có những kiểu vòng tròn nhỏ có chấm ở giữa như vừa kể, cũng có những đường tiếp tuyến nhưng là những đường tiếp tuyến kép.
    - Vành B:
    (i) Mô thức #13 và #16 có hình răng cưa; mỗi dãy răng cưa đố xứng nhau bằng những chấm nhỏ.
    (ii) Mô thức #14, #15 gồm có những vòng tròn không có chấm giữa nhưng cũng có những đường tiếp tuyến chéo giống như vành của các vòng tròn #3 và #5 nhưng có thêm chấm giữa.
    (iii) Mô thức #12 và #16 bis giống nhau và gồm có những chấm nằm giữa hai đường vòng đồng tâm giống như #2 và #6 nơi vòng B.
    c/ Các vành trang trí sinh hoạt: người, thú vật và nhà cửa: (#7, #9, #11)

    • Vành #7: Vành nầy rộng hơn tất cả các vành khác và gồm có 5 khumg cảnh, mỗi khung cảnh lập lại 2 lần; mỗi lần lập lại chiếm một nửa vành tròn. Nửa dưới của vành là nửa A và nửa trên của vành gọi là nửa B

    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 04-01-2019 at 07:56 AM.

  5. #5
    Biệt Thự cuocsi's Avatar
    Join Date
    Sep 2016
    Location
    Paris có gì lạ
    Posts
    957

    Trống đồng nước Việt




    Kính chào ông Nguyễn Công Tánh,

    Tình cờ lên Diễn đàn Đặc Trưng hôm nay và may mắn hơn nữa là đọc được biên khảo về Trống đồng của nước Việt yêu quý ngàn đời.
    Tôi rất kính quý nền văn hóa, văn minh Lạc Việt mà Trống đồng là một biểu tượng.Từ ham thích dẫn đến tìm tòi và từ hơn 15 năm nay, tôi có cái mong muốn là thực hiện một cái trống đồng như đã thấy trong bài viết của ông. Muốn là một chuyện, làm đuợc hay không thì là chuyện khác, với khả năng điêu khắc Khiêm tốn cuả tôi thì các hoa văn trên và xung quanh không là điều quá khó, nhưng phải có tối thiểu là 5 giai đoạn lớn từ khởi đầu cho tới khi hoàn tất, chư kể vài bước chuẩn bị không thể thiếu. Vấn đề tài chánh và khí cụ đã là hai trở ngại chính.

    Cách đây vài năm, tôi có đến Bảo tàng viện GUIMET tại Paris để thăm viếng và bất ngờ khám phá ra một chiếc trống đồng khổng lồ được trưng bày nơi dây, tôi choáng váng, mê hồn vì nét đẹp cổ kính, quý phái, oai nghi và biểu hiện một sức mạnh hiện hữu không chối cải của nền Văn hoá Việt cổ đại. Sẽ trở lại đọc bài của ông và nghiên cứu thêm, tôi tin rằng sẽ rất hữu ích cho dự định của tôi như đã viết ở trên đây. Cám ơn ông rất nhiều và chúc ông luôn được khỏe để viết các bài nghiên cứu hầu giúp cho mọi người thêm hiểu biết về nét đẹp của quê hương để cố công giữ gìn trước HIỂM HOẠ HÁN HOÁ GẦN KỀ !
    Chân thành đa tạ !

    Cuoc si
    10/4 2019

    Tái bút :

    Dưới đây là hình trống đồng đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng GUIMET, Paris, Pháp.
    Xen liên kết.



    http://www.guimet.fr/collections/asi...ambour-moulie/






    Tambour du Sông Dà
    dit «tambour Moulié»


    Culture de Sông Dông Son II,
    Ier millénaire avant notre ère (milieu)
    Bronze
    61 x 78 cm
    Anc. Coll Moulié

    Image du Musée GUIMET
    Merci beaucoup !




    Tái bút 2:
    Sau khi đọc kỹ hơn vê bài biên soạn của ông, tôi mới thấy mình sơ sót vì phần nói về Trống đồng Đông Sơn, ông đã có trình bày, chân thành xin lỗi soạn giả !
    Last edited by cuocsi; 04-10-2019 at 08:56 AM. Reason: Thêm ảnh và cập nhật tin

  6. #6
    (tiếp theo kỳ trước)

    Khung cảnh 1
    :
    [IMG][/IMG]

    Nửa dưới A gồm có 6 người. Nửa trên B gồm có 7 người.

    Trong đoàn (A), tay trái người dẫn đầu không có cầm thuẫn nhưng lại cầm một mũi giáo đầu nhọn chĩa xuống còn phần cán giáo có trang trí lông chim, và nơi tay phải cầm một vật khác có thể là một lưỡi rìu hay búa giống như 5 người khác trong đoàn. Ba người tiếp theo thì tay trái có cầm thuẫn. Hình người thứ 5 tay trái cầm một dụng cụ giống như một cái kèn thổi hơi óng tre. Hình người thứ 6 (A) đang đeo ngang lưng một vật giống như một cái trống, tay trái cầm dùi đánh trống, tay phải cần rìu hay búa như những người kia.

    Nửa trên B có 6 người đều mặc y phục giống nhau ngoại trừ người thứ đứng sau cùng không đội mũ. Tất cả đều vấn khố. Mũ và khố có thể được làm bằng cùng một thứ vật liệu cứng hay mềm, có thể là vải đặc biệt hay là da thú, mây hay nang tre, nứa hoặc mo nang dừa, mo nang cau. Mũ đội có gắng thêm lông chim dài, có thể là lông đuôi con công hay lông đuôi chim trĩ. Năm người đi đầu tay trái cầm thuẫn, tay phải cầm rìu hay búa. Người thứ 6 đi sau thổi kèn hơi. Người thứ 7 đi sau cùng có dáng điệu như người tang cầm gươm đang chỉ huy thúc hối những người đi phía trước.

    Có một khác biệt đáng chú ý: người đi đầu của nửa dưới A không cầm thuẫn nhưng cầm giáo đầu nhọn trang bị lông chim thay thế chiếc thuẫn thì nay lại được thay thế bằng hai người cầm thuẫn ở nửa trên B. Người cầm gươm ở nửa trên B lại không còn đội mũ lông chim như ở đoàn A. Tại sao? Chuyện gì đã xảy ra?
    [IMG][/IMG]
    Hình người trên trống Hoàng Hạ
    Ở trống Hoàng Hạ, sáu người mặc khố thì có 4 người cầm mũi giáo nhọn chỉa xuống; cán giáo có trang trí lông chim. Người thứ 5 không cầm vũ khí nhưng trang phục cũng giống hệch như 4 ngưởi cầm giáo nhọn đi phía trước. Thay vì cầm vũ khí, người thứ 5 nầy đang cầm thổi một vật gì giống như cái kèn hơi óng tre (M’Buot)1 cũng được trang trí giống như cái đầu của một con chim. Đặc biệt nhất là người thứ 6 đi sau cùng: người nầy cũng mặc khố, không cầm khí giới nhưng hai tay nâng một vật gì giống như cái mâm hướng lên một con chim đang bay phía trên. Dáng điệu của người nầy giống như một người đang cầu khẩn kêu xin một điều gì đó với con chim (xin ban phát lương thực qua hình ảnh con chim ngậm quả trái hay hạt ngũ cốc hình tròn bỏ xuống mâm) hoặc đang chiêu dụ mời mọc con chim đáp xuống gắp thức ăn trên mâm (trái cây hoặc hạt ngũ cốc) do đoàn người nầy dâng hiến để con chim nầy bay theo sau hộ phù cuộc ra đi của đoàn dũng sĩ.
    [IMG][/IMG]


    --------
    (1) M’buốt là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do của dân tộc H'mông.


    [IMG][/IMG]
    Được làm từ 1 quả bầu khô và 6 ống tre xếp thành 2 hàng được cắm vào trong quả bầu. Hàng trên có 4 ống, hàng dưới 2 ống. Các ống có chiều dài từ 38,5 cm - 70 cm, đường kính 2 cm. Hàng trên có 3 lỗ bấm phía dưới và 1 lỗ bấm phía trên. Hàng dưới một ống có 1 lỗ bấm trên, ống còn lại có lỗ bấm dưới. M'buốt có 1 lam bằng đồng nằm ở phần nứa trong lòng quả bầu. Được xếp vào nhạc cụ đa thanh, âm vực hơn 1 quãng 8. Âm sắc M'buốt nghe đục, trầm, rè hơi mờ ảo. Khi diễn tấu người chơi là nam giới đứng thổi. Miệng ngậm vào núm quả bầu để thổi, tay trái bấm vào hàng ống dưới, còn tay phải dùng 4 ngón tay giữ hàng ống trên và kết hợp với ngón cái để bấm. M'buốt có thể chơi một mình hay hòa tấu cùng các nhạc cụ khác, M'buốt thường được chơi trong đám hỏi, trong lúc tỏ tình hay thậm chí là trên nương rẫy hoặc đi đường.

    Khung cảnh 2
    :

    (Còn tiếp )

  7. #7
    (Tiếp theo kỳ trước)

    Khung cảnh 2:
    Nửa A và nửa B (TrốngNgọc Lũ) đều có 3 người, không có mũ lông (người thường?); một người tóc dài(?) mặc khố (người có chức phận?); một người tóc ngắn không mặc khố; một người mặc khố đứng ở tư thế cầu nguyện, hai tay nâng ngang, ngước mắt hướng về mộtcon chim lớn mõ ngắnđang
    bay phía trên. Hai người kia như đang đánh trống cầm nhịp bằng 2 dùi trống có gắng cờ lông chim cũng có thể là họ đang gõ nhịp trống (hay giã gạo?) theo kiểu chày đôi.

    Trên trống đồng Hoàng Hạ, cảnh nầy chỉ có 2 người tóc dài, không mặc khố, chày giã gạo không có buộc lông chim như ở trống Ngọc Lũ. Nữa A của trống Hoàng Hạ có 2 con chim đang quanh quẩn, có thể là chúng đang tìm thức ăn trong 2 chén đựng (hình chén chữV) treo trên một trong 2 chày giả gạo phía bên trái. Cũng ở nữa A trống Hoàng Hạ, dưới chân người đứng phía bên mặt có một hình dạng gì giống như một con chim (A dấu ?) đang ăn mót nhặt những hạt gạo văng ra trên sàn. Nữa B cho thấy chỉ còn một con chim đang ăn thức ăn trong chiếc chén hình chữ V kể trên còn một con kia đã ăn no xong thì đã bay đi trước.

    Khung cảnh 3:

    Nửa A và nửa B (trống Ngọc Lũ) đều có cùng một dạng kiến trúc giống như một đền hay miếu thờ của Ấn Độ Giáo Hindu với cổng đi vào tiền đường hình vòng cung. Đây cũng có thể là nhà Hội của các chức sắc bộ tộc. Bên trong nữa A có một hình người đang dùng hai tay cầm dùi đánh vào những vật hình tròn giống như những cái trống hay chiêng sắp xếp dọc theo hai bên vách. Ởnửa B có một người đang đánh chiêng. Hai hình người nầy có thể là hai người khác nhau: một người đánh trống, một người đánh chiêng. Kiến trúc có hai cột trụ nhô lên. Chân cột trụ giống như hai chân của một người đang đứng xòe ra. Trên nóc cửa của gian đền không có chim đang đậu. Phía ngoài đền thờ có một người tóc dài vấn khố đang nâng hai tay, mắt hướng lên một con chim đang bay, dáng điệunhư đang cầu vang xin con chim ban phát một điều gì đó.

    Ở trống Hoàng Hạ thì cửa vào hình vòng cung của gian đền thờ ở phía nửa vòng B có hai con chim đang đậu đối mặt nhau. Bên trong gian đền thờ có hai người đánh chiêng (?) Phía ngoài gian đền thờ cũng có hai người gõ nhịp trống chày đôi (hay giã gạo?) Cửa vào hình vòng cung của gian đền thờ phía nửa vành A trống Hoàng Hạ có chi tiết tương tựa giống như ở gian đền trống Ngọc Lũ.


    Khung cảnh 4:

    Gian nối tiếp theo gian đền thờ có thể là nơi sinh hoạt thường nhật của những người cư ngụ trong ngôi nhà nóc cong hình sừng trâu (nhìn ngang) giống như loại nhà mái cong của một sắc tộc người Dayak và Batak ở đảo Borneo thuộc Nam Dương.


    Mặt tiền đền thờ hay nhà hội mái cong có cổng đi vài hình vònh cung Sắc dân Dayak và Batak
    Nửa A và nửa B trên trống Ngọc Lũ và Hoàng Hạ đều có một dạng hình đầu của một con trâu với hai sừng cong nhọn. Trên nóc nhà của nửa A trống Ngọc Lũ có 2 con chim đứng quay đầu ngược nhau, một con lớn (chim mẹ hay chim trống?) và 1 con nhỏ (chim con hay chim mái?). Ở nửa B chỉ có một con chim. Ở trống Hoàng Hạ chỉ có một con chim.

    Ở nửa A của trống Ngọc Lũ thì ở bên trong gian nhà sinh hoạt có 3 hình người đang ngồi, hai trong số đó đối mặt nhau: một người như nằm ngửa,đôi chân dang rộng (đàn bà?), mà người đối diện có thể là đàn ông (?); còn người thứ ba thì ngồi dựa lưng người đàn ông (có thể là đứa con?). Có thể suy diễn rang đây là khung cảnh gian nhà dung làm nơi sinh hoạt của gia đình vợ chồng, sinh con đẻ cái. Ở nửa B trống Ngọc Lũ cũng có một khung cảnh nầy nhưng chỉ có một con chim trên nóc nhà, hai người ngồi đối diện (một đàn ông, một đàn bà?), người đàn ông đang nâng tay ngước mắt nhìn lên con chim để cầu khẩn, người đàn bà hai tay nâng mâm lễ vật: có thể đây là khung cảnh đôi vợ chồng đang cầu tự sinh đẻ con cái.
    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 04-14-2019 at 11:20 AM.

  8. #8
    (Tiếp theo kỳ trước)

    Khung cảnh 5:

    Đây là khung cảnh bên ngoài của đền thờ với cổng vào hình vòng cung (a,b) và ngôi nhà nóc hình sừng trâu (c,d).Các hình quanh cấu trúc đền thờ (a,b) đã được tuy cứu ở phần trước.

    Bên ngoài cấu trúc có nóc hình sừng trâu (c,d) ở nửa A trống Ngọc Lũ có hình của 3 người ngồi và 1 người đứng. Mỗi người đều cầm một que dài chống đứng xuống mặt sàn. Ở nửa B trống nầy cả 4 người đều ở tư thế ngồi và cầm que dài.Những người nầy phải chăng là những thủy thủ tay chèo mà người đứng là thủy thủ giữ tay lái điều khiển. Phải chăng những cây que dài mà họ cầm trong tay vừa làcây chèo mà cũng là những cây dủi để đánh 4 chiếc trống ở dưới sàn ? Ở trống đồng Hoàng Hạ (c,d) người giữ tay lái có gắng lông chim và ngồi phía trước 3 người kia và cả 4 người đều có tóc dài. Hai học giả H.Parmentier va V.Gouloubew đều suy đoán rằng các hình phía dưới sàn là những
    chiếc trống đồng:

    “Sur le plancher setrouve quatre figures assises ou exceptionellement debout, tenant toutes unbâton vertical qui s’arrête au plancher. Au-dessous de chacun d’eux est un objetanalogue à un tambour placé sur un plateau soutenu par un poteau vertical ettout entouré d’une nappe de points. Tous ces personnages ont des chignons ou ontles cheveux libres.” (H.Parmentier. ANCIENTTAMBOURS DE BRONZES ,p.9).

    “d/ Une plateforme légèrede bois, accolée à la maisonnette, et sous laquelle s’alignent quatre tambourssur la plateforme ont pris place quatre personnages munis de pilons (Figure 6d)” (V.Gouloubew, LE TAMBOUR M
    MÉTALLIQUEDE HOÀNG HẠ, p.386).


    -Vành # 9

    Đây là một khung cảnh Hưu và Chim đang di động theo cùng một hướng nguợc kim đồng hồ.

    Ở nửa B trống Ngọc Lũ có 6 con chimbay nối tiếp theo một đoàn hưu 10 con đang di chuyển ở phía trước. Đoàn hưu có 5 con đực và 5 con cái xen kẻ nhau từng đôi một. Bộ phận sinh dục của hưu đực được thể hiện rất rõ và hưu cái đi theo sau hưu đực. Ở nửa A có 8 con chim và10 con hưu. Tại soa có 6 con chim rồi lại 10 con chim? Cho đến nay chưa thấy cótài liệu nào giải thích sự khác biệt nầy một cách khoa học và thuần lý. Muời con hưu là biểu hiệu gì?

    1– Nai (hay hưu)

    1.1.
    Nai cái có gạc.
    Vòng Hình #9 ở mặt trống Ngọc Lũ có 2 bầy nai, mỗi bầy 10 con, xen kẽ một con đực một con cái. Điểm đặc biệt là hình nai cái cũng có sừng như nai đực. Trên thế giới hiện nay đa số các nai cái không có sừng, chỉ trừ loại nai sừng lớn nơi vùng đất các xứ lạnh tuyết nhiều mà người miền Nam Việt Nam thường gọi là nai chà. (Bình Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ/ Chương 11 Nguồn:http://www.binhnguyenloc.de/pages/Ng...ietNgu_00.html).

    Nhưng hình nai trên trống đồng Ngọc Lũ chắc không phải làloại nai chà.

    1.2. Nai là tượng hìnhthay cho các tiếng Nái, Nãi, Mẹ, Mệ? Phải chăng đây là dấuchỉ mà người xưa ghi lại qua hình tượngloài Nai, để biểu trưng cho tiếng Việt ‘Nai’, hay tiếng Hán Việt ‘’.Chữ trong Hán Việt Từ Điển, do Đào Duy Anh biên soạn, (nxb Trường Thi, Sàigòn1957, tr. 553) nghĩa là nai, lộc, là hưu. Hưu có thân hình nhỏ hơn nai, sừng cũng nhỏ và ít nhánh hơn.

    Theo thời gian âm ‘Mê’có thể biến thanh thành Mẹ, và Mệ. Mệ là tiếng cháu kêu gọi Bà Nội, Bà Ngoại.Âm Nai có thể biến thanh là Nãi, Nái. Hiện nay, ở vùngTộc Việt phương Bắc, con vẫn gọi Mẹ là Nãi, cháu gọi Bà là Nãi Nãi. Thiếng Mệthường được nghe thấy ở miền Trung Việt Nam. Chữ Nái trong Heo nái tứclà heo mẹ. (theo: Nguyễn Thanh Đức: VĂN MINH VĂN HÓA LẠC HỒNG TRÊN THẠP VÀ TRỐNG ĐỒNG . (Nguồn: http://vietcatholic.net/Media/LacHongTrongDong.pdf).

    2– Chim
    2.1 Chim mỏ ngắn, cánh cụt, đuôi ngắn Vành #9 còn có 2 đàn chim cánh cụt, đuôi ngắn. Một đàn 8 con, một đàn 6 con. Sự sai biệt trong cách trình bày không đối xứng nầy chưa thấy có tài liệu nào từ trước tới nay giải thích một cách thuần lý và chính chắn. Theo học giả khảo cổ Henri Parmentier thì chim đuôi ngắn, cánh ngắn trong vòng hình #9 là loại gà tây (dindon): mỏ chim ngắn và có mồng thịt (caroncule) thòng xuống giống như như cái mồng dài của con gà tây. Sự suy đoán nầy hữu lý và có thể căn cứ vào đó để suy định rằng nai và gà tây là hai loại thú ở rừng, núi mà người xưa săn bắt để sinh tồn trong thời hoang dã. Loại gà tây hoang dã thường tìm thức ăn ngay trên mặt đất nhưng chúng cũng có thể bay lên cao với tốc độ nhanh.

    2.2– Chim mỏ dài,đuôi dài, cánh rộng, cẳng dài.

    Chim Hồng hoàng (Hornbill, symbol of Borneo. Kalimantan, Indonesia) Chim mỏ sừng (2) https://en.wikipedia.org/wiki/Great_hornbill
    http://www.123rf.com/photo_12335325_...indonesia.html


    Vành #11 chỉ có hoa văn các con chim đuôi dài, cẳng dài, mỏ dài nhọn giống như đầu một chiếc rìu (à forte huppe), cánh rộng nối đuôi nhau ngược chiều vòng kim đồng hồ giống như những con cò cao cẳng (échassiers) đang bay. Những con chim đứng phía dưới khoảng trống của chim mỏ dài đang bay được vẽ theo thế nhìn ngang và gồm có 2 dạng: dạng hình chung và dạng hình khác thường. Dạng hình chung gồm có các con chim béo lùn (a) mỏ ngắn, dưới mỏ có một hình tam giác mà H.Parmentier suy đoán rằng đó là một cái túi cổ họng của loại chim bồ nông (pélican). Dạng hình chim thứ 2 (b) có mỏ dài hơn và cong xuống: có thể đây cũng là một loại gà tây giống như đã đề cặp nơi vành #9. Có thể đây là một loại chim thuộc họ Hồng hoàng (Buceros bicornis) (2). mà địa bàn sinh thái của loại chim nầy thường tìm thấy ở phía Tây và Tây Nam Vân Nam /Trung Quốc và Đông Nam Tây Tạng, ở Ấn Độ; Cambodia; India; Indonesia; Laos People's Democratic Republic; Malaysia; Myanmar; Nepal; Thailand; Viet Nam.
    -----------
    (2) Buceros bicornis là thành viên to lớn nhất trong họ Hồng hoàng (Bucerotidae). Hồng hoàng sinh sống trong các khu rừng của Ấn Độ, Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc. Kích thước to lớn và màu sắc đầy ấn tượng của chúng đã góp phần làm cho chúng trở thành một phần trong văn hóa và nghi lễ của một số các bộ lạc địa phương. Hồng hoàng sống khá thọ với tuổi thọ đạt tới 50 năm trong điều kiện nuôi nhốt.
    Hồng hoàng là loài chim lớn, có thể dài tới 95-120 cm (38-47 inch), với sải cánh dài tới 152 cm (60 inch) và cân nặng 2,15-4 kg (4,7-8,8 lb). Đặc trưng nổi bật nhất của hồng hoàng là phần mũ mỏ màu vàng tươi và đen trên đỉnh chiếc mỏ lớn của nó. Mũ mỏ rỗng và chưa rõ mục đích để làm gì mặc dù người ta tin rằng nó là kết quả của chọn lọc giới tính Hồng hoàng mái nhỏ hơn và có mắt màu xanh lam thay vì mắt đỏ.
    Hồng hoàng trống rỉa lông để bôi chất nhờn màu vàng vào lông cánh sơ cấp cũng như mỏ để làm cho chúng có màu vàng tươi. Trong tự nhiên, thức ăn của hồng hoàng chủ yếu là các loại quả. Nó cũng ăn cả các loài thú, chim, thằn lằn rắn và côn trùng nhỏ. Hồng hoàng mái làm tổ trong lỗ rỗng trên thân các cây lớn và miệng tổ được bịt bằng một lớp trát bằng phân [4]. Nó tự giam mình trong tổ cho tới khi chim non phát triển tương đối, dựa trên thức ăn cho chim trống đem về thông qua khe nứt trong lớp trát. Trong thời kỳ này chim mái trải qua thời kỳ rụng lông hoàn toàn. Mỗi lứa đẻ gồm 1 tới 2 trứng và được ấp trong 38-40 ngày.
    Hồng hoàng tạo thành các cặp một vợ một chồng nhưng sống thành bầy từ 2-40 cá thể.

    Hình chim tồn tại phổ biến và tiếp nối lâu dài trên trống đồng. Đẹp nhất và phong phú nhất trên trống Đông Sơn (H1) có ý nghĩa nghệ thuật và lịch sử khảo cổ cao.
    Như đã đề cặp một các tổng quát ở phần trên, người ta thấy có hai dạng chim cơ bản: bay và đứng.


    • Loại thứ nhất: chim bay




    (Còn tiếp)







    Last edited by nguyễn công tánh; 04-19-2019 at 12:34 PM. Reason: adding photos

  9. #9
    (tiếp theo kỳ trước)

    • Loại thứ nhất: chim bay


    Hình chim bay khác nhau ở mỏ và cánh. Có loại mỏ ngắn và mỏ dài. Loại mỏ ngắn quắm như mỏ vẹt hoặc nhọn như mỏ bồ câu hay gà. Hình cánh chim thường có 3 dạng:
    Dạng 1: cánh xòe ngang thành đường thẳng, vát vào thành hai đường xiên, nếu kéo dài các nét ra gặp nhau thì thành hình tam giác. Dạng bay này biến mất rất nhanh trên trang trí trống đồng các loại.
    Dạng 2: cánh chim xòe ngang ra rồi cụp xiên xuống giống như cánh chim thật. Dạng này phổ biến và là dạng chim mỏ dài cánh hai đoạn, đuôi dài, chân dài mà người ta nhận dạng chính xác là hình con cò bay. Đường nét hoa văn hình chim nầy đơn sơ, mọc mạc, mảnh khảnh, rất tự nhiên khiến người ta muốn so sánh vơi các hình vẽ trên các hang động vách đá của các sắc tộc thổ dân ở Úc.
    Dạng 3: hình chim bay nhìn nghiêng gồm hai phần. Hình chim mỏ ngắn, hoặc chim có đuôi dài xòe rộng giống chim phượng, có con giống bồ câu bay.

    • Loại thứ hai: chim đứng


    Hình chim đứng khác nhau ở tư thế và mỏ. Có hai loại cổ dài và cổ ngắn. Hình chim đứng có trên mặt và tang ở tất cả các loại trống. Cũng có 2 loại chim mỏ dài và mỏ ngắn. Hình chim đều dáng nhìn nghiêng, cánh xếp vào thân, thân hình quả trứng, chân là hai đoạn thẳng đơn giản thường không thể hiện bàn chân. Chim mỏ nhọn thông thường chúc mỏ xuống đất. , , có hình chim vươn cổ như dang hót, có chim đuôi dài như công. Loại chim mỏ dài thì lớn và có lẽ là thuộc dòng chim nước như bồ nông hay cò. Có chim chân cao cổ dài đang gấp một con cá, chim nước ngoái cổ ra sau. Một con chim cò đang bay ngược từ dưới lên tư thế nhanh mạnh như vừa săn được mồi dưới nước.
    Ngoài dạng chim tả thực ở trên còn nhiều dạng chim cách điệu cao độ hơn. Chim nước và gà có thể nhận dạng tương đối đúng, chứng tỏ nghệ nhân nắm vững nét đặc trưng chủng loại chim.

    • Loại thứ ba: chim ngậm cá


    Hình cá thể hiện loại cá nhỏ, đầu nhọn, vây lưng và vây bụng nhiều xương, đuôi ngắn. Trên trống Hoàng Hạ dưới 1 chiếc thuyền có 2 hình cá bên dưới lường thuyền (lội ngược chiều nhau?) và 1 hình cá đang bị cò ngậm trong mỏ. Cánh chim quắp cá thấy trên trống Miếu Môn. Hình tượng cá đơn giản và hiếm gặp.
    [IMG][/IMG]
    3 - Hình bò
    Người ta thấy hình bò trên thân trống trống Đông Sơn như trống Đồi Ro, Làng Vạc, Đồng Cẩu. Thường lưng trống chia thành 8 ô, mối ô có hình một con bò u. Hình tượng nhìn nghiêng đôi sừng cong nhìn chính diện, bò có u rõ ràng. Thân bò trang trí bằng nét vạch song song xiên ngắn hay 4 vòng tròn tiếp tuyến có chấm có thể là để tượng trưng cho long của con bò...Mắt bò hình tròn có chấm.
    [IMG][/IMG]
    (Hình minh họa theo Phạm Huy Thông et alls: DONG SON DRUMS IN VIET NAM. The Viet Nam Social Science Publishing House -1990, tr.tr.28-33)
    4 - Hình thú lạ

    Đây là loại hình tượng không phổ biến trên trống đồng như nai và bò. Chỉ mới phát hiện được trên 3 trống Đông Sơn: Miếu Môn, Phú Xuyên, Hòa Bình. Người ta gọi đó là hình con thú lạ 4 chân kỳ dị.
    -Trống Miếu Môn: con thú đuôi dài quét trên mặt đất, miệng thú ngậm mồi nhưng vẫn nhọn, miệng nhọn hoắc, những vạch ngắn miêu tả chân, có con đực con cái
    -Trống Hòa Bình: đuôi cong cuộn lên phía sau lưng, không có chi tiết ngón chân, không phân biệt được đực cái.
    [IMG][/IMG]

    (Còn
    tiếp)

  10. #10
    ( Tiếp heo kỳ trước)

    CHƯƠNG III

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN VÀ BỘ TỘC LẠC VIỆT

    Trong sách Việt Sử Tân Khảo (VSTK), Quyển I, từ trang 3 đến trang 7, soạn giả Nguyễn Công Tánh viết:

    “Nguồn gốc bộ tộc Lạc không rõ từ đâu.
    “Sách Đại Việt Sử Lược viết:
    "Ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ma thuật chinh phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang"(ĐVSL/Q. I) và sách An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng viết: "Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, làm chủ các ruộng ấy gọi là Lạc vương, người phụ tá gọi là Lạc tướng, Lạc hầu".

    “Có thể suy diễn như sau: một nhóm tộc Việt của Bách Việt đến định cư và sinh sống ở bộ lạc Gia Ninh; nhóm Việt tộc lần lần trở nên hùng mạnh và lấn quyền cai trị tất cả người dân trong bộ lạc Gia Ninh và do một người đứng đầu của nhóm Việt tộc nắm giữ (ĐVSL gọi là "người lạ") rồi từ Gia Ninh dùng mưu chiếm cứ bộ lạc Giao Chỉ, bộ lạc Văn Lang và các bộ lạc khác. Sau khi gồm thâu tất cả các bộ lạc, người lạ tự xưng là Hùng vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Văn Lang (Vùng Lâm Thao, Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay).

    “Lặp lại những truyện tích thần thoại hoang đường trong dân giang, sử cũ viết rằng: "vua Rồng của người Lạc tức Lạc Long Quân lấy nàng Âu" (Âu cơ; cơ: cô nàng, cô nàng của bộ tộc Âu) có lẽ là vì sử cũ muốn phản ảnh sự tiếp xúc và mối liên hệ gắn bó từ lâu đời giữa bộ tộc Lạc Việt và bộ tộc Âu Việt và cho thấy sự có mặt của tộc giống Lạc Việt xuất hiện cùng một thời đại hoặc lâu hơn với tộc giống Âu Việt.

    “Câu hỏi đặt ra là: tại sao có giống tộc Lạc và tại sao giống tộc nầy lại tập trung nhiều ở vùng Giao Chỉ? Lãnh thổ Giao Chỉ ở đâu?

    “Câu hỏi trên được đặt ra ngầm ý rằng lãnh thổ Giao Chỉ đã có từ lâu, trước khi có sự hiện diện của tộc giống Lạc Việt trên phần đất nầy, hay nói một cách khác, người Giao Chỉ nguyên thủy không phải là người Lạc Việt.

    “Đại Việt Sử Lược (ĐVSL) viết: "Xưa, vào lúc vua Huỳnh Đế tạo dựng đế quốc Trung Hoa, thấy rằng Giao Chỉ xa xôi, ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được cho nên mới coi ranh giới tiếp giáp với 15 bộ lạc ở phía Tây Nam, (trong đó có bộ lạc Giao Chỉ) như là giới hạn của đế quốc Trung Hoa.". Như vậy, vào thời đại của Huỳnh Đế (vào khoảng 2697-2597 TCN), Giao Chỉ không bị rơi vào vòng kiềm toả của tổ tiên nước Trung Hoa.

    “Sách Kinh thư của Trung Hoa, thiên "Nghiêu điển" chép: vua Nghiêu (2357-2258 TCN) sai Hi Thúc giữ việc suy trắc khí hậu ở Nam Giao (Nam Giao: đất Giao ở phương Nam). Sách Sử Ký của Trung Hoa chép: Năm Tân Mão thứ 6 (1110 TCN) đời Thành vương nhà Chu, phía nam bộ lạc Giao Chỉ có Việt thường thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng chim trĩ trắng.

    “Theo những sự ghi chép đó thì lãnh thổ Giao Chỉ đã có trước đời nhà Đường, tồn tại mãi tới đời nhà Chu (1122-256 TCN) và nằm kề cận với lãnh thổ của bộ lạc Việt Thường.

    “Vậy, giống tộc nguyên thủy ở Giao Chỉ là giống tộc nào? Phải chăng giống tộc nầy là giống tộc chính gốc của người Việt Nam hiện nay?

    “Các công trình khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết về giai đoạn của nhóm người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam cách ngày nay hàng mấy chục vạn năm. Ở núi Đọ (Thanh Hóa) có rất nhiều công cụ đồ đá cũ, răng người vượn ở Bình Gia (Lạng Sơn): người vượn khai thác đá ở sườn núi, mài đẽo đơn sơ để tạo thành những công cụ chặt đẽo, rìu tay, bàn nạo. . để chặt cây, vót nhọn tre, lao, gỗ . . .; hình dạng các công cụ rất thô sơ phản ảnh thời đại non trẻ của lịch sử đang hình thành.

    “Dấu vết con người cùng với những động vật cổ đã hóa thạch phát hiện được trong các hang Hùm (Yên Bái), hang Thung Lang (Ninh Bình) cho thấy con người đã đi vào chế độ bộ tộc sơ khai cách nay vào khoảng ba bốn vạn năm: như vậy tức là đã có những thị tộc, bộ lạc sống trong hang động ở các miền rừng núi đá vôi. Khoảng 50-60 năm gần đây, người ta đã khai quật được rất nhiều công cụ đồ đá ghè đẽo thô sơ ở vùng đồi Vĩnh Phú, huyện Lâm Thao, xã Sơn Vi; đó là di tích của nền văn hóa Sơn Vi: con người hang động từ các vùng Yên Bái, Ninh Bình đã tiến ra sinh sống ở miền đồi núi trung du vốn trước đây là vùng rừng rậm trên thềm đất phù sa rất cổ của sông Hồng.

    “Những di chỉ về nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn cách nay khoảng 10,000 năm cho thấy sự tiến triển kỹ thuật công cụ đồ đá đã đạt đến mức tinh xảo (lưỡi rìu mài tứ giác Bắc Sơn); những đồ gốm đầu tiên nhồi nặn bằng tay và những vật dụng bằng tre, nứa (lao, cung tên, thừng bện, gậy, cán) cũng được tìm thấy: như vậy, tre, nứa là một trong những tài nguyên thiên nhiên trọng yếu rất cần cho việc sinh tồn của nhóm người nguyên thủy cũng như những thời đại tiếp nối về sau .

    “Di chỉ khai quật ở xã Quỳnh Văn thuộc huyện Huỳnh Lưu (Nghệ An), là nơi đầu tiên tìm thấy những cồn vỏ sò điệp do con người vứt bỏ sau khi ăn; những mộ huyệt tròn khai quật từ giữa những cồn vỏ sò, điệp đã tìm thấy một vài loại công cụ bằng đá và đồ trang sức bằng vỏ ốc xuyên lỗ chôn theo người chết; di chỉ Quỳnh Văn cho thấy rằng: cùng thời với những giống tộc và bộ lạc ở miền núi, còn có những nhóm người nguyên thủy khác sống ở miền ven biển Đông.

    “Ở miền Bắc Việt Nam đã liên tiếp phát hiện được những di chỉ của thời đại đồ đồng thau, ở miền trung du, ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ qua các giai đoạn Phùng Nguyên/ tỉnh Vĩnh Phú (khởi đầu thời đại đồng thau), Đồng Đậu/ tỉnh Vĩnh Phú (khoảng giữa thời đại đồng thau), Gò Mun/ tỉnh Vĩnh Phú (thời kỳ phát triển), Đông Sơn/ tỉnh Thanh Hóa (cuối thời đại đồng thau, đầu thời đại đồ sắt). Các di chỉ đó có có số tuổi cách ngày nay từ khoảng 2,400 đến 3,400 năm tức là trước thời đại của Huỳnh Đế dựng nước Trung Hoa. Trong giai đoạn Phùng Nguyên, các đồ đá tìm thấy đã đạt tới tới mức hoàn hảo: những lưỡi rìu, đục được mài, giũa, khoan, cắt khá tinh vi và có phẩm chất cao; các đồ trang sức như vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi bằng đá được trau chuốt, tiện mài rất đẹp; các loại đồ gốm có những hình dạng độc đáo, trang trí với những nét hoa văn sắc xảo và bền chắc: chén, nồi, hủ, ly tách. . . có thể đã được nhào nặn bằng kỹ thuật bàn xoay tròn mà hiện nay nhiều nơi trên thế giới vẫn còn dùng trong lãnh vực chế tạo đồ gốm.

    “Trong những giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, bên cạnh đồ đá hoàn thiện cũng đồng thời tìm thấy công cụ, vũ khí bằng đồng thau như: lưỡi câu, liềm, rìu, đục, mũi giáo, tên và trong những di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau cũng đã tìm thấy nhiều xương động vật như xương heo, chó, trâu, bò, vỏ trấu, hạt gạo, hạt đậu, hạt trám. vân. vân . . .

    “Như vậy, rõ ràng là có dấu tích của con người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam thời cổ. Nước Việt Nam thời cổ có phải là lãnh thổ Giao Chỉ hay không? Và nhóm người nguyên thủy trên lãnh thổ Giao Chỉ nầy có phải là người Lạc Việt ngày xưa hay không?

    “Từ thời Huỳnh Đế, qua thời nhà Đường thì Nam Giao hay Giao Chỉ đã hiện hữu và sau đó trở thành một bộ trong 15 bộ tộc của triều đại Hùng Vương. Theo Nguyễn Thiên Túng chú thích Dư Địa Chí của Nguyễn Trải thì Giao Chỉ thời Hùng vương là vùng Sơn Nam (Sơn Nam gồm vùng đất các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Thái Bình và tỉnh Hà Đông/nay thuộc tỉnh Hà Tây). Theo A. Schreiner trong Abrégé de l' Histoire d' Annam thì Giao Chỉ nay là Hà Nội, Nam Định và Hưng An hay Hưng Yên.

    “Đa số thuyết cũ đều cho rằng người Lạc Việt từ ở nơi khác đến lập nghiệp ở vùng Bắc Việt Nam (tức Giao Chỉ) chưa lâu lắm nhưng không xác định rõ hay khẳng định dứt khoát họ cũng là một trong nhóm tộc Việt giống như Đông Việt, Mân Việt, Âu Việt, U Việt, Vu Việt, Nam Việt . . .Sách sử cũ của Trung Hoa không thấy nói tới Lạc Việt và Âu Lạc mà chỉ thấy nói tới đất Nam Giao, Giao Chỉ hoặc đất An Nam.

    Sách Đại Việt Sử Lược của Việt Nam cũng viết rằng: " Xưa, Huỳnh Đế lập quốc...thấy Giao Chỉ xa xôi, ở ngoài cõi Bách Việt không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc tây nam gồm có 15 bộ lạc là: 1/ Giao Chỉ, 2/ Việt Thường, 3/ Vũ Ninh, 4/ Quân Ninh, 5/ Gia Ninh, 6/ Ninh Hải, 7/ Lục Hải, 8/ Thang Tuyền, 9/ Tân Xương, 10/ Bình Văn, 11/ Văn Lang, 12/ Cửu Chân, 13/ Nhật Nam, 14/ Hoài Nam, 15/ Cửu Đức ".
    Như vậy, người Giao Chỉ không phải là một trong những tộc giống Bách Việt giống như người của Văn Lang, và những bộ tộc khác cùng thời với bộ tộc Giao Chỉ cũng không thuộc nhóm Bách Việt.)

    Đại Việt Sử Ký Toàn thư (ĐVSKTT) cũng chép là 15 bộ nhưng có 5 bộ khác với ĐVSL là: Chu Diên, Phúc Lộc, Dương Tuyền, Vũ Định và Tân Hưng. Đại Việt Sử Ký Tiền Biên thời Nguyễn Tây Sơn (ĐVSKTB), Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thời Nguyễn Gia Long (KĐVSTGCM).

    Việt Sử Cương Mục Toát Yếu của Đặng Xuân Bảng (VSCMTY) tất cả đều ghi 15 bộ theo ĐVSKTT.

    Theo Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi thì 15 bộ nầy là:
    1. Giao Chỉ: là vùng Sơn Nam, nay là Hà Nội, Nam Định và Hưng Yên.
    2. Chu Diên: gồm phần đất tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Tây), phần lớn đất Vĩnh Yên và Phúc Yên cũ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) và một phần đất tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc tỉnh Hà Tây).
    3. Phúc Lộc: Sơn Tâỵ
    4. Vũ Ninh: Kinh Bắc, nay là Bắc Ninh... Có thời huyện Gia Lâm của Hà Nội cũng thuộc xứ Kinh Bắc.
    5. Việt Thường: Thuận Hóa tức là Quảng Trị, Thừa Thiên.
    6. Ninh Hải: An Bang hay Yên Bang, nay là Quảng Yên. Tỉnh Quảng Yên cũ bao gồm cả đất huyện Thủy Nguyên của Hải Phòng ngày naỵ Yên Bang bao gồm phần lớn đất của tỉnh Quảng Ninh và một phần đất Hải Phòng ngày naỵ
    7. Dương Tuyền: Hải Dương.
    8. Lục Hải: Lạng Sơn.
    9. Vũ Định: Thái Nguyên, Cao Bằng.
    10. Hoài Hoan: nay là Hà Tĩnh.
    11. Cửu Chân: Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình.
    12. Tân Hưng: Hưng Hoá, Tuyên Quang
    13. Cửu Đức: Hà Tỉnh, Quảng Bình.
    14. Bình Văn: chưa rõ là ở đâu.
    15. Văn Lang: vùng Lâm Thao, Bạch Hạc của tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Vùng nầy sử sách cũ còn gọi là Phong Châụ Lời cẩn án trong KĐVSTGCM viết: "Phong Châu sử cũ chua là Bạch Hạc. Đường thư /Địa lý chí chép: Phong Châu thống lĩnh năm huyện. Sách Thái Bình Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử triều nhà Tống (bên Tàu) chép: Quận Thừa Hóa Phong Châu xưa là nước Văn Lang. Như thế thì Phong Châu tức là địa hạt phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) và phủ Lâm Thao thuộc tỉnh Sơn Tây bây giờ ".

    “Khởi đầu thời đại Tây Lịch, người ta vẫn còn thấy chế độ Lạc tướng tồn tại. Vào thời đại nầy các "bộ lạc" chuyển thành huyện và lôi kéo theo sự thay đổi danh hiệu Lạc tướng thành huyện lệnh hay huyện trưởng. Sử sách cũ ghi người phụ tá vua Hùng là "bộ chúa" hay "phụ đạo" tương tự như các chức pơ tao, mơ tao, bơ tao, tạo, đạo . . . của các thủ lĩnh dân tộc miền núi trong nước Việt Nam trước đây không lâu lắm và đó là các chức vụ kế truyền theo huyết tộc. Sử cũ cũng chép rằng, dưới thời Hùng Vương, những người giúp việc gọi là "bồ chính". Trước năm 1945, nhiều vùng ở Bắc bộ còn gọi chánh tổng là bồ đình. Bộ tộc Gia-rai ở Tây nguyên, người có trách nhiệm cai quản một số buôn, plây gọi là pô-ta-rinh.

    “Cũng theo sử cũ của ta thì con trai của Hùng vương gọi là ‘quan Lang’, con gái vua gọi là ‘mị nương’. Trước năm 1945 ở vùng đồng bào Mường vẫn còn tồn tại chế độ Lang đạo: con cả của chi ngành trưởng cai trị một mường và gọi là Lang cun, và con cả của ngành thứ cai quản những xóm nhỏ gọi là lang đạo. Con trai của Lang cun hay Lang đạo cũng gọi là lang; con gái của các lang gọi là nàng (cô nàng, mệ nàng). Như thế, xã hội Lạc Việt đời Hùng vương có thể có những nét tương đồng với chế độ Lang đạo của người Mường trước năm 1945.

    “Cho đến thế kỷ thứ 8, ờ miền Ba Vì tỉnh Hà Tây vẫn còn chế độ quan Lang. Cũng theo sách cũ, tổ tiên của Phùng Hưng "Bố Cái đại vương" đời đời làm tù trưởng châu Đường Lâm (nay là Cam Lâm, Ba Vì) gọi là quan lang. (theo Giao Châu ký của Triệu Công/ dẫn trong Việt điện u linh/ Lý Tế Xuyên).

    “Sách Abrégé de L'histoire d'Annam (Tiết yếu lịch sử của người An nam), Alfred Schreiner viết: ‘Les fils des rois de la dynastie des Hồng Bàng prenaient le titre de quang lang et les filles celui de mĩ nàng; c'est le titre que portent encore actuellement les chefs et leurs femmes chez les tribus Mường du Tonkin’ (dịch: những người con trai của các vua triều đại Hồng Bàng [tức là các vua Hùng] mang danh hiệu là quang lang và những người con gái là mĩ nương; đó là danh hiệu mà hiện nay vẫn được dùng để gọi các tù trưởng bộ tộc người Mường và những người vợ của họ ở Bắc kỳ).(Alfred Schreiner/Abrégé de l'Histoire d'Annam/ 2è.Édit./ 1906/ trang 11). Có 2 điểm chú ý ở đây:

    1/ Tác giả dùng chữ quang không phải là quan và ghi chú quang: briller, nghĩa là chiếu sáng, sáng lạng.
    2/ Dùng chữ Mĩ không phải là Mị và ghi chú Mĩ: grâce, nghĩa là dịu dàng, dễ thương. Tư liệu được tái bản vào năm 1906, như vậy cũng có thể rút ra được một thực tế: trước năm 1906, dân tộc Mường ở Bắc phần vẫn còn tồn tại những danh hiệu quan Lang và Mị nương.

    “Tóm lại, có thể nói rằng người Lạc không phải là người Việt Nam nguyên thủy thuần giống. Người Lạc nguyên thủy đã pha trộn, phối chủng với nhiều giống tộc Việt khác nhau từ nhóm Bách Việt tách ra, phiêu lưu, luân lạc rồi đến định cư và sinh sống ở Giao Chỉ, từ thời Huỳnh Đế lập quốc ở Trung Hoa và đã tạo sinh ra một giống tộc mới: giống tộc Lạc Việt.

    Lãnh thổ Giao Chỉ, cũng như lãnh thổ Văn Lang trở thành 2 bộ lạc hợp chủng riêng rẽ với một giống tộc mới đến mà sử sách cũ của Trung Hoa gọi là dân Lạc ở Giao Chỉ. Dân Lạc ở đây rất có thể người Trung Hoa muốn ám chỉ nhóm người Việt bị ruồng bỏ, nhóm người Việt chạy loạn xuống phía Tây Nam sinh sống chung đụng một cách an bình với người Giao Chỉ nguyên thủy- họ trở thành thổ dân Lạc ở Giao Chỉ. Dân Lạc tập trung đông đảo nhất ở bộ lạc Giao Chỉ, lần lần đồng hóa và phối chủng với người dân bản địa Giao Chỉ để nẩy sinh ra một giống tộc mới tạm gọi là dân Lạc-Giao

    “Giống tộc người Lạc-Giao đối với người Hoa là người tạp chủng ở Giao Chỉ cho nên trong sách sử cũ của họ vẫn tiếp tục gọi chung là dân Giao Chỉ và về sau thì gọi là An Nam quốc. Khi người Việt Nam bắt đầu chép sử, thì chữ Lạc được ghép thêm chữ Việt dùng để chỉ hợp chủng người Việt Nam kể từ thời các vua Hùng, tức là dân Lạc Việt.”

    “Có thể nói rằng phần trình bày trên đây đã dựa vào tiền sử học để truy cứu và suy định một cách sơ lược về thành phần nhân chủng và tình hình các dụng cụ sản xuất của những chủng tộc đã từng sinh sống trên đất nước ta ở Bắc Việt và Bắc Trung Việt vào thời xa xưa chưa có sử sách. Tuy nhiên nếu so sánh những chủng tộc ấy với người Việt Nam hiện nay thì chúng ta thấy rằng nhóm tập chủng nầy không phải là tổ tiên trực tiếp của chúng ta mặc dù yếu tố nhân chủng của họ có dự phần vào tiến trình cấu thành nhân chủng của dân tộc Việt Nam. Vì thế, tiền sử học chưa thể giải quyết được một cách thuyết phục vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

    “Dựa trên truyền thuyết và sử cũ của ta thì lại đi đến một kết luận bất nhất: một mặt thì cho rằng tổ tiên của chúng ta là người Giao Chỉ không dính líu gì đến huyết tộc người Hoa (Hoa Hạ/Pawa); một mặt khác lại xem Kinh Dương Vương là thủy tổ của chúng ta tức là xem người Việt Nam chúng ta như là con cháu của người Hoa bởi vì Kinh Dương Vương là con trai của đế Minh [Đế Minh là cháu đời thứ 3 của Viêm Đế họ Thần Nông thuộc chủng tộc Hoa và Thần Nông theo truyện thần thoại Trung Hoa là một trong 5 ông Đế (ngũ Đế) ở thời thượng cổ, người đầu tiên đã dạy người Hoa cày bừa làm nghề nông, được họ tôn sùng như thần linh và gọi là Thần Nông, cũng được gọi là Viêm Đế: "Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh (c) lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua (tức Kinh Dương Vương) là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi cai quản phương Bắc (Trung Hoa), phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình quân tên là Thần Long (d) sinh ra Lạc Long Quân.’ Lạc Long Quân Tên húy là Sùng Lảm, con của Kinh Dương Vương.Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt. (VSTK, s.đ.d. tr.tr. 37, 38.)

    “Sử cũ nước ta đều viết rằng Kinh Dương Vương là người Hoa".

    “Bản gốc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) chữ nho (chữ Hán) viết: "Thú Động Đình Quân nữ viết Thần Long" có nghĩa: Thần Long là con gái của Động Đình Quân. Nhưng ở đoạn Sử thần Ngô Sĩ Liên nói thì lại viết: "Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt... "Vương (Kinh Dương Vương) lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân” nghĩa là Động Đình Quân có tên là Thần Long.

    “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (LTHCLC/Nhân Vật Chí viết: "Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân đẻ ra Lạc Long Quân" không đề cập đến tên của người con gái.

    “Việt Sử Tiêu Án (VSTA), Ngô Thì Sĩ viết: ‘Đến như việc Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình.’ không đề cập gì đến tên của người con gái.

    “KĐVSTGCM (1884) cũng không có tên của người đàn bà nầy: ‘Kinh Dương Vương sinh ra Sùng Lảm lên nối ngôi xưng là Lạc Long Quân. (Nguyễn Công Tánh, Việt Sử Tân Khảo, s.đ.d., Q.I., tr.tr.3-7).

    Tuy nhiên, trong sách VSTK, soạn giả Nguyễn Công Tánh sau khi đã truy cứu sâu rộng đã đưa ra những kết luận như sau:
    1/- Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên là một sản phẩm tưởng tượng phản khoa học.
    2/- Chủng tộc Việt Nam không phải là một trong những tộc chủng Bách Việt từ phía Bắc đi xuống.
    3/- Chủng tộc nguyên thủy Việt Nam có trước chủng tộc Hoa Hạ/ Pa Wa và các chủng tộc Việt khác.
    4/- Và điều đáng chú trọng hơn hết là khoa học hiện đại gần đây lại khám phá ra được rằng tổ tiên người Hoa có thể là phát xuất từ chủng tộc Việt Nam nguyên thủy, từ phía Nam đi lên phía Bắc. (Nguyễn Công Tánh, Việt Sử Tân Khảo, s.đ.d., Q.I., tr. 99).

    (Còn tiếp)


 

 

Similar Threads

  1. TIẾNG TƠ ĐỒNG: Chuyện hoa mai
    By Lotus in forum Âm Nhạc
    Replies: 3
    Last Post: 12-20-2014, 12:42 AM
  2. Công thức NSA
    By Triển in forum Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn
    Replies: 3
    Last Post: 04-07-2014, 08:32 AM
  3. Tâm sự của một Công Dân Tự Do
    By Lotus in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 5
    Last Post: 04-28-2013, 05:56 AM
  4. T.T.X.V.H - Công Lý & Sự Thật
    By Triển in forum Chuyện Linh Tinh
    Replies: 27
    Last Post: 05-24-2012, 09:33 PM
  5. Replies: 0
    Last Post: 04-22-2012, 08:57 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 11:39 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh