Register
Page 2 of 2 FirstFirst 12
Results 11 to 15 of 15
  1. #11
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    1,049

    Xa r
    ời cõi đêm

    (tiếp theo)

    Quang rú lên một tiếng kinh hoàng, cơn đau xé buốt làm chàng tê liệt hẳn đi, nhưng bản năng tự vệ làm chàng bắt kịp cườm tay tay Phượng. Chàng bẻ tréo tay để lưỡi dao rơi xuống mặt giường và loạng choạng bò dậy, tay kia ôm lấy bả vai sau sườn. Máu chàng bắt đầu chảy ra ướt đẫm.


    Quang thấy hoa mắt, khó thở. Chàng nhìn lên giường. Cảnh tượng cuối cùng chàng thấy trước khi ngất đi là Phượng bắt đầu lên cơn động kinh. Cả người nàng giật lên từng hồi, mắt trợn trừng, đầu nàng đập qua đập lại. Quang cố dương mắt nhìn nàng lần cuối và, như một làn vải trắng phủ trước mặt chàng, bóng Phượng mờ dần. Quang bắt đầu thiếp đi vào cơn mê man.

    Cơn đau trong lồng ngực đánh thức Quang dậy. Chàng nằm trong bệnh viện đã được một tuần. Quang nghe kể lại khi đưa vào phòng cấp cứu chàng chỉ còn thoi thóp thở, sát cạnh ngưỡng cửa của tử thần. Cuộc giải phẫu kéo dài hơn 4 tiếng đồng hồ và sau cùng chàng thoát chết. Người bác sĩ giải phẫu nói cho chàng biết mũi dao đi gần sát vào tim. Chỉ nhích thêm một chút nữa và chàng không thể sống được. Tuy vậy chàng cũng phải thở bằng máy nhân tạo và phải để một ống dài hút máu đọng lại trong lồng ngực mất gần một tuần.

    Quang không hỏi gì được về Phượng vì ống thở chạy dài suốt xuống khí quản khiến chàng không nói được. Chỉ buổi sáng hôm nay ống thở mới được rút ra và Quang được chuyển ra nằm phòng ngoài. Chàng mới cảm thấy dễ chịu và thoải mái đôi chút. Người khách đầu tiên vào thăm Quang là một người chàng không ngờ đến nhất. Tâm, người đàn ông lạ trong quán ăn bước vào và Quang giật mình vì vẻ mặt của hắn. Một khuôn mặt tiều tụy và thê thảm đến cực độ, khác hẳn với người chàng đã gặp trong quán ăn mấy bữa trước. Hắn giơ tay nắm lấy tay chàng và nói:

    - Mừng ông khỏe lại. Tôi mang lại cho ông một tin buồn. Phượng đã chết rồi!

    Hắn gục đầu xuống. Quang thoáng thấy cặp mắt của hắn long lanh ướt và hình như giọt lệ bắt đầu đọng lại trong khóe mắt. Người đàn ông tên Tâm nói tiếp:

    - Phượng tự tử bằng thuốc ngủ hai hôm trước. Lỗi tại tôi cả.

    Hắn giơ tay khoác không để cho Quang nói.

    - Ông không cần phải hỏi. Tôi sẽ giải thích tất cả mọi chuyện.

    Hắn kéo chiếc ghế ngồi cạnh giường chàng và bắt đầu kể. Mắt hắn nhìn vào trong góc phòng tối như nhìn vào cõi đêm của u ám, của nỗi chết vương vất, ám ảnh:

    - Phượng là bệnh nhân của tôi. Tôi chuyên môn về bệnh tâm trí. Phượng đến với tôi vào khoảng ba năm trước sau ngày người chồng Hoa Kỳ của nàng chết. Vụ ông Gilbert Johnson bị giết bằng dao đâm trúng tim ngay trong đêm thành hôn với một người đàn bà Việt Nam mới ty nạn sang đây đã là đề tài sôi nổi của thành phố San Francisco này cả hàng mấy tháng trời.

    Gilbert Johnson là người giàu có, tăm tiếng trong thành phố, không ai hiểu tại sao ông ta mê say một người thư ký ngoại quốc đến mức chỉ mới quen nhau vài tháng đã quyết định thành hôn ngay. Lý do tại sao không quan trọng lắm và chắc trên đời này chỉ có ông và tôi, những người đã biết Phượng, mới hiểu được sự quyến rũ và mức hấp dẫn của Phượng. Tôi đoán rằng Johnson có lẽ cũng lâm vào tình trạng mê say như vậy.

    Ngay trong đêm thành hôn, theo lời báo chí tường thuật, người quản gia gốc Mễ nghe thấy một tiếng rú rừng rợn, chạy vội lên lầu và chứng kiến một cảnh hãi hùng. Johnson nằm chết trên giường với lưỡi dao đâm sau lưng xuyên qua tim trong khi Phượng đang nằm dưới đất lên cơn động kinh mãnh liệt, đầu nàng cũng chảy máu chan hòa. Cửa phòng ngủ mở tung và bàn ghế đổ ngả nghiêng trong phòng. Khi cảnh sát và xe cứu thương đến nơi, Phượng mới tỉnh cơn động kinh và khóc lóc thê thảm trước cái chết của người chồng vừa cưới.

    Nàng khai không nhớ gì về sự việc xảy ra trước lúc Johnson chết, không biết có người lạ nào vào giết chồng nàng hay không, không biết tại sao cửa mở tung và bàn ghế gẫy đổ đầy trong phòng. Tóm lại nàng hoàn toàn không biết gì cả. Điều cảnh sát và những người cứu thương đến chứng kiến là nàng vẫn còn động kinh dữ dội khi họ vừa đến và chuyện mất trí nhớ ngay lúc trước khi động kinh là đúng sự thật.


    Cuộc điều tra kéo dài hàng mấy tháng trời không đưa đến bằng chứng cụ thể nào. Hai giải thuyết được đặt ra: hoặc chính Phượng giết chồng, hoặc Johnson bị một kẻ lạ mặt thù oán lẻn vào giết chết ngay đêm tân hôn. Trong những lần lấy khẩu cung, không ai có thể nghi ngờ lòng thành thật của Phượng, nàng không dấu diếm một chuyện nào cả và tất cả mọi người đều tin như vậy, chỉ có điều nàng hoàn toàn không biết một chút gì về chuyện xảy ra. Chứng động kinh của nàng là lý do, điều này được cảnh sát và những người cứu thương xác nhận và không ai chối cãi được.

    Sau cùng giới thẩm quyền phải chấp nhận giả thuyết thứ nhì: Johnson bị kẻ thù lạ mặt lẻn vào giết và cuộc truy tầm thủ phạm cũng đi vào ngõ bí. Hồ sơ án mạng của chồng nàng sau cùng bị xếp xó và được coi là kết thúc.


    Phượng thừa hưởng tất cả sản nghiệp của chồng, tuy nhiên nàng vẫn giữ nếp sống giản dị, vẫn đi làm với đồng lương khiêm tốn, nàng không hề tiêu xài hoang phí, sống đơn độc với một người hầu trong căn nhà rộng lớn. Điều này làm những người nghi ngờ nàng đến mấy chăng nữa, nhất là phía gia đình nhà chồng nàng, cũng dần dần thay đổi thái độ. Vụ án của chồng Phượng sau cùng cũng chìm vào quên lãng.

    Phượng đến khám bệnh tôi vào khoảng hai tuần sau ngày chồng nàng chết. Lý do chính là vì những cơn ác mộng nàng có mỗi đêm và những lúc mất trí nhớ của nàng. Phượng nói mỗi ngày nàng có khoảng vài lần như vậy, hoàn toàn không biết, không nhớ nửa giờ trước đó nàng làm gì.
    Đôi khi nàng chợt thấy mình đang ở trong một chỗ xa lạ, một tiệm ăn, một con đường, nàng hoàn toàn không hiểu tại sao lại đến đó. Điều này làm nàng sợ hãi, cộng thêm với những khủng hoảng do cái chết của chồng và cuộc điều tra đem lại, theo lời khuyên của một người bạn, nàng đến tôi để chữa bệnh.

    Điều tôi không ngờ là chữa bệnh cho Phượng khó hơn điều tôi dự đoán. Các thuốc an thần loại mạnh cũng không giúp ích gì cho Phượng và ngồi hàng giờ nói với Phượng cũng không đem lại tia sáng nào. Nàng tuyệt nhiên không nói đến chuyện quá khứ, nhất là của lúc trước khi sang đến Hoa Kỳ. Mỗi lần tôi hỏi đến, nàng chỉ yên lặng. Tôi không biết làm thế nào để giúp Phượng hơn sau hai tháng trời trị bệnh.


    Gần như tuyệt vọng, tôi thử dùng một phương pháp mới: thôi miên. Tôi vốn không tin tưởng vào chuyện thôi miên cho lắm, tuy nhiên mới đi dự một khóa hội thảo về thuật này và không biết làm gì khác hơn, tôi thuyết phục Phượng để tôi dùng thôi miên khám phá về bệnh trạng của nàng. Hai tháng trời khổ công định bệnh và chữa bệnh Phượng vô ích, chỉ trong buổi thôi miên đầu tiên tôi đã tìm ra ngay.

    Dưới ảnh hưởng của cơn ngủ thôi miên, tôi bắt đầu hỏi Phượng và được nghe giọng người khác trả lời, hoàn toàn khác hẳn giọng nói lúc bình thường của Phượng. Dáng điệu cũng khác hẳn. Phượng như thay đổi hẳn dưới cơn thôi miên. Mắt nàng mở lớn, nhìn trừng trừng, chiếu ra những tia sáng căm hờn, có lúc lại trở thành đầy sợ hãi, tuyệt vọng. Tôi biết ngay đã gặp trường hợp nhị hóa nhân cách.

    Trong Phượng là hai người hoàn toàn khác hẳn nhau, lúc là người này, lúc người kia. Phần lớn thời gian là Phượng, khoảnh khắc thay đổi là lúc nhân cách kia chiếm ngự và Phượng trở thành người khác hẳn, biến đổi một thời gian ngắn rồi Phượng lại trở lại là Phượng.

    Đây là lý do tại sao nàng than phiền mất hết trí nhớ, hoặc thấy mình bỗng dưng ở một nơi xa lạ. Những lúc đó là lúc nhân cách thứ nhì của Phượng hoàn toàn chiếm ngự nàng. Trong cơn thôi miên, tôi được cho biết nhân cách này tự đặt một tên khác, xưng là Vân và tất cả những bí ẩn của Phượng và thảm kịch của nàng là do Vân gây nên.

    Vân bắt đầu xuất hiện trong Phượng trong cuộc hành trình vượt biên của nàng. Nàng không đi đường biển như nhiều người khác nhưng đi đường bộ qua ngả Cam Bốt đến Thái Lan. Cuộc vượt biên này là một thảm họa. Nhóm người đi cùng với Phượng và Vinh, em trai nàng lọt vào tay bọn Khmer Đỏ. Đàn ông bị chúng giết ngay, trong đó có Vinh. Phượng và những người đàn bà khác bị chúng hãm hiếp.. Chỉ một mình Phượng được tên đầu bọn tha không giết và bắt đi theo. Những người xấu số khác đều bị bắn bỏ.

    Một tháng trời ròng rã Phượng là nạn nhân của bọn quỉ khát máu. Nàng phải cắn răng chịu đựng để được sống sót và dần dần Vân bắt đầu xuất hiện trong nàng. Nàng gan lì hơn, cứng cỏi hơn và tìm cách để thoát thân. Một đêm mưa bão trong rừng nơi bọn Khmer Đỏ trú đóng, nàng dùng dao đâm chết tên đầu đảng ngay khi tên này đang thỏa mãn thú tính và băng rừng bỏ trốn.

    Bị săn đuổi, đói khát với thần chết luôn kề cận bên mình, sau cùng Phượng cũng đến được biên giới Thái Lan và trại tỵ nạn. Vào được nơi an bình, Phượng ngã quỵ và sốt mê man mấy ngày liền. Khi khỏi bệnh nàng mất hết những ký ức của mấy tháng vừa qua. Chừng như những kinh hoàng của cuộc vượt biên đã bị ý thức của nàng dồn nén xuống tận vực sâu của tiềm thức.

    Điều mà ý thức của Phượng không biết là từ đó nàng đã tự tạo ra một nhân cách khác, sống triền miên, vây bủa bởi những thảm cảnh kinh nghiệm của mấy tháng trời sống trong địa ngục, hoàn toàn hành động và suy nghĩ theo bản năng sinh tồn và không từ bất cứ chuyện gì để tự vệ.

    Nhân cách này tự đặt tên cho mình là Vân để phân biệt với Phượng. Vân ý thức được sự hiện hữu của Phượng, về cái tôi khác của mình. Và nói về Phượng một cách trìu mến, bảo bọc . Như Vân thấy có bổn phận phải bảo vệ Phượng. Gìn giữ nàng trước những nguy hiểm của cuộc đời, trước những tai ách của con người, nhất là đàn ông. Trước con mắt của Vân, tất cả đàn ông đều như những tên Khmer Đỏ hành hạ nàng và nàng phải tìm cách phấn đấu, giết chết bọn chúng để trốn thoát.

    Phượng, ngược lại không hề ý thức nàng mang trong mình một nhân cách thứ hai là Vân. Nàng sống giản dị, tôi nghĩ rằng Phượng giữ được tất cả nhân tính của nàng trước khi gặp tai họa tại Cam Bốt. Và là người chúng ta gặp để say mê, như Johnson đã được biết và như ông đã biết. Chỉ đôi lúc Vân xuất hiện là nàng lâm vào tình trạng mất trí nhớ ngắn hạn trong khoảng thời gian Vân chiếm ngự nàng. Hoặc những kinh nghiệm, hồi tưởng của Vân đã hiện lên trong ý thức nàng dưới hình thức những cơn ác mộng.

    Nói đến đây chắc ông đã đoán biết Phượng, đúng hơn là Vân, đã giết Gilbert Johnson trong đêm tân hôn. Phượng hoàn toàn không ý thức gì, không biết gì đến những khoảng khắc nàng trở thành Vân, để sẵn con dao nhọn ở đầu giường để sửa dọan cho ngày đám cưới.


    Và Vân đã hoàn toàn chiếm ngự lấy Phượng đêm đó, dùng dao đâm người chồng mới cưới như nàng đã đâm tên Khmer Đỏ ba năm về trước. Cơn động kinh đến với nàng như một giải thoát. Vân biến mất chui vào tiềm thức để Phượng ngơ ngác và kinh hoàng trước cái chết của người chồng. Những điều này tôi không nói với một ai biết được vì tương quan giữa người y sĩ và bệnh nhân, tôi không nói với ai lúc đó khi Vân thuật lại hết những sự việc xảy ra và cũng không hở môi với bất cứ người nào khác sau này, trừ ông ra vì ông là người trong cuộc.

    Điều làm cho Phượng trở thành nguy hiểm và trách nhiệm tôi nặng nề vô cùng là với Vân còn ở trong nàng ngày nào, người đàn ông nào yêu thương nàng và được nàng yêu thương lại sẽ trở thành kẻ thù của Vân, cần phải trừ khử khi gần gũi xác thịt với Phượng. Tôi tìm đủ cách trong các cuộc thôi miên để giảng giải cho Vân, để lôi kéo nhân cách nàng về giống với nhân cách Phượng, để hy vọng rằng Vân sẽ dần dần biến mất và sẽ không còn là mối nguy hiểm cho Phượng, cho người đàn ông nào tương lai sẽ được nàng yêu.

    Quả thực lúc đầu tôi cũng rất lạc quan, Phượng cho tôi biết đã ít còn bị những lần mất trí nhớ và thôi miên Phượng để Vân hiện lên cũng khó khăn và ít thành công. Phượng tỏ vẻ yêu đời, sung sướng hơn trước. Phượng đến tôi thăm bệnh cũng thưa dần. Lần cuối cùng nàng đến phòng mạch là hơn 6 tháng trước, trước ngày tôi đi tu nghiệp tại Boston. Lần đó Vân hoàn toàn không thấy xuất hiện dù tôi thôi miên nàng rất lâu. Tôi tưởng nàng đã hoàn toàn khỏi bệnh.

    Ngày ở Boston về là ngày tôi gặp ông và Phượng trong quán ăn. Tôi theo dõi trong mấy ngày và sau khi biết được ông và Phượng đang nẩy nở tình yêu, tôi đường đột đến gặp ông tối hôm đó để dặn ông đề phòng. Tôi dự định sẽ nói hết cho ông ngày hôm sau nhưng không ngờ thảm họa lại xảy ra ngay đêm hôm đó.

    Người y sĩ tên Tâm ngừng lại không nói tiếp dường như bị xúc động mạnh. Quang cũng im lặng không nói, chàng thấy bàng hoàng như đang trong cơn mộng, có lẽ mọi sự chỉ là cơn mộng chăng? Chàng gắng gượng mãi mới hỏi được:

    - Phượng.... Phượng, tại sao nàng tự tử?

    Tâm trả lời:

    - Phượng bị nhà chức trách giữ lại sau khi ông được đưa vào nhà thương. Họ nghi ngờ nàng và đòi mở lại hồ sơ vụ án mạng của Johnson. Phượng được luật sự đóng tiền thế chân tại ngoại hầu tra nhưng tôi đoán Vân đã hoàn toàn chiếm ngự lấy Phượng. Có lẽ Vân đã quyết định tự vẫn. Hoặc giả Phượng ý thúc được sự hiện hữu của Vân và tuyệt vọng nàng tự tử. Tôi không biết được nhưng dù sao đi nữa tôi cũng có trách nhiệm với Phượng. Với ông.
    Quang lắc đầu không nói. Tai chàng không nghe thấy Tâm nói gì nữa. Trước mắt chàng là hình ảnh của Phượng, đẹp lộng lẫy, tươi cười cùng chàng đạp nước bên bờ biển. Phượng đưa chùm nho mọng chín lên miệng cắn, môi nàng mọng hơn những quả nho đỏ. Nàng không thể nào và không khi nào là một ai khác. Nàng là người Quang yêu say đắm và nàng yêu lại chàng, tại sao mọi sự không giản dị như thế. Tại sao bầu trời trong sáng chàng đã biết, đã sống với Phượng trong một tuần lễ tuyệt diệu của đời người, lại trở thành cõi đêm, của kinh hoàng, của sự chết. Tại sao đời sống không tiếp nối, không vĩnh cửu.. tại sao, tại sao Phượng không còn nữa?

    Người đàn ông tên Tâm đứng dậy đưa cho chàng một phong bì mỏng:

    - Họ nhờ tôi đưa cho ông thư này của Phượng. Họ tìm thấy thư trên giường nàng.

    Quang run rẩy mở thư xem. Trong thư chỉ vỏn vẹn mấy hàng chữ: “Tha lỗi cho em. Em yêu anh. Phượng.” Quang không dấu được tiếng nghẹn. Trước khi chết, Vân đã trả lại Phượng cho chính nàng và nàng đã nghĩ đến chàng, đến tình yêu của hai người. Nhưng hạnh phúc của tình yêu chàng và Phượng đã không đủ để đưa Phượng ra khỏi cõi đêm. Để thoát khỏi ràng buộc của ký ức kinh hoàng vây chặt lấy nàng, không cho nàng một lối thoát.

    Quang nhìn ra bầu trời. Trời trong sáng nhưng chàng thấy như mờ ảo. Một tia nắng nào đó như lung linh, nhảy múa ngoài cửa sổ. Có lẽ Phượng đấy chăng? Nàng đã thoát khỏi tăm tối của cõi đêm và nàng đang đứng đó, đẹp lộng lẫy, huy hoàng, chờ đón chàng và dịu dàng nắm lấy tay chàng đi dạo suốt mùa xuân của vĩnh cửu và vô cùng.


    Nguyễn Đình Phùng

  2. #12
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    1,049
    Cơn Mộng


    Nguyễn Đình Phùng

    Những tia nắng đầu tiên trong ngày len lỏi qua mành của sổ dọi vào mặt An và chàng bừng tỉnh dậy. An đưa tay dụi mắt và khám phá ra mặt chàng đầy vã mồ hôi. Những hình ảnh của giấc mơ hiển hiện mồn một trong ý thức An và chàng bỗng rùng mình. Đây là lần thứ ba như hai đêm trước đó An đã mơ thấy người con gái, trở lại trong giấc mơ của chàng, những hình ảnh, âm thanh và hành động nối tiếp nhau như một cuốn phim chiếu mỗi đêm, đứt đoạn với mỗi lần tỉnh giấc và nối tiếp khi chàng vừa thiếp đi.



    An xuống giường vào phòng rửa mặt, đánh răng, đầu óc chàng vẫn đầy hình ảnh của giấc mơ đêm vừa qua. Hình ảnh người con gái hiện rõ hơn trong ký ức và sự quen thuộc bắt đầu thành hình. Từ vùng sâu thẳm của trí nhớ những kỷ niệm cũ chợt trở về và An biết người con gái là ai.

    ** *

    Hai mươi năm trước, An là giáo sự dậy toán trẻ tuổi nhất của trường Chí Thiện, một trường tư thục nằm trong Chợ Lớn, do một linh mục Công giáo làm hiệu trưởng. Chàng được một người bạn lớn tuổi hơn dạy ở đây đã nhiều năm giới thiệu với vị linh mục và sau khi biết chàng là con của người bạn hoạt động trong hướng đạo, cha Hòa đã sắp xếp để chàng dạy toán cho lớp Đệ Nhị A, một lớp học với đa số là nữ sinh. An không biết điều gì đã xảy ra, nhưng mỗi lần vào lớp dạy, chàng thường hơi mất bình tĩnh và phải đến vài phút sau khi cất tiếng, chàng mới tự trấn an và giảng bài được.

    Hôm đó, An ra một số đề toán trên bảng và gọi một vài nữ sinh lên bục để giải toán. Chàng chọn đại một ít tên trong danh sách và gọi từng người. Người cuối cùng là Phan Thị Hà Liên và An không thấy ai trả lời. Chàng gọi tên một lần nữa và một lúc sau từ hàng ghế dưới cùng mới thấy một nữ sinh khó khăn đứng dậy. An lần đầu tiên mới để ý đến nàng và chàng sửng sốt nhìn. Hà Liên có khuôn mặt tuyệt đẹp và thân hình trên nẩy nở của một thiếu nữ mới lớn đầy nhựa sống nhưng nàng bị tật nguyền một bên chân. Một chiếc nạng gỗ được nàng dùng để thay cho chân trái, khẳng khiu, co quắt do bệnh tê liệt từ hồi nhỏ.

    Hà Liên chậm chạp đi lên và An bỗng cảm thấy đau lòng. Một thiếu nữ đẹp, quyến rũ như người nữ sinh đang tiến về phía chàng bị một căn bệnh quái ác tàn phá một phần cơ thể. Đôi mắt đẹp kỳ lạ, đầy buồn thảm của nàng là bí mật của sự hồi hộp mỗi khi chàng vào lớp. Đôi mắt nàng đã theo dõi chàng, nhìn chàng đăm đăm, xoáy vào tâm hồn chàng và mặc dù không để ý đến trước kia, đã là nguồn giao động cho chàng phải phân tâm, một sức mạnh kỳ bí phủ vây lấy chàng làm chàng khó thở.

    An dạy học và tận tâm với nghề của mình, chàng không hề để ý đến các nữ sinh trong lớp dù đẹp đến đâu chăng nữa. Nhưng Hà Liên là một trường hợp ngoại lệ. Có lẽ vì vẻ đẹp khác thường của nàng hoặc vì sự tật nguyền của nàng, An chú ý đến nàng nhiều hơn mỗi khi vào lớp dạy và sau vài tháng, chàng bắt đầu nhận ra sự sai lầm của mình. Niềm hồi hộp và phân tâm của chàng chỉ có tăng mà không giảm.

    An cảm nhận sự say mê của người con gái đối với chàng và tình yêu mãnh liệt qua cặp mắt của Hà Liên mỗi lần nhìn chàng làm An choáng váng và sợ hãi. An không muốn có những xúc động mạnh, chàng là một người chừng mực, nhất là trong vấn đề tình cảm. An ngại những cuộc phiêu lưu, những đam mê của người khác làm chàng bối rối và khó hiểu. Chàng muốn sống một cuộc đời bình thản, êm ả dù rằng cuộc sống đó có thể buồn nản thế nào đi chăng nữa.
    Hà Liên quả tình làm chàng khó xử. Chàng thương hại nàng vì sự tật nguyền của nàng và vẻ đẹp của nàng làm chàng bị lôi cuốn. Nhưng sự kỳ lạ trong cặp mắt của nàng và nỗi niềm đam mê như một cơn lốc cuồng phong diễn tả trong những bức thư kẹp trong bài nộp của nàng làm An e ngại.

    Tình yêu một chiều của nàng càng ngày càng lớn mạnh và An bắt đầu cảm thấy sợ những giờ toán chàng phải giảng dạy tại trường Chí Thiện. Chàng sợ đôi mắt của nàng, sợ ngọn lửa cuồng nhiệt trong luồng mắt theo dõi từng cử động của chàng, sợ sự say đắm của người con gái nghe từng tiếng giảng bài của chàng như lời Thánh Kinh. Và chàng nhận thấy tình trạng không thể kéo dài, chàng cảm nhận một sự nguy hiểm, đe dọa nào đó cho cuộc đời bình yên của chàng và điều tốt nhất với An theo chàng nghĩ là sự trốn tránh. Sau kỳ nghỉ Tết năm đó An viện cớ sức khỏe thông báo cho linh mục hiệu trưởng kiếm giáo sư khác thay chàng.

    An vẫn thường nghĩ về người thiếu nữ tật nguyền những năm sau đó. Đôi lúc chàng cảm thấy mình tàn ác. Chàng thắc mắt không hiểu Hà Liên sẽ ra sao sau khi chàng đột ngột nghỉ dạy nhưng chàng hy vọng nàng sẽ quên. Các cô gái mới lớn có lẽ cũng đều như vậy cả. Yêu say đắm một lúc một thời rồi cũng sẽ phôi pha, nhạt nhòa và sẽ lấy chồng, đẻ con và an phận với cuộc sống. An nghĩ thế nhưng trong thâm tâm có một điều gì đó nơi Hà Liên làm chàng không tin như vậy. Và chàng thấy ngăn ở nơi ngực mỗi lần nghĩ đến mối tình đơn phương của người nữ sinh tật nguyền đối với chàng, một tình yêu chàng không thể đáp lại.

    Lần cuối An gặp Hà Liên là những ngày cuối tháng tư 1975 tại đảo Guam. An rời khỏi Việt Nam tương đối sớm sủa và tới Guam được đưa về một building ở tạm vài ngày trước khi sang Mỹ. Một buổi tối trong khi ngồi ăn tại phòng ăn rộng mênh mông của building tạm trú, An nghe vợ chàng nói nhỏ:

    - Anh xem có cô nào đang nhìn mình ghê quá!

    An quay đầu lại để vừa lúc thấy người thiếu nữ tật nguyền với chiếc nạng gỗ đang tiến về phía chàng.
    Nàng nói giọng nhỏ ấp úng:

    - Thưa thầy, em trước học trường Chí Thiện. Thầy có nhớ em không ạ?

    An buột miệng đáp ngay:

    - Cô Hà Liên. Tôi nhớ chứ!

    An thấy hối hận, chàng tự trách mình đáng lẽ không nên nhận nàng. An vừa thấy được niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt nàng và ánh mắt của nàng chàng lại thấy loé lên ngọn lửa si mê của ba năm trước. Nàng cười nói huyên thuyên, giọng ríu rít như chim hỏi thăm An, hỏi thăm người vợ mới cưới của chàng. An nói chuyện nhưng chàng tránh nhìn thẳng vào đôi mắt của nàng, sự cuồng nhiệt trong luồng mắt chàng thấy vẫn còn đó, và đằng sau tiếng cười, tiếng nói của Hà Liên, chàng cảm nhận niềm đau khổ và tuyệt vọng nơi nàng.

    Sự thương hại pha lẫn một chút sợ hãi bắt đầu xâm chiếm lấy An. Tình yêu mạnh mẽ của người con gái tật nguyền này hầu như không giảm đi chút nào với thời gian. An cảm thấy bối rối, cảm giác mình là nguyên cớ cho sự đau đớn của người khác, một điều chàng không bao giờ muốn nhưng không biết cách nào giải quyết.

    An thấy may mắn khi sáng hôm sau hai vợ chồng chàng được gọi tên để lên phi cơ sang Hoa Kỳ và chàng không hề gặp lại Hà Liên sau buổi đó. Một đời sống mới đang chờ đón chàng và An thấy không có lý do gì để chàng phải vướng mắc, bận tâm về Hà Liên. Xứ sở này quá rộng lớn, cuộc đời quá nhiêu khê, An nghĩ rằng chàng sẽ chẳng còn dịp nào để nghĩ đến Hà Liên, đừng nói đến chuyện gặp lại người con gái tật nguyền đã một thời hệ lụy trong tình yêu một chiều đối với người thầy giáo.

    * * *

    An nghĩ về những giấc mộng trong ba đêm vừa rồi. Chàng không thể tưởng tượng sau hai mươi năm, hình ảnh Hà Liên lại hiện về trong những cơn mơ vật vã như thế. Những cơn mơ như một đời sống thực sự với đầy đủ cảm xúc, âm thanh và hình ảnh của một cuộc sống thật. An ngẫm nghĩ và chàng chợt rùng mình.

    Tại sao những giấc mơ có thể nối tiếp nhau, như một cuộn phim tạm ngưng vào lúc chàng tỉnh dậy và quay tiếp vào đêm sau, vào đúng chỗ đứt đoạn của đêm hôm trước?

    Những giấc mơ bình thường không thể có sự liên tục như vậy. Như một cuộc đời thứ nhì cho chàng trở thành sự thực trong cơn mơ với chàng và Hà Liên là vai chính. Và tại sao lại là Hà Liên, một kỷ niệm nhạt nhòa của hai mươi năm trước? Đời chàng đã có biết bao biến động, chàng đã có biết bao vết hằn lên tâm hồn và quá nhiều cảm xúc mãnh liệt để lại những ký ức khó phai mờ. Tại sao một dấu vết nhỏ nhoi trong những nếp nhăn sâu thẳm của trí nhớ lại có thể chiếm ngự hoàn toàn những cơn mơ từ đêm này qua đêm khác và liên tục như thể muốn tạo ra một đời sống riêng trong tâm thức chàng?

    An nhận thấy một điều khác lạ khi chàng tỉnh giấc về hình ảnh của Hà Liên. Chàng nhớ Hà Liên là một cô gái tật nguyền với cả một bên chân trái bị hỏng vì bệnh tê liệt, nhưng trong giấc mơ, Hà Liên trở thành một người đi đứng bình thường và đẹp tuyệt vời. Như tất cả những khuyết điểm nơi nàng đều đã bỗng dưng biến mất và những ưu điểm của nàng được trau chuốt để sáng chói hơn trước. Và những giấc mơ có cốt chuyện như một cuộc đời dành riêng cho Hà Liên và chàng, trong đó Hà Liên và chàng là đôi tình nhân với những gì đẹp đẽ nhất có thể xảy ra cho một đôi tình nhân.

    Hạnh phúc là chủ đề cho những giấc mơ của chàng với Hà Liên. Như những cơn mộng liên tục của chàng đã là những gì mơ ước của Hà Liên, biến thành một đời sống thực trong những giấc mộng của An, một điều hoàn toàn ở ngoài ý muốn của chàng. Và không để cho chàng có thể thay đổi, biến cải được!

    * * *

    An là một người giản dị, bình thường và chàng suốt đời ao ước được sống một cuộc đời bình thường, giản dị, không làm phiền ai và cũng không muốn ai làm phiền mình. Tuy nhiên có lẽ như tất cả những ước muốn về đời sống, những gì trái ngược là điều người ước muốn thường được nhận lãnh, An nhận thấy đời mình không thể gọi là bình thường và chàng đành chấp nhận.

    Những giấc mơ kỳ lạ đến từ khi chàng rời khỏi bệnh viện về nhà, sự việc chàng sống sót sau lần giải phẫu, tất cả là những điều không bình thường xảy đến trong cuộc đời đầy bất trắc của chàng. Và An không còn ngạc nhiên khi mở đống thư từ tích tụ hơn một tháng trời từ ngày chàng vào bệnh viện, An thấy một gói lớn gửi cho chàng, người gửi đề tên Phan Thị Hà Liên.

    Cuốn nhật ký Hà Liên gởi cho chàng khá dầy và An đọc một mạch. Đến đoạn chót, chàng phải đọc lại vài lần để hiểu sự gì đã xảy ra.

    Ngày... tháng... năm...

    Tại sao định mệnh có thể sắp đặt như vậy? Sau cùng mình cũng gặp lại được chàng. Đã mười chín năm từ ngày cuối thấy chàng lần chót ở đảo Guam, mình sung sướng biết bao khi trông thấy chàng, nhưng cũng đau đớn biết bao khi thấy chàng với người vợ mới cưới. Nhưng mình biết mình đau khổ là vô lý, có bao giờ chàng biết mình yêu chàng đến mực nào và có bao giờ chàng để ý để kẻ tật nguyền là mình. Bao nhiêu năm mình đã đi tìm chàng trên khắp đất Mỹ mà không hề bao giờ gặp. Mình cũng không hiểu tiếp tục đi tìm chàng làm chi. Gặp lại để làm gì? Chàng cũng sẽ không bao giờ để ý đến mình và mình vẫn mãi mãi mang sự đau khổ. Nhưng dù biết như vậy, có bao giờ mình nguôi ý nghĩ về chàng và có bao giờ mình ngưng đi dò hỏi, tìm chàng mỗi khi có cơ hội?

    Nhưng gặp lại chàng trong tình cảnh này có lẽ không hề gặp lại là điều hay hơn. Hoặc nếu chàng được đưa vào khu bệnh lý khác, không phải khu mình làm hồ sơ cho bệnh nhân thì có lẽ mình cũng không bao giờ biết chàng ở ngay trong bệnh viện này. Carol đưa cho mình hồ sơ đề tên Đặng Hoàng An để làm giấy tờ và mình giật nẩy người. Có lẽ một người trùng tên chàng. Nhưng không! Linh tính báo cho mình biết, bệnh nhân tên Đặng Hoàng An, 45 tuổi này chỉ có thể là chàng, và mình không nhầm.

    Mình chạy vội lên phòng hồi sinh cấp cứu và nhìn qua khung cửa kính, quả đúng là chàng. Và chàng đã hôn mê rồi! Chao ôi! Tại sao định mệnh có thể khắt khe như vậy. Mình đã đi tìm chàng khắp nơi trong 19 năm, có lúc nào mình ngưng ý nghĩ về chàng và giờ đây chàng nằm đó, sát với ngưỡng cửa của tử thần. Tại sao chàng có thể bị một thứ bênh tim gì độc hại như vậy được. Mình hỏi bác sĩ Gilbert, ông nói bệnh tim loại này không chữa được và ông nói chàng chỉ còn được vài ngày là nhiều.

    Mình đứng lặng người. Chàng chỉ còn sống được vài ngày nữa và không có cách nào cứu chàng thoát chết. Mình gặp lại chàng để nhìn chàng chết. Tại sao có thể như vậy được? Tại sao những bất hạnh tiếp tục đến với mình như vậy? Mười chín năm nay mình chỉ nghĩ đến lúc gặp lại chàng và mình sống cho giây phút đó. Giờ đây gặp lại chàng, chàng không thể nhận ra mình và cũng chỉ còn vài ngày.

    Định mệnh ơi, ta oán thù mi! Nhưng không được, ta không thể cho phép định mệnh dày vò ta như thế được. Ta phải thách đố định mệnh, ta phải cứu chàng. Nhưng ta làm được gì đây? Những bác sĩ giỏi nhất ở đây cũng phải bó tay rồi, một người làm giấy tờ, hồ sơ quèn như ta có thể làm gì được?

    Ngày... tháng.. năm..

    Mình đọc hồ sơ chàng mỗi ngày. Bệnh chàng càng lúc càng nguy kịch hơn. Hôm nay có một bác sĩ mới đến thăm bệnh. Ông này có ghi câu: “Chỉ có cách ghép tim, thay hẳn trái tim mới có thể cứu được”. Nhưng ông viết tiếp: “Người bệnh này không có ưu tiên và tình trạng nguy kịch hiện tại cũng không thể kéo dài cho đến lúc có thể tìm người chết thích hợp để ghép tim”.

    Mình suy nghĩ mãi về câu viết trong hồ sơ của bác sĩ Stevenson. Như vậy có cách cứu chàng. Nhưng thay quả tim bằng tim người mới chết là chuyện hãn hữu. Bệnh viện này có làm được chuyện ghép tim nhưng hiếm khi có được tim người mới chết thích hợp để ghép. Mình hỏi bác sĩ Stevenson, ông nói có đến hơn mười người đang chờ để ghép tim có ưu tiên. Ông nói phần lớn chết trước khi tìm được tim thích hợp để ghép. Như vậy chàng cũng không có hy vọng gì. Chàng chỉ còn vài ngày, làm sao có thể chờ đợi lâu hơn được?

    Ngày... tháng ... năm...

    Một ý nghĩ kỳ lạ vừa đến trong óc mình. Tại sao mình không nghĩ ra ngay. Mọi ý tưởng chợt đến cùng một lúc như một cơn chớp loé sáng. Mình biết mình sẽ phải làm gì. Và chàng sẽ sống. Chàng không thể chết được, chàng sẽ bắt buộc phải sống. Định mệnh ơi, ta sẽ đánh bại mi. Và ta sẽ sống mãi. Với chàng. Mãi mãi. Không bao giờ ngừng....

    * * *

    An ngồi đối diện với bác sĩ Stevenson, trước bàn làm việc của người bác sĩ giải phẫu tim nổi tiếng. Ông nhìn chàng chăm chú và nói:

    - Chúng tôi có thông lệ giữ kín danh tánh của người chết cho tim để ghép thay tim cho người khác nhưng trường hợp của ông là trường hợp đặc biệt. Vâng! Ông đoán đúng! Quả tim của người chết dùng cho ông là của cô Phan Thị Hà Liên. Ông là người may mắn lạ thường. Ông không có ưu tiên nào so với hơn mười người đang đợi để được ghép tim, tuy nhiên rất nhiều điều may mắn đã xảy ra cho ông.

    Cô Phan Thị Hà Liên là một nhân viên làm trong phòng hồ sơ ngay tại bệnh viện này. Trên đường lái xe đến bệnh viện làm việc, không hiểu lý do gì làm cô lạc tay lái đụng xe vào một cây cột đèn lớn cách đây hơn nửa dặm. Chỗ này cũng hay xẩy ra tai nạn nhưng trước giờ không có ai bị nặng như cô Hà Liên. Cô bị chấn thương nặng ở đầu và được đưa ngay vào bệnh viện này. Cô ngừng thở khi vừa đến phòng cấp cứu. Tuy nhiên vì trên bằng lái xe cô Hà Liên đã ưng thuận cho phép lấy các cơ quan của cơ thể cho người khác nếu bị tai nạn chết nên chúng tôi đã giữ cho quả tim của cô vẫn sống dù cô đã chết với óc hoàn toàn ngưng hoạt động.

    Chúng tôi đã bàn luận gay go về việc dùng quả tim của cô Hà Liên cho người bệnh cần thay tim. Tuy ông không có ưu tiên, nhưng trường hợp ông may mắn là loại máu và mô tế bào của ông phù hợp với các đặc tính của cô Hà Liên trong khi những người khác không thích hợp nên chúng tôi đã dùng quả tim của cô ta để thay cho tim ông. Cũng đúng lúc vì tình trạng của ông lúc đó không thể kéo dài hơn nữa. Chỉ cần chậm nửa ngày là chúng tôi cũng đành bó tay.

    Một điều khác nữa tôi chỉ nói riêng cho mình ông. Cô Hà Liên hỏi tôi nhiều lần về tình trạng bệnh lý của ông. Tôi không hiểu liên hệ giữa cô ta và ông như thế nào. Nhưng tôi nghĩ rằng mặc dù tai nạn xảy ra bất ngờ cô ta chắc hẳn muốn người được quả tim của cô là ông chứ không phải một người bệnh khác. Toi không biết rõ nữa, nhưng lúc bàn cãi về vấn đề này với các bác sĩ khác, tôi có cảm giác rất mạnh về ước muốn của cô ta dù cô Hà Liên đã chết. Một điều gì đó đã thôi thúc tôi phải quyết định như vậy. Và sự thích hợp về loại máu của ông là cái cớ để tôi thuyết phục các bác sĩ khác để bằng lòng việc thay tim cho ông.


    An thấy nhói ở ngực. Tim chàng, không, quả tim của Hà Liên, đã mường tượng ra sự thể nhưng nghe chính bác sĩ Stevenson, người bác sĩ mổ thay tim cho chàng, chàng mới biết đích xác hẳn.

    An nghĩ đến những giấc mơ của chàng và chàng bàng hoàng. Hà Liên đã trở thành một phần của thân thể chàng, sống với chàng từng giây từng phút và cho chàng sự sống, giật chàng khỏi tay tử thần đã đứng đợi trước ngưỡng cửa. Nàng đã cho chàng tặng phẩm của tình yêu đích thực. Cho chàng tình yêu kỳ diệu và lạ thường của nàng, chất chứa trong quả tim nàng, để biến thành chính quả tim chàng và tiếp nối sự sống cho cả hai người.

    An lặng người trước sự rộng lớn, bao la và sâu thẳm của tình yêu của người nữ sinh tật nguyền hơn 20 năm trước. Chàng cảm thấy mình không xứng đáng với một tặng phẩm như thế. Hà Liên đã cho chàng sự sống của nàng, cho chàng tình yêu của nàng để tiếp tục sự sống cho chàng và chàng đã không hề hay biết.

    An hít một hơi dài. Tim chàng, tim Hà Liên, trở lại nhịp đập bình thường. Ánh sáng từ khung của hắt vào căn phòng như bừng lên dọi vào mặt chàng. An bỗng dưng thấy cảm giác bình yên lạ lùng. Chàng chợt nhớ đến những giấc mơ của chàng mỗi đêm. Hà Liên đã cho chàng tình yêu kỳ diệu của cả cuộc đời nàng và tiềm thức chàng đã đáp ứng, để chàng sống với nàng mỗi đêm trong những cơn mơ, để dâng hiến lại tình yêu cho nàng, cho một đời sống mới giữa chàng và nàng.

    An chợt thấy tâm hồn phủ đầy. Những giấc mơ không còn là một đe dọa hay ám ảnh nữa. Và từ quả tim, những cảm xúc dâng lên ào ạt như một luồng sóng đổ, những hình ảnh của giấc mơ trở lại trong ý thức chàng, rõ rệt, sáng ngời. An biết rằng từ đây mỗi đêm chàng sẽ đi vào trong giấc ngủ yên lành để tiếp tục đời sống của Hà Liên và chàng, hòa hợp làm một như quả tim của chàng, của Hà Liên, mãi mãi sống trong một tình yêu bất diệt.


    Nguyễn Đình Phùng

  3. #13
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    1,049
    Lời cuối


    Nguyễn Đình Phùng




    Văn biết chàng sẽ gặp lại Loan. Đã từ hàng mấy chục năm nay. Chàng chắc chắn sẽ có ngày gặp Loan ở đâu đó. Không gian nào, thời điểm nào, chàng không quan tâm đến. Văn biết rõ ràng là chàng sẽ thấy lại Loan, nghe tiếng nàng cười, ngửi thấy mùi hương thoang thoảng bay, để thấy nhịp tim chàng rộn ràng trở lại. Như những ngày xa xưa cũ.

    Không phải là Văn tin tưởng chàng sẽ gặp lại Loan. Vì từ lâu lắm rồi, chàng không còn tin vào bất cứ điều gì. Tôn giáo, tín ngưỡng, ý thức hệ, tương quan giữa người với người, cuộc sống hiện tại, cuộc đời về sau, nếu có. Và ngay cả tình yêu. Chàng không còn tin tưởng gì. Và cũng chẳng đoái hoài đến. Sự gì đến, sẽ đến. Thế thôi! Nhưng chỉ một điều duy nhất làm chàng bận tâm. Là chàng biêt sẽ gặp lại Loan một lần cuối cùng, lúc nào đó, ở đâu đó. Trước khi chàng không còn trên cõi đời này nữa.


    Văn không đi tìm, không dò hỏi gì về Loan. Từ khi còn ở Việt Nam. Và sau khi sang đến bên này, phải đến hơn ba mươi năm rồi. Có thể Loan ở ngay góc phố bên cạnh khu chàng ở. Hay ở một quốc gia nào xa tít mù. Văn không cần biết. Vì một ngày nào đó, có thể chàng sẽ thấy Loan trong một thương xá, trong tiệm ăn. Hay đứng cạnh nhau trong siêu thị đông người. Hay ngồi cạnh nhau trong một chuyến bay băng ngang Đại Tây Dương. Hoàn cảnh nào cũng được. Thời gian nào cũng thế thôi. Chàng biết sẽ gặp Loan trước khi chàng thở làn hơi cuối cùng của cuộc đời chàng!


    * * *


    Văn nhảy từng ba bậc một của cầu thang vòng lên lầu hai của nhà hàng Kim Sơn. Đã hơn 7.30 tối. Chàng hy vọng đám cưới này cũng bắt đầu trễ như thói quen thông thường của người Việt. Giấy mời để 6 giờ, nhưng phải trễ ít nhất một hay hai tiếng mới là phải phép! Chuyến bay từ Orange County sang Houston của chàng để tham dự đám cưới con trai một người bạn thân, đã chậm lại gần 2 tiếng đồng hồ. Rồi thuê xe của hãng Hertz để lái từ phi trường đến tiệm ăn, Văn cũng phải xếp hàng đợi hơn nửa tiếng! Văn không ngờ ngày Christmas' Eve mọi việc đều trễ nải đến mức đó. Ai cũng vội đáp chuyến máy bay cuối hay thuê xe vội để kịp về dự lễ Christmas với gia đình.


    Đám cưới con người bạn tổ chức vào đúng ngày thứ bảy Christmas' Eve của năm nay. Người bạn chàng nói chỉ còn ngày này để tổ chức, nếu muốn ngày thứ bảy khác phải đợi cả ba tháng nữa mới có chỗ! Và Văn phải thu vếp công việc để bay sang vào giờ cuối, theo lời khẩn nài của người bạn chàng, mong có mặt chàng cho đám cưới người con trai duy nhất.



    Văn kéo ghế ngồi vào chỗ chàng trong bàn ăn. Đám cưới này bắt đầu hơi sớm đối với người Việt. Bồi đã mang ra món ăn đầu tiên và Văn thoáng thấy từ đàng xa, cô dâu, chú rể và hai họ đã bắt đầu đi chào bàn. Chàng đã thiếu phần đầu tiên của giới thiệu hai bên của đám cưới. Các cặp trong bàn bắt đầu mang ra phong bì tiền mừng và mọi người ép Văn để đại diện bàn đứng lên chúc tụng và trao tiền mừng. Lý do là chàng nhiều tuổi nhất! Văn mỉm cười. Chàng không ngờ bây giờ mình đã già đến mức đó. Để bàn đám cưới đồng lòng kính lão đắc thọ, bầu cho chàng đại diện!


    Phái đoàn của đám cưới đã đến bàn chàng. Cô dâu và chú rể đến trước, cha mẹ hai bên còn lẩn quẩn ở bàn bên cạnh chụp hình và cười nói huyên thuyên với bạn bè chúc tụng. Văn ngẩng đầu nhìn lên. Chàng sững sờ. Loan! Loan đây rồi! Nhưng không thể được! Cô dâu không thể là Loan, trẻ đến mức đó. Văn dụi mắt. Loan đang đứng trước mặt chàng, đẹp tuyệt vời như ngày chàng gặp nàng lần đầu tiên. Nhưng chàng hiểu ngay. Mẹ của cô dâu vừa đến bàn chàng. Và hai mẹ con giống nhau như hệt!


    Văn đứng lên. Giọng chàng lạc hẳn: "Em! Loan!". Người đàn bà chợt khuỵu xuống. Cặp mắt thất thần, nhìn Văn như hồn ma từ cõi chết trở về. Loan nói nhỏ, lắp bắp như người hụt hơi: "Anh Văn! Anh Văn!". Và nàng nhắm nghiền đôi mắt, bấu lấy vai người chồng bên cạnh nh
    ư sắp ngã quỵ.


    * * *


    Văn biết đến Loan ngày chàng ghé tỉnh lỵ Tây Ninh để thăm Kính, người bạn cũ từ thời thơ ấu. Kính là dược sĩ tại Quân Y Viện Tây Ninh. Đơn vị của Văn mới được điều động về yểm trợ cho Trung Đoàn 42 đóng căn cứ tại Trảng Lớn. Văn đi hành quân liên miên suốt mấy tháng trời và khi có mấy ngày phép, chàng mới có dịp để ghé thăm người bạn thân đã mấy năm không gặp.


    Trong bữa ăn tối, Kính nói huyên thuyên. Chàng kể cho Văn nghe chuyện sau khi ra trường, làm việc như thế nào, tình hình chiến trường chung quanh Tây Ninh, chuyện Quân Y Viện bị pháo kích từ đỉnh núi Bà Đen làm ông bác sĩ trưởng khu giải phẫu bị miềng ghim trúng tim chết ngay khi đang khám bệnh. Văn nghe lơ đãng, phụ họa qua loa. Chàng cũng kể cho Kính nghe những cuộc hành quân chàng đã trải qua ở Quân Khu 2 trước khi về đây. Nhưng điều chính là chàng thấy cảm thấy lòng thanh thản khi ngồi gần người bạn thân, nghe những câu bông đùa và nhắc lại những kỷ niệm cũ. Chỉ cần thế thôi. Để quên đi những ám ảnh và những hình ảnh của chết chóc, thê thảm hằng vây quanh chàng. Văn gần như không nghe câu Kính hỏi:


    - Mày về đây đã tới quán cà phê Loan chưa?


    Văn lắc đầu. Kính nói tiếp:


    - Quán này mới mở mà đông vô chừng. Tao và cả bọn Quân Y Viện đêm nào cũng kéo ra ngồi ngắm cô chủ quán. Ăn xong tao dẫn mày ra xem mặt em. Đẹp lạ lùng. Chắc mày cũng phải mê.


    Thây Văn chỉ mỉm cười. Kính kể tiếp:


    - Nhà em không phải thường đâu. Cũng là gia thế tại Tây Ninh này đây. Có điều lụn bại nên em mới mở quán cà phê. Chị của cô nàng cũng đẹp lắm, nghe đồn là vợ bé của Trung Đoàn Trưởng 42 ở đây. Nên quán của em nổi tiếng, lại yên nữa. Ăn nhanh lên, mình đi sớm, không hết chỗ ngồi!


    Khi Văn và Kính đến quán cà phê trời đã bắt đầu tối. Quán trông đặc biệt vì là một gian trong ngôi nhà bề thế ngay trong tỉnh lỵ, được sửa lại làm quán cà phê. Sân ngoài lát gạch với những chậu cây lớn trông có vẻ cổ kính. Ngôi nhà trên tối om, hoang vắng, tương phản kỳ lạ với gian nhà ngang mang bảng hiệu "Cà Phê Loan", đầy người và khói thuốc lá mù mịt. Khách hàng phần lớn là sĩ quan của tiểu khu, quân y viện, một số binh chủng của các đơn vị đóng vòng ngoài tỉnh lỵ Tây Ninh và sĩ quan của Trung Đoàn 42 Văn thường gặp.


    Văn và Kính kiếm mãi mới được một bàn trống. Kính đảo mắt nhìn khắp nơi rồi mới chiu ngồi xuống, giọng đầy thất vọng:


    - Mày xui! Chắc em về Sài Gòn nên không thấy đâu cả!


    Văn lắc đầu cười. Chàng gọi cà phê và để ý đến tiếng nhạc. Tây Ninh cũng bắt đầu giống như Sài Gòn. Quán cà phê mọc lên như nấm để cho những quân nhân như chàng hay những thanh niên chờ ngày nhập ngũ đến để thả hồn theo tiếng nhạc và khói thuốc. Nhạc ở đây tương đối chọn lọc, có nhiều bài hát chàng ưa thích và ít nghe. Văn chắc cô chủ quán biết thưởng thức âm nhạc và chàng nảy ra ý tò mò muốn biết mặt người con gái bạn chàng ca tụng không tiếc lời.


    Văn châm điếu thuốc và lắng nghe tiếng nhạc êm dịu từ cuối phòng. "Tình duyên lãng đãng nhớ thương dần pha phôi". Bản Cung Đàn Xưa của Văn Cao, bản nhạc hay chàng ít khi có dịp được nghe. Kính nói nhỏ với Văn:


    - Loan kìa!


    Văn quay đầu nhìn. Chàng sững sờ. Đứng gần quày phía trong là một thiếu nữ đẹp lạ thường. Nàng mặc chiếc áo dài xanh ôm sát, dáng cao, vẻ quí phái tự nhiên. Khuôn mặt trái soan trắng hồng, mũi cao thanh tú và đôi mắt to đen mê hoặc. Nàng toát ra một sức hấp dẫn mạnh mẽ, lôi cuốn kỳ lạ. Những người trong quán đều chăm chú nhìn nàng, như những kẻ lên đồng, mất hết tự chủ, sẵn sàng trở thành những tên nô lệ trung thành cho nàng sai khiến.


    Quán bỗng trở nên im lặng. Những tiếng nói chuyện rào rào lúc trước biến mất nhường chỗ cho tiếng nhạc êm dịu vang lên rõ ràng, thánh thót. Văn mỉm cười khi nghe tiếng thở nặng nhọc của Kính. Chàng lắc đầu:


    - Mày mê em đến thế cơ à!


    Kính cười gượng gạo không nói. Chàng lại quày nói nhỏ với Loan và trở lại bàn. Một lúc sau Loan đến gần chỗ hai người ngồi. Kính đứng lên giới thiệu. Văn có dịp nhìn kỹ hơn sau khi nói mấy câu khách sáo. Càng nhìn gần, Văn càng thấy Loan đẹp và hấp dẫn. Nàng nói chuyện với Kính nhưng chốc chốc nàng liếc mắt nhìn Văn, đôi mắt dò hỏi như chứa đựng ngạc nhiên và kích thích. Văn trả lời sơ sài vài câu hỏi của Loan về chàng và càng lúc càng thấy ngột ngạt với ánh mắt của Loan. Văn cảm nhận ngay sự hấp dẫn giữa chàng và Loan. Không khí chung quanh như chợt thành nặng nề, đè nén, dày dặc như có thể dùng dao cắt ra từng phần nhỏ! Kính càng nói càng mất tự nhiên và sau cùng cả ba người cùng im lặng.


    Văn lặng lẽ nhìn Loan không chớp mắt. Chàng ngạc nhiên thấy Loan càng lúc càng đẹp hơn như một người con gái đẹp nhấp chút rượu mạnh. Mắt nàng long lanh. Gò má ửng hồng. Người nàng tỏa ra mùi hương đầy nồng nàn. Loan như thay đổi hẳn trong vòng thời gian nàng ngồi xuống nói chuyện với Kính và Văn. Đẹp hơn, yêu kiều hơn và càng lúc càng quyến rũ.


    Văn lên tiếng để đánh tan bầu không khí nặng nề:


    - Loan có bài nhạc Les feuilles mortes không?


    Nàng gật đầu và đứng lên để kiếm băng nhạc. Văn đứng dậy kéo ghế cho nàng và tay chàng chạm phải mái tóc dài của Loan. Nỗi êm dịu nhẹ nhàng chợt ùa đến xâm chiếm lấy hồn Văn. Tóc Loan sao mềm mại quá. Mùi hương từ mái tóc nàng làm chàng ngây ngất. Văn chợt thấy mình thay đổi. Niềm êm dịu như dần dần lớn dậy, bó chặt lấy trái tim làm chàng nghẹt thở. Và chàng bàng hoàng, rùng mình khi chợt nghe tiếng hát từ cuối phòng vọng đến:


    Mais la vie sépare
    Ceux qui s'aiment
    Tout doucement
    Sans faire de bruit.


    * * *


    Văn trở lại quán của Loan ngày hôm sau. Sáng sớm chưa có một ai. Loan mời chàng lên căn nhà trên, nơi có sàn sân gạch cổ xưa phủ rêu xanh và những chậu cây lớn xếp hàng lối đi. Nàng không ngạc nhiên như biết Văn sẽ trở lại gặp nàng sau buổi tối hôm trước. Nàng nắm lấy tay chàng dắt vào trong nhà và nói nhẹ nhàng:


    - Anh ngồi đợi em pha cà phê và làm trứng để anh dùng ăn sáng.


    Văn nhìn Loan. Tim chàng đập nhanh. Lòng rộn ràng. Mùi hương từ nàng tỏa ra bao phủ, tràn ngập lấy chàng, quấn quít không rời. Chàng không muốn nàng rời xa, dù chỉ để sửa soạn bữa điểm tâm cho chàng. Như một cặp tình nhân đã lâu ngày, biết ý nhau từng điểm nhỏ, biết sở thích của nhau từng tí chút. Như đôi vợ chồng thắm thiết, lo lắng cho nhau. Loan pha ly cà phê cho chàng, một chút sữa để thơm ngát và chút bơ để óng ánh vàng ngậy. Làm trứng và bánh mì cho chàng như sở thích của Văn nàng đã biết hết. Tự nhiên và trực giác như hai người đã là đôi tình nhân của bao kiếp trước, trải qua biết bao thế kỷ và những thăng trầm của ngàn năm qua. Họ không cần phải nói điều gì thừa thãi. Chỉ cần ánh mắt nhìn nhau và nụ cười trên môi cho nhau. Đã đủ để thấy lòng trầm lắng và nỗi êm dịu thấm tràn.


    Chàng nói với Loan khi ăn sáng xong:


    - Em sửa soạn để mình về Sài Gòn!


    Nàng mỉm cười, dặn lại người giúp việc trông coi quán và theo Văn ra xe, giản dị và không cần hỏi lại như đã hẹn để cùng nhau về Sài Gòn chơi đã từ lâu lắm.


    ***


    Văn dắt Loan đi khắp phố phường của Sài Gòn, thành phố bình yên như không hề biết đến cuộc chiến khốc liệt đang bao trùm đất nước. Chàng mặc đồ chiến của binh chủng chàng, Loan mặc chiếc áo dài màu xanh như đêm chàng gặp nàng trong quán cà phê. Họ đi suốt con đường Lê Lợi, ra đường Nguyễn Huệ, bọc lên đường Tự Do, rồi trở lại chợ Bến Thành. Buổi trưa Văn đưa Loan đến quán bà Ba Bủng để ăn món bún ốc, món ăn Loan chưa bao giờ thử. Rồi ghé tiệm Prince để ăn kem ba màu với Chantilly. Văn muốn thấy mình là người bình thường như những ngày chàng chưa nhập ngũ, chưa tham dự những cuộc hành quân đẫm máu và tàn khốc. Chàng muốn cả cuộc đời chàng thu gọn lại trong một ngày chàng dạo phố mùa xuân với người yêu. Trên những con đường thân ái, an bình. Nơi chốn có những cửa hàng sang trọng trong thương xá, có những chỗ ăn vặt với bò khô, bò bía, nước mía Viễn Đông. Và có rạp xi nê Rex sau khi chàng và Loan đã mỏi chân đi lên đi xuống suốt các con đường của trung tâm thành phố.


    Nếu cuộc đời chỉ ngắn như một ngày Văn và Loan dạo phố. Không! Chàng còn hai ngày phép trước khi trở lại chiến trường. Và sự gì sẽ xảy ra sau hai ngày này, làm sao chàng biết được! Văn nói với Loan, giản dị:


    - Mình đi mua ít đồ tắm rồi ra Cấp tắm biển!


    * * *

    Loan từ dưới nước bước lên bờ và Văn chợt rùng mình. Sao thân hình nàng có thể tuyệt mỹ đến thế. Chàng nhớ đến bức tượng Venus de Milo, biểu tượng cho nét đẹp của Tây Phương. Và chàng tưởng tượng một tiền kiếp nào xa xưa lắm, có phải Loan đã là mỹ nhân của hòn đảo Milo của Hy Lạp, cho điêu khắc gia của tiền sử, tạc tượng lưu truyền đến bây giờ.


    Văn đã sống với nàng hai đêm tại thành phố bờ biển này. Tình yêu tuyệt vời của chàng với Loan đã trở thành trọn vẹn. Khi thời gian đã được cô đọng lại để biến thành đam mê đến cùng cực. Để chất ngất của tuyệt vọng hóa thân thành nỗi chết gần kề. Và níu kéo của tình yêu trong môi hôn đớn đau đã đưa nhau trở lại sự sống. Văn không biết nữa. Ý thức của không gian và thời gian đã tan biến. Khi chàng và Loan ngụp lặn trong sóng biển của Bãi Sau. Và khi đêm khuya, trăng sao vằng vặc trên nền trời, chàng và Loan đã cùng nhau sánh bước trên những sóng con tắp vào bờ của Bãi Dứa. Văn không biết rõ chàng có ngủ giấc nào không. Vì chàng hoàn toàn bị Loan chiếm ngự. Văn không muốn lúc nào chàng rời mắt khỏi Loan, nụ cười của nàng tràn ngập hồn chàng, Văn không muốn mất đi một khoảnh khắc nào dù ngắn ngủi đến đâu đi nữa. Và mùi hương của nàng lúc nào cũng bao phủ chàng, chỉ cần rời xa nàng một nửa bước, Văn đã thấy tất cả là vô tri vô giác, mọi sự đều thành bất động. Và trống rỗng, không một chút mùi vị nào cho sự sống đã trở thành vô hồn.


    Văn dắt nàng vào những quán ăn của thành phố. Để nhìn nàng thích thú thưởng thức những món ăn đặc biệt của vùng biển. Nhưng chàng nào thiết gì đến chuyện ăn uống. Vì chàng đã thấy đầy đủ, no say. Chỉ với Loan bên cạnh chàng. Cuộc đời chàng bỗng trở thành thần tiên, hư ảo. Như tất cả những thực tại của đời sống bỗng biến mất. Chiến tranh cũng đã lùi xa trong trí tưởng. Những tiếng bom đạn, những tiếng gào thét, những rên rỉ và những cặp mắt vô hồn của những xác chết. Tất cả đều tan biến. Như không còn nữa. Như chỉ là những giấc mơ xấu xa, quái ác, không thực. Và bây giờ mới là thực tại. Mới là cuộc đời. Mới là sự sống, triền miên và mãnh liệt. Của Loan và chàng, không bao giờ chấm dứt. Và không bao giờ ngơi nghỉ.


    Nhưng buổi sáng của ngày về và ra tắm biển lần cuối, Văn chợt bàng hoàng ý thức. Hai ngày đã qua là cả cuộc đời chàng, được thu gọn lại. Và chàng đã sống cả cuộc đời mình với Loan trong hai ngày đó. Vì sau đó, chỉ là trống rỗng và vô nghĩa. Hoàn toàn không còn gì nữa cả. Cho chàng.


    Văn dắt Loan đi dọc bờ biển. Và ngồi trên bờ để nhìn thủy triều dần lên. Xóa những vết chân. Của chàng và Loan. Đến khi không còn chút vết tích.



    * * *


    Văn không gặp lại Loan sau khi ở Cấp về. Đơn vị chàng được gửi đi ngay đến Phước Long để đối đầu với Việt Cộng đang dồn quân đến thành phố này. Chiến thuật "diện và điểm" đã được thực hiện đến giai đoạn chót. Bộ Tổng Tham Mưu của Việt Nam Cộng Hòa đã tưởng mặt trận chính là Tây Ninh và tăng cường lực lượng chung quanh thành phố để giữ Tây Ninh. Nhưng Phước Long mới chính là mục tiêu. Và khi đơn vị của Văn được gửi đến giải cứu cho Phước Long, tình hình đã quá muộn.


    Phước Long thất thủ vào tháng 1 năm 1975. Gần như toàn bộ đơn vị của Văn đã bị tiêu tan. Chàng bị thương không chết nhưng bị bắt làm tù binh cùng tất cả các sĩ quan của tiểu khu và bị giải ra Bắc, giam giữ ở Yên Báy.


    Văn bị giam cầm suốt 7 năm dài tại đây. Nhưng chàng vẫn bình thản chịu đựng. Cuộc đời chàng đã thu gọn trong hai ngày với Loan. Chàng cần gì hơn nữa. Sống hay chết, bị giam giữ hay tự do, cũng thế thôi! Văn được thả về và chỉ khi đó chàng mới biết tin tức về Loan. Một người quen ở Tây Ninh đã tình cờ gặp Văn tại Sài Gòn và cho chàng biết. Loan tưởng chàng đã chết khi Phước Long thất thủ nên sau mấy tháng đã nhận lời lấy Kính. Hai người rời khỏi Tây Ninh và đi thoát ngay trong ngày 30 tháng 4..


    Văn tìm cách vượt biên ngay sau khi được thả về. Chàng đi tất cả 5 lần nhưng đều bị bắt lại. Mỗi lần đều bị giam tại Chí Hòa. Nhưng được thả, Văn lại tổ chức để vượt biên tiếp. Lần thứ sáu chàng mới thành công. Ở bên đảo hơn ba năm, sau cùng chàng cũng vào được đến Hoa Kỳ. Nhưng Văn không đi tìm Loan. Chuyện gì đến, sẽ đến.


    * **


    Văn ngồi xuống bàn khi đoàn cô dâu chú rể đi sang bàn khác. Chàng đã cầm lấy tay Loan để trao những phong bì mừng đám cưới. Chàng đã nhìn vào đáy mắt nàng để biết rằng tình yêu vẫn còn đó. Và chàng đã được thở hít mùi hương từ mái tóc nàng, da thịt nàng. Sau 42 năm dài xa cách. Người bạn cha của chú rể chưa chịu đi ngay. Nói huyên thuyên đủ chuyện, vui mừng khi thấy Văn bay sang tham dự đám cưới. Nhưng Văn nào có nghe gì. Chàng chỉ để ý khi bạn chàng nói về Loan, có một đời chồng trước nhưng đã mất mấy năm rồi. Văn gật đầu Chàng còn mải để tâm hồn trở về dĩ vãng. Nơi chàng đã sống hai ngày, của cả một đời chàng.


    Văn giật mình khi nghe người giới thiệu chương trình tuyên bố mẹ của cô dâu sẽ lên micro mở đầu cho chương trình văn nghệ. Và chàng nghe tiếng hát của Loan. Les feuilles mortes. Bài hát của chàng và Loan, 42 năm trước.

    Mais la vie sépare
    Ceux qui s'aiment
    Tout doucement
    Sans faire de bruit

    Et la mer efface
    Sur le sable
    Les pas des amants
    Désunis.

    * * *


    Văn ngồi trên chuyến bay từ Houston trở về Orange County ngay trong đêm đó. Chàng rời khỏi bàn tiệc ăn lúc Loan vừa chấm dứt bài hát, không để Loan có thời giờ đến gặp chàng. Văn thấy đã quá đủ. Hai ngày. Mấy chục năm. Cũng thế thôi. Chàng đã gặp lại Loan. Và nàng đã nói lời cuối với chàng. Bằng bài hát của hai người. Trong đêm gặp nhau lần đầu. Của cả một thời xa xưa cũ.


    Và chàng nghe lại lời của bác sĩ Olsen, của đại học y khoa Irvine, đã nói với chàng trước ngày chàng sang Houston: "Ung thư của ông đã chạy khắp cơ thể. Ông không muốn chữa chạy gì nên thời gian không còn bao lâu. Có thể một tháng, hay chỉ một hai tuần. Ông đi xa lần này sẽ là lần cuối. Và cần trở lại ngay để vào hospice. Những vết đen trong não bộ sẽ lớn lên rất nhanh và gây ra hôn mê rất sớm."


    Văn mỉm cười. Chàng đã sống đủ rồi. Trong hai ngày với Loan. Và nàng đã từ giã chàng bằng lời cuối của bài hát đó. Không còn gì để tiếc nuối nữa. Và Văn cảm nhận sự an bình, từ mấy chục năm qua, như một giải thoát, sau cùng đã đến với chàng.


    Nguyễn Đình Phùng

  4. #14
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    1,049

    Đám cưới đêm ba mươi


    Nguyễn Đình Phùng




    Tùng lấy chiếc phong bì chứa tấm ngân phiếu mừng đám cưới đưa cho Thăng và quay sang nói với Cường:

    - Mày đưa tiền mừng cho thằng Thăng. Để nó đại diện bàn. Họ sắp đến rồi kìa!

    Chàng nhìn về phía đám hai họ đang đi chào bàn và thu tiền mừng. Chú rể có dáng dấp quen thuộc nào đó chàng vẫn chưa nghĩ ra giống ai. Ba người bạn thân được đàng gái mời dự đám cưới đúng đêm ba mươi tết. Ông Hoành, ba của cô dâu là bạn mạt chược của ba người, nói giọng như xin lỗi khi mời:

    - Hai đứa chúng nó muốn làm đám cưới sớm mà mấy nhà hàng Việt Nam bắt phải đợi đến hơn 6 tháng mới có chỗ. Chỉ có mỗi thứ bẩy ba mươi tết này là trống. Tôi muốn kiêng mà chúng nó nằng nặc đòi làm mình đành phải chịu.

    Ông lắc đầu:

    - Chúng nó là Mỹ rồi mấy cậu ơi! Con cái đặt đâu mình ngồi đó vậy thôi!

    Tùng nhìn lên. Ông bà Hoành và cô dâu đang tiến lại bàn, đi cùng với chú rể và bà mẹ. Không thấy bố chú rể đâu. Ông Hoành nói mấy câu giới thiệu như người trả bài, những câu nói giống hệt nhau đã lập đi lập lại hàng mấy chục lần suốt bao nhiêu bàn. Thăng cũng đứng lên chúc tụng vài câu và đưa đống phong bì mừng tiền cho chú rể. Tùng thấy Thăng cũng ngẩn người nhìn kỹ chàng thanh niên đứng trưóc mặt. Chàng đoán Thăng cũng như chàng, đang thắc mắc chú rể giống một người quen nào đó mà chưa nghĩ ra.

    Ông Hoành rót chút rượu ra ly nhỏ đặt trên chiếc khay phủ khăn đỏ được người nhà mang theo đến mỗi bàn. Ông đưa ly cho chú rể và nói:

    - Mời mấy chú mấy bác uống chút rượu cùng mừng cho hai cháu.

    Chú rể ngửa cổ nốc cạn ly rượu. Tùng liếc mắt nhìn Cường và Thăng. Hai người đang nhìn lại chàng. Phong cách uống rượu của chàng trẻ tuổi này làm chàng sực nhớ đến một người. Và hai người bạn chàng cũng cùng một ý tưởng.

    Đột nhiên chú rể cất tiếng cười ha hả. Mọi người ngạc nhiên nhìn. Chú rể như người lên đồng, lắc đầu mấy cái, đưa tay vò mái tóc và rút trong túi ra cặp kính trắng đeo lên mắt. Miệng nở nụ cười tươi tắn, chàng thanh niên ôm lấy vai Cường:

    - Mày lại hài đàm rồi Cường ơi!

    Quay sang Thăng, chú rể nói giọng ngạo:

    - Thăng! Mày chỉ hòa với chúng nó nhưng không đồng được đâu!

    Và đưa tay ra bắt tay Tùng:

    - Tùng! Cậu đừng có sụp nửa mi mắt nhìn đời khinh bạc như vậy chứ!

    Ba người bạn cùng đứng lên kinh ngạc. Thăng và Tùng không nói nên lời. Cường như người mắc nghẹn, mắt trợn trừng nhìn chú rể và nuốt nước bọt mấy lần mới cất được giọng, run run:

    - Mày! Trụ! Có phải mày đấy không?



    * * *



    Cường là người bạn đầu tiên với Trụ. Từ những ngày đầu quen nhau ở trường Luật, Trụ đã là mẫu người Cường thán phục. Thông minh, sắc sảo, với tiếng cười ha hả và những lời châm chọc nhẹ nhàng cho bạn bè nhưng đau đớn cho người không ưa, Trụ có nhiều người muốn làm thân cũng như đầy kẻ thù, nhưng chàng cũng chỉ thân thiết với mình Cường. Hai người cùng học Luật nhưng hầu như không bao giờ đến trường, chỉ lấy những tập cua ronéo dầy cộm mang về, để chất đống một xó và cuối năm học gạo, đến trường thi và lên lớp đều đều. Cả năm học, hai người chỉ cần để ra một tháng cuối năm để học, thời gian còn lại là giang hồ khắp nơi khắp chỗ. Kỷ niệm sâu đậm nhất giữa Cường và Trụ là khi hai người ra Cam Ranh, nơi ông bố ghẻ của Trụ là Trưởng Ty cảnh sát tại đậy

    Khoảng thời gian đó Cam Ranh là nơi chốn xao động nhất nước. Tình hình chiến sự ngày một gay cấn và Hoa Kỳ đổ quân đổ tiền như nuớc lũ buông tràn vào Cam Ranh. Những bar rượu mọc lên như nấm và những cô gái điếm Việt Nam cũng theo nhau kéo đến đầy ngập Cam Ranh. Trụ và Cường dựa hơi ông bố ghẻ của Trụ, hưởng đủ mùi đời. Nhưng những trụy lạc của thành phố cũng không giữ hai chàng được lâu.

    Từ Cam Ranh, hai người đi về miền Trung và tại đây, Trụ đã gặp mối tình đầu tiên của chàng. Trụ yêu một cô gái, hơn chàng mấy tuổi, giữ chức vụ quan trọng trong đảng Đại Việt tại miền Trung. Và như một câu chuyện tình bi thảm trong tiểu thuyết, người yêu của Trụ bị bắn chết, vì một lý do mơ hồ về chính trị nào đó. Trụ trở về Nha Trang, uống rượu say khướt hàng mấy ngày liền. Và một buổi sáng tỉnh rượu, chàng khám phá ra mình đã làm đám cưới đêm trước với một cô gái nào đó, cùng tên với người yêu cũ của mình!

    Thăng quen Trụ qua Cường. Chàng thân với Cường những ngày Cường học Luật, qua một người bạn khác. Và khi Thăng vào làm thiếu úy cảnh sát ở quận ba, Trụ đã trở thành thân thiết với Thăng cũng như Cường, ba người ngao du khắp phố phường Sài Gòn trên chiếc xe Jeep cảnh sát của Thăng. Nhưng Thăng thân với Trụ nhất khi chàng đi học khoá đại úy cảnh sát và được thuyên chuyển lên giữ chức vụ trưởng ban Phượng Hoàng trên Đà Lạt. Trụ cũng vừa được về dạy ở Võ Bị Đà Lạt và Đại Học Chính Trị Kinh Doanh. Hai người cùng ở một thành phố và cũng cùng túng thiếu như nhau. Thú giải trí duy nhất chỉ là ngồi quán cà phê và đánh bi da qua ngày. Chỉ khi nào Tùng lên chơi Đà Lạt, mang tiền bố mẹ cho lên tiêu xài, hai người mới sống huy hoàng được dăm ngày.

    Tùng thân với Trụ qua Thăng. Chàng là bạn học từ nhỏ với Thăng. Thuộc loại con nhà giàu, chân chỉ hạt bột, Tùng chỉ biết học và không hề biết những thú vui giang hồ nào. Cho đến khi bắt đầu chơi thân với Cường và Trụ. Và những ngày Thăng làm thiếu uý cảnh sát tại quận ba, những cuộc vui ban đêm với ba người bạn đã mở mắt cho Tùng thấy cuộc đời còn nhiều chuyện vui khác ngoài chuyện học giỏi, lên lớp đều đều mỗi năm!

    Kỷ niệm giữa Tùng với Trụ sâu đậm nhất là khi Tùng biết Trụ đang đói rách, chờ đến ngày nhập ngũ vào Thủ Đức, đã lặn lội đi tìm việc cho bạn. Bà dì của Tùng vừa được cơ quan Ford Foundation thuê để dịch các bài báo Việt Nam viết về chiến dịch khai quang rắc chất hoá học Agent Orange của quân đội Hoa Kỳ, nhằm tìm hiểu về phản ứng của dư luận báo chí Việt Nam thời đó trước chiến dịch khai quang này. Bà dì của Tùng cần những sinh viên giỏi Anh ngữ để vào thư viện quốc gia dịch tất cả các bài báo viết trong khoảng thời gian đó. Và Trụ là người đầu tiên Tùng nghĩ đến để giúp khi biết có công việc thích hợp cho Trụ, lại ngắn hạn trong mấy tháng trước ngày Trụ nhập ngũ cộng với tiền thù lao béo bở.

    Khoảng thời gian làm việc tại thư viện quốc gia này có lẽ là lúc hạnh phúc nhất cho cuộc đời Trụ. Công việc nhàn nhã, thảnh thơi, lại có tiền đủ để Trụ hút thuốc, uống rượu. Chàng lại đem lòng mê say cô sinh viên Luật cùng làm một chỗ với chàng. Mối đam mê đến với chàng như những ngày của mối tình đầu với người yêu bị giết chết tại miền Trung. Nhưng Trụ chỉ dám say đắm một chiều, dù chàng biết nàng cũng có cảm tình và để ý đến chàng.

    Vì Trụ đã có vợ. Và một đứa con trai mới sinh! Trụ không hề để ý đến người vợ chàng cưới trong cơn say ngày nào tại Nha Trang. Nhưng đứa con trai, Khuất Nguyên, là một ràng buộc mới cho chàng. Và mối tình đẹp một chiều, cũng chỉ như thế, không thể trở thành gì khác, chỉ còn lại một kỷ niệm êm đềm cho chàng những ngày trong quân trường.

    Trụ vào Thủ Đức, sau khi xong Cao Học Luật. Chàng không còn lý do nào khác để được hoãn dịch. Dù gia đình Trụ thế lực và có thể chạy chọt để chàng được miễn dịch vĩnh viễn. Trụ không thể chấp nhận điều đó. Bản tính chàng không bao giờ muốn luồn lọt để được an thân. Và dù quan niệm của chàng vẫn không thay đổi về sự phi lý của cuộc chiến, Trụ bình thản lên đường vào Thủ Đức để nhập khoá sĩ quan.

    Điều Trụ không ngờ đến là cá tính của chàng ra ngoài khuôn khổ để theo kỷ luật và sự huấn luyện của quân trường. Chàng không chịu nổi sự chỉ huy và áp chế của người khác. Trụ luôn luôn nhìn thấy những yếu điểm và những giả tạo của cấp trên. Và chàng không bao giờ im lặng để giữ những nhận xét đó cho riêng mình. Những chỉ trích của chàng đưọc coi là sự nhạo báng cấp trên và những lý luận của Trụ bị coi là sự chống đối không thể chấp nhận được cho kỷ luật của quân trường. Và kết quả là ngày tốt nghiệp khoá sĩ quan, Trụ bị đánh rớt. Và bị tống ra ngoài Đồng Đế để đi học tiếp khoá hạ sĩ quan!

    Chứng nào tật ấy! Ngay cả khi bị hành tại Đồng Đế, Trụ vẫn không thể im lặng và không thể ngưng những câu chỉ trích, chế nhạo những kẻ có quyền hành, có đủ phương cách để làm đời chàng khốn khổ. Trụ sau đó bị đuổi khỏi trường huấn luyện hạ sĩ quan để ra làm binh nhì, tống lên một khu tiền đồn lẻ loi trên Ban Mê Thuột! Trong mấy tháng này, cuộc đời Trụ có lẽ đã xuống đến tận cùng. Chàng viết thư cho Tùng, tả những ngày làm bạn cùng khỉ vượn trong rừng sâu của vùng cao nguyên, giờ đây chỉ biết "sụp nửa mi mắt nhìn đời khinh bạc".

    Đến giai đoạn này, gia đình của Trụ thấy không có cách nào khác hơn là nhúng tay vào can thiệp. Dù Trụ không nói và không yêu cầu, ông bố ghẻ của chàng đã dùng những đường dây quen thuộc trong Tổng Tham Mưu để đưa Trụ ra khỏi tiền đồn hẻo lánh trên Ban Mê Thuột và bốc chàng trực tiếp về trường Võ Bị Đà Lạt để dạy về Chính Trị Học tại đây!

    Trụ là một sinh viên sáng chói tại trường luật. Chàng là người trẻ tuổi nhất đậu Cao Học Luật và những cuộc tranh luận của chàng tại trường đã được các giáo sư Luật nể vì. Một người tài giỏi như Trụ không thể vì những thù hằn cá nhân của một số huấn luyện viên tại Thủ Đức và Đồng Đế dìm đến mức đánh rớt trở thành binh nhì và đầy ra một tiền đồn hoang vu. Bộ Tổng Tham Mưu sau khi xem xét hồ sơ của Trụ và được các vận động và khuyến cáo của các giáo sư Đại Học Luật Khoa, đã quyết định đưa chàng về trường Võ Bị Đà Lạt để dùng tài năng cuả chàng cho đúng mức.

    Đời Trụ đã tươi sáng trở lại ngày chàng lên Đà Lạt. Trụ cũng được mời để dạy thêm tại trường Chính Trị Kinh Doanh của Đại Học Đà Lạt. Chàng gặp lại Thăng nay đã là Đại Úy cảnh sát của chương trình Phượng Hoàng. Hai người bạn thân tương đối đã tạm ổn cuộc sống, thường xuyên mỗi đêm ra quán cà phê để đấu láo và bàn chuyện thế sự, chuyện những cấp trên tham nhũng, hách dịch và dốt nát.

    Trụ vẫn không thể bỏ được thói quen phê bình và chế nhạo những cấp chỉ huy của chàng. Những buổi nói chuyện tán gẫu này được Trụ gọi là "hài đàm", danh từ chế riêng của chàng. Và cuộc đời tuy yên ổn nhưng vẫn nhiều xung khắc của Trụ với những sĩ quan khác trong ban giảng dạy của trường Võ Bị, đã được Trụ mệnh danh là "hòa nhưng không đồng". Trụ đành chịu yên hòa với những người chàng coi thường và không ưa của ban giáo sư trường Võ Bị, nhưng chàng vẫn khinh bỉ và cương quyết không bao giờ trở thành "đồng", giống như họ và theo những đường lối chàng không chấp nhận được của họ.

    Tuy Trụ và Thăng yên ổn trên Đà Lạt nhưng cả hai người đều túng thiếu. Không thể làm được những chuyện bẩn để kiếm ra tiền, hai người chỉ sống vào đồng lương, không bao giờ đủ tiêu. Thăng gửi thư cho Tùng rủ bạn lên Đà Lạt chơi và nhân chuyện "tả oán". Tùng đã ra trường và làm việc ở Tây Ninh. Nhận được thư, chàng ra ngay bưu điện để gửi mandat tiền nguyên tháng lương vừa lãnh cho hai bạn. Vốn con nhà giàu, Tùng không bao giờ thiếu thốn. Ngay cả lương của chàng cũng chỉ vừa đủ để đổ xăng cho chàng chạy xe!

    Nhận được tiền của Tùng gửi lên, Thăng gọi ngay Trụ để ra tiệm ăn sang nhất trên Đà Lạt ăn uống một bữa no say. Hai người ngồi uống rượu thả tràn để say khướt đến hơn nửa đêm mới về. Thăng cũng đưa tiền cho Trụ để mua đủ thuốc lá Pall Mall hút cho cả tháng! Trụ thiếu gì cũng được nhưng thuốc lá Pall Mall và rượu Johnny Walker, chàng không thể thiếu. Đã có lúc Trụ đem đồng hồ đi cầm để có ít tiền mua thuốc, mua rượu. Nhà chàng không có đồ gì không cầm cố ít ra hai ba lần những lúc thiếu tiền cho hai thứ ghiền này.

    Ngày cả bốn người bạn gặp lại nhau là lúc Đà Lạt di tản chiến thuật và Trụ và Thăng đều chạy về được Sài Gòn. Cường và Tùng cũng đã có mặt tại Sài Gòn những tuần lễ cuối. Họ hẹn gặp nhau tại một quán cà phê và nói chuyện tìm đường để đi. Tùng được một người quen hứa đưa vào Tân Sơn Nhất để nằm chờ được phi cơ Mỹ bốc. Thăng và Cường bàn tính để ra Nhà Bè tìm đường biển để chạy. Riêng Trụ nhất định không đi. Chàng nói muốn ở lại để đối đầu trực tiếp với cộng sản khi chúng vào Sài Gòn. Chàng tiên đoán sẽ bị giết chết. Và chàng nói với ba người bạn thân: "Nếu chúng đem tao ra xử bắn, tao sẽ đòi một ân huệ cuối cùng. Là chúng đưa một tên lý thuyết gia giỏi nhất về chủ nghĩa cộng sản gặp tao để tranh luận tay đôi với tao về chủ nghĩa này!".

    Họ không gặp lại nhau sau đêm ngồi quán cà phê đó. Cả ba người Tùng, Thăng và Cường đi thoát ngày 30 tháng 4. Và Trụ ở lại, bị bắt đưa đi học tập. Đúng như Trụ đã tiên đoán, chàng đã bị cộng sản đem ra xử bắn ngay trong trại học tập chỉ ít tháng sau đó. Vì chúng đã không thể đàn áp được chàng. Những nhạo báng và chống đối của chàng đã làm chúng điên đầu. Và cách xử lý dễ dàng nhất của cộng sản với những người bất khuất như Trụ là đem ra giết ngay.

    Ba người bạn sau khi đã định cư tại Hoa Kỳ được tin Trụ bị giết chết trong trại học tập. Họ không biết Trụ có được thoả nguyện cuối cùng là một cuộc tranh luận với một tên lý thuyết gia của cộng sản trước khi bị bắn hay không. Chắc chắn là không, vì đời nào cộng sản chịu sự nguy hiểm và nhục nhã là một lý thuyết gia có hạng của chúng, cãi không lại với Trụ!




    * * *



    Chú rể tiếp tục cất tiếng cười ha hả. Ba người bạn nhìn nhau. Tiếng cười này họ khi nào quên được. Biết bao lần họ đã nghe Trụ cả cười như thế. Tiếng cười hào sảng, ngạo nghễ nhưng vẫn nồng ấm khi chung quanh là bạn bè. Và khinh bạc khi có mặt những kẻ Trụ coi thường. Giọng cười xoáy vào tim ba người bạn. Vì chàng thanh niên trước mặt, với mái tóc bồng và cặp kính trắng, là Trụ, là bạn thân của ba người, của những ngày hơn ba mươi năm trước đây.

    Chú rể bỗng lắc mạnh người và mắt trợn lên, ngồi phịch xuống ghế. Hai tay và chân bắt đầu co giật mạnh. Tùng định tiến người lên để đỡ nhưng nhanh hơn, bà mẹ chú rể đã nhào lại, tay móc trong túi áo ra một viên thuốc nhỏ và banh miệnh chú rể nhét thuốc vào. Bà quay lại nhìn Tùng nói:

    - Cháu nó bị kinh giật, phải uống thuốc Tegretol này. Đã lâu lắm không bị, không ngờ hôm nay lại lên cơn như vậy.

    Chú rể gục đầu xuống chừng hơn nửa phút và bắt đầu mở mắt ngơ ngác nhìn quanh.

    Bà mẹ nói:

    - Con uống chút nước! Khổ quá, không chịu uống thuốc đều. May mẹ mang sẵn thuốc đi cho con.

    Ba người bạn nhìn nhau. Dù Trụ là bạn thân, họ chưa bao giờ gặp vợ con Trụ. Và thiệp cưới chỉ đề tên bà mẹ và tên người chồng chắc hẳn là chồng sau. Tùng xem lại thiệp mời. Chàng bây giờ mới để ý tên chú rể là Khuất Nguyên, tên đứa con Trụ đã hãnh diện đặt tên theo một nhân vật Tàu thời cổ và đã kể cho Tùng nghe sự tích tên đứa con của mình.

    Chú rể đứng dậy, xin lỗi mọi người và sau vài phút, tiếp tục cùng đoàn quan viên hai họ đi sang bàn khác chào bàn, như không có chuyện gì xảy ra. Tùng nhìn Thăng và Cường. Hai người chưa hoàn hồn, tiếp tục đứng yên như trời trồng, chỉ biết đưa mắt nhìn Tùng. Chàng lắc đầu:

    - Đừng hỏi tao! Tao không thể giải thích được. Khuất Nguyên này đúng là con của Trụ rồi. Tao đoán là nó bị động kinh thuộc loại do thùy thái dương ở trên não bộ. Những ngưòi bị động kinh loại này hay có những ảo giác rất lạ trước khi lên cơn giật. Nhưng ảo giác biến thành lời nói và cử chỉ của thằng Trụ như thế thì tao cũng chịu, không hiểu ra sao nữa.

    Thăng và Cường lắc đầu, không nói. Tùng là người của khoa học. Chàng chỉ tin vào những gì có thể chứng minh được. Nhưng Tùng biết, Thăng, Cường đều như chàng, đã nhìn thấy những gì xảy ra khi chú rể ngưng cơn kinh giật. Họ đã thấy một bóng mờ, thoát ra từ hai bên thái dương của chú rể. Và bóng mờ đứng đó, trong khoảnh khắc, dơ tay chào ba người, miệng mỉm cười, trước khi tan biến như làn khói vào thinh không.


    Nguyễn Đình Phùng
    Last edited by frankie; 03-27-2020 at 03:22 AM.

  5. #15
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    1,049

    Tội Ác



    Đôi mắt người đàn ông lạ mặt ngồi ngay bìa ngoài của hàng ghế đầu tiên làm linh mục Hoán chia trí trong buổi thánh lễ. Cái nhìn như gắn chặt vào khuôn mặt của người linh mục trẻ tuổi, soi mói, dò hỏi, phân tích, mổ xẻ từng ly từng tí làm cha Hoán cảm nhận được và thực sự khó chịu. Người đàn ông này đến đây không phải để dự lễ. Cha Hoán chưa bao giờ thấy người này trong số con chiên đi lễ hàng ngày. Vẻ ngồi cứng ngắc, thẳng đơ, ngang nhiên chiếm hàng ghế đầu tiên vốn được dành cho các vị chức sắc làm việc trong họ đạo và hoàn toàn chỉ ngồi yên trong suốt buổi lễ làm cha Hoán ngạc nhiên và bối rối. Người này là ai? Không phải đi dự lễ đến đây có mục đích gì? Và vẻ nhìn kỳ lạ có ý nghĩa gì?

    Sự khó chịu mỗi lúc một gia tăng khi cha Hoán biết mình đang bị chia trí và không cử hành thánh lễ một cách nghiêm trọng như mọi khi được. Nhưng sự tò mò dần dần lấn lướt. Cha Hoán liếc nhìn vài lần xuống người đàn ông lạ mặt. Ngoài cặp mắt dữ dội, mang một vẻ bệnh hoạn khác thường nhìn chăm bẳm, cha Hoán thoáng có một cảm giác quen thuộc với dáng dấp của người đàn ông đứng tuổi này.


    Khuôn mặt vuông, chiếc cằm bạnh ra hai bên với hàm răng chừng như lúc nào cũng nghiến chặt, đôi lông mày rậm như một con sâu róm nằm trên đôi mắt tạo một vẻ nguy hiểm và ngầm chứa sự ác ẩn hiện đâu đó. Thân hình của người đàn ông tuy ngồi nhưng vẫn cho cảm giác của một người to lớn với đôi vai rộng và ngang. Thánh lễ đã gần xong. Mọi người đứng dậy, cha Hoán liếc nhìn xuống người đàn ông và chợt rùng mình. Cảm giác bất an hiện đến, vu vơ nhưng mạnh mẽ, xâm chiếm như không thể rời bỏ được. Cha Hoán giơ tay ban phép lành chấm dứt buổi lễ và đi vào phòng trong thay áo.

    Người đàn ông đã đợi sẵn ngoài cửa khi cha Hoán ra khỏi phòng. Ông ta nói, giọng khàn, đục nhưng tiếng mạnh và rõ ràng:

    - Nếu cha không phiền tôi muốn được xưng tội.

    Cha Hoán liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Nửa tiếng nữa là giờ họp với linh mục chính xứ. Vị linh mục Hoa Kỳ già, khó khăn, chỉ chờ dịp để bắt bẻ những lỗi lầm cỏn con nhất. Và lúc này không phải là giờ giải tội thường lệ cho bổn đạo. Nhưng một điều gì đó khiến cha Hoán không thể chối từ được. Có phải vì giọng nói. Hay vì đôi mắt nhìn. Cha Hoán không cắt nghĩa được, chỉ biết gật đầu và chỉ tay về phía tòa giải tội, nói giản dị:

    - Ông đi theo tôi!

    Một khung gỗ nhỏ hình vuông với chấn song và một bức màn vải thưa phân cách hai người. Cha Hoán quàng dây khăn thánh qua cổ và ngồi xuống ghế chờ. Người đàn ông quỳ xuống bục gỗ ghé sát vào màn vải thưa và nói nhỏ:

    - Tôi chưa xưng tội đã gần 40 năm nay!

    Cha Hoán bên kia màn vải gật đầu. Không có gì đáng ngạc nhiên. Có lẽ 40 năm nay người này chưa đi nhà thờ, đừng nói đến việc xưng tội. Cha tự hỏi không biết ông ta còn nhớ đến làm dấu thánh giá không?

    Người đàn ông nói:

    - Tôi không biết phải bắt đầu như thế nào. Nhưng tôi là kẻ có tội. Những tội của tôi làm không ai có thể tha thứ được.

    Cha Hoán nói:

    - Tội lỗi nào cũng có thể được Chúa tha thứ nếu ông có lòng hối cải.

    Người đàn ông lắc đầu:

    - Tôi không muốn xin được sự tha thứ. Tôi cũng không có lòng tin để được Thượng Đế tha thứ. Tôi chỉ muốn xưng tội của tôi. Chỉ thế thôi!

    Cha Hoán ngồi lặng yên không nói. Hai năm sau ngày đưọc phong chức linh mục, cha chưa bao giờ gặp một người như vậy trong tòa giải tội. Một điều gì đó nơi giọng nói của người đàn ông lạ làm cha Hoán sợ hãi, như linh cảm một chuyện bất tường. Người đàn ông bắt đầu xưng tội:

    - Tôi đã giết người và tôi đã hãm hiếp một người tôi thương yêu nhất trên cõi đời này!

    Cha Hoán giật nẩy mình. Chưa bao giờ cha được nghe một lời xưng tội giản dị và ghê gớm đến thế. Người đàn ông ngừng nói. Sự im lặng nặng nề và ngột ngạt làm cha Hoán cảm thấy buồn ói. Người đàn ông lạ cất tiếng, giọng thản nhiên và lạnh lùng:

    - Cha có cần biết thêm chi tiết không?

    Cha Hoán nuốt nước bọt nhiều lần mới có thể nói ra thành lời:

    - Có!

    Người đàn ông trầm ngâm một lúc, như thoáng có chút ngần ngại. Điều không thể nói ra đưọc, chưa bao giờ nói ra và bây giờ một thúc giục nào đó bắt buộc ông ta phải nói. Sau cùng ông ta lên tiếng:

    - Tôi hãm hiếp người em gái ruột của tôi. Tôi giết chết người yêu của nó. Còn tội ác nào kinh khủng hơn thế không?

    Cha Hoán không thể trả lời. Cổ họng cha đắng nghét. Tòa giải tội là nơi chốn để biết những sự xấu xa, khốn nạn nhất của con người, nhưng cha chưa bao giờ nghe một lời xưng tội như ngày hôm nay. Cha bất chợt làm dấu thánh giá. Sự ác như một làn sương khói tỏa ra từ phía bên kia màn vải ngăn cách làm cha rùng mình. Có lẽ có những tội không thể tha thứ được. Điều gì cũng có giới hạn của nó chứ! Cha Hoán làm dấu thánh giá một lần nữa. Không được! Nhiệm vụ của cha trong tòa giải tội này là tha thứ. Và cha Hoán làm bổn phận của mình:

    - Sự việc xảy ra bao lâu rồi?

    Người đàn ông trả lời:

    - Cũng gần ba mươi năm.

    Ông ta lẩm bẩm nói nhỏ như cho chính mình nghe: "Ba mươi năm! Ừ ba mươi năm rồi! Nhanh thật!"

    Cha Hoán hỏi tiếp. Sự khích động lúc đầu đã qua đi. Cha cần biết thêm để xác định tội của người đàn ông này:

    - Sự việc xảy ra ở đâu?

    - Ở Việt Nam, dĩ nhiên. Đúng hơn, ở Bảo Lộc, chỗ chúng tôi ở.

    Cha Hoán gật đầu. Bảo Lộc là nơi cha Hoán sinh đẻ. Người này cũng là người đồng hương! Cha Hoán bỗng có cảm giác thân cận hơn. Nhưng tội ác ghê sợ quá! Những năm dài ở chủng viện và hai năm ra xứ đạo chưa sửa soạn đủ cho cha Hoán để nhận lãnh lời xưng tội của người này. Sự ác có thể ẩn hiện trong muôn hình vạn trạng, nhưng ở điểm cao độ nhất và thuần túy nhất, vẫn là điều người linh mục trẻ tuổi chưa cảm nhận và thấu hiểu được.

    Người đàn ông nói tiếp:


    - Cha có biết thế nào là tình yêu không?

    Người đàn ông chợt cất tiếng cười. Giọng cười ngạo, khinh mạn. Như một người đã sống nhiều, đau khổ nhiều, đã ở dưới tận cùng của địa ngục và vượt thoát trở lại với cuộc đời, nhìn một kẻ trẻ tuổi hồn nhiên, ngây thơ và trong trắng, không một chút ý niệm nào của cuộc sống thực sự. Người đàn ông lẩm bẩm, như tự nói cho mình nghe:

    - Ừ! Cha còn trẻ quá! Và chỉ biết tình yêu với Thiên Chúa! Làm sao cha có thể hiểu được!

    Cha Hoán hơi nhăn mặt. Giọng trịch thượng của người đi xưng tội này làm cha khó chịu. Cha trả lời:

    - Tôi có thể không biết tình yêu như ông nói nhưng tôi hiểu được sức mạnh và hậu quả của nó!

    Người linh mục trẻ tuổi nói bằng giọng quả quyết như một kẻ bị chạm tự ái. Nhưng trong thâm tâm, cha Hoán không chắc chắn hẳn. Người đàn ông xưng tội bên kia bức màn vải thưa phải là một thứ ác quỷ để phạm những tội lỗi ghê sợ đến thế. Và cha Hoán không tin cha có thể hiểu được loại tình yêu nào có thể là động cơ cho tội ác của người đàn ông này.

    Ông ta bắt đầu kể. Giọng nhỏ, thì thầm. Như nói với chính mình:

    - Tôi biết tình yêu của tôi với người em gái kế tôi không phải chỉ là tình ruột thịt thông thường ngày em tôi làm lễ hứa hôn với người yêu của nó. Tại sao có sự thay đổi lạ thường như thế xảy đến trong tôi, tôi không hề hiểu được. Và đột nhiên sự ghen tức, thù hằn người hôn phu của em gái tôi lên đến mức độ khủng khiếp, thúc giục tôi phải tìm cách giết hắn. Và tôi đã tìm cách thực hiện điều đó ngay trong mấy ngày sau.

    Người đàn ông chợt ngưng tiếng. Như bàng hoàng. Tội ác chợt hiển hiện trước mặt người đàn ông như lần đầu tiên ý thức được điều đó.

    Cha Hoán hỏi:


    - Ông giết người đó bằng cách nào?

    Người đàn ông như bừng tỉnh. Ông ta trả lời, giọng trở lại bình thường, thản nhiên:

    - Trong một cuộc hành quân. Tôi là đại đội trưởng. Hắn là đại đội phó. Tôi đổ cho là Việt Cộng giết hắn.

    Cha Hoán rùng mình. Những cái chết đến dễ dàng tại mảnh đất quê hương nơi cha đã rời bỏ để đến Hoa Kỳ khi mới chỉ là một đứa nhỏ. Tội ác được phạm đến mỗi giây, mỗi phút của thời kỳ chiến tranh cha Hoán không hề được biết đó. Và thêm một cái chết trong muôn ngàn cái chết của chiến tranh hẳn không nghĩa lý gì, dù là do tội ác của một người!

    Người đàn ông tiếp tục xưng tội:

    - Tôi hãm hiếp người em gái ruột của tôi khi báo tin người hôn phu của nó bị Việt Cộng giết chết. Ngay trong ngày hôm đó.

    Giọng ông ta chợt run rẩy. Bên kia bức màn vải thưa, cha Hoán có thể nghe thấy tiếng rung động của toàn thể châu thân của người đàn ông. Có lẽ lần đầu tiên người đàn ông nghe và hiểu rõ tội ác ghê gớm của mình. Bằng tiếng nói của chính ông ta.

    Cha Hoán làm dấu thánh giá. Sự dữ của con người có thể đến những mức độ như thế sao? Cuộc đời không lẽ đầy dẫy những bí mật kinh khủng chỉ biết được trong tòa giải tội như vậy. Cha Hoán thoáng có cảm giác nghi ngờ tính bản thiện của con người. Phải chăng sự ác cũng là một bản tính tự nhiên?

    Người đàn ông tiếp tục:

    - Tôi không gặp lại em gái tôi sau đó. Nó bỏ về Sài Gòn và tôi không gặp lại. Rồi sau 75 tôi bị vào tù cải tạo mười mấy năm. Ở trong tù tôi có nghe nói em gái tôi có thai và trở lại Bảo Lộc sống một thời gian trước khi đi vượt biên sang Hoa Kỳ.

    Người đàn ông ngưng không nói tiếp. Cha Hoán cũng im lặng. Một lúc người linh mục trẻ tuổi mới nói:

    - Thiên Chúa sẽ tha thứ cho ông nếu ông thực lòng hối lỗi. Nhưng trước đó ông phải xin được sự tha thứ của người em gái ông. Và đứa con của ông nữa!

    Người đàn ông trả lời:

    - Em tôi đã bị bệnh chết tại xứ này. Việc tôi làm đầu tiên khi được sang đây là kiếm tung tích em gái tôi. Tôi mới từ Cali sang đây hôm qua và biết được em tôi đã chết mấy tháng trước.

    Cha Hoán nói:

    - Việc đền tội của ông phải có sự tha thứ của những người ông đã gây ra đau khổ. Còn người con của ông?

    Người đàn ông hỏi lại:

    - Cha có tha thứ cho tôi không?

    Cha Hoán trả lời:

    - Tôi thay mặt Thiên Chúa tha thứ cho ông.

    Người đàn ông và cha Hoán cùng đứng dậy bước ra khỏi phòng giải tội. Họ đứng sững nhìn nhau. Trong bóng tối đang kéo đến của ngôi thánh đường, những ngọn nến lung linh của bàn thờ bên cạnh hắt ánh sáng lên khuôn mặt của người đàn ông lớn tuổi và cha Hoán. Người linh mục biết tại sao có cảm giác quen thuộc với người đàn ông này. Họ có cùng một nét mặt, một dáng người. Và nếu cùng một tuổi tác, người ta sẽ nói họ là anh em sinh đôi. Nhưng họ cách nhau đến ba mươi năm. Và giống nhau từng nét, từng điểm một của người cha đã truyền hết tất cả những đặc tính di truyền xuống người con. Chỉ trừ sự khác nhau trong tận cùng của đáy mắt. Nơi đó có sự khác biệt của tội ác và sự tốt lành.

    Người đàn ông quay lưng đi ra khỏi nhà thờ. Bóng tối đã chụp hẳn xuống bao phủ lấy bóng hình khuất dần trong màn đêm. Như sự ác đã xa rời. Và đã được chính hạt giống của mình nhân danh sự tốt tha thứ cho tất cả.


    Nguyễn Đình Phùng
    Last edited by frankie; 04-02-2020 at 03:20 AM.

 

 

Similar Threads

  1. màu thiên thanh
    By bonita in forum Thú Tiêu Khiển
    Replies: 374
    Last Post: 02-21-2015, 01:48 AM
  2. Thiếu nữ Việt thiên tài Violon
    By ngocdam66 in forum Nhân Văn
    Replies: 3
    Last Post: 01-27-2015, 05:37 AM
  3. Phạm thiên thư - người tu sĩ lãng mạn
    By ngocdam66 in forum Nhân Văn
    Replies: 14
    Last Post: 12-10-2013, 09:10 PM
  4. Lạc lối ... đến thiên đàng - Yellowstone Park
    By nguyenductrong in forum Du Lịch
    Replies: 0
    Last Post: 06-15-2012, 06:51 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 02:52 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2020 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh