Register
Results 1 to 8 of 8
  1. #1

    Nc T Bội Ngọc " Hạ Trắng, mây Đông mưa Tây [Truyện Dài có thật"

    Sau đây là một truyện dài có thật của tác giả Nguyễn Công Tánh dưới bút hiệu Nc T Bội Ngọc. Truyện nầy cách nay rất lâu (Có lẽ khoản 25 năm trước : Truyện nầy Viết xong vào ngày đầu năm Giáp Tuất tức ngày 9 tháng 2d.l năm 1994.) đã được đăng trên Forum Đặc Trưng cũ (Đặc Trưng thế hệ I) ngày xưa nhưng nay đã xóa sạch không còn dấu vết cho nên không thể giới thiệu đến được với các ACE của Đặc Trưng Forum thế hệ thứ III hiện nay.

    Vì chuyện nầy có liên hệ nhiều tới thời kỳ lịch sử sóng gió của đất nước, khi nước Việt Nam bị thực dân và Việt Minh chia cắt làm đôi cho nên tác giả muốn đăng lại như là một chứng nhân của một thời kỳ Lịch sử độc lập ở miền Nam Việt Nam phía dưới vĩ tuyến thứ 17 để các bạn trẻ tường lãm.
    Nếu bạn nào đã có đọc qua truyện nầy rồi thì nay tác giả xin niệm tình miễn thứ vì chuyện lập đi lập lại choáng chỗ của các bạn.
    Tình thân,
    Tác giả.


    Tiểu thuyết
    Tác giả: Nc T Bội Ngọc

    Hạ Trắng, mây Đông mưa Tây
    [Truyện Dài có thật]

    CHƯƠNG I




    1

    "Allo, phải bác sĩ Bích Ngọc ở đầu dây? Tôi có một việc muốn báo cho bác sĩ ".

    "Allo, xin lỗi ai ở đầu dây? Luật Sư Huy phải không? Xin đợi một chút, tôi đang dự buổi họp. Một chút nữa tôi gọi lại anh được không?"

    "Thưa bà bác sĩ, tôi là Luật sư Huy đây, tôi muốn gặp riêng bà bác sĩ, có chuyện nầy hay lắm!”

    "Thôi mà, bà hay cụ với nhau chi vậy, nghe sao già khú quá lắm? Bỏ đi thầy ba. Bây giờ đã 4 giờ 30 rồi còn gì?"

    "Tôi có thể đợi mà!"

    Cuộc điện đàm đã khiến cho Bích Ngọc, y sĩ đặc biệt của tòa đại sứ Việt Nam ở Pháp phải bỏ dở nửa chừng buổi hội với các tuỳ viên khác của tòa đại sứ.

    "Bác sĩ đến văn phòng của tôi trước 5 giờ chiều nay được không?”

    "Chuyện gì mà quan trọng lắm vậy hả anh Huy?"

    "Chuyện quan trọng thực mà!”

    Tôi quay trở lại phòng hội, đầu óc tôi quay cuồng mông lung về câu chyện bí ẩn"quan trọng" trong cuộc điện đàm. Tôi ngồi nghe một cách miễn cưỡngnhững cuộc bàn thảo và khi đến lúc được hỏi ý kiến, tôi liền đề nghị ngay "Chúng ta đưa tay biểu quyết". Thế là cả phòng biểu quyết và buổi hội chấm dứt.

    Tôi chạy ào ra xe, hối hả lái vòng dọc theo bờ sông Seine để tránh bị nghẽn xe trong giờ tan sở. Tới điểm hẹn, tôi chạy vội lên lầu ba đến văn phòng của luật sư Huy. Huy là luật sư cố vấn của tòa đại sứ Việt Nam ở Paris. Tôi ngồi xuống chiếc ghế nệm vải nhung rảo mắt nhìn quanh. Huy cầm một tờ giấy nhỏ tiến gần về hướng tôi đang ngồi. Tôi tự nói thầm một mình "chắc là phần thưởng quan trọng của mình đây" và cố đè nén nổi lo âu không để lộ cho Huy thấy.

    2


    Huy nói: "Bức điện tín nầy gửi bằng hệ thống vô tuyến viễn thông trong đó họ yêu cầu bà bác sĩ Bích Ngọc cần đến gặp một ông Francois Courtois nào đó ởS aint Tropez ".


    Huy đưa cho tôi mảnh điện tín. Tôi nhăn mặt nhìn Huy:

    "Saint Tropez? Anh nói cái gì? Làm sao tôi đi được?"

    "Xuống Saint Tropez có gìmà không đi được chứ !"

    "Ông Francois Courtois nầylà ai vậy?"

    "Tôi không biết ông ta làai, tôi chỉ ghi lại những lời nhắn gửi của ông ta nhờ tôi báo với chị rằng chị xuống dưới đó để được biết tin tức có liên quan tới một người đàn ông Pháp có tên là Bertrand."


    Tôi như từ cung trăng rớt xuống! Bertrand! Đã bao nhiêu năm qua tôi tưởng mình đã xóa bỏ được hình bóng đó và quên được câu chuyện không chung thủy tội lỗi của tôi ngày đó vậy mà giờ đây lại có chuyện trớ trêu như thế nầy.

    Có phải người đó muốn gặp lại tôi và gặp tôi vào lúc nầy, để làm gì? Dạo đó chính miệng chàng đã khẩn cầu là hai đứa đừng bao giờ gặp lại nhau kia mà! Tôi với chàng ân nghĩa kể như tuyệt, tình nồng như đã đứt lìa khi đứa bé gái, đứa con tội lỗi của chàng và của tôi đã chết ngay khi mới sinh trong phòng hộ sản. Chính chàng đã tận tay khâm liệm và chôn cất cho cái bào thai èo uột mới sinh. Tôi không được nhìnthấy mặt đứa con gái rơi của mình vì lúc đó tôi đang ở trong tình trạng hôn mê trên bàn mổ.

    Ngày hôm sau, tôi vắng mặt không đến làm việc ở toà đại sứ. Tôi xuống Saint Tropez. Khi vừa gặp người gửi điện tín tôi hỏi ngay, không cần tự giới thiệu mình là ai:

    " Thưa ông Francois, theo như lời lẻ ông nhắn gửi thì Ông Bertrand muốn gặp gặp tôi có phải không?

    "Nếu tôi không lầm thì bà đây là bác sĩ Bích Ngọc phải không?"

    Tôi trả lời cộc lốc:

    " Đúng, Bertrand bây giờ ở đâu, sống chết ra sao? "

    (Còn tiếp)
    Last edited by nguyễn công tánh; 05-12-2019 at 08:28 PM.

  2. #2
    (Tiếp theo kỳ trước)

    3
    "Có thể ông Bertrand muốn gặp bà bác sĩ nhưng cái người đến đây nhắn gửi cho bà thì thật tình tôi không biết được có phải là ông Bertrand hay không. Có điều từ đó đến nay, đã hơn 2 tuấn lễ mò tìm địa chỉ của bà tôi mới biết luật sư Huy là người Việt Nam thường tiếp xúc với cộng đồng người Việt cho nên tôi đành phải cầu may đánh điện nhờ ông luật sư tìm hộ và trao lại sự nhắn gửi của tôi. Và cũng từ đó tới nay hình bóng của người nhờ tôi đưa tincho bà cũng biệt vô âm tín!"

    "Người đó có nói thêm điều gì riêng với ông hay không? Người đó là ai ông có biết không?"

    Francois chỉ nhún vai rồi trả lời dứt khoát:

    " Tôi không biết! Nhiệm vụ của tôi chỉ là nhắn tin dùm ông ta, đáng lý ra tôi phải lấy tiền lệ phí nhưng thấy người đó có vẻ sơ sát quá cho nên đành thôi không đòi tiền".

    Tôi đứng dậy:

    " Cám ơn ông Francois " rồi vộivã bước ra khỏi phòng.

    *Trời Saint Tropez lạnh. Tôi đi lang thang trên đường phố mờ ảo trong sương chiều. Ngày đó tôi và chàng sóng bước, nhìn những cặp tình nhân đang âu yếm trong những gốc tối của đường phố Saint Tropez về đêm.

    Mười hai năm qua rồi. Tôi đã 2 lần nghỉ phép dài hạn trở lại Nam Việt Nam cùng với chồng với con của tôi ở bên đó.

    Tôi gặp Bertrand khi từ Việt Nam đi du học thực tập tại trường y khoa Mont-Pellier. Chàng đang học 2 năm cuối cùng. Một sự trùng hợp là chàng theo chuyên khoa quang tuyến trị liệu còn tôi thì cũng thực tập về môn đó.

    Ngày tôi lên máy bay để sang Pháp du học chỉ có chồng và con gái đầu lòng 2 tuổi của tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất tiễn đưa và sau đó, ở Pháp, tôi và Bertrand quen nhau ngay từ tuần lễ đầu tiên trong giảng đường đại học.
    4
    Dù đã có chồng, có con nhưng tôi vẫn trẻ và đẹp, gái mộtcon trông mòn con mắt mà, ông bà ta ngày xưa tới nay thường hay nói như thế.Tôi tháo chiếc nhẩn cưới ra cất vào hộp ra điều như là tôi vẫn còn son giá chưa biết đàn ông! Chưa bao giờ tôi thổ lộ cho Bertrand biết là tôi đã có chồng có con. Tình yêu giữa tôi và Bertrand không phải là tình yêu sét đánh, không phải tự nhiên mà đến. Tôi chỉ muốn nương nhờ Bertrand trong việc học hành và nhất là để vơi đi phần nào nỗi bơ vơ cô liêu vì xa cách chồng con, và cứ như thế mà tình yêu giữa hai đứa nẩy nở không biết từ lúc nào. Bertrand mồ côi. Chàng làm lao công rửa chén đĩa ở một hàng ăn uống lớn để lấy tiền đóng học phí và sinh sống lây lất qua ngày. Lương hướng của chàng chỉ đủ để trả tiên phòng và mua sách vở còn ăn uống thì chỉ được ăn có một buổi tối do nhà hàng ban cho miễn phí. Trợ cấp tu nghiệp của tôi thuộc về loại trợ cấp cho hàng công chức hạng cao cấp của NamViệt Nam đang du học tu nghiệp ở nước ngoài; một tháng trợ cấp tu nghiệp của tôi bằng hơn một năm tiền lương rửa chén của chàng. Từ phòng trọ, Bertrand phải đi xe đạp gần chục cây số mới đến ga xe điện ngầm để tới trường.

    Tôi cao 1 mét 61, thuộc về hạng trường túc bất tri lao. Chàng đứng cao hơn tôi một cái đầu, lùn đối với người Âu nhưng với tôi thì thật là xứng đôi vừa lứa. Tuy nhiên dáng người chàng lại gầy nhom vì học và làm việc nhiều mà lại thiếu dinh dưỡng. Khi quen vừa được 3 tháng thì tôi bảo chàng đến ởchung với tôi gần trường học. Ngoài giờ học hành, tôi chăm sóc cho chàng hết mức.Tôi không cho chàng đi làm nữa để cho chàng được thong dong mà chú tâm vào việc học hành và ái ân với tôi.Sáu tháng xa nhà tôi nhận được hơn 30 lá thư của chồng vàmột số hình ảnh con tôi. Tôi mướn một hộp thư riêng ở bưu điện để cất giữ tất cả số thư từ, hình ảnh từ Việt Nam gởi sang. Ngày thi thực tập cuối năm để lên lớp, tôi cảm thấy khó thở và bần thần khôn tả. Trong giờ thi môn thi thứ nhì tự nhiên miệng mồm tôi
    5
    cảm thấy có mùi nhợn tanh khó chịu khiến tôi phải chạy vội vào phòng vệ sinh gụt đầu xuống bồn cầu để nôn mửa. Tôi sững sờ nhìn tôi trong gương soi: mặt tôi tái đi, người như bị say sóng, hơi thở tôi đứt đoạn. Tôi chợt nhớ lại hình như triệu chứng ói mửa nầy đã xảy ra với tôi cách nay mấy năm,ngày tôi vừa có chồng được chừng 2 tháng. Tôi há hóc nhìn mình trong gương rồi tự dưng nước mắt tôi trào ra. Vui? Buồn? Hối hận? Tôi rối bời, đầu óc tôi quay cuồng và quỵ gụt xuống. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm ở bệnh viện. Chàng ngồi sát cạnh, người hốc hác thiểu não, tóc tai rối bù. Thấy thương chàng vô cùng. Tôi muốn nói nhưng miệng cứng đơ; tôi muốn vuốt tóc chàng nhưng tay như bạiliệt nhấc lên không nổi. Nước mắt chàng ràng rụa, miệng chàng lẩm bẩm nói liên miên bất tận nhưng tôi chỉ nghe được những câu "Je t'aime, je t'aime, monamour..." (Anh yêu em, anh yêu em, người tình của anh).

    Trời ơi! Tôi là người tình của chàng sao? Còn chồng? Còn con của tôi? Còn cái bào thai trong bụng nầy? Tôi là hạng đàn bà nào? Lăng loàn mất nết hay một thứ điếm hạng sang trá hình? Tôi yêu chồng, tôi yêu con tôi-đứa con ở Việt Nam-còn chàng tôi có yêu hay không mà sao lại có kết quả nầy? Chồng tôi ở Việt Nam hơn chàng mọi khía cạnh: học thức, đẹp trai, chìu vợ, cưng con, say mê và tận tụy với những nghiêng cứu, phát minh ở viện Pasteur Sàigòn. Còn chàng thì đâu có cái gì đặc biệt để tôi thương: ròm rõi, phong trần, nghèo đói, chưa có sự nghiệp vậy mà sao tôi lại có thai mang giòng máu của chàng trong thân xác nầy? Phải chăng cuộc đời của tôi lên cao quá nhanh cho nên tôi thầm ước ao trong tiềm thức những cái nhỏ nhoi bé bỏng ở dưới thấp? Vô lý ! Phải chăng ước mơ thời con gái còn đi học về một chàng hoàng tử tóc vàng mắt xanh trong tiềm thức đã chỗi dậy? Chồng tôi mắt đen tóc nâu, còn chàng thì tóc có màu vàng, mắt có màu xanh nhưng đâu phải là ông hoàng mà tôi từng ước mơ từ tấm bé. Và rồi tôi lại thiếp đi.
    6
    Trong giấc mơ tôi thấy mình bay bổng, hướng về đất mẹ Việt Nam, nơi đó có chồng tôi, có con tôi đang đợi chờ nhưng rồi bổng dưng như có một vật gì nặng như tảng đá quặn thắt đè lên bụng, kéo tôi rơi tuột xuống một vực thẩm. Tôi la lên kinh hoàng, tay chân tôi co quắp, người tôi cong lại như con tôm và miệng tôi thét gọi tên của chồng tôi, tên của con tôi.

    Năm đó tôi phải thi lại môn xạ tuyến trị liệu còn chàng thì bị ở lại lớp. Sự đi đứng của tôi trở thành nặng nề, chậm chạp kể từ tháng thứ 7 sau khi có thai. Chàng đã thấu rõ mọi chuyện và đó chính là nguyên nhân đã làm cho chàng hỏng thi.Chúng tôi được nghỉ cuối khóa 3 tháng trước khi vào niên học mới. Đáng lý ra tôi phải về với chồng con ở Việt Nam trong mùa nghỉ hè nầy nhưng vì cái bụng quá lớn khó thể che giấu cho nên tôi đã tìm cách nói láo với chồng là bận bịu học thi cho nên không về được. Rồi Bertrand đưa tôi về một vùng quê và chìu chuộng tôi thật mặn nồng. Tôi kể ra hết hoàn cảnh của tôi, không còn cần thiết phải giấu giếm như lúc mới biết nhau. Chàng u sầu lắng nghe và dịu dàng bảo tôi xin đừng kể tiếp. Rong chơi với nhau một tuần thì bụng tôi nhói đau liên tiếp ba ngày liền. Bertrand vội vã mướn xe đưa tôi về Saint Tropez và đưa tôi vào ngay bệnh viện. Bụng tôi mới được bảy tháng, có lẽ nào lại rơi vào trường hợp sinh non? Tôi cố gắng trấn áp cơn đau để chàng khỏi lo âu nhưng mồ hôi trong người tôi cứ vã ra và tay tôi cứ phải bấu víu vào thành giường để gượng nén những cơn đau quặng thắt khủng khiếp. Hai tiếng đồng hồ sau đó tôi phải lên bàn mổ. Khi tôi tỉnh lại thì chàng đã chôn cất xong đứa bé, đứa con gái mà tôi chưa hề nhìn thấy được mặt !

    (Còn tiếp)

    Last edited by nguyễn công tánh; 05-20-2019 at 08:40 AM.

  3. #3
    (tiếp theo kỳ trước)

    7

    Tôi ghé ngang qua một quầy hàng thuốc lá, mua một baoGauloise. Những lúc lo âu và buồn rầu như thế nầy tôi thường nhớ tớ mùi thuốclá quen thuộc của chàng.Tôi không hút thuốc, nhưng luôn luôn đốt thuốc cho chàng hút để được phì phà một vài hơi mãi rồi quen, không ghiền nhưng thỉnh thoảng lại nhớ. Mùi thuốc lá Gauloise có hương vị của mùi thuốc lá đen Jean Bastos ởquê nhà: nó không thơm như thuốc lá của Mỹ nhưng sẽ rất đậm đà khi nó sóng đôivới ly cà phê đen đậm đặc. Với điếu thuốc bốc hương gợi nhớ tôi tưởng chừng như mình đang ngồi trò chuyện với chàng thuở nào.

    Tôi lật vội quyển sổ tay tìm số điện thoại của một người bạn gái ngày trước cùng học chung một lớp với chàng ở Mont Pellier:

    "Allô, xin làm ơn cho tôi nói chuyện vói chịAllice."

    "Allô, tôi là Alice đây. Ai đó?"

    "Bích Ngọc đây, Allice ơi."

    "Bích Ngọc đó hả? Trời ơi, thật là bất ngờ ! Tôi biếtchị trở về Việt Nam rồi lại trở qua Pháp làm việc nhưng không biết tìm gặp chị ởđâu. Sao rồi ? Có khoẻ không? Chồng con thế nào? Hiện giờ chị ở đâu gọi tới vậy?"

    "Cám ơn Allice, tôi vẫn khoẻ. Chồng và con gái tôi ởViệt Nam chỉ có mình tôi qua đây công tác ở tòa đại sứ Việt Nam tại Paris. Hiện tôi đang đi trên phố . . . ., ở Saint Tropez . . . một mình . . . "

    "Xa xôi thế thì làm sao tôi tới gặp chị được? Đi du hí phải không? Chắc là vui lắm hả? Hay có gì đặc biệt cho nên mới tới nơi đó?"

    "Allice biết rõ Bích Ngọc quá rồi mà, có ăn chơi du hí bao giờ đâu. Chẳng qua xuống đây vì có tinh tức của anh Bertrand..."

    "Bertrtand hả? Cách đây gần một năm tôi có gặp anh ấy,khắc khổ bệ rạc lắm! Anh ấy có nói với tôi là anh sẽ rời Saint Tropez..."

    Tôi đau nhói trong tim khi nghe Allice nói như thế. Tội nghiệp thay cho người tình cũ của tôi!

    Giọng Allice tiếp tục:

    8

    “Khigặp tôi, Bertrand có dẫn theo một đứa bé gái chừng khoảng 9-10 tuổi và hỏi tôicó biết đứa bé đó là ai không? Tôi nói với anh ấy "làm sao biết được"và Bertrand nhìn tôi rồi nói thật nhanh: “con của Bích Ngọc đó! Allô… Allô….. . Bích Ngọc đâu rồi? . . . . Chị có còn nghe tôi nói chuyện không? Allô…”

    Óng điện thoại rời tay tôi hồi nào mà tôi cũng không biết, tôi đứng chết sững. Cả một trời bảo tố đang nổi dậy trong tôi! Trời ơi, đứa bé gái… là con của tôi? Tôi có nghe lầm chăng?

    Tiếng gọi Allô…Allô… the thé của Allice trong ống nghe điện thoại giống như những mũi kim nhọn đâm xoáy vào tim tôi. Tôi đang ở đâu vậy? Tại sao tôi tới đây?

    Mắt tôi nhìn trừng trừng ống điện thoại lủng lẳng chao qua chao lại trước mắt mà sửng sờ như người lạc hồn lạc phách. Tay tôi run lẩy bẩy, lòng tôi kinh sợ khi cầm lạ iống nghe:

    "Allô, chị Allice, tôi vẫn nghe đây... Chị vừa mới nói cái gì vậy? Chắc chị muốn phá tôi đó, có phải thế không?"

    "Này, chị Bích Ngọc, kính thưa bà bác sĩ Bích Ngọc, tôi xin lặp lại rõ ràng cho bà bác sĩ nghe lời anh ấy nói với tôi: "Con gái của Bích Ngọc đó Allice".

    "Sao lại có thể như thế được hở chị Allice? Chị có nghe lầm không?"

    Giọng của Allice hét lên trong óng nghe: "Chị không tin tôi ư? Tùy chị, tôi là bạn của chị mà cũng là bạn của anh ấy. Quen nhau từng ấy năm tháng chị có thấy tôi tếu láo hay đùa phá lần nào chưa?"

    "Bích Ngọc xin thành thật xin lỗi chị Allice, xin chị đừng giận. Thật tình thì hiệngiờ tôi không còn biết gì nữa hết. Có thể anh ấy đùa với chị đó thôi... "

    "Đùa hả? Chị tưởng tôi không thể phân biệt được một đứa bé người Pháp chính gốc với một đứa bé lai có hai dòng máu Việt-Pháp sao? "

    9

    Tôimóc vội ống nghe và chạy ùa ra khỏi phòng điện thoại công cộng. Tôi đang chạy trốn, tôi không còn muốn nghe chuyện đó. Allice nói láo, tôi không tin, không biết mà cũng không cần biết chuyện đó. Nhưng nếu như vậy thì tại sao từ Paris tôi xuống đây? Tôi điên mất rồi. Tôi đi thất tha thất thểu trong đêm lạnh như người mất hồn. Lòng tôi rối bời ngổn ngang trăm mối. Tôi đi thất thểu như thế cho đến hừng sáng thì lòng tôi mới bắt đầu lắng xuống và trí não tôi nói với tôi rằng phải bình tĩnh và nhìn thẳng vào sự thật. Tôi gọi lại Allice"

    "Allô,chị Allice phải không? Bích Ngọc đây… Xin Allice tha lỗi. Tôi vì quá xúc động nên đã làm cho chị phiền lòng... Chị có còn vui lòng tiếp chuyện với Bích Ngọc nữa không?"

    "Bích Ngọc khỏi cần khách sáo. Tôi chỉ mong chị hãy thực tế một chút vì đứa bé gái đó hiện giờ đang bơ vơ trơ trọi trong một viện mồ côi, nó cần phải biết ai là cha, ai là mẹ ruột của nó".

    "Không được Allice ơi! Còn chồng, còn con tôi ở Việt Nam thì sao đây? Còn vị thế xã hội của tôi hiện nay nữa? Chàng bảo với tôi rằng nó đã chết từ khi mới ra khỏi lòng mẹ mà! Sao nay lại như thế! Không ổn rồi chị Allice ơi!"

    "Nếu Bích Ngọc đã nói thế thì thôi vậy. Tuy nhiên tôi vẫn cho chị địa chỉ nơi đứa bé hiện đang sống vất vưởng ở đó.Chị nên ghi vào sổ tay kẻo quên: Viện mồ côi La Charité- Camargues. . . ."

    (Còn tiếp)

    Last edited by nguyễn công tánh; 05-20-2019 at 08:54 AM.

  4. #4
    (Tiếptheo kỳ trước)

    Vùng Camargues là một vùng nhiều đầm lầy ở phía Nam nước Pháp. Một số dân du mục tựu hợp về sinh sống ở vùng đó và xem đây như là giang sơn riêng của họ. Đầm lầy, ao rạch bị che phủ dưới lớp lớp cỏ lau ngút ngàn. Vùng nầy cũng nổi tiếng là một nơi gây tạo bò giống cho đấu trường và cũng là nơi phát sinh nhiều người hùng đấu bò Matadors lừng lẫy không thua gì nhhững bạn đồng nghiệp của họ ở Tây Ban Nha.Tới Camargues người ta sẽ bị chìm vào khung cảnh âm u hoang dã như lọt vào vùng rừng U Minh của Việt Nam.
    10
    Viện mồ côi La Charité nằm chơi vơi trên một ngọn đồi thấp. Từ xa nhìn tới người ta tưởng chừng như mình đang trở về với những lâu đài u tịch của những vị lãnh chúa thời phong kiến xa xưa của nước Pháp. Đến gần hơn thì phải nói đó là tu việnla Charité mới đúng vì nét âm u chơi vơi và buồn thảm của nó. Nhưng chính ở đólại là nơi bao bọc, một nơi dung thân cho những đứa trẻ bị đời bỏ rơi, những đứa con bị cha hoặc mẹ chối từ.

    Viện mồ côi được chia thành nhiều khu. Mỗi khu cho mỗi lứa tuổi. Hoạt động của viện có tính cách từ thiện vô vị lợi, chỉ được nhà nước chu cấp một phần nhỏ, còn bao nhiêu thì phải trông nhờ vào lòng thương xót hoặc hảo tâm của dân chúng.

    Ở đây không có chuyện mầy đen, tao trắng, nó vàng; trắng, đen. vàng, xám đều là mồ côi cùng hưởng một nếp sống ân huệ do lòng từ nhân của những người khác ở ngoài đời cùng với những hy sinh của các nử tu chân phước.

    Khu vực của lứa tuổi từ 10 đến 15 được gọi là khu thử thách của viện vì ở đó các trẻ mồ côi phải tập làm việc và học lấy một nghề chuyên môn như là hành trang vào đời của chúng. Cương kỹ của khu nầy cũng khó không thua gì trong trại huấn luyện binh lính quân dịch. Những trẻ ở khu đó chỉ có hai con đường để lựa chọn: hoặc cật lực làm việc và học tập hoặc âm thầm bỏ viện trốn đi bụi đời trở về cuộc sống hoang đàng cũ. Đó là khu của những đôi mắt khờ dại ngơ ngác, của những mảnh da xướt thịt vì làm lụng, của những nhức buốt vì răn đe lạnh lùng, của hiu quạnh, thiếu thốn, của u buồn lẻ loi, đắng cay chua xót của những đầu óc non trẻ chưa hề biết mặt ai là cha, ai là mẹ của mình. Tất cả những hình nét sầu thảm đó cùng với một hình hài bất hạnh đang ngồi kia, mảnh mai, ốm yếu như dáng dấp của một bóng trắng liêu trai, như lởn dởn, như ẩn hiện từ cõi âm ti hiện về... Đôi mắt, sóng mũi, làn da, tất cả gọp lại thành một hình tượng phối hợp của hai vùng Âu Á cách biệt: Cái bóng dáng đang ngồi bó gối đó là Bertrand Huyền Châu,c on gái rơi của bác sĩ Thái thị Bích Ngọc.*

    11

    Người ta lượm được Huyền Châu đang khi bất tỉnh, thoi thóp bên một vệ đường từ mộtvùng quê giữa Camargues và Saint Tropez. Không ai biết lý do vì sao cô bé nầy lại nằm bất tỉnh ở đó. Người ta vội vàng đưa vào bệnh viện cứu cấp và khi tỉnh lạiem gần như cấm khẩu không chịu hé môi để trả lời hoặc thưa hỏi. Em chỉ nghe, chỉ làm theo lệnh truyền như một cái máy, không thắc mắc, không đôi co, không đòi hỏi. Nếu chịu khó theo dõi người ta sẽ thấy những giọt nước mắt luôn luôn như sầu đọngtrên mi của cô gái. Em khóc quá sớm và quá nhiều mà em cũng khép kín cuộc đời của mình một cách âm thầm lẻ loi cũng giống như đôi cánh cửa sắt nặng nề vô tình kia của viện mồ côi La Charité đang đóng kín để giam nhốt những tâm hồn măng trẻ cô đơn.
    *
    “Thưa dì bề trên, tôi là bác sĩ Bích Ngọc từ Paris. . ."


    (Còn tiếp)


    Last edited by nguyễn công tánh; 05-26-2019 at 02:09 PM.

  5. #5
    ( Tiếp theo kỳ
    trước )

    Người nữ tu chẫm rãi ngước mắt lên nhìn Bích Ngọc rồi nở một nụ cười chào đón:

    “Kính chào bác sĩ, hân hạnh được tiếp đón bác sĩ. Xin mời ngồi. "

    Người nữ tu với tay cầm cái chuông nhỏ đặt trên bàn viết rồi rung nhẹ. Sau những tiếng leng keng ngắn gọn, một em gái người Phi Châu từ bên trong cửa phòng làm việc bước ra thốt lời bằng tiêng Pháp:

    “Con kính chào dì bề trên. Cháu xin đón mừng quý khách.”

    “Con pha trà mời khách.”

    Người con gái cuối đầu thưa vâng rồi bước đi.

    “Thưa bác sĩ, chúng tôi vinh hạnh được tiếp đón bác sĩ tại nơi thâm sơn cùng cốc nầy, thật là xa xôi và nhiêu khê mà cũng thật quý hóa lắm! "

    Tôi đi thẳng ngay vào vấn đề:

    “Kính thưa dì bề trên, đây không phải là một cuộc thăm viếng ủy lạo, nhưng thực ra là tôi tới đây để dọ hỏi và tìm gặp một đứa bé gái."

    12

    Nét thất vọng hiện lên nét mặt của người nữ tu:

    " À, ra là như vậy! Chúng tôi rất sẵn lòng."

    Ngừng một giây để nhận định về Bích Ngọc, người nữ tu tiếp:

    " Chẳng hay đứa bé dó là gì của bác sĩ ?"

    Tôi bối rối vì câu hỏi của người nữ tu:

    " Dạ thưa nó là . . . con . . . của một người bạn gái rất thân của tôi. Người bạn nầy đã qua đời từ hơn mười năm qua. . . ."

    "Đứa bé tên họ là gì, bác sĩ có biết không? "

    Tôi ấp úng lập cập không khác gì như mình đang đứng trước một vị quan tòa để cung khai tội lỗi:
    " Thưa không. Tôi chỉ biết cha của nó là một người Pháp. . ."

    Người nữ tu xen vào ngắt lời trong khi tôi đang muốn nói tiếp:

    " Và mẹ của đứa nhỏ là một người Á Châu có phải không?"

    " Thưa đúng, người bạn gái là người đồng hương với tôi, một người Việt Nam sinh sống ởPháp."

    Rồi thì yên lặng, bồn chồn, dò xét, bức rức, nghẹn thở!

    " Thưa bác sĩ, ở đây có khoảng ba trăm trẻ mồ côi trong đó có chừng sáu mươi đứa trẻ lai, mà theo tôi thấy thì những trẻ có hai dòng máu Âu Á đều đẹp một cách kỳ lạn hưng chúng tôi thường không thể nào phân biệtt được chúng có cha hoặc mẹ làngười Nhật, Việt Nam, Đại Hàn hay Trung Quốc. Nếu chúng tôi không nắm được những lý lịch của những đứa trẻ đó thì rất khó cho chúng tôi trong việcc điều hành viện mồ côi nầy."

    Ngừng lại hồi lâu nhìn thẳng vào tôi, người nữ tu mời tôi uống nước rồi tiếp:

    " Thực ra thì tại đây, tám mươi phần trăm trẻ mồ côiđều không có lý lịch rõ ràng. Vì thế tôi e rằng những điều bác sĩ cho biết đển hận diện đứa bé có thể không được đầy đủ lắm có phải không, thưa bác sĩ? Bácsĩ còn biết thêm được chi tiết đặc biệt nào khác. . . chẳng hạn như mẹ nó tên gì hoặc cha của nó là ai? "

    Tim tôi ngừng đập, lưỡi tôi đơ ra, thân người tôi trở thành một khối chì nặng trĩu!

    " Dạ thưa. . .hình như bố của cháu bé tên là . . ..Bertrand gì gì đó, tôi không rõ lắm! "

    Đôi mắt của người nữ tu nhìn tôi khoan dung:" Bertrand. . .? Ở nước Pháp nầy có hàng trăm, hàng ngàn người có cái họ là Bertrand đó thưa bác sĩ! Tuy nhiên cũng không sao,chúng ta chịu khó dò tìm trong bản đăng ký của viện, hơi mất thì giờ một chút nhưng chúng ta cứ thử xem sao. . ."

    Người quản lý nhân sự của viện mang vào phòng hai quyển sổđặt lên bàn theo lệnh cuả dì bề trên. Ngón tay của người nữ tu đè lướt trên những trang giấy, vừa tìm vừa đọc lớn. Tôi châm chú theo dỏi:

    ". . . Bertrand Julie, Bertrand Bearn, Bertrand Rosette, Bertrand Ducoy, Bertrand Sylvestre, Berttand . . ."Người nữ tu bổng ngưng đọc rồi ngước mắt nhìn về phía tôi như muốn cầu viện. Tôi hồi họp, bối rối và chờ đợi.

    " Nhờ Bác sĩ tới đây đọc dùm tôi tên nầy vì có vẽ như không phải kiểu tên của một người Pháp. . ."

    Quyển sổ đăng ký được đẩy về phía tôi. Tôi nhìn xuống nơi ngón tay của người nữ tu đang đè trên trang giấy, mắt tôi nổ đom đóm, lòng tôi như mớ bồng bông, tôi đọc bặp bẹ như đứa trẻ mới tập đọc "Bertrand . . .Huyên. . . Châu..."

    - Huyền Châu với Bích Ngọc, hai viên ngọc quý, hai cái tên. . . có đúng thật chăng? Huyền Châu, một cái tên mà tôi và Bertrand đã chọn khi đứa bé vừa được bốn tháng trong bụng mẹ nó! Tay tôi bấu mạnh vào da thịt mình nhưng mà sao không thấy đau? Hai chữ Huyền Châu sờ sờ trước mắt mà sao tôi như bị mù lòa đen tối. Có cái gì đang đập ầm ập vào lòng ngực tôi vậy? . . .Người đàn bà trong lớp áo đen phủ kín kia không lẻ lại là vị quan tòa nghiêm khắc đang phán xét tôi sao?

    14

    Tôi nhìn quanh quẩn, hớt hải tìm ai đó để kêu cứu, quanh tôi như muôn vàn sóng vỗ chập chùng. . .Tôi đang rơi vào tình trạng hôn mê của một người mộng du; tôi thấy mình đang đưa tay vòng đón chồng con mình ở Việt Nam nhưng sao chồng tôi, con tôi cứ thụt lùi, thụt lùi mãi như chạy trốn, như chối bỏ. Tôi chạy theo gào thét kêu la, mời gọi nhưng lại có một cái gì đó ở phía sau kéo ghì tôi lại. Lương tâm của tôi, trách nhiệm của tôi đang dằng co.Tôi muốn đứng phắt dậy để chạy, để thoát ra cho thật nhanh nơi u ám sầu bi nầy.Tôi có quyền làm như vậy mà, ai cấm cản được chứ?

    Huyền Châu, Bertrand, tôi hận, tôi ghét mà cũng thươnghai cái tên đó.Người nữ tu đã đứng sát cạnh tôi hồi nào mà tôi cũng không biết. Bà đưa cho tôi miếng khăn giấy và tôi mới biết rằng tôi đang khóc.Những giọt nước mắt dày xéo của người bại trận, những tiếng nấc của sự u ẩn lén lút.Bàn tay dịu hiền của người nữ tu đặt êm trên vai tôi:

    " Thưa bác sĩ, tôi đã hiểu. Bác sĩ không cần phải dấudiếm và che đậy với kẻ tu hành nầy. Cứ khóc, cứ nói ra, đừng ngại ngùng, bác sĩ sẽ thấy nhẹ đi.”

    Tôi ôm choàng người nữ tu. Tiếng khóc được dịp bộc pháttrào tuông.
    *
    " Thưa bác sĩ, cháu Huyền Châu nầy là một trong những đứa trẻ dễ dạy và ngoan hiền nhất của viện mồ côi La Charité. . ."

    " Nhưng sao nó lại bỏ trốn đi? Tại sao lại như thế? Nó bỏ đi đâu mới được chứ? "

    " Ở đây không có ai được ở không nhàn hạ. Chúng tôi tập cho các cháu sự bền bĩ chịu đựng cùng với sự siêng năng học hỏi làm việc..."

    Bổng dưng tôi nổi cơn điên loạn và thét lên:

    15

    " Các người nói láo! Phải chăng các người đã hành hạ đứa nhỏ quá sức? Nó đâu phải là người tù khổ sai của các người!. . .'

    "Xin hãy bình tĩnh. Chỗ nầy không phải là nhà tù.Không có chuyện hành hạ trẻ nít ở nơi đây. Huyền châu là một cô gái ngoan hiền và nhất là cháu đẹp không thua mẹ của cháu. Ở đây ai cũng quý mến và thương yêu Huyền Châu. Cháu nó không được giao cho làm những việc nặng nhọc hay khó khăn như những trẻ khác cùng lứa tuổi bởi vì viện chúng tôi thấy Huyền Châu quá còmcõi và sầu muộn lê thê! Huyền Châu trốn đi là vì một lý do khác: nó muốn đi tìmmẹ ruột của nó. . . . . "

    "
    Thôi! Đủ rồi!"

    Tôi không còn muốn nghe thêm. Tôi thẫn thờ bước ra khỏi cổng viện mồ côi sau khi vội vàng đặt lên bàn viết của người nữ tu một xắp bạc khá lớn. Trên kia, khung trời xám phủ đầu tôi. Gió lạnh, mưa gào vồvập thân tôi nhưng tất cả chừng ấy cũng chưa sánh bằng với nỗi đoạn trường chơi vơi, chất ngất ở trong lòng. Tôi lại đi thất thểu trên đường quê vắng lạnh giống như đêm nào tôi cũng vừa mới thất thểu một mình trên đường phố vắng tanh ở Saint Tropez khi bắt được tin con gái rơi của mình vẫn còn sống.
    Giờ nầy ở Việt Nam chồng mình đang làm gì, con mình đang làm gì ở bên kia phía trời Đông? Còn mình đang làm gì mà lưu lạc tới chốn nầy ở nơi trời Tây? Lại cũng những câu hỏi đó, sao chúng cứ đeo đẳng, dây dưa theo mãi và tôi cứ phải lẩn quẩn không có cách nào để trả lời cho ổn thỏa.Vẳng xa đâu đó tiếng đàn Tây Ban cầm nức nở, oán than củangười du mục Gitane giống như tiếng nhạc sáo u hoài của một dàn nhạc điếu tang.Và tôi đi trong cõi bất định với nhịp bước lơ lửng của người mộng du, và cứ đi mãi. Tôi không còn biết tôi là ai. Quanh tôi là mốt tấmthảm màu đen xa rộng ngút ngàn; cạnh tôi là những bờ lau sậy rát buốt xém da;dưới chân tôi là bùn đất nhầy nhụa giống như tội lỗi giãi tràn nhơ nhớp trong con người của tôi hiện giờ.*

    (Còn tiếp)


    Last edited by nguyễn công tánh; 06-16-2019 at 07:54 AM.

  6. #6
    (Tiếp theo kỳ trước)


    16
    Luật sư Huy thảng thốt khi nhìn thấy tôi trở về:

    " Trời ơi! Trông chị kìa ! Sao vậy? "

    Quần áo tôi tèm nhem, người ngợm tôi đầy bùn đất, đầu tóctôi rối bù như ổ quạ, mắt tôi thâm sầu, mặt tôi hốc hác, người tôi bệ rạc. Huyxô ghế chạy ra đón tôi và dìu tôi ngồi xuống ghế da:

    " Cái gì vậy? Chị có làm sao không? "

    Tôi không trả lời, chỉ gụt gật đầu nhẹ để trấn an Huy.Tôi cũng không biết phải ăn nói như thế nào. Làm sao Huy hiểu được. Tôi muốn lên tiêng trách Huy là đầu dây mối nhợ khiến cho tôi phải ra nông nổi như thế nầynhưng chợt nghĩ lại thì thấy mình thật vô lý.

    Làm sao tôi có thể trách Huy. Huy có lỗi gì đâu. Ngườigây cớ sự là tôi chứ có ai khác nữa. Chuyện chẳng có mới mẻ gì, nó đã xảy ra từhơn mười năm về trước và Huy nào có biết ất giáp gì cho cam. Huy là một người bạn tốt nhưng không phải là một người để tôi có thể thổ lộ tâm tình riêng tư huống hồ lại là chuyện riêng tư tội lỗi làm vỡ tung thuần phong mỹ tục lâu đời của người Việtt Nam. Vì thế tôi quyết định dấu Huy về chuyện lang chạ của tôi. Huy bưng cho tôi tách cà phê nóng bốc khói. Tôi tỏ dấu cám ơn:

    "Xin anh cho tôi một điêu thuốc lá có được không? .. ."

    Huy chưng hửng, sửng sốt nhìn tôi hồi lâu rồi cũng phải làm theo lời. Thuốc lá của Huy hút là loại thuốc lá Mỹ Pall Mall, hương vị cũng hơi đăng đắng nhưng không thoảng được vị đặm đà của loại thước điếu J. Bastos củaViệt Nam hoặc Gauloise của Pháp. Nhớ tới mùi thuốc Gauloise tôi lại nhớ tới Bertrand. Tôi muốn quên đi hình ảnh đó, tôi không còn muốn nhớ tới mùi thuốc lá quen thuộc đó nhưng khói thuốc Pall Mall quện vòng như đang vẽ lại bóng dáng người xưa. Tôi dụi nhanh điếu thuốc, cố xua đi hình ảnh cũ.

    " Anh Huy này, tôi có một cô bạn cũng là người đồng hương của tụi mình. Trước đây chị ấy học cùng lớp với tôi ở đại học y khoa Mont Pellier. Chồng của chị ấy là Bertrand, nhân vật được đề cập trong bức điện tín mà anh đã nhận dùm cho tôi đó. Chị ấy đã chết vì bị xuất huyết nội khi sanh đứa con đầu lòng. Sau đó thì đến lượt Bertrand cũng bị tai nạn xe hơi. Đứa con gái mười mấy tuổi của hai người tên là Bertrand HuyềnChâu hiện giờ không biết lưu lạc ở phương nào! . . .". Tôi ngừng một phút lấy lại bình tĩnh để làm cho chuyện nói láo của mình được tự nhiên và thật hơn.

    "Tôi xuống Saint Tropez rồi đi Camargues để dọ hỏi tin tức về đứ con gái nhưng viện mồ côi La Charité ở Camargues cho tôi biết là nó đã trốn ra khỏi viện từ hơn tháng nay!. . ."

    Huy yên lặng và chăm chú theo dõi câu chuyện tôi kể. Tôi dựng chuyện thật khéo, tôi nói láo thật hay và Huy tin tôi hoàn toàn.

    " Bây giờ chị tính thế nào? "

    " Nhờ anh lục lạo tìm Huyền Châu hộ tôi. Đó là lờitrăn trối và ước vọng cuối cùng của người bố Huyền Châu vì anh ta biết rõ tôi là bạn chí thân của mẹ đứa nhỏ."

    " Chị bảo tôi lục lạo bằng cách nào? "

    Tôi giả bộ trợn mắt nhìn Huy:

    " Chưa gì đã muốn tháo thoát? Nầy ông bạn, tôi hỏi ông bạn câu nầy: ông có phải là bạn thân của tôi hay không? Trả lời đi ông luậ tsư của tôi…”

    " Phải quá đi chứ! Nhưng nào có ăn nhập gì tới chuyện nầy? "

    " Sao lại không ăn nhập gì, có ăn nhập lắm chứ! Mẹ của đứa bé là bạn thân của tôi thì cũng là bạn thân của anh chứ bộ ! Hơn nữa chị ấy cũng là người Việt Nam như tụi mình, không lý anh không muốn giúp?"

    Huy đưa tay lên khỏi đầu, giọng nói của người bị bắt bí:

    " Thôi đi bà bác sĩ ơi! Bà đem tình nghĩa đồng bào ruột thịt để chận họng chận cổ thì tôi còn biết phải ăn nói làm sao đây? "

    Tôi đánh mạnh thêm:

    " Thì thôi vậy! Có vẻ như là bị ép buộc, trả nợ quỹthần. Không dám nhờ anh đâu! "
    18

    " Thôi mà chị Bích Ngọc, dồn nhau vào thế bí làm gì? Chị nhờ hay không nhờ là một chuyện nhưng giữa tôi và người mẹ của đứa nhỏ cùng là người Việt Nam với nhau lại là một vấn đề khác nữa! Tôi là người Việt Nam nếu không giúp người đồng hương thì làm sao lương tâm được yên. Mình không làm không lẽ để Tây họ làm cho mình sao?

    (còn tiếp)

    *Hết Chương 1, mời bạn đọc tiếp Chương 2
    Last edited by nguyễn công tánh; 06-16-2019 at 08:05 AM.

  7. #7
    (Tiếp theo kỳ trước) Hạ Trắng, mây Đông mưa Tây

    Chương 2


    Tôi được nghĩ giã hạn 6 tháng để trở về Việt Nam thăm chồng con. Huy thi đang sục sạo khắp nơi để dọ hỏi tung tích của Huyền Châu nhưng đến nay vẫn chưa có tăm hơi. Tôi biết hiện giờ Huy đang lòng vòng ở Marseille để tiếp tục cuộc dò tìm. Tội nghiệp, Huy là một người bạn chân tình, chí nghĩa.


    Tôi ngồi ở phòng đợi tại phi trường Orly. Tháng 11 trời Paris tuyết rơi. Gió mùa Đông không len vào phòng đợi khiến căn phòng ngột ngạc khó chịu. Tôi đứng lên rão bướt ra phía ngoài tìm đến một bờ ghế đặt trước sân phòng đợi. Những hạt bông tuyết mềm lất phất điểm trắng chiếcc áo lạnh khoác ngoài của tôi. Tôi ngồi xuống, mở ví lấybao thuốc Gauloise rút một điếu châm lửa. Không có gì ở đây có thể sánh nổi với những giây phút ngồi trầm tư một mình với điếu thuốc đắng quện khói tỏa hơi dưới màn tuyết trắng phủ đầy. Tôi đang nghĩ tới chồng, tới con, tới mái nhà ấm cúng ở quê mẹ. Con gái tôi bây giờ không biết đã cao thêm được tới chừng nào rồi? Hải, chồng tôi có già thêm chút nào hay không vì những cấm cúi mò mẫm suốt ngày suốt tháng bên những chai, lọ, công thức, hóa chất ở viện Pasteur Sài Gòn.


    Tôi đang thèm một tô phở gà phao câu ở đường Hiền Vương, một tách cà phê bơ Năm Dưỡng, một tô bún rêu ở quán bà Ba Bủng gần chợ Bến Thành, một ổ bánh mì thịt của quán Michaux ở đường Cống Quỳnh. . .Ở đây những thứ đó cái gì cũng có nhất là tại vùng Paris nơi có nhiều kiều bào Việt Nam sinh sống nhưng miếng thịt gà ở đây da thịt không ngọt ngào và thơm vì chúng được nuôi vỗ quá đầy đủ, quá kỹ
    19
    lưỡng. Cà phê của Pháp có tiếng là ngon và thơm lừng nhưng nó lại không có được cái không khí chòm hõm lụp sụp nơi những quán cóc ở các lề đường phố của Việt Nam. Bún rêu ở đây làm gì có được cua đồng để nồi nấu nổi lên thành từng về rêu cua đầy mùi vị dân tộc. Bánh mì ở đây bơ lắm thịt nhiều nhưng thịt Jambon của họ làm sao có thể so sánh với cuộn thịt ba rọi nửa nạt nửa mỡ với cuộn da khìa ướp đỏ mà khi nhìn thấy, dù đã no bụng, nhưng vẫn cứ thật thèm ăn…Và tôi thấy thèm đủ thứ, thèm những cái gì của người Việt Nam, tại Việt Nam. Tủ áo dài của tôi ở bên đó hơn ba mươi chiếc, tôi sẽ mặc mỗi ngày một cái khác nhau để rong chơi dạo ngắm trên đường Tự Do, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn. Tôi sẽ ghé ngang hong chợ Bến Thành để nhắm nháp một ly chè đậu xanh bánh lọt với nước cốt dừa béo ngậy. Tôi sẽ cùng với con gái tôi đến đường bà Huyện Thanh Quan cạnh trường nữ trung học Gia Long để thưởng thức mùi vị chua ngọt của đĩa gõi đu đủ kèm với thịt bò khô, rau thơm cùng với màu đỏ hấp dẫn của tương ớt dính vòng trên những sợi đu đủ thái chỉ thật đẹp mắt. Vợ chồng con cái nhà tôi sẽ đưa nhau ra Vũng Tàu, không đì bằng xe nhà mà ngồi trên chiếcc tàu hành khách đường sông có tên là Bạch Tuyết để có dịp ngắm nhìn lại sông nước hiền hòa với những đám cây đước, cây bần tua tủa ra lá ngăm mình trong nước ở dọc bờ sông bên phía Thủ Thiêm. Chúng tôi sẽ ra Ô Quắn (Au Vent), Đá Đen (Roche noire), Bãi Sau lặn hụp giởn sống cho đến lúc bụng đói nhừ để vào quán ăn thưởng thức món canh chua dậy mùi rau tần dầy lá cùng với những món hải sản đặc biệt của Vũng Tàu biển cát.


    Tiêng gọi hành khách từ loa phóng thanh kéo tôi về thực tại. Tôi chưa lên máy bay mà đã tưởng như mình đã về tới quê nhà rồi. Lòng tôi rộn rã nao nức. Ước gì tôi có đôi cánh của chim đại bàng để bay một mạch về chốn nguồn cội thân yêu. Tôi ngồi trên ghế nệm êm ấm của chiếc phản lực cơ mà tưởng mình như đang nằm cạnh chồng con. Trong giấc ngủ không trung, tôi có một giấc mơ dài thật đẹp, giấc mơ của người ly hương khi được quay về đất tổ.
    20
    Hồng Ngọc đứng cạnh bên bố giống hệt như bức ảnh kỷ niệm của tôi và Hưng chụp ngày mới cưới. Tôi đẹp nhưng Hồng Ngọc còn đẹp hơn tôi nhiều. Mới 17 tuổi nhưng Hồng Ngọc đứng cao gần ngang với bố. Dáng người của Hồng Ngọ†c đang độ nẩy nở và trông có vẻ gọn gàng hơn tôi ngày tôi còn trẻ. Đôi chân Hồng Ngọc cũng lại là đôi chân trường túc nhưng thon đều chứ không cong vẹo như quả chuối, đó là đôi chưng của những cô gái tây phương, cùng một loại chân dài "không biết mệt" giống như tôi.
    Tôi ôm con vào lòng, rờ rẫm, sờ soạn, tưởng như mình nằm mơ: con tôi lớn nhanh quá khiến cho tôi bở ngỡ. Tôi xoay sang Hưng ghì cứng lấy chàng. Tay tôi sờ soạn
    khắp châu thân của Hưng, tôi muốn ôm hôn nhưng chợt nhớ ra đây là phi trường Tân Sơn Nhứt chứ không phải ở Orly. Nhìn mắt Hưng cũng biết chàng đang thèm hôn tôi lắm nhưng cả hai chỉ ôm ghì nhau thắm thiết rồi nhìn nhau thông cảm… Hưng có vẻ béo ra và già đi. Tròng kính cận bốn độ bảy làm cho đôi mắt cương nghị của chàng như biến đi đâu mất! Tôi thấy mái tóc của Hưng lóm đóm điểm bạc, Hưng già nhanh quá còn tôi thì hình như mỗi ngày lại trẻ thêm ra. Tôi đứng gần Hồng Ngọc giống như chị với em. Tóc tôi đen nhánh cắt uốn theo kiểu nữ hoàng Ai Cập Cleopatra cùng với nét điểm trang tây phương khiến cho tôi trở thảnh xa lạ một cách rõ rệt với mọi người xung quanh.
    Tôi về đây không mang theo nhiều hành lý, chỉ có một chỉếc túi da xách tay trong đó toàn son phấn, dầu thơm ngoại quốc và một vài món quà nhỏ cho chồng, cho con cùng với 2 cây thuốc lá Gauloise.


    Tôi muốn ngồi với con gái ở phía sau xe nhưng Hưng cũng không muốn mất hơi hám của tôi. Cuối cùng Hưng bỏ xe lại nơi bãi đậu xe ở phi trường rồi gọi Taxi. Cả 3 người đều ngồi ở băng sau. Tôi háo hức thèm một cái hôn. Tôi biết Hưng cũng đồng tâm trạng. Máu trong người tôi sôi nóng bừng bừng: gần một năm nay tôi thiếu đàn ông, tôi muốn lên giường ngay với chàng.
    21
    Hưng nhìn tôi mỉm cười hiểu ý nhưng lại nheo mắt ra hiệu nhìn về phía Hồng Ngọc. Tôi thấy thương Hưng vô hạn. Tay tôi vuốt êm mặt Hưng và đặt nhẹ một chiếc hôn triều mến lên làn tóc hoa râm của chàng.


    Hồng Ngọc không nói năng gì, chỉ ôm ghì lấy tôi như sợ mất:

    " Lần nầy về rồi mẹ đừng đi nữa mẹ ơi! . ."


    Tôi ôm chầm lấy con gái. Tôi thấy Hồng Ngọc đang mếu máo, đôi mắt đẹp bắt đầu rớm ướt.


    " Nào. . . . Con gái cưng của mẹ.Có chuyện gì vậy? Đã có bố ở nhà với con kia mà. Mẹ phải đi làm chứ!... "


    " Có ba nhưng không có mẹ. Ba thì suốt ngày vắng nhà chỉ được gặp mặt trong buổi ăn tối rồi mạnh ai về phòng nấy...Mẹ không thấy con bơ vơ sao…"
    Lại chúa tôi! Đứa con gái nầy có cha bên cạnh, vật chất đầy đủ sung túc vậy mà lại bơ vơ hay sao? Còn Huyền Châu, không cha không mẹ, đang lêu bêu đói khổ giữa chợ đời đầy cạm bẫy thì thế nào? Tôi thoát khỏi trời Tây để chối bỏ sự ray rứt nhưng rồi về đây cũng gặp lại cảnh nầy sao? Huyền Châu bơ vơ, Hồng Ngọc bơ vơ, cả hai đều là nạn nhân mất mẹ, cùng một người mẹ! Tội lỗi của tôi to lớn quá, có vũ trụ nào sánh được chăng? Ở lại trời Đông với Hồng Ngọc ư? Còn đứa con gái kia ở trời Tây thì sao? Ai là con tôi? Ai không phải là con tôi?


    Tôi vuốt tóc con mình: tóc Hồng Ngọc tóc mây óng mượt thoáng đọng mùi hương nước hoa êm dịu. Tóc của Huyền Châu có được như vậy chăng? Tôi nói với con mình:
    " Đừng khóc, con cưng của mẹ, nín đi. Con khóc trông xấu lắm. "


    Đứa con gái ngước nhìn mẹ nó: người đàn bà ngồi đó trông thật là " bà đầm "; người đàn bà nầy đâu phải là người Việt Nam! Những bà mẹ của bạn bè cùng lớp với Hồng Ngọc đâu có giống như thế. Họ lam lũ, họ nhịn ăn. nhịn mặc cho chồng cho con; họ không tô vẽ son phấn đầy mặt, móng tay của họ đâu có dài ngoằn đỏ ối như thế kia. Họ mong con


    22

    từng phút giờ tan học, chờ chồng từng giây giờ tan sở. Họ luôn thèm nghe những chuyện kể lể của đứa con, của người chồng. Họ đâu cần than hồng để sưởi ấm mùa Đông vì đã có chồng, có con họ ôm ấp. Hạnh phúc thay cho những đứa con có được một bà mẹ thật Việt Nam.

    *
    Vào khoảng tháng 9 năm 1945, tôi biết được rằng ông D đã bị đón bắt trên đường đi từ Sài Gòn ra Huế gặp Quốc Trưởng BĐ để khuyến cáo Quốc Trưởng không nên thương lượng và hợp tác với chính quyền V.M của ông H. . . . Ông D bị đưa lên giam giữ ở vùng cao nguyên gần biên giới Trung Quốc và ở đó ông D tưởng đã phải bỏ thây nơi rừng sâu nước độc vị bệnh rét rừng. Ông được những người dân thiểu số lén lút thuốc men chạy chữa nên mới thoát khỏi sự chết chóc vùi thây nơi rừng hoang. Khi còn bị giam nhốt nơi trại tù của ông D nghe đồn rằng những người bắt cóc ông đã sát hại người anh của ông là K cùng với người con trai của ông K. Sau đó tôi cũng được biết rằng ông D trong lúc còn bị giam giữ đã được đưa ra gặp ông H và trong cuộc gặp gỡ nầy ông H đã kêu gọi ông D hợp tác nhưng ông D đã quyết liệt từ chối không nhận. Sau đó không hiểu vì lý do gì mà ông M không ra lệnh triệt hạ ông D nhưng lại phóng thích ông D, một kẻ đối đầu ngoan cường và đáng nể sợ của ông H về sau nầy.


    Ngày 25 tháng 6 năm 1954, tôi ở trong phái đoàn ngoại giao của chính phủ ra đón ông D về nước chấp chính. Có khá đông giáo dân công giáo ra đón ông D. Đa số họ là những người di cư sau hiệp định Geneva: họ được Mỹ và đồng minh của Mỹ xem là những người thoát chạy, từ miền Bắc xuôi Nam hầu tìm

    23
    một người lãnh đạo có thể bảo bọc cho họ và ông D chính là vị cứu tinh của họ mà đây cũng là một lợi thế cho ông D vì khi ông về nước thì đã có sẵn gần một triệu người di cư đứng yểm trợ sau lưng.


    Còn dân miền Nam chính gốc thì vẫn còn lơ mơ, phân vân và e dè chưa dứt khoát đứng hẵn về phía nào. Họ chỉ nghe đồn đãi. Đối với người miền Nam lúc nầy, những câu chuyện do những người di cư kể lại có vẻ như là những sự đặt điều quá lố hầu che lấp đi lý do chính yếu của họ về việc rời bỏ nơi chôn nhao cắt rốn nghèo khốn để tìm đến một nơi sinh sống trù phú hơn.


    Khi vào Nam, người dân di cư đáng tội nghiệp được đưa đi ra những vùng ngoại ô xa thành phố Sài Gòn, những vùng lụp xụp đầy nước đọng ao tù mặc dù chỉ xa cách thành phố chừng vài mươi cây số, những vùng đất mà ngay những người miền Nam mạt vận nhất cũng chưa bao giờ bén mảng tới. Họ là những người dân miền Nam gốc Bắc Kỳ, những người dân hạng nhì bị nghi ngờ khinh rẻ! Không những họ bị những người miền Nam chính gốc kỳ thị mà lại còn phải gánh chịu tiếng thị phi Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới gữa những người đồng hương của họ nữa. Họ nhẫn nhục tiếp nhận tất cả mọi sự đối xử nghiệt ngã bất công nơi đất lạ để được gán cho mình là người Quốc Gia đi tìm tự do! Có thể nói rằng, trong giờ phút ông D về nước, chỉ có họ là những người dám đương đầu một sống một chết với chế độ mới ở miền Bắc và số đông đảo sự có mặt của họ đón rước ông D đã nói lên đìều quyết tâm đó. Còn những kẻ khác thì nằm nhà vặn radio để theo dõi một cách thờ ơ các diễn biến tình hình chính trị trong nước giống như những kẻ đứng ngoài thời cuộc.
    Khi đến bộ ngoại giao trình diện, tôi được xem như là đại diện tòa đại sứ của Nam Việt Nam ở Pháp và được yêu cầu có mặt trong phái đoàn tiếp đón ông D. Tôi có quyền từ chối vì tôi đang trong thời gian nghỉ phép nhưng vì tò mò nên nhận lời.


    Tôi cho Hưng biết là tôi sẽ đại diện tòa đại sứ Nam Việt Nam ở Paris trong phái đoàn bộ ngoại giao của cựu chính phủ để đón tiếp ông D. Hưng nhìn tôi thốt ra lời ngao ngán "Rồi thì cũng chẳng ăn thua gì! ".
    Ba tháng sau đó, trước ngày hết hạn nghỉ phép, tôi được bộ ngoại giao cử định làm tham vụ đặc biệt của tòa đại sứ Nam Việt Nam ở Paris còn Hưng thì cũng được bộ y tế chỉ định vào một chức vụ cao hơn ỏ viện Pasteur Sài Gòn.


    Nhiệm vụ mới của tôi tại tòa đại sứ Việt Nam ở Paris là một chức vụ ngầm nặng về mặt thông tin, tuyên truyền cho chính sách mới của Ông D, một chính sách đối nghịch triệt đễ với chính sách của miền Bắc Việt Nam. Nhiệm vụ của tôi không có gì gọi là nặng nề nhưng lại hết sức phức tạp vì ông D không được lòng người Pháp và tôi cũng chưa tin tưởng vào ông D nhiều cho nên hoạt động của tôi trong lãnh vực mới có thể sẽ không được tích cực lắm.


    Người Pháp vẫn giữ mối liên lạc ngoại giao với chính phủ mới của miền Nam Việt Nam chẳng qua là vi họ còn núng níu với những rừng cao su ngút ngàn và giới tài phiệt người Pháp vẫn còn ở lại làm ăn ở Việt Nam. Họ rời Việt Nam, họ rời Đông Dương vì người Mỹ hất chân họ ra, khiến cho họ phải bị mất mặt trên thao trường chính trị thế giới. Chính sách ngoại giao của người Pháp đối với miền Nam Việt Nam kể từ lúc nầy là một chính sách thọc gậy bánh xe vì ông D được người Mỹ ủng hộ. Kiều bào Việt Nam ở Pháp thì hơn 1/2 là những người tự mãn với nếp sống hiện tại không còn muốn lý sự dây dưa tới chính trị và tương lai sống còn của quê hương chính gốc của mình. Những thành phần đón gió xôi thịt thì cũng không ít. Chính những thành phần nầy là những phần tử cấu kết với phe đối nghịch để tạo dựng các phong trào biểu tình, chống đối và bêu xấu chế độ của ông D tại nước Pháp và các nước Âu Châu. Thành phần sinh viên Việt Nam du học tại nước Pháp đã bị thu hút một cách mê hoặc, nghe theo lời đồn đãi tuyên truyền về một cá nhân đứng đầu miền Bắc Việt Nam kể từ khi ông nầy có mặt tại Paris để thương lượng với người Pháp về tương lai của một nước Việt Nam độc lập.



    *
    Năm 1955
    Tôi đưọc toà đại sứ cử về Việt Nam nhận chỉ thị của bộ ngoại giao


    Tình hình miền Nam Việt Nam vẫn chưa ổn định vì nhiều lực lượng quân đội riêng rẽ chưa được quy về một mối. Ông D tuyên bố phải thống nhứt quân đội, không thể để tình trạng địa phương tự trị kéo dài. Trong số các lực lượng quân sự nầy, các đơn vị quân sự riêng của nhiều giáo phái ở miền Nam chống đối chương trình hợp nhất quân đội của ông D, gây áp lực đòi ông D phải chia xẻ quyền lực trong chính quyền. Ông D đồng ý nhưng với điều kiện là các lực lượng của các giáo phái phải chịu đặt dưới quyền chỉ huy của một quân đội quốc gia duy nhất.


    Tướng TNT của một giáo phái tình nguyện đứng ra làm trung gian hoà giải giữa chính phủ của ông D và các giáo phái. Trong khi việc chưa ngã ngũ thì ông D cách chức nhiệm vụ trưởng ngành cảnh sát công an do một sĩ quan của lực lượng quân sự BX đang nắm giữ. Người Pháp lại nhảy vào gây rối rắm. Quân đội BX nổi dậy khắp nơi ở Sài Gòn chống chính quyền.


    *
    (còn tiếp)

  8. #8
    (Tiếp theo kỳ trước) Hạ Trắng, mây Đông mưa Tây}

    *

    Sáng nay tôi không muốn cho Hưng đi làm vì tình hình rối ren hiện tại. Không khí ngột ngạt, căng thẳng, chờ đợi bao trùm khắp nơi trên đường phố. Hưng lái xe đưa tôi ra bộ ngoại giao tọa lạc ở công trường Khải Định. Thiên hạ ngoài đường phố nhốn nháo. Xe đạp, cyclo ba bánh, xe gắn máy bỏ lăn đầy khắp nơi. Tôi thắc mắc "không biết có chuyện gì xảy ra đây". Rồi bổng chốc có tiếng súng máy nổ vang thật gần. Hưng mở cửa xe kéo tôi nhào lăn nằm sát xuống mặt lề đường. Tôi xanh mặt hoảng kinh hồn phách. Chung quanh chúng tôi tiếng la, tiếng khóc vang lên khắp cùng, người người đều nằm lăn, bò lết trên mặt đường để tìm chỗ tránh đạn. Tiếng súng kéo dài không lâu lắm rồi ngừng êm. Hưng kéo tôi tràn nhanh lên xe rú ga thật gắp. Dân tình thấy chúng tôi đứng lên cũng hùa theo nhỏm dậy chạy tứ tán khắp nơi.

    Vừa đến nơi, chưa kịp lấy lại hơi, đổng lý văn phòng bộ ngoại giao đã lùa nhanh tôi vào xe, miệng hớt hải:

    "Chị Bích Ngọc làm ơn theo tôi vào dinh thủ tướng, không còn người nào khác....Tất cả đều biến mất dạng...”

    Tôi không hiểu gì hết. Tôi nhìn xuyên qua khung cửa xe để tìm Hưng nhưng không thấy xe của Hưng đâu nữa.

    Từ trong phòng lễ tân trong dinh thủ tướng, tôi nghe rõ cuộc đối chất trong điện thoại giữa ông D và đại tướng P.E. của Pháp:

    "Tôi báo cho ông đại tướng biết, dinh thủ tướng đã và đang bị đạn pháo kích của nhóm nổi loạn BX được ông ngầm yểm trợ bắn phá. Như vậy tức là họ đã phá vỡ những sự dàn xếp thỏa thuận giữa chính phủ hợp pháp của chúng tôi với họ rồi đó, ông đại tướng có hay biết không? Chúng tôi chủ trương giải quyết ôn hòa, không muốn thấy có cảnh đổ máu. Bây giờ là lỗi ở họ, họ đã nổ súng trước".

    "Thưa ngài thủ tướng, tôi không rõ ngài muốn nói gi... Tôi chẳng nghe thấy một tiếng súng nổ nào hết !

    Một tiếng nổ vang dội ở phía góc trái dinh thủ tướng. Tôi tái mặt. Giọng ông D gay gắt:

    "Ông đại tướng rõ thật không nghe thấy gì sao ? Tôi chỉ muốn thông báo cho ông đại tướng biết là BX đã vi phạm những điều mà họ đã hứa với chính phủ . . . Còn một điều nữa, cuộc điện đàm nầy giữa chúng tôi và ông đại tướng cũng có ngưòi đại diện của tòa đại sứ Mỹ lắng nghe để làm chứng. Kể từ phút nầy thì tôi sẽ không mất thì giờ đễ bàn chuyện với một người không biết nghe như ông đại tướng, mà cũng không thấy cần thiết phải bàn bạc với ông đại tướng nữa. Tôi đã chỉ thị cho quân đội trung thành của chính phủ phản công.”

    Quân đội của chính phủ đã bắt đầu những cuộc hành quân truy lùng. Loạn quân BX vẫn còn chống cự dũng mãnh ở nhiều nơi. Các vụ xung đột giữa lực lượng BX và quân chính phủ vẫn tiếp tục ở khu vực trường trung học Pétrus-Ký, trên đường Trần Hưng Đạo, ở khu Bàn Cờ, khu chợ Cầu Ông Lãnh. Dân chúng chạy trốn tán loạn khắp ngoài đường phố. Một số tướ'ng lãnh của ba giáo phái lớn đã tuyên bố ủng hộ ông D trong số đó tướng TMT được giao chỉ huy mặt trận phản công ở vùng Tân Thuận.

    Tại dinh thủ tướng giờ đây đã có sư hiện diện của nhiều tướng lãnh, sĩ quan cao cấp của chính phủ để theo dõi các cuộc hành quân dẹp loạn. Ở về phía Chợ Lớn, quân chính phủ đã vượt qua con kinh nước đen Arroyo Chinois, quân BX bắt đầu rút chạỵ

    Từ phòng khách, tôi nghe được giọng nói trầm trầm của viên đại tá L người Mỹ:

    " Kính thưa thủ tướng và quý vị sĩ quan cao cấp hiện diện ở đây, chúng tôi được chỉ thị từ Hoa Thịnh Đốn là không được can dự vào công việc nội tình của quý vị nhưng như thế không có nghĩa là tôi không có quyền kể cho quý vị nghe một câu chuyện như thế nầy: tại một quốc gia nọ, trong khi vị thủ tướng và các sĩ quan cao cấp của ông ta đang hân hoan thoải mái với các tin tức thắng trận từ khắp nơi gửi về thì một vị tướng trẻ tài ba đầy nhiệt quyết đang xong pha đối đầu tại một mặt trận khốc liệt ở mạn Đông của thủ đô . Quân của vị tướng trẻ nầy bị quân nổi loạn cầm chân vì họ không được pháo binh của chính phủ bắn yễm trợ mặc dù chung quanh dinh của vị thủ tướng và trong sân của bộ tổng tham mưu quân đội chính phủ có rất nhiều khẩu trọng pháo hướng nòng súng lên trời một cách vô tích sự. Với tình trạng nầy, nếu dân chúng đang muốn ủng hộ chính phủ, thì nhất định họ sẽ nổi nóng và tức giận vô cùng vì vị tướng trẻ kia rất đẹp lòng dân chúng. Ngay cả bản thân tôi cũng đang bốc giận muốn điên lên được vì sự thờ ơ phó mặc cố tình nầy của vị thủ tướng kia và hàng tướng lãnh cao cấp của ông ta . . . Hiện giờ chúng tôi lại đang gặp một trường hợp tương tựa như câu chuyện tôi vừa mới kể ra hầu quý vị . . . "

    Sau những lời nói của viên đại tá Mỹ, phòng hợp trở thành yên lặng, một sự yên lặng ngột ngạt và căng thẳng. Rồi tôi nghe tiếng của ông D chỉ thị cho tướng M phải lập tức cho pháo binh yểm trợ cho đoàn quân của tướng TMT đang bị BX chận đứng ở mặt trận Tân Thuận và các tướng tá vội vã quay ra khỏi phòng hợp. Trong phòng hợp giờ chỉ còn có ông D và viên đại tá Mỹ . Qua sự bàn bạc giữa hai người, tôi biết rằng người đại diện cho Hoa Kỳ trong giờ phút nầy đã nổi nóng vì cách đối xử vô tình của ông D với hàng tướng TMT. Người tướng trẻ nầy đã dẹp bỏ quyền lợi riêng tư bè phái để về hợp tác với chính phủ, tự nguyện đưa đoàn quân thuộc hạ của mình đi đánh dẹp nhóm nổi loạn BX. Rõ ràng TMT là một người quốc gia chính gốc, đầy nhiệt tình nhưng ông D vẫn chưa dám tin dùng một cách tuyệt đối vì ông có cái cảm giác mơ hồ rằng TMT là con ngựa phòng hờ của người Mỹ để thay thế ông chứ không phải vì ông không biết dụng tướng.

    Trời sụp tối thật nhanh, tôi thấy viên đại tá Mỹ mở cửa phòng hợp đúng lúc ông cố vấn N, em trai của ông D sắp sửa vặn tay nấm cửa phòng. Ông N nhìn viên đại tá Mỹ rồi quay sang nói với ông D:

    "Tướng TMT bị tử trận rồi ! "

    Tôi thấy ông D đứng sững yên lặng, còn viên đại tá Mỹ thì ngồi phịch xuống bộ ghế nhung, nét thất vọng và u buồn hiện rõ trên mặt. Ông ta nhìn ông D rồi nhìn ông N:
    " Chúng ta đã mất đi một chiến hữu quốc gia chân chính. Tiếc thay !. . ."

    Trên đôi mắt thâm u của ông D, tôi thấy hai hàng nước mắt đau thương nhỏ dàị !

    Cuối tháng 5 năm 1955 thì lực lượng BX kể như hoàn toàn tan rã. Tướng TMT được ông D truy tặng cấp bậc Trung tướng và huy chương bảo quốc, thi hài được mang về mai táng ở Tây Ninh. Tài sản của nhóm BX bị tịch thu lên đến hơn trăm triệu bạc Việt Nam. Người ta đồn rằng quân binh trên đường truy kích loạn quân BX đã thu lượm được rất nhiều tiền do tàn quân BX rãi ra khắp nơi nhằm mục đích làm chậm bước tiến của quân chính phủ.

    Hầu hết tàn binh của BX không còn đất dung thân nên đành phải chạy vào những mật khu theo nhóm nhóm du kích nằm vùng ở lại miền Nam sau ngày tập kết.

    Vài tháng kế tiếp, nhiều đoàn thể chính trị, tôn giáo, thanh niên, lao động viết kiến nghị đòi chính phủ trưng cầu dân ý để giải quyết dứt khoát về vị thế của ông hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn.

    Bộ Nội Vụ phụ trách tổ chức trưng cầu dân ý vào ngày 23 tháng 10 năm 1955.

    Quốc trưởng BĐ bị truất phế, ông D được tạm thời giữ chức Tổng Thống. Miền Nam Việt Nam trở thành một nước Cộng Hòa, lấy ngày 26 tháng 10 làm ngày Quốc Khánh.

    Tôi cũng bỏ phiếu cho ông D mặc dù tôi biết rằng không có lá phiếu của tôi thì ông D cũng đắc thắng vẻ vang vì cuộc trưng cầu dân ý nầy có người Mỹ đứng sau lưng. Thật sự thì kể từ ngày về nước chấp chính, những việc làm của ông D có thể nói là hoàn toàn tách rời khỏi quyền lực kiểm soát của quốc trưởng BĐ. Đối với người dân Việt Nam thì trang sữ của dòng họ nhà Nguyễn đã được lật qua từ lâu kể từ ngày ông BĐ hàng phục và tự nguyện làm một công dân bình thường dưới chính quyền của ông H.

    Ông D muốn danh chính ngôn thuận nhưng dư luận nhiều nơi trên thế giới lại hiểu lầm rằng ông D muốn củng cố quyền lực của mình bằng lá phiếu yểm trợ của dân chúng miền Nam. Có một điều phải công nhận rằng, dưới sự điều hành guồng máy chính quyền của ông D, miền Nam bắt đầu được ổn định một các tương đối và sự chống đối đường lối và chính sách cai trị của ông H. tại phía bên kia vĩ tuyến thứ 17 có chiều hướng đi lên trong nhiều tầng lớp của dân chúng của chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Người dân miền Nam chính gốc vẫn chưa biết rõ chế độ miền Bắc hay hơn hay chế độ miền Nam tốt hơn nhưng thực tại trước mắt thì nếp sống của dân chúng ở miền Nam đã vượt quá xa so với mức sống của người dân miền Bắc và do đó có thể là người miền Nam không còn muốn phiêu lưu để tìm một thiên đường hạ giới với một minh chủ mới .
    *
    (còn tiếp)

 

 

Similar Threads

  1. Replies: 10
    Last Post: 01-04-2015, 10:39 PM
  2. Replies: 2
    Last Post: 03-05-2013, 08:44 AM
  3. Sự thật về phim "Như Hạt Mưa Sa"
    By ngocdam66 in forum Nhân Văn
    Replies: 0
    Last Post: 05-04-2012, 09:08 PM
  4. Replies: 0
    Last Post: 11-21-2011, 10:05 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 11-21-2011, 10:05 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 04:44 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2020 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh