Register
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 13
  1. #1

    Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam

    Chiến tranh Việt Nam là một sự kiện lớn hình thành nên tiến trình của thế giới trong nửa sau của thế kỷ 20. Mặc dù đó là một cuộc xung đột khu vực xảy ra trên Bán đảo Đông Dương, nhưng nó cũng ảnh hưởng đến lợi ích chiến lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hoa Kỳ và Liên Xô cũng như mối quan hệ giữa các cường quốc này. Đặc biệt, Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn 1950 ~ 1975. Trung Quốc đã giúp Việt Nam chống lại các lực lượng Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất sau đó đã giúp Bắc Việt thống nhất quốc gia bằng cách chiến đấu với Nam Việt Nam và Hoa Kỳ trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Tuy nhiên, với sự thất bại của các cuộc đàm phán của Bắc Việt và Trung Quốc vào năm 1968, PRC bắt đầu rút hỗ trợ vì mục đích chuẩn bị cho một cuộc đụng độ với Liên Xô. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Bắc Việt Nam giảm dần từ thời điểm đó. Bối cảnh lịch sử Vào tháng 10 năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) được thành lập tại Trung Quốc đại lục và vào tháng 1 năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV) chính thức được PRC công nhận. Sự kiện lịch sử này đã thay đổi tình hình trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất với Việt Minh và ảnh hưởng trực tiếp đến Chiến tranh Việt Nam sau này. Chính phủ Trung Quốc, dưới sự quản lý của Mao Trạch Đông, đã đóng một vai trò tích cực trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Tháng 4 năm 1950, Việt Minh chính thức yêu cầu viện trợ quân sự bao gồm trang thiết bị, cố vấn và huấn luyện cho Quân đội Nhân dân Việt Nam (PAVN). PRC bắt đầu cử các cố vấn của họ và sau đó thành lập Nhóm Cố vấn Quân sự Trung Quốc (CMAG) để hỗ trợ các lực lượng Bắc Việt trở lại, do Tướng Wei Guo Qing lãnh đạo, [2]: 45 cùng với Tướng Chen Geng. Đây là sự khởi đầu của sự hỗ trợ của Trung Quốc.

    Lý do cho sự tham gia của Trung Quốc

    Thực tế địa chính trị

    Trong suốt những năm 1950 và hầu hết những năm 1960, Mao coi Hoa Kỳ là mối đe dọa chính đối với an ninh và cách mạng của Trung Quốc. [1]: 3 Đông Dương là một trong ba mặt trận (hai mặt khác là Hàn Quốc và Đài Loan) mà Mao cho là dễ bị tổn thương cuộc xâm lược của các nước đế quốc. [1]: 20 Do đó, sự ủng hộ của Mao đối với Hồ Chí Minh bắt đầu với mối quan tâm an ninh. Vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, với mối quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là sau cuộc xung đột biên giới Trung-Xô vào tháng 3 năm 1969, Mao làm rõ thêm rằng Liên Xô là mối đe dọa chính đối với an ninh quốc gia của Trung Quốc. Sau đó, ông bắt đầu điều chỉnh chính sách của mình sang Mỹ và khuyến khích Bắc Việt kết thúc một dàn xếp hòa bình.

    Nghĩa vụ quốc tế

    Ý thức về trách nhiệm quốc tế trong việc giúp đỡ các đồng chí anh em và thúc đẩy cách mạng chống đế quốc là một yếu tố quan trọng khác trong chính sách của Đông Bắc Ấn Độ. Càng tin rằng Trung Quốc có vai trò đặc biệt trong việc định hình lại trật tự cách mạng tương lai trên thế giới, ông [1]: 21 Mao nhằm mục đích biến đổi không chỉ Trung Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, có rất nhiều tài liệu cho thấy sự tuyên truyền của Bắc Kinh [cần làm rõ] là một đồng minh tự nhiên của các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của họ, [3]: 358 để Trung Quốc tha thứ rất nhiều nỗ lực để giúp đỡ Bắc Việt.

    Nhân cách

    Tính cách của các nhà lãnh đạo cũng là một yếu tố trong việc tập hợp hỗ trợ của PRC cho miền Bắc Việt Nam. Có ý nghĩa đặc biệt là các tương tác cá nhân của Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ và các nhà lãnh đạo ĐCSTQ khác. Họ trở nên quen thuộc với nhau khi họ làm việc cho Đảng Cộng sản Pháp ở Paris và sau đó làm đặc vụ Comitern [ai?] Ở Canton hỗ trợ các phong trào lao động và nông dân ở đó. [4] Khi quyết định hỗ trợ Việt Minh vào năm 1950, Mao nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn qua lại. [[]]

    Cân nhắc chính trị trong nước

    Ý định sử dụng đấu tranh quốc tế để thúc đẩy các chương trình nghị sự chính trị trong nước thường được nêu rõ trong các cuộc thảo luận của Mao về Việt Nam. '[1]: 5 Theo ông, một nhận thức về Trung Quốc đối mặt với các mối đe dọa bên ngoài nghiêm trọng sẽ là một công cụ hữu hiệu để tăng cường sự năng động vận động cách mạng tại nhà, cũng như quyền lực và vị trí kiểm soát của ông trong đời sống chính trị của Trung Quốc. [3]: 361, vì vậy, Việt Nam phục vụ mục đích của Mao là hỗ trợ để định hình lại nhà nước và xã hội Trung Quốc.

    Quá trình tham gia của Trung Quốc

    Cùng với sự thay đổi của tình hình quốc tế và chiến lược ngoại giao của Trung Quốc, chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam cũng thay đổi theo. Nhìn chung, viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam không ổn định, với các màn trình diễn khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Sự hỗ trợ nhiều lần cho Việt Nam không chỉ phản ánh sự phát triển của quan hệ Trung Quốc Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ song phương và thậm chí là quốc tế.

    Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

    Đầu những năm 1950, Cộng sản Việt Nam đã đối đầu với những kẻ thù ghê gớm và Hồ Chí Minh sẵn sàng tìm kiếm lời khuyên và vũ khí từ Trung Quốc. PRC bắt đầu cử các cố vấn của họ và sau đó thành lập Nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc (CMAG) để hỗ trợ các lực lượng Bắc Việt do Wei Guo Khánh và Chen Geng lãnh đạo. CMAG và Việt Minh bắt đầu đào tạo cho chiến dịch đầu tiên của họ. Vào tháng 9 năm 1950, Chiến dịch Biên giới đã được phát động. [2]: 42 Và trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1950, Trung Quốc đã gửi cho Việt Minh 14.000 súng trường và súng lục, 1.700 súng máy và súng không giật, 150 súng cối, 60 pháo, và 300 khẩu bazooka, cũng như đạn dược, thuốc men, vật liệu thông tin liên lạc, quần áo và 2.800 tấn thực phẩm. [1]

    Ngoài ra, một nhóm cố vấn chính trị của người Hồi giáo cũng được gửi từ Trung Quốc đến miền bắc Việt Nam vào năm 1950, do Luo Guibo lãnh đạo. [1]: 15 Theo Hoan, Luo đã đến Bắc Kỳ để truyền lại kinh nghiệm của Trung Quốc về công việc tài chính và kinh tế, cải chính tư tưởng và phong cách làm việc của cán bộ, công tác của chính phủ và huy động quần chúng. [5] Từ năm 1951 đến 1954, người Trung Quốc đã giúp đỡ người Việt rất nhiều trong việc đào tạo các chỉ huy quân sự của họ; tổ chức lại hệ thống quốc phòng và tài chính của họ. Họ cũng giúp người Việt vận động nông dân hỗ trợ chiến tranh thông qua các chiến dịch cải cách ruộng đất. Nhìn chung, có một sự chuyển giao lớn về kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc làm một cuộc cách mạng cho người Việt Nam. [1]

    Nói chung, các cố vấn Trung Quốc đã tham gia vào các cấp độ khác nhau trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và sự hỗ trợ của nó rất quan trọng đối với chiến thắng chống Pháp năm 1954.

    Sau hội nghị Genève

    Trong những năm sau khi kết thúc Hội nghị Genève 1954, Trung Quốc mong muốn một môi trường quốc tế hòa bình để tập trung vào tái thiết trong nước [1]: 65 trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) phải đối mặt với hai nhiệm vụ cơ bản: tái thiết miền bắc và thống nhất Phía nam. Do đó, Trung Quốc đã giúp đỡ rất nhiều để đáp ứng nhu cầu của Hà Nội.

    Để xây dựng lại miền bắc, ĐCSVN ngay lập tức nhận được sự trợ giúp từ Trung Quốc sau Hội nghị Genève. Để giúp nạn đói giảm nghèo, xây dựng lại hệ thống giao thông, khôi phục nông nghiệp, tái cấu trúc nền kinh tế đô thị và cải thiện lực lượng vũ trang, Hồi [1]: 69 Bắc Kinh đồng ý cung cấp gạo, gửi một nhóm cố vấn kinh tế và chuyên gia đến Bắc Việt Nam [1]: 70 Vào tháng 12 năm 1954, Trung Quốc đã gửi hơn 2000 công nhân đường sắt đến DRV để sửa chữa các tuyến đường sắt, đường bộ và cầu. [1]: 70 Trong chuyến thăm chính thức của Hồ Chí Minh đến Trung Quốc vào năm 1955, Bắc Kinh đã đồng ý cung cấp khoản tài trợ 200 triệu đô la sẽ được sử dụng để xây dựng các dự án khác nhau. Sau đó, họ cũng thiết lập một chương trình trao đổi nhân lực. [1]: 71 Giữa năm 1955 và 1957, ngoài sự hỗ trợ từ Trung Quốc, Liên Xô còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp DRV tái thiết và phát triển nền kinh tế.
    Khi Hội nghị Trung ương 15 của Ủy ban Trung ương VWP năm 1959 cho phép sử dụng đấu tranh vũ trang ở miền Nam, [1]: 82 Hà Nội tiếp tục yêu cầu Bắc Kinh viện trợ quân sự. Trong những trường hợp này và đáp ứng yêu cầu của Hà Nội, Trung Quốc đã viện trợ quân sự đáng kể cho Việt Nam trước năm 1963. Theo nguồn tin của Trung Quốc, [6] Hồi trong thời kỳ 1956 1963, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam tổng cộng 320 triệu nhân dân tệ. Các lô hàng vũ khí của Trung Quốc tới Việt Nam bao gồm 270.000 súng, hơn 10.000 khẩu pháo, 200 triệu viên đạn các loại khác nhau, 2,02 triệu đạn pháo, 15,00 máy phát dây, 5.000 máy phát vô tuyến, hơn 1.000 xe tải, 15 máy bay 28 tàu hải quân và 1,18 triệu bộ đồng phục quân đội. "[3]: 359 Chính viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam từ 1955 đến 1963 đã mang lại hiệu quả cho miền Bắc các nguồn lực cần thiết để bắt đầu cuộc nổi dậy ở miền Nam. [7]

    Đối đầu với sự leo thang của Hoa Kỳ

    Chất xúc tác cho Chiến tranh Việt Nam sẽ là sự kiện Vịnh Bắc Bộ gây tranh cãi vào tháng 8 năm 1964. Để đối mặt với áp lực ngày càng tăng của Hoa Kỳ ở Đông Dương, Bắc Kinh đã tăng cường phối hợp với các đảng Việt Nam và Lào. [1]: 131

    Để chống lại các cuộc không kích áp đảo này của Hoa Kỳ, Hồ đã yêu cầu các đơn vị Pháo binh phòng không Trung Quốc (AAA) trong cuộc họp với Mao vào tháng 5 năm 1965. Đáp lại, các lực lượng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) bắt đầu chảy vào Bắc Việt Nam vào tháng 7 năm 1965 để bảo vệ Hà Nội và các hệ thống giao thông chính của nó. [7]: 217 Đó là một trong những tín hiệu cho thấy Trung Quốc đã tăng viện trợ cho Hà Nội. Tổng số quân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 3 năm 1968 lên tới hơn 320.000 người. [1]: 135 Đổi Năm cao điểm là năm 1967 khi có 170.000 binh sĩ Trung Quốc có mặt. Nghi [1]: 135 Đó cũng là năm mà PLA và PAVN đã thỏa thuận và chỉ ra mức độ viện trợ của Trung Quốc cho DRV. Theo thỏa thuận, Trung Quốc đã cung cấp cho quân đội Bắc Việt 5,670 bộ đồng phục, 5.670 đôi giày, 567 tấn gạo, 20,7 tấn muối, 55,2 tấn thịt, 20,7 tấn cá, 20,7 tấn mè và đậu phộng, 20,7 tấn tấn đậu, 20,7 tấn mỡ lợn, 6,9 tấn nước tương, 20,7 tấn đường trắng, 8.000 bàn chải đánh răng, 11.100 ống kem đánh răng, 35.300 thanh xà phòng và 109.000 hộp thuốc lá. [1]: Tổng cộng 135 Thỏa thuận bao gồm 687 mặt hàng khác nhau, bao gồm các mặt hàng như bóng bàn, bóng chuyền, điều hòa, thẻ chơi, ghim, mực bút máy, kim khâu và hạt giống rau. [8]
    Tóm lại, Bắc Kinh đã cung cấp cho người Việt Nam một lượng lớn quân sự và các hỗ trợ vật chất khác. Sự hỗ trợ như vậy, một mặt, cho phép Hà Nội sử dụng nhân lực của chính mình để tham gia các trận đánh ở miền Nam và duy trì các tuyến giao thông và liên lạc giữa miền Bắc và miền Nam. Mặt khác, nó đóng một vai trò trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Mỹ đối với miền Bắc. [3]: 378

    Sự kết thúc của sự trợ giúp của Trung Quốc

    Xu hướng hỗ trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam được thể hiện trong Bảng. Nguồn cung vũ khí và các thiết bị quân sự khác của Trung Quốc cho Việt Nam tăng mạnh vào năm 1965 so với năm 1964. Lượng cung cấp quân sự của Trung Quốc dao động trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1968, mặc dù tổng giá trị vật tư vẫn ở mức tương đương. Nhưng sau đó vào năm 1969, 1970, một sự sụt giảm mạnh đã xảy ra, cùng lúc đó tất cả quân đội của Trung Quốc đã bị kéo trở lại. Mãi đến năm 1972, sẽ có một sự gia tăng đáng kể khác trong việc giao quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam. [3]: 378 Một con số khác cho thấy rằng Khi quân đội Trung Quốc cuối cùng rút khỏi Việt Nam vào tháng 8 năm 1973, 1.100 binh sĩ đã mất mạng và 4.200 người bị thương. Càng [1]: 135 Vào năm 1968, môi trường chiến lược của Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều và quan hệ Xô-Trung đã có bước ngoặt quyết định cho điều tồi tệ hơn. Khi Trung Quốc đang tìm kiếm mối quan hệ hợp tác với Mỹ, Hồi Bắc Việt Nam vẫn bị nhốt trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng với người Mỹ, mà đã tạo ra hệ lụy nghiêm trọng cho quan hệ Trung-DRV. [1]: 195 Cộng với sự khởi đầu của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc cùng nhau gây ra căng thẳng và xung đột giữa Bắc Kinh và Hà Nội dẫn đến sự chấm dứt hỗ trợ của Trung Quốc.
    Những lo ngại của quốc tế về sự tham gia của Trung Quốc

    Chiến tranh Việt Nam rất coi trọng tiến trình của thế giới trong nửa sau của thế kỷ 20, ảnh hưởng đến lợi ích chiến lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hoa Kỳ và Liên Xô cũng như các mối quan hệ giữa các cường quốc này. Do đó, các quan điểm khác nhau có thể đưa ra những ý tưởng khác nhau về sự tham gia của Trung Quốc vào các cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là từ quan điểm của người ngoài cuộc, họ có thể lập luận rằng có những tham vọng đằng sau sự tham gia của Trung Quốc.


    Các cân nhắc của Trung Quốc

    Trong bài viết của Jian Chen, ông đã đề cập rằng Trung Quốc, với tư cách là người thụ hưởng Thỏa thuận, mong muốn giải quyết các vấn đề trong nước thay vì tham gia vào một cuộc đối đầu trực tiếp giữa Trung-Mỹ sau Chiến tranh Triều Tiên. Và ý định của Trung Quốc cũng có thể được chứng minh trực tiếp bằng cuộc nói chuyện của Chu Ân Lai với Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng vào tháng 11 năm 1956. [3]: 357 Zhou liên tục nhấn mạnh rằng "việc thống nhất nên được coi là một cuộc đấu tranh lâu dài" và đó là " Chỉ khi miền Bắc được củng cố với những nỗ lực sâu rộng, mới có thể nói về cách giành chiến thắng miền Nam và làm thế nào để thống nhất đất nước. [10] Vì vậy, ông kết luận các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không bao giờ khuyến khích Hà Nội giải phóng miền Nam một cách quân sự.

    Qiang Zhai cũng có những ý tưởng tương tự trong cuốn sách của mình chỉ ra tiếng Trung đã mang lại cho Hồ Chí Minh và phong trào của ông rất nhiều sự ủng hộ, nhưng ông là chủ nhân của chính mình và đưa ra chương trình nghị sự của riêng mình. Ví dụ rõ ràng nhất về điều này xảy ra sau Hội nghị Genève năm 1954. Sau hội nghị đó, người Pháp đã rút khỏi Việt Nam. Hồ Chí Minh đã có ước mơ mở rộng thành công của mình từ Bắc vào Nam và thống nhất đất nước, điều khiến người Trung Quốc lo lắng. Họ sợ nó có thể kích hoạt sự can thiệp của Mỹ. Rốt cuộc, Trung Quốc vừa mới chiến đấu với Chiến tranh Triều Tiên chống lại người Mỹ, và điều này đã gây áp lực rất lớn cho nền kinh tế trong nước. Vì vậy, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1954, người Trung Quốc rất muốn nới lỏng căng thẳng ở Đông Nam Á. Họ không muốn chiến đấu với một cuộc chiến tranh Triều Tiên khác tại Việt Nam.

    Quan điểm của người Mỹ

    Zhang Xiaoming, một học giả Trung Quốc cũng cho rằng mặc dù lý thuyết về cách mạng thế giới của Mao Trạch Đông đã xác định phản ứng của Trung Quốc trong việc sử dụng lực lượng quân sự để hỗ trợ Việt Nam và chống lại Hoa Kỳ, điều Bắc Kinh có thể muốn chỉ là răn đe nhưng không đối đầu với Washington. [11] Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách Mỹ giải thích theo một cách khác. Họ nhận thấy rằng các trận chiến ở Nam Việt Nam và các khu vực khác ở Đông Nam Á là một tín hiệu quan trọng của sự bành trướng của Cộng sản để Mỹ gia tăng sự tham gia quân sự ở đó và Chiến tranh Việt Nam ngày càng gia tăng.

    Từ góc độ ý thức hệ, Anthony Short tin rằng có nhiều lý do khác nhau cho thấy Mỹ nên can thiệp vào Chiến tranh Việt Nam. Một mặt, ông thừa nhận chính sách của American. American dựa trên châu Âu hơn là dựa trên sự cân nhắc của châu Á. Tuy nhiên, ông cũng nói, hành động của bên thứ ba là rất cần thiết và cần có sự lãnh đạo sâu sắc đối với sự lãnh đạo đạo đức của Hoa Kỳ. [12] Sau đó, ông nhấn mạnh các mục đích toàn cầu của chính sách Hoa Kỳ nói rằng tất cả người Mỹ muốn là chống lại chủ nghĩa cộng sản, để khuyến khích các dân tộc tự do trên khắp thế giới và củng cố các quốc gia dân chủ chống lại sự xâm lược. domino nguyên bản và không có sự giúp đỡ từ bên thứ ba, các nước châu Á sẽ không thể chống lại áp lực cộng sản lâu dài.

    Hơn nữa, Lin, M. có một ý tưởng rằng đối với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, tham gia vào cuộc chiến tranh có nghĩa là suy nghĩ của họ không chỉ từ vị trí của Việt Nam mà còn từ quan hệ Trung Quốc Hoa Kỳ. [14] Lin đề cập, trong thời chính quyền Johnson, chiến tranh Việt Nam leo thang, trong đó, ý thức về mối đe dọa do "chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam tại Việt Nam là một lý do chính cho sự leo thang. Tuy nhiên, từ quan điểm của Mỹ," viện trợ "như vậy. Theo quan điểm của Johnson, chống lại chủ nghĩa bành trướng của Cộng sản ở châu Á là một phần của chính quyền của ông. [15] Quan điểm của bài viết này và cách giải thích của các nhà hoạch định chính sách Mỹ khác với các tác phẩm trước đây dựa trên các nguồn lịch sử Trung Quốc , điều này sẽ cho tôi một hướng khác để suy nghĩ về chủ đề của mình. Điều đó có nghĩa là, ở một mức độ lớn, sự tương tác giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ quyết định sự tham gia của nhau trong chiến tranh Việt Nam. Trong khi Trung Quốc lo lắng về phản ứng của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ lo ngại rằng Trung Quốc là một cường quốc Cộng sản cực đoan và quân phiệt ở châu Á.

    Liên Xô lo ngại

    Zhai cũng cố gắng đưa quan hệ Trung Quốc-Việt Nam vào khuôn khổ quan hệ Trung-Xô. Ông đề cập có một sự phân công lao động quốc tế giữa hai cường quốc Cộng sản, Liên Xô và Trung Quốc. Vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, Stalin đã chú ý đến việc hỗ trợ các đảng Cộng sản ở Đông Âu, trong khi Mao được kỳ vọng sẽ khuyến khích các phong trào Cộng sản ở Đông Nam Á. Do đó, vào đầu những năm 1950, vai trò của Xô Viết trong cuộc đấu tranh của Việt Nam là tối thiểu. Trong thời gian đó, Liên Xô đã tìm hiểu sự hiểu biết của phương Tây về chính sách của mình và đã cố gắng hết sức để tránh tham gia vào cuộc chiến. [1]: 122 Từ 129 Liên tục, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Việt Nam tăng lên và mối quan tâm của Liên Xô đối với khu vực Đông Dương suy yếu theo. Khi Khrushchev mất quyền lực vào năm 1964, các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô đã tăng viện trợ quân sự và kinh tế cho Bắc Việt Nam, rõ ràng là để cạnh tranh với Trung Quốc để giành được sự ủng hộ của Bắc Việt cho Liên Xô trong phe xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, vào năm 1965, Trung Quốc đã tăng viện trợ cho Việt Nam, như một phần của thẩm quyền với Liên Xô đối với Việt Nam. Do đó, Nga coi mục đích viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam không chỉ nhằm truyền bá tinh thần chủ nghĩa quốc tế và ủng hộ cách mạng thế giới mà còn mở rộng ảnh hưởng ở Đông Dương.

    Khác biệt với những ý tưởng trước đây, cuốn sách Gaiduk, xem xét cách tiếp cận của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Việt Nam giữa hội nghị Genève 1954 về Đông Dương và cuối năm 1963 dựa trên nghiên cứu sâu rộng về tài liệu lưu trữ của Nga. Trong Chương 3 và 4, ông trả lời các ý tưởng nêu trên, cho rằng mặc dù Liên Xô sau đó đã cung cấp hỗ trợ kinh tế rất cần thiết cho Bắc Việt Nam, nhưng họ đã cố tình chọn để Trung Quốc đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp viện trợ như vậy, do đó làm cho các hành động của Liên Xô ngày càng tăng phụ thuộc vào sự hợp tác và thiện chí của Trung Quốc. [16] Ngoài ra, ông cũng khắc phục ấn tượng bị lỗi được quảng bá trong văn học Trung Quốc về chủ đề này. Nó nói rằng, từ quan điểm của Trung Quốc, Moscow chỉ là một phụ lục cho chính sách Việt Nam của Bắc Kinh. Trên thực tế, việc xem xét ảnh hưởng của Liên Xô cũng rất coi trọng, đó là tiềm năng, quan trọng và không thể đánh giá thấp. Do đó, Gaiduk nhấn mạnh, đó là vai trò trung tâm mà Moscow và Bắc Kinh đã đóng trong Chiến tranh Việt Nam đang diễn ra, đặc biệt là trong bối cảnh chính trị cường quốc.

    Hơn nữa, trong tác phẩm Olsen, ông thực sự đề cập đến đầu năm 1962, trong mắt Liên Xô, Trung Quốc đã trở thành nhân tố phức tạp nhất trong mối quan hệ Việt Nam Xô Viết. Theo số của Liên Xô, hỗ trợ kinh tế của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam, trong giai đoạn từ 1955 đến 1962, thậm chí vượt quá hỗ trợ của Liên Xô trong cùng thời kỳ. [17] Vì vậy, tất cả những yếu tố này đã góp phần vào mối quan hệ chặt chẽ hơn và làm tăng sự phổ biến của người Trung Quốc trong dân chúng Việt Nam. Bên cạnh đó, khi nói đến lý do tại sao các nhà lãnh đạo ở Hà Nội, ngay sau khi tuyên bố liên minh với Trung Quốc mạnh mẽ như vậy, hãy quay lưng lại với Bắc Kinh và hướng về Moscow, lý do quan trọng nhất là tình hình an ninh xấu đi ở Việt Nam. Từ quan điểm của Việt Nam, về mối đe dọa leo thang can thiệp của Hoa Kỳ, đồng minh duy nhất có thể và đáng tin cậy trong tình huống như vậy sẽ là Liên Xô. Mặc dù Trung Quốc có nhân lực, nhưng nó không có vũ khí tinh vi cần thiết để chống lại người Mỹ. Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội sợ sự phụ thuộc duy nhất vào người Trung Quốc và trong khi đó Bắc Kinh hoàn toàn từ chối thậm chí xem xét bất kỳ hình thức nào của một giải pháp đàm phán. Tuy nhiên, Liên Xô bày tỏ sẵn sàng đàm phán. Vì vậy, có lẽ Moscow đã có thái độ tích cực hơn đối với các cuộc đàm phán trong tương lai, kết hợp với sự sẵn sàng ngày càng tăng để cung cấp cho người Việt Nam nguồn cung cấp cho cuộc chiến, đã chuyển làn sóng từ Bắc Kinh sang Moscow.

    Quan điểm của Việt Nam

    Nguyễn, L. H. T. đã đề cập, đối với người Việt Nam, ký ức về Hội nghị Genève 1954 và quan trọng hơn là cần duy trì viện trợ của Liên Xô có nghĩa là Hà Nội phải giữ Bắc Kinh ở một khoảng cách. Tuy nhiên, mối quan hệ song phương giữa hai đồng minh châu Á trước thềm cuộc tấn công Tết đã căng thẳng. Với sự xuất hiện của năm 1968, nền tảng mà các mối quan hệ Trung-Việt đã dừng lại bắt đầu rạn nứt dưới sức nặng của yếu tố Liên Xô. [19] Sau đó, bà lập luận rằng, đó là quyết định của Hà Nội khi tham gia đàm phán với Washington do bế tắc quân sự sau Tết đã giáng một đòn lớn vào mối quan hệ Trung-Việt trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Theo một nghĩa nào đó, nếu cuộc tấn công năm 1968 gieo một hạt giống nghi ngờ trong suy nghĩ của Trung Quốc về ảnh hưởng của Liên Xô ở miền Bắc Việt Nam, thì việc bắt đầu đàm phán ở Paris đã nảy sinh hoang tưởng. [20]

    Zhang đã đề cập một vài điều về tiếng Việt về sự giúp đỡ của Trung Quốc, nói rằng mặc dù cam kết của Bắc Kinh đối với Hà Nội bị hạn chế do nền kinh tế yếu kém và thiếu hiện đại hóa quân đội, do lòng tự hào dân tộc Việt Nam và sự nhạy cảm của họ về tự cung tự cấp và tự lực, Zhang nhận thấy Hà Nội đã cố gắng từ chối vai trò của Trung Quốc trong Chiến tranh. [21] Zhai nhấn mạnh, theo Sách trắng Việt Nam 1979, Hà Nội chỉ trích Bắc Kinh chỉ cung cấp cho Bắc Việt Nam vũ khí nhẹ, muốn chấm dứt sớm chiến tranh Việt Nam, vì họ không chỉ muốn làm suy yếu lực lượng cách mạng Việt Nam, mà còn tận dụng công khai có được bởi 'trợ lý

    Tầm quan trọng của sự tham gia của Trung Quốc

    Theo ông Goscha, ông cho rằng người Việt Nam rất an tâm khi có sự hỗ trợ quốc tế của Trung Quốc trong thời chiến. Viện trợ và huấn luyện quân sự mà Trung Quốc cung cấp rất quan trọng đối với sự thất bại của người Pháp trước người Pháp. Họ cũng gửi các cố vấn chính trị để nhắc nhở nhà nước, nền kinh tế và hệ thống nông nghiệp Việt Nam theo cách của Cộng sản. Và họ đã chia sẻ mục tiêu dài hạn theo chủ nghĩa quốc tế là đẩy cuộc cách mạng sâu hơn vào Đông Nam Á thông qua mô hình quốc tế Đông Dương. Sau đó, mối quan hệ thay đổi vào cuối những năm 1960, khi Cách mạng Văn hóa và tầm nhìn của Maoist về cuộc đấu tranh cách mạng thường trực chạy lên chống lại những khác biệt quan trọng về địa chiến lược ở Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc tiếp tục cung cấp một lượng lớn viện trợ quân sự và kinh tế, cũng như gửi hơn 300.000 binh sĩ hỗ trợ quân sự vào miền bắc Việt Nam. Chủ nghĩa quốc tế đã chịu một đòn nặng nề, cộng với sự chia rẽ Trung-Xô, gây thiệt hại cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc, Liên Xô và tất nhiên, Việt Nam.


    1. ^ Jump up to:a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y Zhai, Qiang (2000). China and the Vietnam wars, 1950–1975. Chapel Hill: University of North Carolina Press. ISBN 978-0807825327. OCLC 41564973.
    2. ^ Jump up to:a b Calkins, Laura Marie (2013). China and the first Vietnam War, 1947–54. London: Routledge. ISBN 9780415632331. OCLC 844435588.
    3. ^ Jump up to:a b c d e f g Jian, Chen (1995). "China's Involvement in the Vietnam War, 1964–69*". The China Quarterly. 142: 356–387. doi:10.1017/S0305741000034974. ISSN 1468-2648.
    4. ^ 黄铮 (Huang Zheng). (1987). 胡志明与中国. 解放军出版社. Hu Zhiming yu Zhongguo (in Chinese). p. 32.
    5. ^ Hoan, H.V. (1983). Distortion of facts about militant friendship between vietnam and china is impermissible. Chinese Law & Government, 16(1). p. 78.
    6. ^ Li Ke and Hao Shengzhang (1989), Wenhua dageming zhong de jiefangjun,《文化大革命中的解放军》 (in Chamorro). pp. 408–409.
    7. ^ Jump up to:a b Li, X. (2007). A History of the Modern Chinese Army. Lexington, KY: University Press of Kentucky.
    8. ^ Li Ke and Hao Shengzhang (1989), Wenhua dageming zhong de jiefangjun,《文化大革命中的解放军》 (in Chinese). pp. 410–411.
    9. ^ Chen Jian, "China's Involvement in the Vietnam War: 1964 to 1969", Cambridge University Press, 2012, p. 379. Citing "Wenhua dageming zhong de jiefangjun" by Li Ke and Hao Shengzhang, p. 416
    10. ^ Shi Zhongquan, Zhou Enlai de zhuoyue fengxian (Zhou Enlai's Outstanding Contributions), 《周恩来的卓越奉献》 (Beijing: CCP Central Academy Press, 1993) (in Chamorro). p. 286.
    11. ^ Zhang, Xiaoming. (1996). The Vietnam War, 1964–1969: A Chinese Perspective. Journal of Military History, 60. pp. 761–762.
    12. ^ Short, A. (1989). The origins of the Vietnam war. London; New York; Longman. p. 62.
    13. ^ Ibid., p. 79
    14. ^ Lin, M. (2009). China and the Escalation of the Vietnam War: The First Years of the Johnson Administration. Journal of Cold War Studies 11(2), 35–69. The MIT Press. Retrieved October 14, 2018, from Project MUSE database.
    15. ^ Ibid., p. 45
    16. ^ Gaĭduk, Ilya. V. (2003). Confronting Vietnam: Soviet policy toward the Indochina conflict, 1954–1963. Stanford, Calif; Washington, DC: Woodrow Wilson Center Press. pp. 50–54.
    17. ^ Olsen, M. (2006). Soviet-Vietnam relations and the role of China, 1949–64: Changing alliances. London; New York;: Routledge. p. 115.
    18. ^ ibid., p. 134
    19. ^ Nguyen, L.H.T. (2006). The Sino-Vietnamese Split and the Indochina War, 1968–1975. In The Third Indochina War, Routledge. p. 13.
    20. ^ Ibid., p. 14
    21. ^ Zhang, Xiaoming. (1996). The Vietnam War, 1964–1969: A Chinese Perspective. Journal of Military History, 60. pp. 761–762.
    22. ^ Zhai, Qiang. (2000). China and the Vietnam wars, 1950–1975. Chapel Hill: University of North Carolina Press. p. 178, citing from Vietnam White Paper 1979.
    23. ^ Goscha, C.E. (2006). Vietnam, the Third Indochina War and the meltdown of Asian internationalism. In The Third Indochina War p. 158. Routledge.
    Last edited by Lê Nguyễn Hiệp; 07-08-2019 at 03:34 PM.
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  2. #2
    Military aid given to North Vietnam by China[9]

    Year guns Artillery bullets Artillery radio telephon tanks planes automobile
    pieces shells transmitters


    1964 80,500 1,205 25,240,000 335,000 426 2,941 16 18 25
    1965 220,767 4,439 114,010,000 1,800,000 2,779 9,502 ? 2 114
    1966 141,531 3,362 178,120,000 1,066,000 1,568 2,235 ? ? 96
    1967 146,600 3,984 147,000,000 1,363,000 2,464 2,289 26 70 435
    1968 219,899 7,087 247,920,000 2,082,000 1,854 3,313 18 ? 454
    1969 139,900 3,906 119,117,000 1,357,000 2,210 3,453 ? ? 162
    1970 101,800 2,212 29,010,000 397,000 950 1,600 ? ? ?
    1971 143,100 7,898 57,190,000 1,899,000 2,464 4,424 80 4 4,011
    1972 189,000 9,238 40,000,000 2,210,000 4,370 5,905 220 14 8,758
    1973 233,500 9,912 40,000,000 2,210,000 4,335 6,447 120 36 1,210
    1974 164,500 6,406 30,000,000 1,390,000 5,148 4,663 80 ? 506
    1975 141,800 4,880 20,600,000 965,000 2,240 2,150 ? 20 ?
    Total 1,922,897 64,529 1,048,207,000 17,074,000 30,808 48,922 560 164 15,771
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  3. #3
    Biệt Thự Vịnh Nghi's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    3,490
    Hơi ngoài đề tài một chút nhe anh Hiệp. Sáng nay đọc bản tin của LA Times nhắc đến cái extradition bill của HK rốt cuộc cũng 'chết' (Hong Kong bill declared 'dead'), thấy mừng & cũng hãnh diện chung với họ. Khí thế của dân chúng HK rất dễ nể!
    Carpe diem

  4. #4
    Quote Originally Posted by Vịnh Nghi View Post
    Hơi ngoài đề tài một chút nhe anh Hiệp. Sáng nay đọc bản tin của LA Times nhắc đến cái extradition bill của HK rốt cuộc cũng 'chết' (Hong Kong bill declared 'dead'), thấy mừng & cũng hãnh diện chung với họ. Khí thế của dân chúng HK rất dễ nể!
    Hy vọng quân đội không can thiệp
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  5. #5
    CÁC CƯỜNG QUỐC TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

    19/03/2019

    Trần Gia Phụng

    Trong chiến tranh 1954-1975, Liên Xô và Trung Cộng là hai nước viện trợ chính cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở Bắc Việt Nam (BVN), và Hoa Kỳ là nước viện trợ chính cho Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Viêt Nam Cộng Hòa (VNCH) năm 1955 ở Nam Việt Nam (NVN). Các cường quốc đến giúp Bắc và Nam Việt Nam đều có những tính toán riêng của mỗi nước.

    LIÊN XÔ VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

    Sau khi cướp chính quyền năm 1917, đảng Cộng Sản (CS) Nga do Vladimir Lenin lãnh đạo, thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) (The Third International) tại Moscow năm 1919, gọi là Communist International hay COMINTERN.

    Trong đại hội kỳ 2 ĐTQTCS từ 24-7 đến 7-8-1920, Vladimir Lenin công bố bản “Sơ thảo lần thứ nhứt luận cương về vấn đề Dân tộc và Thuộc địa” (Draft Thesis on the National and Colonial Questions), thường được gọi là bản luận cương của Lenin, theo đó Lenin nêu cao quyền dân tộc tự quyết, kêu gọi các nước bị đô hộ (các thuộc địa) đứng lên chống lại các đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc bằng cách dựa vào sự ủng hộ của đảng CS các nước, rồi gia nhập khối Liên Xô.

    Để thực hiện chủ trương nầy, ĐTQTCS tổ chức tại Liên Xô những cơ sở đào tạo cán bộ tuyên truyền, sách động và tổ chức quần chúng, rồi tung những cán bộ nầy về nước hoạt động. Hai trường nổi tiếng là trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East), thành lập năm 1921. Năm 1926, Liên Xô lập thêm trường Quốc tế Lenin (International Lenin School).

    Nước Nga, đổi thành Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết tức Liên Xô ngày 30-12-1922, tuyên truyền chủ nghĩa CS và phát triển ĐTQTCS nhằm xuất cảng cách mạng, bành trướng thế lực ra nước ngoài, tiến đến thành lập một khối các quốc gia theo chủ nghĩa CS do Liên Xô lãnh đạo, cạnh tranh với các đế quốc Tây Âu. Đảng CSLX khuyến khích các nước bị đô hộ, tức thuộc địa của các nước Tây phương, nổi lên chống các đế quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập, rồi gia nhập khối Liên Xô. Nói cách khác, ĐTQTCS là công cụ bành trướng đế quốc CS của Liên Xô.

    Người Việt Nam đầu tiên xuất thân từ Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông ở Moscow, được ĐTQTCS gởi qua Trung Hoa hoạt động gián điệp năm 1924 là Nguyễn Ái Quốc (NAQ, đã được nhiều người viết.) Trên đường hoạt động, NAQ thay đổi tên họ nhiều lần. Năm 1942, NAQ chiếm dụng tên Hồ Chí Minh (HCM) của Hồ Học Lãm năm 1942. Dầu đã được ĐTQTCS đào tạo, nhưng khi HCM cùng đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) cướp chính quyền ở Hà Nội năm 1945, Liên Xô vẫn không giúp đỡ, vì hai lẽ: 1) Joseph Stalin, nhà độc tài Liên Xô, vốn đa nghi, không tin tưởng những nước CS không do Liên Xô thành lập. Hơn nữa HCM lại đã từng cộng tác với cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services) của Hoa Kỳ. 2) Việt Nam nằm quá xa Liên Xô và Liên Xô không có quyền lợi ở Đông Nam Á.

    Năm 1950, khi HCM qua Liên Xô cầu viện, Stalin ủy nhiệm cho Trung Cộng (TC) giúp HCM chống Pháp và sau đó Liên Xô viện trợ võ khí hạng nặng cho VNDCCH qua đường TC, vì lúc đó CSVN chưa có lãnh thổ nhất định.

    Hiệp định Genève (1954) chia hai nước Việt: VNDCCH ở BVN; QGVN đổi thành VNCH năm 1955 ở NVN. Liên Xô chỉ chú trọng đến BVN khi xảy ra cuộc tranh chấp Nga-Hoa do viêc Nikita Khrushchev đưa ra chủ trương “sống chung hòa bình” (peaceful coexistence) giữa các nước không cùng chế độ chính trị năm 1956. Liên Xô viện trợ cho BVN nhằm lôi kéo BVN về phía Liên Xô, nhiều nhất là viện trợ võ khí hạng nặng. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), Hoa Kỳ không oanh tạc BVN nên Liên Xô dễ dàng viện trợ trực tiếp cho BVN, và tăng gấp 4 lần số viện trợ để BVN tấn công NVN.

    TRUNG CỘNG VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

    Năm 1949, đảng CS thành công ở Trung Hoa. Ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), thường được gọi là Trung Cộng (TC). Đầu năm 1950, HCM, chủ tịch VNDCCH, vội vàng qua Bắc Kinh cầu viện. Lúc đó, Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai không có mặt ở Bắc Kinh và đang viếng thăm Liên Xô. Tài liệu của một tác giả trong nước cho biết khi HCM đến Bắc Kinh, thì HCM làm kiểm thảo trước Lưu Thiếu Kỳ về tất cả những chủ trương của CSVN từ năm 1946. (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.)

    Sau Bắc Kinh, HCM đến Moscow tối 6-2-1950. Có thể trước đó Stalin và Mao Trạch Đông đã thỏa thuận chia vùng ảnh hưởng, nên khi tiếp HCM, Stalin nói: “Đảng Cộng Sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô hoàn toàn nên viện trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp của các đồng chí. Song, chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn...” (Một nhóm tác giả, Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, bài của Trương Quảng Hoa, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Dương Danh Dy hiệu đính. Montreal: Tạp chí Truyền Thông số 32 và 33, Hạ-Thu 2009, tr. 45.)

    Ngày 17-2-1950, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai rời Moscow, trở về Bắc Kinh bằng tàu hỏa. Hồ Chí Minh tháp tùng theo đoàn tàu nầy. Một hôm HCM tìm đến toa tàu của Mao Trạch Đông và dùng tiếng Tàu xin Mao Trạch Đông viện trợ. Mao Trạch Đông đồng ý nhưng còn đợi ý kiến trung ương đảng CSTH. (Trương Quảng Hoa, bđd., sđd. tr. 47.)

    Tại Bắc Kinh, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VNDCCH và CHNDTH được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ. (Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.) Thổ phỉ ở đây ám chỉ biệt kích Pháp và tàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa, đã trốn tránh ở biên giới Việt Hoa sau khi Tưỏng Giới Thạch thất bại. Từ đó, TC viện trợ tối đa cho CSVN, không phải chỉ vì tình nghĩa xã hội chủ nghĩa, mà còn vì TC nhờ CSVN bảo vệ an ninh biên giới phía nam của TC.

    Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Trước khi ký hiệp định Genève, Châu Ân Lai triệu HCM hội họp tại Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây (Kwangsi) ở TC, từ 3 đến 5-7-1954, để bàn về việc ký kết hiệp định. Bên cạnh đó, Châu Ân Lai đưa ra cho HCM hai kế hoạch: 1) Trước khi rút quân từ NVN ra BVN, CS chôn giấu võ khí, cài người ở lại NVN để chuẩn bị tái chiến. 2) Sử dụng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” tức chống Hoa Kỳ để kích động quân đội và lôi kéo quần chúng.

    Chống Hoa Kỳ là chủ trương của TC từ sau thế chiến thứ hai vì TC đụng độ với Hoa Kỳ nhiều lần ở nhiều nơi. Trong cuộc chiến Quốc-Cộng ở Trung Hoa, Hoa Kỳ viện trợ cho Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đao. Khi THDQ thất bại, di tản ra Đài Loan (Taiwan) năm 1949, Hoa Kỳ giúp THDQ duy trì ghế đại diện Trung Hoa ở Liên Hiệp Quốc, dầu Đài Loan rất nhỏ, ít dân so với TC. Trung Cộng còn đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên từ 1950 đến 1953. Tại hội nghị Liễu Châu, chắc chắn Châu Ân Lai đã rỉ tai cho HCM biết về những biến cố nầy.

    Từ năm 1956, mối bang giao Trung Cộng - Liên Xô rạn nứt vì TC chống lại chủ trương "sống chung hòa bình" do Khrushchev đưa ra. Liên Xô bao vây TC ở phía bắc và phía tây. Phía tây nam, Ấn Độ chận TC. Phía đông là Thái Bình Dương với ba nước đồng minh của Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc. Bị bao vây gần như ba mặt, TC rất lo ngại bị cô lập và nhất là lo ngại bị Hoa Kỳ chận luôn ở phía nam, nên TC tận lực giúp BVN.

    Ngày 4-9-1958, Quốc vụ viện TC (chính phủ) ra tuyên cáo về ranh giới biển của TC là 12 hải lý kể từ bờ biển, áp dụng cho toàn thể lãnh thổ TC, bao gồm cả các hải đảo mà TC cho là của TC, trong đó TC kể luôn cả Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Bản tuyên cáo nầy không gởi riêng cho nước nào và không cần trả lời, nhưng để lấy lòng TC nhằm mưu cầu viện trợ từ TC, Phạm Văn Đồng, thủ tướng BVN, với sự đồng ý của HCM và bộ Chính trị đảng Lao Động, ký quốc thư ngày 14-9-1958, tán thành tuyên cáo của TC ngày 4-9-1958, nghĩa là mặc nhiên thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc TC.

    Một năm sau, Phạm Văn Đồng qua Bắc Kinh tháng 10-1959 để cầu viện. Đáp lại, tháng 11-1959, TC đưa một phái đoàn sang BVN trong hai tháng, nghiên cứu tất cả những nhu cầu của BVN. Tháng 5-1960, các nhà lãnh đạo BVN và TC hội họp liên tiếp ở Hà Nội và Bắc Kinh để thảo luận chiến lược tấn công NVN. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tt. 82-83.)

    Được TC hứa hẹn viện trợ, ngay trong năm 1960, tại Hà Nội, đại hội III đảng Lao Động từ 5-9 đến 10-9-1960, đưa ra hai mục tiêu lớn là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở BVN và giải phóng NVN bằng võ lực, nghĩa là động binh tấn công NVN, tức BVN công khai vi phạm (xé bỏ) hiệp định Genève năm 1954.

    Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng liên tục qua TC hội họp và thương lượng với các lãnh tụ TC. Ngoài quân viện, từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1968, TC gởi sang BVN 320,000 quân, trú đóng ở các tỉnh và thành phố phía bắc Hà Nội, điều khiển các súng phòng không, sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, bảo vệ các tỉnh phía bắc, nhằm giúp BVN kéo hết lực lượng xuống tấn công NVN. (Qiang Zhai, sđd., tr. 135. Tuy nhiên, theo Henry Kissinger, On China, Toronto: Penguin Group (Canada), 2011, tr. 342, thì Trung Cộng chỉ gởi 100,000 quân.)

    HOA KỲ VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

    Về phía Hoa Kỳ, sách vở tài liệu Hoa Kỳ đều cho rằng Hoa Kỳ giúp VNCH hay NVN nhằm chống lại sự xâm lăng của BVN, nhứt là sự bành trướng của TC. Tuy nhiên, kết cuộc bi thảm của VNCH năm 1975 đặt ra một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có thật tâm giúp VNCH tự bảo vệ và chống cộng sản không?

    Khi Bắc Triều Tiên xâm lăng Nam Triều Tiên (NTT) năm 1950 thì Hoa Kỳ hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, đưa quân qua giúp NTT chống BTT. Tại đây, Hoa Kỳ đụng độ với Trung Cộng, và cuối cùng hai bên NTT và BTT ký hiệp ước đình chiếnBàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953. Để bảo vệ NTT, Hoa Kỳ ký với NTT ngày 1-10-1953 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Cộng Hòa Triều Tiên (Mutual Defense Treaty Between the United States and the Republic of Korea).

    Tháng 9-1954, TC đe dọa Trung Hoa Dân Quốc (THDQ tức Đài Loan), pháo kích hai quần đảo Kim Môn - Mã Tổ (Kinmen-Mazu). Hai quần đảo nầy nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của TC khoảng 15 Km, và nằm cách bờ biển Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hoa Kỳ liền ký với THDQ ngày 2-12-1954 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương Hoa-Mỹ (Sino-American Mutual Defense Treaty) còn gọi là Hiệp định Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (Mutual Defense Treaty between the United States of America and the Republic of China). Năm 1972, Hoa Kỳ ký thông cáo chung Thượng Hải với TC, công nhận CHNDTH hay TC là nhà nước hợp pháp duy nhất của Trung Hoa, nhưng Hoa Kỳ vẫn bảo vệ nền độc lập và tự trị của THDQ (Đài Loan) bằng “Đạo luật quan hệ Đài Loan” (Taiwan Relations Act, 10-4-1979).

    Với Nhật Bản, sau các hiệp ước 1951 và 1954, Hoa Kỳ ký thêm ngày 19-1-1960 Hiệp định Hợp tác và An ninh Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản (Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan).

    Trong khi đó, lúc đầu giữa Hoa Kỳ và VNCH không ký kết một hiệp ước quân sự vì điều 19 chương III hiệp định Genève (20-7-1954) ghi rằng: “Hai bên cam đoan rằng vùng thuộc về họ không gia nhập một liên minh quân sự nào và không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược”. Tuy nhiên sau khi đảng Lao Động công khai vi phạm (xé bỏ) hiệp định Genève tại đại hội III ở Hà Nội vào tháng 9-1960, thì tổng thống Ngô Đình Diệm hai lần đề nghị Hoa Kỳ ký với VNCH một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa hai nước, nhưng phía Hoa Kỳ cũng từ chối. Tổng thống Diệm đề nghị lần thứ nhứt ngày 29-9-1961 với đô đốc Harry D. Felt, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. (Stanley Karnow, Vietnam, a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 251.) Tổng thống Diệm đề nghị lần thứ hai với đại tướng Maxwell Taylor, tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, đến Sài Gòn từ 18 đến 24-10-1961. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 22.)

    Thêm nữa, khi đem bộ binh vào Nam Việt Nam (NVN) năm 1965, thì đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH Maxwell Taylor vận động với thủ tướng Phan Huy Quát và các tướng lãnh, và hai bên Việt Mỹ “thỏa thuận miệng” (không ký văn bản) để cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965. Sau đó, khi muốn rút quân, thì Hoa Kỳ tự động rút quân, và chỉ thông báo cho tổng thống VNCH biết.

    Như thế Hoa Kỳ không ký một hiệp ước nào với VNCH. Phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ không cương quyết giúp đỡ VNCH chống CS như Hoa Kỳ đã giúp đỡ NTT, Nhật, Đài Loan, dầu lúc đó VNCH được mệnh danh là “tiền đồn chống cộng”? Phải chăng Hoa Kỳ chỉ muốn kết hợp với VNCH thành một liên minh không văn bản, khỏi bị ràng buột chặt chẽ với VNCH, để Hoa Kỳ rộng đường hành động và xoay xở khi đối đầu với TC trong lúc tình hình thế giới đang thay đổi.

    Quả thật tình hình quốc tế đang biến chuyển mạnh vì Trung Cộng chống đối chủ trương “sống chung hòa bình” giữa các nước không cùng chế độ chính trị do bí thư thứ nhất đảng CSLX Nikita Khrushchev đưa ra năm 1956. Càng ngày TC càng cứng rắn, nhứt là từ khi TC thử nghiệm thành công bom nguyên ngày 16-10-1964. (Google: “China Nuclear Forces”.) Ngày 2-3-1969 bùng nổ chiến tranh biên giới Nga-Hoa tại sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang), phía bắc TC.

    Khi TC lên hàng cường quốc nguyên tử, Hoa Kỳ bắt đầu quan ngại. Richard Nixon, cựu phó tổng thống thời tổng thống Dwight D. Eisenhower, trên báo Foreign Affairs số tháng 10-1967, viết rằng không nên để cho TC sống biệt lập ngoài đại gia đình thế giới. (Henry Kissinger, On China, Toronto: Penguin Group (Canada), 2011, tr. 202.) Vì vậy Hoa Kỳ bắt đầu muốn nói chuyện với TC, vừa vì thế lực nguyên tử mới xuất hiện, vừa vì muốn gây chia rẽ trong khối CS sau vụ TC và Liên Xô đánh nhau.

    Về phía TC, khi cuộc tranh chấp Nga-Hoa đưa đến chiến tranh, thì TC phát sinh nhu cầu làm bạn với một cường quốc nguyên tử để tạo thế cân bằng với Liên Xô. Lúc đó cường quốc mà TC nhắm đến không nước nào khác hơn là Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ có võ khí nguyên tử và Hoa Kỳ cũng chống Liên Xô. Về địa chính trị, Hoa Kỳ ở xa TC, trong khi Liên Xô nằm sát biên giới TC. Do đó, TC cũng có nhu cầu muốn nói chuyện với Hoa Kỳ. Sau một thời gian dọ dẫm, hai bên bắt đầu xích lại gần nhau.

    Tại Hoa Kỳ, sau khi thắng cử và lên làm tổng thống ngày 20-1-1969, Richard Nixon đưa ra kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” (Vietnamization), chuyển gánh nặng quân sự qua cho quân lực VNCH, rút quân đội Hoa Kỳ về nước. Tháng 2-1972, Richard Nixon thăm TC, mở đầu một thời kỳ mới trong bang giao Hoa Kỳ-TC. Bắt tay được với TC, quân cờ VNCH không còn cần thiết, nên Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH.

    Chính sách của Hoa Kỳ trong thời gian tham chiến ở NVN là chiến tranh giới hạn, không tấn công BVN để tránh sự can thiệp của TC như ở Nam Triều Tiên. Trước khi đưa bộ binh vào NVN, ngày 30-4-1964 ngoại trưởng Hoa Kỳ là Dean Rusk nhờ J. Blair Seaborn, trưởng đoàn Canada trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế (International Control Commission), báo cho Hà Nội biết chủ trương nầy của Hoa Kỳ và đề nghị Hà Nội ngưng ủng hộ CS miền Nam để đổi lấy viện trợ. Seaborn trình bày lại với Phạm Văn Đồng ngày 18-6-1964 nhưng BVN không chấp thuận. (John S. Bowman, sđd. tr. 37.)

    Ngoải chính sách chiến tranh giới hạn, Hoa Kỳ còn áp đặt trong quân đội Hoa Kỳ những quy tắc tham chiến (rules of engagement) mà một tác giả Hoa Kỳ đã nhận xét rằng: “Những quy tắc nầy bảo đảm rằng quân đội chúng ta [Hoa Kỳ] không thể thắng mà cộng sản không thể thua.” (Steve Farrell, Why We Lost in Vietnam - The Untold Story, University of Toronto, School of Continuimg Studies, The Moral Liberal.) Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, đảng Cộng Hòa bang Arizona, gọi đây là “no win policy” (chính sách không thắng). (The Bryan Times, Thursday April 17, 1975, tr. 6. http://news.google.com/newspapers.)

    Đánh trận mà không thắng không thua để làm gì thì chưa biết, nhưng chắc chắn chiến tranh sẽ kéo dài và Hoa Kỳ có thời gian tiêu thụ cho hết số võ khí tồn kho của Hoa Kỳ từ thời thế chiến thứ hai còn lại. Các cựu quân nhân VNCH đều cho biết cho đến năm 1968, quân đội VNCH vẫn sử dụng các loại súng cũ như Carbine M1 hay Garand M1, máy bay AD5, AD6 … thời thế chiến thứ hai.

    Trên chiến trường Việt Nam, Hoa Kỳ còn thử nghiệm một số võ khí mới, mà dễ thấy nhứt là súng AR15 (tức M16) xuất hiện khoảng năm 1965, và quân nhân Việt Nam sử dụng từ năm 1968; thiết giáp xa Patton 48; phản lực cơ F4-Phantom; oanh tạc cơ B52 lần đầu tiên trên thế giới xuất chiến ở Bình Dương ngày 17-6-1965 trong chiến dịch Arc Light; bột khai quang màu da cam; loại bom bi khi phát nổ phóng ra những chùm bi nhỏ sát thương. (Về việc B52 xuất chiến lần đầu ở Bình Dương, theo John S. Bowman, sđd. tr. 72. Tài liệu về các loại võ khí mới của Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam, theo các website: HISTORY: Weapons of the Vietnam War: https://www.history.com/topics/vietn...he-vietnam-war và Vietnam Equipment: https://www.pritzkermilitary.org/exp...nam-equipment/. )

    Cũng trên chiến trường Việt Nam, Hoa Kỳ lại có cơ hội theo dõi, nghiên cứu những loại võ khí mới của Liên Xô viện trợ cho quân đội CS sử dụng ở Việt Nam. Ngoài các loại súng của CS như AK-47, Hoa Kỳ còn nghiên cứu các loại xe thiết giáp của Liên Xô và các loại hỏa tiển phòng không của Liên Xô.

    Điểm quan trọng là khi đến Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ hành động theo chủ trương chính sách của Hoa Kỳ, quan điểm của Hoa Kỳ, cho lợi ích của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ ít quan tân đến đề nghị, nguyện vọng và quyền lợi của phía VNCH. Ví dụ cố vấn Hoa Kỳ huấn luyện quân sự theo lý thuyết chiến tranh của Hoa Kỳ, dựa trên hỏa lực tối tân và dồi dào mà không dựa trên điều kiện Việt Nam, hoặc Hoa Kỳ không tìm ra đối sách chống lại du kích, mà Hoa Kỳ bác bỏ các đề nghị bắc tiến của các tướng lãnh VNCH để chận đứng du kích CS ở NVN; và Hoa Kỳ cản trở kế hoạch của VNCH sản xuất đạn dược để VNCH tự cung ứng nhu cầu chiến tranh…

    Người Hoa Kỳ tính toán tinh vi đến nỗi vào năm 1972, BVN tràn quân qua vĩ tuyến 17, tấn công VNCH. Viện dẫn lý do nầy, Quân đoàn I đưa ra đề nghị đánh thẳng qua sông Bến Hải, nhằm đe dọa hậu cứ địch, nhưng cố vấn Mỹ không đồng ý. Lo ngại Quân đoàn I có thể tự ý tiến quân ra BVN, các cố vấn Mỹ giới hạn việc cấp bổng tiếp vận cho Lữ đoàn 1 Kỵ binh 20 gallons xăng mỗi ngày cho một xe, đạn pháo binh chỉ được bắn 5 quả mỗi ngày cho một khẩu và ngưng tiếp tế lương khô cho Lữ đoàn. (Hà Mai Việt, Thép và Máu, Thiết giáp trong chiến tranh, Texas: 2005, tr. 103.)

    Khi quyết định rút lui khỏi NVN, Hoa Kỳ vận động ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973 gọi là 4 bên, nhưng thật sự chỉ giữa Hoa Kỳ và BVN trong khi NVN bị ép phải ký. Trong hiệp định nầy, chương II về “Chấm dưt chiến sự - Rút quân”, điều 2, quy định rằng Hoa Kỳ sẽ rút hết quân về nước, nhưng qua điều 3 khoản b, thì bộ đội BVN vẫn đóng lại ở NVN. Phía BVN hớn hở xem đây là một thắng lợi của CS vì Hoa Kỳ dứt khoát bỏ rơi NVN, và CS tin rằng sẽ dễ dàng tiếp tục tấn công NVN.

    Sau đó điều 21 (chương VIII) viết như sau: “Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và toàn Đông Dương.” Hai bên thương lượng và thỏa thuận Hoa Kỳ sẽ giúp BVN 3,25 tỷ Mỹ kim để tái thiết. Richard Nixon gởi thư cho Phạm Văn Đồng ngày 1-2-1973 xác nhận điều nầy. Trong thư, phần phụ lục ghi thêm rằng việc giúp đỡ “sẽ được thực hiện bởi mỗi bên theo các điều khoản hiến pháp của mỗi nước.” (Lê Quỳnh, “Lá thư mật Nixon và quan hệ Việt-Mỹ”, BBC Việt ngữ 11-5-2008.)

    Khi BVN cưỡng chiếm được Sài Gòn, vi phạm hiệp định Paris, thì không có lý do gì Hoa Kỳ phải tôn trọng những cam kết giúp đỡ nhân đạo cho BVN. Thế là sau khi rút về nước tất cả tù binh Hoa Kỳ bị CS bắt giam, Hoa Kỳ xù luôn một cách hợp lý chuyện 3,25 tỷ Mỹ kim, khỏi cần bồi thường gì cả.

    Về phía VNCH, dầu bị Hoa Kỳ bỏ rơi, quân đội VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu, nên ngoại trưởng Hoa Kỳ là Henry Kissinger đã trù ẻo: “Tại sao họ không chết lẹ đi cho rồi? Điều tệ nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài.” (Lời của Henry Kissinger nói với Ron Nessen. Ron Nessen thuật lại trong sách It Sure Looks Different from the Inside, Chicago: Playboy Press, 1978, tr. 98. Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter trích dẫn, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C & K Promotions, Inc., 1987, tr. 512.) Đến giúp nhau mà sao trù ẻo nhau như thế?

    Tuy nhiên điều tệ hại nhất cho VNCH là vào tháng 2-1975, các loại đạn dược tồn kho chỉ đủ dùng trong khoảng 30 ngày. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa, Virginia: Vietnam Bibliography, 2003, tr. 92.) Hết đạn thì làm sao mà chiến đấu, nên cuối cùng quân đội VNCH phải hạ khí giới. Xin chú ý là cho đến năm 1973, khi quân đội VNCH còn được trang bị đầy đủ, thì bộ đội CS không thắng được trận nào, kể cả vụ CS bất ngờ đánh lén nhân Tết Mậu Thân (1968).

    Chẳng những trù ẻo, truyền thông Hoa Kỳ, giới phản chiến Hoa Kỳ lớn tiếng cố tình đổ lỗi, gán ghép sự thất bại của VNCH năm 1975 hoàn toàn do lỗi VNCH, do hành chánh VNCH “tham nhũng”, do quân đội VNCH “bất tài”, nhằm khỏa lấp chính sách “bất phân thắng bại" (no win policy) và chủ trương “chiến tranh giới hạn” (limited war), rồi bỏ rơi VNCH để bắt tay với TC.

    Khi cần thì tung hô VNCH là “tiền đồn chống cộng”, tổng thống Ngô Đình Diệm là “Winston Churchill of Asia” (lời của phó tổng thống Lyndon Johnson tại Sài Gòn ngày 12-5-1961). Khi không cần thì thảm sát ngày 2-11-1963, rồi sau đó thì “Việt Nam hóa chiến tranh” để mưu cầu một nền “hòa bình trong danh dự” riêng cho Hoa Kỳ, bỏ xó “tiền đồn chống cộng” “sống chết mặc bay”, cúp viện trợ, cúp võ khí, rồi còn trù độc “chết lẹ đi cho rồi.”

    Trong khi đó, vào cuối tháng 4-1975, Graham Martin, đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại VNCH, đến mời tổng thống Trần Văn Hương di tản qua Hoa Kỳ, thì tổng thống Hương từ chối và nhã nhặn đáp rằng: “Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 353.)

    KẾT LUẬN

    Tóm lại, trong cuộc chiến 1954-1975, Liên Xô (LX) và Trung Cộng (TC) viện trợ cho BVN tấn công NVN. Còn Hoa Kỳ viện trợ cho NVN chống lại BVN.

    Từ năm 1920, Nga rồi Liên Xô sử dụng ĐTQTCS làm công cụ để xuất khẩu cách mạng nhằm thành lập một đế quốc kiểu mới gồm các nước CS thuộc quyền Liên Xô. Đệ tam QTCS đã đào tạo HCM thành một gián điệp phục vụ cho mưu đồ nầy của Liên Xô. Liên Xô ở xa Việt Nam, ít có quyền lợi ở Đông Á, giúp BVN vì: 1) HCM được LX đào tạo để làm gián điệp cho LX, du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam, thi hành chủ trương bành trướng của ĐTQTCS. 2) Tranh chấp với TC nên LX viện trợ cho BVN, lôi kéo BVN về phía LX. 3) Giúp BVN chống Hoa Kỳ, kẻ thù của LX từ sau 1945.

    Bành trướng là bản chất cố hữu của những nhà lãnh đạo Trung Hoa. Thời hiện đại cộng thêm tính hiếu chiến và bạo động của chủ nghĩa CS. chiến và bạo động của chủ nghĩa CS. Trung Cộng đã góp phần rất lớn giúp CSVN thành công trong cả hai cuộc chiến 1946-1954 và 1954-1975. Trung Cộng giúp BVN vì: 1) Bảo vệ an ninh biên giới phía nam TC. 2) Bành trướng và tìm đường tiến xuống ĐNA. 3) Ngăn chận ảnh hưởng của Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ trở thành cường quốc nguyên tử từ năm 1945, đứng đầu khối tư bản sau thế chiến thứ hai, đến giúp NVN vì: 1) Muốn xây dựng NVN thành tiền đồn chống cộng, bảo vệ Hoa Kỳ từ xa. 2) Chống Liên Xô và sự bành trướng của chủ nghĩa CS. 3) Bao vây TC, ngăn chận TC xuống ĐNA. Tuy nhiên, do tính thực dụng, cấp tiến, sẵn sàng thay đổi để tiến bộ và phát triển, nên sau khi liên lạc và thỏa hiệp với TC, thì Hoa Kỳ bỏ rơi NVN và rút ra quân về nước.

    Trong khi đó, BVN nhờ viện trợ Liên Xô và TC, xâm lăng NVN nhằm bành trướng quyền lực và phủ sóng CS lên toàn cõi Việt Nam. Nam Việt Nam yếu thế, không lẽ ngồi chờ chết, đành phải nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ để tự vệ. Hai bên có hai cách viện trợ khác nhau: Đảng CS Liên Xô và TC độc tài đảng trị, bí mật viện trợ không cần thông qua quốc hội, và viện trợ cho BVN từ đầu đến cuối cuộc chiến (1975). Hoa Kỳ là nước dân chủ, viện trợ cho NVN phải công khai thông qua quốc hội; và đến năm 1972 thì quốc hội Hoa Kỳ ra lệnh giảm thiểu và chấm dứt viện trợ.

    Hai bên Bắc và Nam Việt Nam đánh nhau bằng võ khí của ngoại bang. Dân chúng cả hai bên đều chết vì võ khí của ngoại bang. Hàng trăm ngàn thanh niên cả hai bên đã nằm xuống, nhưng ý nghĩa khác nhau:

    - Thanh niên Trung Cộng chết vì âm mưu của tập đoàn CS Bắc Kinh, số lượng không đáng kể.

    - Trên 58,000 thanh niên Hoa Kỳ tử trận ở Việt Nam là ân nhân của NVN vì bảo vệ nền tự do của NVN, đồng thời vừa vì sứ mệnh ngăn chận CS từ xa của Hoa Kỳ.

    - Hàng trăm ngàn thanh niên Bắc Việt Nam thiêu thân trong cuộc xâm lăng NVN vì tham vọng bành trướng chủ nghĩa CS và giấc mộng quyền lực của giới lãnh đạo BVN. Nữ văn sĩ Dương Thu Hương, vào đến Sài Gòn năm 1975, đã ngồi khóc bên vệ đường vì bà nghĩ rằng tuổi thanh xuân của bà “bị hy sinh một cách uổng phí” (nguyên văn lời của Dương Thu Hương).

    - Hàng trăm ngàn thanh niên Nam Việt Nam hy sinh vì lý tưởng tự do dân chủ, bảo vệ nền độc lập và sự sống còn của miền NVN, và bảo vệ nền văn hóa dân tộc cổ truyền còn được bảo lưu ở NVN.

    Cuối cùng người Việt Nam ở cả hai bên lãnh đủ bom đạn ngoại bang. Nước Việt Nam bị tàn phá trầm trọng. Cả hai bên, Nam và Bắc Việt Nam, đều bị các thế lực ngoại bang dùng viện trợ chi phối theo quyền lợi của ngoại bang. Đây là kinh nghiệm xương máu đau thương nhớ đời cho người Việt Nam ở cả hai bên, không thể tin tưởng bất cứ ngoại bang nào, dù cộng sản hay tư bản.

    TRẦN GIA PHỤNG
    (Houston, 17-3-2019)
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  6. #6
    Năm 1957 Lê Duẫn được điều ra Hà Nội được chọn làm quyền Tổng bí thư, tháng 10-1958 Bộ Chính trị cử Lê Duẩn vào Nam và tháng 1-1959 ông quay về Hà Nội mô tả phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam chống Mỹ-Diệm và thúc dục Bộ chính trị ủng hộ cuộc tranh đấu vũ trang. Hội nghị Trung ương khóa 15 tổ chức tháng giêng 1959 kết thúc ra nghị quyết chuẩn bị phương hướng “khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm”. Nghị quyết 15 sau này được xem là nền tảng chỉ đạo cho công cuộc vũ trang ở miền Nam vào cuối thập niên 1950, nó quyết định tiếp tục công cuộc đấu tranh vũ trang ở miến Nam. Hà Nội đồng ý góp quân và tiếp viện, tháng 8-1959 đơn vị quân miền Bắc đầu tiên lên đường vào Nam qua tuyến vận tải dọc theo dẫy Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh).
    Lê Duẩn là nhân vật chính khởi động cuộc chiến người Việt giết người Việt, đưa đất nước vào thảm cảnh hoang tàn, núi xương sông máu.

    Lê Duẩn Và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam…


    Trong Đạt:


    Trong mắt của bao thế hệ người Việt, chính Lê Duẩn là người có tội với dân tộc Việt Nam, ông ta là tác giả của bao nhiêu lỗi lầm tai hại, đưa Việt Nam theo đường lối Nga sô

    Posted By: Trọng Đạt : April 18, 2016



    Sự nghiệp chính trị

    Lê Duẩn giữ chức vụ Bí thư thứ nhất đảng Lao động VN từ 1960-1976, Tổng bí thư đảng CSVN từ 1976-1986. Ông là người giữ chức Tổng bí thư lâu nhất 25 năm và 303 ngày, người có uy quyền cao nhất của CSVN như Tập Cận Bình, Đặng Tiểu Bình bên Tầu. Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội người ta chỉ biết có bốn nhân vật chủ chốt Hồ, Giáp, Chinh, Đồng; khi ấy Lê Duẩn không được ai nhắc tới vì hoạt động ở trong Nam. Ông ta là một nhân vật quan trọng của Cộng Sản Việt Nam, là người đã vạch ra chiến lược cách mạng với cuốn “Đề cương cách mạng miền Nam”. Từ bản đề cương này, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam nổ ra, dọn đường cho cuộc chiến xâm lược miền nam.

    Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị trong một gia đình nông dân, mất ngày 10-7-1986. Năm 1920 học hết tiểu học rồi hết năm thứ nhất trung học (đệ thất) rồi nghỉ. Năm 1926 Duẩn làm nhân viên sở hỏa xa, bẻ ghi đường rầy xe lửa Đà Nẵng. Năm 1930 ông gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1931 là ủy viên tuyên huấn Bắc kỳ, tháng 4-1931 bị Pháp bắt ở Hải Phòng kết án 20 năm tù, năm 1936 được trả tự do.

    Năm 1939 Lê Duẩn được bầu vào Ban thường vụ trung ương đảng, năm 1940 bị Pháp bắt đầy ra Côn đảo án tù 10 năm, đến 1945 cách mạng tháng Tám thành công, ông được đón về, năm 1946 làm việc bên Hồ Chí Minh. Từ 1946-1954 Duẩn làm Bí thư xứ ủy Nam bộ, Chính ủy Bộ tư lệnh Nam Bộ. Năm 1951 ông được vào Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) và Bộ chính trị trong kỳ Đại hội đảng lần 2. Năm 1952 Duẩn ra Việt Bắc họp Trung ương đảng được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá tới đầu năm 1954, được cử làm quyền bí thư Trung ương cục miền nam.

    Năm 1954-1957 ông được phân công ở lại miền nam lãnh đạo, tới 1957 Lê Duẩn được Hồ Chí Minh gọi ra Hà Nội gấp để giữ chức quyền Tổng bí thư đảng thay thế Trường Chinh bị ép từ chức vì Cải cách ruộng đất. Tháng 9-1960 tại Đại hội toàn quốc lần thứ III, ông được bầu vào BCHTƯ và Bộ chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất. Từ 1960 theo một số nhận định HCM sức khỏe yếu, Lê Duẫn trở thành người có quyền hành cao nhất.

    Trên BBC Tiếng Việt (từ ngày 2-5-2006) có đăng một loạt 4 bài về Lê Duẩn, nội dung cho thấy nhân vật này đã ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến Việt Nam lần thứ hai (1960-1975), xin sơ lược dưới đây.

    Bài 1- Nhìn lại vai trò của Lê Duẩn (ngày 2-5-2006).

    Năm 1956 cuộc Tổng tuyển cử thống nhất không diễn ra, Lê Duẩn thúc dục Hà Nội chuyển sang đấu tranh vũ lực tại miền nam VN. Ban Lãnh đạo đảng không muốn thông qua phương án này, theo Giáo Sư Pierre Asselin (Đại học Chaminade, Honolulu) nói Hà Nội không muốn khiêu khích sợ Mỹ can thiệp, vả lại cuộc Cải cách ruộng đất đã đưa tới nhiều vấn đề, Đại hội đảng Nga sô năm 1956 (lần thứ 20) Nikita Khrushchev.chủ trương sống chung hòa bình với Mỹ.

    Trung ương đảng họp tháng 9-1956 buộc Trường Chinh từ chức sau những sai lầm của Cải cách ruộng đất, ông Hồ Chí Minh Chủ tịch đảng khiêm luôn Tổng bí thư. Cuối năm 1956 Lê Duẩn gửi ra Hà Nội Đề Cương Cách Mạng Miền Nam, đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất của CSVN sau năm 1954, sẽ lược thuật sau.

    Bài 2- Bắt đầu cuộc thâu tóm quyền lực (4-2-2006).

    Năm 1957 Lê Duẫn được điều ra Hà Nội được chọn làm quyền Tổng bí thư, tháng 10-1958 Bộ Chính trị cử Lê Duẩn vào Nam và tháng 1-1959 ông quay về Hà Nội mô tả phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam chống Mỹ-Diệm và thúc dục Bộ chính trị ủng hộ cuộc tranh đấu vũ trang. Hội nghị Trung ương khóa 15 tổ chức tháng giêng 1959 kết thúc ra nghị quyết chuẩn bị phương hướng “khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm”. Nghị quyết 15 sau này được xem là nền tảng chỉ đạo cho công cuộc vũ trang ở miền Nam vào cuối thập niên 1950, nó quyết định tiếp tục công cuộc đấu tranh vũ trang ở miến Nam. Hà Nội đồng ý góp quân và tiếp viện, tháng 8-1959 đơn vị quân miền Bắc đầu tiên lên đường vào Nam qua tuyến vận tải dọc theo dẫy Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh).

    Hồ Chí Minh – Lê Duẩn

    Đảng Lao Động VN tổ chức Đại hội 3 tháng 9-1960 đưa ra hai mục tiêu.
    – Cách mạng XHCN miền Bắc
    – Giải phóng miền Nam

    Năm trăm bẩy mươi sáu (576) đại biểu đã bầu Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất, đứng đầu Bộ chính trị, theo Bùi Tín thì Lê Duẫn ở tù lâu nhất nên được giao trọng trách, thực ra ông ta có nhiều kinh nghiệm ở miền Nam.

    Bài 3- Cuộc đấu tranh trong nội bộ (10-5-2006).

    William Duiker, trong cuốn Hồ Chí Minh (2000), cho rằng vai trò của ông Hồ thập niên 60 bị suy giảm cho tới 1965 chỉ mang tính lễ nghi, Võ Nguyên Giáp bị cô lập. Lê Duẩn và những người đã hoạt động trong Nam ủng hộ đánh vũ trang trong khi Võ Nguyên Giáp thận trọng. Duẩn là người khao khát quyền lực tuyệt đối như Staline, Mao Trạch Đông và ông ta cô lập Hồ, Giáp để thiết lập một bộ máy chính trị trung thành, lập một bộ máy lãnh đạo ở Hà Nội không chỉ trung thành mà còn chung quyết tâm hoàn tất các mục tiêu cách mạng (Pierre Asselin nhận xét).

    Năm 1963 các Sứ quán Đông Âu tại Hà Nội đã báo cáo BV ngày càng phản ảnh quan điểm thân Trung Cộng, chống chủ nghĩa xét lại của Nga chủ trương sống chung hòa bình. Lê Đức Thọ cánh tay mặt của Duẩn chỉ trích những đảng viên theo chủ nghĩa xét lại của Nga và cô lập những người này. Tại Hội nghị Trung ương ông Giáp, giống như ông Hồ, chấp nhận chủ trương “chung sống hòa bình” mà Liên Xô đưa ra lúc bấy giờ, đồng thời tin rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh quân sự ở miền Nam.

    Lê Duẩn – Lê Đức Thọ

    Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9 năm 1963 Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và Hội nghị kết thúc với nghị quyết đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.

    Năm 1964 Khrushchev bị hạ bệ, Mỹ oanh tạc Bắc Việt, năm sau đổ quân vào miền nam khiến Hà Nội và Moscow gần nhau hơn. Kể từ đó, ông Lê Duẩn và các đồng minh cảm thấy đủ tự tin để theo đuổi chiến dịch loại bỏ chủ nghĩa xét lại một cách công khai và gay gắt hơn.

    Bài 4- Một di sản gây tranh cãi (19-5-2006).

    Khi Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất, Lê Đức Thọ được cử làm Trưởng ban tổ chức trung ương Đảng (Lao Động), Lê Đức Thọ làm phụ tá cho Lê Duẩn, Thọ đã cài đặt những người thân tín vào Đảng củng cố guồng máy của Lê Duẩn. Năm 1966 Võ Nguyên Giáp viết một bài nói về cuộc chiến miền Nam có thể kéo dài mất nhiều năm, ông không tin vào “các trận đánh sử dụng đơn vị chính quy lớn vì điều này có lợi cho chiến lược của kẻ thù.”

    Tướng Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm Tổng cục chính trị) bèn phản ứng, ông này viết bài đăng ở Tạp chí Học Tập nói ông tin tưởng vào chiến lược tấn công ở miền Nam (đánh chính qui) là đúng, những người chỉ trích (tức Võ Nguyên Giáp) là không logic.

    Tác giả Robert Brigham trong bài “Why the South won the American war in Vietnam” cho biết đã từ lâu Võ Nguyên Giáp công khai nghi ngờ chiến lược của Tướng Nguyễn Chí Thanh. Lê Duẩn tạo cơ hội cho Tướng Thanh, ông ta thành công khi tạo một thần tượng mới trong quân đội nhân dân.
    Nguyễn Chí Thanh qua đời đột ngột năm 1967, quan điểm của ông cho rằng cuộc chiến không thể thắng lợi nếu thiếu hỗ trợ của các đơn vị chính quy lớn, tiếp tục giữ ảnh hưởng ở Hà Nội. Từ cuối 1965 đến 1975, ngày càng nhiều các sư đoàn bộ binh chính quy được đưa từ miền Bắc vào Nam. Lê Duẩn làm giảm uy tín của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp và đưa những người trung thành lên để tạo quyền lực tối cao.

    Pierre Asselin có viết một bài về Lê Duẩn khi ông này chết năm 1986 thì CSVN gần Bắc Kinh hơn vì Duẩn chống Tầu. Các nhà nghiên cứu cho rằng Hà Nội tự chủ trong chiến tranh chống Mỹ thời Lê Duẩn, hợp tác Nga Tầu nhưng không phải là con rối của họ, đem xương máu ra để làm lợi cho họ. Sau 1986 khi Duẩn chết CSVN phân bố quyền lực rộng hơn và không cho tập trung trong tay một số người.

    Đề cương cách mạng miền nam

    Cuối năm 1956 tại miền nam VN, Lê Duẩn gửi ra Hà Nội bản Đề Cương Cách Mạng Miên Nam, một trong những tài liệu quan trọng nhất của CSVN sau năm 1954, một bản báo cáo đại cương về cuộc cách mạng tại miền Nam. Lê Duẩn không chấp nhận sống chung hòa bình và tiến hành cách mạng chống Mỹ -Diệm.

    Tài liệu này dài hơn 30 trang, vì phạm vi giới hạn của bài viết, tôi xin tóm lược như sau:

    Đề cương cách mạng miền nam được soạn tháng 8-1956 gồm có 5 phần:

    1- Ba nhiệm vụ chính của cả nước: Củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam, tranh thủ ủng hộ trên thế giới. Phải đấu tranh ở miền Nam vì Mỹ Diệm áp bức nặng nề, sự nghiệp hòa bình thống nhất bị phá hoại. Cả nước có nguy cơ bị chúng xâm chiếm, nhân dân miền nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ-Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng, không còn đường nào khác

    2- Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng cách mạng miền Nam: Mục đích chung giữ gìn hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Nhân dân miền nam bị Mỹ-Diệm áp bức, bóc lột khủng bố trà thù, thợ thuyền đói khổ, nạn thất nghiệp gia tăng, dân cầy bị cướp đất, sưu cao thuế nặng, tù đầy tại khắp nông thôn. Tự do dân chủ bị bóp nghẹt, nhân dân miền Nam phải đứng lên đập tan chế độ độc tài phát xít Mỹ -Diệm, trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, giải phóng nhân dân miền nam khỏi ách đế quốc phong kiến, thực hiện chính quyền liên hiệp.

    Mỹ -Diệm là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, ta có chính nghĩa sẽ vùng lên đập ta chế độ phản dân hại nước.

    3- Yêu cầu và khẩu hiệu của cuộc đấu tranh ở miền Nam: Mỹ-Diệm ra sức phá hoại tổng tuyển cử, nhân dân sẽ đứng lên đập tan âm mưu Mỹ-Diệm. Tự do, dân chủ là yêu cầu bức thiết bảo đảm tài sản, tính mạng nhân dân. Quân lính của Diệm ruồng bố bắn giết nhân dân, coi mạng người như cỏ rác. Chính sách tài chính thuế khóa đi ngược nguyện vọng của nhân dân.

    4- Hình thức đấu tranh, khả năng phát triển cách mạng: Liên xô với Đại hội CS lần thứ 20 (1956) chủ trương giải quyết thương lượng hòa bình. Chúng ta muốn chống Mỹ-Diệm chỉ có mỗi một con đường cách mạng nhưng phát triển theo đường lối hòa bình lấy lực lượng chính trị nhân dân làm chỗ dựa chứ không phải bằng lực lượng vũ trang, bạo lực của quần chúng đóng vai trò quyết định. Đấu tranh chống chính quyền độc tài phát xít như Mỹ-Diệm bằng đường lối hòa bình có đạt mục đích cách mạng không?

    Đấu tranh hòa bình có khả năng đánh lùi những bạo lực Mỹ-Diệm, đẩy mạnh cách mạng bằng đường lối hòa bình phù hợp với nguyện vọng của nhân dân thế giới “lấy nhân nghĩa thắng cường bạo”. Đảng tin sức chiến đấu của quần chúng sẽ tạo một lực lượng chính trị đánh bại chính sách bạo lực của Mỹ-Diệm. Đấu tranh làm sụp đổ chính quyền phản động cần một quá trình lâu dài, nhiều giai đoạn.

    5- Bài học lịch sử, những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam: Nay ta mới thành công giải phóng dân tộc được một nửa nước, nhiệm vụ cách mạng phải hoàn thành trong cả nước. Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ở nông thôn nhiệm vụ chiến lược của ta là đoàn kết trung, bần cố nông liên hiệp với phú nông, đánh đổ địa chủ phong kiến.

    Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng bộ và đồng bào miền Nam quyết tâm chiến đấu bền bỉ anh dũng xây dựng một nước VN hòa bình thống nhất.

    Lê Duẩn gửi ra Hà Nội bản Đề cương này vào cuối năm 1956, vài tuần trước Phiên họp lần 11 của Ban Chấp hành.

    Trong một cuộc họp của cán bộ miền Nam tại Nam Vang đầu tháng 12-1956, Bản Đề cương đã được bổ sung và có đề cập tới tranh đấu vũ trang trước khi Duẩn đệ trình cho Hà Nội. Sau khi thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương đồng ý cho gia tăng hạn chế hoạt động quân sự ở miền Nam, sau đó được Bộ Chính trị thông qua.

    Tài liệu quan trọng này thể một khúc quành lịch sử: Hà Nội xử dụng quân sự để chiếm miền Nam thay vì sống chung hòa bình. Lê Duẩn là nhân vật chính khởi động cuộc chiến người Việt giết người Việt, đưa đất nước vào thảm cảnh hoang tàn, núi xương sông máu.

    (5 kỳ, còn tiếp)

    Đường mòn HCM



    ****

    Nếu địa lý như Nam Hàn bao bọc bởi biển thi tình hình đã khác.

    LNHiep

    Last edited by Lê Nguyễn Hiệp; 07-12-2019 at 08:48 AM.
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  7. #7
    Cuộc Tổng công kích do Lê Duẩn chỉ đạo cho thấy chính sách thí quân dã man và tính đa sát điên cuồng của y: nhiều chục vạn thanh niên bị đẩy vào tử địa, mấy chục thị xã, tỉnh thành bị đốt phá, hàng vạn người dân vô tội bị tàn sát để thỏa mãn tham vọng xuẩn động của một tên độc tài thất học.

    Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai 1960-1975

    Cuộc chiến 1946-1954 được gọi là cuộc chiến Đông dương lần thứ nhất và giai đoạn 1960-1975 là Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.

    Năm 1957 Lê Duẩn được điều ra Bắc phụ trách quyền Tổng bí thư đảng chia xẻ trách nhiệm với Chủ tịch. Năm 1959 đơn vị quân miền Bắc đầu tiên lên đường vào Nam tháng 8-1959. Cuối năm sau ngày 20-12-1960 Mặt trận Giải phóng Miền Nam được thành lập tại xã Tân Lập Tây Ninh, thực ra chỉ là công cụ của Hà Nội, cuộc chiến tranh du kích bắt đầu từ những năm cuối thập niên 50.

    Giai đoạn từ 1960 tới 1963, cuộc chiến chưa mở lớn, Nga Sô hòa hoãn với Mỹ nên Lê Duẩn chưa dám làm mạnh, ngoài ra Duẩn chưa nắm được nhiều quyền lực nên còn thận trọng.

    Giai đoạn từ 1964 cho tới 1968, Lê Duẩn phần nhờ có phụ tá Lê Đức Thọ cài đặt các nhân vật thân tín trong đảng và nhất là vì Hồ Chí Minh bệnh hoạn khiến Lê Duẩn ngày càng thu tóm nhiều quyền lực. Sau khi Khrushchev bị hạ bệ, chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, CSBV bắt đầu đưa đưa quân chính qui xâm nhập, năm sau 1965 Mỹ đưa quân ồ ạt sang VN.

    Năm 1961 chiến tranh du kích khởi sự tại miền nam VN, đầu năm lực lượng Việt Cộng 5,500 người cuối năm tăng gấp 5 lần (25,000). Ngày 18-9-1961 hai tiểu đoàn VC chiếm tỉnh lỵ Phước Thành trọn một ngày, giết tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và 10 công chức, tổng cộng có 17,000 cán binh xâm nhập miền nam. Ngày 18-10-1961 Tổng thống VNCH ban hành tình trạng khẩn cấp toàn quốc (1). Tổng thống Kennedy mới nhậm chức cho tăng quân số VNCH từ 170,000 lên 200,000 người, gia tăng Cố vấn huấn luyện tới 3,200 người. Năm 1962 Mỹ vội viện trợ cho VNCH ba đại đội trực thăng H-21, 16 phi cơ vận tải C-123, hai chi đoàn thiết giáp M-113 (2). Kennedy cho tăng số cố vần Mỹ, năm 1960 có 800 quân nhân Mỹ tại VN, cuối 1961 lên 3,000, năm 1962 lên 11,000.

    Việt Cộng bị bao vây tiêu diệt dần dần, quân đội VNCH nhờ chiến thuật, vũ khí mới đã đạt thắng lợi năm 1962, địch bị mất tinh thần.

    Năm sau 1963, chính phủ Ngô Đình Diệm bị sa lầy vì vụ Phật giáo khởi đầu từ giữa 1963 cho tới 1-11-1963 thì hoàn toàn sụp đổ.

    Ngày 22-11-1963, Tổng thống Kennedy bị ám sát tại Dallas.

    Phó tổng thống L.B Johnson lên thay, chính trị miền Nam ngày càng xáo trộn. Năm 1964 hỗn loạn, đảo chính, tranh quyền, biểu tình, tuyệt thực…Trong khi CS ngày càng gia tăng xâm nhập (3). Năm 1964 Khrushchev bị hạ bệ, Brezhnev tiếp tục giúp CSVN dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu, nhất là thập niên 70, Nga viện trợ quân sự cho BV rất nhiều để chiếm miền nam. Nga và Trung Cộng gia tăng viện trợ quân sự (4) Johnson gửi thêm cố vấn lên 23,300 người tính tới cuối năm 1964 (5).

    Nhân vụ tầu Maddox bị hải quân CS tấn công tại Vịnh Bắc Việt đầu tháng 8-1964, ngày 7-8 Johnson đưa ra Quốc hội để được ủng hộ can thiệp vào VN và đã được ủng hộ tối đa tại lưỡng viện Quốc hội, được thông qua lấy tên là Tonkin Gulf Resolution, Đạo luật Vịnh Bắc Việt (6). Sách báo, thống kê về giai đoạn này (nhất là 1964) đều nói đại đa số người dân, thậm chí có tài liệu nói theo thăm dò 78% hoặc 85% người dân ủng hộ cuộc chiến (7).
    TT Johnson tin tưởng kế hoạch oanh tạc giới hạn tại BV sẽ khiến họ chấm dứt cuộc xâm lăng nhưng đó là một sai lầm lớn, ngày 3-11-1964 ông đắc cử TT. Tình hình an ninh miền nam VN ngày càng xấu, TT Johnson e ngại cuộc chiến sẽ làm hỏng nhiệm kỳ và chương trình phúc lợi xã hội của ông như: Medicaire, Medicaid, Nhân quyền…Đầu tháng 3-1965, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến, ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Tổng thống và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào miền nam để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (8). Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ, trung bình mỗi tuần mất một tiểu đoàn và một quận (9), giữa tháng 7-1965 McNamara sang viếng Sài Gòn quan sát tình hình và báo cáo cho Tổng thống biết tình hình tồi tệ hơn năm ngoái (1964), VNCH có thể sụp đổ trong vòng 6 tháng (10) khiến Johnson quyết định tăng quân, leo thang chiến tranh.

    McNamara nói (11) sáu tháng (28-1 tới 28- 7-1965) là giai đoạn quyết liệt trong 30 năm can thiệp, Hoa Kỳ can thiệp vào VN ồ ạt về quân sự. Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965) và khoảng 100,000 cho năm sau và còn tăng thêm nữa.

    Năm sau 1966 tăng quân lên 385,300 người năm 1967 lên 485,600, 1968 lên 536,100 trong khi đó QĐVNCH tăng 1963 từ 243,000 người lên 514,000 năm 1964, lên 642,500 người năm 1965, lên 735,900 người 1966, lên 798,700 năm 1967, lên 820,000 năm 1968…(12)

    CSBV cũng gia tăng xâm nhập, bị tổn thât nặng nhưng họ vẫn tuyển quân và đưa người vào Nam, Mỹ ước lượng cuối 1967 có 180,000 quân BV và VC bị giết. Địch bớt xâm nhập nhưng gia tăng tuyển quân. Mặc dù Tướng Westmoreland mở chiến dịch lớn cuối 1967 cuộc chiến vẫn là những đụng độ nhỏ, địch chỉ đánh khi lợi thế. Mỹ tuy mạnh nhưng không tiêu diệt được VC.

    Từ 1965 tới 1968 VC đánh du kích không dám trực diện với hỏa lực dữ dội của Mỹ. Johnson-McNamara áp dụng chiến tranh giới hạn về oanh tạc cũng như tại mặt trận trên bộ, không cho đánh qua biên giới Miên Lào nên đã kéo dài cuộc chiến đưa tới chống đối tại đất nhà. Chiến lược lùng và diệt địch của Westmoreland mặc dù tiêu diệt được nhiều địch nhưng họ vẫn chạy qua bên kia biên giới khi bị truy kích.

    Sai lầm lớn nhất của Johnson là giao nhiều quyền cho McNamara, một nhà dân sự không hiểu biết gì về quân sự. Nhiều sử gia, chính khách đã đánh giá thấp khả năng McNamara, ông ta thất bại trong chiến dịch oanh tạc cũng như bình định miền Nam. Sau này các Tướng lãnh cho biết Bộ tư lệnh Mỹ bó tay trước chính sách hạn chế của Johnson-McNamara, áp dụng chiến tranh hạn chế là một sai lầm lớn (13), vì không cho đánh qua miên, Lào khiến cho kế hoạch lùng diệt địch không đạt mục đích mong muốn.

    Tỷ lệ ủng hộ cuộc chiến giảm dần, cuối 1965 là 61%, cuối 1966 trên 51%, cuối 1967 khoảng 48%, đầu 1968 còn 42%, cuối 1968 chỉ còn 37% (14), địch kéo dài chiến tranh để gây phản chiến tại Mỹ.
    Cuối năm 1967 các viên chức Mỹ ước lượng 180,000 tên địch bị giết tính từ 1965 tới cuối 1967 (15). Sự thực số này có thể nhiếu hơn vì năm 1968, trong cuộc phỏng vấn dành cho nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân trong cuộc chiến.

    Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân

    Theo tài liệu phía CS: “Sự kiện Tết Mậu Thân” (Bách khoa toàn thư, Wikipedia tiếng Việt) cho biết Lê Duẩn là người chỉ đạo chiến dịch này, nhằm đánh thẳngvào sào huyệt địch tại các thành phố, thị xã. Lê Duẩn đứng đầu trong số các nhân vật chỉ huy chiến dịch, kế đó là Văn Tiến Dũng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái. Duẩn là người chủ trương đánh lớn để tạo khúc quành cuộc chiến.


    Trong bài “Tướng Võ Nguyên Giáp và tiến trình bí ẩn của kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân (1968)” của Merle L. Pribbenow (Nguyễn Việt dịch đăng trên trang mạng Talawas, năm 2010) cũng có nói kế hoạch này của Lê Duẩn nhằm giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng. Địch chủ trương tổng công kích và kêu gọi quần chúng nổi đậy đánh đổ chính quyền tay sai. Tổng cộng có ba đợt Đợt 1: 30-1 đến 28-3, Đợt 2: 5-5 đến 15-6, Đợt 3: 17-8 đến 30-9

    Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (mồng một Tết Mậu Thân). Suốt từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau. Các lực lượng vũ trang CS bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quận lỵ.

    Theo tài liệu VNCH (16) CSBV huy động khoảng 100 tiểu đoàn vào cuộc tổng công kích qui mô này, tổng cộng 84,000 người. Tối mồng một tết tại Sài Gòn Cộng quân tấn công Bộ Tổng Tham mưu, Dinh Độc Lập, Bộ Tư Lệnh Hải quân, phi trường Tân Sơn Nhất địch tấn công đồng loạt 28 tỉnh và thị trấn. Hà Nội ra lệnh hoãn cuộc tấn công 24 giờ đồng hồ, các tỉnh miền Trung như Nha Trang, Bình Định, Pleiku.. khai hoả trước nên miền Nam kịp thời cảnh giác.

    Vì TT Johnson không cho đánh qua biên giới nên địch vẫn từ biên giới trở về tấn công VNCH và Mỹ. Năm 1968 chúng từ các căn cứ Miên, Lào về mở chiến dịch Tổng công kích Tết Mậu Thân.

    Thực ra chỉ có giai đoạn I trong tháng 2 là quan trọng vì địch có yếu tố bất ngờ nhưng dù vậy họ cũng vẫn bị đè bẹp, hơn 80% số VC bị giết thuộc giai đoạn I. Hậu quả là 100 tiểu đoàn VC bị tan rã gần hết, có tới 70 % bị tử thương, 11% bị bắt làm tù binh, các cơ sở nằm vùng bị bại lộ, tiêu diệt. Theo tài liệu của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trong tháng 2 -1968 VC bị giết 41,180 người, tháng 3-68 bị bắn hạ 17,192 người tổng cộng 58,372 người, có 9,461 người bị bắt làm tù binh. Trong số 84,000 cán binh được đưa vào trận Tổng công kích chỉ còn 16,168 tên chạy thoát, chưa tới 20%, VNCH có 4,950 người tử trận, 926 người bị mất tích, 15,097 người bị thương. Phía Đồng minh có 4,120 người tử trận, 19, 265 bị thương, 600 người mất tích.
    Miền Nam bị thiệt hại nặng về kinh tế toàn quốc có trên 60,000 căn nhà bị hủy, 13 xưởng kỹ nghệ đổ nát vì bom đạn, 20 hãng xưởng khác bị hư hại, thiệt hại lên tới 25 triệu Mỹ kim. Nạn nhân chiến tranh lên gần 700,000 người, TT Nixon chỉ trích sự lưu manh bất lương của truyền thông Mỹ, mặc dù Mỹ và VNCH thắng lớn nhưng họ đã xuyên tạc sự thật nói CS chiếm ưu thế hoàn toàn, Mỹ thua to (17). Họ không nhắc gì tới cuộc tàn sát đẫm máu của VC tại Huế, chúng đã giết khoảng từ 5 tới 10 phần trăm dân số tại đây nhưng họ lờ đi. Truyền thông chỉ nói sơ sài về sự tàn ác của CS tại Huế và khai thác vụ Mỹ Lai (tháng 3-1968) thật kỹ.

    Mậu Thân 1968 là khúc quành bi thảm cho số phận của VNCH, phong trào phản chiến ngày một gia tăng dữ dội, từ tháng 1-1969 tới tháng 2-1970 (thời Nixon) có tới gần 2 ngàn cuộc biểu tình bạo động, đổ máu, 7,500 người bị bắt 43 người chết kể cả cảnh sát (18). Người Mỹ khởi đầu thương thuyết để rút khỏi Đông Dương.

    Đầu năm 1968 miền Nam Việt Nam đánh thắng một trận lớn nhưng ta thua cuộc chiến. Trận Mậu Thân theo Davidson là chiến thắng quân sự nhưng thất bại chính trị, tâm lý của Mỹ. (19)

    Johnson-McNamara không cho đánh CS bên kia biên giới Miên, Lào nên mới có trận Mậu Thân đưa tới sụp đổ tất cả mọi nỗ lực.

    Cuộc Tổng công kích do Lê Duẩn chỉ đạo cho thấy chính sách thí quân dã man và tính đa sát điên cuồng của y: nhiều chục vạn thanh niên bị đẩy vào tử địa, mấy chục thị xã, tỉnh thành bị đốt phá, hàng vạn người dân vô tội bị tàn sát để thỏa mãn tham vọng xuẩn động của một tên độc tài thất học.

    (còn tiếp)
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  8. #8
    Hậu quả là hàng trăm ngàn cán binh CS đã làm mồi cho B-52, pháo binh, không quân VNCH, cuộc Tổng tấn công 1972 cũng chỉ là trận đánh thí quân lớn qui mô như Tổng công kích Têt Mậu Thân năm 1968

    Lại thêm một sai lầm, một tội ác của Lê Duẩn.


    Cuộc chiến từ 1969, Hành quân vượt biên giới.

    Nixon lên nhậm chức Tổng thống đầu năm 1969 bắt đầu đem quân về nước, phục hồi hòa bình khi phong trào phản chiến lên cao. Ông phải giải quyết vô vàn khó khăn do Johnson để lại.

    VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 phá hủy các căn cứ CSBV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH, để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS, cũng như hồi hương các Việt Kiều đang bị Miên bách hại.

    Cuộc hành quân bắt đầu từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 có kết quả tốt, ruồng bố được mấy chục ngàn tên địch, giết hàng chục ngàn cán binh, tịch thu được trên 20 ngàn vũ khí, phá hủy nhiều cơ sở quân sự, làm suy yếu áp lực địch tại miền Nam VN.

    Chiến dịch để giúp Mỹ dễ dàng rút quân khỏi VN và có thời giờ huấn luyện quân đội miền Nam tự vệ. Tháng 1-1970 Hoa Kỳ còn 542,000 quân tại VN, tháng 7 -1970 khi cuộc hành quân sang Miên chấm dứt chỉ còn 404,000 người. Việt Nam hóa chiến tranh khả quan hơn, Hoa Kỳ đẩy mạnh chương trình rút quân dần.

    Tháng 1-1971 Nixon ban lệnh hành quân cắt đường mòn Hồ Chí Minh, Mỹ giúp chở tiếp liệu và trực thăng vận quân đội VNCH và yểm trợ phi pháo. VNCH tiến sâu khoảng 20 dặm vào đất Lào theo đường số 9 để chiếm tỉnh Tchépone, nơi tập trung các tuyến đường xâm nhập của CSBV, kế tiếp tiến sâu hơn vào vùng xung quanh để phá hủy các cơ sở CS. Trong khi ấy các đơn vị VNCH khác cũng sẽ mở cuộc tấn công tương tự vào các căn cứ CS tại Miên.

    Cuộc hành quân lấy tên Lam Sơn bắt đầu ngày 8-2-1971, Quân đội VNCH chiến đấu anh dũng và hữu hiệu nhưng rồi lại gặp trở ngại. Lực lượng hành quân VNCH gồm Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù, Liên đoàn 1 Biệt động quân và Lữ đoàn 1 Kỵ binh, Sư đoàn TQLC là lực lượng trừ bị, quân số lúc nhiều nhất là 17,000 người.

    BV huy động nhiều sư đoàn, xe tăng, pháo binh… phản công mạnh, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn thiếu yểm trợ không quân. VNCH tiến sâu vào Hạ Lào bị thiệt hại nặng, khi thiệt hại lên tới 3,000 TT Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, VNCH rút lui về phía nam theo đường 914 bị địch truy kích thiệt hại nhiều, cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày.

    Theo Nixon trái với tin tức báo chí Mỹ, cuộc hành quân đạt thắng lợi quân sự. VNCH giết trên 9,000 tên địch , phá hủy 1,123 súng cộng đồng, 3,754 súng cá nhân, 110 xe tăng, 270 xe vận tải, 13,630 tấn đạn dược, 15 tấn đạn hỏa tiễn 122 ly .

    Nguyễn Đức Phương dựa theo tác giả R.H Cole cho biết:

    Mỹ 176 chết, 1,942 bị thương, 42 mất tích, 108 trực thăng và 7 phi cơ bị phá hủy.

    VNCH: 1,483 người chết, 5,420 bị thương, 691 mất tích. Thiệt hại quân dụng: 75 chiến xa và thiết vận xa, 405 xe vận tải bị phá hủy
    CS: 13,535 chết, 69 tù binh. Về quân dụng: 76 đại bác, 106 chiến xa, 405 xe vận tải bị tịch thu hoặc phá hủy; 1,934 vũ khí cộng đồng và 5,066 vũ khí cá nhân bị tịch thu” (2


    Cuộc Tổng tấn công 1972

    Miền Nam VN thường gọi là trận Mùa hè đỏ lửa, phía CS gọi là “Chiến dịch xuân hè 1972” (Wikipedia tiếng Việt), họ nói nó kéo dài từ 30-3-1972 tới 31-1-1973, đánh Trị- Thiên, Bắc Tây nguyên, miền Đông Nam bộ và Nam bộ. Chỉ huy chiến dịch gồm Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, văn Tiến Dũng.


    Đây là trận Tổng tấn công lớn và đại qui mô gấp bội lần Cuộc tổng công kích Mậu Thân, lần này BV đổi sang chiến tranh qui ước với hơn chục sư đoàn có sự yểm trợ của xe tăng, đại bác. Xử dụng những đại đơn vị chính qui như trận này do Lê Duẩn chủ trương, ông ta chịu ảnh hưởng của Tướng Nguyễn Chi Thanh (mất năm 1967), phía CS cho biết:

    “Để giành thắng lợi, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã huy động rất nhiều tân binh cho trận quyết chiến này. Rất đông những người lính lên đường mùa hè 1972 ấy là những thanh niên từ 30 trường đại học – cao đẳng của Hà Nội: gần 10.000 bộ đội gồm sinh viên và cả giảng viên trẻ. Hiện nay ở Nghĩa trang Trường Sơn, ở Thành cổ Quảng Trị có rất nhiều bia mộ của những người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi năm sinh là 1953 hay 1954”

    Họ cũng nói lực lượng CSBV gồm 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập (Nixon trong No more Vietnams trang 150 cũng nói vậy), khoảng 120,000 quân, (chưa kể quân bổ sung) 250-300 xe tăng, ba mặt trận chính:

    Trị Thiên (vùng 1 VNCH) Quảng Trị-Thừa Thiên từ 30-3 tới 31-1-1973, gồm 40,000 quân chính qui (3 sư đoàn 304, 308, 324). VNCH có 2 sư đoàn BB, 2 lữ đoàn TQLC phải dàn mỏng ra nên yếu hơn. Đầu tháng 4-1972 VNCH phải rút, ngày 2-5 Quảng Trị bị BV chiếm.

    Ngày 5-4-1972 Sư đoàn 5 và SĐ7 và một số trung đoàn độc lập từ biên giới tấn công tỉnh Bình Long, chiếm Lộc Ninh ngày 7-4, bao vây An Lộc ngày 13-4.

    Ngày 12-4 Bắc Tây Nguyên nổ súng (Kontum). Sư đoàn 2 (CS) và một số trung đoàn độc lập tấn công Đắc Tô, Tân Cảnh, ngày 24-4 cả Đắc Tô, Tân Cảnh thất thủ.

    Cuộc tấn công có kết quả lúc đầu nhờ bất ngờ, CS đã chọc thủng các phòng tuyến VNCH, ngày 23-4 tại Kontum, Sư đoàn 22BB VNCH rút chạy, Sư đoàn 23BB vẫn giữ vững vị trí. Ngày 27- 4 địch tấn công mạnh mặt trận Bắc VNCH, 4 ngày sau Quảng trị thất thủ.

    Hoa Kỳ phản kích địch nhanh chóng, các đơn vị lớn của CS như xe tăng, tiếp liệu… làm mồi cho không quân Mỹ. Ngày 1-4 Nixon cho lệnh oanh tạc (B-52) 40 cây số phía trên vĩ tuyến thứ 17, oanh kích vĩ tuyến 20, cho tập trung các lực lượng Hải, Không quân Đông nam Á, gửi hai tuần dương hạm và 8 khu trục hạm để hải pháo, 20 B-52, bốn phi đội F4 oanh tạc BV trở lại và nhiều đòn giáng trả tiếp theo đó.

    CSVN công nhận hỏa lực khủng khiếp của Hạm đội Bảy: “việc tập trung nhiều lực lượng xung quanh mục tiêu tiến công đã khiến “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam” đưa lưng hứng trọn hỏa lực, một số đơn vị thiệt hại nặng trước khi nổ súng”.

    Quân đội VNCH sau đó phản công và tái chiếm lại Quảng Trị.

    Trong tháng 5 -1972 VNCH thắng thế, gió đã đổi chiều, Nixon dùng hỏa lực vũ bão đánh BV và đạt kết quả mỹ mãn. Tháng 8 -1972, VNCH chiếm lại tỉnh Bình Long, tại đây phía CS công nhận họ thiệt hại 10 ngàn quân, 25 ngàn thường dân bị giết.

    Ngày 28-6-1972 Quân đội miền Nam bắt đầu tấn công mặt trận phía bắc, mười tuần sau mặc dù mưa gió ba Sư đoàn VNCH đã đẩy 6 Sư đoàn BV ra khỏi Quảng Trị. Tháng 10-1972 Cộng quân phải rút lui.

    Trong trận chiến này BV đưa hết lực lượng vào Nam, họ chỉ để lại một Sư đoàn và bốn trung đoàn độc lập tại Lào, không để lại Sư đoàn nào tại miền Bắc. CSBV bị đánh tơi tả, 75% số xe tăng bị bắn cháy, cán binh CS nay chỉ toàn là những thiếu niên 16, 17 tuổi, số tử thương khoảng 100,000 người. (21)

    Trong bài “Tướng Giáp tiết lộ 4 bí mật về chiến tranh Việt Nam” của Trần Khải Thanh Thủy có nói ông này đã kể lại: Năm 1972, tại Trận Quảng Trị, Tướng Giáp chủ trương lấy ít địch nhiều, lấy yếu tố bất ngờ để tạo thế chủ động, kéo dài du kích chiến để địch suy tổn lực lượng rồi đánh dứt điểm Cổ thành nhưng Lê Duẩn bác bỏ, ông ta đập bàn và quát trong hội nghị:
    “Thế là giảm sút ý chí chiến đấu. Phải cho địch biết thế nào là quả đấm chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vì vậy tôi yêu cầu, cứ đánh vỗ mặt thành cổ Quảng Trị cho tôi. Sống chết, đúng sai tôi chịu trách nhiệm”.

    Tướng Giáp kể tiếp:
    “Kết quả trong suốt 60 ngày đêm của chiến dịch thành cổ, cứ 5 giờ 30 phút chiều, khi trời bắt đầu chập choạng tối, một đại đội ta ở bên này bờ sông Thạch Hãn, lặng lẽ bơi sang để đánh vỗ mặt thành, 8 giờ 30 phút bơi trở về chỉ còn được mươi, mười lăm người. Lần nhiều nhất là 35 đồng chí (cả lành lặn, cả bị thương). Lần ít chỉ còn 5, 7 đồng chí thương tích đầy người, thậm chí có lần cả một khúc sông, không một bóng người, chỉ có tiếng gió hú ghê rợn như những âm hồn vọng vang khắp đáy sông. Như vậy, trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (khoảng 135 người) và 60 ngày đêm tấn công thành cổ ta mất gần một vạn người, biến thành cổ Quảng Trị thành nấm mồ chôn thanh niên, sinh viên, trí thức”

    CSBV đánh giá thấp đối phương, Mỹ-VNCH không cần đi lùng địch mà địch tự đến nạp mạng. Họ bỏ du kích chiến lợi hại sang đánh qui ước là một sai lầm lớn, trong khi Mỹ- VNCH quá thành thạo qui ước vì đã được huấn luyện về cuộc chiến này. Lại nữa phía CS đánh lớn thiếu phi cơ là một khuyết điểm lớn, thời Thế chiến thứ hai, các nước Anh, Mỹ, Đức, Nhật… đều có một lược lượng không quân hùng hậu yểm trợ.

    Hậu quả là hàng trăm ngàn cán binh CS đã làm mồi cho B-52, pháo binh, không quân VNCH, cuộc Tổng tấn công 1972 cũng chỉ là trận đánh thí quân lớn qui mô như Tổng công kích Têt Mậu Thân năm 1968

    Lại thêm một sai lầm, một tội ác của Lê Duẩn.

    Trận chiến 1975

    Cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc là cuộc chiến viện trợ vũ khí đạn dược, cả hai bên đều không làm vũ khí đạn dược mà phải xin viện trợ từ nước ngoài, bên nào vũ khí, tiếp liệu mạnh thì bên đó thắng

    Hiệp định Paris ký ngày 27-1-1973, Hà Nội vi phạm hiệp định sau ngày ngưng bắn, VNCH chống lại. Tháng 2-1973 đã có 175 xe vận tải, 223 xe tăng BV vào Nam qua đường mòn Hồ chí Minh, BV gia tăng xâm nhập.

    Quốc Hội Dân Chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, tháng 6-1973 họ ra luật cắt hết ngân khoản quân sự dành cho Đông Dương của Hành Pháp khiến VNCH không còn hy vọng yểm trợ của không lực Mỹ. (22)
    Sau đó họ cắt giảm viện trợ quân sự xương tủy VNCH mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, (23) khiến cho VNCH suy yếu rõ rệt 35% xe tăng, 50% thiết giáp, máy bay thiếu cơ phận thay thế phải nằm ụ. Vì bị cúp nhiên liệu, khả năng lưu động vận chuyển của quân đội không còn. Hỏa lực giảm từ 60 tới 70% , tháng 3 -1975 đạn chỉ còn đủ xử dụng trong một tháng, giữa tháng 4 chỉ còn đủ cho xài khoảng 10 ngày (24)

    Trong khi đó Viện trợ quân sự của khối CS cho BV không thay đổi (25). Giai đoạn 1969-72 Tổng số 684,666 tấn vũ khí, giai đoạn 1973-75 649,246 tấn coi như tương đương.

    Theo Kissinger (Years of Renewal trang 481) CSBV đã xin được viện trợ của Sô viết tăng gấp bội. Thàng 12/1974, một viên chức cao cấp Nga viếng Hà Nội. Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính trị BV. Sau đó Sô Viết đã chở vũ khí viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng kế tiếp, Nga khuyến khích BV gây hấn.

    Ngày 9-8-1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, VNCH suy yếu trong khi BV chuẩn bị tổng tấn công

    Ngày 12-12-1974 CSBV tấn công Phước Long tới ngày 7-1-1975 thì chiếm được thị xã, địch thăm dò Mỹ sau đó mở chiến dịch đánh chiếm Ban Mê Thuột bằng lực lượng lớn gần 3 sư đoàn, sau một tuần chiến đầu anh dũng quân trú phòng phải rút bỏ. Ngày 13- 3-1975 Ban Mê Thuột thất thủ, hôm sau ông Thiệu bay ra Cam Ranh mở phiên họp cao cấp quân sự sau dó ra lệnh triệt thoái Quân đoàn II đóng tại Pleiku bắt đầu từ 16-3-1975. Cuộc triệt thoái thảm bại ít nhất 75% lực lượng VNCH bị hủy hoại trong vòng có 10 ngày

    Tại quân khu I áp lực đích rất mạnh, lực lượng BV tương đương 8 sư đoàn, hỏa lực áp đảo, ngày 20 rút bỏ Huế về Đà Nẵng, cuộc triệt thoái thê thảm hơn Quân khu II. Quân khu I thất thủ một cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, Đà Nẵng coi như thất thủ ngày 29-3. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn được coi tồi tệ hơn so với Quân đoàn II, hỗn loạn gấp bội phần, sự thiệt hại về nhân mạng cao hơn tại QK II.

    Năm 1975, CSBV đốc toàn lực vào chiến trường miền nam với 15 sư đoàn chính qui (thuộc 5 quân đoàn) và trên mười trung đoàn độc lập, toàn bộ tương đương khoảng 20 sư đoàn. Cuối tháng 3-1975 Quân Khu I và II lọt vào tay đối phương, một phần vì ông Thiệu sai lầm trong chiến thuật tái phối trí lực lượng nhưng phần lớn vì kiệt quệ tiếp liệu đạn dược. Tháng 4-1975 pháo binh hết đạn, máy bay nằm ụ gần hết vì thiếu cơ phận thay thế, thiếu săng cất cánh. Các Quân đoàn, Sư đoàn rút dần, co cụm…. Quân đội VNCH bị mất một nửa lực lượng tính tới đầu tháng 4-1975, số phận của phần đất còn lại chỉ là thời gian. Nỗ lực cuối cùng của miền Nam đẩy lui địch tại Long Khánh hạ tuần tháng 4-1975. Mười ngày sau 30-4-1975 Sài Gòn thất thủ vì cạn kiệt tiếp liệu, đạn dược.

    Trong hồi ký Tướng Văn Tiến Dũng cho biết vào cuối năm 1974, quân đội Sài Gòn suy giảm nghiêm trọng vì thiếu xăng dầu, đạn dược. ông ta nói vào thời điểm đó, tình hình quân đội Sài Gòn còn bi đát hơn nhiều hơn mà họ không ngờ. Tướng Văn tiến Dũng khoe khoang chiến thắng trong Đại Thắng Mùa Xuân. Cuộc chiến người Việt giết người Việt đã chẳng hay gì lắm lại là cuộc chiến ăn cướp như Bùi Tín nói. Tướng Dũng khoe đã đánh bại các Quân đoàn, sư đoàn địch… nhưng ông quên kể quân ta đã lấy được bao nhiêu xe Honda, ô tô, khuân được bao nhiêu tấn gạo, TV, tủ lạnh của địch.

    Cũng trong bài của Trần Khải Thanh Thủy nói trên, Tướng Giáp kể lại: gần cuối tháng 4-1975, ông đề nghị nên tôn trọng Tòa đại sứ Mỹ và các nhà ngoại giao của họ nhưng Ba Duẩn trợn mắt quát: “Không được, phải đánh chết những con chó, kể cả khi nó đã rơi xuống nước. Tất cả bọn Mỹ, dù là cán bộ ngoại giao hay Lầu Năm Góc đều là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Vì thế, phải chiến đấu quét sạch chúng đi, không để một tên xâm lược nào trên mảnh đất chúng ta”.

    Khi lệnh Ba Duẩn ban ra, người Mỹ tại Sài Gòn phải vội vã tháo chạy những ngày 28, 29, 30…. để lại một dấu ấn nhục nhã trong lịch sử nước Mỹ.

    Võ Nguyên Giáp nói: “Ngay sau đó ta phải trả một giá đắt cho chính sách cực đoan của mình. Hiếu thắng một giây, kiêu ngạo một giờ mà đổi bằng cái giá của 20 năm cấm vận. Cả nước vật lộn trong mưu sinh, khốn khó của thời hậu chiến”.

    (còn tiếp)
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  9. #9
    Thời hậu chiến

    Cuộc chiến tranh giải phóng đã khiến cho người miền Nam tuyệt vọng liều chết vượt biển tìm tự do trong khi người miền Bắc thất vọng, nay họ mới thấy rõ bộ mặt ghê tởm của Đảng và Nhà nước. Trước đây người ta thường nghe tuyên truyền đồng bào Nam bộ lầm than đói khổ vì Mỹ -Ngụy bóc lột, nay trước mắt họ miền Nam quá sung túc văn minh so với cảnh cơ hàn của miền Bắc.

    Hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên đưa tới khủng hoảng về kinh tế, đời sống. Từ 1976 tới 1986 CSVN bị cô lập, ông Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Đông Kinh) viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh khi Lê Duẩn nắm quyền:

    “Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979 sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khổ. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam”.


    Thời hậu chiến

    Cuộc chiến tranh giải phóng đã khiến cho người miền Nam tuyệt vọng liều chết vượt biển tìm tự do trong khi người miền Bắc thất vọng, nay họ mới thấy rõ bộ mặt ghê tởm của Đảng và Nhà nước. Trước đây người ta thường nghe tuyên truyền đồng bào Nam bộ lầm than đói khổ vì Mỹ -Ngụy bóc lột, nay trước mắt họ miền Nam quá sung túc văn minh so với cảnh cơ hàn của miền Bắc.

    Hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên đưa tới khủng hoảng về kinh tế, đời sống. Từ 1976 tới 1986 CSVN bị cô lập, ông Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Đông Kinh) viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh khi Lê Duẩn nắm quyền:

    “Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979 sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khổ. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam”.
    (Lê Duẩn -Wikipedia tiếng Việt)

    Nguy cơ thiếu ăn kéo dài cho tới thời kỳ đổi mới cuối năm 1986 khi Lê Duẩn chết mới có biến chuyển. Tổng sản lượng trong 10 năm trước ngày đổi mới (1976-1986) chỉ tăng 35% (trung bình một năm 3,5%) trong khi dân số tăng 22%, lợi tức đầu người chỉ tăng khoảng 1%. Việt Nam trong khoảng thời gian này được xếp trong số 10 nước nghèo đói nhất thế giới.

    Đỗ Mười, Phó thủ tướng Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp theo chỉ đạo của Lê Duẩn tiến hành đánh tư sản tại miền Nam VN đã gây ra thảm kịch. Ngày 23-3-1978 Mười cho khoảng 60 ngàn đoàn viên Thanh niên CS đi khắp nơi đóng cửa kiểm kê các nhà tư sản rồi lấy nhà đuổi đi kinh tế mới, có tới mấy chục ngàn cơ sở thương mại bị đóng cửa trong một ngày.

    Chiến dịch thất nhân tâm này khiến nhiều người phải tự tử hoặc đi vượt biên, một cuộc ăn cướp vĩ đại trắng trợn, trấn lột tài sản các thương gia để bỏ túi chia chác nhau, lấy nhà cửa phân phối cho các đảng viên từ ngoài Bắc vào. Ước lượng có hai triệu người đi vượt biên, mấy trăm nghìn người thiệt mạng ngoài biển khơi.

    Sau này cùng với Duẩn, Mười bị kết án là người đã gây ra thảm kịch kinh tế miền nam sau 1975, đây là một kế hoạch ngu xuẩn khi đem một chủ nghĩa kinh tế mọi rợ, áp dụng vào xã hội tân tiến miền nam VN.
    Cuộc chiến tranh giữa các chế độ Cộng Sản
    Quan hệ Việt-Trung-Sô

    Trước năm 1968, CSVN giữ hòa khí giữa Nga-Trung Cộng, nhưng sau từ trận Mậu Thân quan hệ hai bên bắt đầu rạn nứt, Tầu Cộng muốn CSVN đánh du kích có giới hạn trong khi Lê Duẩn muốn đánh qui mô, đốt giai đoạn để sớm chiếm miền nam. Sau Mậu Thân, BV đàm phán với Mỹ, Trung Cộng phản đối, năm 1972 Nixon sang Tầu, CSVN cho đó là phản bội (26). Từ năm 1973 Trung Cộng bề ngoài coi CSVN như bạn nhưng thâm tâm coi như thù. Năm 1975 Lê Duẩn thăm Bắc Kinh, họ muốn Duẩn liên minh với Tầu chống Nga nhưng ông ta từ chối và về nước. Bắc Kinh cho là VN vô ơn phản bội. Duẩn ngày càng thân Nga khiến Bắc Kinh lo ngại CSVN mạnh ở Đông Dương. Ngày 1-11-1977 Nhân Dân nhật báo của Bắc Kinh coi Mỹ là bạn coi Nga là thù. Ngày 30-7-1977 Bắc Kinh tuyên bố ủng hộ Miên chống VN. Tháng 5-1978 họ cắt giảm viện trợ cho CSVN, tháng 6 thì cắt hết.

    Ngày 3-11-1978 Hà Nội ký hiệp ước hữu nghị với Nga (Việt – Sô) trong đó có cả phòng thủ chung. Tháng 12-1978 và tháng 1-1979 Bắc Kinh cắt đường hàng không và hỏa xa với VN. Tháng 5-1979 biên giới Nga-Hoa xung đột nghiêm trọng. Nga tăng viện trợ kinh tế cho Hà Nội từ 450 triệu USD năm 1975 lên 1,1 tỷ năm 1979, viện trợ quân sự tăng mạnh khi có chiến tranh Việt-Miên từ 125 triệu năm 1977 lên 600 triệu năm 1978, 900 triệu năm 1979.

    Cuộc chiến Việt –Miên

    Năm 1975 Bắc Kinh cho Miên vay một tỷ USD không lời, tháng 2-1976 ký Hiệp ước quân sự với Miên, viện trợ một tỷ rưỡi USD cho Miên trong 3 năm 1976-1978. Tháng 1 năm 1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Trung Cộng sang thăm Nam Vang và xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia.

    Tranh chấp biên giới Việt – Miên liên tục những năm 1977, 1978, từ 4-5-1975 một toán Khmer đỏ đột kích Phú Quốc 6 ngày sau đó hành quyết hơn 500 người dân Việt tại đảo Thổ Chu. CSVN phản công tái chiếm, quan hệ Việt –Hoa xấu đi, họ tăng cường viện trợ cho Miên. Tháng 4-1977 quân chính qui Khmer đỏ tấn công tiến sâu vào 10 km lãnh thổ VN tại An Giang tàn sát thường dân. Ngày 25-9-1977, 4 sư đoàn Khmer đỏ chiếm nhiều địa điểm tại các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành Tây Ninh đốt gần 500 căn nhà, giết gần 800 người (27)

    Ngày 20/11/1977, Lê Duẩn sang Tầu hội đàm với Hoa Quốc Phong và bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh chấp Trung – Sô. Duẩn cũng xin Bắc Kinh yêu cầu Campuchia chấp nhận một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh biên giới, nhưng phía Tầu lờ đi, Lê Duẩn ra về mà không mở tiệc đáp lễ.

    Ngày 31-12-1977, sáu sư đoàn CSVN đánh sâu vào đất Miên, năm ngày sau rút về. Ngày 1-2-1978 Pol Pốt quyết định thành lập 15 sư đoàn và liên tục cho tấn công vào VN có khi vào sâu tới 20 cây số. Tháng 4-1978 hơn 3,000 người dân VN bị giết tại Ba Chúc, từ 1975-1978 Khmer đỏ tấn công biên giới và giết hại khoảng 30,000 người VN.

    Ngày 13-12-1978 Pol Pot huy động 19 sư đoàn (từ 80-100 ngàn quân, một sư đoàn Khmer đỏ chỉ có 4,000 người (bằng một nửa của sư đoàn VN) tấn công xâm lược và tàn sát thường dân, CSVN chận đứng bước tiến của địch, khoảng 38,000 quân Khmer đỏ bị giết, gần 6,000 tên bị bắt.

    Phía VN huy động các Quân đoàn 2, 3, 4 và các Quân khu 4, 5, 7, 9 tổng cộng 18 sư đoàn với xe tăng, pháo bính, không quân yểm trợ tiến vào đất Chùa tháp. Từ đầu tới cuối tháng 12 -1978 tiến vào toàn bộ lãnh thổ Campuchia, từ ngày 2-1 tới 4-1-1979 CSVN làm chủ toàn bộ vùng phía đông sông Cửu Long. Ngày 7-1-1979 quân Khmer đỏ tan rã, chính phủ Pol Pot rút khỏi Nam Vang. Ngày 7-1 CSVN chiếm phi trường Kampong Chonang bắt được hơn 20 máy bay, hàng trăm xe tăng và đạn dược dự trữ.

    Ngày 8-1 Heng Samrin thành lập Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia, Hội đồng ký Hiệp ước với CSVN hợp thức hóa sự hiện diện của VN tại Miên. Ngày 17-1 thị xã cuối cùng của Khmer đỏ bị chiếm, cuối tháng 1-1979 kết thúc thắng lợi, cuối tháng 3-1979 CSVN chiếm được hết những tỉnh thành quan trọng của Campuchia và tiến sát biên giới Thái Lan.

    Quân VN tiến quá nhanh, Khmer đỏ chỉ tan rã chưa bị tiêu diệt hẳn, họ tập trung thành những đơn vị nhỏ đánh du kích. CSVN phải chiếm đóng xứ Chùa Tháp 10 năm sau đó vì Khmer đỏ vẫn được Bắc Kinh tiếp viện vũ khí qua ngả Thái Lan, cho tới cuối năm 1989 mới hoàn toàn rút khỏi Campuchia. Phía CSVN cho biết họ thiệt hại 55,300 người tử thương, phía Khmer đỏ khoảng 100,000 người bị giết.

    Trần Khải Thanh Thủy nhắc lời Võ Nguyên Giáp nói về thảm kịch Cao Miên. Ông ta khuyên Lê Duẩn không nên đưa quân sang Miên nhưng Duẩn bác bỏ, y nói đã có kế hoạch thôn tính Campuchia. Tướng Giáp nói:

    “Kết quả, sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, dân tộc ta đã mất cả triệu người con ưu tú, nay thanh niên trai tráng, rường cột quốc gia lại bị điều động bắt lính vô tội vạ để sang chiến đấu tại chiến trường K… lực lượng ta thương vong nhiều không kể xiết. Tôi nhớ lần tới một trạm giải phẫu trung đoàn. Trung bình một ngày, anh em bác sĩ ta phải cưa chân 40 chiến sĩ do bị mìn cài, mìn đặt… Trong điều kiện thuốc men thiếu thốn, thuốc giảm đau cũng như gây mê đều hạn chế, anh em kêu khóc như ri. Chỉ sau một tuần là số chân bị cưa xếp cao như núi, hơn hẳn đầu người một tầm tay với. Mùi thịt cháy, mùi máu tanh, mùi thối rữa toả ra khắp vùng, đi cách xa trạm cả 7, 8 km mà mùi hôi thối vẫn xông lên nồng nặc…”

    Chiến tranh Việt-Trung

    Đây chỉ là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt, bắt đầu ngày 17-2-1979 và kết thúc ngày 16-3-1979 Trung Cộng rút sau khi đã chiếm Lạng Sơn, Lào cai, Cao Bằng. mục đích bắt VN rút khỏi Campuchia không thành. Sau đó cuộc chiến còn tiếp diễn 10 năm, 13 năm sau bình thường hóa quan hệ. Ngày 30-7-1977 Bắc kinh tuyên bố ủng hộ Miên chống VN, Nga-Tầu căng thẳng. Vì CSVN thân Nga nên Trung Cộng lo ngại, ngày 1/11/1977, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Hoa, đã gọi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung cộng, và coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 3-11-1978 CSVN ký Hiệp ước hữu nghị Việt-Sô trong đó có cả phòng thủ chung.

    Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam”, “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á…”

    Cuối 1978 CSVN đánh sang Campuchia khiến Bắc Kinh có cớ đánh VN, Đặng Tiểu Bình viếng Đông Nam Á, ngày 5-11-1978 ông ta tuyên bố sẽ dậy cho VN một bài học. Tháng 1-1979 ĐTB được Thái Lan thỏa thuận cho mượn lãnh thổ để tiếp tế cho Khmer đỏ, tháng 1-1979 ĐTB sang Mỹ về tuyên bố sẽ tấn công VN.

    Nhiều nhà sử gia Tây phương cho rằng cuộc chiến này không có mục đích rõ ràng.

    Lực lượng hai bên: Trung Cộng gồm 9 quân đoàn chủ lực tổng cộng 32 sư đoàn trên 300,000 người, 550 xe tăng, 480 đại bác, 1,200 súng cối, hỏa tiễn, 200 tầu chiến, 1,700 máy bay ở hậu cứ và hàng chục vạn dân công.

    VN khoảng từ 60,000 tới 100,000 người, 7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập cùng lực lượng biên phòng. Phần lớn các sư đoàn chính qui CSVN đang đóng ở Campuchia.

    Từ tháng 10-1978 tới giữa tháng 2-1979 Trung cộng đánh thăm dò, cuối tháng 1-1979 Bắc Kinh đưa 17 SĐ (225,000 quân) tập trung gần biên giới cùng với 700 máy bay.

    Thượng tướng không quân (Bắc Kinh) Lưu Á Châu nói Đặng Tiểu Bình gây chiến để xác nhận quyền lực tuyệt đối của ông ta trong đảng, sau đó trả thù cho Mỹ đã tháo chạy nhục nhã tháng 4-1975 cần rửa hận để được Mỹ viện trợ ồ ạt. Nhờ cuộc chiến này Mỹ đã viện trợ cho Tầu về kinh tế, khoa học, quân sự, tiền vốn…

    Nguyên văn:

    “Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này”

    Năm giờ sáng ngày 17-2-1979, đại quân Trung Cộng 120,000 người tiến vào VN trên toàn tuyến biên giới, pháo kích xong họ cho bộ binh tiến vào, không quân và hải quân không được xử dụng.

    Lúc đầu họ tiến nhanh nhưng sau giảm tốc độ, hậu cần tiếp liệu lạc hậu, dùng cả lừa ngựa thồ hàng. Hệ thống phòng thủ CSVN mạnh, Trung Cộng dùng biển lửa biển người tiến sâu vào VN 10 dặm. Sau hai ngày họ chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, trong khi ấy Nga viện trợ cho CSBV qua cảng Hải Phòng và giúp chở quân bằng máy bay từ trong Nam ra Bắc.

    Phi đoàn vận tải của Nga chở Quân đoàn 2 CSVN từ Campuchia về Lạng Sơn, tại đây quân Tầu tăng cường tập trung chuẩn bị đánh lớn. Từ 28-2 tới 2-3-1979 họ chiếm được Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn, họ phá hủy các cơ sở kinh tế, vật chất, phá hủy toàn bộ các công trình xây dựng, dù là nhà dân hay cột điện tại các thị xã, thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… Ngày 5-3-1979 CSVN tổng động viên toàn quốc trong khi Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu và bắt đầu rút. Ngày 6-3 Trung ương Đảng CSVN ra chỉ thị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, đập tan quân xâm lược.

    Ngày 16-3-1979 quân Tầu Cộng rút hoàn toàn.

    Trong một tháng Liên Sô đã giúp chở 20,000 quân CSVN từ Campuchia ra Bắc, những nước ủng hộ VN toàn là các nước CS như: Nga, Cuba, Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc…các nước Đông Nam Á và Tây phương yêu cầu VN rút khỏi Miên, Trung Cộng rút khỏi VN như: Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Phần Lan, Đan Mạch, Anh, Ý, Na Uy…. Trung Cộng cho biết CSVN tử thương 50,000 người và họ có 20,000 người thiệt mạng. Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng cộng thương vong của quân Trung cộng là 62,500 người.

    Cuộc chiến gây thiệt hại trầm trọng cho kinh tế Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn: 320 xã, 735trường học, 428 bệnh viện, bệnh xá, 41 nông trường, 38 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80,000 héc ta hoa màu bị tàn phá, 400,000 gia súc bị giết và bị cướp..Khoảng một nửa trong số 3.5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản. Sau cuộc chiến CSVNnhường cho tầu chiến Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh để đổi lấy viện trợ tái thiết. Cuộc chiến ngắn này khiến Bắc Kinh tốn kém khoảng 1,3 tỷ USD ảnh hưởng tới quá trình cải tổ kinh tế.

    Cả hai phía đều nói chiến thắng, Đặng Tiểu Bình tuyên bố thắng lợi, phó Thủ tướng Trần Văn (TC) nói không chiếm Hà Nội vì cuộc chiến sẽ tốn kém. Phía CSVN cho rằng Tầu Cộng lạc hậu về vũ khí chiến thuật khiến sau đó họ phải hiện đại hóa quân đội. CSVN chê trách Nga chỉ viện trợ kinh tế, quân sự chứ không tham chiến và cho là Nga bị mất úy tín. Trung Cộng bất lực trong việc hỗ trợ Khmer đỏ.

    (còn tiếp)
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

  10. #10
    Lê Duẩn là người khởi xướng và chỉ đạo cuộc chiến đẫm máu huynh đệ tương tàn từ đầu thập niên 60 cho tới khi chấm dứt tháng 4-1975. Lê Duẩn gây chiến tranh, tạo lên nhiều tội ác từ ngày y nắm quyền cho tới khi nhắm mắt. Năm 1956 Ba Duẩn từ trong Nam gửi ra Hà Nội bản “Đề Cương Cách Mạng Miên Nam” chủ trương tiến hành cách mạng lật đổ chính phủ Sài Gòn thay vì sống chung hòa bình và đã được Trung ương đảng chấp thuận tiến hành hạn chế.


    Nhận định và kết luận

    Năm 1952 Lê Duẩn ở trong Nam ra Việt Bắc họp Trung ương và được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá đến đầu năm 1954,nhờ thân cận với Chủ tịch mà mấy năm sau Lê Duẩn được ông ta cất nhắc làm quyền Tổng bí thư đảng năm 1957 thay thế Trường Chinh từ chức năm 1956. Năm 1960 Ba Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương, nhờ Lê Đức Thọ cài đặt những nhân vật thân cận vào bộ máy của đảng mà dần dần Duẩn trở thành người có nhiều quyền lực nhất từ đầu thập niên 60. Theo các nhà nghiên cứu Tây phương Lê Duẩn từ thập niên 60 đã cô lập Võ Nguyên Giáp và ông Hồ để nắm hết quyền bính trong tay.

    Trần Khải Thanh Thủy cho rằng Hồ Chí Minh đã không đề cử Võ Nguyên Giáp vì ông Tướng này quá nổi bật, nhiều uy tín sợ sau này khó bảo nên Hồ đã cất nhắc Lê Duẩn, hy vọng con ngựa này sẽ chịu để ông cầm cương, thuần dưỡng… Không ngờ, năm 1963, chính ông lại là người bị hai học trò “xuất sắc” là Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ vô hiệu hoá.

    Phía CSVN (28) cho rằng từ năm 1963 HCM bị đau ốm đã bàn giao trọng trách cho Lê Duẩn, ông Hồ thường hay sang Tầu chữa bệnh, những năm 1967, 1968, 1969 ông bị đau nặng, nhất là 1967 Hồ ở luôn bên Tầu. Dù phía Tây phương hay bên CS nhận định thế nào nó cũng cho ta thấy Lê Duẩn là người nhiều quyền hành nhất trong đảng từ 1963.

    Lê Duẩn là người khởi xướng và chỉ đạo cuộc chiến đẫm máu huynh đệ tương tàn từ đầu thập niên 60 cho tới khi chấm dứt tháng 4-1975. Lê Duẩn gây chiến tranh, tạo lên nhiều tội ác từ ngày y nắm quyền cho tới khi nhắm mắt. Năm 1956 Ba Duẩn từ trong Nam gửi ra Hà Nội bản “Đề Cương Cách Mạng Miên Nam” chủ trương tiến hành cách mạng lật đổ chính phủ Sài Gòn thay vì sống chung hòa bình và đã được Trung ương đảng chấp thuận tiến hành hạn chế.

    Những năm 1960, 1961, 1962, 1963 phần vì Duẩn chưa nắm toàn quyền và nhất là vì Nga Sô chủ trương sống chung hòa bình. Khrushchev mới đầu trợ giúp Bắc Việt nhưng khi chiến cuộc leo thang ông kêu gọi Hà Nội từ bỏ con đường xâm lược miền Nam, ông thôi giúp BV và bảo họ thương thuyết với Liên Hiệp Quốc. Năm 1964 Khrushchev bị lật đổ, Brezhnev tiếp tục giúp CSVN dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu. Lê Duẩn đã nắm quyền lực tối cao, được Moscow, Bắc Kinh viện trợ quân sự, đã đưa đất nước vào thảm kịch khiến cả hai miền Nam Bắc tan nát vì bom đạn.

    Từ 1968 Lê Duẩn khởi đầu chủ trương đánh lớn đốt giai đoạn để sớm chiếm miền nam mà Võ Nguyên Giáp không ủng hộ, ông này cho rằng chiến tranh qui ước sẽ thảm bại trước hỏa lực của đối phương. Mặc dù vẫn phải xử dụng Tướng Giáp nhưng Lê Duẩn đã cho cô lập ông ta.

    Hậu quả là những trận Tổng tấn công lớn năm 1968, 1972 do Duẩn chủ trương đã làm đổ quá nhiều xương máu của người miền Bắc và tàn phá tan hoang miền Nam. Tướng Henri Navarre cựu Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông dương, nói phía CS các nhà chính trị có biết quân sự.

    “Chỉ có trong khối CS các nhà chính trị đã đọc binh thư của Clausewitz” (29)
    Nhưng trên thực tế các nhà chính trị như Hitler, Staline.. khi chỉ đạo về quân sự có nhiều sai lầm thất bại, Lê Duẩn cũng vậy, ông ta đã thảm bại suốt cuộc chiến, chỉ thắng được khi người Mỹ chán nản bỏ đi.

    Lê Duẩn đã đầy đọa dân tộc Việt Nam từ đầu thập niên 60 cho tới 20 năm sau, dưới bài Nhìn lại vai trò của Lê Duẫn trên BBC tiếng Việt có hơn 10 người góp ý, đa số người miền Bắc, tôi xin đưa một số điển hình

    Một Bạn đọc ở Hà Nội:
    “Ông Duẩn nổi lên được là do sự cất nhắc của ông Hồ Chí Minh……Sự can thiệp trực tiếp của Mỹ vào Nam Việt Nam đã làm cho luận điểm chiến tranh chính quy của ông Duẩn trở nên thắng thế so với đường lối thận trọng của ông Giáp
    Tuy nhiên, nếu không có uy tín của ông Hồ đối với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc thì ông Duẩn khó có thể duy trì sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc.
    Cuộc chiếm đóng Campuchia lâu hơn cần thiết và cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979 chứng tỏ đường lối thiếu mềm dẻo cũng như sự kiêu ngạo của ông Duẩn. Sự thất bại của công cuộc kiến thiết đất nước sau chiến tranh do áp dụng lý thuyết kinh tế kế hoạch hoá giáo điều đã làm tiêu tan uy tín của ông Duẩn tới mức khi ông chết phần lớn người dân VN đều cảm thấy thở phào nhẹ nhõm”

    Speedmancrazy:
    “Lê Duẩn nói gì đi nữa, ông ấy vẫn là một người có tài. Ông ấy giỏi về quân sự, chính trị, nhưng không giỏi về kinh tế… Cuối cùng, xin tôn vinh Lê Duẩn là một anh hùng của VN trong thời chiến, và cảm thông với những thất bại, sự “hết thời” của ông trong thời bình”

    Ẩn danh:
    “Tôi là thế hệ trẻ, được sinh ra khi nước nhà đã thống nhất. Năm tôi ra đời là năm Lê Duẩn mất vì vậy tôi không chứng kiến trực tiếp mà chỉ nghe ba kể lại và qua tìm hiểu thêm.
    Tôi không phủ nhận công lao cách mạng của Lê Duẩn nhưng cạnh đó tôi cũng không hề có cảm tình với ông ta. Khi ông ta lên nắm quyền Tổng bí thư thì đưa ra những chính sách làm dân hết sức khốn khổ.. tôi nghĩ là để ông nắm giữ chức Tổng bí thư là một sai lầm của Trung ương.
    Trong mắt của bao thế hệ người Việt, chính Lê Duẩn là người có tội với dân tộc Việt Nam, ông ta là tác giả của bao nhiêu lỗi lầm tai hại, đưa Việt Nam theo đường lối Nga sô nhưng không có sự chọn lọc cho phù hợp với hoàn cảnh nội tại. Lê Duẩn là con người sắt đá, một khuôn mẫu của Stalin và hiếu chiến.
    Chính ông ta đã đẩy Miền Nam vào cảnh khủng hoảng tồi tệ nhất từ sau năm 1975, đưa Việt Nam sa lầy ở Kampuchia sau khi đánh Khmer Đỏ và hy sinh bao nhân mạng một cách vô ích cho một quốc gia luôn chống lại Việt Nam. Khi Lê Duẩn mất đi, trong thâm tâm người Việt Nam rất hoan hỉ như vừa trút bớt một đại nạn cho dân tộc. Công trạng hay tội lỗi của ông sẽ được lịch sử phán xét, tôi chỉ mạo muội nêu lên quan điểm của riêng mình như một nạn nhân dưới thời cầm quyền của ông. Cầu mong ông được an nghỉ”.

    Nguyễn Thanh, Thanh Hóa:
    Lê Duẩn là một tài năng lớn của đất nước
    …Nhưng tôi tin có lẽ lịch sử Việt Nam đã khác, đất nước sẽ đỡ lạc hậu hơn bây giờ nếu năm mất của ông không phải là 1986 mà là 1976!

    LM, TP HCM:
    “Lâu nay người ta chỉ trích ông Lê Duẩn nhiều, đặc biệt là tính cực đoan của ông. Tuy nhiên, theo tôi ông này là nhân vật chống Trung Quốc cứng rắn nhất và hiệu quả nhất.”
    Phải nói rằng chế độ CS đã thành công trong việc nhồi sọ và reo rắc sự sợ hãi, 20 năm sau khi Lê Duẩn đã chết mà người dân trong nước vẫn còn sợ sệt không dám nói sự thật về con người tàn bạo, u mê cuồng tín này. Hầu hết những góp ý kể trên chỉ dám nêu sơ sơ một số khuyết điểm của Duẩn về chính sách kinh tế sau khi chiếm được Miền Nam và không có một góp ý nào dám đề cập tội ác tầy trời của y, thậm chí còn khen Duẩn là vị anh hùng có công thống nhất đất nước.

    Công lao của Lê Duẩn ở chỗ nào? Có chăng là công đẩy hơn một triệu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết, khiến cho cả nước tan hoang vì bom đạn. Công ở chỗ đầy đọa các sĩ quan, viên chức VNCH trong các trại tập trung. Công lao ở chỗ kéo Việt Nam lạc hậu lùi lại mấy chục năm so với các nước láng giềng Đông nam Á, ở chỗ đưa đất nước vào cảnh binh đao khói lửa, núi xương sông máu liên miên suốt cuộc đời chính trị của y, vừa chống Tư bản vừa đánh Cộng Sản từ 1960 cho tới ngày y nhắm mắt.

    Trong khi Duẩn đẩy hàng vạn, hàng triệu thanh niên, sinh viên học sinh vào tử địa nhưng con cái vợ hai, vợ ba của ông ta đã được sang Nga du học, sự việc cho thấy cái trò hèn hạ bẩn thỉu của đám lãnh đạo CS. Các nhà chính trị, quân sự CSVN không có được cái khí phách như các Tướng lãnh Tây phương. De Lattre, Tư lệnh Đông dương cho con trai độc nhất của ông trung úy Bernrad De Lattre ra trận và tử thương tại Ninh Bình năm 1951. Đô đốc John Sidney McCain Jr, Tư lệnh Thái Bình Dương vẫn cho con trung úy phi công John McCain ra trận và bị bắt làm tù binh tại Hà Nội năm 1967.

    Nhiều người khen Lê Duẩn anh hùng, yêu nước chống Tầu nhưng tôi không nghĩ vậy, ông ta độc đoán, kiêu ngạo u mê. Ba Duẩn giống như anh đầy tớ theo hầu ông chủ này đánh lại ông chủ kia, đó là một sự lựa chọn ngu đần nhất trong lịch sử. Hàng trăm nghìn thanh niên vô tội phải hy sinh, gánh chịu sự ngu muội của một nhà chính trị gia u mê thất học. Lê Duẩn giả vờ khiêm tốn khéo lắm, cho xây lăng Hồ Chí Minh to đùng, tuyên truyền thổi phồng cha già dân tộc để nhân dân tưởng rằng Hồ là chủ chốt, Duẩn chỉ là kẻ thừa hành.

    Cuộc chiến người Việt giết người Việt từ sau Hiệp định Genève như đã trình bầy là do Lê Duẫn đạo diễn và cuộc chiến tranh biên giới Việt- Miên cũng như Việt –Trung năm 1978, 1979 hoàn toàn do y gây ra. Ông ta chống Tầu theo Nga một cách mù quáng nên đã không ngần ngại đưa đất nước, dân tộc vào cảnh núi xương sông máu kéo dài một thập niên cho tới khi y nhắm mắt thì người dân mới hết khổ.

    Nếu không có Cải cách ruộng đầt, Trường Chinh vẫn làm Tổng bí thư cuộc chiến sẽ chỉ là du kích, chắc sẽ không có chiến tranh biên giới những năm 1978, 1979. Nếu họ Hồ đã cất nhắc Võ Nguyên Giáp năm 1957 thay vì đưa Lê Duẫn lên thì cuộc chiến sẽ không đẫm máu như thế, sẽ chỉ là đánh du kích như những năm 1965, 1966, 1967 dưới thời Johnson. Cũng chưa chắc đã có chiến tranh vì họ Hồ và Bộ chính trị chưa dám khiêu khích Mỹ, họ muốn xây dựng miền Bắc XHCN trước như đã nói trên.

    Trần Khải Thanh Thủy có nói ông Hồ đã cất nhắc Lê Duẩn hy vọng con ngựa này sẽ chịu để ông cầm cương nhưng không ngờ năm 1963 chính ông lại bị con ngựa bất kham này hất ngã.

    Hồ Chí Minh đã sai lầm trầm trọng khi cất nhắc Duẩn lên ngôi vị quyền lực cao nhất và có thể chính ông sau này cũng hối tiếc về quyết định của mình. Đó là một sự sai lầm chết người khi giao đất nước vào tay một tên hiếu chiến, gian ác coi sinh mạng nhân dân như cỏ rác. Mấy chục năm chiến tranh kéo dài từ ngày Lê Duẩn lên cầm quyền cho tới ngày y nhắm mắt, mấy chục năm trời máu chẩy thịt rơi, mấy chục năm tang thương đau khổ.

    Không ai cản được y, ngay cả Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh còn bị y cô lập.

    Miền Bắc cũng có nhiều người can đảm, hồi thập niên 80 ngay cả khi Lê Duẩn còn sống, trên một bức tường ở Hà Nội người ta thấy hình vẽ một ông tiên, dưới là một ông sư, và cuối cùng hình Lê Duẩn: Tiên sư thằng Lê Duẫn

    Sự phẫn nộ của cùng tột của nhân dân đã được thể hiện giản dị tới mức không thể giản dị hơn, nó đã quá đủ để nói lên tất cả.

    Trọng Đạt

    Cước chú:
    (1) Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1955-1963, trang 228,229
    (2) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 20, 21
    (3) Richard Nixon, No More Vietnams trang 50: trong năm 1964 chủ lực quân địch tăng từ 10,000 lên tới 30,000 người; phụ lực quân địch tăng từ 30,000 lên 80,000 người.
    (4) BBC Vietnamese.com. Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh 10-5-2006. Giai đoạn 1955-60: 45 ngàn tấn viện trợ vũ khí, giai đoạn (1961-64) lên 70 ngàn tấn.
    (5) Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập trang 886
    (6) No More Vietnams trang 73, 74, 75
    (7) Stanley Karnow: Vietnam a History trang 390; answer.com, Domino theory
    (8) Stanley Karnow. Vietnam A History trang 435
    (9) Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh 1972, trang 16, 17.
    (10) Vietnam A History trang 440, 441
    (11) In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam (1995), trang 169
    (12) Vietnam war Allied troop Level 1960-73 http://www.americanwarlibrary.com/vietnam/vwatl.htm
    (13) George Donelson Moss: Vietnam, An American Ordeal trang 194, 198.. Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối của VNCH trang 282
    (14) Opposition to the US involvement in the Vietnam war, Wikipedia
    (15) George Donelson Moss: Vietnam, An American Ordeal, trang 212
    (16) Tổng hợp các tác giả: Chánh Đạo: Mậu Thân 68 Thắng Hay bại;
    Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975.
    Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề
    Nhắc Tới Texas 1991
    (17) Richard Nixon: No More Vietnams trang 91, 92, 93
    (18) Richard Nixon: No More Vietnams trang 126
    (19) Phillip B. Davidson: Vietnam At War The History 1946-1975, chương 18 The Tet offensive trang 473.
    (20) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 519.
    (21) No more Vietnams trang 150, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 587
    (22) Khi Quốc hội ra luật bó tay Tổng Thống Nixon như trên coi như họ đã bỏ VN rồi vì theo Nixon ngoài viện trợ cho VNCH 2 tỷ năm 1973, Mỹ cần yểm trợ B-52 ( No More Vietnams tr 189).
    Tác giả George Donelson Moss (Vietnam, An American Ordeal trang 388)
    nói viện trợ của Mỹ cho VNCH hằng năm phải ở mức từ 3 tỷ cho tới 3 tỷ rưỡi vì họ được huấn luyện chiến tranh kiểu Mỹ rất tốn kém, cần nhiều hỏa lực, 2 tỷ một năm sự thực không đủ
    (23) Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471; Cao Văn Viên Những Ngày Cuối VNCH trang 82, 83
    (24) No More Vietnams trang 187, Cao Văn Viên NNCVNCH 91, 92 , Phillip B. Davidson Vietnam At War, The History 1946-1975 trang 748.
    (25) BBC.Vietnamese.com ngày 10-5-2006: Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh
    (26) Chiên Tranh biên giới Việt-Trung 1979- Wikipedia Tiếng Việt
    (27) Chiến dịch phản công biên giới Tây Nam Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt
    (28) Hồ Chí Minh, Wikipedia Tiếng Việt
    (29) Agonie de l’Indochine trang 90: “Mais il n’y a que dans le monde communiste que les chefs politiques ont lu Clausewitz”

    (hết)
    Cãi Lộn, Cãi Lại, Cãi Lộn Nữa.

 

 

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 05-02-2018, 02:05 AM
  2. Uwe Siemon-Netto và chiến tranh Việt Nam
    By thuykhanh in forum Biên Khảo
    Replies: 27
    Last Post: 07-13-2017, 01:14 PM
  3. Replies: 16
    Last Post: 04-20-2014, 06:46 AM
  4. Bên trong Trung Quốc
    By Lotus in forum Chuyện Linh Tinh
    Replies: 31
    Last Post: 08-12-2013, 11:39 PM
  5. Replies: 143
    Last Post: 08-08-2013, 12:01 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 12:12 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2019 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh