Log in

View Full Version : Dấu ấn vượt thời gian và không gian



linhphy
12-20-2024, 08:57 AM
Nguyễn Vũ và một ca khúc trở thành kinh nguyện riêng

Đã 40 năm kể từ khi ca khúc ‘Bài thánh ca buồn’ ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần.
“Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.”
Tính phổ cập này, người ta thấy rõ, không chỉ là những biểu lộ hân hoan trên đường phố, trong gia đình mà, còn thể hiện qua văn học, nghệ thuật nữa.

Nhìn lại hai mươi năm VHNT miền Nam, chúng ta thấy, có rất nhiều sáng tác liên quan tới Giáng Sinh, của cả những “kẻ ngoại đạo”,
đã trở thành những tác phẩm vượt qua được sự sàng lọc gay gắt của thời gian.

Hơn thế, cũng có những sáng tác, nhất là ở lãnh vực thi ca hay âm nhạc, còn trở thành chiếc bóng thứ hai, sau chiếc bóng hình hài.
Nó là chiếc-bóng-tâm-cảm trải qua nhiều thế hệ. Điển hình cho trường hợp này, tôi trộm nghĩ, chúng ta có ca khúc “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ.
Ca khúc được mở đầu bằng câu hỏi “Bài thánh ca đó còn nhớ không em”?

Trước khi được tác giả đưa dẫn tới những hồi tưởng kỷ niệm, những nguyện cầu trăm năm -
- Mà, kết cuộc là một chia ly bằn bặt, khi người con gái có đời khác, với biểu tượng ước lệ là “xe hoa và xác pháo”:

“…Noel năm nào chúng mình có nhau /
Long lanh sao trời thêm đẹp môi mắt /
Áo trắng em bay như cánh thiên thần
/ Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân /
Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang /

Xin cho đôi mình suốt đời có nhau /
Vang trong đêm lạnh bài ca Thiên Chúa /
Khẽ hát theo câu đêm thánh vô cùng /
Ôi giọng hát em mênh mang buồn.../
Rồi mùa giá buốt cũng qua mau /
Lời hẹn đầu ai nhớ dài lâu /
Rồi một chiều áo trắng phai màu
/ Em qua cầu xác pháo bay sau...”

Sau phiên-khúc một và điệp-khúc, khi trở lại với ca khúc của mình, tức phiên-khúc hai, lần này, tác giả “Bài thánh ca buồn” lại gửi một câu hỏi khác (không phải cho người yêu của ông) -
Mà đó là một câu tự hỏi mình (Cũng có thể hiểu, như một câu hỏi cho Thiên Chúa): “Lời nguyện mình Chúa có nghe không”?
Trước khi bước vào tán-thán hay giãi bày tâm sự, ở những Giáng Sinh kế tiếp, còn lại của đời ông:

“Sao bây giờ mình hoài xa vắng /
Bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu.../
Rồi những đêm thánh đường đón Noel
Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu! /
Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối /
Nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn /
Đêm thánh vô cùng lạnh giá hồn tôi...!”

Từ một ngày lễ trọng của những Ky tô hữu, với thời gian, Giáng Sinh đã trở thành đại lễ chung của mọi người, không phân biệt tôn giáo, nhất là đối với tinh thần của người Việt Nam.
Bài thánh ca buồn” hiển nhiên là một câu chuyện được kể bằng âm nhạc với đầy đủ nhập đề, thân bài và kết luận -
Nhưng tính tha thiết, chân thành của ca khúc từ giai điệu tới ca từ; vì thế, với thời gian, nó đã trở thành một chiếc bóng thứ hai, u uẩn, đeo dính tâm hồn nhiều người nghe, trải qua nhiều thế hệ.
Tôi muốn gọi đó là chiếc-bóng-tâm-cảm hay, một thứ kinh-nguyện-riêng của những người yêu nhau, bất hạnh.

Trong một bài viết hiện có trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ghi ngày 20 tháng 12 năm 2012, tác giả Đức Bình của BBC ghi nhận nhau sau:

“…Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là ‘Bài thánh ca buồn’ của nhạc sĩ Nguyễn Vũ,
vẫn không ngừng ngân vang trong những đêm lạnh…”

Vẫn theo tác giả này thì nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, sáng tác năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm
và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền; mà người hát đầu tiên là ca sĩ Thái Châu.
Tác giả Đức Bình cho biết, nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh.
Ông sinh năm 1944 tại Hà Nội. Nhưng trọn thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường âm nhạc của Nguyễn Vũ.
Vẫn theo Đức Bình thì:
“…Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức.
Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay ‘Huyền thoại chiều mưa’…
Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.

“Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn - nhạc sĩ Nguyễn Vũ - vẫn còn nguyên sự phấn khích:
‘Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế.

Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen’.
“Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù.
Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ.
Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng.

Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó,
‘trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen’, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình.
Và ‘Bài Thánh Ca Buồn’ đã ra đời’ (…)

“Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12.
Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng
nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.

Tôi không biết tương lai, để thích ứng với xu hướng âm nhạc mới, rồi đây, ca khúc “Bài Thánh Ca Buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ sẽ được hòa âm theo dạng thức nào?
Nhưng, cách gì thì ca khúc này, cũng sẽ mãi là một thứ chiếc-bóng-tâm-cảm hay, một thứ kinh-nguyện-riêng của những người yêu nhau, bất hạnh
Trong số những người yêu nhau, bất hạnh, có anh C. của chúng tôi.

Du Tử Lê


https://www.youtube.com/watch?v=JH1x4Vl5-2A?si=LiVAjLAJ3l8zL3f5

@@
Chỉ còn vài ngày nữa chúng ta cùng nhau đón Noel hay lễ Giáng Sinh 2024 LPhy mang về góc KGR bài viết của cố thi sĩ Du Tử Lê về huyền thoại
:"BTCB" kinh điển do ca sĩ Thái Châu ,rồi ca sĩ Elvis Phương trình bày nay chúng ta cùng thưởng thức giọng ca Trần Thái Hoà

linhphy
12-20-2024, 09:19 AM
Ảo Ảnh Y Vân

Sinh thời, nhạc sĩ Y Vân được nhiều người đánh giá là rất đứng đắn trong chuyện tình cảm. Nhưng nếu cứ thế thì “chất liệu” đâu để làm nên những tình khúc: Ngăn cách, Xa vắng, Thôi, Ảo ảnh... từng làm say đắm lòng người?
Hà Nội đêm Noel năm 1953, chàng thanh niên Trần Tấn Hậu (sinh năm 1933 tại Hà Nội, quê gốc Thanh Hóa) đi lang thang cùng với người bạn tên Nhân.

Qua cửa Nhà thờ Lớn, phất phơ phía trước họ là hai tà áo dài tím, vàng. Hai chàng bèn đi theo. Tình cờ cô gái áo vàng quay lại, trái tim của Hậu như ngừng đập: một nhan sắc mê hồn.
Kể từ giây phút ấy, đôi mắt của Hậu luôn dõi theo nét duyên dáng của cô gái áo vàng. Nhưng rồi nàng đã mất hút trong đám đông...
Dạo ấy, Trần Tấn Hậu đang dạy nhạc ở Trường Dũng Lạc (anh là học trò của Giáo sư Tạ Phước) và cũng đang tập tành sáng tác.
Mỗi lần đi dạy, từ ngõ chợ Khâm Thiên anh chọn con đường Tràng Thi để đi bộ đến trường.

Một hôm, anh ghé vào hiệu sách, chưa kịp mua thì thấy cô áo vàng lần nọ bước vào tiệm đàn bên cạnh. Thế là chàng bỏ luôn hiệu sách, tót qua tiệm đàn giả vờ hỏi mua sách nhạc,
lân la đến bên nàng rồi làm quen bằng cách nhiệt tình hướng dẫn đồng thời chọn mua cho nàng cây đàn tốt nhất.
Sau đó, người bạn tên Kỳ tìm gặp rồi dẫn anh đến nhà người bà con giàu có, đầy thế lực, để anh dạy đàn cho con gái nhà này (cũng là em họ của Kỳ): vẫn là... nàng!

Nàng tên là Tường Vân. Và từ đó tình yêu của họ mỗi ngày thêm khắng khít. Đến lúc này thì Tường Vân mới tiết lộ cho người yêu biết là cha mẹ đã hứa hôn nàng với một nơi rất “môn đăng hộ đối”, bất chấp sự phản đối của nàng.
Khi gia đình biết được giữa con gái và anh nhạc sĩ nghèo đang nảy sinh tình cảm “đáng ngại” thì tìm cách ngăn cản, thậm chí còn tạo ra nhiều tình huống để vì lòng tự trọng, chàng nhạc sĩ phải chùn bước.

Mồ côi cha, Trần Tấn Hậu phải dắt díu mẹ và hai em (một gái, một trai - sau này là nhạc sĩ Y Vũ) nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên
Là con trưởng nên gánh nặng gia đình đè nặng lên vai Hậu.
Anh đi dạy đàn để nuôi mẹ và các em (sự thảo hiếu của anh, có lẽ người Việt Nam nào cũng biết được qua bản nhạc bất hủ Lòng mẹ).

Trước khi đoạn tuyệt với mối tình thật đẹp nhưng ngắn ngủi này, trong nhớ thương đau khổ anh đã sáng tác ca khúc Tình ta nở giữa mùa đông tặng người yêu.
Bản nhạc được ký tên “Y Vân” và chàng giải thích “Y Vân có nghĩa là yêu Vân
Y Vân lập gia đình năm 1963, lúc này anh đã là trưởng ban nhạc Y Vân danh tiếng ở Sài Gòn (cùng với sự cộng tác của các ca sĩ Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương...).

Một buổi trưa năm 1965, từ đài phát thanh, Y Vân dắt xe máy ra cổng chuẩn bị về thì có một chú bé chạy đến mời anh vào quán nước cạnh đấy.
Nơi đây, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Đại học Văn khoa Sài Gòn. Huyền có đôi mắt to, đen và buồn.
Trên bâu áo của nàng có chít một mảnh tang đen.

Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã: “Em đâu có người thân nào qua đời
. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó!”. Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ,
không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.

Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Đó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ).

Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học
Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân).

Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào... lớp dạy đàn Tây Ban cầm.
Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.
Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân.

Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân.
Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn,
Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ.
Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo.

Nhưng lòng nàng lúc nào cũng tơ tưởng đến nhạc sĩ tài hoa. Nàng đã nhờ em trai tìm cách cho nàng gặp anh để nói với anh điều này.
Nhưng khi gặp, nàng lại không dám nói. Y Vân ra về như chạy.

Và ca khúc Ảo ảnh ra đời sau đó: “...

Những ân tình em đong bằng nước mắt.
Khóc cho đầy hai chữ tình yêu.
Phấn hương nồng anh xem tựa tấm áo
, đã thay màu ân ái từ lâu.

Những neo thuyền yêu thương
thường dễ đứt, khiến bao chiều trên bến tịch liêu.
Vắng con tàu sân ga thường héo hắt.
Thiếu em lòng anh thấy quạnh hiu...”

Hà Đình Nguyên


https://www.youtube.com/watch?v=Ctuoj7uypho?si=-smLKfggLB-u_uVZ

@@ Nhạc phẩm :"Ảo Ảnh" đã được cố ca sĩ Lệ Thu trình bày khá thành công trước 75 ,nhưng khi nghe ca sĩ Elvis Phương khiến người
nghe cũng thổn thức với lyric và melody của nhạc sĩ Y Vân

linhphy
12-22-2024, 03:22 PM
Và Con Tim Đã Vui Trở Lại

Nhạc Đức Huy không thật sự bình dân như có dư luận lầm tưởng, phải nhận là có tính chất lãng mạn đã từ mọi góc cạnh cuộc sống con người được rút tỉa, chắt lọc.
Sang tới loại nhạc Thánh ca Đức Huy cũng có nhiều nhạc phẩm như “Và con tim đã vui trở lại”, “Một tình yêu”,...gây nhiều ấn tượng,
khác những ca khúc thuộc loại này đã từng phổ biến từ trước đến nay có tính cách van nài, kêu xin, khóc than .

Trái lại nhạc Đức Huy đã tạo một luồng gió mới, đưa ra một quan niệm đạo trong đời, không chia rẽ đầu óc địa phương, kỳ thị tôn giáo,
gây một niềm tin thái hòa trong đời sống, tương tự những Dan Schutte S.J, Amy Grant, John Foley...của Hoa Kỳ,
Cat Stevens của Anh, đi tìm chân thiện mỹ của con người.

Bản “Và con tim đã vui trở lại” được nhiều người ưa thích, Đức Huy viết tại Hawaii ,1986 dưới tựa đề “From now on it’ s only you”, ba năm sau chuyển sang lời Việt,
diễn tả một đức tin của con người, đi trong cơn hỗn mang của xã hội, tới một ngày dừng bước, nghĩ trở lui những thái độ, hành động của mình, tự khắc ý thức được con đường đi:

Tìm một con đường,
Tìm một lối đi
Ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi
Lạc loài niềm tin sống không ngày mai
Sống quen không ai cần ai
Cứ vui cho trọn hôm nay
Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi

Một mình tôi về nhiều lần ướt mi
Chờ tình yêu đến trong ánh nắng mai
Xoá tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn

Người ta thấy lời lẽ đơn thuần có tính cách đời nhưng ngấm ngầm ý đạo, đưa con người trở về nẻo ngay, đạo đời hòa hợp từ một niềm tin và những thương yêu cuộc đời của tuổi trẻ

Nhật Thịnh


https://www.youtube.com/watch?v=HyRy51a_tnQ?si=zc3fp-vwVx_Y9n3r

linhphy
12-22-2024, 03:34 PM
33 năm giai thoại :'Woman in Love "

Vào cuối những năm 1970, ban tam ca Bee Gees ngự trị trên đỉnh cao làng nhạc quốc tế. Ban nhạc này là nhóm đầu tiên và cũng là duy nhất có tới năm bài hát có mặt trong Top Ten vào cùng một thời điểm
, nhờ vào album (phát hành vào năm 1977) mà họ sáng tác cho bộ phim Saturday Night Fever (Cơn sốt chiều thứ bảy).

Ý tưởng hợp tác với nhóm Bee Gees nảy sinh vào năm 1979, khi Barbra Streisand được xem ban tam ca này biểu diễn ngày 8 tháng Chín năm 1979 tại nhà hát Madison Square Garden.
Lúc đầu, Barbra Streisand nghĩ rằng ban tam ca Bee Gees chỉ sáng tác cho mình vài ca khúc, bất ngờ thay, sau một thời gian suy nghĩ,
ban nhạc người Úc lại đồng ý soạn cho diva người Mỹ trọn một album mang tựa đề là Guilty gồm tổng cộng 9 nhạc phẩm.

Ca khúc đầu tiên của album này được phát hành vào tháng Tám , nhạc phẩm Woman In Love (Người đàn bà đang yêu) trở thành tình khúc của mùa hè năm 1980,
sau khi giành lấy ngôi vị quán quân (ba tuần lễ),bài hát còn trụ lại trong bảng xếp hạng thị trường Hoa Kỳ trong 47 tuần liên tục.

Trong ba anh em nhóm Bee Gees, Barry Gibb là nhân vật đã đóng vai trò quan trọng nhất. Trên album Guilty (do Albhy Galuten và Karl Richardson hợp tác sản xuất), Barry Gibb đã soạn nhạc cho cả 9 bài hát,
đồng thời anh song ca với Barbra Streisand hai bài (ca khúc chủ đề Guilty và nhạc phẩm What Kind of Fool), trong khi hai người em là Maurice và Robin Gibb chỉ tham gia sáng tác trong bốn bài,
trong đó có Woman in Love do Robin đồng sáng tác toàn bộ phần điệp khúc với người anh trai là Barry Gibb

Một bài hát mà sau đó có tới hàng trăm phiên bản ghi âm (cover) trong nhiều thứ tiếng khác nhau.
Hồi tưởng lại giai đoạn này, nam ca sĩ Barry Gibb thành viên duy nhất còn sống trong nhóm Bee Gees cho biết : ban đầu anh rất hồi hộp căng thẳng khi được mời hợp tác với một trong những giọng ca lẫy lừng nhất nước Mỹ thời bấy giờ.
Vả lại trong giới chuyên nghiệp, Barbra Streisand nổi tiếng là một diva cầu toàn kỹ tính, nóng nảy nên dễ đâm ra gắt gỏng.

Điều đó giải thích vì sao trước khi nhận lời hợp tác với Barbra Streisand, Barry Gibb đã gọi điện để hỏi chuyện với nam danh ca Neil Diamond, do hai ca sĩ này từng ghi âm với nhau vào cuối năm 1978
(bài song ca You Don't Bring Me Flowers được phát hành vào tháng 10 năm 1978).
Thế nhưng những lời khuyên nhủ của Neil Diamond vẫn không trấn an được Barry Gibb, do anh luôn có tâm trạng bồn chồn lo lắng.
Nhưng rốt cuộc, đó chỉ là những lời đồn đại trong nghề, vì trong suốt thời gian làm việc với nhau, nữ danh ca Barbra Streisand đã rất tử tế với các bạn đồng nghiệp.

Điều mà sau này được công nhận bởi nhà nhiếp ảnh Mario Casilli, người đã từng thực hiện loạt ảnh chụp để chuẩn bị cho việc phát hành album mang tựa đề Guilty của Barbra Streisand,
sau khi phần ghi âm được hoàn tất vào tháng Sáu Ba tại phòng thu Sound Labs Studio ở thành phố Los Angeles.

Theo lời Barry Gibb, ngoài cách đối xử tốt với bạn đồng nghiệp, Barbra Streisand còn là một người cần mẫn chăm chỉ, chịu khó làm việc từ 7 giờ sáng cho tới tối khuya,
cô tập trung làm việc cho phần ghi âm album, và chỉ mỗi khi tới giờ giải lao, cô mới làm những công việc khác, trong đó có việc chăm chút chỉnh sửa kịch bản của Yentl,
một bộ phim ca nhạc phóng tác từ truyện ngắn The Yeshiva Boy của nhà văn Isaac Bashevis Singer. Barbra Streisand thực hiện bộ phim Yentl vào năm 1983,
trong đó cô vừa đóng vai chính (diễn viên kiêm ca sĩ) vừa đảm nhận vai trò đạo diễn.

Nhờ vào sự hợp tác với nhóm Bee Gees, mà tập nhạc Guilty trở thành một tring những album ăn khách nhất trong sự nghiệp của Barbra Streisand với hơn năm triệu bản chỉ riêng trên thị trường Hoa Kỳ,
12 triệu trên toàn thế giới.
Vào năm 1981, album này cũng đoạt được một giải Grammy trên tổng số năm đề cử.

Để thực hiện tập nhạc Guilty, BarryGibb đã ghi âm thử nhiều bản demo, nhưng rốt cuộc chỉ có 9 bài được giữ lại, các bài hát kia (chẳng hạn như Secret hay là Carried Away)
sẽ được tặng sau đó cho các nghệ sĩ khác (trong đó có Elaine Paige và Olivia Newton-John).

Trong số 9 bài của Bee Gees mà Barbra Streisand đã ghi âm, tình khúc Woman In Love là một trong những bài ăn khách nhất. Barry Gibb từng ghi âm thử bài này dưới dạng demo,
và trở thành giọng nam duy nhất có thể hát từ đầu tới cuối bằng giọng óc.

Theo đề nghị của Robin, hai anh em mới chỉnh sửa phần điệp khúc sao cho vừa với giọng ca khỏe khoắn cũng như làn hơi đầy đặn của Barbra Streisand.
Ở đoạn giữa bài hát, trong hai câu "I stumble and fall, but I give you it all", Barbra Streisand giữ làn hơi trong vòng khoảng 10 giây mà không bị đuối hơi.

Điều đó khiến cho Casey Kasem, người phụ trách chương trình phát thanh American Top 40 cho rằng đây là nốt nhạc dài nhất bởi một giọng ca solo.

Tuy nhiên, điều này sau đó được cải chính vì vào thời đó, cũng có một số bản nhạc khác đều có cách hát những nốt dài như vậy
(tiêu biêu là các bài Lovely Day của Bill Withers, All Out Of Love của nhóm Air Supply và Dim All The Lights của nữ hoàng disco Donna Summer).

Trong vòng ba thập niên liền, tình khúc Woman In Love đã có rất nhiều phiên bản khác nhau, kể cả tiếng Pháp (Une Femme Amoureuse), tiếng Đức (Die Frau die Diech Liebt),
tiếng Ý (Donna Innamorata), Hà Lan, Hy Lạp (To Ksero Tha’rthis Ksana), Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha (Enamorado de Ti) và thậm chí Ả Rập …..

Bài hát cũng được hòa âm phối khí theo nhiều thể điệu, đôi khi nghe khá lạ, kể cả các điệu bolero, salsa và zouk.rong tiếng Việt bài Woman in Love có ít nhất là hai hay ba lời khác nhau,
được các tác giả chuyển ngữ thành ‘‘Người đàn bà đang yêu’’ hay là ‘‘Đi tìm tình Yêu’’ với những câu mở đầu như
: Lấp lánh ánh trăng soi bên hồ /
Áng mây lững lờ, bóng anh khuất xa mờ ….. hoặc là

: Kiếp sống sẽ cô đơn muôn vàn /
Trái đất kia hoang tàn, nếu những mơ ước không còn,

mà các nghệ sĩ như Hoạ Mi, Khánh Hà, Ngọc Lan, Thu Minh, Loan Phương …. đều từng trình bày …

Có một điều rất lạ là tuy nhạc phẩm Woman in Love là một trong những tình khúc ăn khách nhất trong đời, nhưng Barbra Streisand từng cho biết cô không thích bài hát này,
vì trong thâm tâm, cô không tin vào ý nghĩa của bài hát , có lẽ cũng vì thế mà trên sân khấu, ít khi nào cô hát lại bài này.

Không tin mà đã hát hay như vậy, giả sử như mà Barbra Streisand thật sự tin vào ca khúc thì không biết là Woman in Love sẽ mãnh liệt cháy bỏng tới cỡ nào.
Người đàn bà khi yêu sẽ yêu một cách tuyệt đối, cho con tim thổn thức đắm đuối, tuy tâm hồn sa đọa bồi hồi, dù đam mê đầm mình tội lỗi.

Tuấn Thảo
2013


https://www.youtube.com/watch?v=rfhQjIg0qy8?si=EJQP9LtYoKa9CDJe

linhphy
12-22-2024, 04:23 PM
Tuấn Anh -Niềm đam mê ca hát

Qua tới Mỹ, anh nhất quyết đi theo con đường đã chọn là ca nhạc, và chỉ gần hai năm sau đã chính thức trình diễn trước khán giả hải ngoại tại night club Maxim's ở Houston (Texas).
Sự đưa đẩy người ca sĩ có tên thật là Nguyễn Tuấn Anh đến với ca nhạc theo anh nói là ‘rất tự nhiên và tình cờ’.
Cái dịp tình cờ đó đã diễn ra trong lần đầu tiên tại Maxim's đề cập tới ở trên.

Vợ chồng chủ nhân vũ trường đã để ý đến tiếng hát của anh qua những nhạc phẩm: Hello, Beat It, Billy Jean và Kiếp Đam Mê để sau đó mời anh cộng tác.
Vào năm 81, Tuấn Anh đã cho đời tape nhạc đầu tiên của mình dưới tựa đề ‘Kiếp Đam Mê’…”

Tuy nhiên, nhiều người cho rằng lý do sâu xa, mạnh mẽ nhất, đưa ca sĩ Tuấn Anh ra giữa ánh sáng tiền trường sân khấu, lại chính là cách ăn mặc và trình diễn sống động của họ Nguyễn.
Thời điểm này cũng là thời điểm ca sĩ Boy George nổi đình đám trên các sân khấu của xứ Sương Mù - trong cung cách một người nữ -
Từ y phục, trang sức, tới phấn son chỉ dành cho phụ nữ.

Ở những xuất hiện thứ nhất trước công chúng trong cung cách người nữ, tuy Tuấn Anh được giới trẻ chào đón nồng nhiệt thì cũng có không ít thành phần khán giả lớn tuổi, cho thấy sự dị ứng của họ.
Với giọng hát trời cho, khả năng nói năng duyên dáng, sống động không ngừng trên sân khấu, dần dần Tuấn Anh cũng chinh phục được những người khó tính…
Rất mau chóng, họ Nguyễn được chấp nhận như một Boy George Việt tại Hoa Kỳ.

Về phong cách lập dị của Tuấn Anh trong những buổi trình diễn, tác giả bài “Tuấn Anh” nêu trên, viết tiếp:
“Với những sắc thái đặc biệt, Tuấn Anh đã được mời đi trình diễn hầu như ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Với quan niệm luôn tôn trọng khán giả nên anh đã sắp đặt rất cẩn thận những lần trình diễn trên sân khấu, từ cách chọn lựa bài bản đến cách ăn mặc,
từ điệu bộ cho đến ngôn ngữ khiến người nghe luôn hòa mình vào với những âm điệu khi nhẹ nhàng, khi sôi động trong phần trình diễn của anh.

Đối với Tuấn Anh, anh luôn tạo những nét mới lạ trong những nhạc phẩm trình bày, dù cho đó là một bài hát cũ đã được nhiều người trình bày trước đó với mục đích tạo nên một sắc thái mới mẻ.
Ngoài ra Tuấn Anh cho biết anh nghiên cứu rất kỹ những nhạc phẩm trình diễn trước khán giả cũng như được thu vào băng nhạc hay CD.

Sở dĩ Tuấn Anh tạo được thành công một phần nhờ thời gian theo học hai năm ở Houston và Long Beach về ‘vocal’, ‘acting’ và ‘performance’ và sau khi tốt nghiệp đã áp dụng vào đầu óc nhiều sáng kiến của mình.

“Có thời kỳ Tuấn Anh trình bày những nhạc phẩm Việt Nam theo thể điệu Rap tạo nhiều thích thú cho người nghe, Tuấn Anh cho biết chính anh đã có sáng kiến đó,
cũng như là người đầu tiên chuyển nhạc Trung Hoa qua tiếng Việt, đặc biệt trong số có nhạc phẩm Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải rất nổi tiếng trong những năm đầu thập niên 60…”

Trả lời câu hỏi, khán giả ái mộ Tuấn Anh đã nhìn Tuấn Anh như một nam hay một nữ ca sĩ(?) họ Nguyễn đáp:
“… ‘Một nam ca sĩ trong một phong cách nhẹ nhàng thanh thoát. Rất riêng, rất đặc biệt’, vừa nói anh vừa xòe năm ngón tay chải chuốt dẻo mềm, miệng cười túm tím,
mắt đưa đẩy tình tứ, đầy nét duyên của một người nữ.
“Nhưng anh lại nói tiếp rằng ‘tuy vậy vẫn không đánh mất cái đàn ông của mình’, anh chỉ vào hàm râu đen chạy đều đặn trên cặp môi có kẻ son nhạt.
“Tuấn Anh nói rằng âm nhạc Việt Nam phải có một phong cách mới, và là điều anh cố gắng thực hiện hoài bão đó từ khi đến với khán giả khắp năm châu…”

Tuy nhiên, để có và duy trì được sự thành công của mình tới hôm nay, con đường Tuấn Anh đi, không hề suôn sẻ.
Trên lộ trình chinh phục khán giả đằng đẵng mấy chục năm liên tiếp, đôi lúc họ Nguyễn cũng chảy nước mắt:
“…‘Rất nhiều nước mắt đắng cay, rất nhiều những con sâu trong làng văn nghệ’ anh thổ lộ.

“Anh không muốn nêu đích danh tên của những ‘con sâu’ nhưng theo lời anh kể có những người liên quan đến ngành nghề ,chỉ hành động theo bản năng mà anh gọi là ‘kém nhân tính và phi nghệ thuật’.
“Nhiều người hiền hòa đã không nói ra hay không dám nói và đó là cơ hội để những con sâu tiếp tục lợi dụng công sức của họ. Và nơi nào cũng có...”
Tuy nhiên, không vì thế mà Tuấn Anh từ bỏ đam mê của mình. Họ Nguyễn nhấn mạnh:
“ ‘Được sống và vẫy vùng trong biển nghệ thuật một cách tự do tuyệt đối và sẵn sàng đương đầu với mọi nghịch cảnh’, là điều anh mong ước nếu có phải làm lại từ đầu,
nhưng anh cũng tự nhận là ‘một lãng tử, một lữ hành cô độc trong vòm trời nghệ thuật’.

“Anh cho biết sử dụng nước hoa hiệu Guerlain For Men và có vừa đủ các kiểu nhẫn, dây chuyền, kiếng mát, bông tai cùng nhiều thứ nữa ,
để thích hợp với những bộ y phục trình diễn và cũng để ‘bày tỏ lòng thương yêu với khán giả’.

“Những tốn kém về phục sức của Tuấn Anh chỉ nhằm mục đích duy nhứt là biểu lộ sự tôn trọng khán giả, lúc nào cũng gọn gàng đẹp đẽ trước con mắt của người xem,’ anh nói”.

Giữa thập niên 1980s, trong một bài viết về tiếng hát Tuấn Anh, tôi nhớ, đã ghi xuống, đại ý:
Cơn lốc quyến rũ mang tên Tuấn Anh, không chỉ vì âm vực rộng của họ Nguyễn với những nốt nhạc lên cao không gắt hay, tính thì thầm, dỗ dành,
phủ dụ khi giai điệu một ca khúc xuống thấp… Mà, nó còn nằm nơi ý thức của tiếng hát này qua những chữ ý nghĩa nhiều mặt của tiếng Việt nữa.
Ý thức đó, có được, theo tôi khởi từ trình độ, sự hiểu biết của một cá nhân có bề dầy kiến thức.

Nhắm mắt lại, để tiếp nhận thuần túy tiếng hát qua nghệ thuật phát âm của Tuấn Anh, người nghe sẽ dễ dàng nhận ra “tâm bão” của tiếng hát này là những rung cảm sâu, lắng,
đi ra từ một trái tim hòa được nhịp đập với những bấp bênh, gập ghềnh thực tế, phũ phàng đời thường…
Cụ thể là ca khúc được coi là gắn liền với tên tuổi Tuấn Anh, tới hôm nay, “Kiếp đam mê” của Duy Quang

“Tôi xin người cứ gian dối
Cho tôi tưởng người cũng yêu tôi
Cho tôi còn được thấy đời vui
Khi cơn mưa mùa đông đang đến
Xin giã từ ngày tháng rong chơi
“Đôi tay này vẫn chờ mong
Con tim này dù lắm long đong
Tôi yêu người bằng nỗi nghiệt oan

Không than van và không trách oán
Cho tôi trọn một kiếp đam mê
“Ôi tôi ước mơ anh bỏ cuộc vui
Trở về căn phòng này đơn côiMôi anh ru nỗi đau tuyệt vời
Khi màn đêm phủ lứa đôi
Là thời gian cũng như ngừng trôi
Thương yêu này người hãy nhận lấy
ôm tôi đi môi hôn tràn đầy

Trong tay người hồn sẽ mù say bao khốn khó vụt bay
“Tôi không cần và nghi ngại khi
Ai chê bai thân tôi khờ dại
Tôi yêu người hồn chẳng tình trong
Tôi vẫn cứ đợi mong
“Tôi xin người cứ gian dối
Cho tôi tưởng người cũng yêu tôi
Cho tôi còn được thấy đời vui
Khi cơn mưa mùa đông đang đến

Tôi xin người cứ gian dối
Nhưng xin người đừng lìa xa tôi”.

Ca khúc “Kiếp đam mê” của Duy Quang không chỉ có Tuấn Anh thể hiện mà, rất nhiều ca sĩ nam cũng như nữ đã tìm tới, ở quá khứ cũng như hiện tại.

Tuy nhiên, với tiếng hát Tuấn Anh, những chữ có một hay nhiều hơn một âm trắc, như các cụm từ “nỗi nghiệt oan”, “hãy nhận lấy”, “bao khốn khó vụt bay”…
chúng không còn là những con chữ xơ cứng, như những kêu rêu thê thiết thiếu hồn vía nữa, mà, tiếng hát Tuấn Anh đã thắp sáng được những gì các cụm từ ấy chất chứa trong “thân thể” chúng.
Phải chăng vì thế, khi Boy George của Anh quốc đã biến mất từ nhiều chục năm qua, như ngọn lửa chỉ có một thời rực rỡ ngắn
- Thì Tuấn Anh vẫn còn hiện diện với “Kiếp đam mê” của mình?

Du Tử Lê


https://www.youtube.com/watch?v=U_qzdEiVZuI?si=FeAXR-OXUz7QzM2L

linhphy
12-24-2024, 08:16 PM
Lời tình buồn -Chu Trầm Nguyên Minh

Gần 50 năm trước bài thơ "Lời Tình Buồn "của tác giả Chu Trầm Nguyên Minh xuất hiện như một lời chia tay trong tâm trạng bấp bênh
, mang đầy nuối tiếc của kẻ ra đi mà chẳng biết ngày về…
“Anh đi rồi” vang lên như lời than thở của kẻ đang giã từ đời sống bình yên để bước vào cõi đạn bom.

Cuộc ra đi đó là dấu chấm hết của đời thư sinh, xếp bút nghiên để cầm lấy súng.
Bản tính hiền hòa, CTNM mang súng mà có lẽ chắc chẳng biết phải dùng súng để làm gì.

Trong lòng anh chỉ mang nặng những âu lo, trước mắt anh chỉ có một bầu trời đầy sa mù nên lời thơ của anh âm thầm vang lên như một nỗi buồn thân phận.
Cá nhân. Nhưng cũng là tập thể, của những trai tráng cùng thời…
Chỉ với câu thơ đầu : “Anh đi rồi còn ai vuốt tóc”….

Bài thơ đã ngân lên như một khúc nhạc nhẹ nhàng, nhưng cũng đầy day dứt, xót xa khi phải xa cách trong tình yêu.
Chỉ một từ “đi” thôi nhưng sao nó làm nỗi buồn như kéo dài đến vô tận !

Từ “đi ” ở đây không hẳn là chuyển động… mà còn là sự chia ly, là kéo dài khoảng cách không gian giữa hai kẻ yêu nhau,
sẽ không còn thấy, không còn gặp, không còn được tình tự, âu yếm nhau nữa.
Một cảm giác cô quạnh khi hai người không được sống bên nhau

. Sự chia ly làm kẻ ra đi buồn da diết và tình yêu sâu sắc của anh dành cho người ở lại lúc này đang lớn lên như biển như trời
. Những câu hỏi kế tiếp chính là nỗi băn khoăn của kẻ ra đi : “đêm xuống rồi em buồn không hỡ?”
Trời sa mù tầm tay với âu lo…
Chắc chắn là chỉ trước lúc xa nhau

Đọc thơ anh, không khó nhận ra là lời thơ tự nhiên tuôn chảy, hoàn toàn không cường điệu hay cố gắng tạo ra những tiếng kêu thê thiết…
mà âm vang vẫn man mác, trầm buồn.
Anh đi rồi còn ai đưa đón…

Nỗi lo lắng đơn giản mà xúc động. Những câu hỏi sau đó còn được anh liên tiếp, phóng bút đưa ra, dồn dập… như sự hốt hoảng này chính là nỗi buồn/nhớ đang giăng ngập hồn mình.
Nó chiếm lĩnh trọn tâm hồn kẻ ra đi. Bởi ra đi trong thời khói lửa chiến tranh là sự ra đi một đi không trở lại.
Quá khứ không quay về…
Có còn lại chỉ là những kỉ niệm về ngày xưa.
Những hoài niệm làm người đi day dứt… nên “đi rồi” mà như vẫn đứng đó,
ngẩng nhìn về phía sau, vì, chỉ một chút nữa thôi là không còn chi nữa.
Không còn mái tóc xanh “trùng dương sóng lượn” không còn cả ngôn ngữ để “nói hết yêu thương”.

Đi, mà lòng vẫn ao ước được ở bên em… ở đâu cũng được, dưới thấp hay trên cao, thậm chí lơ lửng giữa bầu trời như một đóm sao…
miễn là được nhìn thấy em, chiêm ngưỡng em… chăm lo cho em mọi thứ.
Nhưng đi rồi…thì không gian xa khuất… nên lòng “..chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng

Bâng khuâng. Và lo sợ. Vì ngày mai biết đâu anh sẽ không còn sống, hay sống sót trở về mà một phần xương thịt đã gửi lại núi rừng.
Bài thơ chỉ có vỏn vẹn 112 chữ nhưng chứa đựng bao điều muốn nói. Ngắn, nhưng cô đọng những tâm tình, những âu lo,
mất mát, của tuổi thanh xuân chìm sâu hun hút theo dòng lịch sử của một thời chinh chiến.

Bài thơ khi đọc lên, tự nó đã thấy buồn. Rồi qua lời hát nó còn da diết hơn. Thê thiết hơn.
Ngôn ngữ trữ tình thanh thoát còn được bay lượn trên làn sóng âm thanh làm lòng người nghe cảm nhận một cảm giác chơi vơi.
Đó có phải là kí ức về một thời trai trẻ, về mối tình đầu… mà ai ai trong chúng ta cũng sẽ giữ mãi ?
Cho dù ngày sau có ra sao đi nữa…có chết đi…thì vẫn hạnh phúc vì đã có được một tình yêu nồng thắm…

“Phúc yêu em dấu lần quá khứ ”… Âm thanh du dương cao vút rồi khép lại bằng “ Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô” …
Rồi tất cả chìm vào hư không… Còn lại chăng chỉ là một nỗi buồn, tiếc, nhớ… mênh mang…

Thơ là một dòng suối mà ngôn ngữ là con thuyền chuyên chở cảm xúc, nhờ thứ ngôn ngữ cô đọng đó nên “cái bên trong” của nhà thơ…
lan ra bên ngoài…tưới mát tâm hồn và chạm đến trái tim người đọc.
Thế nhưng xưa nay hiếm có những bài thơ mà âm vang dừng lại thật lâu, đọng lại trong tâm người thưởng thức..


Phần lớn những vần thơ đến với chúng ta chỉ trong một thoáng, nó như bức tranh mây đa sắc xuất hiện giữa bầu trời…
Và hình như chỉ khi nào có một họa sĩ tài hoa bằng nghệ thuật độc đáo của mình,
nắm bắt được hình ảnh bất chợt, vẽ lên tranh thì hình tượng ấy mới trở nên cụ thể, hư ảo và sắc màu cùng hiện thì cảm xúc của nhà thơ mới được hình tượng hóa :
và người yêu thơ mới có thể cảm nhận hết sự cộng hưởng của giai điệu và lời ca.

Bài thơ Lời Tình Buồn của CTNM nhẹ nhàng và ngôn ngữ tự nó có mang theo âm tiết như một bài ca.
Nhưng phải nói thêm là tiếng vang của nó sẽ vụt tắt nếu không bắt gặp bàn tay tài hoa của Vũ Thành An.

Chính có sự gặp gỡ này thì ngôn ngữ và âm thanh mới giao thoa và những cung bậc cảm xúc được vang lên
bằng một thứ âm thanh len lỏi vào trái tim người nghe, ngân vang và được lưu giữ mãi.
Bài hát đã chắp cánh cho những vần thơ ngọt ngào, da diết … bay cao, lay động lòng người.

Nhiều năm sau nghe lại Khánh Ly… giọng hát có lúc trầm buồn, có khi cao vút, khơi dậy trong lòng người nghe
những nỗi nhớ của một thời yêu thương, lòng vấn vương bao kỷ niệm của hương xưa, của thuở chiến chinh, của trời mây non nước…

:Lời Tình Buồn " cuốn hút, mang tâm hồn tôi bay ngược về quá khứ, hất tung những hình ảnh bị che mất dưới lớp bụi mịt mờ của thời gian…
.
Trương văn Dân


https://www.youtube.com/watch?v=__OqIRQA1eY?si=sSt886aafE2PwpnH

linhphy
12-24-2024, 08:31 PM
Tinh Ca Việt Nam -Nhạc chủ đề trên Radio

Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người - Bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau...
Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta”..
.“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó:

Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức,
một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ...
Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố”...

Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó của thập niên 60.
Nguyễn Ðình Toàn đọc những lời giới thiệu ấy sau phần nhạc hiệu của chương trình, và tiếp theo là những giọng hát và những ca khúc chọn lọc đến với thính giả

- Giọng hát Duy Trác và “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, giọng hát Thái Thanh và “Giáo Ðường Im Bóng” của Nguyễn Thiện Tơ, giọng hát Sĩ Phú ,
“Trở Về Dĩ Vãng” của Lâm Tuyền, giọng hát Lệ Thu và “Bóng Chiều Tà” của Nhật Bằng, giọng hát Khánh Ly và “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy...
Những lời giới thiệu ấy, những lời ca tiếng hát ấy dội vào tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam, một thế hệ lớn lên trong bối cảnh của những cơn binh lửa nối tiếp nhau trên quê hương.

Và kỳ lạ thay, đến bây giờ những ca khúc ấy vẫn ở lại trong ký ức họ, cho dù nhiều năm tháng đã trôi đi, bao nhiêu khuôn mặt đã xa khuất, một cuộc chiến đầy cay đắng đã tàn ,
để nhường chỗ cho một thảm kịch khởi đầu, một thế hệ đang lùi dần vào quá khứ trong khi nhân loại đón chào một thiên niên kỷ mới...

Nếu như đối với các thính giả ái mộ “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60, chương trình phát thanh ấy là một thư viện cất giữ giùm cho họ,
những trang sách kỷ niệm vô giá của tuổi thanh xuân hay một thời yêu đương, thì đối với sinh hoạt văn nghệ nói chung,
“Nhạc Chủ Ðề” là nhịp cầu tiếp nối giữa dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc sau cùng của miền Nam tự do.

Chất nối kết hai dòng nhạc ấy là tình yêu, cho nên cuộc hành của “Nhạc Chủ Ðề” chính là cuộc hành trình của tình ca Việt Nam, dọc theo những năm tháng oan trái nhất của lịch sử...
“Tình Ca Việt Nam” là tựa đề của băng nhạc đầu tiên và duy nhất do người khai sinh chương trình “Nhạc Chủ Ðề” - nhà văn Nguyễn Ðình Toàn - thực hiện vào năm 1970.

Ngày đó trên quê hương chúng ta, compact disc và video chưa xuất hiện, mới chỉ có hình thức“bande magnetique”, và các phòng thâu băng cũng chưa có những thiết bị kỹ thuật tối tân
để lọc âm thanh, ghép tiếng hát...
Giữa giông bão chiến tranh, trong nỗi mong manh bọt bèo của thân phận con người và số phận đất nước



Những ca khúc bất hủ của kho tàng tình ca Việt Nam được ghi lại và cất lên qua những giai điệu tuyệt vời nhất, vào giai đoạn thăng hoa nhất của những tiếng hát :
-Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú, Võ Anh Tuấn
Qua tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy...
tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây...

Hơn ba mươi năm sau, khi khối người Việt Nam lưu lạc nơi hải ngoại đã chuyển tiếp từ thế hệ thứ nhất qua thế hệ thứ hai, rồi thế hệ thứ ba,
“Tình Ca Việt Nam” mới được in và phát hành lần đầu tiên dưới hình thức CD.
Nguyễn Ðình Toàn gửi đến thính giả mười lăm bài hát cũ của chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn,
cùng lúc với tuyển tập ca khúc thứ hai do ông sáng tác “Tôi Muốn Nói Với Em”.
Và như thế, phải chăng một nhịp cầu đã được nối trở lại?

Nhưng câu hỏi ấy đặt ra để làm gì nhỉ? Ba mươi quá đủ dài để dập vùi bao nhiêu cuộc đời, xé nát bao nhiêu giấc mơ, cuốn phăng bao nhiêu ân tình,
nhưng vẫn chưa và có lẽ chẳng bao giờ xóa sạch được dấu vết kỷ niệm trên ký ức của những người đã lạc nhau trong một cuộc bể dâu.
Ba mươi năm trước, khi viết lời giới thiệu “Hướng Về Hà Nội”, Nguyễn Ðình Toàn nhắn nhủ rằng sự chia lìa hai thành phố trên cùng một đất nước
cũng đớn đau y như cuộc phân ly giữa những cặp tình nhân sinh ra đời để yêu nhau.

Bây gờ đây, có những người mở mắt chào đời ở Hà Nội và trưởng thành ở Sài Gòn nhưng chẳng biết có còn được một ngày trở về để nhìn lại hai thành phố thân yêu ấy lần nữa hay không.
Sự chia lìa giữa người và người đã trộn lẫn trong cuộc phân ly giữa người và quê hương, cũng như những con sông đều trở thành dòng vĩnh biệt để chảy vào biển cả câm lặng.

Có bao giờ
Còn có bao giờ ta thấy lại nhau không?”

... Mỗi ca khúc ấy là hóa thân của một bài thơ, được viết trong đầu rồi hát trong tim, như sự mài dũa trí nhớ để chống chọi với một cơn mộng dữ.
Nhưng dẫu cho đau buồn bao nhiêu và cay đắng chừng nào, những bài thơ ấy vẫn còn nguyên vẹn sự óng chuốt và mềm mại, cũng giống như những lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60.

Thật là kỳ lạ khi mỗi câu thơ và lời hát này, sau bao nhiêu đợt sóng quay cuồng của định mệnh, vẫn có thể mang người ta trở lại với một ngày nắng vui hay một chiều mưa buồn,
một buổi sớm mai trong mảnh vườn nhỏ của Hà Nội hay một đêm khuya hiu hắt trên đường phố Sài Gòn.
Nếu người ta tái ngộ với chính mình qua những dòng thơ “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” thì người ta cũng cảm thấy lòng trẻ lại với “Căn Nhà Xưa”.

Cái rung cảm của năm nào
“Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm, sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan, trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết” - vẫn trở lại đầy ắp trong lời thầm thì của mấy chục năm sau:

“Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải, nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái...
Có những sớm em tìm đến, với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm...
Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng, đã đổi màu xanh lấy hương nồng...”


https://www.youtube.com/watch?v=8phTLVLyv4U?si=caC-Dyf7cyp900Vg

linhphy
12-24-2024, 08:40 PM
Những ca khúc ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi:
“Biết đâu có một ngày ở hai phương trời cách biệt mà cũng đều là đất khách quê người, có đôi tình nhân cũ tuy xa nhau hàng ngàn dặm nhưng đang cùng chia xẻ với nhau một thanh âm quen thuộc, để nhắn nhủ nhau rằng
“ Tình Ca - những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người - bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau...”

“Tôi Muốn Nói Với Em” (2001) là tuyển tập ca khúc thứ hai của Nguyễn Ðình Toàn, sau tuyển tập “Hiên Cúc Vàng” [1999] với 10 ca khúc đánh dấu những ngày đầu tiên khi tác giả đặt chân tới nước Mỹ.
Và tiếp theo đó là tuyển tập thứ ba:
“Mưa Trên Cây Hoàng Lan” (2002)

Một trong những ca khúc của tuyển tập này, được trình bày qua giọng hát Khánh Ly, mang tên “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, với những lời hát mà ngay từ đầu năm 1976 đã trở thành rất quen thuộc với thính giả hải ngoại,
nhưng dường như chỉ được biết đến dưới tựa đề bài hát “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của một tác giả khuyết danh.
Cũng như Hà Nội, Sài Gòn trong lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” có thể chỉ là một nơi chốn kỷ niệm nào đó - “một thành phố nơi người ta đã yêu nhau”.

Nhưng đối với tác giả bài hát, và đối với cả một thế hệ những người yêu quý ông, Sài Gòn giống như một chiếc hộp thần bí mà Pandora đã vô tình mở ra, và những oan khiên thống khổ,
tràn ngập không gian là cái giá phải trả cho những hạnh phúc tuyệt vời mà người ta nhận từ thế giới huyễn hoặc của một thời tuổi trẻ.

Sài Gòn là nơi từ đó, suốt thập niên 60, qua làn sóng điện giữa đêm khuya thanh vắng, chương trình “Nhạc Chủ Ðề” đã gửi đến thính giả những viên ngọc trác tuyệt nhất của kho tàng tình ca Việt Nam
, những sáng tác bất hủ của Ðoàn Chuẩn, Ðặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bích, Lâm Tuyền, ...
Mỗi bài hát là tặng vật vô giá mà chỉ riêng các cặp tình nhân Việt Nam mới có thể chia sẻ cùng nhau.

Sài Gòn cũng là nơi mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết lên những ca khúc của chính ông, đầy chất thơ và miên man tình tự, ghi lại dấu vết những cuộc tình không may ...

Trong những năm tháng nhọc nhằn cùng khổ, đầy bất trắc ấy, giữa một thành phố yêu dấu đã bị mất tên, có những người bạn thầm thì với nhau “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, để nhớ...

Rồi cơn sóng thời gian lại cuốn đi, hết thập niên 70, rồi hết thập niên 80, cuộc bể dâu tiếp tục vùi dập từng mảnh đời,
chia xa những thân tình, thử thách những số mệnh, như âm vang của một lời tiên tri nhẹ nhàng nhưng đau đớn:

“Này đường xưa tôi đi
Khóm cây bao lần thay lá nhớ
Dòng đời trôi quanh co
Có khi xui người lỗi hẹn hò...”

Dường như mỗi bài hát mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết và mang theo khi ông rời xa quê hương là dấu vết còn sót lại của một thời mà người ta cùng nghe với nhau và hát cho nhau nghe những bản tình ca.
Những bài hát ấy rất buồn, mỗi lời hát có thể như một tiếng thở dài chua xót, nhưng đó là ngôn ngữ của tình ca, của hạnh phúc và khổ ải quyện lẫn với nhau thành tặng phẩm của trần gian.
Như ai đã nói:
“Chẳng có gì khác biệt giữa những giọt lệ khóc thương và những giọt lệ mừng vui”, biết đâu mỗi kỷ niệm đắng cay âm thầm chứa đựng một phút giây hạnh phúc?

Và nếu Sài Gòn - như lời hát viết cho một người tình đã mất tên - chính là chiếc hộp oan nghiệt mà Pandora đã mở ra, thì người ta cũng có thể nhắc nhở nhau rằng,
chiếc hộp ấy đã được đóng lại sau khi tất cả những thống khổ và bất hạnh đã tràn ngập không gian,

Và nơi đáy hộp vẫn còn sót lại một tặng vật cuối cùng, mang tên hy vọng, để Sài Gòn sẽ không mãi mãi chỉ là một “Quê Hương Thu Nhỏ” trong lòng người viễn xứ.

Đào Trường Phúc


https://www.youtube.com/watch?v=FBt3SjCmdNA?si=XzkCVgR4l1Bx4PXk

linhphy
12-25-2024, 11:53 AM
Vì Sao Khiêm Tốn :Lam Phương

Người mà tôi muốn đề cập đến là nhạc sĩ Lam Phương.
Tôi cho anh Morita biết tôi muốn viết bài về anh Lam Phương (LP), anh Morita đồng ý vì cả hai chúng tôi đều thích nhạc của LP.

Ngược dòng thời gian khi tôi còn nhỏ tôi thường nghe những nhạc phẩm ca ngợi nét đẹp đồng quê như bài “Trăng Thanh Bình”, “Nắng Đẹp Miền Nam” hay “Khúc Ca Ngày Mùa”,
những bài hát mang người nghe về cái nắng ấm của miền nam tự do cho người Việt sống dưới vĩ tuyến 17

Sau năm 1954, trăng thanh bình thật sự chiếu sáng các vùng đồng quê Việt Nam, khi mà người dân quê chưa bị ảnh hưởng nhiều vì những nghiệt ngã tang thương của cuộc chiến khốc liệt,
để biến họ thành những nạn nhân của những tranh chấp ý thức hệ.
Nhạc LP chan chứa cái ước mơ của cuộc sống họ thật bình dị với cái hạnh phúc của trăng thanh bình, của mơ mùa lúa mới, của gạo trắng trăng thanh như:

“Giờ đây ánh trăng lên rơi xuống khắp đồng quê
bao la la bao la ạ..ạ..
Có một đàn cò trắng bay về về đồi xa
xa xa xa vời.
Mừng vui lúa tung tăng hò reo lúa mừng trăng reo
vang vang tình tang lúa reo.
Lúa mừng cuộc đời sống thanh bình đã về đây
với dân yên lành.”

Người nông dân vất vã đổ mồ hôi, nhoc nhằn cho thửa ruộng mà họ bám víu để sinh sống. Ngày mùa gặt hái thu hoạch dưới ánh trăng vàng là niềm hạnh phúc của đời sống thôn quê.
LP diển tả niềm vui sướng của người nông gia qua bài “Khúc Trăng Ngày Mùa” với tiếng chày khua giã gạo, xen lẫn tiếng hát hoan ca ngày mùa:

“Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác
chiếu hồn quê bao khúc ca yêu đời
.Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát
Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời
Lờ lững trôi qua trôi mãi trong chiều tà
tiếng tiêu buồn êm quá
Hồn ngất ngây trong tiếng hát đưa nhịp nhàng
tiếng cười thơ ngây
Mịt mùng đêm thâu cung hằng chênh chếch bóng
khuất sau rặng tre
Tiếng ai hò chập chùng xa đưa

LP diển tả nét đẹp của miền nam, nơi bao người dân hiền hòa, yêu chuộng tự do được may mắn sống dưới ánh sáng của thiên nhiên, của tình người,
qua bài “Nắng Đẹp Miền Nam”:

Đây trời bao la ánh nắng mai
hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh.
Ta cùng chen vai đem tay góp sức
tăng gia cho người người vui hòa .
Đường cày hôm nay lên tràn
bông lúa mới ôi duyên dáng đồng ơi!
Đến mai sẽ là ngày muôn hạt chín lả lơi
mình ngắm nhau cười.

Kìa đàn chim quê chim tung bay về đâu
mang tin rằng giờ đây ta sống với bình minh.
Tiếng ca trong lành tiếng hát lừng trời xanh
đẹp biết bao tâm tình...
Tình là tình nồng thắm
buộc lòng mình vào núi sông
tình mến quê hương.
Ngàn bóng đêm phai rồi
vầng dương lên soi đời làng ta nay rạng ngời!... “

Năm 1954 khi miền nam hân hoan tiếp nhận hai triệu người di cư từ miền bắc vượt vĩ tuyến 17 để tìm tự do nơi phương nam,
Lam Phương sáng tác nhạc phẩm “Chuyến Đò Vĩ Tuyến”,
nói lên mối tình chia cách bởi định mệnh khắt khe của quê hương phân ly:
Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mông mênh
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng
Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm bên lúa vàng ngào ngạt dâng
Ơ... aị.. hò ...
Giòng sông mơ màng và đẹp lắm ...”

Tôi và anh Trang Morita vui vẽ trao đổi những mẫu chuyện với anh LP để hiểu rỏ hơn thời niên thiếu của anh.
Anh cho biết về chi tiết của người nhạc sĩ mà cả hai chúng tôi đang đối diện, anh từ tốn kể chuyện vui vẻ

Tôi nhận thấy nét khiêm cung và nụ cười hiền hòa, với cung cách ăn nói khoan thai, nhỏ nhẹ như sau:
Thuở nhỏ của anh rất hàn vi vì vào thời kỳ thế chiến thứ hai bùng nổ người dân quê sống giữa hai lằn đại của quân đội Nhật và Đồng Minh,
gia đình anh chia chung số phận kém may mắn của vận mạng quê hương, gia đình anh nghèo, thiếu thốn,nhưng anh lại may mắn có người hiền mẫu hết lòng yêu thương con cái.
Trong lúc tâm sự chúng tôi thấy nét xúc động dâng tràn mỗi khi anh nhắc về bà mẹ của mình.
Tôi vừa hỏi vừa ghi chép tiếp về tiểu sử của anh.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/3/1937 tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá. Anh là người anh cả trong gia đình gồm 6 anh em.
Các em của anh không ai lại chọn con đường âm nhạc hay nghệ thuật như anh.
Khi anh kể tiếp thêm về thân phụ mình thì trong thời Thế Chiến thứ 2 loạn lạc, thôn quê miền Nam VN thường bị phi cơ của quân đội Đồng Minh oanh kích,
tấn công quân Nhật đang chiếm đóng Đông Dương.

Nhiều gia đình đã phải lánh nạn, thông thường người đàn ông trưởng gia đình lên thành phố lớn kiếm sống và để thăm dò đường tái định cư nơi yên ổn cho toàn gia đình còn lại.
Thân phụ anh ra đi lên Saigon nhưng ông đã không trở về đón vợ con.
Ông quyết định ở lại với những bóng hình của người phụ nữ khác.
Để rồi sau này Lam Phương có nhiều em khác dòng, cùng cha khác mẹ.

Lam Phương rất thương mẹ.
Mẹ anh là một bậc hiền mẫu, một lòng nuôi nấng con cái cho ăn học, bà như bao bà mẹ quê dù chất phác, mộc mạc, nhưng bà sống trọn tình mẫu tử.
Những năm tháng hàn vi đó đã hun đúc cho Lam Phương thành con người kiên trì và nhẫn nại và anh đã dồn hết tình thương cho người mẹ.
Hoàn cảnh hàn vi đó đã ảnh hưởng đến sự phấn đấu liên tục để vươn lên, nó đã tô luyện cho anh một ý chí tự lập thân
và còn lo cho gia đình, một đặc điểm cao quí của nội tâm Lam Phương .

Và cũng bởi lòng yêu thương người mẹ hiền mà LP đã quyết tâm vượt mọi trở ngại để thành công trên bước đường sự nghiệp âm nhạc của mình.

Để rồi sau này tại Saigon Lam Phương đã thành đạt ý nguyện tạo một cuộc sống khả quan đền đáp mẹ hiền.
Tôi nhận xét anh Lam Phương là một con người rất tình cảm. Tình thương mẹ lúc nào cũng ấp ủ con tim anh.
Hình ảnh người mẹ hiền lúc nào cũng phảng phất trong nét bình dị của những ca khúc về mẹ của LamPhương.

Tôi nghe bài “Tạ Ơn Mẹ” mà mường tượng trong tâm trí sự diệu hiền của người mẹ quê với tình thương bao la nuôi con khôn lớn.
Rồi ngày hôm nay, người con gởi lại mẹ những lời tri ân nồng nàn nhất về mẹ, vì mẹ và cho mẹ như bài hát sau:

“Đêm nay nằm nghe sóng vỗ, êm đềm như tiếng mẹ ru
Lời ru của thuở ban đầu, nụ cười tiếng khóc đầu môi,
đã làm đời mẹ buồn vuị..
Đến khi khôn lớn ra đời, lời mẹ hiền nhớ khôn nguôi
...
Ạ`... ơị.. lời đó cho con ngọt bùị..
Ạ`... ơị.. tiếng ru man mác xa vờị..
Những lúc đông sang, những ngày băng giá tuyết rơi,
lời mẹ hiền như... giọt nắng... muôn đờị..

là ngọn đuốc soi đường trong đêm dài triền miên đen tối
Dù dòng đời trăm ngàn thay đổi.
Lời yêu thương chở che của mẹ vẫn ngàn đời ấm mãi tim con..."


https://www.youtube.com/watch?v=ZfaEO-K4Dg4?si=Tvlqe4ninB2YSRK0

linhphy
12-25-2024, 12:11 PM
Nói về khuynh hướng nhạc Lam Phương thì âm nhạc anh được sáng tác rất đa dạng về các thể điệu khác nhau, và về các chủ đề khác nhau,
như nhạc quê hương, nhạc tình ca, hay nhạc lính chiến.
Ngày xưa trong thời kỳ học tiểu học trường tôi thường tập dợt các bài hát nhịp nhàng khi trình diển các điệu vũ múa vào dịp bãi trường hay tất niên.
Các cô hay thầy dùng các bài có điệu mambo, tôi nhớ là bài của LP được chọn lựa như bài: “Trăng Thanh Bình”, “Nhạc Rừng Khuya” hay “Khúc Ca Ngày Mùa”.

Sau thời gian gia nhập vào quân đội kể từ năm 1958 trở đi, LP chuyển sang sáng tác các bài tình ca mang hình ảnh của ngừời quân nhân và cuộc chiến như bài “Đêm Dài Chiến Tuyến”,
"Chiều Hành Quân", "Tình Anh Lính Chiến". Tôi nhớ bài tình ca về người lính chiến và người em gái nhỏ hậu phương “Chiều Hành Quân”:

“Một chiều hành quân qua thôn xưa
lúc nắng xuân chưa nhạt màu,
Chạnh lòng tìm người em gái cũ:
Em tôi đã đi phương nào?
Nghẹn ngào nhìn qua hàng tre xanh
ngắm bóng chim đua trên cành,
Giờ tìm đâu hình bóng cũ:
Em ơi! Em đi về đâu?
Về đâu em ơi lúc tình còn sâu
lúc hương trần đời vẫn chờ nhau giữa đêm thâu
Về đâu khi em vẫn là nguồn sống,
khi ánh xuân nồng vừa nhẹ vương lên má hồng...”

Ngày trước năm 75, tôi nghe chị Hoàng Oanh hát bài “Tình Anh Lính Chiến”, tôi thích lắm, bài hát nói lên tình đẹp nên thơ khi người trai đi chiến đấu bảo vệ sơn hà
, nơi hậu tuyến yên vui người em gái xây ước mơ, xây mộng đẹp ngày đoàn viên:
Xuyên lá cành trăng lên lều vải
Lòng đất ấm thương tình đôi mươi
Thương những người mạch sống đang khơi
Đang tìm một cuộc đời cho lòng vơi nét phong sương
Anh chiến trường tôi nơi hậu tuyến
Đời lính chiến xui gặp nhau đây
Đôi đứa mình còn mỗi đêm nay
Nói gì cạn niềm thương để rồi mai ta lên đường...”


Tôi cũng nghe chị Thanh Tuyền cất tiếng ca vang bài hát “Đêm Đài Chiến Tuyến” khi xưa tại Sài Gòn.
Một nhạc phẩm nói lên giờ phút xa xôi nơi chiến trường người chinh nhân đang đồn trú nơi xa xăm, nhớ về người em gái nhỏ, rồi biên những dòng thơ nhung nhớ gởi về từ chiến tuyến:

“Một đêm dài nhớ em, một đêm dài trắng đêm
Nhìn sao rừng nhớ em, nhìn núi đồi thấy em,
người anh yêu trọn đời
Từ khi mình biết nhau, đời ta đẹp biết bao
Giờ vui đời chiến binh, bạn anh là gió sương,
quê anh là muôn phương
Nếu hôm xưa không đến tìm em với muôn lời nồng say
thì giờ trong bóng đêm tình đâu vấn vương
Và tìm ai nhớ thương
Đêm nay gối súng viết lên dòng thư gởi em
Viết cho em, trao cả về em
Viết trong vạn niềm say vì đời trai gió sương
ngoài kia núi sông, thì tim này dâng cả em
anh xin một điều, là mình đừng dối lừa nhau,
đừng gây niềm kỷ niệm khổ đau, vì thư hồng vẫn trao.”

Anh LP kể tiếp cho chúng tôi nghe là về sau anh gia nhập vào Đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi về cộng tác với các đài phát thanh như Đài Phát Thanh Quân Đội,
Đài Phát Thanh Sài Gòn và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.
Tôi nhớ ngày xưa được nghe các chương trình kịch nghệ của ban Thẩm Thúy Hằng hay ban kịch Sống của Túy Hồng, mà nhiều bài hát của LP được lồng vào các vở kịch như: “Nghẹn Ngào”,
"Phút Cuối", ”Chờ Người”, "Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi", “Đèn Khuya”, "Chiều Tàn", "Đèn Khuya", "Mộng Ước”,”Thu Sầu”, “Trăm Nhơ’ Ngàn Thương”,

... Bài tôi vẫn nhớ vì tôi có một người bạn thân có kỷ niệm riêng với nó là bài ca nhạc tình xao xuyến “Phút Cuối”.
Anh ca nhạc phẩm này rất hay và rốt cuộc phút cuối anh tan vỡ với người tình như nội dung của bài hát:

“Chỉ còn gần em một giây phút thôi
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Nguời theo cánh chim về vui với đời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi
Núi đồi lồng lộng chiều mưa nhớ ai
Biển xanh vẫn xanh nguời đi sao đành
Để trong giấc mơ hồn anh thẫn thờ
Em ơi bao giờ mới đuợc gần nhau...”

Âm nhạc có những bản nhạc được quảng đại quần chúng trong dân gian tiếp nhận rộng rãi khi nó thực sự nhập tâm hay đi vào lòng người vì nó nói lên nỗi lòng của họ,
hay một cảm nhận mà nhân gian gần gủi trong các tiết tấu, nhịp điệu của bài hát đó.

Bài “Duyên Kiếp” là một trong các bài điển hình khi tôi nghe anh bạn hàng xóm nhà tôi trong cơn bị tình phụ,
tối tối anh buồn tình vác đàn ra trước bao lơn nhà hát nghêu ngao kiểu chế lại lời bài hát:

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao
Mua chai thuốc chuột uống vô là rồi
Đường đời mịt mời vạn nẻo về đâu
Mong chờ duyên kiếp đưa lối niết bàn...”


Khi anh ra nhạc phẩm “Lầm”, nó tiêu biểu cho hàng ngàn con tim trắc trở khi ân hận đưa em sang đây.
Không phải nó chỉ đúng cho khối người di tản đợt năm 75 không thôi, mà gần đây nhiều anh “Việt Kiều” về bên nhà cưới vợ, rồi mang sang Mỹ,
để rồi các anh cảm thấy lời bài “Lầm” thật ai oán, thật phũ phàng như lời tiên tri và nó rất gần gủi với họ hơn bao giờ hết.

Bài hát “Tình Đời” cũng là bài ca nói lên nỗi oan trái của tình trường, tình đến rồi đi theo cơn gió nghiệt ngã, bẽ bàng:

“Em có còn thương nhớ gì không
Trong những đêm lạnh giá canh trường
Một mình lẻ bóng đơn côi
Lời yêu ai đành gian dối
Kỷ niệm buồn che khuất vành môi

Còn nhớ tiếng nói thơm môi, lời yêu một thời
Tình xanh tuyệt vời mà ta đã trao
Và tôi say trong tình vừa nở

Ngờ đâu ngày tan vỡ
Giờ còn trong giấc mơ thôi
Nên mới hiểu nhân thế đổi thay
Khi trắng tay người ngoảnh xa người
Người thì tính toán lợi toan
Người thì trăm bề gian dối
Ngẫm sự đời ta buồn mình ta”

Anh cho biết trong hơn 200 ca khúc anh sáng tác trong đời thì thời gian lưu trú bên Pháp nguồn cảm hứng phơi phới đến với anh tại kinh đô ánh sáng Ba Lê
đã cho anh hơn phân nửa tổng số nhạc đó.

Vui say với tình yêu mới nơi kinh thành Paris, LP sáng tác nhạc phẩm “Mùa Thu Yêu Đương”, nhịp điệu tươi vui, lời nhạc thật tình tứ.
Paris đem những mùa thu của LP thêm ngọt ngào trong hạnh phúc qua lời ca, tiếng hát:

“... Mùa thu ơi
Paris dệt mộng tình si
Khi nghe người đi vào đời,
Thấy lòng như bớt đơn côi

Bờ môi em là nguồn tin yêu đắm đuối
Ngày thuyền tình vào bến mới
Ta sẽ cho nhau tình yêu tuyệt vời

Anh ước mai sau cũng như ngày đầu
Thương lời ngọt ngào
Đưa anh vượt khỏi cơn đau ngày nào
Mùa thu thay lá, mùa nối tơ duyên
Anh nguyện một đời tình ta mãi là
Mùa thu yêu đương. “

Tôi xem anh xuất hiện trên hai VHS 22 và 28 của Thúy Nga Paris By Night, tôi thấy nét phong độ, nét yêu đời của anh.
Do đó chính hoàn cảnh mới tạo điều kiện cho tâm hồn hân hoan, vui vẽ cho anh sáng tác thật sung mãn.
Bài hát “Bài Tango Cho Em” đã nói lên ý niệm của sự suy nghĩ mà tôi vừa nói đến:

“Từ ngày có em về,
nhà mình toàn ánh trăng thề.
Giòng nhạc tình đang tắt lâu,
tuôn trào ngọt ngào như giòng suối.

Anh yêu phút ban đầu,
đẹp nghiêng nghiêng dáng em sầu.
Trong mắt em buồn về mau,
em ơi có khi nào lần gặp đây cho mai sau.

Đường đời vẫn là bãi chiến trường thử thách nhạc sĩ LP.

Rời bỏ Rạch Giá lên Sài Gòn lập nghiệp, anh gặt hái nhiều thành công về kinh tế cũng như danh phận, tạo tên tuổi cho biệt hiệu Lam Phương.
Rồi khi ra hải ngoại đổi đời, hạnh phúc tình yêu thử thách anh, anh vẫn đứng vững tạo thêm nhiều tác phẩm âm nhạc hơn khi còn trong nước

. Đến tháng 3 năm 1999, một thử thách khác lại đến với đời anh là một căn bệnh quái ác tai biến mạch máu não, do chứng tiểu đường gây ra.
Sau biến cố này, bác sĩ Morita được nhạc sĩ Nam Lộc giới thiệu đến trị bệnh cho anh tại nhà, từ đó tôi được dịp thăm anh.

Hậu quả của căn bệnh tai biến này làm cho anh bị tê liệt nửa cơ thể, đây là một khó khăn lớn cho những hoạt động thường nhật của anh,
mà trong đó cái đam mê và sự nghiệp âm nhạc bị ảnh hưởng nặng nề.
Tuy vậy với ý chí phấn đấu anh luyện tập đi đứng hằng ngày, sức khoẻ của anh có phần khả quan hơn, khi chúng tôi vào nhà,
anh cho chúng tôi đi thăm phòng tập thể lực của anh với các dụng cụ máy móc thể dục.

Gần đây chúng tôi xem DVD Thúy Nga #74, nhạc phẩm mới nhất “Hạnh Phúc Mang Theo” của anh trong giai đoạn hậu tai biến (post stroke) được trình làng.
Có lẽ không ai chối cải Lam Phương là một nhạc sĩ tài danh vì những nhạc phẩm của anh đã đi vào lòng dân gian,
những lời ca từ các bài hát của LP đã đi vào quảng đại quần chúng.

Lam Phương trải qua ba thử thách trong cuộc đời là: Sự nghèo khó lúc thiếu thời,
Sự bấp bênh của hạnh phúc cá nhân khi ra hải ngoại, và Sự nguy hiểm của vấn đề sức khỏe đe dọa đời anh.

Đến nay anh đang hướng về cái tuổi “Cổ Lai Hy” 70, một khúc quanh quan trọng trong cuộc sống đối với người Việt Nam.
Chúng tôi vui khi gặp anh và xin cầu chúc sức khoẻ anh thêm dồi dào.

Khi ra về trên freeway hướng về Los Angeles, anh Morita hỏi tôi sẽ viết gì và có kỷ niệm gì với nhạc sĩ Lam Phương.
Tôi đáp lời anh Morita là bài viết tôi sẽ kể nhiều về những nhạc phẩm của anh Lam Phương mà tôi thích.

Lam Phương cho tôi niềm lạc quan, sức phấn đấu bền bỉ và nụ cười hiền hòa như những mùa trăng thanh bình trong bài hát của anh.
Và điều trên cao hơn hết mà chúng tôi quí anh vì:
"Lam Phương là một vì sao khiêm tốn."

Việt Hải


https://www.youtube.com/watch?v=lqP8s7pZ-EM?si=3bKq-X_kwvaTXNLL

linhphy
12-25-2024, 12:24 PM
Thà Như Giọt Mưa

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá, thà như giọt mưa khô trên tượng đá
...có còn hơn không, có còn hơn không
Người từ trăm năm về như dao nhọn, người từ trăm năm về như dao nhọn ...
dao vết ngọt đâm ta chết trầm ngâm
dòng máu chưa kịp tràn, dòng máu chưa kịp tràn ...”

Đầu thập niên đầu 70, những bài hát tình của Phạm Duy, phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, đã được tiếng hát ngọt ngào của Duy Quang đưa vào lòng người,
nhất là các thanh thiếu niên, những người trẻ sống giữa chiến tranh, nhưng vẫn yêu đời, và ... yêu nhau .

Yêu nhiều hơn nữa, vì giữa những pháo đạn, những triết lý, chính trị, bàn cãi của người lớn, những đêm đi từ lớp học thêm Anh Ngữ này, đến lớp học thêm Lý Hóa nọ,
và những tối thức khuya với chồng bài vở, thi cử, thì âm nhạc là niềm vui, làm đời sống đỡ căng thẳng, để giới trẻ tạm quên chiến tranh.

Đối với những người sống vào thời ấy, những hình ảnh tình yêu của các chàng và nàng học sinh đã được in đậm, ăn sâu đến mấy mươi năm sau, không những thế, thiết nghĩ chẳng lộng ngôn tí nào,
khi bảo rằng những hình ảnh đó đi thẳng vào văn chương Việt Nam.
Đó là cảnh anh học sinh “lính quýnh giữa sân trường trao thư...”, cho cô nàng, “tóc thắt bím, nuôi dưỡng thơ ngây”, và nhất là ... cô em Bắc Kỳ nho nhỏ, đạp xe qua phố:

"Này cô em tóc demi garcon
Chiều hôm nay xuống đường đón gió,
Cô có tình cờ, nhìn thấy anh không?"

Cô Bắc Kỳ nho nhỏ, cô nàng mới lớn xinh xinh, hơi chút kiêu kỳ vì được các anh hàng xóm hay các chàng trường "con trai" theo đuổi ....
Đôi lúc cô hơi chanh chua, ngoe ngoảy, không hiền dịu bằng hình ảnh cô gái tóc thề, nấp dưới nón bài thơ ngày xưa.
Cô tân thời hơn, líu lo dạo phố cuối tuần cùng đám bạn, nhưng không kém phần duyên dáng, cô là cô gái mới lớn ngây thơ, yêu đời và đi chân sáo vào tình yêu.

Quên làm sao được giọng hát trầm ấm của Duy Quang, đaị diện cho các chàng trai cùng thế hệ, tỏ tình cùng các cô em gái dễ thương, còn ngâm ô mai và hay hờn.

“Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”, “Em hiền như ma Soeur”, những bản hát diễn tả những mối tình đầu đời, còn vụng về, còn lấm màu mực tím của các chàng, nàng học sinh, sinh viên tạm quên mọi việc để mà yêu nhau.
Những đón đưa, những chiều tan trường, qua con đường lá me bay, và những ngày mưa, với chiếc xe cổ lỗ xĩ:“Đưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già
Đưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa"
Sao chàng Nguyễn Tất Nhiên lại nhìn ra là em hiền như ma-soeur nhỉ.
Thật sự ai đã từng học trường các Ma soeur rồi thì không đồng ý đâu! Các soeur nghiêm lắm, sáng nào cũng đứng trước cõng, cầm cây thước, đón học sinh.
Cây thước là để đo độ ngắn của váy.
Váy quá ngắn là bị điệu lên văn phòng cảnh cáo! (Các soeurs cũng khôn lắm, đuổi cô học sinh theo mốt về, thì cô nàng có cớ cúp cua,
cho nên thường chỉ bị kêu lên văn phòng nghe giảng morale thôi).
Sau này thì các soeurs “ma-lanh” hơn, hình phạt cho cô nàng thích theo mốt, là phải bận chiếc váy dài, rộng thùng thình của soeur đi vòng vòng trong sân trường.
Bận một lần là tởn tới già, váy rộng, dài, coi chướng vô cùng, còn gì là dân chơi nữa!

Các soeurs mà thấy các anh léo hánh đứng trước cửa trường là các soeur đuổi thẳng tay à.
Thế là có anh tự nhiên ngoan hẳn, dành chở cô em ruột chanh chua đi học, để có cớ đứng trước cổng trường con gái!

Có những anh thì "mặc dày", soeur đuổi đàng này, một chóc lại thấy anh xuất hiện đàng khác rồi. Các soeur cũng không thích học sinh ăn quà và đi học hơi trễ một chút là biết tay với các soeurs ngay.
Thế mà ông Nguyễn Tất Nhiên bảo các soeurs hiền!
Tuy các soeurs và bố mẹ canh kỹ vậy, nhưng tình yêu thắng thế tất cả.
Bởi vì anh lẽo đẽo theo lâu quá mà.

Cho nên mối tình kéo dài tới hai năm

:“Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng xanh xao
Hai năm trời mùa lạnh, cùng thở dài như nhau
Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng hư hao
Hai năm tình lận đận, hai đứa đành xa nhau...
“Xa cách trong thời chiến hiển nhiên quá.

Một kỳ thi không nắm vững là thấy Tương Lai hụt hẫn, không nằm trong tầm tay.
Bốn năm đaị học coi như được thay bằng một bước vào đời xa lạ, khốc liệt
."Người từ trăm năm về qua trường Luật


Người từ trăm năm về qua trường Luật
...Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu,
Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc, đau lòng ta muốn khóc "

Sao lại là người từ trăm năm nhỉ?

Có lẽ người thời nào cũng thế thôi, bước đầu đời hỏng làm ông Tú đời nay cũng đau như ông Tú trăm năm về trước!
Thế đó, sự kết hợp của Phạm Duy và Nguyễn Tất Nhiên được giới trẻ đón nhận một cách nồng nàn, hiển nhiên như đời sống, như thời cuộc! Không phải là một hiện tượng,
mà là những lời thốt ra tự nhiên từ giới trẻ, sống trong một thời đại mà tương lai không do mình định đoạt, tương lai nằm ngoài tầm tay với.

Với tiếng hát ngọt ngào, trẻ trung, có âm hưởng vui, Duy Quang thật thích hợp với những bài hát này.
Không hẹn mà nên, người con đầu của Bố Già Phạm Duy đã diễn đạt được tư tưởng và dòng nhạc tình của ông, giọng nhạc tình dành riêng cho giới sinh viên, học sinh.

Duy Quang hát rất thoải mái, ngọt ngào, không trau chuốt, tựa như tiếng hát của chàng học sinh trong sân trường, ấm, nồng, gần gủi, thân quen.
Lời tình tự của đôi trẻ, tình yêu đầu đời không có đoạn kết, nhẹ nhàng, buồn mơ màng như khói sương, như làn mưa bay trong thành phố, như hạt bụi li ti lấm vào áo nàng, như chiếc xe cũ kỹ của chàng.

Thời đó, Phạm Duy không chỉ có những bản tình ca phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, ông còn có “Con Qùy Lạy Chúa Trên Trời”, thơ Kim Tuấn, “Con Đường Tình Ta Đi " hay “Trả Lại Em Yêu” ,
để ghi dấu những mối tình học trò trên những con đường không tên, những ngày gặp trong quán nhỏ, uống nước chanh, nước dừa và môi em "ngọt"...

Qua nghìn lời hát, tất nhiên Nhạc Sĩ Phạm Duy đã có những lời ca bóng bảy hơn nhiều để tả những mối tình của Thủ Đô chiều Thứ Bảy, sáng Chủ Nhật, phố xá tưng bừng,
nhưng những những dòng thơ của anh thi sĩ trẻ Nguyễn Tất Nhiên, mới thực sự là tiếng nói của giới trẻ, là những dòng tâm tình thoảng một chút bất cần đời, hoang dại, bụi bặm,
ngây thơ, không toan tính gì với tương lai
.Cám ơn “cái đầu trẻ” của Bố Già đã nhìn thấy những dòng nhạc nhảy múa trên những câu thơ của anh chàng học trò thi sĩ.
Những bài hát này mãi mãi ghi dấu một quãng đời những tưởng khô khan, buồn nản, vì chiến tranh, bom đạn, nhưng sự thật đã là một thời của một giới trẻ
lớn lên vẫn thấy đời thơ mộng, lãng mạn, đáng yêu.

Trong cái lãng mạn ấy có một chút vị đắng, xót xa của bấp bênh, để đi đến một ý nghĩ: “Thà như giọt mưa bay lất phất trong thành phố, vỡ trên tượng đa, có còn hơn không ù .. .
Mặc thời cuộc, người thanh niên vẫn đưa tay hái trái táo, nếm vị tình yêu.

Tình yêu hiện diện trong bất cứ hoàn cảnh nào, có mãnh lực đặc biệt, làm mờ đi nỗi lo lắng, buồn khổ, thời sự chung quanh.
-Ôi! những bài hát đã đóng góp cho nhạc Tình Việt Nam, thời Nhạc Vàng có một không hai trong lịch sử Âm nhạc Việt Nam, nhạc của thời lớn lên trong khói đạn,
nhưng vẫn đầy chất lãng mạn, thơ mộng qua muôn nghìn lời ca, điệu hát.

Trần Viết Minh Thanh


https://www.youtube.com/watch?v=N8wyuD5BD90?si=w1bPMqhmgfjfb2c_

linhphy
12-25-2024, 12:33 PM
Những bóng hồng trong thơ nhạc :"Ướt Mi"

Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình có 5 người con.
Do bà mẹ mắc bệnh nan y nên gia đình Thanh Thúy phải rời đất Thần kinh đưa mẹ vào Sài Gòn chữa trị.

Gia đình họ thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên đường Cao Thắng. Để mưu sinh và để kiếm thêm tiền phụ vào việc thuốc thang cho mẹ, Thanh Thúy đã đến với nghiệp ca hát khi mới 16 tuổi.
Thân gái dặm trường nơi đất khách quê người, điều khiến cho Thanh Thúy “dám” tự tin xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu chính là giọng hát của mình vốn từng được nhiều lời khen ngợi.

Lần đầu tiên tiếng hát Thanh Thúy đến với công chúng Sài Gòn là ở phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959.
Với chất giọng trầm ấm, hơi khàn và lối phát âm, nhả chữ rất riêng, giọng ca của Thanh Thúy mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào nức nở.
Dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt... tạo cho nàng ca sĩ xứ Huế này một phong thái thật đặc biệt…
Những bản nhạc Thanh Thúy thường hát là Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước), Kiếp nghèo (Lam Phương), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương)…

Tháng 6.1960, thân mẫu của Thanh Thúy qua đời, điều đó càng làm cho giọng hát của chị thêm não nùng để những ai “lỡ nghe” đều có cảm xúc lâng lâng…
Và, như đã nói ở bài trước, có cả một thế hệ văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đâm ra…mê mệt với Thanh Thúy, trong đó có một chàng thư sinh mới tò te bước vào làng nhạc, nhưng sau này rất nổi tiếng:

Trịnh Công Sơn!Trong tác phẩm Về một quãng đời Trịnh Công Sơn (của Nguyễn Thanh Ty), nhạc sĩ tâm sự: “Năm đó tôi 17 tuổi, trọ học ở Sài Gòn,
đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát.
Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết.

Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập.
Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh.
Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng.

Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc Ướt mi đầu tiên trong đời...”.
Đó là lần ngồi ở nhà hàng Mỹ Cảnh, chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã viết vào một mảnh giấy nhỏ, đề nghị ca sĩ Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong.
Điều chàng bất ngờ là Thanh Thúy đã hát bài này với một cảm xúc thật mãnh liệt, khi hát “...vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành, như nhủ trời xanh:
Gió ngừng đi, mưa buồn chi, cho cõi lòng lâm ly...

Ai nức nở thương đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”

- Nhớ đến người mẹ bị lao phổi nặng, đang mỏi mòn chờ con trong căn nhà nhỏ ở con hẻm sâu - nàng đã bật khóc.
Những giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ tuổi mới tròn trăng đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn nỗi xúc cảm tràn ngập để chàng viết thành ca khúc Ướt mi.

“Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng.
Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội.
Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn.

Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay.
Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công.
Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Đêm đó, tôi nôn nao không ngủ được...
Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời:

“Thưa quý vị !

Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy.
Đó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn.
Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn”.

Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu.
Nàng cất tiếng hát: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi.
Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca...
Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế…
Trời sao chưa thôi mưa, ôi mắt người em ấy. Từ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em thơ ngây...”.
Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động…Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc.
Tôi thu hết can đảm, bước lên và nói: “Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi”.
Nàng “A” lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: “Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc.

Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ?”. Tôi luống cuống gật đầu…Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng.
Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẻm...

Cũng chính từ ngõ hẻm nhà nàng mà Trịnh Công Sơn làm tiếp bài Thương một người:
“Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi...
Thương nụ cười và mái tóc buông lơi.
Mùa thu úa trên môi, từng đêm qua ngõ tối, bàn chân âm thầm nói.
Lặng nghe gió đêm nay, ngại buốt quá đôi vai.
Bờ vai như giấy mới, sợ nghiêng hết tình tôi…”.

Đó là hai bản nhạc trong “thuở vào đời” của Trịnh Công Sơn và những kỷ niệm thật đẹp với nữ ca sĩ Thanh Thúy.

Hà Đình Nguyên


https://www.youtube.com/watch?v=9Mm2eaWxcpU?si=VIHfUUzeAQsT3zjJ

linhphy
12-26-2024, 10:35 AM
Tiếng kèn từ vùng tăm tối :Lê Tấn Quốc

Trong sinh họat về đêm ở Sài Gòn, trước cũng như sau năm 75, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều nguời biết tới.
Một phần vì sự điêu luyện của anh qua các lọai kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax.
Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề nể phục.

Và cũng do đó mà cuộc hôn nhân giữa anh và nữ ca sĩ Họa Mi đi tới đổ vỡ.
Câu chuyện gia đình giữa một nhạc sĩ kèn khiếm thị và nữ ca sĩ nổi tiếng này đã có một thời kỳ gây ồn ào dư luận.
Câu chuyện được Lê Tấn Quốc trình bày rõ hơn qua bài viết này.

Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước.
Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.
Lê Tấn Quốc theo học nhạc với nhạc sĩ Sáu Già khi mới lên 11 tuổi.
Thoạt đầu, Lê Tấn Quốc được chỉ dẫn về sáo, rồi sau mới chuyển qua saxophone soprano, rồi đến alto trước khi khởi sự đi làm với cây Tenor sax ,
khi anh 15 tuổi ,anh đã cộng tác cho một club Đại Hàn trên đường Duy Tân.
Cây kèn Tenor Sax đầu tiên trong đời anh do một người cậu cho mượn để mua lại từ nhạc sĩ Xuân Khuê.

Đó là một kỷ niệm anh không sao quên được sau 40 năm lăn lộn trong nghề.
Thời gian mới vào nghề, nhờ được học hỏi thêm nơi những cây kèn đàn anh như Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên, vv...
Và tài nghệ của Lê Tấn Quốc càng ngày càng tỏ ra điêu luyện.
Nơi cộng tác kế tiếp của anh là phòng trà Văn Hoa, do nhạc sĩ Bảo Thu khai thác

Song song với vai trò nhạc công tại các phòng trà, Lê Tấn Quốc theo học trung học tại trường Kiến Thiết cho đến khi có được mảnh bằng Tú Tài 2.
Lê Tấn Quốc cho biết anh muốn theo học ngành Y thay vì học Văn Khoa. Nhưng lúc đó đôi mắt anh đã bắt đầu có dấu hiệu xấu...

Lê Tấn Quốc buộc phải bỏ học dở dang.
Bệnh mắt của Lê Tấn Quốc được giới Y Khoa trong nước gọi là Viêm Võng Mạc Sắc Tố. Anh chỉ còn thấy lờ mờ.
Những năm sau này bệnh trở nặng hơn. "Làm việc trong vũ trường tối hù, chỉ thấy nhá nhem bóng đèn.
Hồi xưa thì còn thấy được như vậy.
Nhưng bây giờ thì không.

Hồi làm ở quán Thanh Niên suốt 13 năm, nhìn đèn xanh đỏ thì thấy mờ mờ mà không thấy khách ngồi."
Cà phê Thanh Niên có chương trình ca nhạc hàng đêm cho đến cách đây hơn 2 năm.

Gần đây anh được chủ nhân nhà hàng này mời về chơi trong một ban nhạc gồm 4 người trong chương trình nhạc hòa tấu vào mỗi đêm tại nhà hàng Maxim's Nam An cho đến nay.
Lê Tấn Quốc còn cho biết thêm anh lập gia đình với Họa Mi năm 1976, qua năm 77 có con trai đầu lòng anh vẫn có thể chạy xe gắn máy được.

Lê Tấn Quốc quen Họa Mi vào năm 76 khi cả hai cùng là nghệ sĩ của đoàn kịch Kim Cương
. Quốc là thành viên của ban nhạc "The Shotguns" của đoàn, được tăng cường thêm 3 nhạc sĩ kỳ cựu là Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên và Đặng Công Hiền.
Trong khi Họa Mi là ca sĩ với Sơn Ca, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Thanh Lan,

Lê Tấn Quốc làm với ban Kim Cương từ 75 đến 82, sau đó về Câu Lạc Bộ của Hội Văn Nghệ Thành Phố cùng làm việc với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9
trong thời gian này bắt đầu có những tụ điểm ca nhạc.
Sau đó về nhà hàng Maxim's với 3 cha con Hoàng Liêm và Huỳnh Háo, Duy Hải và một số giáo sư nổi tiếng ở trường nhạc.

Qua 85 anh về làm tại câu lạc bộ chợ Đũi (địa điểm của Trung Tâm Thương Nghiệp Quận 3) trong suốt 3 năm với Bảo Chấn ,
và một số nhạc sĩ thành ban nhạc hòa tấu đầu tiên ở Sài Gòn dưới tên Thanh Xuân.
Ban nhạc này từng nhiều lần đọat huy chương vàng về hòa tấu. Sau đó anh về cộng tác với vũ trường trên lầu Intershop tại thương xá Crystal Palace.

Đến tháng giêng 1988, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này...
Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt
"Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi.

Đó là định mệnh".
Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam: "Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp."
Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác.
Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.
1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh.

Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.
Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam.
Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa trị được.

Anh nói: "Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại cho chúng nó ăn học".
Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, khi đó anh quyết định để lại 3 con sống với Họa Mi.
Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.

Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp.
Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt.

Ba năm sau khi trở về Việt Nam, Lê Tấn Quốc cũng tìm đựợc nguồn hạnh phúc mới khi lập gia đình vào năm 1993 và có thêm 2 con với người vợ sau.
Còn Họa Mi cũng bước thêm bước nữa với người kia và họ có với nhau 1 đứa con.
Nắm 1996, Họa Mi cùng người chồng mới tên Đặng Thái Khanh về thăm Việt Nam và ghé thăm anh.

Sau đó, vợ chồng Lê Tấn Quốc và vợ chồng Họa Mi đã trở nên rất thân thiết: "Họa Mi về đây với ông kia.
Ngày nào cũng lại ăn cơm chung.
Rồi còn cùng nhau đi Vũng Tàu, chỗ nọ chỗ kia...
Bà này chở bà kia đi chợ, đi mua sắm khiến lối xóm ngạc nhiên quá chừng..."
Bây giờ họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau.

Đêm đêm Lê Tấn Quốc vẫn xách cây kèn Tenor Sax đi làm đều đặn trong một cuộc sống êm ấm và hạnh phúc.
Anh mang những tiếng kèn đó làm những lời tâm sự của chính mình.
Tiếng kèn khi bổng, khi trầm.
Khi réo rắt, khi nức nở, lúc nghẹn ngào thoát ra từ tâm tư anh, từ vùng tối mênh mông, sâu thẳm.

Trường Kỳ


https://www.youtube.com/watch?v=r2f-xUhkuBE?si=BCRnrKYCRwdFWyti

linhphy
12-26-2024, 10:53 AM
Hoa Vàng Ngày Xưa

Dưới những đám mây đen vần vũ trên bầu trời tháng 5 của Sài Gòn mưa nắng hai mùa, chúng tôi ghé cafe Hoa Vàng không phải để tránh mưa, cũng không phải vì muốn uống chất kích thích màu đen
- rất dễ bị ghiền - mà vì muốn được gặp mặt thi sĩ Phạm Thiên Thư tác giả của hai bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc rất hay "Động Hoa Vàng" và "Ngày xưa Hoàng Thị"

.Đó là một quán cafe nhỏ, bình thường như mọi quán cà phê loại trung bình ở Sài Gòn, diện tích gần như là một hình vuông mỗi cạnh khoảng sáu mét, được trang trí bằng các bức tranh tĩnh vật, có đủ cả mai, lan, cúc, trúc.

Quán có một bình hoa hồng màu đỏ làm bằng vải trong góc phòng, không có lấy một đóa hoa màu vàng như tên gọi của quán.
May thay,trước cửa quán có nhiều cây cảnh, dưới cái nóng gần 40 độ C cùa Sài Gòn, cũng không có lấy một nụ hoa, ngoại trừ vài cái hoa chuông vàng nằm khép nép ở góc trái bên ngoài quán,
phải tinh ý mới thấy được.
Chừng đó thôi, nhưng đủ để khách đến cà phê Hoa Vàng nhớ đến hình ảnh "em tan trường về anh theo Ngọ về" dễ thương của học trò những năm cuối Trung học.

Trong mắt của ông chủ quán, thi sĩ Phạm Thiên Thư, có cả một động hoa vàng rực rỡ, có cô Hoàng Thị Ngọ đội nón lá mặc áo dài trắng,
vẫn đẹp ngây thơ như chưa hề có hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Và dĩ nhiên có cả hình ảnh của anh học trò đệ tam Phạm Kim Long (tên thật của thi sĩ Phạm Thiên Thư} kiên trì "em tan trường về anh theo Ngọ về" suốt cả một năm học.

Thời đó các nam sinh Trung học theo các nữ sinh bằng một khoảng cách rất xa, cả hai, ba chục thước.
Thảng hoặc vô tình hay cố ý, nàng quay lại nhìn, chàng bối rối cúi xuống giả vờ cột dây giày,
hay giả vờ cúi xuống lượm sách vở tránh ánh mắt ngây thơ có pha chút tò mò, tinh nghịch của nàng.

Và như vậy tình yêu dù đơn phương hay song phương, nếu không có duyên nợ vợ chồng, thì suốt đời vẫn là một tình yêu trong trắng tinh khôi.
Sau một thoáng "mời người lên xe tìm về quá khứ" với tiếng hát cao vút ngọt ngào của Thái Thanh phát ra từ cái máy cũ ở một góc phòng,
ông PTT cho biết hình như bà Hoàng Thị Ngọ đang sống ở Quận Cam (Orange County), thủ đô tỵ nạn của người Việt lưu vong .
Và vì không có cơ hội liên lạc với người xưa từ ngày "anh theo Ngọ về" có chỗ đứng vững chắc trong âm nhạc Việt Nam,
hình ảnh cô Ngọ xinh tươi ở tuổi đẹp nhất đời người mãi mãi còn nguyên vẹn trong ông.
Đó là mẫu con gái đẹp trong mắt nhà thơ, nên bà Phạm Thiên Thư bây giờ, mẹ của ba cậu con trai và một cô con gái đã trưởng thành của ông
- theo ông - giống bà Hoàng Thị Ngọ đến hơn 80%.

Cũng giống như chị em Thúy Kiều, Thúy Vân "mười phân vẹn mười" trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, cô Hoàng Thị Ngọ có cô em gái tên Hoàng Thị Thân,
kém chị hai tuổi, cũng đẹp như chị nhưng anh thanh niên Phạm Kim Long không dám "thả mồi bắt bóng" nên cho đến bây giờ và mãi mãi chỉ có mỗi một bài thơ "Ngày xưa Hoàng Thị" ,
được Phạm Duy phổ nhạc với câu hát nhiều thế hệ học sinh, sinh viên thuộc nằm lòng "em tan trường về anh theo Ngọ về".

Chính chúng tôi khi còn là nữ sinh, cũng thuộc câu hát này từ năm mới vào Trung học, lớp sáu, mặc dù hồi đó cứ tưởng ngõ về là danh từ chung,
lối đi về của nàng, chứ không phải là Ngọ
, một danh từ riêng, tên của một người con gái, (chắc là sinh vào năm con ngựa?).
Lối hát luyến láy làm dấu nặng(Ngọ) và dấu ngã (ngõ) nghe giống nhau.
Mãi đến sau, sau này chúng tôi mới biết đó là tên thật của một cô nữ sinh dễ thương duyên dáng học cùng lớp đệ tam với nhà thơ PTT ở trường Trung học Văn Lang (Tân Định, Sài Gòn).

Năm tháng trôi qua rất nhiều thế hệ sinh ra, lớn lên, trưởng thành rồi đi ra khỏi cuộc đời, con số thanh niên mới lớn theo chân người trong mộng,
chắc phải là cấp số nhân của cả hai bàn tay lẫn hai bàn chân cộng lại
Nhưng chỉ có mỗi một Phạm Thiên Thư, mỗi một Hoàng Thị Ngọ, nên chưa và có lẽ sẽ chẳng bao giờ có "Ngày xưa Ngô Thị ", "Ngày xưa Bùi Thị", "Ngày xưa Nguyễn Thị"...
với "anh theo Thủy về, anh theo Loan về, hay anh theo Trân về..."
mặc dù nhiều anh thanh niên mới lớn còn si tình hơn, kiên trì theo gót các bóng hồng hơn cà anh chàng tuổi trẻ Phạm Thiên Thư của cuối thập niên 50s.

Ở tuổi ngoài 70, nhà thơ vẫn còn khỏe mạnh, vẫn còn nhiều cảm hứng sáng tác, chỉ có điều khác biệt là từ thơ tình của những ngày thanh xuân, ở tuổi hoàng hôn ông chuyển sang thơ đạo.
Ông còn soạn cả Tự điển cười để đem đến một chút bình yên cho cuộc đời không phải lúc nào cũng mang màu hồng lạc quan, hay màu xanh hy vọng.

Hai bài thơ “Động hoa vàng” và “Ngày xưa Hoàng Thị” được phổ nhạc bởi Pham Duy. Cả thi sĩ và nhạc sĩ đều rung động khi sáng tác, đều gởi cả tim óc
và tấm lòng vào tác phẩm nẻn không ai ngạc nhiên khi bài "Ngày xưa Hoàng Thị" thuộc loại bài hát "sống lâu" và có thể là "bất diệt", được rất nhiều ca sĩ hát.
Nhưng nhà thơ cho biết ông nghĩ là Thái Thanh diễn tả hay nhất, nói lên được mối tình si của ông với cô Hoàng Thị Ngọ.

Có lẽ vì Thái Thanh cũng trạc tuổi với Phạm Thiên Thư. Khi người ta sống cùng thời, cùng vị trí địa lý, thì người ta thông cảm nhau hơn.
Và biết đâu khi diễn tả "Ngày xưa Hoàng Thị" ,
Thái Thanh không chỉ hát vì nghề nghiệp mà bà còn thả hồn về thời mới lớn của chính mình, về những cây si đã theo bà đến mòn cả giày dép?
Và vì vậy trong bầy con tinh thần khá đông của Phạm Thiên Thư, từ thơ, văn, đến biên khảo, từ tình yêu đến tôn giáo, chúng tôi, thế hệ hậu sinh,
vẫn thích tập thơ Động hoa vàng và bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị nhất.

Nhìn chúng tôi giành nhau hai quyển Động hoa vàng còn lại trong số sách bày bán ngay ở cafe Hoa Vàng, ông PTT "động lòng" đi lên gác lục lọi gia sản tinh thần của mình đem xuống quyển thứ ba,
quyển cuối cùng. Chúng tôi rất vui vì có thủ bút của nhà thơ ký tặng. Chừng như thi sĩ còn vui hơn vì có người trân quý một trong những công trình tim óc của mình.

Không được biết cô Hoàng Thị Ngọ, chúng tôi kín đáo quan sát bà Phạm Thiên Thư để tìm lại hình ảnh cô nữ sinh mà tên tuổi và hình ảnh thời mới lớn đã có một chỗ đứng trong cả thi ca và âm nhạc.
Chúng tôi đến cà phê Hoa Vàng không phải vì muốn uống cà phê, chùng tôi đến thăm thi sĩ Phạm Thiên Thư chỉ vì ông là tác giả của:…

Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi
Ta về rũ áo mây trôi Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say…

Và vì chúng tôi muốn thời mới lớn đẹp nhất đời người luôn còn lại trong chúng tôi như lời nhạc phổ từ thơ :

…Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Nay trên đường này
Ðời như sóng nổi
Xóa bỏ vết người
Chân người tìm nhau tìm nhau

Ôi con đường về
Ôi con đường về
Bông hoa còn đẹp
Lòng sao thấm mềm
Ngắt vội hoa này
Nhớ người thuở xưa thuở xưa…

Đâu có cần giống nhau về quan điểm chính trị, tôn giáo, hay nhân sinh quan để cùng ngồi nói chuyện với nhau về một sáng tác có giá trị được rất nhiều người thuộc nhiều thế hệ biết đến.

Vì lẽ đó chúng tôi đến thăm thi sĩ Phạm Thiên Thư như một lời cảm ơn một tác giả đã góp vào thi ca và âm nhạc Việt Nam hai bông hoa rực rỡ không tàn “Ngày xưa Hoàng Thị” và “Động Hoa Vàng”.
Mỗi lần tan học, ở các lớp cuối Trung học, chắc là cũng có các em học sinh mới lớn ngâm nga "em tan trường về anh theo Ngọ về" như chúng tôi ở một thời đẹp nhất đời người đã xa, xa mù tít tắp...

Nguyễn Trần Diệu Hương


https://www.youtube.com/watch?v=oCFYKFEYF0M?si=4dI57QaWYArAchUH

linhphy
12-27-2024, 08:55 AM
Hoàng Ngọc Tuấn :"Tôi không phải là tác giả viết về tuổi thơ "

Ai mà chẳng có trong đời một mối tình. Dù lớn hay nhỏ, dù thành hay không, thì cũng là những giây phút trong đời chẳng thể nào quên.
Nhất là với những người, lẫn lộn giữa thực và mộng, chập chờn giữa lãng mạn và thực tế, thì chữ tình yêu lại có vị trí của khói sương,
và chữ hình như để biểu tỏ một sự thể gần cận mà mơ hồ.
Hoàng Ngọc Tuấn, người dùng ngôn ngữ thi ca để dệt nên tình yêu, dùng mơ mộng để cấu tạo nên thực tại, tác giả phác họa những mối tình ngây thơ,
của những chàng tuổi trẻ như chú gà trống ưỡn cổ gáy vang đi vào đời.
Những tác phẩm như Hình như là tình yêu, Ở một nơi ai cũng quen nhau, Thơ Về Đường Sơn Cúc,… một thời là những quyển sách mà tuổi trẻ Sàigòn mến chuộng.

Dù trong không khí chiến tranh, nhưng những ý tưởng ngây thơ, những tâm tình như sợi cỏ long lanh buổi sáng đã làm tuổi trẻ tươi đẹp hơn,
những bản nhạc nồng thắm hơn và những vần thơ cũng rộn rã hơn.

Được biết ở trong nước, để tưởng niệm ngày giỗ của ông, nhà xuất bản Phương Nam ấn hành tuyển tập truyện ngắn Hình như là tình yêu.

Ngày ra mắt sách cũng là một dịp để bạn bè và người ái mộ nhà văn tưởng niệm tụ họp coi như làm lễ giỗ khá long trọng.
Ở hải ngoại thì cũng đã tái bản một tập truyện khác của ông: Ở một nơi ai cũng quen nhau.”

Trước năm 1975, Hoàng Ngọc Tuấn nổi tiếng là nhà văn viết cho tuổi học trò ngây thơ hồn nhiên.
Sau năm 1975, mặc dù ông vẫn còn sinh nhai bằng nghề viết nhưng không có tác phẩm nào tiếp theo được chú ý.

Có người ví von, văn nghiệp của ông đã chết từ sau 1975. Viết về thể thao hay sưu tập những truyện cười, chắc không phải là công việc làm của một nhà văn đã có nhiều tác phẩm được hâm mộ.
Với những bút hiệu gần như là vô danh: Huấn Toàn, Nhị Ngọc, Mây Biếc, Tú Ân, Ngọc Nhị, những bài đăng báo hoàn toàn chỉ là để mưu sinh và không có một chút âm vang nào.

Trong một bài viết tưởng niệm Hoàng Ngọc Tuấn, nhà văn Nguyễn Đạt cho tôi hình dung ra một cuộc sống đơn độc và buồn của một người cầm bút mà tôi nghĩ lúc còn trẻ ngây thơ yêu đời lắm.

Thú thực tôi không thân quen cũng như hiểu biết gì về anh nhiều, nên qua những điều mà anh viết tôi phỏng đoán vậy.
Còn, đời sống mọi người sau 1975 thì cả nước đi xuống chứ chẳng riêng một mình ai.
Ở Việt Nam, rất nhiều người cùng một lứa bên trời lận đận như thế lắm. Nhất là người cầm bút, sống trong một chế độ mà nhà văn gốc tích từ văn học miền Nam
nếu được hoạt động cũng chỉ đóng vai cây kiểng và góp mặt khiêm nhường.
Rồi tôi nghe anh bị bệnh nan y và hoàn cảnh rất đơn độc khó khăn.…
… Năm 1972, trong cuộc phỏng vấn “Đi tìm các tác giả được ưa thích hiện nay” của tuần báo Khởi Hành, Hoàng Ngọc Tuấn là một tác giả được ghi tên nhiều lần đều đặn sau mỗi lần lấy ý kiến độc giả qua từng số báo.
Sở dĩ có hiện tượng ấy bởi vì trong truyện Hoàng Ngọc Tuấn có nét lãng mạn của tình yêu thuở mới lớn và nhân vật của ông sinh động tự nhiên,
chứ không có những sinh hoạt giả cách thời thượng nhưng rỗng không mà các nhà văn tập tành hiện sinh tạo ra.
Sự kiện Hoàng Ngọc Tuấn có nhiều fans ái mộ cũng là điều dễ hiểu.
Nhà văn Võ Phiến đã nhận xét về tác phẩm Hoàng Ngọc Tuấn:
“Những nhân vật ấy và nghệ phẩm ấy như đều nhìn chúng ta, nhoẻn cười một cái cười tinh quái và thông minh. Và như vậy là bởi vì kẻ tác thành nên chúng,
Anh Hoàng Ngọc Tuấn, là một người vui vẻ. Anh vừa ngông, lại vừa nghịch, vừa thơ, lại vừa trẻ, cho nên anh quyến rũ vô tả.”
…”Thế mà, theo như Nguyễn Đạt, những ngày cuối của tác giả Hình như là tình yêu sao vắng nụ cười đến thế.
Ở lại Sài Gòn, chịu qua bao nhiêu sự thay đổi, mỗi ngày thêm mệt mỏi, nặng nề vác trên vai những khó khăn chồng chất của một thời thế hỗn loạn.
Và rốt cuộc cũng chỉ là cuộc trở về mà ai cũng phải có một lần trong đời.…

Tuần báo Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh trước 1975 đã có bài phỏng vấn nhan đề “Hoàng Ngọc Tuấn và Một Buổi Chiều”.

Tác giả thổ lộ: “Văn chương không phải là một nghề nghiệp hiểu theo nghĩa thông thường. Văn chọn tôi chứ tôi không chọn nó được, khi ta làm một cái nghề gì đó,
nghề nghiệp ấy đòi hỏi một thời khóa biểu, một giờ giấc, một số lương bổng nhất định, một số giờ nghỉ ngơi cuối tuần như thứ Bảy Chủ nhật chẳng hạn.
Tôi viết văn thì không như thế.
Ngày nào cũng rong chơi như một ngày Chủ nhật và ngày nào cũng bận rộn làm việc như một ngày thứ Hai. Đêm là ngày, ngày cũng là đêm.
Đời của một kẻ sáng tác không có mùa hè hoàn toàn rảnh rang mà là suốt năm tràn đầy mùa xuân thôi thúc hứng khởi.
Nhưng nếu nói một cách đơn giản hơn thì tôi theo đuổi chuyện văn chương vì đó là một sinh hoạt có ý nghĩa nhất trong đời sống theo ý kiến riêng của tôi.
Sau nữa tôi không biết làm việc khác được ngoài sự viết…””
Nói về truyện ngắn đầu tay Buổi Chiều Hạ Lan: “Khoảng 67 hay 68 gì đó. Sau hai năm học ở đại học và bắt đầu thấy rằng những chữ mình viết ra coi có có vẻ thích thú hơn là những chữ trong cours
. Lúc đó tôi chẳng có công việc gì làm cả.
Buổi sáng đang đói và thèm cà phê mà không có tiền và chẳng đi đâu được.
Tôi ngồi lại một mình trong căn phòng của hội đoàn CPS (khu Khám Lớn Cũ)…
Hiện tại thì trống rỗng, nhạt nhẽo, kỷ niệm thì ngọt ngào hào hứng… Thế là tôi bắt đầu viết.

Và tôi đã viết chỉ trong một buổi sáng để xong Buổi Chiều Hạ Lan. Hỏi thời gian bao lâu để nghĩ về nó thì câu trả lời là: “ Đêm hôm trước. Đêm tối, ánh sáng, cô đơn, và, viết, thế là có Buổi Chiều Hạ Lan.” “
Nghĩ về những người phê bình văn học: “Họ thường kết luận là chờ đợi và tin tưởng ở những tác phẩm mới hơn của tôi. Tôi mong họ giữ mãi niềm tin đó vì đó cũng là niềm tin mạnh mẽ của tôi.
Bây giờ chỉ còn việc biến niềm tin thành hành động.”…”
” Được biết anh thích đọc Saroyan, mến Salinger, phục Dostoievsky, nhưng chẳng mê ai cả, và khi bị hỏi có bị ảnh hưởng nào không thì tác giả Cô Bé Treo Mùng trả lời: “Tôi không biết.
Người đọc sẽ dễ thấy hơn tôi. Nhưng tôi sẽ rất sung sướng nếu được ảnh hưởng ít nhiều của tinh hoa nhân loại.
Sáng tác thì dĩ nhiên trong cô độc nhưng con người sáng tác nào cũng phải sống với cuộc đời nhận lấy những dấu vết của cuộc đời và thụ hưởng gia tài nghệ thuật chung của con người.””
Mấy chục năm sau, có một người ái mộ Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Songcon viết bài tưởng niệm và gián tiếp trả lời khi cho rằng

trong truyện ngắn đầu tay Buổi Chiều Hạ Lan Hoàng Ngọc Tuấn chịu ảnh hưởng rất nặng của J.D. Sallinger của The Catcher in the Rye.
Nhân vật Holden Caufield có phảng phất bóng dáng trong truyện Hoàng Ngọc Tuấn.

Trong tuần báo Mây Hồng số ra mắt năm 1972 ở Sài Gòn thời trước, Hoàng Ngọc Tuấn đã trả lời những câu hỏi phỏng vấn một cách thực thà.
Như: Là một tác giả thường viết về tuổi thơ xin anh cho biết vì nguyên do nào mà anh đã chọn đề tài này?

Anh viết: “Trước hết tôi thấy tôi không phải là một tác giả viết về tuổi thơ. Có lẽ độc giả thấy những nhân vật trong truyện tôi có một vài người nhỏ tuổi nên tưởng thế.
Ngay cả một cuốn sách mới đây của tôi Thư về đường Sơn Cúc tuy bé tí xíu như hạt tiêu nhưng cũng không phải là một chuyện về tuổi thơ.
Khi sáng tác tôi ít phân biệt về tuổi thơ hay tuổi già.
Một thời nào tôi đã sống qua tôi thường viết về nó.
Do đó dĩ nhiên là có một vài truyện tuổi thơ của tôi. Một đề tài nằm mãi trong tôi, tự dưng có ngày phải nhảy ra đời để thành một chuyện. Tôi không chọn lựa đề tài.”
”Nếu đọc lại Thư về đường Sơn Cúc, tôi có một cảm giác khá kinh ngạc. Đây là văn viết bằng thơ hay thơ dùng văn để diễn tả một câu chuyện tình?
Một trao đổi bằng thư giữa hai người mang tên Bạn Lớn và Bạn Nhỏ?
Những cuộc đối thoại, có nhiều khi như là độc thoại, để diễn tả lại cảm giác mong manh của tâm tình bứt đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” khởi đầu cho chuyến viễn du tình ái?
Ai là một xao động theo nghĩa của chữ “Hình như”?

Tôi đã bắt chước như nhà văn Nguyễn Đình Toàn trong đoạn trích dẫn, giở những trang sách, đọc những câu văn xuôi mà óng ả mượt mà như thơ của Hoàng Ngọc Tuấn trong “ Thư về đường Sơn Cúc:
““... căn nhà của em ở trên một con đường xác xơ ven biển, nhà không có số và gió đã thổi mất tấm bảng chỉ đường.
Nhưng có hề gì đâu tôi sẽ gửi cho em về địa chỉ mới Con đường Sơn Cúc vì mỗi ngày em đều đi qua đó.
Ông có biết một loài hoa ấy không?
Cả nhà gọi nó là cây cúc rừng
Chỉ có mình em gọi là hoa Sơn Cúc.
Hoa vàng óng ả.
Hoa vàng mật ngọt.
Vàng rực rỡ cả một lối mòn
Được gọi là Đường Sơn Cúc của em.
Tôi thấp thoáng trông hình bóng em
chao mờ giữa một rừng hoa thắm.

Mỗi sớm mai từ nhà đến trường, với cặp sách giáo khoa trên tay mà hồn đã bay lãng đãng đến tận cuối chân trời nào
một mình em lững thững không hề nôn nóng vội vàng nhớ đến tiếng chuông reo vào lớp.””
Cúc rừng? Sơn Cúc? Cùng là tên của một loài hoa dại mà sao chữ Sơn Cúc lại mở ra một không gian nào mới, nào lạ,
của những cuộc sống nào mơ hồ của những người nam và nữ xôn xao với tâm tình nửa ngỏ nửa e ấp trao nhau.

Thơ, tản văn, hay là bất cứ thể loại nào, cũng chỉ là một, là ngôn ngữ mật ngọt đậm đà của giây phút xôn xao đầu tiên của thời mới lớn, mà Hoàng Ngọc Tuấn đã viết bằng cái tâm trong veo của mình.
…Trả lời câu hỏi:
Qua các truyện ngắn của anh, tuổi thơ thường hiện lên những hình ảnh thơ mộng, tuổi thơ của anh có êm đềm như thế không?

Hoàng Ngọc Tuấn thổ lộ: “Hơn thế nữa là đằng khác. Tôi tiếc chưa có thì giờ và tâm hồn bình yên để làm sống lại những ngày xưa êm đẹp đó.
Thuở nhỏ, tôi theo gia đình đổi chỗ ở hoài, từ tỉnh này qua tỉnh khác, mỗi năm học một trường. Huế, Qui Nhơn, Ban Mê Thuột, v.v. Trường Bà Sơ, trường Thầy Dòng (La San), trường Thầy Chùa (Bồ Đề),
trường tư, trường công... đủ cả. Hồi đó tôi yêu thương rất nhiều điều, và tôi mừng mà thấy đến nay tôi vẫn chưa thay đổi.”…”

Sáng nay, mới ngủ dậy, nằm lơ mơ trên giường nghe chim rân ran ngoài hiên, cầm những cuốn sách của Hoàng Ngọc Tuấn, tôi nghĩ mình phải viết bài tưởng niệm này khác hơn.
Mình phải viết về cái mình nghĩ đối với tác giả hơn là trích dẫn những điều tác giả đã nói về mình và tác phẩm mình qua những bài phỏng vấn.
Dù tôi không có cái may là bạn với anh như những anh Nguyễn Đạt, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Sơn... hay có chung thời sinh hoạt ở những phong trào sinh viên học sinh thuở nào.
Thế mà, trong bài viết hiếm ý nghĩ chủ quan của mình.
Không biết có phải là nghĩ về anh một cách gián tiếp không có gì hơn là qua những thổ lộ những tâm sự để mường tượng lại vóc dáng văn chương của anh vào một thời,
mà có lẽ chắc anh cũng ngầm hãnh diện về những thành quả của mình
. Cầu chúc linh hồn anh sẽ rong chơi và không vướng bận gì với những trăn trở cuối đời trong cõi tạm này.

Nguyễn Mạnh Trinh

linhphy
12-27-2024, 09:18 AM
Nhạc Sĩ Lê Dinh

Anh nói rằng trọn đời yêu em
Sao nỡ đành lòng nào lại quên
Câu tình yêu giữ không nhạt màu

Câu mình thương đến khi bạc đầu
Bây giờ trả lại trăng sao..

(Tình yêu trả lại trăng sao – 1964)

Rồi đến : Ga chiều, Xác pháo nhà ai........

Nói đến Lê Dinh ai mê nhạc cũng không quên bài : Hà Tiên, Ga chiều, Tình yêu trả lại trăng sao…
Lời nhạc Lê Dinh đơn sơ dễ hiểu, mộc mạc đi thẳng vào tâm hồn người nghe một cách thích thú,

nói vậy không phải tôi nói bạn cũng thích như tôi, hễ có người sản xuất những văn nghệ phẩm, là tôi thích học hỏi của kẻ khác.
Mình đi tìm cái hạnh phúc mà không cần nhọc công dụng sức chi cả.
Tôi nghe vọng cổ, nghe hát bội, hát chèo tôi biết mê say.

Anh chị nghe nhạc cổ điển Tây phương, nhạc Âu Mỹ biết hay, cũng đam mê…Vậy chưa chắc cái sướng và cái đam mê ai hơn ai ?
Tôi đã gặp nhạc sĩ Lê Dinh một lần tại Montreal trong một buổi văn nghệ, và người nghệ sĩ này đã để lại tôi ấn tượng khó quên.

Tôi kính mến thái độ vui vẻ, nhiệt thành, đơn giản mộc mạc thẳng thắn, ẩn trong cái nghiêm túc của một nhạc sĩ, có đức tin về phương pháp làm việc, với sự cần cù nhẫn nại,
đã đem lại lòng qúi mến và tin tưởng trong giới nghệ sĩ. Tôi biết nhạc sĩ Lê Dinh có đời sống tinh thần trong âm thầm, nhưng đầy hăng hái kiên nhẫn, đó là nền tảng cho một đời sống về tinh thần.

Tâm hồn của một người nghệ sĩ dồi dào, thì sự sung sướng cũng rộng rãi hơn.
Sau khi định cư tại thành phố Montreal (Canada) đã ổn định được đời sống gia đình, và để gây cho mình sự hứng thú bền bĩ, nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương thực hiện tờ Nguyệt san Nghệ Thuật
là để duy trì sự cố gắng, và có đường lối rõ ràng.
Văn nghệ làm nẩy sinh vào tâm hồn nghệ sĩ, luôn luôn nhìn đời với những khía cạnh màu sắc mới lạ.
Lê Dinh sáng tác những bài nhạc mới sau này như : Bài hát của người điên, Cho người
nó phản ảnh đời sống, tình cảm, tư tưởng của một nhạc sĩ. Nhưng cũng rất không đơn giản khi làm về báo chí văn nghệ.

Trước năm 1975 Lê Dinh cùng với nhạc sĩ Minh Kỳ và Anh Bằng thành lập nhóm Lê Minh Bằng. “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao” có khác, nên rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng như :
Gõ cửa, Chuyện tình Lan và Ðiệp, Căn nhà ngoại ô, Linh hồn tượng đá, Ðêm nguyện cầu…

Nhóm Lê Minh Bằng cũng đã đào tạo nên những ca sĩ nổi tiếng như : Giáng Thu, Trang Mỹ Dung,
Hải Lý, Mạnh Quỳnh, Ngọc Tuyết…
Sau biến cố 1975 nhóm Lê Minh Bằng mỗi người một nơi. Nhạc sĩ Anh Bằng sinh sống ở California (nhà xuất bản băng nhạc Asia, Dạ Lan).
Lê Dinh cùng với gia đình sống ở Montreal (Canada).
Nhạc sĩ Minh Kỳ thì đã mất vào đầu tháng 9 năm 1975 trong vụ nổ ở trại cải tạo Long Khánh.

Cuộc đối thoại giữa người giới thiệu chương trình nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, và nhạc sĩ Lê Dinh dưới ánh đèn sân khấu Thúy Nga tại Paris 2003, làm bừng dậy ý nghĩa đời nghệ sĩ không bị nhoè đi,
giữa thương trường ồn ào, và bụi bặm, khơi lại trong đời sống tinh thần, đã một thời từng gởi gấm, nhiều tình cảm sâu xa của nỗi nhớ mình, trong các nhạc phẩm nổi tiếng bắt đầu từ năm 1956 cho đến nay,
với tất cả hơn 200 nhạc phẩm trước năm 1975, đã được thu dĩa bởi các hang : Tân Thanh, Continental, Asia Sóng nhạc, Việt Nam…

Sau năm 1975 các nhạc phẩm lại được thu vào dĩa Thúy Nga Paris, Asia USA… với các giọng ca Như Quỳnh, Phương Dung, Thanh Thúy, Mỹ Huyền, Hoàng Lan, Kim Ngọc Khánh,
Dalena, Nhật Trường, Giao Linh, Thanh Tuyền, Lưu Hồng, Trần Thị Thu, Nguyệt Lan…
Nghe những lời nhạc của Lê Dinh tôi có cảm nhận : Người nghe không có sự suy nghĩ với cái nghĩa rộng của nó, mà dòng nhạc đi thẳng một cách mạch lạc vào đời sống tình cảm người ta mà thôi.

Nhạc là âm thanh để cảm nhận, tất cả chung quanh chỉ là cái khung để chúng ta sinh hoạt, nếu ta quá quan trọng sẽ làm giảm mất đi cái chân giá trị của sự sáng tạo,
một sự sáng tạo trong bóng tối, trong im lặng cũng là một vết sáng của đêm đông, và người sáng tạo là người biết định đoạt hành động mình, biết trù liệu đến sự tín ngưỡng và số phận của mình.

Ðể thả hồn bâng khuâng rung động về kỷ niệm, những màn vũ hoang dã trong nhạc điệu trữ tình, tôi đến gặp nhạc sĩ Lê Dinh gốc người miền Nam, tại khách sạn Kyriad trong quận 19 Paris,
để nhớ lại một kỷ niệm
Cách đây hai năm, tôi đã hân hạnh gặp nhạc sĩ rất còn nồng nhiệt, trong một trái tim nghệ sĩ, để cho tôi thẹn thùng, e ấp thật thà trong Tiếng Hát Mường Luông, Chiều Lên Bản Thượng v.v…
bên núi rừng xinh xinh, xanh ngát mênh mông.

Bích Xuân: Xin vui lòng sơ lược tiểu sử của nhạc sĩ ?
LÊ DINH
-: Sinh năm 1934 (tuổi Giáp Tuất) tại làng Vinh Hựu, tỉnh Gò Công.
1948-1953: Học Trung học ở Collège Le Myre de Vilers (MỹTho).
1953-1955: Học trường Cao đẳng Vô Tuyến Ðiện Saigon (Ecole Supérieure de Radióelectricité de Saigon).
1955-1957: Dạy học (Pháp văn và âm nhạc) ở Gò Công và ở Chợ Lớn.
1957-1975: Làm việc tại Ðài Phát thanh Saigon. Chức vụ: Chủ sự Phòng Sản Xuất rồi Chủ sự Phòng Ðiều Hợp.
1975-1978: Không làm gì được cả.
Tháng 8/1978: Vượt biên đến đảo Ðài Loan.
Tháng 10/1978: Ðịnh cư ở Canada, thành phố Montréal, cho đến nay.
1979-1999: Làm việc cho hãng tàu chở hàng hóa đi khắp thế giới có tên là Federal Navigation (viết tắt là FEDNAV) của Canada ở thành phố Montréal
(Ðiểm đặc biệt là hãng tàu này là hãng tàu đã cứu vớt 40 người trên chiếc ghe tỵ nạn – trong đó có gia đình Lê Dinh – trên biển Nam Hải năm 1978).

Lúc còn học ở Trung học Le Myre de Vilers (MỹTho) có theo học hàm thụ lớp hòa âm và sáng tác của Ecole Universelle de Paris.
Sáng tác đầu tiên : Bài Làng Anh Làng Em, viết năm 1956, nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ấn hành năm 1956.
Gia cảnh : Vợ, 3 con.

BX: Khán giả đã biết nhạc sĩ Lê Dinh bắt đầu từ năm 1956 nhưng cho đến nay vẫn không quên công việc của một người làm về thông tin trên đài phát thanh trước năm 1975,
hiện thời còn là chủ bút tờ báo nữa, mà cốt yếu của người cầm bút có kiến thức, có chiều sâu tư tưởng, tờ báo mới hay, phải hấp dẫn để đến được với độc giả.
Công việc của nhạc sĩ nằm trong tư tưởng Văn hóa.
Xin nhạc sĩ cho biết cảm tưởng về những điều này ?

Nhạc sĩ LD: Khán thính giả biết Lê Dinh từ năm 1956 (qua bài Làng anh làng em) cho đến nay nhưng từ năm 1994, khi nguyệt san Nghệ Thuật ấn hành số 1,
độc giả biết Lê Dinh qua người chủ trương tờ báo và đồng thời cũng qua Lê Dinh, người viết nhạc.

Chủ trương tờ báo, LDinh không có tham vọng to lớn, chỉ muốn dùng tờ báo, ngoài việc loan tin tức về âm nhạc, thời sự, kiến thức phổ thông…
chính yếu là muốn nhắc lại cho các thế hệ sau biết những người đi trước trong lãnh vực văn học, âm nhạc, nghệ thuật…
và giới thiệu, nâng đỡ những mầm non văn nghệ trên con đường mà những mầm non này đã chọn.
BX: Nhạc sĩ đã được khán giả trước năm 1975 yêu thích và ngay như hôm nay tại Hải ngoại, được các Trung tâm băng nhạc thâu lại các nhạc bản như
– Xác pháo nhà ai (1964)
– Chiều lên bản Thượng (1964)
– Tình yêu trả lại trăng sao (1964)
– Thương về xứ Thượng (1965)
– Ngang trái (1965)…v.v…
Tại sao nhạc sĩ không tiếp tục đi sâu vào các ca khúc khác ?

Nhạc sĩ LD: Vẫn sáng tác (mặc dù tờ báo chiếm rất nhiều thì giờ) nhưng so với trrước 1975 thì rất ít vì ở hải ngoại còn nhiều thứ cần nhiều thì giờ để giải quyết và cơm áo buộc ràng không cho mình còn nhiều thì giờ để sáng tác.
BX: Công việc làm báo, làm đài phát thanh tại Montreal, có hỗ trợ gì trong cuộc sống của nhạc sĩ không ?
Nhạc sĩ LD:
Công việc làm báo, làm đài phát thanh ở đâu thì không biết, chứ ở thành phố Montréal này, không giúp đỡ gì về mặt tài chính cho người chủ trương.
Ðó chỉ là sở thích thôi, ai không thích, không thể nào làm nổi, với trăm ngàn chuyện bực mình vụn vặt, không thể nói ra hết ở đây.
BX: Nhạc sĩ có những bản nhạc viết về quê hương rất tha thiết. Xin nhạc sĩ cho biết cảm tưởng về những bài nhạc ấy ?
Nhạc sĩ LD:
Về những bản nhạc quê hương, không hiểu tại sao, khi còn ở trong nước thì không viết, nhưng giờ đây, ở hải ngoại mới thấy thấm thía 2 chữ “quê hương” và viết rất dễ, rất suôn sẻ,
chẳng hạn như bài “Thương về Gò Công (Nắng trưa lên rất cao, Ngoài xóm đi vào, đi ngang bờ ao, gặp em đang hái cau để má ăn trầu.

Ai qua Gò Công mà không ghé thăm chợ Dinh, Ðể nghe tiếng hò cô gái ngoài kinh, Hò ơi: Em là cô gái xứ Gò, quanh năm sông vắng đưa đò nuôi me,
Nhà em ở xóm Giồng Tre, Anh về nhớ ghé thăm mẹ thăm em).
BX: Theo nhạc sĩ những dòng nhạc trước năm 1975 có những đặc điểm gì giống và khác với thời bây giờ ?
Nhạc sĩ LD: Nhạc trước 1975, kỹ thuật không rắc rối, lời ca ít cầu kỳ và bình dị hơn nhạc sau 1975, kỹ thuật vững chải hơn, hơi khó khăn hơn
(có lẽ do sống gần với nền âm nhạc của ngoại quốc)
và lời ca cùng đề tài cũng thay đổi nhiều, do hoàn cảnh đang ở tạm nơi xứ người, thân phận ly hương v.v…

BX: Xin nhạc sĩ vài kinh nghiệm khi làm nhạc ?

Nhạc sĩ LDinh:
- Nói về kinh nghiệm trong việc viết nhạc thì nếu viết nhạc nhiều, thì lần lần kỹ thuật sẽ vững chắc hơn, không còn để những lỗi lầm ấu trĩ những khiếm khuyết buồn cười.
Những người viết nhạc từ 10 năm trở lên sẽ không còn vấp phải những lỗi lầm này.
Còn về phần hồn nhạc, thì không ai giống ai, cũng không phải do kinh nghiệm mà có, bởi đó là thiên phú.
BX: Về các ca sĩ hiện nay ở hải ngọai ?
Nhạc sĩ LD: Các ca sĩ hiện nay ở hải ngoại : Lớp lớn tuổi (đã nổi tiếng ở Việt Nam) một số, phong độ vẫn còn và họ hát bằng tâm hồn,
còn một số trẻ mới lớn lên và nổi tiếng ở hải ngoại, có một số hát bằng hình dáng hơn là hát bằng xúc cảm.
Số này cần phải có những người múa may xung quanh mới được. Và khán giả thì “coi” họ hát hơn là “nghe” họ hát.
BX: Xin nhạc sĩ kiêm Chủ bút cho biết thế nào là mẩu truyện ngắn hay ? Cây bút nào anh cảm mến ?

Nhạc sĩ LD:
- Cảm nghĩ của một chủ bút không khác gì cảm nghĩ của một độc giả. Một truyện ngắn (hay dài) mà hay là có đề tài mới lạ, không giống những truyện đã có từ trước,
có thắt gút (cho độc giả hồi họp, chờ đợi) rồi từ từ mở khi kết thúc, vui hay buồn, để trả độc giả về với thực tại.
Về phần văn chương, không cần phải cầu kỳ hoa lá cành, chỉ cần cho trọn vẹn, câu cú có đầy đủ chủ từ, động từ, túc từ là được.
(Chúa ghét những truyện kể lể dài dòng rồi hết, không đem lại một cảm xúc gì cho người đọc).
BX: Xin nhạc sĩ cho biết tại sao bây giờ các nhạc sĩ thường hay sáng tác những ca khúc gào thét như thế ?

Nhạc sĩ LD:
-Âm nhạc những năm sau này (nhất là âm nhạc trong nước) không phải là âm nhạc nữa mà không biết nên gọi đó là gì
. Nghe loại nhạc chói tai này, đang vui mình bỗng thấy bực tức ngang xương.
Ca sĩ thì không gào thét không phải là ca sĩ, có thể gọi là ” hét sĩ ” thì đúng hơn
. (Người Pháp có câu : Chanter n’est pas crier).

Người VN mình bắt chước rất hay, nhưng bắt chước cái không nên bắt chước. Tuy nhiên, ở trong nước, cũng có một số ít bài rất dễ thương như
-Song quê, Về quê ngoại, Tiếng hát chim đa đa v.v…
BX: Nhạc sĩ ấp ủ đề tài nào trong tương lai ?
Nhạc sĩ LD:
Hình thức thu video của những trung tâm video lớn bây giờ, nếu cứ cái đà này mà kéo dài mãi, sợ không còn có người thích nữa.
Phải thay đổi món ăn cho con người thưởng thức, ăn một món dù ngon, nhưng ăn hoài cũng phải chán (A force de manger la même soupe, on finit par se lasser).

Do đó, một màn kịch nhạc, có thể nói như một vở tuồng cải lương mà thay vì cổ nhạc mình viết bằng tân nhạc, có đối thoại,
có ca, có vũ, một câu chuyện có đầu có đuôi, viết bằng tân nhạc.
Việc này đòi hỏi ca sĩ phải là diễn viên và có như thế mới hấp dẫn về lâu về dài số khán thính giả ít oi ở hải ngoại này.

Ðó là ước muốn của LD nhưng mình không có trong tay phương tiện thì làm sao thể hiện được, cho nên ước muốn chỉ là ước muốn suông mà thôi.

Bích Xuân


https://www.youtube.com/watch?v=AEo7_ICRQGI?si=5W7K9ohNbUkzV3Tk

linhphy
12-28-2024, 06:39 PM
Nghe lại vài ca khúc phổ thơ trong mùa Giáng Sinh

Trong mấy ngày qua, khắp nơi đâu đâu cũng đều vang vang những ca khúc quen thuộc. Nghe nhạc, biết là mùa Giáng sinh đang về. Những ca khúc như Đêm Thánh Vô Cùng, Mùa Sao Sáng, Chiều Bên Giáo Đường,
Kinh Chiều, Bài Thánh Ca Buồn, Tà Áo Đêm Noel,.. cũng tràn ngập không gian và trí nhớ chúng ta cùng với những bài thánh ca quen thuộc với người Việt Nam như White Christmas, Holy Nights,
Santa Claus is coming to town, Jingle Bells, Feliz Navidad, The Little Drummer Boy, Ave Maria, … đang vang vọng khắp nơi.

Và trên truyền hình, trên đài phát thanh, trên những chương trình nhạc… trong những quán cà phê, trong các thương xá, mọi nơi mọi chỗ, không khí Giáng sinh tràn ngập trong những dòng nhạc ấy.
Hãy đọc/nghe lại ca khúc Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời dưới đây của Nhất Tuấn do Phạm Duy phổ nhạc, tự nhiên sao thấy nhớ quá những ngày còn trẻ.

Con quỳ lạy Chúa trên trời
sao cho con lấy được người con yêu
đời con đau khổ đã nhiều
kể từ thơ dại đủ điều đắng cay
số nghèo hai chục năm nay
xây bao nhiêu mộng trắng tay vẫn nghèo

mối tình đầu chót bọt bèo
vì người ta thích chạy theo bạc tiền
âm thầm trong mối tình điên
cầm bằng Chúa định nên duyên bẽ bàng

bây giờ con gặp được nàng
không giàu, không đẹp không màng lợi danh
chúng con hai mái đầu xanh
chắp tay khấn nguyện trung thành với nhau
thề nhau sóng gió bể dâu
để yêu.. trước cũng như sau,.. giữ lời
Người ta lại bỏ con rồi
Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con.

Và một ca khúc của Trần Thiện Thanh phổ từ một bài thơ của Hàn Mặc Tử, một thi sĩ làm thơ bằng cả cuộc đời đau đớn của mình, bằng bệnh tật ác nghiệt phong cùi dày vò thể xác mình.
“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút mỗi lời thơ đều dính não cân tabao nét chữ quay cuồng như máu vọtnhư mê man chết điếng cả làn da

Nhận định về Hàn Mặc Tử, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã viết:
“Hàn Mặc Tử có lẽ là người Việt Nam đầu tiên làm thơ ca ngợi Thánh Nữ Đồng Trinh Maria và Chúa Giêsu.
Ông ca tụng đạo Thiên Chúa với một giọng rất chân thành.

Đây là lần đầu tiên thi ca Việt Nam thấy được một nguồn cảm hứng mới. Tôi dám chắc rồi đây sẽ còn nhiều thi sĩ Việt Nam đi tìm nguồn cảm hứng trong đạo giáo
và đưa thi ca Việt Nam vào con đường triết học.”

”Thi sĩ đã làm thơ với lời chào mừng trân trọng cung kính Mẹ Maria, người nữ tuyệt vời thánh thiện. Cái buốt đau của thân thể khi cầm bút với những ngón tay co quắp rút lại vì bệnh ,
đã làm cho thi sĩ như xuất thần để quên đi thực tại và đắm mình trong một niềm tin tôn giáo vô biên.

Maria! linh hồn con ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thanh vẹn
Giàu nhân đức giàu muôn lộc từ bi

Không ai có thể phủ nhận nét Công giáo trong thơ Hàn Mặc Tử vì chính ông đã mở rộng biên giới thi ca Việt nam, bằng những sáng tạo độc đáo mà nền giáo dục Công giáo,
từ cha mẹ, gia đình, trường Pellerin và gương sống các nữ tu Phan Sinh đã hun đúc hồn thơ của ông.
Trong những ngày cuối đời, ông đã thổ lộ “Tôi chỉ biết ngâm thơ và cầu nguyện mà thôi.”…”

Ngoài Hàn Mặc Tử, chúng ta không thể không nói tới Nhất Tuấn với tập thơ Truyện Chúng Mình và những bài thơ được phổ nhạc Giáng sinh nhiều nhất:

Chúa nhật này trẫm nhớ ái khanh không?
(Nguyễn Đức Quang phổ nhạc),
Con quỳ lạy Chúa trên trời (Phạm Duy phổ bài thơ Cầu Nguyện),
Mimosa thôi nở (Đan Thọ phổ nhạc),
Xin trả Lại Em (Hoàng Lang phổ nhạc),
Hoa Học trò, Niềm Tin (Anh Bằng phổ nhạc).

Tổng cộng có hơn 40 bài thơ được phổ nhạc trong thời gian từ 1959 đến nay.
Ông là một sĩ quan cấp tá tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt, làm quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội.
Nhưng thơ của ông được giới trẻ ưa thích vì có những tâm tình ngôn ngữ trẻ trung thơ mộng giống họ.

Tập thơ Truyện Chúng Mình gồm 5 tập và được coi là một tập thơ có nhiều độc giả nhất.
Thơ trong tập Truyện Chúng Mình cố nhiên là những chuyện đôi lứa.

Nhưng hãy nghe bài Mimosa Thôi Nở của ông được Đan Thọ phổ nhạc sẽ thấy mùa Giáng sinh trở về:

“Noel xưa anh nhớ khi hãy còn yêu nhau
nhà thờ nơi cuối phố thấp thoáng sau ngàn dâu
anh chờ em đi lễ chung dâng lời nguyện cầu

đêm này Noel đây
chuông nhà thờ khắc khoải
gió đồi lang thang bay
mưa buồn giăng ngõ tối
anh quỳ bên tượng Chúa

cúi đầu chắp hai tay
lạy Chúa con chờ đợi
người ngày xưa về đây
nhưng em không về nữa
đường khuya mưa bay ba
yMimosa thôi nở
Trong hồn anh đêm nay.

Hãy nghe một ca khúc khác do Anh Bằng phổ nhạc, tràn ngập màu Giáng sinh, bài Niềm Tin của Nhất Tuấn:

“lại một Noel nữa mấy mùa Giáng sinh rồi
anh ở đồn biên giới hương về một khung trờ
chắc Đà Lạt vui lắm mimosa nở vàng ,
anh đào khoe sắc thắmhương ngào ngạt không gian

mấy mùa Giáng sinh trước
chỗ hẹn anh chờ hoài
lần này không về được
hồi hộp đợi tin ai
em biết không đời línhnắng sớm với sương chiều

gió rừng rồi mưa núi đã làm anh vui nhiều
ở đây anh chờ sẵn đón thánh lễ truyền thanh
xin Chúa ban ơn xuốngcho em và cho anh
cũng cầu cho thế giới cho nhân loại hòa bình

cho đôi ta gặp lại nhanh
nhà thờ chuông đổ chậm
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian, mưa
anh bây giờ có lẽ thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh gía trên đỉnh chuông nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh”

Cho đến nay, theo mùa Giáng sinh về, người ta vẫn không quên những ca khúc Em hiền như ma soeur, Vì tôi là linh mục, phổ từ thơ của thi sĩ họ Nguyễn.
Và một bài thơ khá nổi tiếng khác của một nhà thơ người Nam Bộ được phổ nhạc bởi Huỳnh Anh và Anh Bằng.
Một bài thơ mà thành hai bản nhạc. Đó là bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhà thơ khi ăn mừng thượng thọ 81 tuổi đã mang bức di ảnh của người xưa để công bố một hình bóng nàng thơ áo
tím, một nhân vật có thực của đời mình.

Theo bài viết của Lê Thiếu Nhơn thì nàng thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà (tên thật là Trương Khương Trinh) là bà Nguyễn Thúy Nhiều, người bạn học của ông hay đi ngang qua nhà thờ,
mỗi khi xem lễ với tà áo tím. Hà Huy Hà đã mang hình ảnh ấy vào thơ với cảnh giáo đường, với chuông nhà thờ.

Và ông cũng lồng vào khung cảnh một thời tao loạn với cảnh tử biệt sinh ly. Thơ Kiên Giang Hà Huy Hà rặc ròng âm hưởng Nam Bộ, có lúc thật giống với thơ Nguyễn Bính ,
nhưng cũng có khi y khuôn như những câu ca dao của miền sông nước Cửu Long.

Lúc đến tuổi hưu ông phải bán đi căn nhà nhỏ bé của mình vì sinh kế khá chật vật.
Hãy đọc đoạn đầu bài thơ:

“lâu quá không về thăm xóm đạo
từ ngày binh lửa ngợp quê hương
khói bom che lấp chân trời cũ
che cả người thương nóc giáo đường

mười năm trước em còn đi học
áo tím điểm tô đời nữ sinh
hoa trắng cài duyên trên áo tím
em là cô gái tuổi băng trinh
quen biết nhau qua tình lối xóm
cổng trường đối diện ngó lầu chuông

mỗi lần Chúa nhật em xem lễ
anh học bài ôn trước cổng trường
thuở ấy anh hiền và nhát quá
nép mình bên gác thánh lầu chuông
để nghe khe khẽ lời em nguyện
thơ thẩn chờ em trước thánh đường..”

Tình yêu rồi cũng phai phôi.
Nàng áo tím đi lấy chồng.
Chàng nghe ròn rã chuông xóm đạo
như tiễn nàng vu quy.
Rồi sau đó chiến tranh,
và nàng áo tím ngày xưa
đã thành người thiên cổ:
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
mà cài trên cỗ nắp quan tài
điểm tô công trận bằng hoa trắng

hoa tuổi học trò mắt thắm tươi
xe tang đã khuất nẻo đời
chuông nhà thờ khóc
đưa người ngàn thu
từ đây tóc rũ khăn sô
em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”

Hình như sau đó, bài thơ có một bản khác với bốn câu thơ cuối bị sửa đi bằng từ khác.
Về sau này, người chồng của bà Thúy Nhiều ghen tức khi bà này đặt tên con đầu lòng bằng tên ghép của hai người:
tên của mình và tên của người thơ.
Bản sau của bài thơ, Kiên Giang Hà Huy Hà sửa lại đoạn kết bài thơ là:

“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
nhưng con tin có Chúa ở trên trời
trong lòng con giữa màu hoa trắng
cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!

Thơ Kiên Giang ngôn ngữ chất phác, những bài thơ như Xe Trâu hay Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím nhờ sự hồn hậu bình dân biểu lộ tính tình của người dân Nam Bộ.…
Ít ai có giọng thơ như thế. Đọc thơ ông, chúng ta thấy như cả một bầu trời của sông nước Hậu Giang.

Bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím với hình ảnh xóm đạo, của một thời chiến tranh tao loạn đã tạo được nhiều cảm xúc cho người đọc.
Như bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh mỗi khi Mùa Giáng sinh về ...

Mạnh Trinh Ng.


https://www.youtube.com/watch?v=FgJM8ccH9sA?si=C-Ub_wOxOwLbPMB6

linhphy
12-28-2024, 07:22 PM
Nhạc Sĩ Việt Dzũng( 1958-2013)

Việt Dzũng tên thật là Nguyễn Ngọc Hùng Dzũng, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1958 tại Sàigon, Việt Nam. Anh là con trai thứ 3 trong gia đình. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy,
cựu Dân Biểu của nền đệ nhị Cộng Hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Mẹ của anh là bà Nguyễn Thị Nhung, giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh.
Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình.

Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường.
Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi,
bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v..

Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.Biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương
mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam.
Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore.
Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân.

Tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới.
Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát,

Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa.
Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas.
Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại,
chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh.

Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm”
với những câu ca: “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết ?

Thuyền có về …ghé bến tự do ?
Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt
Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?…
Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ?
Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ …?”

Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ.
Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh.

Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield.
Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ,
tên “Firebirds” (Chim Lửa).
Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music).

Việt Dzũng sử dụng Tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương.
Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.
Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy.

Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ
. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân.

Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa
. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay.
Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay …
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày

. Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa
Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương
Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh
Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ….

Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …

”Năm 1979, trong Hội Chợ Tết Nguyên Đán được tổ chức tại San Antonia, Texas, Việt Dzũng đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác mang tên “Lời Kinh Đêm”
và “Một chút quà cho quê hương”. Khi hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.
Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền.

Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác.
Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa”.

Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).
Thập niên 1980 cũng là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện.
Ngay tuần lễ đầu, băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản.
Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn.
Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi.

Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh
tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em.
Cả hai cùng sáng tác và kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi.
Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống.

Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v…
Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử.
Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ.
Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh.
Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin.

Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này
. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước.

Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này. Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập PT Hưng Ca Việt Nam
, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương,
Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam.

Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn,
tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…

Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ,
mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng,
ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”.
Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh.

Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này.
Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là
“người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới
, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”
Về báo chí, Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982.
Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983.

Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988.
Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990.
Năm 1992 trở thành Thư ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ.
Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, TX), Phương Đông (Seattle, WA),
Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada)....
Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh.

Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California,
phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon Radio.
Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên.

Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả trong buổi phát thanh
nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng.
Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này
. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả,
chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood …
Việt Dzùng còn thực hiện chương trình đặc biệt, nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích.
Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan.

Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào 10 /1994.
Năm 1996, Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California,
Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay , Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM
Về mặt sáng tác âm nhạc, cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại.
Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982).

Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người.
Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết.

Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh,
Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm,
Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem…
Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD:
Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời,
Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta,
Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do,
Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương

…Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ, nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn.

Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ,
ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu,
của những tràng pháo tay và của những rộn rịp âm thanh.

Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm.
Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy.
Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình.
Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ.

Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi.
Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài.

(Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995)

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996, Việt Dzũng chính thức được mời về cộng tác với TTAsia
anh phụ trách biên soạn chương trình và đảm trách vai trò MC trong các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình.

Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”,
“Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”.
Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới”, “Tiếng Hát Trái Tim”, “Mùa Hè Rực Rỡ 2005″.

Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”, khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video,
gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa.
Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN,
Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), đặc biệt là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” …

Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay.
Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Năm 2000, Việt Dzũng là một trong những sáng lập viên của đài truyền hình Việt ngữ đầu tiên phát hình 24 giờ/ngày tại hải ngoại, SBTN, trong vai trò đào tạo xướng ngôn viên,
phóng viên và ban biên tập tin tức hàng ngày của đài.

Từ đó cho đến nay, Việt Dzũng đảm nhận vai trò chính trong việc biên soạn tin tức hàng ngày của đài SBTN.
Trong những năm tháng gần đây, dù anh phải đương đầu với căn bệnh tim và bệnh tiểu đường ngày càng trầm trọng
, Việt Dzũng luôn sát cánh cùng nhạc sĩ Trúc Hồ, giám đốc SBTN trong các cuộc vận động cho nhận quyền cho Việt Nam ,
qua các chiến dịch vận động ký thỉnh nguyện thư đến Toà Bạch Ốc,
và phong trào Triệu Con Tim-Một Tiếng Nói, nhằm kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, lên tiếng yểm trợ cho các nhà đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam.

Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại,
kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh.
Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau,
nhất là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng.
Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo
, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu.

Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mạnh dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngấ
t và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.
Ngày 20 /12 / 2013 vào lúc 10:35 sáng, Việt Dzũng đã đột ngột từ trần, hưởng dương 55 tuổi.
Anh ra đi mang theo sự thương tiếc của hàng triệu người Việt tại hải ngoại và tại quê nhà.

D.Khiem


https://www.youtube.com/watch?v=9ZXoDP-NhNM?si=FSDpvte5oTo5EiHl

linhphy
12-31-2024, 09:25 AM
Và Con Tim Đã Vui Trở Lại

Nhạc Đức Huy không thật sự bình dân như có dư luận lầm tưởng, phải nhận là có tính chất lãng mạn đã từ mọi góc cạnh cuộc sống con người được rút tỉa, chắt lọc.
Sang tới loại nhạc Thánh ca Đức Huy cũng có nhiều nhạc phẩm như “Và con tim đã vui trở lại”, “Một tình yêu”,...gây nhiều ấn tượng,
khác những ca khúc thuộc loại này đã từng phổ biến từ trước đến nay có tính cách van nài, kêu xin, khóc than .

Trái lại nhạc Đức Huy đã tạo một luồng gió mới, đưa ra một quan niệm đạo trong đời, không chia rẽ đầu óc địa phương, kỳ thị tôn giáo, gây một niềm tin thái hòa trong đời sống,
tương tự những Dan Schutte S.J, Amy Grant, John Foley...của Hoa Kỳ, Cat Stevens của Anh, đi tìm chân thiện mỹ của con người.

Bản “Và con tim đã vui trở lại” được nhiều người ưa thích, Đức Huy viết tại Hawaii ,1986 dưới tựa đề “From now on it’ s only you”,
ba năm sau chuyển sang lời Việt,
diễn tả một đức tin của con người, đi trong cơn hỗn mang của xã hội, tới một ngày dừng bước, nghĩ trở lui những thái độ,
hành động của mình, tự khắc ý thức được con đường đi:

Tìm một con đường,
Tìm một lối đi
Ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi

Lạc loài niềm tin sống không ngày mai
Sống quen không ai cần ai
Cứ vui cho trọn hôm nay
Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi

Một mình tôi về nhiều lần ướt mi
Chờ tình yêu đến trong ánh nắng mai
Xoá tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn

Người ta thấy lời lẽ đơn thuần có tính cách đời nhưng ngấm ngầm ý đạo, đưa con người trở về nẻo ngay,
đạo đời hòa hợp từ một niềm tin và những thương yêu cuộc đời của tuổi trẻ:

Nhật Thịnh


https://www.youtube.com/watch?v=NYQMMDRkxw4?si=fU650klCSKqJXB8A

linhphy
12-31-2024, 09:40 AM
40 Nhạc Phẩm :"Love Story"-Giai Thoại Tình Ca

Cách đây 40 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ,
để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục.
Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng ..
Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác.

Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại.
Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago,
nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.

Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu).
Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story.

Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động.
Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.
Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại
Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey.
Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ.
Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu,
mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra.

Thành danh từ những năm 1962 – 1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70.
Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971
, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình.
Một giọng hát trau chuốt mài dũa tựa như một viên đá quý.
Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva)

Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller.
Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal.
Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.

Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim
Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo,
rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970.

Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ,
yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.
Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành.
Một lời thoại ở trong phim ("Love means never having to say you're sorry"...) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ.
Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết : Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles…và Tôi.
Có người nói đùa rằng : Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.

Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970
, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ.
Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác.
Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).
Thân thế tác giả bài hát

Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur),
tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng.
Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm.
Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.
Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp.
Thời thanh niên, ông trao giồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim.

Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp
những năm 1950.
Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người.
Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó.

Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.
Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm
hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình.
Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ.


Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.
Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca
Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story ?
Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch.
Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar.
Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.

Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc,
bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau.
Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau.
Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.

Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản,
nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette
(A Time For Us của Nino Rota).
Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn.
Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn.

Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại.
Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.

Tuấn Thảo


https://www.youtube.com/watch?v=w6w0cy_1HY4?si=IKTg4Dez3SaehkaW

linhphy
01-02-2025, 07:07 PM
Khánh Ly Và Tôi

Trong giới nghệ sĩ, người tôi có nhiều kỷ niệm nhất, là ca sĩ Khánh Ly. Không phải vì chị hát nhạc của tôi, mà vì chị là người có khá nhiều kỷ niệm của thời tôi long đong.
Tên tuổi của chị gắn liền với dòng sinh mệnh của thời cuộc Việt Nam trước 1975 và ngay đến bây giờ, Khánh Ly là tên tuổi người thương cũng lắm, mà kẻ ghét cũng nhiều
.Năm 1983 lúc tôi từ Maryland mới về thủ đô tị nạn Bolsa, CA ,để “hội nhập” vào dòng sinh hoạt âm nhạc ở đấy theo lời “dụ dỗ” của ca sĩ Duy Quang.

Tôi với Duy Quang khá thân, anh để tôi tạm thời ngủ trong phòng của anh, (phòng ngủ ở Midway City là cái Garage) được trưng dụng làm phòng ngủ.
Bạn có biết không. Duy Quang là người đầu tiên hát ” ca khúc “đêm chôn dầu vượt biển” đấy. Anh ta là giọng hát thu âm đầu tiên ca khúc này.
Vì gia đình nhạc sĩ Phạm Duy với tôi thân nhau, đến nỗi có người bảo tôi giống Duy Minh như hai anh em sinh đôi.

Khi nhạc sĩ Phạm Duy dán hình tôi trên vách phòng ăn để ra phi trường Los Angeles đón tôi, thì cô con gái Thái Hiền đã nghi là “bố có con riêng, vì giống anh Minh quá!”.
Làm bà Thái Hằng cũng nghi ngờ.
(Tôi sẽ viết về chuyện này sau).

Trở lại chuyện Khánh Ly, khi tôi rời phòng trọ của Duy Quang về trú với Tùng Giang ở phòng thu âm Cerritos.
Anh Tùng Giang ở “đầu đông, còn tôi ở đầu tây” hùng cứ trên căn gác lưu đày của phòng thu âm. Tôi gọi căn gác lưu đày vì nó nhỏ xíu, ngột ngạt.
Bạn cứ tưởng tượng ra, nó chẳng phải là căn gác theo nghĩa thường, mà là nơi chứa đồ vật.

Vì Tùng Giang không có nhà ở, nên dùng nơi làm việc làm chỗ ở luôn. Công việc của tôi được giao, vừa làm, vừa học.
Việc thì chẳng có gì to lớn, chuẩn bị băng nhựa, microphone cho ca sĩ và ban nhạc đến thâu âm, bấm nút thâu âm, và dọn dẹp giấy tờ của các nhạc sĩ viết hòa âm ,
sau khi thu âm vứt lung tung trong phòng vocal, phòng thâu tiếng.
Nghĩ lại, cũng nhờ cái việc “nhặt rác” này đã cho tôi tự học cách viết hòa âm của nhạc sĩ Lê Văn Thiện và Tim Heinz khi tôi nhặt gom lại, tối đến trên căn gác lưu đày,
tôi tự học, tự tìm hiểu cách viết hòa âm, và à, thì ra thế! Cuối cùng tôi đã biết viết hòa âm. Tôi đã học được mà không phải đến trường.

Sinh hoạt ở phòng thu Tùng Giang có dịp gặp được vợ chồng anh chị Khánh Ly, Nguyễn Hoàng Đoan. Lúc bấy giờ chị đến thu âm
. Lần đầu tiên gặp chị, dễ mến, thân thiện, và chị vẫn còn đẹp như ngày nào.
Chị nói là đã biết tôi qua tạp chí Trắng Đen của ông Việt Định Phương. Sau đó, anh chị mời tôi đến nhà ăn cơm. Nhà chị Khánh Ly cũng gần đấy.
Sau này, tôi qua lại thường xuyên với gia đình chị Khánh Ly, cơm trưa, cơm tối với dưa, cải, trứng luộc, nhất là cà pháo mắm tôm do chị làm bếp.

Chị Khánh Ly là người công giáo như tôi, tuy không sùng đạo, nhưng sau nhà chị có tượng mẹ Maria đứng trên hòn non bộ,
và nơi đấy tôi biết chị dâng lời nguyện với mẹ Maria thường xuyên với xâu chuỗi trên tay.
Tôi xem anh chị như người thân trong gia đình, và ngược lại cũng thế, anh chị đối xử với tôi rất tình cảm.

Có những chuyện riêng tư của anh chị, tôi cũng góp phần, như tôi nhớ lại đi San Diego để giải quyết vấn đề báo Hồn Việt,
mà anh Nguyễn Hoàng Đoan một trong các người sáng lập.

Khánh Ly có một giọng hát không mệt mỏi theo thời gian, dù chị thuốc lá nhiều, thức khuya với bè bạn tụ tập ăn uống, đánh bài tứ sắc vui chơi,
nhưng tiếng hát của chị vẫn thế, vẫn đậm đà, lôi cuốn và tâm tình, kể lể.
Một điều đặc biệt là tuy phóng khoáng bè bạn, nhưng anh chị vẫn sắp xếp thì giờ lo cho con, lúc này hai cháu còn nhỏ.
Biết đường hướng đi đến trong cách làm việc, tổ chức thu băng nhạc, đi trình diễn và cách phát hành băng nhạc.

Phải nhìn nhận công này do anh Đoan phụ trách, với một lịch kín trình diễn, thu hình, thu nhạc của chị. Do vậy, chúng ta thấy Khánh Ly là tiếng hát thu âm nhiều nhất,
đi show nhiều nhất, nhiều hơn bất cứ ca sĩ nào từ trong nước ra đến hải ngoại.
Rồi xảy ra có chuyện không vui, khi tôi về làm chủ bút tuần báo Đồng Nai của ca sĩ Diễm Chi.

Có bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Lúc này, làn sóng chống đối nhạc anh Sơn bùng nổ, và nhiều người nhập cuộc, có cả nhà văn, nhà thơ, nhà báo
(tôi biết nhưng thôi không kể ra đây) để “đánh Trịnh Công Sơn”.
Nói đến Trịnh Công Sơn là nói đến Khánh Ly.
Bài báo viết là tổng hợp ý của một số tên tuổi lớn của âm nhạc, nhà thơ, do tôi ghi lại, nhuận sửa và tờ Đồng Nai nhanh chóng làm liền một chiến dịch trên mặt báo.
Tôi biết Khánh Ly buồn, giận.
Nhưng, tính chị có lòng nhân và tha thứ, anh chị vẫn xem tôi như người em trong gia đình.

Sau đó, tôi giã từ tờ báo của ca sĩ Diễm Chi, trở lại với công việc kinh doanh thẩm mỹ và mở nhà in, bên cạnh đó, thì giờ còn lại viết nhạc
và viết bài cho tuần báo Lính của ông cò Nguyễn Thừa Dzu, là một ông anh kết nghĩa của tôi.

Làm báo ở Cali như lên võ đài. Một, không oánh nó. Hai, thì nó oánh mình. Mình thủ một chỗ, thì thủ được bao lâu? Coi chừng nó “nóc ao”.
Quan niệm như thế ở một số tay viết. Và khi làm chủ tờ báo, cứ cho ta hùng cứ một phương, và Bolsa thời bấy giờ cũng như bây giờ luôn có tình trạng báo chí Việt ngữ “thập nhị sứ quân”.

Mô hình này cũng lan vào trong giới ca sĩ, giới làm băng dĩa ca nhạc và cái gọi là “trung tâm” băng nhạc. Nắm quyền phát hành muốn đưa ai lên, muốn dìm ai xuống tha hồ tự tung tự tác,
tạo thành phe nhóm bêu xấu lẫn nhau mà vẫn gặp nhau cười như không có gì mà ầm ĩ. Nghĩ cũng lạ! Bởi vì nếu “giết người đi thì ta ở với ai?”.

Tiếp đến, tôi viết 10 ca khúc với tâm trạng suy tưởng, về thân phận, về tình yêu và nỗi thương nhớ quê nhà. Mỗi khi có bài mới viết,
Khánh Ly là người nghe tôi đàn hát đầu tiên, chị vừa nghe vừa làm “giám khảo”.
Có bài Khánh Ly bảo “không được” và nói như ra lệnh “xé đi”.

Chị kể anh Trịnh Công Sơn cũng thế, xé nhiều bài lắm, nhờ vậy mới còn lại bài hay, vì mình phải nghe ý kiến bên ngoài. Vâng, đúng thế chị ạ.
Có những bài chị Khánh Ly ưng ý lấy ngay để thu băng khi tôi vừa làm xong, như bài “Sầu Khúc”.“
Buồn nằm nghe tôi khóc, mái hiên mưa về,
buồn mềm chăn gối, nhớ em yêu vội,
hồn tôi sám hối, tháng năm sầu lo…”

Bài hát này chị Khánh Ly là ca sĩ hát thu âm đầu tiên, kế đến là Ngọc Anh mới đây.

Khánh Ly có tai thẩm âm chính xác và biết bài hát nào sẽ đánh động tâm hồn người nghe. Chị viết bài hay lắm
. Một số báo với nhan đề “Bên đời hiu quạnh” nhiều người theo dõi đọc.

Có nghi ngờ cho là chồng chị viết, nhưng điều này không chính xác, vì tôi là người ngồi thấy chị viết ở bàn ăn nhà bếp, chữ chị viết tôi còn nhớ to, tròn, láu,
với chỉnh sửa gạch tung tóe trên trang giấy.
Rồi tôi với chị bàn nhau thu âm hai giọng Khánh Ly và CDA. Vì thử nghiệm qua bài hát của tôi phổ thơ Mường Mán, bà con thích quá, bài hát Chăn vịt ở phương Nam.

Chị còn tổ chức đêm Khánh Ly Châu Đình An ở phòng trà Làng Văn với tựa đề “Chôn dầu, chăn vịt”.

Cái tựa này Khánh Ly đặt ra làm chiêu tiếp thị, khiến bà con ngẩn ngơ vì chôn dầu chăn vịt là cái giống gì?

Một người như Khánh Ly, có tiếng hát bạn nghe phải ghiền với các ca khúc Trịnh Công Sơn thời tuổi trẻ trong chiến tranh ở các quán cà phê khắp Việt Nam,
nơi nào mà không vang lên tiếng hát Khánh Ly?
Nhưng không những ở ca khúc chống chiến tranh, mà chị còn hát Tango rất tới.
Những CD Khánh Ly Tango được nồng nhiệt đón nhận, và nói đến Tango, ta nghĩ đến một người. Khánh Ly.

Bên cạnh đó chị còn có lòng vị tha và tốt với bạn, vì tôi nhớ có lần chị chuẩn bị thâu cuốn Video ở Nhật, nội dung có bài hát Đêm chôn dầu vượt biển” của tôi.
Mỗi tuần đến nhà chị ăn cơm, đàn tập cho chị hát.

Một lần ca sĩ Thanh Tuyền ghé chơi, nghe bài hát này bèn xin thâu băng mà không biết Khánh Ly đang có dự tính thu hình bài hát này.
Nhưng chị vui vẻ nói với Thanh Tuyền “ mày lấy hát đi, tao hát sau cũng được”.

Tôi đưa cho Bill Kilpatrick soạn hòa âm cho 10 bài hát mới có sự góp ý của chị Khánh Ly.
Có những bài với giọng buồn, khàn, đục của chị càng nghe càng buồn, như bài
“Tình khúc cho loài sâu” của tôi viết có đoạn:

“Phố xưa tôi về, bóng người in xuống.
Có con sâu nhỏ, ngủ giấc mồ côi.
Vầng trăng chợt lên, mây mù che kín.
Thoáng tiếng hò ơi, nhặt khoan mấy hồi”

Hay là:“Nắng mưa là mưa nắng.
Kiếp người tựa tre măng.
Tóc xanh rồi bạc trắng.
Buồn quanh một chỗ nằm.
Trong bàn tay định mệnh.
Tuổi nào, phận lênh đênh.
Mệnh nào thân bỏ xứ.
Sao tiếng ca buồn tênh…”

Ngày trong phòng thu, tôi là người ngồi bấm nút trên máy thu giọng hát của chị ca khúc “Tình khúc cho loài sâu” mở đầu
. Nghe chị hát ca khúc của tôi, không hiểu sao xúc động quá, tôi rơi nước mắt nghĩ đến quê hương Việt Nam yêu dấu đang khổ đau.
Vì bài hát này, tôi viết vào tháng bẩy năm 1979 trước một năm ra đi vượt biển.
Tôi còn nhớ rõ, bài này viết ở Long An, nơi tôi trú thân làm ruộng một thời gian khốn khó.

Buổi chiều, khi mặt trời khuất dần cuối chân trời, chống cây cuốc, nhìn áng mây cuối cùng lững thững trôi về phía trời Tây, tôi nghĩ đến thân phận tôi
và bao người như con sâu, cái kiến.

Thôn quê dần tối, không có ánh điện mà chỉ có ánh đèn dầu le lói, tôi khóc qua màn nước mắt nhạt nhòa nhìn thôn xóm với tâm trạng của loài sâu nhỏ mồ côi.
Rồi tôi bước đi trong tưởng tượng ánh đèn dầu đang le lói như phố đêm.
Tương lai của tuổi trẻ tôi và bao lứa như vầng trăng vừa ló dạng, đã bị bao phủ bởi mây mù chủ nghĩa và tiếng hò ơi vang vọng từ dưới con lạch
, tiếng hò buồn bã làm sao
Ca khúc đã hình thành từ đó.
Khánh Ly hát hết một câu xong, chị hỏi tôi cho nghe lại rồi nheo mắt cười hỏi tôi qua cái microphone thu âm “sao, cu”.
Người Bắc gọi “cu” là thương lắm, thân thích lắm, chị thích gọi tôi là “cu An”.
Tôi ý kiến, ý ruồi, thế này, thế nọ, rồi bấm nút làm lại. Tùng Giang về đến, ngồi nghe xong nhìn tôi nói “
. An viết nhạc hay ghê chứ, tôi thích lời bài hát, hôm nào chỉnh sửa lời mấy bài hát giùm tôi”.

Sau đó băng nhạc được đặt tên “Bông bưởi chiều xưa” là bài thơ của bạn tôi Giang Hữu Tuyên do tôi soạn thành ca khúc.
Lẽ ra tôi đặt tựa “Tình khúc cho loài sâu”.
Nhưng vì bài thơ Bông bưởi chiều xưa của Giang Hữu Tuyên viết riêng cho ông Hoàng Cơ Minh, khi ông từ giã gia đình thân yêu
về lập chiến khu kháng chiến.

Tôi quý cả hai người, một vị tướng liêm khiết, trong sạch, hy sinh vì đại nghĩa. Một nhà thơ có tấm lòng với xứ sở long đong.
Nên tôi chọn Bông Bưởi Chiều Xưa là thế đấy.

Khi tôi lập gia đình năm 1992, đám cưới vợ chồng tôi rất ít nghệ sĩ tham dự vì ai cũng bận đi show cuối tuần thứ bảy.
Những người thân quen vắng mặt, trong đó có anh chị Khánh Ly Nguyễn Hoàng Đoan.

Tôi giận từ đấy, không liên lạc với anh chị. Rồi sau khi lấy vợ, tôi dọn về ở Orlando Florida đến bây giờ đã 20 năm trôi qua.

Nhưng trong hồn tôi lúc nào cũng nhớ đến kỷ niệm vui buồn trong buổi đầu tiên bước chân vào thế giới sinh hoạt nghệ sĩ 30 năm trời.
Mà bây giờ tôi biết chắc, cái thế giới đó không thể nào thích hợp với con người bản tính “mệnh vô chính diệu” của tôi.

Châu Đình An


https://www.youtube.com/watch?v=5UvoGtroJLg?si=nroZbnCSCrS9UdcA

https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/AEn0k_uUF40VZ8sIGSgL8K_BdCY1zCNfGnGyssCnoNSImGDSzb UnuytYg-WGfuNNkY93T33iYuJkC4D3SoX6wvtbzSJKUGFkA9ZQGriVRpM-YUeL2MmeZLsfAR8iuclX31qfUPvk=s0-d (http://chaudinhan.files.wordpress.com/2012/02/cda-kl.jpg?w=640)

linhphy
01-03-2025, 01:09 PM
Quando :Tình Gọi Mong Đợi Bóng Tối Nụ Cười

Khai sinh từ Brazil, làn sóng bossa nova từ đầu những năm 1960 lan tỏa ra khắp địa cầu. Trong suốt nửa thế kỷ, nhiều tác giả đồng loạt hưởng ứng
qua việc sáng tác bài hát nguyên gốc hay cách tân làn điệu nhờ phiên bản phóng tác.
Các bản nhạc Quando Quando và The Shadow of Your Smile

tiêu biểu cho phong trào soạn nhạc bossa nova tại các nước Âu Mỹ.
Bài hát Quando Quando do tác giả kiêm ca sĩ người Ý Tony Renis sáng tác vào năm 1962, năm ông 24 tuổi.

Trong nguyên tác, lời bản nhạc là của tác giả Alberto Testa. Tựa đề lặp lại ba lần chữ Quando, vì nhân vật ở trong bài hát mong người yêu sớm trả lời cho câu hỏi :
Chừng nào anh mới gặp lại em ?
Bản nhạc này ban đầu được viết theo thể điệu bossa nova, nhưng khi vào phòng thu, nhịp điệu bài hát được chuyển đổi nhanh hơn, gần giống với điệu samba.

Tony Renis từng khai thác điều này khi chuyển thể bản nhạc Amor Amor của Mexico , từ tiếng Tây Ban Nha chuyển ngữ sang tiếng Ý, từ điệu bolero chuyển nhịp thành samba.
Cách lặp lại ca từ để nhấn mạnh ý tưởng dựa vào khuôn thước của hai bản Amor Amor và Quizás Quizás.
Tony Renis từ những năm 1980 trở đi chuyển qua sản xuất âm nhạc, sáng tác cho người khác. Ông từng được trao giải Quả cầu vàng và nhận đề cử Oscar cho bài The Prayer,
do Andrea Bocelli song ca với Céline Dion.
Sau khi thành công vào mùa hè năm 1962, bài hát Quando Quando đã được đặt thêm lời hay chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ, ăn khách nhất
vẫn là phiên bản tiếng Anh với tiểu tựa là Tell Me When.
Rất nhiều nghệ sĩ ghi âm lại bài này, từ Pat Boone đến Cliff Richard, từ Connie Francis đến Engelbert Humperdinck.

Nhạc sĩ Tito Rodriguez, người Puerto Rico cũng chuyển thể bài này thành Cuando Cuando, đánh theo thể điệu Salsa, khiến cho nhiều người tưởng lầm rằng
bản nhạc nguyên tác là một ca khúc tiếng Tây Ban Nha, chứ không phải là tiếng Ý.

Không chỉ riêng gì ở Ý, mà tại nhiều nước châu Âu khác trong đó có Pháp, giới nghệ sĩ tham gia phong trào viết nhạc Bossa nova từ đầu những năm 1960.
Người đầu tiên là nhạc sĩ Henri Salvador.

Kế đến có tác giả trẻ tuổi Pierre Barouh, sau 7 năm sống tại Brazil, anh sáng tác khá nhiều ca khúc theo thể điệu bossa nova, một khi trở về Pháp.
Một trong những bản bossa nổi tiếng của anh là bài hát Samba Saravah (tạm dịch Samba thoáng buồn), và nhất là ca khúc Un Homme et Une Femme
(Câu chuyện một người đàn ông và một người đàn bà), ca khúc chủ đề bộ phim cùng tên của đạo diễn Claude Lelouch.

Tác giả Francis Lai là người đã sáng tác ca khúc chủ đề này, sáu năm trước khi ông phá kỷ lục số bán với bài Love Story (1972).,

Bản nhạc do Nicole Croisille song ca với Pierre Barouh, rất quen thuộc nhờ khúc hát dạo đầu chabada bada và đặc biệt nổi tiếng trên khắp thế giới
sau khi bộ phim của Claude Lelouch
đoạt Cành cọ vàng tại liên hoan Cannes vào năm 1966.
Về phần mình, tác giả quá cố George Moustaki từng chuyển dịch bài Águas de Março của Tom Jobim thành ca khúc Les Eaux de Mars (Nước mưa tháng Ba).
Trong khi đó Claude Nougaro gợi hứng từ bossa nova để soạn lời thành nhiều ca khúc tiếng Pháp, trong đó có bản nhạc rất nổi tiếng Tu Verras (Rồi em sẽ thấy).
Nguyên tác bài này là nhạc phẩm O Que Sera của ca sĩ kiêm tác giả Chico Buarque.

Tại Hoa Kỳ, một trong bản nhạc nổi tiếng chuyển thể sang điệu bossa là bài The Shadow of Your Smile (Bóng tối nụ cười), ca khúc chủ đề của bộ phim The Sandpiper,
với cặp diễn viên trứ danh nhất thời bấy giờ là Elizabeth Taylor và Richard Burton đóng vai chính.
Được phát hành lần đầu tiên vào năm 1965, bài hát do Johnny Mandel soạn nhạc, và do Paul Francis Webster đặt lời.

Bản nguyên tác phát hành cho bộ phim được ghi âm dưới dạng hợp ca.
Đến khi đoạt giải Grammy cho ca khúc nhạc phim hay nhất, bản nhạc này lúc đó mới được nhiều ca sĩ nổi tiếng như Barbra Streisand, Tony Bennett, Sarah Vaughan
hay Marvin Gaye ghi âm lại.
Vào năm 1966, đến phiên ca sĩ Astrud Gilberto với sự hợp tác của tay kèn saxo tenor người Mỹ Stan Getz chuyển lối hòa âm phối khí sang nhịp điệu bossa nova.

Trong tiếng Tây Ban Nha, ca khúc này đã được dịch dưới tựa đề La Sombra de Tu Sonrisa.
Còn trong tiếng Pháp, bài hát được tác giả Eddy Marnay chuyển thành Le Sourire de Mon Amour, và do Nàng thơ phố Saint Germain des Prés Juliette Gréco
ghi âm lần đầu tiên vào năm 1966,
cho dù vào lúc đó, cô không ưng ý cho lắm với bản nhạc này.

Dù thích hay không, các phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng khác nhau giúp cho dòng nhạc bossa nova phát triển mạnh trong vòng những thập niên liền.
Rất nhiều nghệ sĩ lừng danh quốc tế, trong đó có Sting và George Michael đều cho rằng Bossa nova đã thay đổi cách tiếp cận âm nhạc của họ.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày ra đời, dòng nhạc bossa vẫn chưa sợ năm tháng tuổi già, gieo cảm hứng cho bao tác giả lao vào hành trình khám phá, âm thanh kỳ diệu mới lạ.

Tuấn Thảo


https://www.youtube.com/watch?v=6_q_CyD4X7c?si=bv5aPtQ03QFVL_0R

linhphy
01-03-2025, 01:36 PM
Nghe Nhạc Trịnh Nam Sơn

Tháng 4 / 1975, chàng thanh niên Trịnh Nam Sơn theo gia đình người chị gái đi di tản và đã đến ở đảo Guam một thời gian ngắn rồi sau đó đến Hoa Kỳ theo diện tị nạn.
Cũng như bao nhiêu người Việt mới nhập cư lúc đó, với vốn tiếng Anh rất hạn chế, Trịnh Nam Sơn trải qua rất nhiều công việc để mưu sinh

Anh không nề hà việc gì, từ rửa xe hơi, rửa bát đĩa ở nhà hàng hay theo những tàu đánh cá lên tận vùng Alaska băng giá đánh bắt cua biển dài hơn nửa năm trời.
Tới giờ, Trịnh Nam Sơn vẫn nhớ rõ chuyến đi đánh bắt cua biển. Anh kể, khi đó, thấy nhiều người Việt rủ nhau theo tàu cá lên tận Alaska,
một nơi nổi tiếng về phong cảnh tuyệt đẹp, anh tò mò xin đi. 70% người làm việc tại đó là người Việt, còn lại là người Philippines.

Trong 6 tháng liền, công việc của anh ở đây chỉ là sơ chế cua, cá từ tàu đánh bắt hải sản ở biển Alaska mang về. Cua ở đó rất to, cỡ chừng 6-7 kg/ con, dài chừng 80cm.
Hầu như ngày nào cũng làm việc 18-20 tiếng, chỉ có 4-6 tiếng để ngủ, mà ngủ luôn trên tàu, không có thời gian để ngắm cảnh.

Bù lại, lương rất cao, gấp 4 lần bình thường. Trịnh Nam Sơn kể, anh đi vì hiếu kỳ là chính. Tiền nhiều thì cũng thích đấy, mà ở Alaska cũng chả có cơ hội để tiêu.
Nửa năm mới về nhà một lần. Nhưng bạn bè anh đông, khao bạn bè xong cũng vừa hết tiền. Anh cười hiền: “Hồi đó, đi vui là chính, cốt là trải nghiệm”.
Anh trải nghiệm hai lần đi Alaska: 6 tháng chế biến cua biển và 6 tháng chế biến cá hồi.
Khoảng cuối năm 1976, Trịnh Nam Sơn qua California và bắt đầu vừa đi làm, vừa theo học college ...
Thời này, anh vừa học, vừa làm, vừa chơi nhạc với mấy nhóm nhạc người Hoa ở vùng Los Angeles.

Lúc đó, anh làm việc cho công ty thiết kế hệ thống nước, máy lạnh, máy sưởi cho các như bệnh viện, toà nhà cao tầng, khách sạn...
Còn việc chơi nhạc, thoạt đầu đều là cùng những người bạn học chung trường.

Sau này, anh nhận thấy vốn liếng âm nhạc của mình quá nghèo nàn nên quyết định bỏ hết mọi việc và anh đi học nhạc tại Dick Grove School of Music.
Tốt nghiệp trường nhạc năm 1986, Trịnh Nam Sơn bắt đầu có một số sáng tác ghi dấu ấn như Dĩ Vãng, Về Đây Em,
Quên Đi Tình Yêu Cũ, Con Đường Màu Xanh...
Trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến cuối thập niên 90 là giai đoạn Trịnh Nam Sơn sáng tác và ra album nhiều nhất.
Anh không ngờ Con đường màu xanh được yêu chuộng nhất tại Việt Nam, trong khi đó ở hải ngoại là Về đây em.

Từng được hỏi nhiều về Con đường màu xanh, nhưng đây là lần đầu tiên Trịnh Nam Sơn hé lộ về quá trình anh viết nhạc phẩm này.
Anh kể: “Con đường màu xanh được sáng tác năm 1991 và đây cũng là khoảng thời gian tôi vừa trở lại cuộc sống độc thân “hậu hôn nhân”.

Dĩ nhiên không có đổ vỡ nào không đau buồn, nhưng dù sao tôi cũng mong rằng mỗi người hãy hướng đến một con đường màu xanh,
màu của lạc quan, hy vọng để đi đến một tương lai tốt đẹp hơn”.

Anh chia sẻ: “Từ một mối tình đơn phương thời trai trẻ rồi đến đổ vỡ trong hôn nhân cho đến chia tay những mối tình không trọn vẹn;
tất cả những điều đó tôi không xem là những “trắc trở” mà là những “trải nghiệm”.

Những trải nghiệm ấy đã cho tôi cảm hứng sáng tác nhưng chúng không khiến nỗi buồn ngự trị ” trong những bài hát của tôi”.
Từng là fan của tác giả Con đường màu xanh, tôi tò mò muốn biết câu chuyện sâu thẳm bên trong, nhưng Trịnh Nam Sơn khéo léo
không nhắc đến nhân vật trong Con đường màu xanh.

Anh bảo: “Thường tôi chỉ viết cho “tình yêu” của mình chứ không cho “người yêu” của mình. Tôi viết vì cảm xúc trong lòng mình chứ không vì người khác.
Vì vậy cho dù sau này nếu không còn yêu nhau nữa thì những cảm xúc trong bài hát vẫn mãi trọn vẹn”.

"Dĩ vãng "là tác phẩm đầu tay của Trịnh Nam Sơn. Ban đầu đây là tác phẩm nhạc khí anh viết khi đang theo học về khí nhạc
và chỉ huy dàn nhạc tại trường Dick Grove School of Music ở Hollywood.
Tính đến nay, anh đã viết mấy chục bản khí nhạc và hai bản nhạc phim tài liệu.

Sau này, khi muốn phổ biến Dĩ vãng, Trịnh Nam Sơn đã nhờ mấy người bạn là nhà thơ viết giúp cho phần lời, nhưng họ nói không có thời gian.
Anh đành tự viết lời Việt.
Sau đó, anh nhờ đạo diễn Lưu Huỳnh, lúc đó cũng học cùng trường với Trịnh Nam Sơn, nhưng anh học về đạo diễn làm giúp một video ca nhạc.
Lúc gửi gắm tác phẩm của mình cho Lưu Huỳnh, anh cũng chưa nghĩ là mình sẽ hát, mà định mời ca sĩ .
Khổ nỗi, lúc đó, người ta chưa biết đến Trịnh Nam Sơn là ai,nên anh mời hết người nọ, đến người kia đều bị từ chối.
Thế là, anh quyết định tự hát.

Không những thế, anh còn tự đánh ghi ta, đệm đàn piano và thổi kèn saxophone cho bài hát của mình.
Với sự giúp đỡ của Lưu Huỳnh, album đã được quay khá công phu.
Dĩ vãng được thu vào băng nhựa VHS là kỹ thuật mới nhất thời gian đó.

Khi quay xong, Trịnh Nam Sơn cũng chưa nghĩ đến chuyện lỗ lãi. Chỉ đơn giản nghĩ rằng, làm thế nào để giới thiệu album này tới nhiều người.
Hồi đó, chưa có nhiều phương tiện quảng bá như bây giờ.
Trịnh Nam Sơn đã đi gõ cửa hết trung tâm sản xuất băng đĩa này, đến trung tâm sản xuất băng đĩa kia của cộng đồng người Việt tại Hải ngoại, nhưng đều nhận được những cái lắc đầu.
Không nản chí, anh quyết định tự đi phát hành. Anh thiết kế poster đĩa nhạc của mình rồi đi dán khắp nơi.
Rồi Dĩ vãng cũng được ra mắt, tại một quán café. Đến giờ, Trịnh Nam Sơn vẫn còn nhớ mãi ngày đó.

Anh thuê một quán café nhỏ, thuê dàn âm thanh xịn và đến đó trình diễn. Anh kể, khán giả có mặt ở đây rất ấn tượng, nhưng rồi, cái tên Trịnh Nam Sơn
và Dĩ vãng vẫn nhạt nhòa với số đông.
Thập niên giữa 80 , quảng cáo hữu hiệu nhất là tới tiệm bán đầu video, cho họ mượn băng để thử máy.
Những người đi mua đầu video thấy lạ với một clip ca nhạc có hình ảnh đẹp, âm thanh tốt hơn rất nhiều so với băng video thông thường.
Và mọi người bắt đầu để ý tới nhạc của Trịnh Nam Sơn.

Cuối cùng, trời không phụ lòng người, hãng thu thanh Khánh Hà đã mua bản quyền và sản xuất đĩa nhạc, nhờ đó mà Dĩ vãng được đưa đến khán thính giả yêu nhạc
Sau này, Trịnh Nam Sơn và Khánh Hà thường xuyên hợp tác với nhau. Khánh Hà cũng thường xuyên hát bài của Trịnh Nam Sơn trong nhiều năm ở hải ngoại.

Năm 91, Trịnh Nam Sơn tiếp tục ra đĩa nhạc Về đây em rất được yêu chuộng tại hải ngoại và tới cuối năm 91 là Con đường màu xanh.
Khoảng 94, khi nhạc Việt Nam bắt đầu bị cạnh tranh bởi nhạc Hoa lời Việt, nhạc Âu Mỹ lời dịch, Trịnh Nam Sơn chuyển sang làm broker anh
và anh chỉ còn “dạo chơi trong vườn hoa âm nhạc”mà thôi .

theo TGNS


https://www.youtube.com/watch?v=nGtmnHm5UsI?si=bBbIHplp9gycmxJq

linhphy
01-05-2025, 10:57 AM
Christophe, Thiên đường tìm lại nhân 50 năm sự nghiệp

Đối với hầu hết các ca sĩ Pháp thành danh vào những năm 1960, năm 2013 là thời điểm ăn mừng 50 năm sự nghiệp của họ.
Đó là trường hợp của Enrico Macias và Serge Lama, mỗi người đều đã trình làng album ‘‘mới’’.

Riêng về các thần tượng nhạc trẻ Pháp thập niên 60, 2013 là năm của các nữ ca sĩ Sheila và France Gall, phía nam có Adamo và Christophe
Tất cả các gương mặt này đều đã dấn thân vào nghề ca hát vào năm 1963, tức là một năm sau Françoise Hardy và Sylvie Vartan.
Trong trường hợp của Christophe, anh thật sự nổi danh vào năm 1965 nhờ tình khúc Aline.
Bài hát đã phá kỷ lục số bán với hơn một triệu đĩa đơn chỉ riêng trong mùa hè năm ấy.
Nhưng Aline không phải là đĩa nhựa đầu tay của Christophe. Ca khúc đầu tiên mà anh đã ghi âm là nhạc phẩm Reviens Sophie (tạm dịch là Người yêu ơi, xin trở lại)

Bài hát này đã được phát hành cách đây đúng nửa thế kỷ, cùng một năm với ca khúc đầu tay của Adamo (Sans toi ma mie), France Gall
(Ne sois pas si bête) và Sheila (Jolie petite Sheila, phiên bản tiếng Pháp của bài Sweet Little Sheila của Tommy Roe).

Khác với các bạn đồng nghiệp, Christophe thú thật là anh không muốn ăn mừng 50 năm sự nghiệp ca hát, khi trả lời phỏng vấn truyền hình
nhân ngày chủ nhật 27/01/2013 vừa qua.
Chữ ăn mừng ở đây hiểu theo nghĩa thương mại, tức là các hãng đĩa tranh thủ thời cơ nhân sinh nhật năm chẵn để kinh doanh băng đĩa.

Ngược lại, Christophe muốn chia sẻ với khán giả, gặp gỡ giới hâm mộ, đã trung thành với anh từ nhiều thập niên qua.
Có lẽ cũng vì thế mà anh sẽ mừng 50 năm sự nghiệp của mình trên sân khấu.
Sau hai buổi biểu diễn cuối tháng giêng tại nhà hát Marigny ở Paris, anh sẽ lên đường lưu diễn cho đến cuối tháng ba.
Đợt trình diễn này mang tên là Intime Tour, hiểu theo nghĩa thân mật. Một mình trên sân khấu, Christophe sẽ hát lại những sáng tác ưng ý nhất của mình
chứ không phải là những bài hát ăn khách nhất.
Ca sĩ Pháp chọn lối hòa âm rất mộc, hát một mình với tiếng đệm của đàn piano, đàn ghi ta hay đàn phím điện tử.
Một cách để làm nổi bật cái tài soạn giai điệu rất lọt tai của anh (melody maker), trước khi có hai hiện tượng Michel Polnareff và Michel Berger trogn làng nhạc Pháp.

Nhạc phẩm Adieu Jolie Candy mà Michel berger đã viết vào năm 1968, dưới một bút danh khác, một phần là do ảnh hưởng của tình khúc Aline.
Song song với đợt trình diễn tại Pháp đầu năm 2013, vào giữa tháng ba sắp tới, Christophe sẽ cho ra mắt tập nhạc mang tựa đề Paradis Retrouvé (có nghĩa là Thiên đường tìm lại).

-Album này tập hợp 13 ca khúc sáng tác trong giai đoạn mười năm từ 1972 đến 1982, nhưng chưa bao giờ được phổ biến trên băng đĩa hay qua các tour biểu diễn.
Đó cũng là giai đoạn hợp tác giữa Christophe với nhạc sĩ Jean Michel Jarre (con trai của Maurice Jarre), đều có hợp đồng ghi âm với hãng đĩa (Francis) Dreyfus.
Hai ca khúc tiêu biểu của thời kỳ này là Les Mots Bleus (tạm dịch là Chữ xanh Mắt tình) và Les Paradis Perdus (Thiên đường đánh mất).
Do vậy, album phát hành vào tháng ba năm 2013 mới có tựa là Thiên đường tìm lại (Paradis Retrouvé).

Bên cạnh đó, còn có việc tái bản các album trước của Christophe, các tập nhạc này điều chỉnh lại phần hòa âm và được phát hành với hình bìa gốc.
Đây là dịp để nghe các bản nhạc phim hay là các bản nhạc demo ghi âm thử cho các ca sĩ khác, mà Christophe đã sáng tác với một bút danh khác
hay với tên thật của mình là Daniel Bevilacqua.
Điều đó cho thấy nhiều khía cạnh khác nhau của một tài năng soạn nhạc, trong khi các hãng đĩa nhà khi cho phát hành đĩa đơn chỉ muốn nhấn mạnh trên một khía cạnh duy nhất :
-Christophe chỉ sáng tác nhạc tình và chuyên hát nhạc tình.

Trong những năm gần đây, Christophe đã chuyển hẳn sang dòng nhạc thử nghiệm, trong đó ca từ, giai điệu không còn nhất thiết là cốt lõi của bản nhạc, mà lại là cái thế giới âm thanh,
không gian đầy tiếng động mà nhà sáng tác nỗ lực tìm tòi, gầy dựng.

Ngược dòng thời gian trở về năm 1977, thời mà tập nhạc Le Beau Bizarre của Christophe được giới phê bình xếp vào danh sách những album nhạc rock hay nhất mọi thời đại.
Điều đó có nghĩa là Christophe đã hai lần chuyển hướng, nhưng trong tâm trí của công chúng, hình ảnh của anh chỉ được gắn liền với nhạc phẩm Aline.
Khi nghe kỹ lại các bản nhạc của Christophe, ta sẽ thấy là bản nhạc đầu tay của anh mang tựa đề Reviens Sophie, đậm chất blues và rock,
mang nhiều ảnh hưởng của Robert Johnson và John Lee Hooker, hai nghệ sĩ nhạc blues mà anh hằng ngưỡng mộ.

Nhưng do ca khúc này không thành công, cho nên sau đó các hãng đĩa chỉ tập trung khai thác các tình khúc ướt át lãng mạn của tác giả này.
Điều đó phần nào giải thích vì sao ngòi bút của Christophe đã không được đánh giá đúng mức trong vòng nhiều thập niên liền.

Với thời gian năm tháng, Christophe để lại trong lòng người mến mộ hình ảnh của một dandy, một giọng ca đào hoa với phong cách lịch lãm.
Ngoài những ca khúc lãng mạn tha thiết như Tay trong tay, Thú đau thương hay Đời là một câu chuyện tình, Christophe ngay từ đầu những năm 1970
đã viết ca khúc như thể đạo diễn dựng phim, những album concept thời đó xen kẻ những đoản khúc với những bài hát dài tới 9 phút.

Người khác có thể chỉ thích mạo hiểm trong trí tưởng tượng, phiêu lưu vào thế giới hình ảnh, còn Christophe chỉ thích làm lãng tử âm thanh,
du ca đồng hành, ghi khắc chân dung ,trong ảo ảnh giấc mộng, vẽ lại dấu vết trong hành trình bất động.

Tuấn Thảo
2013


https://www.youtube.com/watch?v=NU9qYbLtPog?si=llM0E4vdJ67DiHLB

linhphy
01-05-2025, 11:20 AM
Michael Bublé, mười năm đỉnh cao sự nghiệp


Cách đây mười năm, ca sĩ kiêm tác giả Paul Anka từng nhận xét rằng, trong số các giọng ca trẻ crooner thời đại,
Michael Bublé là gương mặt sáng giá nhất. Nhận xét của ông vào một thập niên trước tựa như một lời tiên đoán : vào năm 2013, tức 10 năm sau,
Michael Bublé là giọng ca ăn khách nhất của dòng nhạc pop jazz.

Tác giả Paul Anka là người viết lời tiếng Anh cho nhạc phẩm My Way và đã soạn nhiều ca khúc kinh điển cho làng nhạc Anh Mỹ.
Ông nói như thế không phải chỉ vì có thiện cảm với người đồng hương : Cả hai đều là người Canada, Paul Anka sinh trưởng tại Ottawa, bang Ontario,
còn Michael Bublé có nguyên quán ở bang British Columbia. Sở dĩ Paul Anka nhận xét như vậy ,
vì ông thật sự nghĩ rằng Michael Bublé là một trong những người thừa kế xứng đáng của Giọng ca vàng Frank Sinatra.

-Vào năm 2003, Michael Bublé đã trình làng album đầu tiên do tập đoàn Warner Bros chính thức phát hành. Gọi là album đầu tiên chứ không phải là đầu tay vì trước năm 2003,
anh đã tự sản xuất và tự phát hành hai tập nhạc (mang tựa đề Babalu và Dream).
Tính đến nay, anh đã có 8 album ghi âm ở phòng thu, trong đó có 6 tập nhạc do một hãng đĩa lớn phát hành. Album gần đây nhất vừa được trình làng hồi tháng Tư năm 2013.
Với tựa đề To Be Loved (Để được yêu), album mới nhất của Michael Bublé đánh dấu một bước ngoặt khá quan trọng. Đây là lần đầu tiên, anh thay đổi êkíp làm việc
và không còn hợp tác với nhà sản xuất David Foster.
Được mệnh danh là bàn tay phù thủy, nhà sản xuất David Foster đã góp phần làm nên tên tuổi của nhiều ca sĩ trong đó có Celine Dion, Andrea Bocelli Josh Groban,
ban nhạc Il Divo, các album của Michael Bublé và gần đây hơn nữa là hai tập nhạc của Seal. Hiện giờ, ông là giám đốc của hãng đĩa Verve.

Trên album mới, Michael Bublé đã chọn làm việc với nhà sản xuất Bob Rock, người chuyên hoà âm cho các nhóm nhạc metal rock như Iron Maiden, Aerosmith và The Offspring.

-Tập nhạc To Be Loved ra đời từ sự hợp tác này, chẳng những khoác áo mới cho các tình khúc vang bóng một thời,
mà còn thay đổi phong cách thể hiện của Michael Bublé, cứng cựa và gân cốt thay vì lả lơi vuốt chữ, nhún nhảy và bay bổng,
lối ngắt câu nhã chữ cũng thay đổi theo từng đoạn nhấn nhịp.
Tiêu biểu nhất là nhạc phẩm To Love Somebody, nguyên tác của nhóm The Bee Gees.
Michael Bublé phá cách nhưng vẫn giữ được cái cốt. Đây không phải là lần đầu tiên anh ghi âm lại (cover) một ca khúc của nhóm Bee Gees
trước đó anh đã từng hát nhạc phẩm How Deep Is Your Love với nữ ca sĩ Kelly Rowlands (một trong ba thành viên trước đây của Destiny’s Child).
Nhưng giữa hai phiên bản cover này có một sự khác biệt lớn. How Deep Is Your Love thì được phối khí mềm mại khoan thai theo kiểu bossa nova,
còn To Love Somebody thì chuộng lối hòa âm chắc nhịp, làm cho người nghe liên tưởng đến cách biểu hiện của những nghệ sĩ da màu cực thịnh vào thời Tamla Motown.

Album của Michael Bublé xen kẽ 10 bản cover và 4 sáng tác mới. Trong số các bài ghi âm lại có những ca khúc ăn khách trước đây của Dean Martin, Elvis Presley, Frank Sinatra …

Sau khi đóng vai June Carter trong bộ phim kể lại cuộc đời của nhạc sĩ Johnny Cash, nữ diễn viên điện ảnh Reese Witherspoon đã được Michal Bublé
mời hát chung nhạc phẩm Something Stupid. Bài này từng được Frank Sinatra ghi âm với con gái Nancy Sinatra, và Robbie Williams cũng song ca nhạc phẩm với Nicole Kidman.
Được ghi âm với một dàn nhạc lớn (big band), rồi hòa âm phối khí lại theo nhiều nhịp điệu khác nhau, album pha trộn xen kẻ nhiều thể loại âm nhạc, có cả nhạc soul lẫn rock, pop và jazz.

Việc mở rộng âm vực tựa như một bức chụp quang phổ cho thấy khả năng diễn đạt của Michael Bublé, chất giọng của anh có nhiều âm sắc tinh tế
và biến chuyển theo từng thể loại âm nhạc.
Trước kia, anh đã có sẵn chất mềm bóng thủy, giờ đây anh truyền vào nước nhiệt độ của lửa.

Tập nhạc To Be Loved thành công trong việc mở rộng repertoire của nam ca sĩ người Canada, thay đổi một chút cái hình ảnh con nhà lành, Michael Bublé có vẻ bụi đời hơn trước.
So với những album của thời kỳ hợp tác với nhà sản xuất David Foster, thì album này không trơn tru, gẫy gọn.

Lối hòa âm không quá đỗi trau chuốt, kỹ lưỡng đến nỗi mà âm thanh tuy đẹp mà trở nên vô cảm.
-Album To Be Loved cho thấy một góc độ khác lạ của giọng ca Michael Bublé nhưng chưa dứt khoát , hầu đẩy giọng ca của Michael Bublé lên một tầm mức cao hơn nữa.
Sự va chạm giữa một bên là pop jazz và một bên là metal rock, chỉ mới làm lóe lên một chút ánh sáng, chứ chưa vụt bay tia chớp nẩy lửa.

Tuấn Thảo


https://www.youtube.com/watch?v=fIYRoO9QgWY?si=wSWy__xucGBgh_VA

@@ Lúc chưa biết Michael Buble là ca sĩ gốc xứ lá phong ,cả nhà LPhy đã rất thích phong cách trình diễn của anh chàng ca sĩ MB rồi
Bởi lẽ Michael Buble giống quý ông lịch lãm lên sân khấu luôn chỉ là bộ suit đen lịch sự ,lại không có dàn vũ công hay chiêu trò chi cả
Anh chàng Michael Buble thực sự đã dùng tài năng lẫn giọng ca trời ban đi đến thành công như ngày hôm nay .

Ngoài ra Michael Buble còn là người chồng ,người cha rất thương yêu con cái ,vì con trai thứ 2 của anh ,bé chỉ mới 4,5t đã mắc cơn bệnh
hiểm nghèo, mà mọi người ai cũng sợ hãi đó là cancer , Vợ chồng Michael Buble đã lo lắng mất ăn ,mất ngủ để chạy chữa cho con trai
Anh còn tạm dừng thu âm và cancel nhiều show mời cả 2 vợ chồng quyết định dành hết thời gian & $$ cứu chữa cậu con trai bé bỏng ..!

linhphy
01-06-2025, 08:59 AM
Khúc Thuỵ Du -Anh Bằng phổ thơ Du Tử Lê

Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác,
ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)

Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh.
Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “

…Ngước lên nhìn huyệt lộ
- bày quả rỉa xác người
- (của tươi đời nhượng lại)

- bữa ăn nào ngon hơn
– làm sao tôi nói được…
” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – ” vân vân…

Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau
, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì?
Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…

Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ.
Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.

Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 1973.
Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại.
Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô… Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái
(toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.)

Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.”
Ông cho tôi quyền chọn người hát.
Ông nhấn mạnh:

Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”

Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi,
cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối.

Tôi giới thiệu hai người với nhau. Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc,
lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc…
Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.

Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ:
Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…

Du Tử Lê


https://www.youtube.com/watch?v=JTcgc1u3teo?si=z4HJnxh7YTtHZiZM

linhphy
01-06-2025, 09:12 AM
Giọng ca thiên phú :Nguyên Khang

Đối với nhiều người, cái tên Nguyên Khang không còn lạ lẫm; người ca sĩ có chất giọng trầm ấm, sang trọng ấy đã cộng tác với Trung tâm Asia vừa tròn một thập kỷ.
Thế nhưng câu chuyện đến với âm nhạc của Nguyên Khang thật tình cờ, bởi từ nhỏ anh chưa bao giờ qua một trường lớp đào tạo thanh nhạc nào,
phải chăng bởi chất giọng thiên phú của anh
mà người nghe có được một Nguyên Khang của ngày hôm nay.

“Khang thực sự từ bé đến lớn mình chưa bao giờ có ước mơ sẽ trở thành người ca sĩ, nhất là ca sĩ chuyên nghiệp.
Vào một ngày đẹp trời, Khang đến đám cưới của một người bạn. Khang gặp được anh Hoàng Trọng Thụy, nghe Khang hát,
anh Hoàng Trọng Thụy đề nghị Khang hát thử một số bài hát mà anh mới sáng tác,
và Khang đã hát những bài hát của anh.
Sau đó, anh Thụy phát trên đài VNCR, là một đài truyền thông ở miền Nam CA , khi những bài hát được phát đi, thì nhiều thính giả hỏi người ca sĩ đó là ai.
Lúc đó, Khang chưa có tên là Nguyên Khang, cái tên Nguyên Khang cũng là do nhạc sĩ Hoàng Trọng Thụy đặt cho Khang.

Sau đó, Khang được Trung tâm Asia và Vân Sơn mời, kể cả TT Thúy Nga cũng mời Khang, nhưng Khang chưa có duyên để cộng tác với Thúy Nga.
Cái gì cũng có số mệnh, Khang chưa bao giờ muốn làm ca sĩ
, nhưng cuối cùng đây lại là một cái nghiệp của mình, và Khang rất vui khi làm được một điều gì mà mình rất yêu thích,
và đó là hạnh phúc nhất của một con người.”

Nguyên Khang tâm sự rằng khi bàn về chất giọng đặc biệt của mình nhiều người cho rằng anh có chất giọng khàn kiểu “thuốc lào” trong khi đó,
giới nhạc sĩ lại đánh giá anh có quãng hát rộng
và đủ khả năng để chuyển tải những bài hát đòi hỏi tính kỹ thuật cao:
Nếu nói về chất giọng của Nguyên Khang thì điều đầu tiên Khang được quý vị nhận xét là Khang có chất giọng “rất thuốc lào” mà thực sự Khang chưa bao giờ hút thuốc lào,
mà Khang chỉ hút thuốc lá thôi, giọng có vẻ khàn khàn,
có vẻ nhựa nhựa. Quý vị nhận xét giọng của Khang có độ trầm và vang, thực sự điều đó là trời cho.
Mình chưa bao giờ được qua một trường lớp nào, nếu Khang qua trường lớp thì có thể Khang sẽ hát tốt hơn nhiều.

Bởi thực sự ra, những giọng ca nam của tân nhạc Việt Nam có rất nhiều giọng hát hay. Điều thứ hai, Khang được các nhạc sĩ nhận xét là Khang có quãng (hát) rộng,
quãng của Khang đủ để hát được những bài hát khó, nó cần một quãng rộng để có thể chuyên chở được bài hát.”

Trong số những giọng hát nam nổi tiếng trong nước lẫn hải ngoại, người nghe thường so sánh giọng hát của Tuấn Ngọc, Nguyên Khang và Quang Dũng,
dường như có chút gì hơi giống nhau,
từ thể loại nhạc cho đến những nốt ngân, nhả chữ và cách nhấn nhá; nhưng nếu nghe kỹ thì rõ ràng 3 giọng hát này luôn có những thần thái khác biệt
và làm nên thương hiệu riêng của mỗi người.

“Thú thực với quý vị khi Khang bắt đầu thu băng, Khang chưa biết ca sĩ Tuấn Ngọc, Khang chỉ nghe nhạc nước ngoài nhiều mà chưa nghe nhạc Việt nhiều.
Sau này, khi đi hát, mọi người mới nói sao giọng Khang giống Tuấn Ngọc quá, Khang bắt đầu nghe và mua đĩa Tuấn Ngọc nghe
và thấy mình có nhiều điểm rất giống anh Tuấn Ngọc là ở cách phát âm và quãng;
cái giống nhất là hai người cùng có tần số chọn bài, cái cảm nhận về bài hát giống nhau, cho nên đó là một điều và là một sự trùng hợp rất thú vị.

Sau khi Khang nghe Tuấn Ngọc rồi, Khang bị ghiền, Khang bị ảnh hưởng của Tuấn Ngọc nhiều lắm, nhưng sau đó, mình hát nhiều, mình có kinh nghiệm,
mình tạo ra cho mình một cách riêng, và sau này Nguyên Khang thoát ra được cái bóng của Tuấn Ngọc.
Còn nói về Quang Dũng, Quang Dũng là người đi hát sau Khang, Quang Dũng là người chịu ảnh hưởng của Khang.

Khang nhớ có một lần, Khang về Việt Nam và đến phòng trà của ca sĩ Cẩm Vân – Khắc Triệu thì Khang có gặp một người ca sĩ đến, bắt tay Khang,
anh cao ráo, đẹp trai, tự giới thiệu em là Quang Dũng,
em rất thích anh hát, Quang Dũng có lên sân khấu hát tặng Khang một bài nằm trong đĩa đầu tiên của Khang là bài Vì Tình Đây.
Khi Quang Dũng xuống, thì Khang có nói em hát hay hơn anh đấy chứ.

Lúc đó, Quang Dũng chưa nổi tiếng, sau này thì Quang Dũng hát rất hay và là một giọng trẻ Khang rất quý.”

Vũ Hoàng


https://www.youtube.com/watch?v=H8iYOAg5lfE?si=1ueJZWTXFo9vwNzN

linhphy
01-08-2025, 04:25 PM
Mai Thảo và thế giới đèn màu Sài gòn trước 75

Nói tới nhà văn Mai Thảo, trong hơn hai mươi năm qua, ở hải ngoại, người ta chỉ có thể hình dung ông trong cung cách lạnh lùng, lừng khừng của một nhà văn lưu vong;
hay người ta nhớ tới ông, trong câu chuyện của một ông già, mỗi buổi sáng thường lửng thửng trên đoạn đường Bolsa
(khúc nối liền giữa khu chợ 99 và thương xá Phước Lộc Thọ.)
Cũng chính ở khúc đường này, nhiều lần, cảnh sát đã chặn ông lại, nhét vào túi ông những tấm giấy phạt vì tội... vi phạm luật đi...bộ.

Ông bị phạt nhiều tới độ...trở thành một nhân vật... nổi tiếng của hội đồng Nghị viên Thành phố Westminster.
Tôi nhớ, năm 1996, một nhóm anh em văn nghệ sĩ đứng ra tổ chức Đêm Mai Thảo, tại Hý viện Westminster Auditorium, thuộc thành phố Westminster.

Nghị viên Lâm Quang, lúc đó còn là quyền Thị Trưởng Thành Phố Westminster, lên sân khấu trao bảng Ngợi Ca Thành Tích Văn Học cho Nhà văn Mai Thảo
Trong phần phát biểu, Nghị viên Lâm Quang chuyển lời xin lỗi của Hội Đồng Thành Phố, và của ông Cảnh sát trưởng thành phố này, tới tác giả "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền."

Họ Lâm nói, dù biết Mai Thảo là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam, nhưng sự việc ông băng qua đường một cách bừa bãi
là một điều nguy hiểm cho sinh mạng của ông trước nhất,
cản trở lưu thông là điều thứ nhì, và, sau chót là...vi phạm luật dành cho người đi bộ.

“Bởi thế, nếu không phạt ông, thì sẽ không thể phạt những người...đi bộ khác,” họ Lâm nói. “Và trong Đêm Mai Thảo này, chúng tôi xin cầu chúc nhà văn Mai Thảo,
trong tương lai sẽ không còn bị phạt vì tội đi...bộ nữa.”

Đêm đó, hội trường rung rinh vì những chuỗi cười ngặt nghẽo, ném lên từ khán giả.
Trên sân khấu, người đàn ông vừa bước vào tuổi 70, cũng phải bật cuời. Nụ cười móm mém. Nụ cuời đôn hậu, đầy thân ái dịu dàng...

Trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, tôi nghĩ, rất ít ai biết, cái ông già hom hem, móm mém đang đứng trước họ, hai mươi năm trước,
từng là "Ông Hoàng Của Một Ngàn Lẻ Một Đêm Sài Gòn."
Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, rất ít ai biết, cái ông già chỉ còn vài chiếc răng trệu trạo, lung lay, thấp thoáng đâu đó trên gương mặt xanh rớt kia,
trên hai mươi năm trước, là một tay chơi từng đương đầu với nguyên băng thảo khấu, đàn em của Bảy Viễn.

Băng Lai Văn Sang, xuất quân từ sòng bài Đại Thế Giới ở Chợ lớn, đại náo một vũ trường ở đầu đường Trần Hưng Đạo, trong cuộc tranh dành người vũ nữ hoa khôi thời đó...
Tình địch của băng Lai Văn Sang, không ai khác hơn là Mai Thảo. Đó là Đêm Saigòn những năm giữa thập niên 50.

Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo, yêu mến ông già có nụ cười đôn hậu móm mém, chưa từng lập gia đình kia, rất ít ai biết, vào cuối thập niên 50,
đã từ Saigòn, một mình bay ra cố đô Huế; lừng lững tới tận nhà người nữ ca sĩ tên thật là Lục Hà, (sau này trở thành danh ca dưới tên Hà Thanh) để xin hỏi cưới nàng.

Đó là Mai Thảo, ông Hoàng Của Đêm Saigòn. Không chỉ đa số các khán giả không biết mà, ngay cả song thân của người nữ ca sĩ, cũng kinh ngạc, ngỡ ngàng, khi nghe Mai Thảo nói:
“Tôi là Mai Thảo, từ Saigòn ra. Chúng tôi thực sự muốn cưới Lục Hà làm vợ.
Nếu hai cụ đồng ý thì, tôi hứa, trong vòng một tháng, bố mẹ chúng tôi sẽ bay ra đây, nói tiếp phần còn lại...”
Và, ngay sau đó, ông xin phép song thân cô Lục Hà, được đưa nàng... đi chơi...

Cũng ngay sau đó, song thân của cô gái, tự thấy rằng, sẽ khó khăn cho họ biết là chừng nào, nếu có một chàng...rể như... Mai Thảo.
Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già có nụ cuời hom hem đôn hậu kia, rất ít người biết rằng, giữa thập niên 50, khi lớp người miền Bắc di cư vào Nam,
còn bị người địa phương ngắm nhìn như những người... ngoại quốc.

Những người không phải là người... “Diệc”... Những người ăn... thịt người, chuyên bắt cóc con nít, thì Mai Thảo đã trở thành người em nhỏ trong lòng thương quý của nữ nghệ sĩ Phùng Há,
của lão nghệ sĩ Năm Châu...

Mai Thảo đã trở thành người anh đáng tin cậy của Thành Được, Kim Chung, Bích Hợp, Dũng Thanh Lâm...
Chính Mai Thảo với những đêm lăn lóc ở Tổ Đình, chờ tan một buổi diễn, chờ hết một buổi tập tuồng, để theo chân bà chị Phùng Há, ông anh Năm Châu đi sâu vào thế giới Saigòn ban đêm.
Thế giới của những nghệ sĩ cải lương, chèo cổ hàng đầu của miền Nam thời bấy giờ.
Chính Mai Thảo là người đầu tiên, vào từ miền Bắc, mở được cánh cửa tương thông thân ái, xóa bỏ được mọi ngộ nhận giữa hai lớp nghệ sĩ miền Bắc và nghệ sĩ miền Nam.

Không có ông, khó ai biết được tới lúc nào, cánh cửa tương thông kia, mới được mở ra...!
Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già đã tận hiến trọn vẹn cuộc đời của mình cho nên văn học Việt Nam ở quê hương, cũng như tại quê người,
rất ít ai biết, hơn 20 năm trước, chính ông già lạnh lùng, lừng khừng (đôi lúc bất thường)đó .
Ông lại là người tước phong cho rất nhiều tiếng hát của miền Nam, mà tới ngày hôm nay,mỗi khi nhắc tới họ, chúng ta lại nhớ ngay tới những tước hiệu ấy.

Tôi có thể đưa ra thí dụ, như Thanh Thúy, “Tiếng hát Liêu Trai”. Thái Thanh, “Tiếng hát vượt thời gian”, Lệ Thu, “Tiếng hát mùa thu sương khói”, vân vân...
Người vinh danh bằng một tước hiệu cho những tiếng hát kia, chính là Mai Thảo.
Mai Thảo, chính là "ông Hoàng Của Những Đêm Đèn Mầu, Saigòn" trước 1975 vậy.

Biết được như vậy, hiểu được như thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên, tại sao đám tang ông, đám tang một nhà văn, dù là nhà văn hàng đầu,
lại có nhiều, quá nhiều những khuôn mặt, những tên tuổi, tiêu biểu cho nửa thế kỷ tân nhạc, cổ nhạc và sân khấu Việt Nam, quê người.
Do đó, theo tôi, Mai Thảo không chỉ lớn lao trong văn học, mà, ông còn lớn lao trong nhiều lãnh vực khác của đời sống Việt Nam nữa.

Du Tử Lê https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/AEn0k_uymWD97YDVFYQzOvutJpiosxqsv0pT-CpV7Nv5D0RLzUBUd-LJ6ya_BrAKHewfqA3sY_vlW8sWjBr06vyaHiIGz9xk_tf13Gq1 P0HoDtjuQ1llkQEJ3XolE8wiak3961WpyRbPU3SAjwN1PIxDaR wjTytZHmy6FQ=s0-d

linhphy
01-09-2025, 10:44 AM
Tuấn Ngọc và Tôi

Một người đàn ông trung niên, tay cầm nửa ổ bánh mì, vừa đi vừa nhai, tay kia cầm chai nước lọc ngửa cổ uống ừng ực
Đó chính là nam ca sĩ Tuấn Ngọc mà tôi gặp vào năm 1995 ở phòng thu âm của nhạc sĩ Thanh Tùng.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi gặp Tuấn Ngọc, tôi đã gặp anh lần đầu tiên ở phòng trà Làng Văn (Cali) năm 1981 trong buổi diễn của tôi và ca sĩ Khánh Ly.
Lúc này Tuấn Ngọc còn chơi trong ban nhạc của anh, và anh đệm guitar, vừa đàn vừa hát với cái mũ nồi luôn đội ở trên đầu.
Bẵng đi một thời gian dài, tôi gặp lại Tuấn Ngọc ở Hawaii, lúc này anh chơi trong ban nhạc của anh ở một Club chuyên trình diễn cho người ngoại quốc và du khách.
Lần nào gặp tôi, anh cũng mời lên hát vài bài.

Tôi rời California từ năm 1992 sau khi lập gia đình, về chốn mới có lúc đoạn giao với âm nhạc và một số bằng hữu để chăm chú vào xây dựng cuộc sống mới ở Orlando, Florida là miền đất mới,
xa lạ tất cả.
Nói thì vậy nhưng vẫn có thì giờ để viết thêm các ca khúc mới, như bài Mùa Đông Xanh tả cảnh mùa đông ở Florida mà cây lá cứ như mùa Hè, xanh tươi.

Dù bận với cuộc sống mới, nhưng tôi vẫn biết là thời gian sau này tên tuổi Tuấn Ngọc bỗng nhiên nổi cuồn cuộn, tôi cho đó là “hoa nở muộn”,
vì anh thực sự được ái mộ sau khi trên 40 bó.
Dù biết là anh đã bước lên sân khấu lúc mới 4 tuổi, và sinh hoạt với nhạc trẻ Việt Nam,
và Tuấn Ngọc còn được xem là con chim đầu đàn của ban nhạc The Uptight với các em Khánh Hà, Lưu Bích, Lan Anh.

Lúc này tôi viết ca khúc mới tựa là “Em nghìn thu gió bay”, và khi chuẩn bị thâu âm, tôi đã nghĩ đến giọng hát của anh.
Khi còn làm việc ở phòng thu âm Tùng Giang, tôi đã nghe Tùng Giang khen ngợi về kỹ thuật hát của Tuấn Ngọc.

Thực tình, lúc bấy giờ, khoảng năm 1983 tôi chưa thích giọng hát của Tuấn Ngọc lắm trong thời gian này,
dù anh đang “đắt hàng” thâu cho Diễm Xưa, Trường Thanh và một số trung tâm nhạc khác.
Vì anh hát giọng trầm tuy ấm cúng, sang cả, nhưng phát âm có chỗ ngọng, nhất là chữ “đ”, như đi, đứng, đời…

Thái Thảo, vợ của anh có lần nói với tôi giọng hát của anh như “hoa nở muộn”, tôi cũng đã nghĩ thế, vì hoa nở muộn thường là hoa đặc biệt trái mùa,
luôn toả hương sắc mặn mà theo thời gian,
và không thể phủ nhận, giọng của Tuấn Ngọc đạt đến đỉnh cao trong các giọng nam của tân nhạc Việt Nam, vì chất giọng của anh có tính cách mạnh mẽ và trầm ấm,
nghe giọng anh như kể lể, an ủi, vỗ về của một người đàn ông lịch lãm, lãng mạn.
Do vậy, không ngạc nhiên khi các cô, các bà yêu mến giọng hát của anh.

Khi tôi mời Tuấn Ngọc thu cho tôi bài hát “em nghìn thu gió bay” thì anh nhận lời, và tôi gửi bài cho anh nghe trước.
Tuấn Ngọc là ca sĩ nắm vững nhạc lý và bài hát mới giao cho anh là anh hát rất tới.

Do vậy khi giao cho Tuấn Ngọc là mình sẽ yên tâm, chỉ ngại một điều là khi anh bận hát show, hát thu âm nhiều quá, thành ra cái máy hát thì phải chịu thôi.
Vì lúc này, nhiều chỗ đã mời anh thu âm lắm lắm, và anh thì cả nể, hát bất cứ bài gì, miễn là không phải loại nhạc như “Thành phố buồn”.

Trở lại chuyện khi thấy anh vào thu âm lúc 2 giờ trưa với ổ bánh mì khô trên tay, tôi cũng có chút ái ngại và lo cho đứa con “Em nghìn thu gió bay”.

Vì chẳng ai trước khi hát thu âm lại ăn bánh mì bao giờ cả. Sẽ khô giọng, và… có nhiều cái không trôi chảy. Biết ý tôi, anh cười bảo là, mới ngủ dậy,
đói bụng, nhiều khi ăn bánh mì không có thịt rất là ngon, An thử không?
-Tôi lắc đầu, và sau đó anh vào thu âm

Lúc này tôi mượn phòng thu của anh Thanh Tùng , nhưng tôi mang theo Microphone Neumann Tube M149 của Đức và Microamp Manley “Vox Box” của Hoa Kỳ,
là dụng cụ “chiến” để thu giọng anh cho hay.


https://www.youtube.com/watch?v=goQfUSy1QNY?si=f1OJbq5FtY_wAEzV

Và dù ăn bánh mì khô, nhưng Tuấn Ngọc cũng đã thu xong ca khúc tôi “Em nghìn thu gió bay” hoàn hảo. Cái còn lại, tôi mang về sẽ thêm mắm muối khi Mix là xong.
Vài năm sau đó kể từ 1995, Tuấn Ngọc và tôi vẫn thường gặp nhau, anh đến Florida hát show là ghé nhà tôi nghỉ lại đêm, rồi những trận Tennis thư hùng diễn ra rất quyết liệt
ăn thua đủ giữa một ca sĩ và một nhạc sĩ.
Tuấn Ngọc đánh banh khá, lúc năm đầu tiên còn thắng tôi, nhưng sau đó có lúc cũng phải thua tôi, dù gì tôi cũng trẻ hơn mà.
Và khi thua tôi, là tôi tuyên bố thôi, ngưng ở đây nhé và không tiếp tục, khiến Tuấn Ngọc buồn và… bực vì quê !!

Nói như thế để các bạn thấy là chúng tôi có những thời gian làm việc với nhau trong tinh thần người diễn tả ca khúc của người sáng tác, rất vui, rất tình cảm giữa anh em nghệ sĩ với nhau.
Từ đó về sau, anh hát có đến hơn chục ca khúc của tôi, nhưng anh chẳng bao giờ “promote” ca khúc nào của tôi hết, có lẽ anh lười thuộc bài mới,
và style hát của anh thích hợp với nhạc của Ngô Thuỵ Miên hoặc của Từ Công Phụng.

Có lần anh kể, khi hát ở Việt Nam, khán giả Hà Nội yêu cầu anh hát ca khúc “bóng trăng trong thành phố”, là ca khúc của tôi, nhưng anh cáo lỗi vì không thuộc bài.
Tuấn Ngọc tính tình hiền lành, điềm đạm và có máu tếu, có lẽ của bố Lữ Liên trong ban AVT. Tuấn Ngọc cũng tốt bụng, nhưng kén bạn, vì nếu gặp đối tượng hạp “gu”
thì tuôn ra nhiều chuyện vui không dứt, còn không đúng đối tượng, ngồi im chẳng nói gì, nhìn cũng hơi ngán vì khuôn mặt “hình sự”.

Anh là ca sĩ nổi tiếng, có giọng hát và kỹ thuật hát hàng đầu, anh luôn khuyến khích tôi hát vì anh nghe và bảo tôi có giọng hát tốt và hay, chỉ cần sửa sang chút xíu,
ví như cây lá xum xuê nên gọt tỉa lại là good lắm, và anh còn bảo tôi gửi các bài tôi hát để anh nghe và cho nhận xét góp ý, và anh đã góp ý rất chân thực cho tôi về kỹ thuật hát.
Một điều nữa là anh với tôi hợp nhau ở vấn đề kỹ thuật từ software cho đến hardware trong lãnh vực phòng thu.

Có gì là trao đổi và sau này khi thâu âm, tôi giao cho anh tự ngồi thu tiếng hát mình, nghĩa là tôi đi làm chuyện khác để Tuấn Ngọc vừa làm ca sĩ, vừa làm chuyên viên bấm máy thu âm.
Sau này tôi không thu giọng bất cứ ca sĩ nào nữa khi hát nhạc tôi mà không “promote”, vì vậy nhiều khi ca khúc của mình vẫn không đến người yêu nhạc một cách nhanh chóng.

Và những ca khúc tôi dù được thu với những tiếng hát nổi tiếng như Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Thái Hiền, Ý Lan, Thu Phương, Vân Khánh, Mỹ Linh, Bằng Kiều,… nhưng vẫn chưa được phổ biến đúng mức,
và do vậy, có người yêu nhạc vẫn nghĩ là tôi đã đoạn giao với âm nhạc nên không có ca khúc nào mới nữa.
Thực tôi viết rất sung mãn hơn bao giờ, vì tuổi đời cho tôi thêm kinh nghiệm, đời sống đi tới cho tôi già dặn.
Và à tôi có đủ phương tiện hơn bao giờ hết để làm bao nhiêu Album nhạc của mình cũng được.
Nhưng người ta bảo “cái khó, nó bó cái khôn. Cái khôn, nó chôn cái khó”.

Kể từ khi lấp ló sự cáo chung của băng đĩa DVD ca nhạc của các trung tâm sản xuất bị sao chép, đưa lên mạng, công việc thu băng, thu hình của các nhà sản xuất dậm chân tại chỗ,
dẫn đến tình trạng các ca sĩ phải chạy tìm kiếm thị trường mới để hoạt động.
Và thị trường mới ở Việt Nam là con đường duy nhất của hầu hết các ca sĩ hải ngoại kiếm sống.

Tuấn Ngọc cũng đã xuất hiện ở Việt Nam từ Sàigon ra Đà Nẵng đến Hà Nội, anh được nồng nhiệt chào đón, và các buổi diễn của anh kín rạp
với giá vé cao đến cả trăm đôla cho một vé vào nghe anh hát.

Nhưng, dù được như thế ở quê nhà, có lẽ anh biết mình cũng đã đánh mất sự ái mộ của những khán giả hải ngoại khi trở về hát trên quê hương còn chế độ gọi là “XHCN”,
và những khổ hạnh bên lề của cả dân tộc còn rất nghèo.

Người Việt hải ngoại trách giới Show Biz Việt Nam hải ngoại lần lượt, và lần lượt về hát hò ở Việt Nam ,cũng chỉ vì họ yêu mình, ái mộ mình, và người ta cảm thấy có điều “phản cảm” xảy ra.
Với tôi, tôi thông cảm và tôn trọng sự lựa chọn của từng người trong cuộc sống nghệ thuật của chính họ.

Tôi không phê phán, lên án. Nhưng tôi cũng không tán thành con đường đi về Việt Nam trong hoàn cảnh tế nhị hiện nay để ca hát như một cách kiếm kế sinh nhai.
Theo tôi, khi Thượng Đế tác tạo muôn loài trong đó có con người. Ngài cho họ có sự tự do mà chính Ngài là Đấng Toàn Năng
cũng không can thiệp vào sự chọn lựa của người khác.

Theo tôi, là con người, và bằng hữu trong giới làm nghệ thuật, tôi tôn trọng sự chọn lựa của cuộc sống mỗi cá nhân khác nhau,
dù tôi biết là sự thất vọng đâu đó của người ái mộ sẽ có những phản ứng tiêu cực hay tích cực cũng sẽ giống như ca dao:

Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn tiếc hoài sợi dây

Châu Đình An

linhphy
01-10-2025, 02:19 PM
Giai thoại về nhà văn Kim Dung

Nhà văn Kim Dung.

Trong suốt cuộc đời sáng tác tiểu thuyết võ hiệp, ông đã miêu tả không biết bao nhiêu cuộc tình, hôn nhân, cũng như bao cảnh đời bi hoan ly hợp, ân oán tình thù.
Thế nhưng, chuyện tình cảm của văn sĩ lại được giữ kín như bưng. Mãi gần đây, Kim Dung mới bộc bạch, cuộc sống tình ái của mình chẳng được như ý.
Ông cho rằng lý tưởng nhất là tình cảm giữa hai người gặp yêu liền và sống với nhau đến trọn đời.

Ông nói: "Cuộc sống gia đình của tôi không được như ý, phải ly hôn đến mấy lần". Ông từng hai lần đổ vỡ hôn nhân, đứa con trai mà ông rất mực yêu thương thì tự sát ở Mỹ.
Người vợ đầu của ông là Đỗ Trị Phần. Tình yêu của họ chớm nở từ Hàng Châu năm 1947, khi đó chàng Kim Dung trẻ tuổi làm việc tại Đông Nam nhật báo,
ông quen với em trai của Tri Phần là Đỗ Trị Thu

. Kim Dung đến chơi nhà Trị Thu và gặp ngay cô chị mới 17 tuổi, xinh đẹp như mơ.
Ngày hôm sau, Kim Dung lại đến chơi và mang theo một tập vé xem kịch để biếu. Từ đó anh trở thành vị khách thường xuyên của gia đình họ Đỗ
Mối tình của ông với Trị Phần nồng nàn và họ tổ chức hôn lễ tại Thượng Hải năm 1948. Sau đó, hai người rời đến Hong Kong.

Do mải mê công việc, Kim Dung bỏ rơi vợ trong cô đơn, thất vọng. Hai người quay về Trung Quốc làm thủ tục ly hôn. Có người bảo do họ không có con
, lại có người bảo do Trị Phần ngoại tình( do tin đồn ác ý ,do kẻ ghét ông tung ra ...)
còn Kim Dung tự nhận mình là người tình cảm thiên về lý tính. Người vợ thứ hai là Chu Mai.

Cô xuất thân là nhà báo, lễ cưới được tổ chức vào 1/5/1956, tại một khách sạn hoa lệ. Lúc đó, Kim Dung vẫn làm ở Đại công báo, sinh được con trai đầu là Tra Truyền Hiệp.
Giai đoạn này họ sống rất hạnh phúc, hoạn nạn cùng chia, hoan lạc cùng hưởng.
Khi ông sáng lập tờ Minh báo nguyệt san, họ có với nhau 2 trai 2 gái. Khi tờ Minh báo có vị trí vững chắc tại Hong Kong thì hôn nhân của họ rạn nứt.
Nguyên do là Kim Dung tìm được tình yêu mới.

Tòa soạn Minh báo trên đường Bắc Giác Anh, lúc mệt mỏi, Kim Dung thường hay tới quán cà phê gần đó để thư giãn.
Một hôm, đang nhâm nhi ly cà phê, bỗng thấy cô hầu bàn xinh đẹp đi đến,
hỏi thăm về ông, họ liền tán chuyện với nhau. Khi thanh toán, Kim Dung ngoại lệ boa cho cô 10 tệ (khoản tiền lớn lúc đó) song cô trả lại ngay.
Cô nói: "Ông là văn nhân, sống dựa vào nhuận bút, mà việc kiếm tiền lại chẳng dễ dàng gì".

Kim Dung nghe xong lấy làm sung sướng, cảm phục và họ quen nhau. Tình cảm của hai người sâu đậm đến mức không thể rời nhau được nữa,
họ bí mật tậu hẳn một căn nhà, hàng ngày ông cho người đến đó mang bản thảo đến giao cho ban biên tập.

Chu Mai phát hiện ra chuyện, cuộc hôn nhân của họ tan vỡ. Bà sống trong cô đơn, nghèo túng và qua đời vào năm 1998, hưởng thọ 63 tuổi.
Người vợ thứ ba là Lâm Nhạc Di, cô hầu bàn ngày trước.
Lúc cô quen Kim Dung mới 16 tuổi, kém ông hơn 20 tuổi. Hiện nay, bà luôn cùng Kim Dung du lịch và giảng bài tại nhiều nước khác nhau.
Lâm Nhạc Di chẳng những xinh mà còn rất thông minh.
Kim Dung nói: "Trong cuộc sống vợ chồng, điều quan trọng nhất là tôn trọng lẫn nhau. Lảng tránh những xung đột chưa hẳn đã hay.

Quan hệ vợ chồng không nhất thiết phải tâm đầu ý hợp, mà hai bên phải dành ra chút khoảng trống, mỗi bên có khoảng không gian của mình.

Nhật Phi
theo Minh báo tuần san

linhphy
01-11-2025, 01:48 PM
Nhìn những mùa Thu đi -TCS

Cho dù thuộc thể loại nào và mang nội dung ra sao ,điều kiện tiên quyết cho một nhạc phẩm là nét nhạc phải hay .
Nét nhạc ( mà người ta thường phong cho cái tên là giai điệu ) không thể non nớt ,nhạt nhẽo ,quê kệch hay chắp vá
đang êm tai bỗng trở nên khó hiểu .
Tới đây xin nên hai trường hợp sáng tác

- Thứ nhất .trường hợp của những nhạc sĩ có chân tài ,từ cõi lòng luôn nảy ra những giai điệu tuyệt vời
Mỗi khi rung động .đặt bút xuống giòng nhạc là có ngay một giai điệu ,một nhạc đề ( theme musical ) xuất chúng .

Kế đó là việc sắp xếp lại các nốt cho đúng quy cách ,các câu cho đúng luật và viết ra đúng .Ít khi họ viết trùng với
các bài của người khác ,bởi nguồn cảm hứng tinh khiết ,tạo ra nhạc điệu tinh khiết ,không đi theo một lối mòn nào cả !

Còn trong trường hợp thứ hai ,rất đáng buồn là trường hợp của những người tâm hồn nhạc không có ,giai điệu nghèo nàn
mà cứ cố viết .
Từ đó nảy sinh những bài nhạc xướng lên không thấy nhạc đề chính ,nét nhạc vay mượn đó đây ,khiến người
ca sĩ muốn hát cũng không hát được .

Hoặc có hát lên do nể nang thì cũng không làm rung động được ai cả .
Theo con đường sáng tác .chúng tôi nghĩ là phải có tâm hồn ,sau đó phải chịu học hỏi .
Bởi thơ ,văn ,nhạc ,hoạ thì cũng chung quy luật này

Nhạc phẩm :'"Nhìn những mùa Thu đi" của Trịnh Công Sơn được viết bằng một đường nét âm thanh quá mềm mại ,lượn lên
lượn xuống rất khéo qua chủ âm La trưởng

Cái tuyệt tác của :" Nhìn những mùa Thu đi" nắm trong sự khai thác chủ âm ,khiến nhạc điệu mềm mại ,gợi cảm
Thêm vào đó là ý nhạc tươi trong hồn nhiên .
Trong suốt một thời gian dài nhạc phẩm trên được coi như bài hát thuộc lòng của đa số giới trẻ thanh niên và sinh viên
của Sài gòn -Hòn ngọc Viễn đông năm xưa

Người ta đã nói khá nhiều về lời ca trong nhạc Trịnh : ngôn từ mới lạ ,ý tưởng độc đáo ,rất thích hợp với đại đa số giới trẻ
đặc biệt là những thanh niên cảm thấy buồn bã ,chán nản vì cuộc chiến kéo dài trên quê hương .

"Nhìn những mùa Thu đi" nói về nỗi tiếc nhớ ,bâng khuâng của tuổi trẻ khi những ngày, những tháng lần lượt qua đi ,mà
cuộc đời họ không tìm thấy hạnh phúc của yêu đương .

Mùa Thu đẹp như vậy ,mà đã bao mùa Thu qua rồi ,người con gái chỉ thấy lòng mình hiu hắt ,se lại khi ngó màu nắng vàng
trong ,hừng lên ngoài song cửa

Nhìn những mùa Thu đi ,em nghe sấu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song ,nghe tên mình vào quên lãng ,
nghe tháng ngày chết trong thu vàng

Không có ngọn lửa của tình yêu sưởi ấm ,không có những an ủi của tình người ,tình bạn bè ,mà chỉ có nỗi quạnh hiu phủ trùm
lên ngày tháng .Người con gái thấy mùa thu thật ghê rợn .Bởi ,người đời ,kể cả người yêu đã quên mình rồi

Nhạc về Thu ,tình Thu đã có nhiều trong kho tàng nhạc mới ,nhưng :"Nhìn những mùa Thu đi" là một nhạc phẩm độc đáo .
Nét nhạc mềm mại ,lời ca lãng mạn ,gợi cảm ..rất hợp với tuổi trẻ và cũng chinh phục được những lứa tuổi trung niên .
Khi họ chợt nhìn lại từng mùa thu của cuộc đời đã trôi qua , với bao tiếc nuối vu vơ ....

Huy Trâm


https://www.youtube.com/watch?v=_uayRUSsijU?si=TPZJnch07V1jAJ1q

linhphy
01-19-2025, 08:21 AM
Nhạc Tình Muôn Thủa với Thái Hiền

Ca sĩ Thái Hiền với giọng hát ngọt ngào ,sâu lắng qua các nhạc phẩm tiền chiến ,nhạc ngoại phổ lời Việt hay nhạc do chính thân
phụ của cô là cố nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác

Nhạc sĩ họ Phạm có 8 người con 5 con trai : Duy Quang , Duy Hùng ,Duy Minh ,Duy Cường ,Duy Đức và 3 con gái Thái Hiền ,Thái Thảo
và Thái Hạnh

Nhưng chỉ có trưởng nam là ca sĩ Duy Quang và ca sĩ Thái Hiền theo nghiệp cầm ca và rất thành công ,còn Duy Cường ,Duy Minh
,Duy Hùng phụ trách phần hoà âm và sản xuất ...

Tuy hiện nay ca sĩ Thái Hiền ít xuất hiện trên sân khấu ca nhạc ,cô có riêng kênh Youtube và hát những bài hát cô yêu thích lẫn sở trường
để tặng quý khán giả yêu mến cô bấy lâu

"Nhạc Tình Muôn Thủa" do ca nhạc sĩ Sỹ Đan thực hiện với giọng solo là ca sĩ Thái Hiền .

LPhy
Jan/2025


https://www.youtube.com/watch?v=4fwnbLXi7m8?si=4Hddu-nEAZeXHJWe

linhphy
01-19-2025, 08:51 AM
Kiều Nga -Huyền thoại nhạc Pop trữ tình

Kiều Nga và Ngọc Lan là hai giọng ca rất nổi tiếng giữa thập niên 80-90 với nhạc ngoại quốc
Anh-Pháp lời Việt ,cả nhạc New wave nổi bật nhất với các CD Liên khúc : Kiều Nga ,Ngọc Lan
và ca sĩ Trung Hành do trung tâm Asia và nhạc sĩ Trúc Hồ làm hoà âm .

Liên khúc Tình yêu được đông đảo khán thính giả hải ngoại lẫn khán giả trong nước yêu thích
Có thể nói rằng cuối thập niên 80 qua thập niên 90 bất cứ ai đi uống cà phê ,đi du lịch ở bất cứ
thành phố nào Nha Trang ,Đà lạt ,Vũng tàu , Cần Thơ ... các quán ca phê ,nhà hàng.. không hẹn
nhưng cùng mở nhạc LK Tình Yêu -New wave cho khách thưởng thức

Trở lại với ca sĩ Kiều Nga ,ít ai biết Kiều Nga là em gái của ca sĩ Elvis Phương ,bởi cô sống khá
kín đáo và cô chính thức trở thành ca sĩ khi cô qua định cư ở Hoa Kỳ thập niên 80

Sở trường của Kiều Nga chuyên hát nhạc Pop-Ballad , nhạc ngoại phổ lời Việt của các nhạc sĩ Phạm Duy
Lữ Liên , Vũ Xuân Hùng ,Ngô Thuỵ Miên ,Từ Công Phụng hay ...

Ngoài ra Kiều Nga vốn học chương trình Pháp nên phát âm của cô rất chính xác nên càng thu hút
những khán thính giả yêu mến cô cả trong lảnh thổ Hoa Kỳ ,Âu châu ,Úc châu và VNam .

Những quý khán thính giả là fans của Kiều Nga vẫn tìm lại những CD,DVD ..cũ hay nghe lại những nhạc
phẩm do cô solo hay song ca với cố ca sĩ Ngọc Lan

Qua những tâm sự lẫn trò chuyện với ca nhạc sĩ Sỹ Đan ở clip video có lẽ không ai không mến cá tính
dễ thương ,chân thật lẫn tự nhiên như chính con người thật của cô .

LinhPhy
Jan/19/2025


https://www.youtube.com/watch?v=HB9HGFvpK9E?si=XfmmEXJ0DBlgSBWq

linhphy
01-22-2025, 07:40 AM
Nhạc Sĩ Văn Phụng (1930-1999)

Văn Phụng (1930–1999) là một trong những nhạc sĩ sáng tác và hòa âm tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam.Nhạc sĩ Văn Phụng tên đầy đủ là Nguyễn Văn Phụng,
sinh tại Nam Định trong một gia đình bốn anh em mà ông là thứ hai.Thời nhỏ gia đình ông chuyển lên Hà Nội sinh sống.
Khi đi học, Văn Phụng là một học sinh xuất sắc.
Ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarraut.
Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú tài, Văn Phụng theo học ngành Y vì ý muốn của cha ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học để theo âm nhạc.

Học đàn dương cầm từ nhỏ cộng thêm được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 15 tuổi Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm
trong cuộc tuyển lựa tại Nhà hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm "La Prière d’Une Vierge".
Năm 1946, trong một lần chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn và gặp linh mục Mai Xuân Đình. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.
Năm 1948 cũng là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay Ô mê ly trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè trong ban Quân Nhạc.

ng thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý.
Về sau Ô mê ly còn nổi tiếng cùng tiếng hát của ban Thăng Long với Thái Thanh, Phạm Đình Chương.

Ca sĩ Ánh Tuyết cũng thường trình diễn nhạc phẩm này những năm thập niên 2000.
Văn Phụng đã sáng tác trên sáu mươi ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như: Bức họa đồng quê, Trăng sơn cước, Yêu,
Tôi đi giữa hoàng hôn, Suối tóc, Mưa, Tiếng dương cầm, Giấc mộng viễn du, Tình,...

Năm 1948, Văn Phụng quay về Hà Nội. Theo lệnh tổng động viên, ông gia nhập Ban Quân nhạc Đệ tam tiểu đoàn danh dự.

Chính ở đây, Văn Phụng đã quen với những người mà về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như
-Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Văn Khôi, Vũ Thành... Thời gian đó, ông được nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn cho về hòa âm
.Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến Malaysia. Sau 5-6 tháng ở đây, gia đình ông định cư tại California, Hoa Kỳ.
Ngày 17 / 12 /1999, nhạc sĩ Văn Phụng qua đời do biến chứng của bệnh tiểu đường.

Hoài Nam
SBS Radio Australia


https://www.youtube.com/watch?v=9bMO_QTwnrc?si=UrF0h2i-qVKoyHRd

linhphy
02-04-2025, 04:29 PM
Nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Ánh9

Ông tên thật là Nguyễn Đình Ánh , sinh ngày 1/1/1940 tại Phan Rang ,Ninh Thuận
.Là con út trong một gia đình khá giả có ba người con

.Gia đình ông chuyển vào Nha Trang ,năm ông 11t thì gia đình ông chuyển vào Saigon
Ông theo học tai Lasan Taberd cho đến 1954 ông lên học nội trú tại trường Yersin cho tới 1958 thì ông lại trở lại
Saigon ,năm 18t ,ông tự ý rời nhà sống một mình và tự lập.

Sau khi ông tốt nghiệp Tú Tài 2 ,qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Hoàng Nguyên ,nhạc sĩ Nguyển Ánh9 ,nghệ danh ông
thường sử dụng khi sáng tác và trình diễn .Ông cộng tác với chương trình Tuổi Xanh của Đài Phát Thanh Saigon và Đài
Phát Thanh Đà Lạt .Ngoài ra ông cũng cộng tác với :'Tiếng hát sinh viên " do ca sĩ Duy Trác thực hiện

Từ đó ông thường cộng tác lẫn biểu diễn piano ở khắc các nhà hàng nổi tiếng và các ban nhạc thanh niên
Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác nhạc trong một dịp tình cờ khi cùng xuất ngoại qua Osaka , Japan -Nhật cùng với ca sĩ Khánh Ly
cũng là người bạn khá thân với nhạc sĩ Nguyễn Ánh9

Sau buổi biểu diễn ca nhạc chung với ca sĩ Khánh Ly ở Osaka ,trong khi đứng đợi thang máy chờ về phòng ,Khánh Ly thấy bạn mình
buồn buồn ,cô lên tiếng hỏi ông :" Còn thương nó không bạn ?" Ý cô muốn hỏi về cô bạn gái mà nhạc sĩ quen lúc ấy .
Sẵn cầm cây guitar trên tay nhạc sĩ gãy và hát ngay :"Không! Không ! tôi không còn yêu em nữa ...."

Khi trở về VN ,Khánh Ly ngỏ ý muốn ông biên soạn nhạc phẩm này ngay , và ông đã thực hiện ngay lời đề nghị của cô bạn KLy
bằng cách viết xong melody & lyric hoàn tất nhạc phẩm :"Không " trong thời gian ngắn nhất .

Ca khúc :"Không "được ca sỉ Khánh Ly thu lần đầu bằng dĩa nhựa của hãng dĩa Tình ca quê hương .Sau đó nhạc phẩm này chính thức
gắn liền với sự nghiệp ca hát của ca sĩ Elvis Phương ,cùng với bài "Ai đưa em về " ,Chia phôi ,Lời cuối cho em..

Vào những năm đầu thập niên 70 nhạc sĩ từng đệm đàn cho hai ca sĩ Thái Thanh và Khánh Ly ,ông còn sáng tác thêm hai nhạc
phẩm :"Mùa thu cánh nấu ",Đêm tình yêu"
1990 ông lại sáng tác thêm một số ca khúc mới :"Tình yêu đến trong giã từ ",Cho người tình xa " và "Cô đơn "...

27/5/2006 Trung Tâm Thuý Nga PBN 83 :"Những khúc hát ân tình "để vinh danh ba nhạc sĩ Xuân Tiên ,Thanh Sơn và nhạc sĩ Nguyễn Ánh9
Ông có hai người con trai đều theo nghiệp âm nhạc giống cha mình là nhạc sĩ Nguyễn Quang và Nguyễn Đình Quang Anh .
Ông qua đời tại Saigon vào ngày 14/4/2016 với sự thương tiếc của thân nhân và đông đảo bạn bè ,học trò lần khán thính giả ái mộ

theo TGNS


https://www.youtube.com/watch?v=Y1YZ6hei2bI?si=dgflklaA4GM7Jdvx

linhphy
02-12-2025, 07:55 AM
Âm nhạc & tà áo dài Việt Nam cùng song hành trên sân khấu

Trong thi ca nhạc hoạ : hình ảnh chiếc áo dài luôn hiện diện trong các nhạc phẩm từ thời tiền chiến cho tới hiện đại ,ngay cả trong
nhạc phổ thơ cũng không thiếu những tà áo dài duyên dáng thấp thoáng tung bay ....

Có thể nói rằng âm nhạc và áo dài luôn đồng hành bên nhau mang lai sắc t hái độc đáo ,bay bỗng ,
tựa như một nét chấm phá gây ấn tượng đặc biệt dấu ấn khò phai trong âm nhạc Việt Nam hải ngoại .

Nào chúng ta cùng thưởng thức clip video âm nhạc và áo dài của PBN ( tt Thuý Nga thực hiện )


https://www.youtube.com/watch?v=HvL0ie3htlw?si=SCrYGwt3kAXUpB4V

linhphy
02-12-2025, 08:10 AM
https://www.youtube.com/watch?v=vW55YroPtZ0?si=WZeMpFNiSnJyA0px

Khác với kimono quốc phục của các cô Nhật bản ,hay hanbok của các cô Hàn quốc .... áo dài Việt Nam thướt tha
nhẹ nhàng tăng thêm sự duyên dáng ,yêu kiều cho người con gái Việt Nam kèm theo chiếc nón là nữa thì tuyệt vời !

Lúc trước LPhy có nghe chị bạn quen kể cô Bảo Châu làm việc cho SBTN rằng cô ấy có niềm đam mê với áo dài
lại thường xuyên xuất hiện trước ống kính máy quay nên cô ấy có bộ sưu tập cả 1000 chiếc áo dài và có thể nhiều
hơn nữa.

Có lẽ trong mỗi chúng ta nhất là người Việt dù bạn sinh sống ở bất cứ nơi nào ngay chính quê hương hay cư ngụ ở
bất cứ quốc gia nào Âu châu ,Bắc Mỹ ,Úc châu ... đều cùng chung sở thích yêu tà áo dài Viết Nam bạn nhỉ!!

LPhy
Feb/2025

linhphy
02-16-2025, 07:14 AM
Biệt ly qua thi ca Việt Nam

Nói đến biệt-ly là nói đến xa cách không gặp nhau nữa, là nói đến chia-ly mỗi người một ngã. Nhiều khi sau một thời -gian sẽ gặp nhau lại,
nhưng cũng có-thể xa nhau nghìn năm hay vĩnh-biệt nghìn đời.
Từ cổ chí kim,từ đông sang tây, chưa bao-giờ ta nghe nói đến cuộc biệt-ly nào vui cả.

Ðã nói đến biệt-ly là nói đến xa nhau, xa nhau thường hay nhớ nhau mà nhớ nhau thì lòng luôn-luôn buồn vời-vợi.
Khi thì khắc-khoải sầu-thương giữa đêm khuya thanh vắng, khi thì nức-nở lệ sầu lúc tiễn nhau đi.
Chính sự biệt-ly thường đem đến khổ đau cho con người nên các thi-nhân Việt-nam đã từng than mây khóc gió mỗi khi gặp sự ly-biệt.
Biết rằng khỗ đau là điều cay đắng ,đau thương là những quằn-quại trong tâm-hồn. Thế mà nhiều thi- nhân lại thích đắng cay và quằn-quại
để dệt nên những dòng thơ ly-biệt bất-hủ ngàn năm.

Chính những quằn-quại và cay đắng đó đã làm cho nhiều thi-nhân thích-thú nên mới có bài "Thú đau thương ." xuất-hiện trong thi-ca Việt-nam.
Nếu ngày xưa ở bên xứ sương mù Anh-Quốc, thi- sĩ Lord Byron đã rên-rỉ về sự biệt-ly qua bài "When we two parted" :

When we two parted
In silence and tears
Half broken-hearted
To sever for years.
mà thi-sĩ nào đó đã dịch là :
Giờ phút chia-ly đã điểm rồi
Nghẹn-ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang-mang nửa cõi lòng tan-tác
Ly-biệt xui chi tủi trọn đời.

thì tại Việt-nam, các thi-nhân cũng rên-rỉ về sự ly-biệt còn ai-oán lâm-ly hơn nhiều. Sự biệt-ly ta thấy nghẹn-ngào nhất là sự ly-biệt của người vợ tiễn chồng ra ngoài mặt trận vào "
thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân-chuyên". trong tác-phẩm Chinh-phụ ngâm của Ðặng trần Côn.

Không ai mà không rơi lệ trước cảnh người vợ đưa tiễn chồng ra ngoài mặt trận vì biết rằng ngày về của chồng "chỉ độ đào bông"và lắm lúc "cổ lai chinh-chiến kỷ nhân hồi."
Chính vì xưa nay mấy khi đi đánh giặc mà trở lại nhà,nên người vợ cảm thấy quá khổ đau như có linh-tính là sẽ vĩnh-biệt chồng ngàn năm.
Thảo nào mỗi bước đi là một bước sầu tê-tái,tâm-hồn như choáng-váng,lý-trí không điều-khiển được con tim khiến người vợ quá xúc-động nên sắp xỉu phải vin vào áo chàng :

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
Ðưa chàng lòng dặc-dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.

( Ðặng trần Côn)

Thật đúng là " Ôi! cảnh biệt-ly sao mà buồn vậy."
Chàng ra đi không hẹn ngày về khiến nàng đêm đêm trằn-trọc bên chiếc gối,nhìn trăng không tài nào ngủ được
vì cứ miên-man suy-nghĩ hoài về "Kẻ đi muôn dặm một mình xa-xôi" :

Người lên ngựa ,kẻ chia bào
Rừng phong ,thu đã nhuốm màu quan-san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa-xôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc,nửa soi dặm trường.

(Nguyễn-Du)

Sự biệt-ly giữa người vợ và người chồng khi tiễn chồng ra ngoài mặt trận là sự biệt-ly khổ đau nhất trong thi-ca Việt-nam
vì người về chiếc bóng năm canh,vo câu muôn dặm sơn-khê mịt-mù
Ðể rồi từng đêm,từng đêm , người vợ hiền thao-thức nghĩ về người chồng và biết đâu một ngàn năm,một vạn năm không bao giờ thấy chồng trở lại quê nhà nữa.
Sau sự biệt-ly của người vợ tiễn chồng ra mặt trận là sự ly-biệt khổ đau của đôi tình nhân vừa mới yêu nhau đành phải tạm thời xa nhau vì hoàn cảnh.

Ở đất khách quê người bên dòng sông Sein tuyệt đẹp, chàng mới yêu nàng chưa được bao lâu thì nàng lại muốn về thăm quê mẹ, khiến chàng cảm thấy lòng buồn vời-vợi
đến nỗi mùa đông ở Paris suốt đời là cả một cuộc biệt-ly, khi chàng tiễn người yêu về thăm quê mẹ :

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn

Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết buông cuồng mênh-mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn-màng.

(Cung trầm Tưởng)

Ðây là sự biệt-ly của đôi tình nhân tại ga xe lửa. Nhưng nhiều người cũng tại ga xe lửa , không phải họ đến để tiễn-biệt người yêu, mà để xem sự biệt-ly của kẻ đi người ở.

Ở đây không phải nơi đất khách quê người màngay tại nơi quê nhà yêu-dấu, chàng thường đón những chuyến tàu đi đến những ga xe lửa để đứng bơ-vơ xem tiễn biệt
, rồi tâm-hồn cảm thấy ngẩn-ngơ và nhớ thương lan xa mấy dặm trường :

Những ngày nghỉ học tôi thường tới
Ðón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ-vơ xem tiễn-biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
.............
Kẻ về không nói bước vương vương
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo-đẽo tôi về theo bước họ
Tâm-hồn ngơ-ngẩn nhớ muôn phương.

(Tế-Hanh)

Tuy-nhiên,hầu hết những đôi tình nhân đến ga xe lửa thường là để tiễn nhau đi và luôn luôn ước mơ sẽ gặp nhau lại trong một thời gian rất gần.
Nhưng nếu lúc biệt-ly,chàng biết chắc chắn rằng sẽ không bao giờ gặp lại người yêu nưã,nên chàng khuyên nàng đừng quay lại nhìn chàng nưã :

Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nưã
Anh biết em đi chẳng trở về.

(Thái-Can)

Nói đến ly-biệt là nói đến buồn bã,là nói ảo-não sầu thương. Thế mà lúc biệt-ly lại gặp mưa rơi gió thổi thì cảnh ly-biệt càng thêm đau-khổ nghẹn-ngào.
Nếu cổ thi có câu : "Hoàng điệp hoàng hoa cổ thành lộ.
Thu phong thu vũ biệt-ly nhân ." "Hoa vàng lá úa thành xưa. Nẽo đường ly-biệt gió đưa tiễn người.",thì ngày nay, các thi nhân cũng đưa mây gió vào thơ để làm cho sự ly-biệt thêm não-nùng ;
để rồi "nước ." và "trời." cả hai đều đượm màu hương sắc của sự biệt-ly :

Ðương lúc hoàng-hôn xuống
Là giờ viễn-khách đi
Nước đượm màu ly-biệt
Trời vương hương biệt-ly
Mây lạc hình xa-xôi
Gió than niềm trách móc
Mây ôi và gió ôi
Chớ nên làm họ khóc
Buổi chiều ra cửa sổ
Bóng chụp cả trời tôi
Ôm mặt khóc rưng-rức
Ra đi là hết rồi .
(Xuân-Diệu)

Thật thế, nhiều khi "ra đi là hết rồi.", biệt-ly lắm lúc là ngàn đời vĩnh-biệt. Sự ly-biệt làm cho lòng người tê-tái vì kẻ ở người đi nên nhiều lúc cả hai đều khóc nức-nở như mưa rơi :

Thùng-thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Nhiều lúc chia tay nhưng vẫn còn bịn-rịn chưa muốn quảy gót ra đi,vì sợ rằng sự đơn-côi sẽ làm cho tâm-hồn buồn thảm ,
để rồi "Ðể giờ lủi-thủi người đi, mai chiều quạnh-quẻ tà-huy tôi buồn."
Ta hãy nghe nhà thơ Nguyễn đình Thi dệt khúc ly-biệt qua những dòng thơ lục bát thật nhẹ-nhàng :

Mênh-mông muôn lớp sóng dồn
Vè lau trăng gió bãi cồn khói sương
Nước non đây chỗ chia đường
Tương-tư mở lối đọan-trường cũng đây
Cách vời trước biết bèo mây
Chung đôi xưa nỏ sum vầy làm chi
Ðể giờ lủi-thủi ngươi đi
Mai chiều quạnh-quẽ tà-huy tôi buồn
Võ vàng đứng bến giang-thôn
Thuyền người nắng bể mây nguồn biết đâu !
Cầm tay chừ hẹn chi nhau
Sầu chia nước chảy bên nào xa hơn .

(Tống Biệt)

Chính sự lưu-luyến càng làm thêm đau khổ cho người ra đi và cũng tạo nên những khổ đau quằn-quại cho người ở lại
. Bởi vì khi nghĩ đến tương-lai, ai nấy đều cảm thấy nhớ nhung đau buồn,cô-đơn và hiu-quạnh.
Vì thế,dây phút bịn-rịn lúc chia tay là phút dây gần nhau nhất mà kẻ ở người đi không ai muốn rời nhau, không muốn nghĩ đến ngày mai vì
"ngày mai chàng ruổi xa, mặc kẻ nước mắt sa."
Nhà thơ Phan văn Dật đã cho ta thấy rõ những sự khổ đau quằn-quại đó lúc chia tay :

Ðừng nghĩ đến ngày mai
Hôm nay biết hôm nay
Thiếp đây mà chàng đó
Chừng ấy là đủ rồi
Ngày mai chàng ruổi xa
Mặc kẻ nước mắt sa
Yên ngựa rong đường thẳng
Thức dậy lúc canh gà.
(Tiễn Ðưa)

Vì biệt-ly là u-buồn ,vì xa nhau thường nhung-nhớ rồi đưa đến sự khổ đau triền-miên qua những năm tháng dài lê-thê trong hiu-quạnh.
Vì thế mà các thi-nhân cũng như các nhạc-sĩ đã dệt những tình khúc biệt-ly thật lâm-ly bi-đát như "nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi .
Còn gì đâu nữa mà khóc với cười ." hay "Biệt-ly, nhớ-nhung từ đây." hoặc là " Bến cũ, ngày xưa, người đi vấn-vương biệt-ly. Gió cuốn, muôn phương, về đây.
Bến ấy, người về hay chăng."

Chính vì sự biệt-ly là đau buồn chua xót,là thê-thảm não-nùng. Chính vì sự biệt-ly là khổ đau để rồi nức-nở quằn-quại bên nhau khiến nhiều người không dám nhắc lại sự ly-biệt,
vì nếu khơi lại chuyện lòng xa nhau ấy sẽ thêm buồn đau cho cuộc đời.
Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH diễn tả ý-nghĩ ấy qua những vần thơ bảy chữ thật buồn :

Ðã lỡ thôi rồi chuyện biệt-ly
Càng khơi càng thấy luỵ từng khi
Trách ai mang cánh " ti-gôn." ấy
Mà viết tình em được ích gì.

Tóm lại, qua thi-ca Việt-nam,ta thấy các thi-nhân đã sáng-tác rất nhiều bài thơ liên-quan đến sự biệt-ly và chính sự ly-biệt đã làm cho các nhà thơ đau buồn
rồi xúc-động mà dệt nên những dòng thơ lâm-ly não-nuột nghìn năm.

Dương Viết Điền

linhphy
02-16-2025, 07:23 AM
Nỗi buồn nhớ quê hương

Tôi là gái Bắc, lớn lên ở Sài Gòn, nhưng lạ lùng làm sao, tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn nhiều lắm. Mà chỉ xót xa đến Huế, Huế nghèo.
Thành phố chỉ có vài con đường chính. Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ lòng lạnh ra.
Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, đẹp, nên thơ bời những nghệ sĩ khi viết về quê hương của mình

Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình đã được sinh ra. Âu cũng không phải là điều làm cho ta ngạc nhiên.

Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì nếu như vậy thì tôi phải yêu Hà Nội nhiều hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn nhiều hơn, phải yêu Đà Lạt hơn mới phải.
Vậy mà tôi yêu, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn, tôi năn nỉ "mi" "noái" cho tau nghe chút cho đỡ "dớ".

Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép nhẹ nhàng. Có một cái gì thật mong manh, như tơ, như sương, khói, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế.
Tôi có cảm tưởng họ không phải là sự hiện hữu.
Một chút hương khói hư ảo chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả. Mười ba năm qua, chỉ xin nói cho nghe vài câu cho đỡ nhớ "nhà".
Như thế là yêu đấy, nhiều mới khổ chứ. Dù tôi chỉ biết Huế sau Tết Mậu Thân và không quá 10 lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu.

Tôi không muốn nhắc đến, những điều đã được viết quá nhiều về một nơi chốn. Tôi chỉ muốn viết về "Huế của riêng tôi", và như vậy cũng có nnghĩa là mở ra cánh cửa của kỷ niệm
, của những huân hoan đau đớn,
những ước mơ không thành, những dằn vặt ám ảnh, đeo đuổi tôi trong suốt 13 năm qua .

Mười ba năm trước đã không thành, không nói. Thì bây giờ lẽ ra càng không nên nói. Bởi vì dù có thêm 100 năm nữa "Hai mái đầu xanh giờ đã bạc" cũng chẳng còn bao giờ gặp lại nhau.
Nếu có chăng nữa, thì cũng là kiếp sau. Nhưng "Tình tưởng đã yên mà tâm còn động vọng".
Thì ra 13 năm với tôi vẫn còn là cơn mộng. Chưa thoát ra được. Không thoát ra được. Không muốn thoát ra. Còn cố gắng bao che, tự lừa dối mình. Chỉ là một cơn mộng.
Đêm sẽ qua, mộng sẽ tàn. Ta sẽ tỉnh.
Thấy tóc vẫn xanh với lời dặn xưa "Qua đèo Hải Vân, nhớ cột tóc, kẻo gió bay nghe em".
Mộng đã tàn. Tôi đã tỉnh với đau đớn. Thì thầm một mình "khóc đi chứ". Còn khóc được là biết mình còn sống, còn khóc được là biết Huế còn đó trong trái tim,
trong tận cùng đáy sâu thống khổ, khốn cùng của một kiếp người mà hạnh phúc cùng đồng nghĩa với bất hạnh.

Tôi vốn là một đước trẻ mồ côi cha. Cha tôi chết trong trại Đầm Đùn sau 4 năm giam hãm. Học hành dở dang, vài năm trường tây, vài năm trường ta.
Trường học chẳng dạy tôi điều gì. Gia đình chẳng dạy tôi điều gì.

Nên tôi tự dạy tôi ra đời năm 16 tuổi. Đi hát nhưng không bao giờ nghĩ mình lại trở thành ca sĩ. Hát vì thích hát. Điều này tôi hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi ông bố có nhiều nghệ sĩ tính
nhưng lại đi theo kháng chiến và chết đau thương trong lao tù.
Không có tình thương của cha, không hợp tính với mẹ. Ngoài ý thích được hát, tôi không biết mình phải làm gì. Đời sẽ cho tôi những gì và tôi sẽ có được những gì.
Tôi quờ quạng sống lang thang giữa đám bạn bè tốt bụng, nay đứa này cho bịch gạo, mai đứa kia cho nửa chai nước mắm. Nghèo mà vui tôi không buồn vì nỗi bị gia đình hắt hủi, từ bỏ.

Tôi như một thằng con trai, giữa đám bạn trai. Tuy không có cái cảnh vườn đào kết nghĩa nhưng cho đến giờ đây, gần 30 năm qua, có đứa đã ra đi mãi mãi, có đứa nửa điên nửa dại,
có đứa nhà cao cửa rộng, vợ con đề huề.
Thỉnh thoảng gặp lại, tưởng như 30 năm chỉ là một ngày. Cũng tưởng đời sẽ lêu bêu mãi cho đến ngày cuối, nhưng nếu định mệnh là điều có thật,
thì điều đó đã đến với tôi một đêm mưa tại Đà Lạt.

Dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng tròn, gọng đồi mồi, cặp mắt bồ câu, vầng trán rộng, sống mũi thẳng, nụ cười đẹp, tươi với chiếc răng khểnh,
người con trai đó nói với tôi bằng giọng Huế.
Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế tuy hơi lai, nhưng Sơn là "Huế chay".

Sơn với hai bàn tay gày guộc, những ngón tay dài tài hoa, chắp cho tôi đôi cánh, xỏ vào chân tôi đôi hia bảy dặm. Cô bé lọ lem lột xác
. Lột xác để từ một đoạn trường này bước sang một đoạn trường khác.
Từ Sơn, tôi đã thành danh, nhưng đó cũng chưa hẳn là điều tôi mong muốn. Tôi có cảm tưởng như vậy. Có phải đời sống là như thế hay sao?
Thế là đủ hay sao? Nếu thiếu thì thiếu cái gì và tại sao thiếu?

Đời sống tầm thường thế thôi sao?
Một đứa trẻ mồ côi, bị gia đình hắt hủi - luôn luôn thèm một mái ấm gia đình, một lời nói ngọt ngào của mẹ, thèm từ một cái áo, một đôi giày.
Mà phải là gia đình nghèo khó gì cho cam.
Chỉ vì ... đúng là tôi sinh ra dưới một ngôi sao không mấy đẹp.

Lúc sống lang thang như một người lãng tử, tôi thường tự hỏi mình nhu cầu gì cho đời sống. Sống trong đời sống mình phải có những gì?

Tình, tiền, danh vọng? cho đến lúc nghĩ rằng mình đã có đủ những điều mơ ước, tôi vẫn luôn luôn âm thầm. Hình như không phải như mình nghĩ.
Cuộc sống, đời sống, con người sống trong đời chỉ tầm thường thế sao?
Một hôm tôi hỏi Sơn: Sống trong đời sống mình cần phải có gì? làm gì? Sơn cười ngón tay dài khẽ đẩy cái gọng kính đang trễ xuống.

Câu trả lời ngắn gọn: Cần có một tấm lòng. Tôi nhìn Sơn: "Một tấm lòng?" ở giữa thế kỷ này, giữa thời gạo châu củi quế, giữa thời giá trị của một con người được đánh giá bởi áo quần,
nhà cửa, vòng vàng, hột xoàn.

..Một tấm lòng để làm gì?
Sơn nhìn tôi, ngón tay lại đẩy cao gọng kính.

"Sống trong đời, ta luôn luôn phải sống với một tấm lòng,
phải có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để... gió cuốn đi.".

Tôi nhìn sững Sơn không nhớ bao lâu, nhưng chắc là lâu lắm. Cứ ngồi nhìn anh, nhìn vầng trán mênh mông, cúi xuống thật thấp, ngón tay gầy trên nhựng sợi dây đàn.
Chiều xuống lúc nào không hay, gió từ sông Hương thổi mạnh. Hình như trời muốn chuyển mưa. Hình như lòng tôi cũng đang chuyển động dữ dội.
Một ánh sáng kỳ lạ nào đó vừa chiếu rọi vào cõi tôi u tối, ngu muội.

Hình ảnh con nhỏ bụi đời, lúc hàn vi chợt sừng sững trước mắt tôi. Cái ngõ tối lầy lội đường Phan Thanh Giản, cái nhà sàn cầu sắt Đa Kao. Những buổi chiều nằm trên đồi sân Cù Đà Lạt, khóc một mình.
Tất cả chợt sống lại hay đúng hơn, ở một lúc nào đó tôi đã chết rồi.
Và chiều nay bên dòng sông Hương êm đềm thơ mộng - vầng trán mênh mộng, giọng nói dịu dàng, ánh mắt thăm thẳm, bao dung, Sơn kéo tôi khỏi cái chết ngu xuẩn.
Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đi đời suối, đời người cũng dễ sống và hãy thả trôi đi những niềm đau.

Hai mươi năm qua, tôi sống như lời Sơn nói, như điều Sơn muốn. Còn có ai thấy được hay không, điều đó không cần thiết. Chỉ cần Sơn không thất vọng - điều đó đủ rồi.
Những ngày tháng ở Huế, gần Sơn và gia đình. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của đời tôi.


Sáng Đông Ba, chiều Vỹ Dạ, tối họp nhau ở Cercle hoặc nhà anh chị Lễ, đàn hát ngâm thơ.
Sơn yêu thơ Nguyễn Bính, bắt tôi ngâm đi ngâm lại bốn câu:
"Mà sao giấc ngủ không dài.
Mà đêm xuống ngắn mà trời cứ mưa. ở đây tôi sống như thừa.

Có đêm men rượu tạm vừa lòng nhau."

Có bao giờ Sơn hiểu rằng, dù rượu có hết mà sầu vẫn không vơi. Sơn ơi, Huế ơi,
"Nỗi sầu như tóc bạc, cứ cắt lại dài ra"...

Khánh Ly