frankie
11-26-2025, 07:39 AM
Tái Sinh
Mặc Bích
“Theo bản tin của Tân Hoa Xã loan tải vào cuối tháng 9, 2004, bà Yang Huanyi, quê quán tại Hồ Nam vừa qua đời tại nhà riêng với số tuổi thọ không chính xác lắm, 95-98. Bà là một trong 7 người tại Trung Hoa còn biết xử dụng loại chữ Nushu, một cổ tự (Nushu, tạm dịch là Nữ tự).
Đây là một loại chữ viết đặc biệt do phụ nữ Trung Hoa sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu bày tỏ cũng như trao đổi những tình cảm riêng tư trong thế giới riêng của họ khi mà chỗ đứng cũng như thân phận của người phụ nữ Trung Hoa bị hạ thấp đến cùng cực. Họ không biết đọc, không biết viết. Loại chữ Nushu gồm tất cả 1,800 chữ được tạo thành bằng những nét nguệch ngoạc, khác hẳn với kiểu chữ Tầu.
Nam giới Trung Hoa đã coi Nushu như một thứ chữ dành cho bọn phù thủy. Những nhà ngôn ngữ học xem đây là một sáng tạo đáng kể của phụ nữ Trung Hoa. Từ năm 1950, nhiều học giả Trung Hoa đã bỏ công nghiên cứu Nushu, nhưng với cuộc cách mạng văn hóa từ năm 1966-1976, Nushu bị liệt kê là sản phẩm của phong kiến và bị cấm. Với số người còn biết đến loại chữ Nushu chỉ đếm trên đầu ngón tay, người ta phỏng đoán loại chữ này sẽ biến mất tại Trung Hoa nói riêng và trên thế giới nói chung.
Đọc bản tin với ít nhiều ngậm ngùi, tôi viết câu chuyện dưới đây”
Nàng khép cửa thoắt ra ngoài, nhẹ như một làn khói luồn khỏi khe cửa gỗ nặng trịch. Thoáng trong những lùm cây tiếng chim rúc rích gọi nhau làm đầy một không gian hãy còn sụp nửa mi mắt. Hình như một nửa người nàng vẫn còn trong cơn mộng mị của giấc mơ lúc gần sáng, nửa kia bước những bước quen thuộc về góc sân.
Hàn San quăng chiếc gàu xuống lòng giếng. Tiếng gàu gỗ va nhẹ vào mặt nước làm thành tiếng chào đón đầu ngày, đục và trầm như một kẻ hết hơi mà vẫn chưa làm nàng tỉnh hẳn. Ngay cả những động tác ném, kéo gầu nước dường như không phải do nàng, ai đó. Mãi đến khi đổ đầy nửa thạp nước thứ nhì, tay chân nàng đều ướt, Hàn San mới thấy tỉnh, cũng là lúc sương đã tan hết dần. Nàng nhìn thấy rõ mặt nước nhỏ xíu trong giếng, thấy mình đang chao đi chao lại trong cái sóng sánh loang loáng chấp chới lẫn ít trời mây. Hiện rồi lại biến, giống như một cuộc đối thoại bị cắt làm nhiều đoạn nhưng không có ai khác ngoài nàng và lòng giếng sâu hun hút.
Khi cúi xuống với cùng động tác quen thuộc, cũng là cái gàu chót của thạp nước thứ hai, một giọt nước trong vắt từ trán nàng rơi xuống, nhanh và tan loãng trong chiều sâu âm u ấy. Cơ hồ có tiếng vọng lên về sự va chạm đột ngột từ mình và cái mặt gương chao đảo kia. Rồi thôi.
Sau khi đổ đầy hai thạp nước, nàng cuộn dây, cất gầu, cũng là lúc mặt trời bắt đầu lên thấy rõù sau rặng núi bên kia. Cái ánh sáng vàng nhạt và loãng thổi chút hơi ấm hồi sinh đang cố đẩy nhẹ những phiến sương còn sót lại. Đã có bao nhiêu buổi sớm mai nhìn lên đỉnh núi mắt bị chận lại ở đó và Hàn San lại nhớ đến mẹ, đến giọng nói trong như tiếng phong linh lúc lắc trước gió nhẹ của những ngày đầu xuân..
Những căn nhà quanh đây nằm suốt từ chân núi lên đến lưng chừng giữa núi, một bên sườn núi thoai thoải xuống nhiều nấc nên người ta trồng trọt, canh tác. Phía bên kia là vực sâu hun hút, đá nhiều, lởm chởm những cây, không thấy đáy. Người ta bảo dưới đó có quái vật sống nghìn năm, thỉnh thoảng nó phà hơi thở lên làm thành những tảng mây trôi lấp lửng. Đỉnh núi lúc nào cũng lẫn trong mây như bị cắt mất ngọn, và người ta cũng bảo kẻ nào lạc lên đó nếu không tìm thấy đường về thì cũng bị quái vật từ dưới vực thung lũng vươn tay lên bắt. Và mẹ Hàn San đã biến như thế.
Biến luôn trong một ngày đầu hè khi nắng còn dịu, khi cây lá còn non tươi và trước mỗi nhà những người già ra ngồi hong nắng, giơ những cánh tay gầy đét, nổi đầy gân trên làn da khô tróc vẩy như những con thú vừa chui ra khỏi hang sau một mùa đông ảm đạm không ánh mặt trời, và bóng những đứa trẻ chạy vui đùa như những bông hoa bên cạnh những cành khô mốc nhưng vẫn còn nhựa sống ri rỉ.
Mẹ biến đi không biết ngày hay đêm. Chỉ biết ngày sau đó mấy người thợ săn tìm được tấm khăn mỏng mẹ hay quấn quanh cổ mắc trên cành cây sát bờ vực thung lũng ở mãi trên cao. Khi họ đưa chiếc khăn cho ông Diệp, cha nàng, ông thản nhiên xua tay không muốn nhận. Bà Linh, quản gia là người đã cầm tấm khăn quàng lên vai Hàn San, lúc ấy nàng 15 tuổi, ôm chặt lấy nàng và giữ ghì một lúc lâu. Nàng chỉ kêu được: một tiếng “Mẹ ơi!” rồi nuốt trọn vào trong lồng ngực nỗi thảng thốt của một niềm đau bất chợt chưa rõ nét.
Hai mùa hè như thế qua đi, nỗi mất mát đột ngột chiếm ngự hết khoảng trống trong nàng, ngang nhiên gậm nhấm Hàn San để mỗi lần nàng há miệng chực gọi “Mẹ ơi!” thì nó lại bịt miệng không cho thoát ra mà lại nhồi lại nhét xuống đến tận sâu. Và hai tiếng “mẹ ơi!” ấy trở thành những tiếng ngất thất thanh của sự lạc lõng trơ vơ ẩn hiện thấp thoáng trên đôi mắt mới lớn 17 tuổi có mầu của bóng mây nhưng tiềm ẩn một ánh sáng dị thường bởi vòng tròn có màu xanh đá quanh con ngươi. Mẹ đi nhưng tấm khăn ở lại. Đó là chứng tích sau cùng về sự có mặt của mẹ trong ngôi nhà này. Mọi người chẳng ai nhớ đến mẹ vì còn đang bận rộn thu xếp đón chào bà vợ thứ ba của ông Diệp.
Mặc Bích
“Theo bản tin của Tân Hoa Xã loan tải vào cuối tháng 9, 2004, bà Yang Huanyi, quê quán tại Hồ Nam vừa qua đời tại nhà riêng với số tuổi thọ không chính xác lắm, 95-98. Bà là một trong 7 người tại Trung Hoa còn biết xử dụng loại chữ Nushu, một cổ tự (Nushu, tạm dịch là Nữ tự).
Đây là một loại chữ viết đặc biệt do phụ nữ Trung Hoa sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu bày tỏ cũng như trao đổi những tình cảm riêng tư trong thế giới riêng của họ khi mà chỗ đứng cũng như thân phận của người phụ nữ Trung Hoa bị hạ thấp đến cùng cực. Họ không biết đọc, không biết viết. Loại chữ Nushu gồm tất cả 1,800 chữ được tạo thành bằng những nét nguệch ngoạc, khác hẳn với kiểu chữ Tầu.
Nam giới Trung Hoa đã coi Nushu như một thứ chữ dành cho bọn phù thủy. Những nhà ngôn ngữ học xem đây là một sáng tạo đáng kể của phụ nữ Trung Hoa. Từ năm 1950, nhiều học giả Trung Hoa đã bỏ công nghiên cứu Nushu, nhưng với cuộc cách mạng văn hóa từ năm 1966-1976, Nushu bị liệt kê là sản phẩm của phong kiến và bị cấm. Với số người còn biết đến loại chữ Nushu chỉ đếm trên đầu ngón tay, người ta phỏng đoán loại chữ này sẽ biến mất tại Trung Hoa nói riêng và trên thế giới nói chung.
Đọc bản tin với ít nhiều ngậm ngùi, tôi viết câu chuyện dưới đây”
Nàng khép cửa thoắt ra ngoài, nhẹ như một làn khói luồn khỏi khe cửa gỗ nặng trịch. Thoáng trong những lùm cây tiếng chim rúc rích gọi nhau làm đầy một không gian hãy còn sụp nửa mi mắt. Hình như một nửa người nàng vẫn còn trong cơn mộng mị của giấc mơ lúc gần sáng, nửa kia bước những bước quen thuộc về góc sân.
Hàn San quăng chiếc gàu xuống lòng giếng. Tiếng gàu gỗ va nhẹ vào mặt nước làm thành tiếng chào đón đầu ngày, đục và trầm như một kẻ hết hơi mà vẫn chưa làm nàng tỉnh hẳn. Ngay cả những động tác ném, kéo gầu nước dường như không phải do nàng, ai đó. Mãi đến khi đổ đầy nửa thạp nước thứ nhì, tay chân nàng đều ướt, Hàn San mới thấy tỉnh, cũng là lúc sương đã tan hết dần. Nàng nhìn thấy rõ mặt nước nhỏ xíu trong giếng, thấy mình đang chao đi chao lại trong cái sóng sánh loang loáng chấp chới lẫn ít trời mây. Hiện rồi lại biến, giống như một cuộc đối thoại bị cắt làm nhiều đoạn nhưng không có ai khác ngoài nàng và lòng giếng sâu hun hút.
Khi cúi xuống với cùng động tác quen thuộc, cũng là cái gàu chót của thạp nước thứ hai, một giọt nước trong vắt từ trán nàng rơi xuống, nhanh và tan loãng trong chiều sâu âm u ấy. Cơ hồ có tiếng vọng lên về sự va chạm đột ngột từ mình và cái mặt gương chao đảo kia. Rồi thôi.
Sau khi đổ đầy hai thạp nước, nàng cuộn dây, cất gầu, cũng là lúc mặt trời bắt đầu lên thấy rõù sau rặng núi bên kia. Cái ánh sáng vàng nhạt và loãng thổi chút hơi ấm hồi sinh đang cố đẩy nhẹ những phiến sương còn sót lại. Đã có bao nhiêu buổi sớm mai nhìn lên đỉnh núi mắt bị chận lại ở đó và Hàn San lại nhớ đến mẹ, đến giọng nói trong như tiếng phong linh lúc lắc trước gió nhẹ của những ngày đầu xuân..
Những căn nhà quanh đây nằm suốt từ chân núi lên đến lưng chừng giữa núi, một bên sườn núi thoai thoải xuống nhiều nấc nên người ta trồng trọt, canh tác. Phía bên kia là vực sâu hun hút, đá nhiều, lởm chởm những cây, không thấy đáy. Người ta bảo dưới đó có quái vật sống nghìn năm, thỉnh thoảng nó phà hơi thở lên làm thành những tảng mây trôi lấp lửng. Đỉnh núi lúc nào cũng lẫn trong mây như bị cắt mất ngọn, và người ta cũng bảo kẻ nào lạc lên đó nếu không tìm thấy đường về thì cũng bị quái vật từ dưới vực thung lũng vươn tay lên bắt. Và mẹ Hàn San đã biến như thế.
Biến luôn trong một ngày đầu hè khi nắng còn dịu, khi cây lá còn non tươi và trước mỗi nhà những người già ra ngồi hong nắng, giơ những cánh tay gầy đét, nổi đầy gân trên làn da khô tróc vẩy như những con thú vừa chui ra khỏi hang sau một mùa đông ảm đạm không ánh mặt trời, và bóng những đứa trẻ chạy vui đùa như những bông hoa bên cạnh những cành khô mốc nhưng vẫn còn nhựa sống ri rỉ.
Mẹ biến đi không biết ngày hay đêm. Chỉ biết ngày sau đó mấy người thợ săn tìm được tấm khăn mỏng mẹ hay quấn quanh cổ mắc trên cành cây sát bờ vực thung lũng ở mãi trên cao. Khi họ đưa chiếc khăn cho ông Diệp, cha nàng, ông thản nhiên xua tay không muốn nhận. Bà Linh, quản gia là người đã cầm tấm khăn quàng lên vai Hàn San, lúc ấy nàng 15 tuổi, ôm chặt lấy nàng và giữ ghì một lúc lâu. Nàng chỉ kêu được: một tiếng “Mẹ ơi!” rồi nuốt trọn vào trong lồng ngực nỗi thảng thốt của một niềm đau bất chợt chưa rõ nét.
Hai mùa hè như thế qua đi, nỗi mất mát đột ngột chiếm ngự hết khoảng trống trong nàng, ngang nhiên gậm nhấm Hàn San để mỗi lần nàng há miệng chực gọi “Mẹ ơi!” thì nó lại bịt miệng không cho thoát ra mà lại nhồi lại nhét xuống đến tận sâu. Và hai tiếng “mẹ ơi!” ấy trở thành những tiếng ngất thất thanh của sự lạc lõng trơ vơ ẩn hiện thấp thoáng trên đôi mắt mới lớn 17 tuổi có mầu của bóng mây nhưng tiềm ẩn một ánh sáng dị thường bởi vòng tròn có màu xanh đá quanh con ngươi. Mẹ đi nhưng tấm khăn ở lại. Đó là chứng tích sau cùng về sự có mặt của mẹ trong ngôi nhà này. Mọi người chẳng ai nhớ đến mẹ vì còn đang bận rộn thu xếp đón chào bà vợ thứ ba của ông Diệp.