CÁNH BUỒM CHIỀU VỀ XÓM BÓNG (*)
Rải rác bên sông mấy xóm nhà
Trời chiều ác lặn dãi xa xa
Chen chen thuyền đậu bên doi liễu
Lác đác chài bơi cạnh vũng hoa
Thi lão chờ trăng miền khoáng dã
Ngư ông phơi lưới bãi bình sa
Ai người đội nguyệt chèo lan vẫy
Một khúc Thương Lang cất tiếng ca. (**)
Trần Nhất Lang
(*) Là Xóm chài Cầu Bóng, ở phía bắc thị xã Nha Trang chừng sáu bẩy cây số, có cây cầu bắc qua con sông chảy ngang xóm làng, gọi là Cầu Bóng.
Cuối năm 1954 và 1955, huynh có đóng binh tại đây, có dịp được chuyện trò với các vị bô lão trong xóm làng. Nhiều vị rất uyên thâm Hán học, bình giảng Đường Thi cho các cụ nghe.
Đây cũng là một kỷ niệm đẹp và là động cơ thúc đẩy huynh mê say Thơ Đường sau này.
Những cảnh tả trong bài thơ này hầu hết là cảnh thật. Chỉ dùng vài ba mỹ từ cho câu thơ thêm đẹp như chữ "Vũng hoa, chèo lan." Còn Doi Liễu đúng là hồi đó có cây liễu cổ thụ lâu đời bên doi cát.
(**) Tên một phần sông Hán. Do lấy trong thơ cổ :
"Thương Lang chi thủy thanh hề,
Khả dĩ trạc ngã anh;
Thương Lang chi thủy trọc hề,
Khả dĩ trạc ngã túc."
Nghĩa là :
Sông Thương nước chẩy trong veo
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông Thương nước đục chẩy ra
Thì ta lội xuống để mà rửa chân.
Nghĩa bóng, ý nói thời thái bình ra gánh vác việc đời, thời loạn lạc lui về ở ẩn.
~~~
Họa mượn vận 1:
U Hoài
Cuối năm lòng chạnh nhớ quê nhà
Vệt khói cơm chiều héo hắt xa
Nắng xế trên vai thương dáng mẹ
Cau đùa trong gió ngát hương hoa
Dòng sông lặng lẽ con đò đợi
Đất khách u hoài mắt lệ sa
Khúc nhạc trùng phùng xưa hứa viết
Tơ lòng khôn nối thẹn lời ca
Cát Vân
~~~
Họa Nương Vận 2:
Chiều Thôn Dã
Chiều nghiêng khói tỏa nóc gian nhà
Vạc muộn bay về rẫy lúa xa
Loáng thoáng sương lan mờ dốc núi
Bồng bềnh mây vẩn nhạt đường hoa
Mục đồng dẫn nghé hoàng hôn xuống
Thôn nữ bơi xuồng bóng tối sa
Có mảnh trăng liềm treo lửng lửng
Làng trên giã gạo tiếng hò ca
Thùy Linh