-
“Hãy viết về Mễ Du, và nếu con chấp nhận, việc này sẽ trở nên sứ mạng của đời con...”
Chương 5
"Hãy Viết Về Mễ Du ..."
Tôi giật mình thức dậy, cổ tê cứng do tư thế nằm bất cẩn của tôi trên đi văng. Hé mắt nhìn đồng hồ tay, tôi thấy đã gần 6 giờ sáng. Lúc lắc cái đầu, tôi đi vào phòng ngủ sửa soạn đi làm.
Terri dậy sau vài phút, chuẩn bị bữa sáng và đánh thức các con. Tôi đi vào bếp và loay hoay giúp nàng.
- “Này Terri, anh làm gì bây giờ với chuyện đó?”
Nàng nhận thấy là sự việc xảy ra tối hôm qua đến giờ chẳng có gì thay đổi: tôi vẫn khăng khăng là đã nhận được một sứ điệp từ Đức Trinh Nữ Maria. Nàng thở dài nói: “Thôi được, anh cứ đi mà viết về cái đó, rồi chấm dứt nó cho xong đi!”
Tôi chắc chắn đó là việc tôi phải làm, nhưng tôi cần có lời xác nhận của nàng. Và tôi cũng biết là không bao giờ tôi có thể “chấm dứt” cho xong với việc ấy được.
Đến nơi làm việc, tôi nhấp một tách cà phê và bảo Denease, nhân viên tiếp tân, rằng tôi sẽ không trả lời bất cứ cú điện thoại nào, tôi không muốn bị quấy rầy vì bất cứ việc gì. Khóa cửa phòng lại, duyệt qua những điểm đã ghi từ quyển sách và từ cuộn băng vidéo, tôi nhét lẹ một tờ giấy trắng vào máy đánh chữ.
Hai tiếng đồng hồ sau, tôi vẫn nhìn chằm chằm vào tờ giấy ấy. Không phải là tôi đang cuống cuồng lên, vì còn rất nhiều thời gian - hơn hai ngày nữa để viết, nếu cần. Vấn đề không ở chỗ viết cái gì, mà là ngược lại, có quá nhiều điều để viết. Tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn: tôi không nên viết và in ra cho công chúng đọc rằng tôi đã nhận một sứ điệp riêng từ Đức Trinh Nữ Maria. Bài viết phải hết sức khách quan, nếu không, dân chúng sẽ nghĩ là tôi đã đi quá trớn. Càng xác tín mình đã lãnh được sứ điệp khó tin đó, tôi càng dè dặt không muốn liều mất uy tín nhà báo của tôi.
Lật lại quyển sách của Linh mục Faricy, tôi bắt đầu ghi thêm nhiều điểm khác, không thể nào viết hết bằng ấy thứ vào trong một bài báo. Một tiếng đồng hồ nữa qua đi, tôi cố gắng khởi đầu bằng cách tả cảnh ngôi làng nhỏ bé có tên Mễ Du ấy. Tôi giật trang giấy ra khỏi máy chữ, vo tròn nó lại và ném vào sọt rác. Nó rơi ra ngoài.
Tôi thử đánh máy lần nữa: “Các bạn có tin vào phép lạ không?” Sau khi nhìn vào tờ giấy trong giây lát, tôi giật mạnh nó ra và vứt vào sọt rác. Nó cũng lại rơi ra ngoài. Bây giờ, tôi bắt đầu phát hoảng. Tôi đã từng kinh nghiệm cái “bí” của nhà văn, nhưng chưa bao giờ như lần này. Tôi ngồi đó, chết lặng đi vì không còn biết viết gì lên giấy. Chính lúc đó, một lần nữa, tôi cảm thấy vang lên trong tôi một sứ điệp. Lần này là một lời khiển trách: “Hãy cầu nguyện thêm và học hỏi thêm!”
Tim tôi nhảy vọt lên, nhưng lần này, cú sốc không đến nỗi mạnh lắm. Thay vào đó là một sự chấp nhận bình thản, dù đôi chút ngập ngừng, được nhẹ nhàng hướng dẫn qua những bước sơ khởi buổi đầu, để thực hiện sứ mạng viết về các biến cố Mễ Du. Chắc chắn sẽ phải viết không chỉ một bài mà nhiều hơn, mới có thể kể toàn bộ câu chuyện. Trong khi đó, rõ ràng là không kịp có bài đầu tiên cho số báo tuần tới. Đơn giản chỉ vì tôi chưa có đủ thời giờ.
Tôi rời văn phòng và bước vào khu vực in ấn, ở đây, viên quản lý nhìn tôi như đang chờ đợi một cái gì. “Này, Smitty!” tôi nói, “Tôi không có bài nào cho tuần sau đâu nhé! Anh nên cho bài khác vào chỗ đó đi.”
Anh ta định phản đối, nhưng tôi đã ngắt lời: “Đúng ra có thể tôi sẽ không có bài nào cả trong nhiều tuần tới.” Rồi tôi bỏ đi trước khi anh có ý kiến.
Biết rằng mình không thể tập trung vào một vấn đề nào khác, tôi quay về văn phòng và điện thoại cho Mary Jeffcoat, hi vọng cô ấy biết nơi nào tôi có thể lấy thông tin về sự kiện hiện ra và câu chuyện Mễ Du. Cô cho tôi cái tên Jim Stoffel, đang sống tại Bắc Myrtle Beach, và thật là ngẫu nhiên, anh sẽ cùng với vợ là Rosie đến Mễ Du vào ngày 1 tháng 11 tới đây. Mary nói thêm: “Jim có một quyển sách khác về Mễ Du, tôi có thể mượn cho anh nếu anh muốn xem.”
- “Cám ơn Mary nhiều, tôi cần nó lắm.”
Tôi bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút - và với tấm lòng phục tùng mệnh lệnh tôi vừa tiếp nhận lúc nãy, tôi cúi đầu xuống và cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Chúa, con thực tình không biết điều gì đang xảy đến cho con, hoặc tại sao, nhưng con sẽ cố...”
Tôi cảm thấy cầu nguyện như thế có hơi gượng gạo, nhưng lại rất tốt. Tôi quyết tâm hoàn thành điều đã đòi hỏi ở tôi, và nếu có cần vài tuần lễ để nghiên cứu tìm hiểu, thì tôi cũng sẽ làm.
Tối hôm đó, Mary mang đến quyển sách mới, tôi liền đọc ngay. Tác giả Joseph Pelletier là một linh mục Công giáo, đã viết nhiều sách về việc hiện ra tại Fatima. Ngài kể chi tiết về những biến cố nguyên thủy tại Mễ Du, theo quan điểm của một người đã từng điều nghiên các vụ hiện ra khác của Đức Trinh Nữ Maria. Tôi đọc mê mải và chỉ trong hai ngày, tôi đã đọc xong.
Bây giờ, để biết về bối cảnh câu chuyện, tôi cần tìm thêm nhiều tư liệu về những cuộc hiện ra nói chung. Tôi kiếm ở trong sổ niên giám điện thoại để tìm một hiệu sách Công giáo, và đã rất ngạc nhiên vì không thấy có một hiệu sách nào trong khắp bang Nam Carolina. Hiệu sách Công giáo gần nhất là ở Charlotte, Bắc Carolina, cách đây hơn 300 cây số. Tình cờ làm sao, mấy ngày sau đó, tôi lại có việc phải đi Charlotte... Ở đấy, tại một tiệm sách, tôi tìm được một cuốn lịch sử về các vụ hiện ra của Đức Maria có từ thế kỷ 16. Cũng thế, tôi rất hài lòng tìm ra được một sách khác về Mễ Du, do cha Svetozar Kraljevic, một linh mục Croatia, đã từng liên quan trực tiếp đến sự kiện hiện ra ở Mễ Du.
Tôi bắt đầu đọc lịch sử các lần hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria, và quá đỗi ngạc nhiên khi biết được các vụ đó đã xảy ra trên 1900 năm, tại nhiều nơi mà tôi đã được nghe, nhưng không bao giờ để ý đến. Tại Guadalupe, Mễ Tây Cơ, năm 1531, Bà đã hiện ra với một người da đỏ bộ lạc Aztec, 51 tuổi, tên Juan Diego; năm 1858, Bà đã hiện đến với Bênađêta, một thiếu nữ Pháp, tại Lộ Đức; rồi vào đầu thế kỷ 20 này, cho ba em tại Fatima, nước Bồ Đào Nha. Rồi còn nhiều lần khác: tại Knock, nước Ái Nhĩ Lan, và Garabandal, nước Tây Ban Nha...
Tôi đặt sách xuống, lắc đầu chép miệng. Vậy ra, điều xảy ra tại Mễ Du không có gì là mới lạ. Nhưng tôi có ghi rõ (trong sổ tay): chưa bao giờ Bà lại hiện ra một cách liên tục, lâu dài và cho nhiều trẻ thị nhân cùng một lúc như thế.
Sách của linh mục Svetozar Kraljevic, cho đến nay, là quyển sách hay nhất về các vụ hiện ra tại Mễ Du, hay hơn tất cả các sách khác (chỉ kể đi kể lại những chi tiết của những ngày đầu) ở chỗ ông còn thêm vào các chi tiết ấy một vẻ thiêng liêng, nó diễn tả rất sát với những tâm tình tôi đã có, khi khám phá ra phép lạ này. Lời văn của ông bình dị và trực tiếp, khiến bạn phải dừng lại để suy nghĩ và hình dung đến những gì đang xảy ra ở ngôi làng nhỏ bé ấy. Chỉ có một đoạn ngắn ở bìa lưng cuốn sách giới thiệu linh mục dòng Phanxicô đó, vậy mà ngay lập tức, tôi đã cảm thấy gắn bó với ông.
Cuối cùng, tôi thấy tôi đã sẵn sàng để viết về Mễ Du. Thời gian nghiên cứu chiếm gần hết tháng 11, nhưng không phải thời gian uổng phí. Do tính cách sâu rộng của câu chuyện, tôi quyết định viết luôn một loạt bốn bài, và cho ra mắt độc giả trong suốt tháng 12, với hi vọng kết thúc đúng vào lễ Giáng Sinh.
Tôi vội vàng trở lại văn phòng, dặn Denease lần nữa là đừng để ai quấy rầy tôi. Vừa đút tờ giấy vào máy đánh chữ, tôi thấy thôi thúc muốn cầu nguyện: “Lạy Chúa, con xin tạ ơn Ngài về việc này”, tôi thầm thĩ: “Xin Chúa giúp đỡ con trong những gì con phải làm.”
Ý tưởng đến với tôi khi tôi cần, và mấy ngón tay lướt bay trên bàn phím của máy đánh chữ khi tôi khởi sự bài báo thứ nhất:
Ngày 4-12-1985
Phép lạ tại Mễ Du
Phần 1 : Những cuộc hiện ra
Trong vòng bốn tuần lễ tới của tháng 12, tôi sẽ cố gắng kể cho các bạn, một cách trung thực nhất, về một biến cố được coi là đang xảy ra tại một ngôi làng nhỏ bé, giữa vùng đồi núi thuộc miền Trung nước Nam Tư. Đó là một biến cố tôn giáo siêu nhiên, nên chắc chắn sẽ bị nhiều người nhìn nó với con mắt hoài nghi. Quả thật, vì đây lại là vùng Công giáo toàn tòng, nên càng bị nghi ngờ hơn nữa.
Đã hẳn, nếu chính cá nhân tôi không tin rằng có một việc quan trọng đang xảy ra ở nơi đó, thì tôi sẽ không bao giờ viết về nó. Tuy nhiên, xin nói ngay từ đầu: Tôi không có ý định tuyên truyền để người ta theo đạo Công giáo, vì chính tôi không phải là người Công giáo; tôi cũng không định tuyên truyền để người ta tin vào Thiên Chúa. Hãy để cho mỗi người tự quyết định về nhu cầu của mình dựa trên các thông tin Phần tôi, tôi chỉ muốn tặng các thông tin này cho các bạn nhân dịp Noel thôi.
Từ bốn năm rưỡi nay, Mễ Du, một ngôi làng nhỏ bé tại vùng đồi núi miền Trung nước Nam Tư, đã lôi kéo sự chú ý của thế giới như là nơi mà Thân Mẫu Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, được cho là đã hiện ra mỗi ngày cho sáu thiếu niên nam nữ. Khi tôi viết bài này, những cuộc hiện ra được báo là vẫn tiếp diễn hằng ngày. Mặc cho những nỗ lực từ phía nhà cầm quyền, nhằm gây hoang mang trong dân chúng về tính xác thực của sự việc này và cản trở người ta tới nơi hiện ra, hằng triệu người đã và đang đổ xô đến đó, để được tai nghe mắt thấy điều đang xảy ra. Nam Tư dĩ nhiên là một nước Xã hội Chủ nghĩa, không công nhận một tôn giáo nào, cũng không tin sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nhưng dân chúng lại đa số là Công giáo, nên Nhà nước bất đắc dĩ đành cho phép họ làm việc thờ phượng bên trong các nhà thờ mà thôi.
Theo chứng của mấy trẻ, gọi là thị nhân, sứ điệp của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc thì đơn giản và rõ ràng: Người hiện đến với các thị nhân, để nói cho thế giới hãy mau kíp quay về với đường lối Thiên Chúa, hoán cải lối sống của mình mà giao hòa với Thiên Chúa và với đồng loại. Bà sẽ trao cho mỗi thị nhân mười sứ điệp – hoặc “bí mật” - về những gì sẽ xảy đến trên thế giới một ngày rất gần. Những sứ điệp (hay bí mật) đó sẽ là những dấu trông thấy được, cho nhân loại biết là sự kiện hiện ra tại Mễ Du thì có thật, và việc trở lại với Thiên Chúa phải được bắt đầu từ bây giờ. Khi Bà thôi hiện ra với các thị nhân - lúc nào, thì chỉ có sáu em đó biết thôi - sẽ có một Dấu lạ trường kỳ để lại tại Mễ Du. Dấu lạ ấy sẽ khởi phát nhiều việc chữa lành bệnh tật và nhiều cuộc hoán cải trong thời gian ngắn ngủi còn lại, trước khi các bí mật được thực hiện .
Theo lời các em thị nhân, con đường dẫn đến hối cải là cầu nguyện và ăn chay. Từ những lần hiện ra đầu tiên ngày 24-6-1981, các em thị nhân dành 4 giờ mỗi ngày để cầu nguyện, hoặc có khi hơn; các em ăn chay ba lần mỗi tuần với bánh mì và nước lã.
Cho những ai có tính hoài nghi trước một sự kiện như thế, khoảng cách về tuổi của sáu thiếu niên tại Mễ Du là một điều đáng chú ý. Lúc ban đầu, em nhỏ nhất chỉ mới có 10 tuổi, một em khác 15 tuổi, ba em 16 tuổi và em lớn nhất 17 tuổi. Bốn gái và hai trai.
Các thiếu niên được Đức Trinh Nữ Maria hiện ra này là ai? Chúng là những trẻ bình thường, chỉ khác nhau (như tôi đã nói) ở tuổi tác và cá tính. Tất cả các em đều có trí thông minh trung bình, chỉ trừ Mirjana Dragicevic, em thứ ba trong các em có tuổi lớn nhất, thì đang học Đại học Sarajevo, nơi gia đình em hiện đang sống.
Marija Pavlovic, một trong mấy đứa lớn nhất trong nhóm, có chiều cao trung bình, thân hình mảnh mai, là thị nhân điềm tĩnh nhất và có đời sống thiêng liêng sâu sắc nhất. Em dự định trở thành nữ tu.
Vicka Ivankovic, em lớn tuổi hơn cả, cũng dự định đi tu. Em có thân thể khỏe mạnh, gương mặt rất biểu cảm. Em là người thu hút nhất trong nhóm, nhưng không hề có vẻ gì “làm bộ” cả.
Ivanka Ivankovic, trẻ nhất trong bốn cô gái, là thiếu nữ duy nhất trong nhóm có dự định kết hôn. Em xinh xắn nhất và có dáng dấp gái choai choai thời đại, nhưng đạo đức lại rất vững vàng.
Ivan Dragicevic, lớn nhất trong hai cậu con trai, ước ao làm linh mục. Cậu có tính nhút nhát, thích kín đáo nhất trong nhóm và luôn có vẻ nghiêm trang, trầm ngâm.
Thị nhân trẻ tuổi nhất, sinh động nhất, nay đã 13 tuổi, là Jacov Colo. Khi các cuộc hiện ra bắt đầu, em mới có 10 tuổi. Cũng như các thị nhân khác, em hoàn toàn bình thường.
Sự hiện diện của bé trai (Jacov) hiếu động này trong nhóm thị nhân, nói lên sự xác thực của các cuộc hiện ra. Cứ so sánh em này với con hay em trai ta cùng tuổi đó: thật rất khó lòng mà nó chịu đi nhà thờ cầu nguyện từ hai đến ba giờ mỗi ngày, mùa hè cũng như mùa đông, trời tốt cũng như trời xấu, đằng đẵng suốt bốn năm trời, chỉ để làm cho người ta tin rằng nó đã thấy một sự hiện ra thánh thiêng từ Thiên Chúa.
Chỉ cần lấy lứa tuổi và tính nết của các thị nhân cũng như tính cách liên tục, bền bỉ của các lần hiện ra cho các em, thì cũng đủ làm bằng chứng về một sự gì đó hết sức phi thường đang diễn ra.
Có quá nhiều điều để nói về Mễ Du. Có lẽ một trích đoạn dưới đây từ một báo cáo trình lên Đức Giáo Chủ, do yêu cầu của Đức Maria (theo lời các em), sẽ tóm tắt phần này tốt nhất. Một linh mục Công giáo tên Tomislav Vlasic, người đã liên quan đến sự kiện hiện ra từ những ngày đầu, được Mirjana yêu cầu làm việc này.
Sau đây là một đoạn trong báo cáo ấy của linh mục:
Theo lời Mirjana, trong lần hiện ra ngày 25-12-1982, Đức Mẹ trao cho em bí mật thứ mười, cũng là bí mật cuối cùng, và cho em biết ngày tháng sẽ thể hiện các bí mật đó. Đến lúc này thì Đức Trinh Nữ tiết lộ cho Mirjana nhiều khía cạnh của tương lai hơn, so với các em thị nhân kia cho đến bây giờ. Vì lý do đó, con xin tường trình những gì Mirjana đã nói với con, trong lần nói chuyện hôm 5-11-1983. Con nói tóm tắt những điều chính yếu em đã nói mà không trích dẫn nguyên văn.
Mirjana nói: “Trước khi Dấu chỉ hữu hình được ban cho nhân loại, sẽ có ba cảnh báo cho thế giới. Những cảnh báo này sẽ xảy đến trên mặt địa cầu, Mirjana sẽ làm chứng về chúng. Ba ngày trước khi xảy ra một trong những cảnh báo đó, em sẽ báo cho một linh mục do em chọn. Chứng tá của Mirjana sẽ là một xác nhận sự kiện hiện ra là thật và là sự thúc giục người ta ăn năn hối cải. Sau ba lần cảnh báo này, một Dấu chỉ hữu hình sẽ được ban cho toàn nhân loại tại địa điểm hiện ra ở Mễ Du. Dấu chỉ đó sẽ được ban ra, như một xác minh về sự kiện hiện ra và như một lời kêu gọi loài người trở lại với đức tin.
Bí mật thứ chín và thứ mười gồm những chuyện nghiêm trọng. Đó là những trừng phạt tội lỗi của thế giới. Trừng phạt không thể nào tránh khỏi, bởi chúng ta không trông mong có sự hối cải của cả thế giới. Hình phạt có thể được giảm bớt nhờ lời cầu nguyện và đền tội - nhưng không thể bỏ hẳn. Mirjana nói: Có một tai họa đe dọa thế giới theo bí mật bảy, đã được giảm bớt nhờ cầu nguyện và ăn chay. Bởi vậy, Đức Trinh Nữ liên tiếp kêu gọi cầu nguyện và chay tịnh: “Các con đã quên là với cầu nguyện và chay tịnh, các con có thể chặn đứng chiến tranh và làm đình chỉ các định luật thiên nhiên”.
Sau cảnh báo đầu tiên, các cảnh báo khác sẽ xảy ra tiếp theo trong một thời gian ngắn, đủ để người ta có thời giờ mà hối cải.
Đây là thời gian ân sủng và hối cải. Sau Dấu chỉ hữu hình, những người còn sống sẽ chỉ có ít thời gian để ăn năn hối cải. Chính vì lý do đó mà Đức Trinh Nữ Diễm Phúc kêu gọi loài người hãy cấp bách ăn năn hối cải và làm hòa với Thiên Chúa.
Lời kêu gọi cầu nguyện và đền tội có mục đích đẩy lui cái ác và chiến tranh, và nhất là để cứu các linh hồn.
Theo lời Mirjana, chúng ta đang gần kề những biến cố đã được Đức Trinh Nữ tiên báo. Vì vậy, Mirjana nói với nhân loại: “Hãy mau mắn ăn năn hối cải càng sớm càng tốt! Hãy mở lòng ra với Thiên Chúa!”
Cha Vlasic cho thêm một số thông tin liên quan đến các bí mật, nhân một cuộc phỏng vấn thu băng vào tháng 8-1983: “Các thị nhân nói rằng: một khi các bí mật mà Đức Mẹ đã ủy thác cho các em được thực hiện, cuộc sống trên thế giới sẽ thay đổi. Sau đó, nhân loại sẽ tin như thời xưa. Cái gì thay đổi và thay đổi như thế nào, chúng ta sẽ không biết được cho đến khi các bí mật được tiết lộ.”
Những dòng chữ ngắn ngủi trên này bao hàm rất nhiều điều về các biến cố phi thường tại Mễ Du. Còn việc những sự đó có xác thực hay không, đó là tùy mỗi người chúng ta quyết định lấy.
* * *
Tôi ngả đầu ra phía sau, rồi duỗi người ra. Hai tiếng đồng hồ đã trôi qua, cũng bằng với thời gian như khi tôi ngồi thẫn thờ vài tuần trước đây, đăm đăm nhìn vào tờ giấy trắng nguyên si, không viết được chữ nào. Lần này, hình như không lâu bằng. Tôi không thể nhớ mình đã từng bao giờ viết được cái gì một cách dễ dàng như thế.
Cầm xấp giấy đi vào khu in ấn, tôi báo cho Smitty biết bài này và ba bài sau sẽ đăng dài hơn bình thường. Thế rồi, tôi đóng cửa văn phòng và trở về nhà.
-
“Các con hãy cầu nguyện liên lỉ, và bằng cách đó, Mẹ sẽ ban cho các con niềm hân hoan mà Thiên Chúa ban cho Mẹ...”
Chương 6
CÔNG VIỆC BẮT ĐẦU LAN RỘNG
Nhưng giờ đây, khi đang lái xe trên đường về nhà, những tư tưởng tiêu cực về tác dụng của bài viết về một đề tài tôn giáo bất thường đó bắt đầu tấn công tôi. Việc đó sẽ ảnh hưởng đến uy tín nhà báo của tôi ra sao? Mà thật ra, tôi có được chút uy tín nào không? Tôi khá ngạc nhiên thấy mình mới vừa hớn hở, phấn khởi vì đã hoàn thành được bài thứ nhất, giờ đây lại hoang mang tột độ, vì không biết mình có làm đúng hay không khi viết lại sự kiện ấy.
Khi về đến nhà, tôi chắc chắn mình đã phạm sai lầm. Sự bình an và niềm hân hoan thiêng liêng, do sứ điệp tôi đã lãnh được, đang bị đè bẹp bởi lo toan của cuộc sống thực tế hằng ngày. Tôi ngồi xuống với Terri, nói với nàng về nỗi lo âu của tôi, khi xuất bản những gì tôi đã cất công miệt mài nghiên cứu suốt một tháng qua. Như mọi lần, nàng có ngay những lời nói hợp tình hợp lý: “Coi kìa, anh đã viết về Mễ Du rất khách quan, và anh thực sự cảm thấy được kêu gọi để làm việc đó. Vậy hãy nghe theo con tim mà làm đi. Sẽ không có ai cười chê anh đâu! Đó là câu chuyện hấp dẫn, và em thích những gì anh đã làm đó.” Nàng vừa nói vừa vỗ nhẹ vào mấy trang bản thảo mà tôi đã đưa về nhà cho nàng sửa lại trước khi in.
Tôi quyết định cho ra mắt độc giả, nhưng trong ba ngày trước khi báo lên khuôn, vào chiều thứ hai, tôi đổi ý kiến đến 12 lần. Một khi đã in rồi thì hết đường thu lại.
Trong thời gian này, khi giảng dạy tại trường Chúa nhật, tôi nhất mực giữ đúng theo chương trình giáo huấn của Nhà thờ Tin Lành Lutêrô. Không đá động lời nào đến Mễ Du. Chúa nhật sau ngày tôi đã nhận sứ điệp, tôi nói với Becky Ginley là tôi cảm động sâu xa bởi những gì đang xảy ra ở Mễ Du, từng đó thôi, chứ tôi không đi vào chi tiết.
Vì có mối liên hệ với mục sư Wingard và mục sư phụ tá, Dick Albert, tôi đem chuyện này ra trao đổi với họ, mà không đề cập gì đến sứ điệp riêng tôi đã nhận từ Đức Trinh Nữ Maria. Bill Wingard liền gạt đi, coi đó là một “trò Công giáo”, khi ông trích dẫn thần học Lutêrô, và nêu ra những vấn đề trong Giáo Hội Công giáo, vốn đã dẫn đến phong trào Cải cách và mở đầu cho Giáo Hội Tin Lành xuất hiện. Và đương nhiên, ông cũng nhắc đến “việc tôn thờ Bà Maria”. Đây không phải là lần cuối cùng tôi được nghe những điều này.
Mục sư Albert, dù hết sức thận trọng, cũng không kìm nổi tánh hiếu kỳ. Ông chấp nhận đến dự buổi nói chuyện tổ chức tại Nhà thờ Công giáo ở Bắc Myrtle Beach, để nghe Jim và Rosie Stoffel vừa mới đi hành hương Mễ Du về. Becky Ginley, Mary Jeffcoat, Terri và tôi đã gặp ông tại đấy ngay trước giờ thuyết trình. Xúc động và hài lòng vì ông chịu đến nghe, tôi hăng hái thổ lộ với ông: tôi thực tình tin Đức Trinh Nữ Maria đang hiện ra ở đấy như thế nào.
- “Tôi cũng muốn tin điều đó”, ông nói thận trọng, lựa từng lời, “Nhưng thành thực mà nói, tôi sẽ có xác tín hơn, nếu được thấy bằng chứng chắc chắn, như hình ảnh chẳng hạn.
Những bóng mờ lô nhô ở mé dưới hình bóng Đức Mẹ là các người hành hương đang tụ tập ở đó cầu nguyện. Họ có biết Đức Trinh Nữ Maria đang hiện diện giữa họ không?
Tôi sửng sốt khi thấy giữa buổi diễn thuyết, Jim cho chuyền tay một hình chụp cây Thập Giá khổng lồ bằng xi măng dựng trên núi Krizevac, sau lưng Nhà thờ Mễ Du. Cạnh bên Thập Giá, người ta thấy hình ảnh lờ mờ một bóng hình có vẻ là một phụ nữ, đầu đội khăn voan, đôi tay chắp lại cầu nguyện. Nghe nói cái hình đó do một khách hành hương chụp cây Thập Giá, đến khi rửa phim thì lại thấy hiện lên cái hình bóng bí ẩn này(3). Tôi chăm chú ngó mục sư Albert, khi ông đang xem xét tấm ảnh: “Tấm hình không rõ lắm...”, ông nói.
Qua phản ứng của mục sư phụ tá, tôi thấy rõ một điều: tôi sẽ gặp rắc rối, khi nỗ lực làm cho người ta tin rằng tôi còn có một cái gì gây sửng sốt hơn mấy tấm hình. Nếu tôi kể cho họ nghe rằng Đức Maria thực sự đã nói với tôi và yêu cầu tôi lấy việc loan truyền sứ điệp của Bà làm sứ mệnh của đời tôi, có ai tin tôi chăng?
Sáng hôm sau, khi vào làm việc, tôi thừ người ra vì lo âu. Đến sáng ngày thứ ba, tình trạng còn tệ hơn. Tôi liền đi ngay đến phòng in, lấy một bản của tờ báo Lake City của chúng tôi vừa mới in xong. Tôi mở ra xem bài xã luận của tôi; nó sặc mùi tôn giáo, nhưng trễ quá rồi, không sửa đổi gì được nữa. Bây giờ thì nó đã ở ngoài tầm kiểm soát của tôi. Chẳng có thể làm gì để thay đổi điều không thể tránh khỏi. Lúc ba giờ chiều, báo sẽ được đưa đến bưu điện để phát hành ngày hôm sau.
Thứ tư, 4-12-1985, thời tiết báo hiệu một ngày tươi sáng và nắng ấm - hình như nó muốn chế diễu tâm trạng tồi tệ của tôi. Tôi nói khi bước vào phòng: “Này Denease, cô chuẩn bị mà nghe những tên khùng sắp gọi đến tới tấp đó!”
Quả đúng như vậy, vài phút sau, cô ấy trở vào và nói: “Rồi, đây là người thứ nhất, một ai đó ở Lake City”, rồi cô chỉ vào máy điện thoại: “Anh chàng này vừa cười vừa khóc, tôi không hiểu được anh ta đang nói gì! Nhưng anh ta nhất định đòi được nói chuyện với ông!”
- “Hết xẩy!” tôi lẩm bẩm.
- “Tập quen dần đi ông chủ ơi!” cô phá lên cười, “Tôi chắc là ông sẽ còn phải nghe nhiều lắm đấy!”
Cô đi ra, tôi hít một hơi dài và nhấc điện thoại lên: “Allô!”
- “Có phải là Wayne Weible đấy không, người viết về Mễ Du đó?”
- “Vâng, chính tôi đây!”
- “Tốt quá! Ngợi khen Chúa Giêsu! Tôi vừa tạ ơn Chúa cho ông! Xin Chúa chúc lành cho ông!” Ông ta tiếp tục đều đều như thế, trong khi tôi nhìn sững sờ vào ống nghe. Cuối cùng, ông ta ngừng lại lấy hơi rồi thong thả nói: “Để tôi giải thích cho ông nghe. Tôi tên Scotti, linh mục Sylvester Scotti, tôi là một trong số 100 linh mục Mỹ đến Mễ Du vào tháng 10 năm ngoái. Tôi được đánh động rất nhiều bởi những gì đang xảy ra tại đó, đến nỗi khi trở về nhà, tôi liền đến các hãng báo chí, truyền hình và đài phát thanh lớn ở Nam Carolina, nhưng không một ai đề cập đến chuyện đó. Phải, không ai hết! Rồi sáng nay, tôi ra mở hộp thư, ở đấy, tôi thấy có tờ báo nhỏ, trong đó là bài viết của ông nói về Mễ Du.” Rồi ông ấy lại khóc: “Xin lỗi, tôi xin lỗi, nhưng ông không sao hiểu nó đã tác động đến tôi như thế nào đâu!”
Tôi không biết phải nói gì, chỉ cảm thấy một nỗi xúc động dâng lên trong lòng...
- “Thứ lỗi cho tôi!”, ông ấy nói với giọng bình tĩnh hơn, “Chắc ông tưởng là tôi điên. Không đâu, tôi chỉ là một người Ý thôi!” Cả hai chúng tôi cùng cười.
- “Không, tôi không nghĩ là ông điên. Tôi chỉ bỡ ngỡ về điều ông đang nói với tôi. Tôi thực sự không mong đợi hồi âm tích cực đến thế...”
Rồi chúng tôi trò chuyện - đúng hơn, ông linh mục ấy nói phần lớn. Ông kể cho tôi nghe làm sao ông và các linh mục khác đã có mặt ở tầng hầm nhà xứ, lúc Đức Trinh Nữ Maria hiện ra ở đó với các thị nhân, và trao cho các em một sứ điệp đặc biệt cho các linh mục. Cha Scotti là một linh mục được gọi là linh mục Thánh Mẫu, nghĩa là người hoàn toàn tận hiến cho Đức Trinh Nữ Diễm Phúc. Ông đã đi viếng hầu hết các đền thờ, nơi mà Đức Bà đã hiện ra trong vòng năm thế kỷ qua. Chúng tôi hẹn vài ngày nữa sẽ gặp nhau lại để nói chuyện nhiều hơn.
Đặt ống nghe xuống, tôi đứng lên khóa cửa rồi ngồi vào bàn giấy và để hai dòng lệ tuôn trào. Tôi nhận ra là việc này chứng tỏ bài viết của tôi phải được phát hành. Bên trong tôi như có tiếng nói: “Con thấy chưa?”
Tôi vẫn còn bồi hồi, khi tôi đến phòng làm việc của Terri để kể cho nàng về sự việc mới xảy ra.
- “Lại có vấn đề gì rồi sao?” cô kêu lên khi nhìn thấy vẻ mặt tôi.
- “Cái bài báo của anh ấy mà. Anh vừa nhận được cú điện thoại...”, tôi nghẹn lời không nói được. Sau cùng, tôi phải cố gắng lấy lại bình tĩnh để kể cho nàng nghe về Cha Scotti. Rồi tôi kết luận: “Cái gì xảy ra bây giờ anh cũng cóc cần. Thật rất đáng giá.”
Nàng mỉm cười: “Tuyệt vời!”
Denease báo cho tôi lúc tôi trở lại phòng làm việc: “Thêm ba người gọi nữa và họ còn xin bản sao. Tôi phải làm sao đây?”
- “Trời ơi, cô cứ gởi bản sao cho họ đi! Cái đó đâu có tốn kém bao nhiêu, một con tem với một phong bì chứ mấy!”
Rồi thêm nhiều cú điện thoại nữa, người thì khen ngợi, kẻ vì hiếu kỳ hoặc lo lắng muốn biết sẽ có bài tiếp theo nữa hay không. Khi tôi đến ngân hàng chiều hôm đó, các nhân viên xúm lại hỏi chuyện tôi, bảo rằng họ rất thích những gì đang xảy ra tại ngôi làng nhỏ bé đó.
Một người trong bọn họ nói: “Anh biết không, chúng tôi không nghi ngờ chút nào việc đó là do Thiên Chúa.”
Tôi hỏi: “Cô là người Công giáo à?”
- “Anh nói giỡn sao? Chúng tôi đều là tín đồ Báptít!”
Tôi bật cười; cái này vượt quá sự ước mong của tôi. Đến cuối ngày, chúng tôi đã nhận được hơn một tá cú điện thoại.
Cho tới nay, chưa có bài báo nào của tôi lại gây ra được nhiều phản hồi đến thế. Tiếp theo sau là những lá thư bắt đầu dồn dập tới.
Thường thì tôi hoãn đến phút chót, tức là ngày thứ sáu mới viết bài, nhưng đến thứ năm, với các ý tưởng đầy ắp trong đầu và đã sẵn sàng đến nỗi tôi quyết định viết phần thứ hai sớm hơn một ngày. Lần này, tôi phác họa một đại cương để theo, nhưng sau đó lại xé đi, vo tròn và liệng vào sọt rác. Tôi dâng một lời nguyện vắn tắt, để xin ơn trên hướng dẫn cho biết việc phải làm... và tôi nhận thấy cầu nguyện như vậy thật dễ chịu.
Tôi cầm lấy quyển sách của Cha Svetozar. Người ta thường hỏi: “Thật ra, các thị nhân được phán bảo điều gì?” Thế thì tại sao lại không nói cho họ biết? Một lần nữa, mười ngón tay tôi lại lướt như bay trên bàn phím máy đánh chữ...
Ngày 12-11-1985
Phần 2: Cuộc đàm thoại với Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu
Đây là bài thứ hai trong loạt bốn bài (hay bốn phần) đặc biệt mà tôi viết cho mùa Giáng Sinh. Sự quan tâm các bạn đọc dành cho bài phần thứ nhất đã rất tốt và tích cực. Vì tính chất siêu phàm của biến cố tôn giáo, tôi xin lược thuật vài điều trong bài báo kỳ trước.
Trước hết, riêng tôi cảm thấy có điều gì đó... rất quan trọng và có ý nghĩa đối với tất cả mọi người, bất luận thuộc tôn giáo nào, đang xảy ra tại Mễ Du...
Sau đây, xin trích đăng vài đoạn chọn lọc, từ những cuộc nói chuyện giữa các thị nhân với Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, do chính các em kể lại:
Nhân lần hiện ra chiều thứ tư, sau lần hiện ra đầu tiên vào ngày 24-6-1981, Ivanka hỏi Bà tên gì. “Ta là Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc”, Bà đáp. Sau đó, Vicka nói: “Nếu Bà là Đức Mẹ, xin hãy ở lại; nếu không, hãy đi đi!” Bà đã cười và ở lại.
Vicka hỏi: “Tại sao Bà đến?” Bà đáp: “Ta đến vì ở đây có nhiều tín hữu tốt. Ta muốn ở với các con, để hoán cải và hòa giải tất cả mọi người.”
Một lúc sau, cũng trong cuộc hiện ra ấy, một thị nhân khác, Marija, thấy Bà khi em này đang trên đường xuống khỏi ngọn đồi nơi Bà đã hiện ra lúc nãy. Em dừng ngay lại, rẽ về bên trái và quỳ phục xuống. Em kể: “Đức Mẹ đang đứng đàng trước một cây Thập Giá, mắt đẫm lệ. Mẹ lặp đi lặp lại nhiều lần: “Hòa bình, hòa bình, hòa bình, hãy hòa giải với nhau.”
Nhiều lần trong các cuộc hiện ra, Bà nói hướng về dân chúng: “Hãy tin như thể chính các con được thấy vậy.”
Ngày 29 tháng 6, các thị nhân xin Bà chữa lành cho một bé trai (Daniel) hai tuổi rưỡi bị câm và bại liệt. Jacov thuật lại lời đáp của Bà: “Cha mẹ em đó hãy tin và con trai họ sẽ được chữa lành.” Đến chiều tối, đang trên đường về nhà, họ dừng lại ở một quán ăn, bỗng đứa bé câm đập tay lên bàn và nói: “Con muốn uống nước.” Từ đó, em nói và đi được.
Bà đã dạy cho nhiều người khác cầu nguyện, ăn chay và xin với Chúa Giêsu chữa lành các bệnh tật của họ. Theo lời của dân chúng ở đây, nhiều người đã được lành bệnh. Một lần nữa, cũng về vấn đề chữa lành, Đức Maria nói với các thị nhân: “Ta không thể chữa lành, chỉ mình Thiên Chúa có quyền phép ấy. Ta cần lời cầu nguyện và hi sinh của các con để giúp Ta.”
Bà nói tiếp (khi khẩn trương nói về sự cần thiết phải ăn năn hối cải): “Điều duy nhất mà Ta muốn nói là: “Hãy hối cải!” Ta nói với các con điều này, để các con nói lại cho toàn thể thế giới. Ta chỉ xin mọi người hãy ăn năn hối cải. Hãy sẵn sàng cho mọi sự và hãy hối cải. Hãy vất bỏ những gì cản trở các con ăn năn hối cải.”
Về việc cầu nguyện và đức tin, Bà nói: “Chớ gì họ (những người ở Mễ Du và những người đến viếng đây, kể cả những người nghe nói về Mễ Du) hãy tin như là chính họ được thấy; hãy tin vững vàng. Có nhiều tín hữu không cầu nguyện; đức tin không sống được nếu thiếu sự cầu nguyện.”
Khi các em hỏi, theo yêu cầu của một linh mục, người ta nên cầu nguyện với Đức Giêsu hay với Đức Maria, Bà đáp: “Xin hãy cầu nguyện với Đức Giêsu. Ta là Mẹ của Ngài và Ta chuyển cầu với Ngài cho các con. Nhưng mọi lời cầu nguyện đều dâng lên Đức Giêsu. Ta sẽ giúp đỡ các con: Ta sẽ cầu nguyện cho các con, nhưng tất cả mọi sự không tùy thuộc vào Ta. Nó tùy nơi sức mạnh của các con, sức mạnh của những người cầu nguyện.”
Về câu hỏi tại sao Bà lại chọn hiện ra ở Mễ Du: “Ta đã đặc biệt chọn giáo xứ này. Ta muốn bảo vệ các con và hướng dẫn các con trong Tình Yêu. Và bởi đó, Ta xin toàn cả giáo xứ hãy ăn năn trở lại, để khách hành hương tìm thấy ở đây một nguồn ơn hối cải.” Trong khi ban sứ điệp này, Bà cũng yêu cầu họ đọc lại một đoạn đặc biệt, trích từ Tin Mừng Thánh Matthêô, chương 6, câu 24 đến 34. (Đoạn này nói về sự tin cậy vào Chúa Quan phòng săn sóc mọi người).
Jelena, 10-11 tuổi, lúc em được Đức Mẹ bắt đầu phán bảo trong nội tâm.
Trong Tuần Thánh, đặc biệt vào năm 1984, Đức Trinh Nữ Maria nói với giáo xứ qua em Jelena, một em được “thụ khải” (tức là chỉ được nghe tiếng Đức Mẹ phán bảo trong nội tâm):
“Các con hãy giang tay lên và mở lòng ra. Giờ đây, vào lúc Chúa sống lại, Ngài muốn ban cho các con một quà tặng đặc biệt, đó là: Các con sẽ trải qua nhiều thử thách một cách bình an. Chúng Ta (Chúa Giêsu và Đức Mẹ) sẽ ở bên các con và sẽ chỉ lối thoát cho các con, nếu các con chấp nhận Chúng Ta. Đừng nói rằng: Năm Thánh đã hết và không cần cầu nguyện nữa! Trái lại, hãy tăng cường cầu nguyện, vì Năm Thánh chỉ là bước tiến về phía trước.” Sau đó, Jelena cho biết là em được thấy Chúa Giêsu sống lại, với một luồng ánh sáng từ các vết thương của Ngài chiếu tỏa xuống dân chúng. Chúa Giêsu nói: “Hãy nhận lấy các ân phúc của Ta, và nói với toàn thể thế giới là hạnh phúc chỉ có được từ nơi Ta.”
Một điểm cuối cùng của phần viết trong loạt bài này là: Ngày nay, toàn bộ giáo xứ Mễ Du - dĩ nhiên trừ một số ít - tham dự các buổi thờ phượng ở Nhà thờ hằng ngày, các việc này thường kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Phép lạ lớn nhất và được coi như là một sự kiện đã được chứng thực, đó là sự hoán cải của toàn thể cộng đoàn giáo xứ, vốn đã trung thành, nếu xét theo những chuẩn mực của ta ngày nay.
* * *
Lần này thì tôi rất sẵn sàng để trả lời cho mọi người. Bất cứ nơi nào tôi đặt chân đến - siêu thị, cây xăng, câu lạc bộ - đâu đâu người ta cũng nói về mấy bài báo của tôi. Một số đông xin tôi các bản sao của bài thứ nhất, vì họ chưa được đọc - hoặc của cả hai bài, để họ có thể chuyền cho người khác xem. Hầu như suốt cả tuần ấy, tôi sống như bay bổng trên mây.
-
“Bằng sự chay tịnh, các con sẽ cho Mẹ niềm vui để thực hiện các kế hoạch của Thiên Chúa...”
Chương 7
VÀ TIẾP TỤC...
Lần này, tôi không muốn đợi đến thứ sáu mới bắt đầu viết phần thứ ba; tôi chỉ đợi được đến thứ năm thôi! Tôi nhận được đủ thứ câu hỏi: thế nào, tại sao... và tôi quyết định để chính các thị nhân trả lời cho họ. Một trong những yếu tố vững vàng nhất trong cuốn sách của Cha Svetozar, là những cuộc phỏng vấn các em, do tác giả và một linh mục khác, cha Tomislav Vlasic, thực hiện.
Trong phần ba này, tôi muốn nêu nổi bật hai nhân vật đã cùng nhau làm nên một việc rất thú vị, đó là trả lời giùm cho các câu hỏi mà tôi đang nhận được rất nhiều.
Ngày 18-12-1985
Phần 3: Phỏng vấn các thị nhân
Mới đó mà hai tuần lễ đã trôi qua, từ khi tôi bắt đầu phát hành loạt bài báo đặc biệt tường thuật việc Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đang hiện ra cho một nhóm thiếu niên ở Nam Tư.
Các bài báo này đề cập đến một đề tài khó viết nhất mà tôi đã từng thử trong đời ký giả, nhưng nếu xét trên quan điểm đã làm được một điều gì xứng đáng, thì đó lại là loạt bài làm tôi hài lòng nhất. Về phương diện nghề nghiệp, tôi muốn độc giả xem đây là một việc thông tin khách quan: còn cá nhân tôi, tôi muốn nó gợi lên nơi bất cứ ai đọc nó, ý muốn củng cố mối quan hệ của họ với Thiên Chúa và với đồng loại. Đó là mục đích sự xuất hiện những trang viết này, nhân dịp lễ Giáng Sinh.
Tuần này, chúng ta đề cập đến hai cuộc phỏng vấn hai trẻ thị nhân. Những câu đáp được lấy trực tiếp từ băng ghi âm cuộc nói chuyện với chúng. Tôi tự ý bỏ bớt vài phần, để có thể cho trích đăng càng nhiều càng tốt những bài phỏng vấn ấy.
Trích từ sách “Các cuộc hiện ra của Đức Mẹ ở Mễ Du”, của linh mục Svetozar Kralijevic - dòng Phan Sinh :
Cha Vlasic phỏng vấn Mirjana
Cha Vlasic: Mirjana, chúng ta đã lâu không gặp nhau, vậy cha mong con vui lòng kể lại cho cha nghe về các lần hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc, và nhất là những biến . cố có liên quan đến con.
Mirjana: Con đã được thấy Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc suốt mười tám tháng qua, và con nghĩ là đã hiểu được Đức Mẹ nhiều. Con cảm thấy Người thương con bằng tình mẫu tử, do đó, con có thể thoải mái hỏi Người về bất cứ điều gì con muốn biết. Con có xin Người giải thích đôi điều về thiên đàng, luyện ngục và hỏa ngục mà con chưa hiểu rõ; chẳng hạn, con hỏi Đức Mẹ tại sao Thiên Chúa có thể nhẫn tâm đẩy người ta xuống hỏa ngục, để phải chịu đau khổ đời đời. Con thiết tưởng: nếu có người phạm tội ác và phải bị đi tù, người ấy chỉ ở đó một thời gian rồi được tha về; nhưng xuống hỏa ngục thì sao lại mãi đời đời? Đức Mẹ bảo con rằng: những linh hồn phải sa địa ngục không còn nghĩ tốt về Chúa nữa, và họ nguyền rủa Chúa càng ngày càng hơn. Vì vậy, họ đã trở nên một phần của hỏa ngục, và họ đã chọn không muốn được giải thoát khỏi đó. Rồi Đức Mẹ nói với con là luyện ngục có nhiều cấp: có những cấp ở gần hỏa ngục và những cấp cao hơn, cao hơn về hướng thiên đàng. Đức Mẹ nói: Đa số người ta tưởng là các linh hồn được giải thoát khỏi luyện ngục để lên thiên đàng vào ngày lễ Các Thánh Nam Nữ (và Các Đẳng), nhưng (thực ra) phần đông các linh hồn được đưa về thiên đàng vào ngày Lễ Chúa Giáng Sinh.
Cha V.: Con có hỏi Đức Mẹ tại sao Thiên Chúa cho phép có hỏa ngục không?
Mirjana: Thưa không, nhưng về sau, con có trao đổi với dì con về điều đó. Dì con nói: Thiên Chúa nhân từ biết là chừng nào! Do đó, con nói là con sẽ hỏi Đức Mẹ tại sao mà Thiên Chúa có thể...
Cha V.: Theo như con vừa nói, thì đơn giản là như thế này: người nào chống đối Thiên Chúa khi còn sống tại thế sẽ tiếp tục cuộc sống của họ sau khi đã ly trần, để chống đối Thiên Chúa trong hỏa ngục?
Mirjana: Quả thực, con vẫn nghĩ nếu một người sa hỏa ngục... sao dân chúng không cầu nguyện để họ được cứu rỗi ? Sao Thiên Chúa có thể nhẫn tâm bịt tai không nghe họ cầu xin? (ý muốn hỏi: những người trong hỏa ngục không cầu nguyện sao và Thiên Chúa không nghe lời họ cầu xin sao?)(4) Thế là Đức Mẹ liền giải thích cho con thế này: Những người ở trong hỏa ngục không cầu nguyện gì cả, thay vào đó, họ trách Thiên Chúa về mọi sự. Trong thực tế, họ trở nên một với hỏa ngục và sống quen với hỏa ngục. Họ tức giận, căm hờn Thiên Chúa và họ đau khổ, nhưng họ luôn từ chối cầu nguyện với Thiên Chúa.
Cha V.: Để xin Chúa ban ơn cứu rỗi à?
Mirjana: Ở hỏa ngục, họ còn ghét Thiên Chúa nhiều hơn.
Cha V.: Về luyện tội, con nói là nhiều linh hồn thường xuyên cầu nguyện, và thỉnh thoảng được phép liên lạc thông tin với người còn sống trên trần, và họ được hưởng những ơn ích do lời cầu nguyện của kẻ còn sống, phải không?
Mirjana: Thưa cha vâng, những lời cầu nguyện của người còn sống cho các linh hồn, trước kia khi còn sống không chịu cầu nguyện cho ơn cứu rỗi của mình, thì nay được áp dụng cho các linh hồn trong luyện tội đang cầu xin được cứu rỗi.
Cha V.: Đức Mẹ phải chăng đã nói với con là ngày nay, nhiều người sa xuống hỏa ngục ?
Mirjana: Vừa rồi con có hỏi Đức Mẹ về điều này, và Đức Mẹ nói là: Ngày nay, phần đông người chết rơi vào luyện ngục, một số lớn sa xuống hỏa ngục, chỉ một số ít lên thẳng thiên đàng.
Cha V.: Chỉ một số ít lên thẳng thiên đàng thôi sao?
Mirjana: Vâng, chỉ một số ít - một số nhỏ nhất - lên thiên đàng.
Cha V.: Con có hỏi về những điều kiện để vào thiên đàng không?
Mirjana: Thưa không, con không hỏi, nhưng chúng ta cũng dư biết là cần có những điều kiện gì rồi. Thiên Chúa không tìm kiếm những tín đồ vĩ đại, nhưng đơn giản những ai tuân giữ đức tin và sống bình an, không gian dối, hiểm độc, xảo trá.
ChaV.: Điều này là do con diễn giải đấy chứ?
Mirjana: Vâng, sau khi nói chuyện với Đức Mẹ, con đi đến kết luận thế này: không ai buộc phải làm những phép lạ cả thể, hay những việc đền tội nặng nề, chỉ cần sống một cuộc đời đơn sơ và an hòa.
Cha V.: Vậy ngoài chuyện thiên đàng, hỏa ngục và luyện ngục, dạo này còn có điều gì mới nữa không?
Mirjana: Đức Mẹ bảo con phải nói cho người ta là: ngày nay, nhiều người giữ đạo tùy theo cách họ xét đoán vị linh mục của họ. Nếu linh mục không thánh thiện, họ kết luận là không có Thiên Chúa. Đức Mẹ nói: “Các con không đi Nhà thờ để xét đoán các linh mục, để xem xét đời sống cá nhân của các ngài. Các con đi Nhà thờ để cầu nguyện và nghe Lời Thiên Chúa qua linh mục.” Điều này phải được giải thích cho dân chúng, vì nhiều người bỏ đức tin vì cớ các linh mục.
Hôm nay, cũng như đã từ lâu, Đức Trinh Nữ nói với con: Thiên Chúa và ma quỉ đối thoại với nhau, và ma quỉ cho là người ta chỉ tin vào Thiên Chúa khi cuộc sống họ yên ổn, tốt đẹp. Khi mọi việc trở nên tồi tệ, họ không tin vào Thiên Chúa nữa. Rồi họ phàn nàn, trách móc Thiên Chúa và hành động y như không có Thiên Chúa. Bởi đó, Thiên Chúa cho phép ma quỉ lộng hành trên thế giới trong vòng một thế kỷ, và ma quỉ đã chọn thế kỷ thứ 20. Ngày nay, như chúng ta đang thấy quanh ta, mọi người đều bất mãn: người ta không còn có thể sống với nhau được nữa. Những con số ly dị và phá thai là những thí dụ điển hình. Tất cả những điều này, Đức Mẹ bảo là việc làm của ma quỉ.
Cha V.: Lối sống ấy của loài người là do ảnh hưởng của ma quỉ chi phối, nhưng ma quỉ không cần phải ở trong họ chứ?
Mirjana: Không, không. Ma quỉ không ở trong họ, nhưng họ đang ở dưới ảnh hưởng của ma quỉ, tuy cũng đã có lúc nó nhập vào một số người.
Để ngăn chặn tai họa này, trong chừng mực nào đó, Đức Mẹ bảo chúng ta cần cầu nguyện chung nhau trong cộng đoàn, và chung trong gia đình. Đức Mẹ nhấn mạnh sự cần thiết của việc đọc kinh chung trong gia đình hơn cả. Mọi gia đình cũng cần có ít nhất một đồ vật đã được làm phép ở trong nhà, và nhà cửa cần được làm phép (rảy nước thánh) đều đặn.
Đức Mẹ cũng nhấn mạnh về sự thiếu tu sĩ, (linh mục), nhất là trong các làng nhỏ, như làng Mễ Du chẳng hạn. Ở đó, dân Serbia (theo đạo Chính thống) và người Hồi giáo chia rẽ nhau. Sự chia rẽ này không tốt. Đức Mẹ luôn nhấn mạnh là chỉ có một Thiên Chúa, còn dân chúng lại cổ võ sự chia rẽ không tự nhiên này. Một người không thể nào thật lòng tin Chúa, không thể là một người Công giáo chân chính, nếu người ấy bất kính đối với tôn giáo khác. Các bạn không thực sự tin vào Thiên Chúa, nếu các bạn giễu cợt các tôn giáo khác.
Cha V.: Thế thì vai trò của Chúa Giêsu Kitô là gì, nếu Hồi giáo là một tôn giáo tốt?
Mirjana: Đức Mẹ và con không bàn đến chuyện đó. Đức Mẹ chỉ giải thích và than phiền về sự thiếu đoàn kết tôn giáo, “nhất là trong các thôn làng”. Đức Mẹ nói là tôn giáo của mỗi người đều phải được tôn trọng, và dĩ nhiên, tôn giáo của chính mình.
Cha V.: Hãy nói cho cha biết: ngày nay, ma quỉ hoạt động đặc biệt tích cực ở nơi nào? Đức Mẹ có nói gì với con về điểm này không? Nó xuất hiện nhiều nhất qua ai và cách thức thế nào?
Mirjana: Phần lớn là qua những người có cá tính yếu đuối, luôn tự phân hóa trong nội tâm. Những người đó có ở khắp nơi, họ là những mục tiêu dễ dàng nhất cho ma quỉ tấn công. Nhưng nó cũng nhập vào đời sống của ngay cả những kẻ tin mạnh mẽ - các nữ tu chẳng hạn. Nó thích “cải hóa” những người tin hơn là người vô tín. Con giải thích điều này thế nào nhỉ? Cha đã thấy việc gì xảy đến cho con rồi đó.(5) Nó cố đem càng nhiều tín hữu về với nó càng tốt.
Cha V.: Vậy thì, chúng tôi có thể cho rằng một trong sáu các con sẽ tiết lộ ba bí mật trước khi Dấu lạ vĩ đại xuất hiện, các bí mật còn lại sẽ được tiết lộ từng cái một, có phải không? Có điều gì nữa về chuyện này không?
Mirjana: Thưa cha, không phải như vậy đâu, mà như vầy nè! Trước tiên, vài bí mật sẽ được tiết lộ - vài cái thôi. Rồi người ta sẽ tin thật là Đức Mẹ đang hiện diện ở đây, và sẽ hiểu ý nghĩa của Dấu lạ. Khi Jacov nói: ông Thị Trưởng sẽ là người đầu tiên chạy lên đồi, em ấy muốn nói chung đến hạng người cấp cao trong xã hội. Họ sẽ hiểu Dấu lạ đó là dịp phải hoán cải. Họ sẽ chạy lên đồi để cầu nguyện, và họ sẽ được tha thứ. Khi con hỏi Đức Mẹ về số phận người vô tín, Đức Mẹ nói: “Mọi người phải cầu nguyện cho họ và chính họ cũng phải cầu nguyện”. Nhưng mới đây, khi con hỏi lại Đức Mẹ, thì được đáp: “Chớ gì họ biết ăn năn hối cải khi đang còn thời gian.” Không thấy Đức Mẹ bảo là phải cầu cho họ.
Cha V.: Con không thể nói đôi điều gì đặc biệt (về các bí mật) trước lúc Đức Mẹ cho phép con nói ư?
Mirjana: Dạ phải.
Cha V.: Đức Mẹ nói gì? Chúng ta phải chuẩn bị thế nào cho những gì sẽ xảy ra?
Mirjana: Vâng, phải chuẩn bị! Đức Mẹ nói là: mọi người phải chuẩn bị linh hồn, hãy sẵn sàng và đừng hoảng sợ; phải giao hòa trong tâm hồn. Họ phải sẵn sàng cho điều tệ hại nhất, sẵn sàng chết nếu ngày mai nó xảy ra. Họ cần phải chấp nhận Thiên Chúa ngay bây giờ, như vậy, họ sẽ không còn phải sợ hãi. Họ phải chấp nhận Thiên Chúa và tất cả mọi sự khác. Không ai chấp nhận chết cách dễ dàng, nhưng họ có thể có bình an trong tâm hồn, nếu họ là những kẻ tin. Nếu họ tin phục vào Thiên Chúa, Người sẽ đón nhận họ.
Cha V.: Thế nghĩa là một sự hoán cải và đầu phục hoàn toàn cho Thiên Chúa?
Mirjana: Vâng.
Cha V.: Sau mười bí mật này, và sau 18 tháng được diện kiến với Đức Mẹ, nay con nói gì với dân chúng để họ biết phải làm gì? Con nói gì với các linh mục, Đức Giáo Chủ và các Giám mục, mà không tiết lộ bí mật? Đức Mẹ muốn chúng tôi làm gì?
Mirjana: Trước hết, con xin phép nói với cha điều rốt cuộc xảy đến cho con, và...
Cha V.: Ừ, phải đó.
Mirjana: Hai ngày trước lễ Giáng Sinh, Đức Mẹ nói với con ngày lễ Giáng Sinh sẽ là ngày cuối cùng Người hiện đến với con (con không thể nào tin nổi). Ngày lễ Giáng sinh, Đức Mẹ ở lại với con 45 phút và hai mẹ con nói chuyện với nhau về nhiều điều. Người và con lược tóm những điều hai mẹ con đã nói với nhau trước đây. Vì thiện ích cho nhiều người, con xin Đức Mẹ dạy cho họ biết phải làm gì. Thế rồi, Người ban cho con một món quà rất quí giá: Người nói sẽ hiện ra cho con mỗi năm một lần, vào ngày sinh nhật của con, cho đến suốt đời con. Cũng vậy, không liên can đến Dấu lạ hoặc bất cứ điều gì khác, Người nói Người sẽ hiện ra với con khi nào có điều rất khó khăn xảy đến với con - không phải những khó khăn thường ngày, nhưng là những khó khăn trầm trọng - lúc đó, Người sẽ đến giúp con. Còn bây giờ, con phải sống không có sự hiện diện thể lý của Người, không còn được Người đích thân viếng thăm hằng ngày nữa. Con xin nói với tất cả mọi người: Hãy ăn năn trở lại! - cũng như Người nói: “Hãy hoán cải khi còn thời gian!” Đừng chối bỏ Thiên Chúa và đức tin của mình. Vứt bỏ mọi sự khác thì được, nhưng đừng bỏ Chúa và đức tin.
Cha V.: Đâu là nguy hiểm lớn nhất cho nhân loại? Do đâu mà đến?
Mirjana: Do vắng bóng Thiên Chúa! Không còn ai hay hầu như không còn ai tin nữa. Thí dụ, Đức Mẹ bảo con là đức tin tại nước Đức, Thụy Sĩ và Áo rất yếu ớt. Dân chúng các nước này dựa theo các linh mục mà sống, nếu linh mục của họ không sống gương mẫu, thì dân chúng sa ngã theo và không tin là có Thiên Chúa. Khi ở Askona, con có nghe nói về một linh mục đã được một người giàu có, trước khi chết, trối lại cho một số tiền để xây một nhà nuôi người già. Nhưng vị linh mục đã dùng số tiền ấy để xây một khách sạn. Hiện nay, tất cả dân chúng thành phố ấy đã bỏ đức tin, bởi làm sao một linh mục lại có thể không làm trọn lời trối trăng của một người sắp chết, thay vào đó lại đi xây một khách sạn để kiếm tiền cho chính mình? Tuy nhiên, mọi người phải hiểu rằng: họ không nên dò xét đời sống cá nhân của một linh mục, nhưng nên lắng nghe những gì ngài nói qua Thiên Chúa - tức là Lời Chúa.
Cha V.: Trước khi kết thúc cuộc phỏng vấn, con có muốn nói thêm gì không?
Mirjana: Đức Mẹ có nói một vài điều cho riêng cá nhân con. Người dặn dò con về nhiều vấn đề. Rồi Người nói: “Con hãy đi trong bình an của Chúa!”
Cha V.: Đức Mẹ có nói với con về các thị nhân khác và các lần hiện ra trong tương lai không?
Mirjana: Người cho con là... à... chín chắn hơn các bạn khác, cho nên con phải giúp họ, dành thời gian cho họ và trao đổi với họ. Việc này sẽ làm cho mọi việc trở nên dễ dàng hơn cho họ và cho con. Chúng con phải hiểu nhau và sống đoàn kết với nhau.
Cha V.: Thế Người không đề cập gì đến các diễn biến hoặc những lần hiện ra sắp tới, cho cá nhân mỗi người chúng con hoặc chung cho tất cả nhóm sao?
Mirjana: Con nghĩ là khi mỗi thị nhân biết được đủ mười bí mật, thì Người thôi không hiện ra với người đó nữa.
* * *
Cha Svetozar phỏng vấn Ivanka Ivankovic
Cha Svetozar: Này Ivanka, con và Mirjana đi dạo với nhau ngày hôm đó. Tại sao chúng con đi dạo chung với nhau?
Ivanka: Chúng con thường đi dạo với nhau ở khu vực đó. Trước đó, chúng con đã chơi ở nhà con, sau đó, chúng con rủ nhau đi dạo.
Cha Svet.: Ngoài Mirjana, còn những ai?
Ivanka: Lúc đầu chỉ có Mirjana và con. Khi chúng con trở về nhà con, thì Milka, em ruột Marija, xin chúng con đi với nó để giúp lùa đàn cừu về nhà.
Cha Svet.: Thế là cả hai chúng con đi với Milka để lùa cừu à?
Ivanka, trong một buổi diện kiến Đức Maria, 25-6-1984.
Ivanka: Lần đầu tiên, Mirjana và con đi với nhau, và khi đang trên đường về làng, con bỗng nhìn lên đồi, và con thấy hình bóng của Đức Mẹ sáng láng và chiếu sáng ra. Con nói với Mirjana: “Xem kìa, Đức Mẹ đó!” Mirjana khoát tay cho là con nói giỡn: “Làm gì có chuyện Đức Mẹ hiện ra với tụi mình.” Rồi chúng con tiếp tục đi về phía làng. Mirjana cũng chẳng thèm nhìn lên chỗ mà con chỉ về phía đồi. Khi chúng con về đến nhà Milka, Milka nói: “Làm ơn giúp em đi lùa cừu về nhà!” Thế là chúng con quay lại và đi về phía cánh đồng. Lần này, cả ba chúng con được thấy Đức Mẹ.
Chúng con quỳ xuống và đọc kinh; xong rồi chúng con đi lùa cừu về nhà. Một chặp sau, Vicka, Ivan và một Ivan khác nhập bọn với chúng con.
Cha Svet.: Như vậy là trong ngày đầu tiên, con được thấy Đức Mẹ hai lần?
Ivanka: Vâng. Lần thứ nhất khi Mirjana và con đi về làng, lần thứ hai khi chúng con đi với Milka lùa đàn cừu.
Cha Svet.: Ai thấy Đức Mẹ trước?
Ivanka: Dạ con.
Cha Svet.: Con nói gì khi thấy Người?
Ivanka: Con nói: “Xem kìa, Mirjana, Đức Mẹ đó!”
Cha Svet.: Rồi con làm gì? Con đi đâu?
Ivanka: Chúng con đến nhà Milka. Chúng con dừng trước nhà em ấy và em ấy xin chúng con giúp em lùa đàn cừu. Rồi cả ba chúng con đi làm việc ấy. Khi chúng con đi ngang qua đồi, con thấy Đức Mẹ lần nữa; lần này, Đức Mẹ có bế Chúa Giêsu trên tay. Mirjana và Milka cũng nhìn và cả hai cũng được thấy.
Cha Svet.: Đối với chúng con, việc được thấy Đức Mẹ có ý nghĩa gì?
Ivanka: Việc này, đối với con, có ý nghĩa lớn lao hơn mọi thứ trên đời.
Cha Svet.: Khi các con nói chuyện với Người trong những lần diện kiến, chúng tôi không nghe tiếng các con nói.
Ivanka: Chúng con vẫn nói lớn tiếng, như bây giờ con đang nói vậy.
Cha Svet.: Cha muốn hỏi thế này nhé: con nói chuyện với Đức Mẹ bằng tâm trí, nghĩa là Đức Mẹ đọc được những ý nghĩ của con, hay là con nói rất khẽ như thầm thì với Người, nên chúng tôi không nghe được? Hoặc là cuộc đàm thoại giữa con và Người quả là kỳ diệu, vượt trên mọi khả năng nghe và hiểu của chúng tôi?
Ivanka: Con nói với Đức Mẹ cách bình thường, như con đang nói bây giờ. Cũng vậy, con nghe tiếng nói và lời của Người một cách bình thường, y như nghe người khác nói vậy.
Cha Svet.: Trong những lần thị kiến, các con có bao giờ xin một ân huệ nào cho ai không?
Ivanka: Thưa có, hồi đầu, con có xin một ơn cho bé Đaniel.
Cha Svet.: Thế Người nói sao?
Ivanka: Người nói như vẫn thường nói: Lòng tin mạnh mẽ và cầu nguyện sẽ giúp.
Cha Svet.: Các con nói : “Đức tin mạnh mẽ và cầu nguyện” nghĩa là gì? và để làm gì?
Ivanka: Tin và cầu nguyện để được chữa lành.
Cha Svet.: Có bao giờ con cầu xin cho người thân trong gia đình đã qua đời không?
Ivanka: Thưa có. Trước đây không lâu, con cầu xin cho ba con, và Đức Mẹ cũng nói tương tự.
Cha Svet.: Người nói gì?
Ivanka: Người nói là hãy nói với ba con rằng mẹ con đang ở với Người, và con phải vâng lời và đừng lo lắng gì.
Cha Svet.: Cái chết của mẹ con làm con buồn, nên Đức Mẹ đến để an ủi con, phải không?
Ivanka: Con không biết, nhưng con không nghĩ thế. Chúng con có hỏi Người tại sao trong bao nhiêu người khác, Người lại chọn hiện ra với chúng con. Đức Mẹ đáp là Người không luôn luôn chọn những kẻ tốt nhất.
Cha Svet.: Thế các sứ điệp Đức Mẹ gởi cho ai?
Ivanka: Thưa cho toàn thể thế giới.
Cha Svet.: Các sứ điệp gì vậy?
Ivanka: Thưa là: hòa bình, hoán cải, ăn chay, đền tội, cầu nguyện.
Cha Svet.: Việc nào quan trọng nhất?
Ivanka: Thưa hòa bình.
Cha Svet.: Tại sao lại là hòa bình?
Ivanka: Khi mọi người trên thế giới sống an bình, mọi sự đều có thể.
Cha Svet.: Con đã nói về việc cầu nguyện. Vậy hãy thành thật cho cha biết: con cầu nguyện thế nào?
Ivanka: Khi con thức dậy buổi sáng, con đọc bảy kinh Lạy Cha và kinh Tin Kính. Đến trưa, con đọc kinh Truyền tin. Đến tối, con đọc bảy kinh Lạy Cha và kinh Tin Kính, và thỉnh thoảng, con lần hạt Mân Côi. Khi mọi người đều có mặt ở nhà, chúng con đọc kinh tối.
Cha Svet.: Được biết là Đức Mẹ khuyên các con nên vào dòng tu?
Ivanka: Người nói với chúng con là Người mong muốn chúng con đi tu - nhưng chỉ những ai cũng muốn như vậy thôi. Người không muốn một ai phản bội đức tin và Giáo Hội.
Cha Svet.: Cha tin là mọi người được tự do chọn lựa, và chúng con cũng được tự do như thế. Con đã quyết định sẽ làm gì chưa?
Ivanka: Thật tình mà nói, như con đang cảm thấy hiện nay, con không muốn đi tu. Con cũng có thể sống đời sống Kitô hữu như một nữ tu vậy, đang khi nuôi nấng...
Cha Svet.: Với những gì con biết được về tương lai (thế giới), con hãy nói cho cha hay: Đức Mẹ Mễ Du có hòa giải thế giới hơn nữa không?
Ivanka: Con nghĩ là có.
Cha Svet.: “Dấu chỉ vĩ đại” có giúp thực hiện việc đó không?
Ivanka: Có, khi đến giờ đến buổi, sẽ có thêm nhiều tín hữu đi Nhà thờ.
Cha Svet.: Dấu chỉ sẽ xuất hiện rất sớm hay sau này?
Ivanka: Nó sẽ xuất hiện khi đến giờ.
Cha Svet.: Ivanka này, con có thấy lo sợ thế nào đó, không biết mình có thể làm những điều Đức Mẹ mong đợi ở con ngay đời này không?
Ivanka: Tại sao con phải lo sợ khi có Thiên Chúa ở với con? Thiên Chúa ban cho con sức mạnh mà con cần.
Cha Svet.: Con nói với dân chúng về các sứ điệp của Đức Mẹ, nhưng có một số không tin con. Trong trường hợp này, con làm gì?
Ivanka: Con cầu nguyện cho họ, xin Thiên Chúa soi sáng cho họ.
Cha Svet.: Ngoài ra, con có thể làm gì nữa?
Ivanka: Con sẽ cố gắng thuyết phục họ. Họ sẽ nghe theo mà tin phục, một khi họ...
Cha Svet.: Cha tin điều đó. Nhưng trong lúc ấy, người ta trở nên bồn chồn, nóng nảy; chờ đến lúc họ hiểu được thật là khó. Vậy người ta phải làm gì?
Ivanka: Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta có sức mạnh để kiên trì.
Cha Svet.: Hiện có những người chống đối Đức Mẹ. Con sẽ nói gì với họ?
Ivanka: Con chỉ nói với họ là: “Hãy hối cải! Thiên Chúa có thật.” Thế thôi!
Cha Svet.: Những người chống đối Đức Mẹ có thể phá hỏng kế hoạch của Người trên thế giới không?
Ivanka: Có phải cha muốn nói về Dấu lạ vĩ đại không?
Cha Svet.: Phải.
Ivanka: Không, mọi thứ khí giới và chất nổ của họ cũng không phá hủy nó được.
Cha Svet.: Họ có thể làm hại linh hồn người ta và kế hoạch của Đức Mẹ dự định cho người ta không?
Ivanka: Không.
Cha Svet.: Điều đó có nghĩa là Đức Mẹ mạnh hơn họ?
Ivanka: Đã hẳn. Đức Mẹ mạnh hơn. Chính Chúa Giêsu quyết định như vậy. Chính Thiên Chúa chứ không phải Đức Mẹ.
Cha Svet.: Nói cho cha về việc này đi.
Ivanka: Con nghĩ là Thiên Chúa đã cử Đức Mẹ đến đây. Khi chúng con xin Người cho một dấu chỉ, con nghĩ là Người đã xin Chúa Giêsu và Chúa Giêsu đã ban cho Người một Dấu chỉ. Rồi Người hứa ban cho chúng ta Dấu chỉ ấy.
Cha Svet.: Điều đó có nghĩa là Đức Mẹ không thể tự mình hành động độc lập một mình, Người phải thực hiện ý Thiên Chúa, như Người vẫn làm xưa nay?
Ivanka: Con tin là như vậy.
Cha Svet : Điều quan trọng là không để những người có lòng thành tâm thiện chí, bất luận thuộc đạo giáo nào, quay lại chống đối lẫn nhau. Nhưng hãy nói thêm cho cha về điều này. Đức Mẹ đã nói gì?
Ivanka: Người nói là các tôn giáo chia rẽ nhau dưới trần gian, nhưng tín đồ của mọi tôn giáo đều được Con Chí Thánh của Người chấp nhận.
Cha Svet.: Thế nghĩa là mọi người đều lên thiên đàng?
Ivanka: Còn tùy họ lập công được như thế nào.
Cha Svet.: Phải, nhưng nhiều người chưa bao giờ nghe nói về Chúa Giêsu.
Ivanka: Chúa Giêsu biết tất cả điều ấy. Còn con thì không. Đức Mẹ nói: Trên căn bản thì các tôn giáo đều đáng tôn trọng như nhau, nhưng nhiều người đã tự chia rẽ, vì lý do tôn giáo mà trở nên thù địch với nhau.
Cha Svet.: Cha cám ơn con, Ivanka, về buổi nói chuyện và chứng tá này...
* * *
Tôi thở một hơi dài khi rút trang cuối cùng ra khỏi máy chữ - trang thứ tám! Smitty thế nào cũng sẽ nổi cáu! Mà đúng như vậy. Anh ta hét: “Anh làm cái gì đó? Viết một cuốn sách hả?”, và nhìn những trang giấy trong tay tôi, “Chừng đó phải “đi” nguyên một trang báo!” Đối với Smitty, mấy cột báo của tôi đã là chuyện đau đầu lắm rồi. Anh không muốn thêm ấn bản tin tức gì nữa, mà chỉ có quảng cáo thôi.
- “Thì cứ “đi” cả trang!” tôi mỉm cười đáp lại. “Anh coi kìa, tôi đã làm xong sớm một ngày trước, anh phải mừng chứ! Hãy chuẩn bị lên khuôn đi, còn để tôi lo các chuyện khác.”
- “Nhưng nếu vào phút chót, ta vớ được một cái quảng cáo thì sao?” (Ý anh ấy muốn nói) thông thường, chính sách của tụi tôi là bỏ bài xã luận đi nếu cần, để nhường chỗ đăng quảng cáo cho người đã chi tiền.
- “Không! Lần này thì không”, tôi đáp, “Bài viết phải cho đăng như mấy tuần nay.”
Quay gót rời văn phòng, tôi sực nhớ một chuyện: chúng tôi đã nhận được yêu cầu cung cấp hơn 40 bản sao bài báo: “Anh Smitty à, nhớ chừa một chỗ để thông báo cho mọi người, nếu họ muốn có bản sao của mấy bài tôi viết, họ phải gởi tới một bao thư dán tem, ghi sẵn địa chỉ. Tôi sẽ đưa bản đó cho anh ngày mai.”
Để mặc anh ta đứng đó lắc đầu lẩm bẩm, tôi sung sướng bước ra bóng đêm bên ngoài.
---o0o---
-
“Muốn được hạnh phúc, hãy sống đơn sơ, khiêm tốn và để cho Thiên Chúa hướng dẫn...”
Chương 8
CHA SCOTTI
Sáng thứ tư, tôi không ở văn phòng để nghe điện thoại. Tôi đang trên đường đi tới thị trấn Lake City, cách xa khoảng 100 cây số, để thăm Cha Sylvester Scotti.
Sau khi bài xã luận thứ hai được đăng, ông đã gọi lại hỏi bao giờ tôi tạt qua thăm ông. Vì đã dự định sẽ kết thúc loạt bốn bài viết về Mễ Du bằng những cuộc phỏng vấn người dân sống tại đây đã đi hành hương đến Mễ Du, nên tôi cũng muốn lấy luôn câu chuyện của ông vào đấy. Mặt khác, tôi cũng tò mò muốn gặp ông linh mục người Ý “không đến nỗi khùng” này.
Vì không quen đường, tôi hơi khó tìm nhà ông. Đúng ra, nhà của ông đã tìm ra tôi: tôi lái xe quanh quẩn các đường gần đó, cố tìm số nhà mà tôi đã ghi qua điện thoại. Bỗng tôi ngước nhìn, và thấy căn nhà ở ngay đấy.
Khi tôi bước lên các bậc thềm, cánh cửa đột nhiên mở ra: một người đàn ông cao lớn, mập mạp, tuổi trên 50, đeo kính cận, đầu tóc bù xù, tươi cười rạng rỡ bước ra đón tôi. Ông mặc một áo sơ mi cũ với quần tây và đôi giày bạc màu - y hệt như tôi đã mường tượng, căn cứ theo cuộc nói chuyện giữa hai chúng tôi qua điện thoại.
Khi vừa tới cửa, ông tóm lấy tôi, ôm chặt tôi trong cánh tay, như thể chúng tôi đã quen biết nhau nhiều năm, rồi nói: “Tôi đã cắm điện bình cà phê, bây giờ mình nói chuyện.” Và chúng tôi bắt đầu.
Tôi biết được cha Scotti là mục tử của hai Nhà thờ truyền giáo nhỏ ở vùng Kingstree và Lake City. “Đó là miền băng giá Siberia của địa phận này”, ông giải thích, tay cầm bình cà phê rót thêm cho tôi, “nhưng không sao cả. Ở đây, tôi có nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện. Tôi nghĩ là tôi được phái đến đây, vì họ không biết làm gì hơn với tôi. Họ nghĩ là tôi hơi lập dị, không giống ai.”
Phần tôi, tôi đã sớm khám phá ra điều không giống ai ấy. Trước đó, ông đã nói với tôi: cuộc hành hương của ông đến Mễ Du có ý nghĩa chừng nào đối với ông. Giờ đây, tôi bắt đầu ghi âm và đặt câu hỏi. Thời gian trôi qua như tên bay và phải thay đến cuốn băng thứ hai. Bất ngờ, tôi nhận ra mình đã qua hơn ba tiếng đồng hồ đàm đạo không ngừng ở đó.
Khi tôi vừa bắt đầu cho ông biết tôi đã nghe nói về Mễ Du như thế nào, ông bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi nhìn chằm chằm vào tôi, ông khởi phát nói tiếng lạ. Nhờ biết chút ít về đặc sủng canh tân của Chúa Thánh Linh và phong trào ân sủng, nên tôi hiểu được hiện tượng đang xảy ra. Dù không hiểu ông đang nói gì, nhưng tôi không cảm thấy hoảng hốt hoặc lo sợ chút nào bởi điều đó, duy chỉ thấy không thoải mái thôi. Ông không nói lớn tiếng, nhưng nói với giọng nhỏ nhẹ và du dương.
Trong tôi lúc bấy giờ, một phần thì tự hỏi: “Mình đang dẫn xác vào cái trò gì đây?”, nhưng phần khác lại hài lòng, vì chỉ có việc nghe và chờ đợi. Sau vài phút, ông ngưng lại và chúng tôi nhìn nhau.
- “Hi vọng tôi không làm anh khó chịu chứ?”
- “Không đâu!” tôi trấn an, “Có ngạc nhiên một chút, nhưng không phiền.”
- “Tốt, bởi vì đây là một sứ điệp của Đức Maria gởi cho anh. Người nói: Anh là con của Người, và Người yêu cầu anh viết về việc này. Nhưng còn hơn thế nữa: ấy là đem cả cuộc đời vào công việc ấy, hoàn toàn tận hiến bản thân anh cho việc truyền bá sứ điệp Mễ Du.”
Ông dừng lại. Miệng tôi bấy giờ há hốc, mắt mở to. Thế rồi, miệng ấp úng không tìm ra lời, tôi kể cho ông về sứ điệp tôi đã nhận được từ lúc đầu, sứ điệp ấy hầu như đang được sứ điệp của ông chứng thực từng lời. Nói tới đó, tôi cảm thấy tóc trên đầu như dựng đứng lên, và tôi bắt đầu hoảng sợ.
Được khích lệ, cha Scotti nói tiếp: “Theo tôi hiểu, với thông điệp này, anh sẽ đi xa hơn Nam Carolina, hoặc ngay cả ra khỏi xứ này nữa vì việc đó. Anh cũng sẽ dính dáng tới ngành truyền thông.”
- “Thôi mà cha!” tôi ngắt lời ông, “Tôi là chủ một tờ báo tỉnh lẻ, tôi viết vài mục xã luận vì “cái tôi” của mình hơn là vì bất cứ chuyện gì khác. Tôi không quan tâm đến ngành truyền hình hay phát thanh.”
- “Này”, ông cười ha hả, cái cười rang rảng đặc biệt Ý của ông, “Tôi chỉ lặp lại điều mà tôi nghĩ là chính Đức Mẹ nói với anh!” Rồi ông nói với giọng thông cảm: “Tôi biết như vậy là quá nhiều cho anh, nhưng cứ tiếp tục cầu nguyện và mở lòng ra đón nhận điều đang đòi hỏi nơi anh và đừng quá lo lắng.”
Làm sao mà tôi không lo được?
Tất cả những cái này vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Chỉ vài tuần trước đây thôi, tôi còn khó lòng mà nhớ và nhắc đến tên “Giêsu” bên ngoài Nhà thờ. Thế mà bây giờ, tôi lại nghe một người lạ đang bảo cho tôi mọi thứ về thông điệp mà tôi đã lãnh được.
Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn bốn giờ. Tôi nói: “Trễ rồi, tôi phải đi. Chúng ta có thể gặp nhau lại sau vài tuần nữa được không?”
- “Dĩ nhiên”, ông cười nhe cả răng và tiễn tôi ra cửa.
Tôi mỉm cười chào tạm biệt: “Cha biết đấy, tôi chưa bao giờ gặp người nói tiếng lạ. Có điều kỳ lạ là việc đó không làm tôi khó chịu. Tôi muốn nói với tư cách là một tín đồ Tin Lành và một nhà báo, tôi thấy cái đó..., à..., không làm cho tôi bực bội chút nào. Nhưng tôi không được chắc lắm về thông điệp của cha...”
Ông chỉ mỉm cười nói: “Rồi anh sẽ thấy.”
Khi về đến phòng thì đã trễ, nhưng tôi vẫn ngồi ngay xuống máy đánh chữ. Tôi muốn ghi lên giấy tất cả những gì cha Scotti đã kể khi nó còn nóng hổi. Cắm cúi làm việc khoảng một tiếng rưỡi, khi đã xong, tôi liền nghĩ nếu tôi gặp được Jim Stoffel vào buổi sáng, thì nội trong ngày mai, bài báo có thể xong. Điều này khá quan trọng, vì chúng tôi còn phải đi Charleston, miền tây Virginia, để mừng lễ Giáng Sinh cùng với gia đình Terri. Chọn Jim như một nhân vật thứ hai ở địa phương này để phỏng vấn, quả là một chọn lựa hợp lý, vì anh đã từng đến Mễ Du.
Qua chuyến đi ấy, Jim và vợ là Rosie đã được tác động mạnh mẽ, người ta thấy rõ điều đó trong bài nói chuyện của anh. Vả lại, cặp vợ chồng này có đôi nét đặc biệt, khiến Terri và tôi thấy thích họ ngay, và đã hẹn với họ sẽ gặp nhau lại sau này. Cộng chung với nhau, hai cuộc phỏng vấn này sẽ thành một kết thúc tốt đẹp cho loạt bài của tôi.
Miệng ngáp dài, tôi tắt đèn và rảo bước về nhà. Nhưng sáng hôm sau, thức dậy với cơn nhức đầu và buồn nôn, tôi chắc chắn cuối cùng mình không thể tránh khỏi bệnh cúm. Trước đó hai tuần, nó tấn công Terri nhưng bỏ sót tôi - hay là do tôi tưởng như vậy. Lần này, chắc không còn may mắn như thế. Và bây giờ, tôi chỉ còn cách gác lại bài báo cuối đến sau lễ Giáng Sinh, vì tôi tuyệt đối không thể phỏng vấn Jim và viết bài tường thuật trong tình trạng này.
Tôi tạm bình phục vào lúc đi miền tây Virginia, để không làm hỏng cuộc mừng lễ Giáng Sinh của mọi người. Thực tế, đối với tôi, đó là một lễ Giáng Sinh tuyệt vời chưa từng thấy, cũng nhờ có Mễ Du. Đây là lần đầu tiên, tôi cảm nghiệm mạnh mẽ ân huệ bao la của Thiên Chúa, khi ban Con của Người. Và cũng chính Đức Maria ấy, Đấng đã chấp nhận chức làm Mẹ Chúa chúng ta cách vô điều kiện, bây giờ lại xin tôi tham gia tích cực vào việc làm cho nhiều người khác nhận thức đầy đủ về ân huệ đó. Tôi không thể nghĩ đến điều này mà không rơi lệ.
Tôi được ban một ơn đặc biệt khác trước đó ít lâu. Một buổi tối nọ, khi Terri đang vật lộn với bệnh cúm, và tôi phải chùi sàn bếp thay nàng, chuông điện thoại reo. Tôi nhón chân băng ngang qua cái sàn còn ướt để trả lời. Đó là George McMath., Chủ tịch Atlantic Publications, một tập đoàn xuất bản của một hệ thống gồm 29 tờ tuần báo và các loại ấn phẩm khác. Trong đó có một tờ đặt tòa soạn tại Myrtle Beach. Chúng tôi tán gẫu ít phút, rồi ông ta đi thẳng vào mục đích của cú điện thoại lúc đêm hôm này. Đó là: chúng tôi có tính bán lại bốn tờ báo của chúng tôi không?
Quả là một cú sốc! Từ hơn hai năm nay, chúng tôi cố tìm mối để bán chúng đi. Sau chín năm đương đầu với đủ thứ vấn đề: hạn chót phải trả tiền, vấn đề nhân viên, khủng hoảng tài chánh..., cả hai chúng tôi đã bị căng thẳng quá sức. Terri mong muốn được ở nhà chăm sóc con cái; tôi thì muốn hành nghề tự do, như tư vấn quảng cáo chẳng hạn; như thế, ít nhất còn có chút thời gian chơi golf và tennis. Nhưng tìm mãi vẫn không ra người mua với điều kiện hợp lý. Cho đến hôm nay...
Ngay đó, tôi liền nhớ lại lời Đức Trinh Nữ Diễm Phúc đã nói với tôi trước đây:
“Không bao lâu nữa, con sẽ thôi công việc này.”
Tôi cố giữ bình tĩnh khi chúng tôi phác thảo kế hoạch chuyển giao. Có vẻ như ngày bàn giao hợp lẽ nhất là ngày 1 tháng 4, kỷ niệm năm thứ chín ngày khai trương tờ báo đầu tiên của chúng tôi.
Tôi đặt ống nghe và lặng lẽ đi vào phòng riêng. “Terri ơi! Chúng ta vừa bán đi mấy tờ báo rồi!” tôi thầm thì vào tai nàng với nụ cười ngơ ngáo. “Sứ điệp, nó đang trở thành sự thực.”
Nàng nhìn tôi, có vẻ không biết nên cười hay nên khóc! Một hồi lâu, nàng nói: “Tốt thôi! Nếu thật như vậy thì tuyệt quá! Nhưng em chỉ tin khi chúng ta ký giấy tờ thôi.”
Tôi thầm nghĩ: “Đúng vậy”, đang khi nhìn quang cảnh miền tây Virginia lướt nhanh ngoài xe. Chỉ với việc này thôi, Giáng Sinh năm nay đã thành một Giáng Sinh đặc biệt rồi.
Chúng tôi đến nhà mẹ của Terri đúng lúc để giúp bầy hang đá máng cỏ tại phòng khách. Đó là một hang đá máng cỏ đã có từ lâu trong gia đình. Chuồng bò lừa được làm rất chắc chắn, chứ không mong manh hay kiểu cọ như một số loại máng cỏ thời nay. Bộ tượng bằng gốm sứ, chứ không phải bằng thạch cao. Bất ngờ, khi tôi đặt tượng Đức Maria quỳ cạnh bên máng cỏ, mắt tôi bỗng nhòa lệ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, tôi vừa thầm thĩ cầu nguyện, vừa đặt tượng Người lên đám cỏ rơm.
Chúng tôi trở về Myrtle Beach vài ngày trước Tết Dương lịch, vừa đúng lúc tôi bị vật ngã trở lại vì bệnh cúm. Sau lần bình phục thứ hai, tôi đến gặp Jim Sotffel, phỏng vấn anh và viết bài tường thuật cuối cùng về các biến cố Mễ Du.
* * *
Ngày 15-1-1986
Phần 4: Phỏng vấn dân địa phương đã từng đến Mễ Du
Tôi thành thật xin lỗi tất cả các bạn đọc, vì đã không có bài xã luận trong số báo tuần qua. Tôi không may bị con vi trùng cúm đánh nằm gục suốt cả tuần. Đây là phần cuối của một loạt bốn bài, bắt đầu từ tuần lễ thứ nhất tháng 12. Đó là những lời chứng của hai cư dân đang sống trong miền này. Họ đã đến Mễ Du, đã tận mắt chứng kiến những biến cố đang xảy ra ở đấy.
Để được ngắn gọn và dễ đọc, lần này, tôi đã chọn hình thức tường thuật hơn là câu hỏi đáp của phỏng vấn. Những người được phỏng vấn là anh Jim Stoffel, ngụ tại Bắc Myrtle Beach và linh mục Sylvester Scotti, mục tử Nhà thờ Công giáo Thánh Philip tại Lake City.
Jim Stoffel là vận động viên nhà nghề môn đánh gôn của câu lạc bộ Carolina Shores Golf tại Bắc Myrtle Beach. Anh và vợ là Rosie, đã sống ở đây từ năm 1972. Họ đã cùng với Hal và Peggy Todd, cũng ngụ tại Bắc Myrtle Beach, đến Mễ Du vào tháng 11 năm 1985. Tôi sử dụng những lời chứng mà Jim trình bày trong một cuộc nói chuyện ở Nhà thờ của anh..., sau khi anh từ Mễ Du trở về. Một lần nữa, vì khuôn khổ bài báo có giới hạn, tôi chỉ trích ra những lời làm chứng của Jim, mặc dù những người khác trong nhóm cũng có nhiều chuyện muốn nói về chuyến đi. Có lẽ tôi có thể đề cập đến các điều ấy nhiều hơn sau này.
Cha Scotti làm cha xứ Nhà thờ Thánh Philip từ hai năm rưỡi nay. Cha chịu chức linh mục đã 14 năm. Tôi đến Lake City và ngồi nói chuyện hết một buổi sáng với ông về những kinh nghiệm của ông tại Mễ Du.
Chúng tôi sẽ bắt đầu với …
Những lời trần thuật của Jim Stoffel:
“Cách đây hai năm, chúng tôi đã nghe nói về các biến cố tại Mễ Du qua một người bạn. Anh ấy được nghe về chuyện đó tại Greenville, miền Nam Carolina. Tự nhiên, chúng tôi thấy quan tâm và bắt đầu tìm hiểu. Chúng tôi kiếm được vài cuốn sách - hồi đó đã ra được khoảng sáu cuốn.
“Tôi đã từng đọc chuyện Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức và Fatima. Nhưng điều đáng nói nhất ở đây là biến cố Mễ Du đang xảy ra hiện nay, ngay lúc này, trong thời đại chúng ta. Chúng tôi thu thập những thông tin cần thiết về việc đi đến đó, và đã lên đường vào tháng 11 năm 1985.
“Theo ý kiến cá nhân tôi, mọi chuyện đang xảy ra tại Mễ Du đều xác thực. Thật sự là có một điều gì siêu nhiên đang diễn ra tại đó.
“Mục đích của những lần viếng thăm của Đức Trinh Nữ Maria là để nói với mấy thị nhân mười sứ điệp (hay bí mật) cho thế giới. Người cũng bảo các em rằng: cần phải cầu nguyện, ăn chay và hòa giải với Thiên Chúa. Sau khi việc hiện ra chấm dứt, mười sứ điệp hay biến cố sẽ bắt đầu xảy ra. Cái thứ bảy, chín và mười là những trừng phạt nặng cho thế giới vì tội lỗi. Tôi xin nói thêm là sứ điệp (hay bí mật) thứ bảy đã được bỏ qua, bởi vì dân chúng đã đáp ứng lời kêu gọi khẩn cấp của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc về việc cầu nguyện, ăn chay và hòa giải. Người nói là các biến cố trong hai sứ điệp chín và mười sẽ xảy ra, nhưng chúng sẽ được giảm nhẹ, nếu loài người tăng gia cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Tôi nghĩ tất cả vấn đề là như thế.
“Tôi thực sự không coi chuyện đó có ý làm chúng ta sợ hãi, bởi vì sứ điệp của Người không là điều chi khác hơn những gì Phúc Âm đã truyền, mà chúng ta đọc hằng ngày, hằng tuần. Thiên Chúa đang dùng Đức Thánh Mẫu, như một phương thế để nhấn mạnh hơn và khẩn thiết hơn các lời giáo huấn của Ngài.
“Mễ Du quả thật là một chuyện có một không hai xảy ra tại một ngôi làng nhỏ bé - ngày nay trở nên một thánh địa. Thật khó diễn tả, phải thành thật nhìn nhận như vậy. Sứ điệp mà chúng tôi muốn được biết ấy là: Đây chính là công việc của Chúa Thánh Linh để, đem Tin Mừng Đức Giêsu Kitô đến cho thế giới, qua trung gian Đức Trinh Nữ Maria. Loài người đã quá xa lìa Thiên Chúa và đây là lời kêu gọi khẩn cấp hãy trở lại với Người. Tựu trung, điều Người muốn nói là loài người cần phải sống bình an với nhau, mà bình an ấy chỉ đến nhờ cầu nguyện, hối cải và dĩ nhiên là nhờ thông hiệp. Tôi không cố đem ai vào đạo Công giáo, mà đó cũng không phải là mục đích của sứ điệp Mễ Du. Đó là sự dấn thân riêng tư của mọi người trên thế giới.
“Giáo xứ - hay là cộng đoàn - Mễ Du chỉ có 400 gia đình, thế mà Nhà thờ Thánh Giacôbê (nơi được cho là Đức Maria đang hiện ra - chú thích của tác giả) - chứa được khoảng 2000 người hoặc hơn. Không ai biết tại sao Nhà thờ ấy lại được xây lớn đến thế. Đức Maria đang cố gắng dựng lên ở đây khuôn mẫu của một giáo xứ hoàn hảo và Người đã thành công. Chỉ đi khỏi đó 10 cây số thôi, là các bạn rơi lại về “thế giới trần tục thật” rồi.
“Như tôi đã nói, Đức Trinh Nữ Maria rất vui sướng, vì giáo dân xứ đạo này. Người thường hiện ra khoảng 5g45 chiều (đi trước múi giờ với chúng ta bảy tiếng) và lưu lại độ ba, bốn phút dạo này. Trước đây, các lần hiện ra kéo dài từ 20 đến 30 phút. Khi cuộc hiện ra kết thúc, Thánh Lễ bắt đầu và bọn trẻ ở lại trong Nhà thờ thêm một lúc lâu nữa, như thế, cả thảy mỗi ngày khoảng ba tiếng. Các em cũng dành bốn tiếng mỗi ngày để cầu nguyện và chúng ăn chay ba lần mỗi tuần. Nếu các bạn chưa bao giờ thử ăn chay, các bạn nên làm đi! Chỉ thấy khó chịu ngày đầu thôi. Dân chúng ở đây rất tử tế và dễ mến, hiếu khách và nhiệt tình. Họ thực là những con người đơn sơ, chất phác.
“Đức Trinh Nữ Maria cũng có những sứ điệp cho phương Tây nữa. Hình như chúng ta cứ tưởng mình khá hơn mọi người khác trên thế giới. Người nói chúng ta sử dụng quá nhiều ma túy và quá nhiều chương trình truyền hình chiếm mất nhiều thời gian của chúng ta. Chúng ta phí phạm rất nhiều thời gian mà lẽ ra phải được dùng vào những việc tốt hơn. Cũng vậy, chúng ta có quá nhiều giáo phái tại Hoa Kỳ, quá nhiều việc sùng bái tà thần. Mặt khác, chúng ta đã tiến bộ xa hơn mọi dân tộc khác trên thế giới về mặt kỹ thuật, và chúng ta cứ tưởng đó là tự chúng ta làm nên - nghĩa là không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Đó chỉ là kỹ thuật của con người thôi. Nếu các bạn thật tình muốn có một hình ảnh mô tả hoàn hảo về lối sống hiện nay của phương Tây, các bạn chỉ cần cầm quyển Kinh Thánh lên và đọc thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma, đoạn 1, câu 18 đến 32.(5bis) Thật đáng kinh ngạc là những điều đã viết từ rất nhiều thế kỷ trước đây, lại tả y hệt như lối sống của chúng ta ngày nay.”
* * *
Chứng từ của Cha Sylvester Scotti
“Tháng 10 năm 1984, tôi đi Roma dự cuộc họp các linh mục từ khắp nơi trên thế giới. Ngay trước khi ra về, người ta hỏi chúng tôi xem có muốn đi hành hương hoặc ghé qua Mễ Du, nước Nam Tư, nơi được cho là Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc đang hiện ra với sáu thiếu niên mỗi ngày một lần.
“Trước kia, tôi có nghe nói loáng thoáng về Mễ Du, qua một tờ báo địa phương. Báo này đưa tin về một linh mục thuộc giáo xứ đó bị bắt và bị cáo về tội quấy rối an ninh trật tự công cộng. Nam Tư là một nước Xã hội Chủ nghĩa, điều ấy ai cũng biết, và họ vẫn cho phép các việc thờ tự được làm trong Nhà thờ, một khi những việc này không xâm phạm đến luật lệ chung ở đó. Bài báo nói linh mục đã bị bắt giữ vì dính dáng đến những điều dối trá, liên quan đến sự kiện siêu nhiên đang xảy ra ở đây.
“Sau này, qua các linh mục khác và qua sự tìm hiểu của tôi, tôi biết được nhiều hơn về các biến cố diễn ra tại đây. Và dĩ nhiên, tôi rất hào hứng về cơ hội được đích thân đến đó cùng với nhóm linh mục này. Chúng tôi tất cả có 110 người (linh mục) đến Mễ Du sau chuyến đi Roma kỳ trước. Đây là nhóm linh mục đông nhất từ trước đến nay, đến tham quan nơi được coi là có sự kiện hiện ra. Để đến được nơi ấy, chúng tôi phải ngang qua một thành phố tên là Mostar, gần Mễ Du, giả danh các du khách. Không những thế, chúng tôi còn phải mua áo tắm để nhà cầm quyền tin là chúng tôi chỉ muốn thưởng thức các trò giải trí của miền đó. Cuối cùng, chúng tôi đến được một làng nằm giữa Mostar và Mễ Du. Các tiện nghi ở đây thì rất kém, so với nếp sống quen thuộc của chúng tôi, nghĩa là không quá tồi tệ, nhưng rất bán khai so với tiêu chuẩn của ta, chẳng hạn như những ống dẫn ga, dẫn nước đều đặt ở bên ngoài căn nhà, v.v...
“Sau cùng, nhóm chúng tôi đến Mễ Du, và như tôi đã nói, đây là nhóm linh mục đông nhất từ trước đến nay từng tụ tập cùng lúc ở đây. Chúng tôi được đưa đến tầng hầm của Nhà thờ, vì chúng tôi quá đông, nên gặp các thị nhân sau khi cuộc hiện ra kết thúc. Thời tiết nóng nảy và ngột ngạt. Lại đông người. Lát sau, một nữ tu thuộc giáo xứ, luôn làm việc bênh cạnh các em, bước vào phòng và thông báo là Đức Trinh Nữ đã bảo các thị nhân Người sẽ hiện ra cho các em tại tầng hầm Nhà thờ, nơi chúng tôi đang có mặt, vì Người có một sứ điệp đặc biệt cho chúng tôi.
“Tôi biết nói gì đây? Chúng tôi hết sức cảm kích vì việc Người sẽ hiện ra với các trẻ tại nơi đây. Liền sau đó, các em đi vào trong phòng và đứng ngay ở phía bên kia cái bàn mà tôi đang đứng với một linh mục bạn, một người bạn thân. Các em bắt đầu đọc kinh và ít phút sau, bỗng chốc, các em quỳ xuống. Đó là dấu cho biết Đức Thánh Mẫu đã hiện ra. Chúng tôi nhìn về chỗ mắt các em đang hướng nhìn vào, đó là ngay phía trên đầu chúng tôi.
“Khi cuộc hiện ra chấm dứt, các em liền viết điều gì đó lên mảnh giấy và người nữ tu biết nói tiếng Anh phiên dịch cho chúng tôi. Đó là một sứ điệp Đức Trinh Nữ gửi trực tiếp cho chúng tôi: “Cám ơn các con đã đến, đáp lại lời mời gọi của Mẹ. Những ai trong các con yêu mến Mẹ, thì đã được mời gọi cách đặc biệt.”
“Thế đấy! Các bạn có thể tưởng tượng lúc ấy chúng tôi cảm thấy thế nào không? Tất cả chúng tôi cầu nguyện, rồi leo các bậc cấp lên Nhà thờ để dâng lễ. Tôi không sao tin nổi điều xảy ra sau đó: mấy em thị nhân đến giúp chúng tôi mặc áo lễ vào để đồng tế, tôi và bạn tôi! Ôi! Thật là Hồng Phúc! Rồi, trong Thánh Lễ, các em đứng ngay đó cạnh chúng tôi và chúng tôi cầm tay các em cầu nguyện. Tôi không thể mô tả cho các bạn hiểu điều này có ý nghĩa đối với tôi đến mức nào.
Hai thị nhân trong một Th.Lễ đồng tế, giữa các linh mục và cộng đoàn. Các em được mời đọc Sách thánh.
“Tôi phải kể cho các bạn nghe về hai “phép lạ” đã xảy ra trong khi chúng tôi đang ở đấy. Trên xe buýt đi đến Mễ Du, tất cả chúng tôi đều nói chuyện và cầu nguyện về điều đang xảy ra ở đấy. Trời trong sáng, không một bóng mây. Lát sau, có người để ý nhìn trời thấy có hai cụm mây nhỏ xếp thành hình Thập giá. Tôi xin nhắc lại, bầu trời hoàn toàn trong sáng, trừ đám mây hình Thập giá đó. Một chặp sau, hình Thập giá đổi thành hình chim câu hoàn chỉnh.
“Sau chuyến đi Mễ Du và khi đã trở về phi trường Dubrovnik, chúng tôi dừng lại ở ngôi Nhà thờ xinh đẹp để dâng lễ và cầu nguyện. Tất cả chúng tôi đều ngã bệnh. Tôi muốn nói là bệnh thật, với tất cả những cái khó chịu của cảm, cúm, ho sốt, viêm họng... Chúng tôi cầu nguyện trong Nhà thờ xinh đẹp đó. Khi kinh nguyện vừa xong, chúng tôi đang chuẩn bị ra về, thì một linh mục trẻ người Canada đứng lên nói: “Thưa anh em, tôi phải kể cho anh em nghe điều này: nãy giờ tôi đã cầu nguyện ở đây với anh em và chắc chắn tôi không cầu nguyện cho điều vặt vãnh như khỏi bị cảm cúm... Vậy mà bỗng nhiên, tôi cảm thấy một hơi ấm bao bọc khắp mình tôi, rồi sau đó, cái họng đau rát của tôi, mọi triệu chứng cảm cúm đều biến mất! Tôi hoàn toàn mạnh khoẻ.” Sau đó, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện một hồi lâu.
“Anh hỏi tôi về phản ứng của tôi sau khi trở về Lake City ư? Lẽ tự nhiên, tôi tràn đầy ngạc nhiên ngây ngất về tất cả chuyện đó. Rồi tôi đi đến tất cả các trụ sở báo chí, phát thanh trong vùng và ở Columbia. Kết quả thế nào? Toàn là những cái nhìn thờ ơ, ngoài ra không có gì khác. Nhưng không sao! Bản thân tôi cảm thấy những biến cố xảy ra tại đó (Mễ Du) đều xác thực, và tôi cảm tạ Thiên Chúa về điều ấy.”
* * *
Đây là phần kết thúc của loạt bốn bài tường thuật về những sự kiện được báo cáo là những cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc tại Mễ Du, Nam Tư. Tôi không biết nói với các bạn độc giả điều gì khác hơn, là tôi sẽ rất sung sướng được tiếp tục gởi đến các bạn các bản sao của mấy bài báo này, từ những bài đầu, cho bạn nào chưa kịp đọc mà muốn đọc. Chỉ cần gởi bao thư dán tem và ghi sẵn địa chỉ về: Mục Xã luận của Weible, Hộp thư 2647, Myrtle Beach, bang South Carolina, 29578.
* * *
Như vậy đấy! Tôi vừa nghĩ vừa gõ vào máy chữ mã số bưu điện một cách bay bướm. Tôi đã thực hiện công việc được giao và đã làm xong. Giờ đây, tôi sẽ tiếp tục sống sứ điệp một cách tốt nhất như tôi có thể, nhưng phần chính của công việc thì tôi đã hoàn thành... hoặc tôi tưởng như thế.
-
“Hãy cống hiến thời gian của con cho mình Chúa Giêsu mà thôi, rồi Ngài sẽ cống hiến trọn vẹn chính mình Ngài cho con...”
Chương 9
TÔI TIN...
Sau đó ít ngày, tôi ghé qua ngân hàng. Khi đang bàn tán về sự kiện hiện ra với một trong những nhân viên, cô ấy nói cô rất buồn vì loạt bài báo đã chấm dứt, trong khi cô muốn nó cứ tiếp tục mãi, vì các biến cố tại Mễ Du làm cô rất xúc động.
Tôi nói với cô là tôi đã kể lại tất cả những gì có thể viết về các biến cố đó. Cô phản đối: “Đúng, nhưng anh chưa bao giờ thật sự cho biết ý kiến của chính anh. Chúng tôi biết những người khác nghĩ gì, nhưng còn chính anh, thực sự anh nghĩ gì?”
Tôi nhìn cô, khựng lại. Để giữ uy tín nhà báo, tôi đã cố gắng giữ tính khách quan. Tôi muốn độc giả tự rút ra kết luận, chứ không bị ảnh hưởng bởi những gì đã tác động hết sức mạnh mẽ đến tôi. Thử hỏi như vậy, tôi có quá đáng không?
Tôi cần phải suy nghĩ về điều đó. Và càng suy nghĩ, tôi càng thấy niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của tôi đã ảnh hưởng biết bao đến quyết định giữ mức khách quan của tôi.
Xét cho cùng, một bài xã luận phải là một phương tiện trình bày tư tưởng cá nhân, đấy mới là mục đích của nó. Thế nhưng với loạt bài báo tôi viết vừa rồi, tôi đã mới chỉ coi nó như phương tiện thông tin thôi.
Như vậy, rốt cuộc, xem ra là tôi chưa viết bài cuối cùng. Sẽ phải có thêm một bài nữa - một bài tổng kết. Chỉ có một vấn đề: tôi sẽ diễn tả những cảm tưởng của mình về Mễ Du đến mức nào? Tôi vẫn không sẵn sàng để nói với bất cứ ai là tôi được nhận một sứ điệp riêng từ vị Khách thiên đình đó.
Khi về lại văn phòng, tôi khóa cửa và giam mình trong đó. Đầu óc tôi luôn sáng suốt, tỉnh táo, khi tôi ngồi trước máy đánh chữ. Thế là tôi cho giấy vào máy và bắt đầu diễn tả những cảm nghĩ riêng của tôi. Tôi tự bảo mình chỉ làm như thể suy nghĩ lớn tiếng, thế thôi, chứ không cố ý viết thành một bài báo. Nhưng đồng thời, tôi linh cảm thấy các ý nghĩ của tôi sẽ được phơi bày trên trang giấy, khi viết xong.
Ngày 5-2-1986
Những ý nghĩ cá nhân về Mễ Du
Tôi đã có đôi chút tự hứa với chính mình sẽ không viết về các biến cố Mễ Du trong một thời gian. Nhưng tôi thấy mình không làm vậy được - ít nhất cho đến khi tôi có được cơ hội để nói về vấn đề ấy theo quan điểm cá nhân của tôi.
Người ta có thể đề cập đến biến cố Mễ Du bằng nhiều cách. Có người hiếu kỳ, thích bất cứ điều gì khác lạ ngoài khuôn khổ bình thường chỉ vì tò mò; có những người không tin thì phỉ báng, giễu cợt những trò vớ vẩn vượt ngoài khuôn khổ mắt thấy tai nghe thông thường; và có những người tin. Họ tìm kiếm Dấu lạ và những lý do để củng cố lòng tin của mình. Đôi khi, họ tự biến thành nạn nhân vì quá cả tin.
Mễ Du có thể dẫn người ta vào một trong những cách xử lý trên, hay một cách nào khác nữa. Xét cho cùng, bạn đang giáp mặt với một biến cố bày tỏ một điều gì vượt quá sự thông thường. Chúng ta được bảo cho biết rằng Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, Thân Mẫu Đức Giêsu, đang hiện ra với một nhóm thiếu niên, tại một làng xa xôi trong một nước Xã hội chủ nghĩa. Chúng ta được nghe nói là sự việc đó đã xảy ra từ ngày 24 tháng 6 năm 1981, và còn tiếp tục hiện ra cho đến hôm nay. Và chúng ta được nghe là ta phải cấp tốc hòa giải với Thiên Chúa càng sớm càng tốt, vì trên hoàn cầu loài người đang sa sút trầm trọng về lòng tin vào Thiên Chúa.
Nếu phải liệt tôi vào hạng người nào nói trên, thì tôi được xếp vào hạng người hiếu kỳ, đó là lý do chính khiến tôi quan tâm đến biến cố độc đáo này lúc đầu. Trong một lần nói chuyện với bạn bè, bất ngờ tôi nghe nói về Mễ Du. Thấy thích thú, tôi bắt đầu mày mò tìm hiểu. Tôi tưởng sẽ dùng câu chuyện này làm một bài báo hay cho mùa Giáng Sinh. Nhưng không ngờ, khi triển khai, thì bằng cách này cách khác, nó đã phát sinh thành một loạt bốn bài, mà tầm mức lại vượt quá khuôn khổ một bài xã luận thường kỳ của tôi. Nó đã trở thành một việc quan trọng bậc nhất trong đời tôi. Ít ra, tôi có cảm tưởng như vậy. Tại sao? Lúc ấy tôi không hiểu được. Bây giờ, thì tôi đã hiểu.
Phép lạ đích thực của Mễ Du là sự hoán cải của người dân sống ở đó. Nó cũng là sự hoán cải của những ai nghe về Mễ Du mà canh tân, hối cải và hòa giải, hoặc bất cứ danh từ nào mà các bạn muốn.
Đó là sự khám phá hay tái khám phá đức tin, đúng như ý nghĩa của nó. Một sự hiệp nhất lại với Thiên Chúa và những gì Ngài muốn nơi chúng ta.
Hằng ngày, thư bạn đọc yêu cầu gửi cho bản sao của cả bốn phần bay đến tòa soạn. Đến bây giờ, hơn 135 bản đã đến tay bạn đọc. Để được vậy, đòi hỏi mọi người phải gửi tới một bao thư dán tem, ghi sẵn địa chỉ; việc ấy chẳng mấy ai thích làm, trừ phi vì một điều gì đó rất quan trọng. Tôi đã nhận được vô số cú điện thoại gọi đến, và ở nơi nào tôi đến, người ta đều muốn nói chuyện về Mễ Du.
Hầu hết những người đã viết thư, gọi điện thoại hoặc nói chuyện với tôi về Mễ Du, đều thú nhận họ cảm thấy có một điều gì đang xảy ra tại đó - một điều không thể giải thích bằng những phương pháp khoa học thông thường. Phần đông chấp nhận nó vì nó như vậy. Một số người khác cho tôi biết biến cố đã thay đổi đời sống của họ. Nếu chỉ một ai đó cảm nghiệm được như vậy thôi, thì loạt bài này của tôi cũng đã đáng công rồi.
Cá nhân tôi, tôi tin Đức Trinh Nữ Maria đang hiện ra tại Mễ Du. Tôi tin mạnh mẽ đến nỗi tôi dự tính đến đó trong năm nay. Tôi không giải thích được niềm phấn khích mà biến cố ấy đã mang đến cho đời tôi. Tôi tin mạnh mẽ đến nỗi tôi dự định tiếp tục nghiên cứu, tham khảo về Mễ Du, và nói chuyện với những ai đã đến đó.
Tôi cũng hi vọng nhận được sự cho phép đăng lại trong loạt bài này những đoạn trích từ một trong những sách viết về Mễ Du. Đó là quyển sách cập nhật và đầy đủ nhất, lưu hành trong tháng 5 năm 1985.
Tôi luôn cố gắng viết đúng những gì tôi cảm nghĩ và tin tưởng. Theo tôi, đó là điều mà một nhà văn phải làm. Viết ra câu chuyện này với những cảm nhận thật của mình, quả là một điều hơi khác thường đối với tôi, nhưng tôi lại cảm thấy mình phải làm như vậy.
Chúc các bạn một tuần lễ tốt đẹp!
* * *
Bài viết này đã thật sự tóm tắt và tổng kết vấn đề. Nó còn ràng buộc tôi phải xưng ra những cảm nhận thật của mình trên giấy trắng mực đen - một điều mà tôi vô cùng mong, nhưng tôi cứ chần chừ, vì lý do này khác. Thông điệp Đức Trinh Nữ ban cho tôi đã bảo tôi: đây là sứ mệnh của đời tôi, nếu tôi chấp nhận. Trong khi nghiên cứu các sách về Mễ Du, tôi để ý thấy Người không hề bảo bất cứ ai phải làm một việc gì, Người luôn luôn chỉ yêu cầu thôi. Ngay cả các thị nhân cũng khẳng định Người chỉ yêu cầu - xin - chứ không bảo các em phải đi tu làm linh mục, hoặc nữ tu. Khi Ivanka và Mirjana cho thấy hai em dự định lập gia đình, Đức Trinh Nữ Diễm Phúc nói đó là sự lựa chọn của các em, và Người sẽ tôn trọng. Tôi biết điều Người yêu cầu tôi, song hình như tôi coi đó chỉ là một yêu cầu chấp nhận viết về Mễ Du và sống một cuộc đời tốt hơn thôi. Còn lời kêu gọi lấy Mễ Du làm sứ mạng đời mình thì tôi phớt lờ.
Trong hai tháng qua, nhiều sự việc đã xảy đến như để giúp tôi tăng trưởng về mặt thiêng liêng rất cần thiết cho công tác, ấy thế mà lúc đó tôi không nhận ra. Sự việc thứ nhất: tôi khám phá ra chuỗi hạt Mân Côi. Chuyện là thế này: Có một bà bên Nhà thờ Công giáo vùng đó gọi điện thoại xin tôi gởi bản sao các bài báo cho bà. Bà tự giới thiệu bà là người phụ trách gian hàng bán đồ vật lưu niệm tại Nhà thờ, và bà gọi điện thay mặt một nhóm nữ tu ở đây. Bà nói: “Chúng tôi không biết cám ơn ông làm sao cho đủ, vì đã viết về Đức Mẹ Mễ Du. Các chị nữ tu và tôi có một món quà cho ông. Chúng tôi mong ông ghé qua Nhà thờ ngày thứ bảy, lúc năm giờ chiều. Chúng tôi muốn cho ông thấy chúng tôi đánh giá cao về những gì ông đã làm. Ông chỉ cần xin gặp bà Alford.”
Hết sức cảm động, tôi đồng ý ghé qua, tuy hơi ngại ngùng, vì tôi chưa bao giờ đến một Nhà thờ Công giáo. Gian hàng đồ vật lưu niệm nằm ngay ngoài hàng hiên, và tôi gặp bà ấy ở đó. Bà nói: “Cứ gọi tôi là “Taxi”, ở đây, người ta quen gọi tôi như vậy.” Rồi đưa tay ra, bà nói: “Dạ đây, tôi muốn tặng ông cỗ tràng hạt này. Nó từ Fatima đấy.”
Tôi nhìn xâu chuỗi hạt nhỏ bằng gỗ: “Ồ, cám ơn bà. Chắc vợ tôi sẽ thích lắm!”
- “Không, không, cái này là cho ông. Ông có muốn thêm một cái nữa cho bà nhà không?”
- “Ồ, không, đó chỉ là... ờ...ờ … tôi sẽ làm gì với cái này?”
Bà phá lên cười: “Đúng rồi! Ông đạo Tin Lành nên không biết chuỗi Mân Côi là cái gì. Đó là một loại kinh nguyện, tên Mân Côi, nghĩa là một vòng hoa hồng đặt dưới chân Đức Kitô. Cuốn sách bỏ túi này sẽ cho ông biết cách sử dụng. Ông biết không, ông cần phải tìm hiểu thêm về người Công giáo chúng tôi và những điều chúng tôi tin.” Bà mỉm cười tiếp: “Ủa, mà sao ông không đến dự lễ với tôi? Vài phút nữa là bắt đầu.”
- “À, tôi không biết, tôi phải...”
- “Thôi mà, không làm ông đau đâu!” bà mỉm cười, “với lại Lễ không lâu đâu.”
Thế là tôi dự Thánh Lễ Công giáo đầu tiên của tôi. Thoạt đầu, tôi hơi bứt rứt, nhưng sau đó thì ngạc nhiên, vì thấy Thánh Lễ Công giáo sao mà giống lễ nghi bên Tin Lành Lutêrô chúng tôi quá. Quả thực, chỉ trừ một vài từ, còn phụng vụ đôi bên hầu như y hệt. Điểm khác biệt chính yếu là phần Hiệp Lễ, hoặc phép Thánh Thể - như họ gọi. Tôi yêu mến việc phụng tự ấy. Khi tan lễ, tôi cảm thấy thoải mái như ở nhà, nghĩa là cho đến lúc tôi được gặp vị mục tử (Cha Quản Xứ Nhà thờ đó). Tôi biết ông ít ra từ chín năm nay, vì cả hai chúng tôi là thành viên của câu lạc bộ dân sự địa phương. Khi đang chuyện trò với ông ở hàng hiên Nhà thờ, thì có một giáo dân nhận ra và nói với ông: tôi là tác giả của mấy bài báo về Mễ Du, “nơi mà Đức Thánh Mẫu Hồng Phúc đang hiện ra hơn bốn năm nay”, bà ta nói thêm.
Đột nhiên, ông bạn tôi lùi lại, khua tay và kêu lên: “Không, không, không! Anh đừng có dính dáng vào mấy cái trò hão huyền đó! Anh là một ký giả, Wayne ạ! Anh nên biết mấy chuyện đó không có thực, đó chỉ là những chuyện hoang đường, hoặc do tưởng tượng quá mức thôi!”
Chúng tôi đứng đấy trong im lặng sửng sốt. Cuối cùng, một trong các phụ nữ có mặt hỏi ông: “Thưa cha, cha không tin có việc hiện ra tại Mễ Du? Cha không tin Đức Mẹ đang hiện ra ở đó à?”
- “Dĩ nhiên là không!” ông kêu lên. “Tôi không tin bất cứ thứ hiện ra nào cả. Chúng ta không cần những cuộc hiện ra của Đức Mẹ hoặc của bất cứ ai; chúng ta chỉ cần không rời mắt khỏi Chúa Giêsu. Chỉ có thế thôi!”
Tôi choáng váng; tôi vừa nhận được phản ứng tiêu cực đầu tiên đối với các bài báo - mà lại từ một linh mục Công giáo! Sau vài phút nói chuyện gượng gạo, tôi cám ơn bà “Taxi” về món quà xâu chuỗi của bà và xin kiếu.
Tôi khó mà xua đuổi khỏi đầu câu trả lời tiêu cực của linh mục vừa rồi, và linh cảm đấy sẽ không phải lần cuối tôi phải nghe câu trả lời kiểu đó. Tôi cứ ngây thơ tưởng là mọi người Công giáo đều đơn giản nhìn nhận những vụ hiện ra như là một phần của Giáo Hội họ. Sau này, tôi mới khám phá ra giữa những người Công giáo với nhau, kể cả linh mục và tu sĩ, cũng có những tranh cãi về Đức Trinh Nữ Maria và những vụ hiện ra, như trong những giáo phái Kitô giáo khác.
Trong lúc ấy, tôi ra sức tìm hiểu về kinh Mân Côi. Tôi mới vỡ lẽ ra, kinh Mân Côi không phải là của riêng bên Công giáo, mà là một kinh nguyện đẹp đẽ. Nhưng lần đầu tiên khi đọc thử, tôi không tài nào tập trung tâm trí lâu đủ để nhận ra cái đẹp của ý nghĩa kinh ấy.
Xét kỹ lại thì ra, trước khi được biết về Mễ Du, thời gian tôi dành cho việc cầu nguyện dồn lại chỉ được chừng năm phút mỗi tuần. Còn việc lần hạt này, nếu đọc cho sốt sắng thật lòng, phải mất tối thiểu 20 phút.
Chính trong thời gian hồi sức sau bệnh cúm, tôi bắt đầu nghiệm được cái hay đẹp và sức mạnh của kinh Mân Côi. Tôi khám phá ra rằng đó là một kinh nguyện tổng hợp những suy niệm và những câu Lời Chúa trích ra từ Kinh Thánh, tập trung vào cuộc đời Chúa Giêsu. Thật vậy, nó như là tiểu sử rút gọn của cuộc đời Chúa Giêsu. Tôi quyết tâm nguyện kinh này hằng ngày - không phải vì Mễ Du, hay đặc biệt vì sùng kính Đức Maria, mà là vì chính tôi. Chưa bao giờ tôi có cảm giác hầu chuyện với Chúa một cách sâu đậm đến như thế.
Rồi đến sự việc đi thăm Cha Sylvester Scotti lần thứ hai. Trước đó, bài xã luận thứ tư đã ra mắt độc giả và cha Scotti đã đọc bài phỏng vấn ông trong đó. Mấy hôm sau, ông gọi tôi để cám ơn, nhưng giọng ông lại nghiêm trọng một cách không tự nhiên. Ông muốn tôi đến thăm ông càng sớm càng tốt. Ông gọi đến, tôi mừng quá, vì tôi rất muốn gặp ông lần nữa. Tôi cũng nghĩ ông có thể sẽ chỉ cho tôi biết nên đọc tiếp sách nào. “Chiều này thì sao ạ?” tôi hỏi, hi vọng ông sẽ rảnh.
- “À... Tôi có một cái hẹn đi ăn tối nay, nhưng trước đó, tôi gặp anh cũng được.”
Tôi bảo đảm sẽ có mặt ở đó trong vòng một giờ nữa. Đến nơi, tôi nhận thấy có vẻ gì khang khác nơi ông. Vẫn mừng khi gặp tôi như lần trước, nhưng lần này, ông có vẻ nghiêm nghị hơn, và hơi lo lắng. Cà phê có rồi, chúng tôi nói chuyện với nhau hơn hai giờ. Sau cùng, ông nhắc tôi ông có cái hẹn tối nay và không còn nhiều thời gian để bàn bạc với nhau. “Tôi có mấy quyển sách muốn tặng anh đây”, ông vừa nói, vừa trút hết sách trong kệ ra cho tôi.
Đa số sách ấy viết về Đức Maria - lịch sử vai trò của Người trong Giáo Hội; chuyện về các linh mục và những người có lòng sùng kính Người. Nhiều quyển khác viết về Giáo Hội tiên khởi. Phút chốc, chúng tôi đã làm đầy một thùng giấy lớn. Tôi cam đoan sẽ đem trả lại cho ông ngay khi đã đọc xong.
- “Cứ giữ đi!” ông nhấn mạnh và bằng một cử chỉ khua tay, gạt ý định trả sách lại của tôi. “Anh biết không”, ông nói với vẻ đăm chiêu, “Tôi hiến trọn đời tôi cho Đức Maria. Cứ mỗi kỳ nghỉ mà tôi có được, tôi đều đến Fatima hoặc Lộ Đức, hoặc Knock - những nơi Người đã hiện ra.” ông ngừng một chút, “Chắc là tôi đã biến thành một người kỳ quặc”, ông thở dài, “nhưng tôi cho là đáng công. Và dĩ nhiên, Mễ Du là nơi vượt trổi hơn hết!” Ông nhìn đồng hồ tay: “Tôi phải sửa soạn để đi. À này, còn một cái tôi muốn tặng anh trước khi anh về. Đợi một chút để tôi đi lấy.”
Ông trở lại, tay ôm một thùng gỗ cao khoảng 1 mét, rộng 30 phân. Đó là một bức tượng Đức Maria: “Bức tượng này rất đặc biệt”, ông giải thích, “Tôi đem đi Roma và được Đức Giáo Chủ làm phép. Làm chuyện này kể cũng điên thật, nhưng hễ tôi đi Mễ Du, tôi cũng đem theo luôn.” Ông im lặng và nhìn vào mắt tôi: “Tôi muốn anh đem về nhà, giữ nó vài tuần.”
- “Cha Scotti, tôi không thể nhận cái này được! Tôi làm vỡ mất.” Tôi cứ mường tượng bộ mặt của Terri, khi tôi bước vào nhà với một bức tượng Đức Trinh Nữ Maria cao 1 mét như vậy. Nàng vẫn lo tôi “bị ám ảnh bởi Mễ Du”, như cách nói của nàng.
- “Không”, ông nói nghiêm trang đến nỗi tôi không còn cách nào cãi được, “Anh phải nhận lấy. Tối nay, cứ giữ lấy trong vài tuần.”
Tôi thở dài, miễn cưỡng chấp nhận, rồi hai chúng tôi mang bức tượng và thùng sách ra xe. Sau khi “cốp” xe đã đóng lại xong xuôi, ông tỏ vẻ vô cùng nhẹ nhõm, như trút được gánh nặng nghĩa vụ nào đó. Ông mỉm cười: “Rồi đó, anh đã được giao cho tất cả những thứ này. Hãy sử dụng chúng thật tốt!”
- “Vâng, tôi hứa.” tôi mỉm cười. “À, tuần tới, tôi có việc phải đi ra ngoài thành phố vài ngày, nhưng khi tôi về, chúng ta sẽ gặp lại. Thứ hai, tuần sau nữa, được chứ ạ?”
- “Được, được”, ông lơ đãng gật đầu. Tôi nhủ thầm sẽ gọi điện để nhắc ông.
- “Xin Chúa ở với anh, Wayne ạ!” ông nói lặng lẽ.
- “Và cũng ở với Cha nữa”, tôi vui vẻ nói qua cánh cửa mở. “Thứ hai sau nữa sẽ gặp lại Cha nhé!”
Trên đường về, tôi cố nghĩ cách để đưa bức tượng Bà Maria vào nhà. Chuyện không dễ chút nào. Terri đang lo là tôi nhiệt tình quá đà, mà đây sẽ là bằng chứng cụ thể. Nhưng may quá, khi tôi đến nhà, thì nàng đang bận làm cơm tối trong bếp. Phòng giặt ở ngay cạnh nhà để xe, nên tôi đưa cái thùng gỗ vào đấy và mở ra.
Bức tượng làm bằng thạch cao, tô màu bằng tay rất thanh nhã, tôi nghĩ đây là vật đẹp nhất tôi chưa từng thấy! Tôi cẩn thận lấy tượng ra khỏi thùng, rồi nhón chân bê nó đi ngang qua nhà bếp, vào phòng ngủ và đặt nó lên trên một cái bàn thấp. Xong rồi, tôi gọi Terri và Kennedy vào phòng ngủ.
Tôi đứng ngay cửa để quan sát sắc mặt của hai người. Kennedy thì ngỡ ngàng, còn Terri nhíu mày, tay chống nạnh và quay lại phía tôi.
- “Cái này đẹp quá hả em?” tôi hỏi, hi vọng tháo được ngòi nổ tôi thấy trong mắt nàng.
- “Đẹp!”, nàng nói thong thả, vừa lắc đầu. “Em không ngờ là anh đã đi xa đến thế trong cái vụ Bà Maria này! Anh lấy ở đâu ra cái này?”
- “Cha Scotti bảo anh đưa về nhà giữ trong vài tuần.”
- “Anh biết không, anh thật làm em lo lắm! Anh nói câu nào thì cũng là Maria, Maria! Vậy còn chỗ nào cho Chúa Giêsu?”
Sửng sốt bởi câu đáp của nàng, tôi lắp bắp: “Terri à, anh hiện cầu nguyện với Chúa Giêsu, anh chưa bao giờ gần gũi với Ngài hơn bây giờ. Thực ra, bây giờ anh cầu nguyện nhiều hơn bao giờ hết - tất cả là nhờ Đức Maria. Người chỉ đường cho anh đến với Chúa và anh không đặt Người choán chỗ của Chúa Giêsu đâu, tin anh đi!”
Nàng cứ lắc đầu, chẳng buồn nghe tôi nói. “Vậy thì anh sẽ đưa nó ra khỏi đây”, tôi thở dài nói với sự nhẫn nhịn, “để đặt ở phòng khác.”
- “Không, để yên đó. Anh đừng lo, có hai tuần thì em sống với nó được.”
Thứ hai sau, tôi đi công tác, và khi gọi điện về nhà đêm đó - như tôi vẫn làm khi đi xa -, Terri trả lời với giọng hơi khang khác. Tôi hỏi nàng có chuyện gì xảy ra, nhưng nàng trấn an tôi là mọi sự đều yên ổn. Khi về đến nhà tối thứ năm và khi đã cho bọn trẻ đi ngủ, tôi mới biết đó là chuyện gì. Terri nói cách bình tĩnh: “Em phải nói cho anh hay chuyện này. Hôm thứ hai, Jim Stoffel gọi điện thoại báo cho biết cha Scotti đã qua đời sáng hôm ấy, do một cơn đau tim đột ngột. Em không muốn nói với anh qua điện thoại trong lúc anh đang đi xa.”
Tôi ngồi đừ ra đấy, bần thần vì hung tin, rồi đi vào phòng ngủ. Tôi đóng cửa lại, ngồi ở mé giường, đăm đăm nhìn bức tượng Đức Maria. Nước mắt tôi lăn dài trên má. Bất chợt, tôi nghe như có tiếng cười của cha Scotti, và tôi cảm thấy lòng mình trào dâng một niềm vui. Tôi thấy chuyện ấy, một cách nào đó, không thể buồn được. Dường như tôi đã hiểu ra: cha Scotti đã nhận được điều ông mong ước từ lâu: một chỗ trên thiên đàng.
Tôi ra khỏi phòng, đến với Terri và nói cho nàng cảm nghĩ của tôi: “Anh tin là ông bây giờ đang ở trên thiên đàng, và ông được hạnh phúc, rất, rất hạnh phúc!” Tôi lắc đầu: “Đây là một cảm giác lạ lùng nhất!”
- “Jim Stoffel biết anh sẽ bị đau buồn, nên anh ấy...”
- “Nhưng anh không đau buồn, không như anh ấy nghĩ đâu. Anh chỉ mừng cho cha Scotti thôi. Anh thật tình không thể giải thích điều đó được.” Tôi cau mày, “Mặc dù vậy, anh cũng không biết phải làm gì với bức tượng bây giờ. Anh nhớ hình như ông có nói về một người em gái ở đâu đấy - hoặc cũng có thể ông muốn anh giữ bức tượng đó luôn chăng?” Terri cắt ngang: “Em không thích nói cho anh điều này, nhưng Jim Stoffel bảo bức tượng đó không thuộc về cha Scotti, nó thuộc về địa phận, và phải được trả về cho địa phận, để cho các Nhà thờ thay phiên mượn. Anh ấy nói nếu sáng mai anh đem qua nhà anh ấy, anh ấy sẽ mang đi trả giùm anh.”
Tim tôi tan nát, nhưng cuối cùng, cũng phải đồng ý. Tối hôm ấy, khi nghĩ về hai lần đến thăm cha Scotti, tôi nhận ra là ông đã cho tôi biết bao điều, duy chỉ trong một thời gian ngắn như vậy - vượt xa những quyển sách và pho tượng. Hơn nữa, tôi tin chắc, một cách nào đó, ông biết mình sắp chết, nên đã chủ tâm tặng cho tôi tất cả các thứ ấy. (Điều này đã được cô em của ông xác nhận với tôi như vậy sau này, khi tôi gặp cô trong một chuyến đi thuyết trình tại bang Florida).
Sáng hôm sau, khi nhẹ nhàng đặt pho tượng vào thùng, tôi nói với Terri: “Đấy, chắc em sẽ sung sướng khi thấy pho tượng này ra đi.”
- “Không”, nàng nói với giọng nghẹn ngào, “tượng đẹp thật!” Và nước mắt nàng trào ra.
-
“Hãy tích cực sống và loan truyền sứ điệp...”
Chương 10
HÃY ĐẾN MÀ XEM
Tôi phải đi Mễ Du - và đi sớm. Không phải để chứng minh việc hiện ra ở đó là có thực. Bài báo cuối cùng tôi viết đã công khai cho biết ý tưởng của tôi nhìn nhận như thế. Tôi muốn đi để tự mình cảm nghiệm sự thiêng liêng của nơi ấy. Việc chuyển giao quyền sở hữu của mấy tờ báo sẽ kết thúc vào đầu tháng tư; tôi sẽ đi ngay sau đó, càng sớm càng tốt.
Bài báo cuối cùng cũng đã giải phóng tôi khỏi nô lệ vào ham muốn được người khác nghĩ tốt về mình. Tôi không còn bận tâm đến uy tín nhà báo nữa. Trong tôi hiện nay đã chớm nở một sự hiểu biết sơ đẳng về điều mà Đức Trinh Nữ Maria đề cập đến, khi Người kêu gọi mọi người hãy ăn năn trở lại tận đáy lòng. Và, chẳng cần phải nói đâu xa, việc Người yêu cầu tôi cộng tác tích cực vào việc loan truyền sứ điệp Mễ Du không bao giờ xa rời tâm trí tôi.
Trong khi đó, những tin tức sốt dẻo về Mễ Du cứ tiếp tục đến, do vậy, tôi thấy cần viết thêm một bài báo nữa để bắt kịp tình hình, trước khi tôi lên chương trình cho chuyến đi.
“Cái này coi bộ dễ làm đây”, tôi nghĩ thế, khi đánh vào máy cái tựa đề và ngày tháng... Tôi khởi sự bằng cách thuật lại nguồn gốc câu chuyện, rồi tiếp tục như sau:
Ngày 5-3-1986
Tin tức mới nhất về biến cố Mễ Du
Con số tổng cộng của hiện tượng được báo cáo là hiện ra, tính đến nay đã gần 2.000 lần! Chưa bao giờ trong lịch sử, những cuộc hiện ra của Đức Maria lại có một tình trạng như vậy. Vào giai đoạn đầu của sự kiện này, vị Khách Thiên Đình có hứa tiết lộ mười bí mật, hoặc sứ điệp, cho mỗi em trong sáu thiếu niên... Các thị nhân nói là chỉ có bốn bí mật có liên hệ chung đến tất cả nhân loại, mấy bí mật khác liên hệ đến cá nhân mỗi em, hoặc đến cộng đoàn giáo xứ Mễ Du.
... Sứ điệp chính của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc đã được giải thích rõ ràng. Qua những lần hiện ra, Đức Maria đã lặp đi lặp lại về sự phải quay trở về với Thiên Chúa, ăn năn thống hối, tăng cường lòng tin, chay tịnh, cầu nguyện, hòa giải với tha nhân và bình an cá nhân - mà chỉ có những người đã khám phá ra ý nghĩa đích thực của mối tương quan đích thân với Thiên Chúa mới biết được mà thôi.
Những độc giả thường xuyên của báo chúng tôi (The News & Shopper) đã có dịp đọc loạt bốn bài báo về sự kiện ở Mễ Du, phát hành từ tháng 12 đến đầu tháng giêng. Bài báo dưới đây nhằm cập nhật những thông tin về tình hình của sáu thiếu niên trực tiếp liên can đến những cuộc hiện ra.
Hiện giờ, chỉ còn bốn thị nhân tiếp tục được Đức Maria hiện ra hằng ngày ở bất cứ nơi nào họ có mặt. Đó là Vicka, Marija, Ivan và Jacov. Hai em khác, Mirjana và Ivanka, đã không còn thấy Đức Trinh Nữ Maria hằng ngày nữa. Hai em đã lãnh xong mười bí mật: Mirjana nhận vào ngày lễ Giáng Sinh 1982, và Ivanka ngày 6-5-1985. Từ đó, hai em không còn được thấy Người hằng ngày nữa. Đức Trinh Nữ Maria hứa với Ivanka là Bà sẽ đến thăm em vào ngày kỷ niệm lần hiện ra đầu tiên (25-6); còn với Mirjana, Người hứa sẽ hiện ra với em vào ngày sinh nhật của em (18-3), bao lâu em còn sống, cũng như trong những lúc khó khăn của đời em. Trong một lần phỏng vấn, người ta hỏi Mirjana tại sao Đức Maria hứa hiện ra và giúp em trong những lúc em gặp gian nan, mà lại không đến cứu giúp chúng tôi như vậy trong những lúc khó khăn của chúng tôi? Mirjana đáp: “Tôi không nói về những khó khăn thường tình của cuộc sống riêng của tôi. Những lúc khó khăn của tôi phát sinh từ những bí mật có liên can đến tương lai thế giới, mà Đức Mẹ tiết lộ cho tôi. Lắm lúc, tôi thấy mình không chịu nổi khi nghĩ về những bí mật ấy. Những lúc đó, Đức Mẹ hiện ra ban cho tôi sức mạnh và lòng can đảm để tiếp tục sống.”
Cả hai em Mirjana và Ivanka nhận từ nơi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc một miếng vải trông giống như giấy, nhưng không phải giấy - một thứ vải mà không phải vải. Trên mảnh vải ấy có ghi tất cả mười bí mật, với ngày, tháng, cả giờ, phút nữa. Chính mỗi em trong hai em này mới đọc được những bí mật được giao cho riêng mình.
Tấm giấy, hoặc vải, hoặc gọi là vật gì đi nữa, không thể bị phá hủy bởi lửa. Đức Maria bảo mỗi em trong hai thị nhân này chọn một linh mục, để gởi cho ngài tấm giấy/vải có ghi mười bí mật đó mười ngày trước khi chúng xảy ra. Về phần linh mục ấy, nhờ sự trợ giúp của Đức Maria, sẽ đọc được sứ điệp của mỗi bí mật và sẽ công bố ba ngày trước khi nó xảy ra. Ông sẽ mô tả đầy đủ tính chất, thời gian, chi tiết đến từng giờ phút và nơi xảy ra của bí mật ấy.
Linh mục sau đó sẽ trả lại vật ấy cho thị nhân đã trao nó cho ông. Ông sẽ không đọc được tất cả mười bí mật cùng một lúc, mà chỉ đọc được từng bí mật một, lúc cần công bố nó ra. Mirjana đã tiết lộ tên của linh mục mà em đã chọn. Theo Mirjana, Đức Mẹ rất hài lòng việc em lựa chọn linh mục đó, vốn là - theo ý Người - một linh mục tốt.
Cha Petar Ljubicic (trái), vị linh mục được cô Mirjana chọn để tiết lộ 10 bí mật, đang làm chứng ở một buổi hội nghị.
Mirjana kể lại một chuyện liên can đến việc lựa chọn linh mục này: “Khi tôi phải chọn một linh mục để công bố các bí mật, tôi đưa tên vị linh mục ấy cho cha Tomislav Vlasic, dòng Phan Sinh (lúc đó là Linh hướng của các thị nhân). Khi nghe tôi nêu tên của linh mục mà tôi chọn, cha Tomislav Vlasic nói: “Ngài ở xa Mễ Du, con nên chọn cha nào khác đang ở gần đây.” Tôi trả lời: “Đức Mẹ sẽ lo chuyện đó.”
Ít lâu sau, chính xác là vào tháng 8 năm 1984, Đức Giám mục Zanic thuyên chuyển cha Vlasic khỏi Mễ Du đi nơi khác, và thay thế bằng linh mục mà Mirjana đã chọn để công bố các bí mật được giao phó cho em. Điều trớ trêu ở đây là Đức Giám Mục Zanic không tin vào chuyện hiện ra, và đã làm đủ cách có thể để ngăn cản vụ việc này.
Sự kiện Mirjana đã chọn xong linh mục để công bố các bí mật là dấu cho thấy thời gian dành cho bí mật thứ nhất xảy ra đang đến gần. Những bí mật khác, với khoảng cách thời gian rất ngắn, sẽ xảy ra tiếp theo.
Vicka, thị nhân lớn tuổi nhất, mới nhận được tám bí mật thôi. Cô đã ghi chép xong về cuộc đời của Đức Trinh Nữ trên trần gian - Đức Maria đã đọc cho cô chép. Từ hai năm qua, cô phải chịu đựng những cơn đau đầu dữ dội, gây ra bởi một bướu nước nằm giữa đại não và tiểu não. Các bác sĩ ở thủ đô Zagreb, nước Croatia, không muốn giải phẫu, vì vị trí cục bướu quá tế nhị. Cô đau đớn lắm, nhất là vào buổi chiều cô thường bị hôn mê. Tuy vậy, trước giờ Đức Maria hiện ra hằng ngày tại căn phòng nhỏ bé, đơn sơ của cô, cô lại tỉnh táo như thường. Các bạn của Vicka và các bạn của Mễ Du đã đề nghị hỗ trợ mọi kinh phí cho việc di chuyển, thuốc men, viện phí, nếu cô muốn đến Hoa Kỳ, Luân Đôn hay Thụy Sĩ để giải phẫu. Khi người ta ra sức thuyết phục cô, câu trả lời đơn sơ của cô là: không. Được hỏi tại sao, cô nói: “Đức Mẹ nói với tôi là Thiên Chúa gởi đến cho tôi chứng bệnh này với một mục đích đặc biệt, và tôi đã chấp nhận!” Có người lại hỏi: “Có bao giờ Đức Mẹ nói sẽ chữa lành cho cô không?” - “Không, và tôi cũng không xin Người chữa cho tôi!”
Thiếu nữ đang tuổi xuân xanh tươi trẻ này sinh trưởng trong một gia đình nghèo, nhưng đã từ chối những điều kiện chữa trị đế vương người ta đề nghị với cô, chỉ vì những động lực siêu nhiên. Thử hỏi ai còn có thể kết án cô là dối trá, gian lận hoặc lừa bịp?
Thị nhân Vicka xuất thần trong một buổi diện kiến Đức Maria.
Đời sống của Vicka tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Thần Khí ấy rạng rỡ trên khuôn mặt cô, ngay cả những lúc cô bị hành hạ vì cơn đau.
Marija, thị nhân đã nhận xong chín bí mật, và còn đang nhận những sứ điệp dành cho giáo xứ Mễ Du mỗi ngày thứ năm, luôn gây một ấn tượng thánh thiện nơi người được gặp cô.
Ivan đã xin vào đến hai chủng viện, nhưng vì nhiều lý do nên không thành công, nay vẫn hi vọng trở thành linh mục trong tương lai.
Jakov, người trẻ nhất, đang trưởng thành về thể chất lẫn tinh thần, nhưng vẫn rất hiếu động. Trong những buổi phỏng vấn, cậu cố trả lời nhanh để còn có thời giờ đi chơi. Nhưng khi được hỏi một câu nghiêm túc, lập tức cậu trở thành một thiếu niên suy tư và đưa ra những câu trả lời chững chạc.
Tất cả sáu thị nhân đều hoàn toàn ý thức rằng các em bị hiểu lầm, chỉ trích, ngay cả bị kết án bởi những người lẽ ra phải “tôn trọng và bảo vệ các em” - như nhà thần học lừng danh Hans Urs von Balthazar đã nói.
Các em cũng tin chắc rằng mình được Đức Trinh Nữ Maria hiện đến, và sử dụng như những dụng cụ để truyền đạt sứ điệp thiên đàng cho nhân loại.
* * *
“Cập nhật thông tin như vậy được rồi”, tôi vừa nghĩ vừa kéo trang giấy cuối cùng ra khỏi máy chữ. Và bây giờ, tôi tập trung vào việc chuẩn bị cho chuyến đi.
Qua Jim Stoffel, tôi liên lạc được với nhóm “Trung Tâm Hòa Bình” ở Boston, mà mục tiêu duy nhất là loan truyền sứ điệp Mễ Du, bằng cách phân phát sách báo, ấn phẩm, và tổ chức hành hương. Jim đã đi với họ trong chuyến đầu tiên của anh vào tháng 11. Khi tôi biết là họ có một chuyến khác ấn định vào ngày 30 tháng 4, khởi hành từ Nữu Ước, tôi liền đăng ký ngay. Vì con cái còn quá nhỏ, không thể bỏ ở nhà lâu, nên Terri phải ở nhà, và chính nàng cũng muốn như vậy. Nhưng khi ngày lên đường càng đến gần, nàng càng tỏ vẻ không mấy phấn khởi về chuyến đi của tôi.
Một người khác cũng tỏ ra ít khích lệ tôi, đó là mục sư Bill Wingard của tôi. Chúng tôi đã nhiều lần thảo luận sôi nổi riêng trong văn phòng của ông, luôn luôn xoay quanh sự lo lắng của ông. Ông lo rằng trong sự hăng hái của tôi đối với Bà Maria, tôi đang đánh mất cái nhìn vào trung tâm điểm là Chúa Giêsu Kitô. Ông cứ kêu lên: “Tất cả những gì tôi nghe từ miệng anh chỉ là Maria!”
- “Vậy thì thật ra anh không nghe gì hết, vì tôi cứ kêu Giêsu mà anh lại cứ nghe ra Maria.” tôi biện hộ. “Coi kìa Bill, Bà chỉ đang dẫn đường cho tôi đến với Chúa Giêsu thôi!”
Nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn dẫn đến tranh cãi về thần học. Ông chỉ trích mấy bài báo của tôi và những sách tôi cho ông ấy mượn đều sai giáo lý Tin Lành Lutêrô. Càng ngày tôi càng thất vọng và buồn, vì từ lâu, chúng tôi chơi thân với nhau.
Dần dần, tôi ý thức được là những người khác trong Giáo hội của tôi chỉ còn biết “mong đợi chàng Wayne vượt qua được chuyện này”, và khi họ thấy là tôi không có vẻ vượt qua được, thì công tác dạy trường Chúa nhật của tôi bị xen kẽ với phiên người khác; cuối cùng, tôi chẳng còn được dạy lớp nào nữa.
Điều mà tôi không ý thức được, đó là tác động của tất cả những việc này trên tôi. Khi làm gần xong thủ tục bán lại những tờ báo, và khi thấy nhà xuất bản của mình vẫn lãnh việc in ấn mấy tờ báo đó, nhờ đó thu nhập (của tôi) vẫn ổn định; tôi bắt đầu nghĩ về tương lai. Một lần nữa, tôi quên bẵng cái phần trong sứ điệp của Đức Maria nói (cho tôi) về việc tôi sẽ không còn ở trong ngành báo chí nữa. Thực tế, là khi dàn xếp với các người chủ mới của mấy tờ báo, tôi vẫn được tiếp tục phụ trách mục của tôi, và thậm chí còn được lãnh một món tiền nhuận bút tượng trưng nhờ đó. Muốn cho việc tôi tiếp tục viết bài xã luận có đủ lý do thì cũng dễ thôi: sau chuyến đi từ Mễ Du về, hiển nhiên là sẽ có nhiều bài báo nữa cần được viết về Mễ Du. Còn trong lúc này, tôi mở lại hai mục như đã có trước đây, chỉ đề cập đến những vấn đề thường ngày của địa phương.
Những toan tính của tôi về tương lai càng lúc càng xoay quanh khả năng cộng tác với một cựu nhân viên của báo chúng tôi, hiện đang làm chủ một công ty quảng cáo. Nhờ có kinh nghiệm làm việc bao quát trong lãnh vực này, tôi sẽ làm tư vấn quảng cáo độc lập.
Đó là đôi nét nổi bật trong suy nghĩ của tôi vào một buổi sáng tháng tư, khi tôi ngồi trong văn phòng, trên chiếc ghế ngả ra phía sau và đầu óc hướng về phía trước khoảng sáu tháng. Bất chợt tôi cảm thấy, một lần nữa, thông điệp mạnh mẽ, rõ rệt từ Đức Maria nổi lên trong lòng: “Nếu con không muốn làm việc (Mẹ trao cho con) đó, một người khác sẽ làm.” Tôi ngồi bật dậy như muốn rớt ra khỏi ghế. Tim đập thình thịch, tôi nhảy lên, kêu lớn: “Có, con muốn làm việc đó!”
Cảm thấy mình có vẻ hơi khùng, tôi phân vân không biết mình có tưởng tượng quá trớn hay không. Nhưng tôi đã mau lẹ xua đuổi ý nghĩ đó, vì tôi biết nguồn gốc và ý nghĩa của lời khiển trách ấy, mặc dù nó có đến với tôi một cách nhẹ nhàng mấy chăng nữa. Từ lúc đó trở đi, tôi không còn để tâm nghĩ đến chuyện làm công việc quảng cáo nữa, mà chỉ tập trung vào việc chuẩn bị cho chuyến đi Mễ Du.
Năm ngày trước khi tôi khởi hành, những hàng tít lớn trên các báo om xòm lên về vụ rò rỉ lò phản ứng hạt nhân của Nga ở Chernobyl. Một cột mây phóng xạ khổng lồ đã bị phóng thích và đang bay qua miền Nam Âu châu và Nam Tư. Thêm vào đó, một đợt khủng bố mới nhắm vào người Mỹ ở châu Âu và Munich vừa nổ ra. Munich, nơi chúng tôi phải ghé để đổi máy bay, chính là một trong những điểm nguy hiểm nhất.
- “Nói thật, em thấy chẳng có lúc nào tệ hơn lúc này để anh đi!” Terri phản đối tôi, khi ngồi sau bàn làm việc của nàng. Vợ tôi quả là một người hợp tác làm ăn rất có giá mà tôi có thể cầu mong được. Mỗi lần tôi bị lạc hướng hoặc trật đường, nàng thường lôi tôi về rất nhanh bằng một vài lý lẽ thực tế đập mạnh vào mắt. Sự thật thường làm đau “cái tôi” và lòng kiêu hãnh của tôi, nhưng nàng vẫn thường có lý.
Hôm nay, nỗi lo của nàng không phải là về công việc. “Đám mây (phóng xạ) đang tràn đến miền ấy, thế mà anh lại đâm đầu vào nó! Như vậy đúng là ngu ngốc!” Nàng ngừng lại, nhưng tôi không nói gì. “Và đó lại là một nước Xã hội chủ nghĩa; làm sao anh biết được những gì họ có thể làm?” Tôi cắn môi. “Em thấy anh chẳng đúng chút nào, khi đi ngay vào lúc mấy tờ báo phải chuyển qua một cách điều hành mới, mà nhất là sau khi anh đã chấp thuận ở lại làm cố vấn cho họ trong hai tháng nữa.”
Tôi không cho nàng biết rằng việc chuyển giao đang diễn tiến trơn tru, và rằng tôi đã thỏa thuận đầy đủ với các người chủ mới của tờ báo cho tôi đi vắng chín ngày. Tôi giữ im lặng, biết rằng Terri cần xả ra hết những lời đó, dù nàng vẫn biết là chúng sẽ không làm tôi đổi ý được.
Ngày 30 đến, nàng lái xe đưa tôi ra phi trường. Tôi cười, nói khi chúng tôi chia tay: “Em đừng lo, anh sẽ không trở về như bóng ma lập loè trong bóng tối đâu! Và anh cũng sẽ không chết rũ trong một nhà tù nào đó ở bên ấy! Anh sẽ về đến nhà trước cả cái bưu thiếp của anh. Chắc chắn mà!”
Nàng cố tạo nụ cười can đảm nhất của nàng khi tôi quay đi và vẫy tay, nhưng nàng chẳng dối được ai, cả tôi lẫn nàng.
* * *
Tại phi trường Kennedy, tôi đi đến phòng đợi chỉ định cho nhóm chúng tôi. Cái thẻ ghi tên gắn trên áo của một phụ nữ có nụ cười rất rộng đang ngồi sau bàn đăng ký cho biết cô là Rose Finnegan, từ Boston. Khi tôi tự giới thiệu, cô ta liền đứng dậy, ôm chặt tôi, la lên: “Chúa chúc lành cho anh, Wayne! Anh là người bạn Tin Lành Lutêrô cùng đi với chúng tôi!”
Nhiều cái đầu quay lại để nhìn anh chàng Tin Lành dớ dẩn này. Gắn xong cái thẻ tên lên áo tôi, cô lùi lại ngắm nghía công trình của mình. Tôi giữ nụ cười vô hồn trên mặt. Như một nguyên tắc, tôi rất ghét mấy cái thẻ gắn tên và, nếu có thể vứt được, không bao giờ đeo nó trong lúc làm nhiệm vụ. Nhưng cái này thì tôi sẽ phải đeo trong tám ngày nữa.
Tôi mang theo nhiều sách về Mễ Du. Chọn một chỗ ngồi cách xa những người khác, tôi chuẩn bị vùi đầu vào một quyển. Nhưng khi rút sách ra khỏi cái túi du lịch mà họ mới cho, mắt tôi chạm vào cái tên trên túi. Tôi cố nhớ lại điều Jim Stoffel đã kể với tôi về Trung Tâm Hòa Bình.
Trung Tâm này bắt đầu với John Hill, một doanh nhân cực kỳ thành công ở Concord, bang Massachusetts. Bất cứ cái gì ông thực hiện đều hái ra tiền, nhờ đã trưởng thành từ cái trường đời khốc liệt mà ông lăn lộn từ tấm bé. Hiện nay, ông làm việc như một loại thầu khoán, đảm nhiệm nhiều thứ cùng một lúc, kể cả làm chủ cái xưởng tái chế đèn đường kiểu cổ và ghế dài bằng sắt uốn.
John có tính độc lập mạnh mẽ. Một người bạn lâu năm tặng ông một băng vidéo về Mễ Du, khi xem xong, ông khẳng định đấy là một sứ điệp hòa bình cho thế giới. Có điều gì đó trong quá khứ bừng dậy trong ông, đánh động ông một cách sâu xa hơn bất cứ điều gì trong nhiều năm. Là một người mang danh Công giáo, nhưng ông đã không đi Nhà thờ từ khi còn nhỏ, chỉ trừ những dịp lễ cưới hay lễ tang; giờ đây, ông đã tìm đến một Nhà thờ và bắt đầu cầu nguyện.
Ivan,Vicka, Ivanka, Marija : họ không khác gì týp thiếu niên choai choai cùng tuổi…
Tôi mỉm cười khi nhớ lại chuyện của ông ta, vốn không khác gì mấy với chuyện của tôi. Hình như Đức Maria đang muốn tuyển mộ một đợt tông đồ độcđáo, “chẳng giống ai”. Tôi lại mỉm cười. Có lần các thị nhân hỏi Người sao lại chọn các em, (các em có tốt gì hơn các bạn trẻ khác đâu) Người cười và đáp: “Mẹ không luôn chọn những người tốt nhất.”
Tin là Chúa đã nói, John và một người bạn bắt đầu Trung Tâm Hòa Bình, lập văn phòng trong xưởng đèn măng-sông và thu hút những người tình nguyện. Theo một nghĩa nào đó, họ chính là những người tiên phong, tổ chức chu đáo những chuyến đi và các tiện nghi, tại một xứ sở còn hoàn toàn nằm ngoài lịch trình đường bay quốc tế.
Đến nay, dĩ nhiên, một tập quán làm việc tốt đẹp đã thành hình, nhưng vào lúc đầu, họ thật là những người mở đường. Điều trớ trêu là chính John vẫn chưa đặt chân đến Mễ Du. Ông ta tin công việc của mình là ở nhà, để làm cho những người khác đi tới đó. Tôi mong đến ngày được gặp người đàn ông này, người đã làm được rất nhiều cho việc truyền bá sứ điệp, nhưng lại không có ý muốn đích thân đến đó.
Họ thông báo đến giờ bay, tôi đứng dậy đi vào hàng. Ai nấy đều xôn xao, chúng tôi sắp lao vào một cuộc phiêu lưu để đời. Đoàn chúng tôi có tất cả 70 người, gồm đủ nam nữ, già trẻ.
Trên máy bay, tôi ngồi cạnh một phụ nữ trẻ có tên Maureen Thompson, từ Philadelphia. Cô rất cởi mở, thân tình, nên chẳng mấy chốc, chúng tôi trao đổi với nhau những câu chuyện đã đưa chúng tôi đến với sự kiện Mễ Du.
Tôi mau chóng phát hiện rằng mọi người trong chuyến đi này đều có một câu chuyện độc đáo giải thích lý do khiến họ có mặt ở đây. Dần dà, tôi biết được đó là một nét chung của bất cứ cuộc hành hương nào.
Trước khi lên máy bay, tôi đã để ý đến Maureen. Vì lý do nào đó, tôi nghĩ cô ấy là một nữ tu. Trang phục của cô trông như là đồng phục, và vì thời nay, một số dòng tu chấp nhận lối ăn mặc tân thời, nên tôi cho đó là lý do cô không mặc áo dòng. Hóa ra cô ấy đang học năm cuối để thành y tá. Cô nghe nói về Mễ Du và khao khát được đến đó, mặc dù có những khó khăn về tài chánh. Cha cô, một nhân viên cảnh sát có năm con, phải cật lực làm việc để nuôi chúng ăn học...
Dẫu vậy, Maureen cứ viết cho Trung Tâm Hòa Bình xin thông tin để tham khảo sau này. Cô đã từng cầu nguyện, than thở với Chúa là cô muốn đi lắm, nhưng khi biết chuyến đi tốn khoảng 1.300 đô, cô kể như xong rồi, chỉ là một giấc mơ đẹp...
Thế rồi, có một lá thư đến từ trường đại học, nơi cô sắp lãnh bằng cử nhân ngành điều dưỡng. Cô chết lặng khi biết mình đã trả dư học phí suốt bốn năm qua, và bây giờ họ hoàn tiền lại cho cô với tấm ngân phiếu hơn 500 đô! Cũng trong tuần đó, cô nghe tin từ cơ quan IRS (quan thuế ?) : cô đã tính lầm tiền thuế lợi tức thu nhập của năm trước, nên họ trả lại cho cô hơn 500 đô! Khi cô kể cho cha mẹ về hai của trời cho phi thường này, họ liền bù thêm một ít nữa cho đủ số tiền để cô đi.
- “Mà ngay cả như vậy, tôi vẫn không thể có mặt đây bây giờ, vì còn phải thi cuối năm vào tuần này.” cô cười, “Nhưng khi thấy tiền đã đến với tôi như thế, tôi nhận ra là chính Rất Thánh Đức Mẹ đang gọi tôi đến Mễ Du. Cho nên tôi làm đơn xin phép đặc biệt để thi kỳ kế tiếp khi trở về, và đơn của tôi lại được chấp thuận!”
Đó là câu chuyện đáng ngạc nhiên - và đó cũng là lần đầu tiên tôi nghe người ta gọi Đức Trinh Nữ Maria là “Rất Thánh Đức Mẹ”. Thực ra, đây là lần đầu tiên tôi thực sự tiếp xúc với một người rất là “Công giáo”. Ngay lúc đó và nơi đó, Maureen Thompson thành “cầu nối Công giáo” của tôi trong suốt chuyến hành hương. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi sau này, cô bộc lộ cho tôi biết chính cô cũng đã có những trăn trở, ray rứt về lòng tin.
Rồi tôi kể cho cô ấy nghe câu chuyện của tôi - chừa ra sứ điệp của Đức Maria. Cả hai chúng tôi đều phấn khích trước câu chuyện của nhau, thực tế là cả hai đã hăng hái đến nỗi quên cả ngủ mà nói chuyện suốt chín tiếng đồng hồ - về sau, tôi thấy điều này cũng khá phổ biến trong những chuyến đi Mễ Du. Trong thời gian chín tiếng này, có lúc tôi đã nói với cô: “Này Maureen, điều này nghe hơi quái đản, nhưng chúng ta sẽ là bạn bè của nhau đến suốt đời.”
Cô nhìn tôi mỉm cười, đáp: “Vâng, tôi biết.” Có người ngồi mấy hàng ghế trước chúng tôi kéo màn cửa sổ lên, và tôi ngạc nhiên khi thấy mặt trời đã lên cao khi máy bay chuẩn bị hạ cánh.
-
-
“Hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện. Có cầu nguyện, các con mới biết được niềm vui lớn lao và lối thoát cho mọi hoàn cảnh bế tắc ...”
Chương 11
NGÔI LÀNG
Khi máy bay bắt đầu nghiêng qua phía chúng tôi, chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường Dubrovnik, phong cảnh dãy núi Hercegovina của miền Trung Nam Tư hiện ra thật ngoạn mục. Lần đầu tiên trong chuyến bay mới thấy máy bay bị chao đảo, nhưng vì ai cũng phấn khởi biết mình sắp đến nơi nên chẳng quan tâm. Trong vài phút nữa, chúng tôi sẽ ra khỏi máy bay và lên xe buýt về điểm cuối của hành trình.
Qua tìm hiểu, tôi được biết những người dân Croát đầu tiên đã di dân đến bờ biển Dalmatia vào thế kỷ thứ 6, theo bước triệt thoái của quân đội La Mã chiếm đóng. Họ là một dân tộc sống bằng nghề nông đến từ miền Tây Nam, mà sau này gọi là Ukraina, và cùng với họ là các linh mục thừa sai dòng Phan Sinh. Cũng tiến vào đất này là những người Serbi theo Chính Thống giáo Đông phương - một sự pha trộn (tôn giáo) vốn rất chóng tàn và hời hợt trong thời trung cổ. Những cuộc đụng độ xảy ra thường xuyên giữa các tông phái Kitô giáo Đông phương và La Mã, cuối cùng, đã bị dẹp tan bởi những người xâm lăng đến từ Thổ Nhĩ Kỳ. Họ áp đặt Hồi giáo trên mọi xứ sở họ chiếm đóng. Đến thế kỷ 16, họ đã kiểm soát hầu hết bán đảo Balkan và chiếm cứ vùng này trong ba thế kỷ kế tiếp. Những cuộc thanh trừng đẫm máu của Balkan được lừng danh khắp nơi quả không sai.
Bản đồ miền Trung Nước Nam Tư (cũ), kể từ 1996 gọi là Bosnia-Herzegovina. Làng Mễ Du ở dưới cuối, mé phải. Băng qua biển Adriatique sang bên kia là nước Ý
Như cha Svetozar, người Croát, sinh trưởng tại Bosnia Herzegovina, về sau đã kể: “Khi quân Thổ đến xứ đạo của tôi năm 1525, các vị Thừa sai Phan Sinh đã có mặt rồi. Tại đó có hai Nhà thờ và 12 linh mục. Bảy vị thoát được, còn năm vị kia bị tử hình, xác họ bị vứt xuống sông Neretva.
“Các Kitô hữu trốn ra khỏi vùng và sống ẩn nấp, không có được một cái gì (nâng đỡ về mặt tôn giáo) suốt ba trăm năm. Có lẽ một hoặc hai lần trong một năm, các linh mục kín đáo đến những nơi có giáo hữu, để dâng lễ, rửa tội trẻ em, dạy chúng đôi chút hầu duy trì lòng tin. Bất cứ khi nào người Thổ phát hiện ra những cuộc tụ họp này, họ đều giết sạch.
“Lúc tôi còn bé, hằng năm mẹ tôi thường đến một trong các nơi ấy để cầu nguyện, kính viếng. Bà thường để tôi ngồi gần đó trong khi bà vừa cầu nguyện, vừa lết quanh nơi ấy bằng đầu gối. Bây giờ mỗi khi nghĩ đến điều đó, tôi nhận ra là trong cuộc đời và sự trọn niềm sống đạo của mẹ tôi có toàn bộ lịch sử của dân tộc chúng tôi. Đó là lịch sử lòng tin của chúng tôi, của sự chiến đấu cho việc sống còn của lòng tin ấy, vốn chỉ chấm dứt khi quân Thổ ra đi.”
Còn một điều nữa mà cha Svetozar thường phải nói về lịch sử của dân tộc mình:
“Những năm chịu bách hại và đau khổ ấy cũng là thời gian của ân sủng, thời gian của sự thanh tẩy và canh tân. Thời ấy nếu bạn muốn tin, bạn phải chịu đau khổ vì lòng tin ấy. Đức tin có một cái giá, và giá ấy không rẻ. Chịu đau khổ vì lòng tin quả thật đã không dễ dàng. Tuy nhiên, đó lại là - đã và sẽ là - một phúc lành cho Giáo Hội. Vì từ thời sơ khai, gương tử đạo của các Kitô hữu luôn vẫn là nguồn gốc của những cảm hứng, hướng dẫn và lãnh đạo vĩ đại.”
Nam Tư (Yougoslavia) nghĩa là “quốc gia của những người Nam Slavơ”, gồm có dân Serbi, Croat, Sloven, Montênêgrô, Maxêđôni, Hồi giáo và Bosni; và sau Đệ nhất thế chiến đã nổi lên một khối những nhóm liên kết yếu ớt, chia rẽ, gồm những bè phái luôn tranh chấp nhau.
Khi cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa mỗi ngày một lớn mạnh, thì ảnh hưởng Đảng Cộng sản ở Nam Tư cũng nắm được uy thế - tuy không bao giờ vươn tới được quyền lực bằng những đảng phái chính trị của người Serbi hoặc người Croát. Vua Alexander trị vì như một nhà độc tài, đã duy trì một nền hòa bình mong manh cho đến khi ông bị ám sát năm 1934, và con trai ông lên kế vị cho đến năm 1941.
Thế rồi Đức quốc xã đến, quân đội Nam Tư không đọ sức nổi với họ, và trong vài tuần lễ, “Phe Trục” chia nhau chiến lợi phẩm - Đức quốc chiếm phần hơn, để lại Dalmatia và Montênêgrô cho người Ý.
Phong trào kháng chiến du kích thứ nhất nổ ra tại Bosnia Hercegovina, nơi có làng Mễ Du. Tuy vẫn phải đối mặt với kẻ thù chung, người Serbi và Croát không thôi sát hại lẫn nhau. Trong khi đó, ảnh hưởng của phe du kích cộng sản ngày càng lớn mạnh. Phe này đặt dưới quyền lãnh đạo của Josep Tito, người được Karl Max che chở, và bằng vũ lực, đã leo lên địa vị chóp bu của cách mạng đỏ.
Khi quân Đức triệt thoái dần dần trước sức tiến công của Hồng quân, thì trong một thành phố đã được giải phóng, chính quyền lâm thời mới thành lập đều là Cộng sản. Tuy nhiên, khi các lực lượng kháng chiến rốt cuộc vứt bỏ được thống trị của Đức quốc xã, họ vẫn hi vọng phục hồi nền quân chủ lập hiến đang lưu vong ở Anh quốc. Nhưng sự kiểm soát của cộng sản đã tỏ ra tuyệt đối. Trong một kỳ trưng cầu dân ý trên toàn quốc, Mặt trận Dân tộc của Tito đạt số phiếu tuyệt đối - một điều chẳng có gì lạ. [….] (6)
Đến đây, dòng suy nghĩ của tôi bị cắt quãng, vì máy bay bỗng chao đảo nhiều hơn. Sân bay Dubrovnik chỉ có một đường băng đủ dài cho những máy bay phản lực xuyên Đại Tây Dương, và hiển nhiên là đang có một cơn gió rất mạnh thổi trực tiếp ngang qua nó. Khi chiếc máy bay khổng lồ chồm lên và nghiêng ngả bên này bên kia, cố gắng thích nghi với cơn gió, tôi bèn liếc nhìn chung quanh - những đốt ngón tay trắng nhợt bám chặt vào thành ghế, những khuôn mặt tái mét sợ hãi hoặc choáng váng, và những túi nôn đã mở ra sẵn sàng.
Những ai không quá sợ thì đang cầu nguyện, đọc kinh cực kỳ sốt sắng. Nếu đã có những người vô tín trên máy bay khi cất cánh, thì khi những dàn bánh xe đáp đánh sầm xuống phi đạo, trên máy bay chẳng còn người vô tín nào! Vài tiếng tán thưởng yếu ớt vang lên từ phía buồng lái; nhưng chúng tôi thì vỗ tay như sấm, thở phào vì còn được sống.
Nhìn thấy lá cờ đỏ trên mấy tòa nhà cổ lỗ trong sân bay mà xe chúng tôi đang hướng tới, ý thức về sự có mặt của mình trong một nước Cộng sản bỗng nhiên thấm thía. Thật là trớ trêu, tôi nghĩ vậy, Đức Chúa đã chọn một nước theo chế độ vô thần [......] để gởi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc tới.
Năm 1948, nước Nam Tư thấy dậy lên một niềm hy vọng khi lãnh tụ Titô đoạn giao với Stalin, thế là trong buổi đầu ấy đa số dân chúng Nam Tư hoan hô ông ta vì đã giải thoát họ khỏi thống trị của người Sô viết. Nhưng dần dà, họ nhận ra là lập trường Cộng Sản của ông ta cũng không khác gì mấy với người Sô viết. Thực tế, họ thấy chẳng có gì khác trong lối sống của họ so với những dân láng giềng như Hungari, Rumani và Bulgari. Và tôi cũng thấy vậy.
Khi máy bay dừng bánh, và người ta đem đến một cầu thang, chỉ có một người lính canh quan sát chúng tôi, một cây tiểu liên lủng lẳng ở vai. Tôi đã rất ngạc nhiên vì số lượng lớn những máy bay quân sự - máy bay trực thăng, máy bay chở lính, v.v... - cho đến lúc tôi hiểu ra rằng: chức năng cơ bản của mọi sân bay Nam Tư là quân sự.
Trong khi đợi xuống khỏi máy bay, chúng tôi được báo là không được chụp ảnh, nếu chúng tôi không muốn máy ảnh của mình bị tịch thu.
Không một nhân viên nào mỉm cười khi khám xét giấy tờ hoặc hành lý của chúng tôi, không một ai có vẻ quan tâm xem chúng tôi có thích thú đến thăm nước họ hay không. Còn những ai mang tràng hạt Mân Côi hoặc các loại ảnh tượng đều được khuyên đừng để lộ ra; họ không muốn các thứ ảnh tượng mang vào trong nước của họ, và họ sẽ giữ lại ở phi cảng rồi sẽ trả lại khi chủ nó ra về.
Cảm tưởng khó chịu của tôi lúc mới tới đã sớm tan, khi chiếc xe buýt của chúng tôi lăn bánh trên con đường ngoằn ngoèo dọc theo bờ biển ngoạn mục. Nữ tu Margaret Catherine Sims, hướng dẫn viên tinh thần của chúng tôi, đã tiếp đón chúng tôi nồng hậu không chỗ chê. Cộng tác với Trung Tâm Hòa Bình, từ hai tháng trước chị đã đến Mễ Du.
Đoạn đường đi mất ba tiếng rưỡi đồng hồ, tuy rất mệt, nhưng chúng tôi vẫn thưởng thức cảnh đẹp trên từng cây số. Biển Adriatique xanh biếc, những cụm nhà cổ hàng thế kỷ bám cheo leo trên vách đá phủ đầy cây tùng bách, những thị trấn nhỏ thu mình trong những vịnh tuyệt đẹp - mỗi khúc ngoặt lại lộ ra một cảnh khác trông đẹp như tranh. Chúng tôi lấy máy ảnh ra và bấm lia lịa.
Chúng tôi sẽ tạm trú tại các gia đình người Croát ở một thị trấn tên Citluk, cách Mễ Du trên sáu cây số. Chao ôi, rào cản ngôn ngữ! Ở đấy không một ai biết nói tiếng Anh, nếu muốn cái gì thì chúng tôi phải ra dấu. Sau khi đã gặp chủ nhà, chúng tôi vội vàng quay lại xe vì đã gần 6g40 - giờ Đức Maria hiện ra theo thường lệ.
Khoảng một nửa trong số chúng tôi đã lên xe, khi một phụ nữ còn đứng trước đầu xe bỗng kêu lên:
“Ôi Chúa ơi, nhìn mặt trời kìa!”
Nhìn theo tay bà ấy chỉ, tôi không thể nào tin vào mắt mình: mặt trời, còn một giờ nữa mới lặn, đang có một viền sáng quanh nó, làm như đang có nhật thực xảy ra, khiến chúng tôi có thể nhìn thẳng vào nó. Nhưng, thay vì bóng mờ của mặt trăng, thì đây trông giống như có cái đĩa bạc ở chính giữa.
Điều không thể tin được: chúng tôi có thể nhìn chằm chằm không chớp mắt vào mặt trời. Và cái mà chúng tôi thấy đằng sau cái đĩa bạc thì hình như đang quay. Cả cái viền sáng quanh nó cũng đang tỏa ra nhiều tia sáng đủ màu. Thật là đẹp đẽ, hấp dẫn tuyệt vời!
“Tôi khó mà tin nổi chuyện này!” tôi thầm thì với Maureen ngồi bên cạnh, mắt không rời mặt trời.
“Việc mà tôi đang làm đây là không thể được: tôi đang nhìn thẳng vào mặt trời, tức là tôi đang làm hư võng mạc vĩnh viễn. Vậy mà tôi không thấy nguy hiểm. Thực ra, tôi cảm thấy mình có thể tiếp tục đăm đăm nhìn mặt trời như vậy bao lâu tôi muốn.”
Tôi lắc đầu, không tin nổi.
- “Xem kìa!” Maureen nói, “Nó đang diễn ra cho mọi người xem, tôi muốn nói, tất cả chúng ta đều thấy!”
Khỏi nói, là tới khi chúng tôi lên hết trên xe và bắt đầu đi thì đã quá giờ hiện ra. Không can gì, tất cả chúng tôi đã quá phấn khởi, vì được chứng kiến hiện tượng (phép lạ) mặt trời sớm như vậy.
Khi còn cách ba cây số, chúng tôi trông thấy cái cột mốc thứ nhất của chúng tôi, núi Krizevac (núi Thập Giá) nổi bật từ đàng xa. Tôi nhìn ra được cây Thập Giá ở trên đỉnh và lấy làm lạ là nó trông quá nhỏ. Tôi cứ tưởng là cây Thập Giá đó sẽ nổi bật lên trên toàn thung lũng.
Khi băng qua chiếc cầu nhỏ dẫn vào Mễ Du, những tiếng kêu vui mừng nổi lên: Kia là Nhà thờ Thánh Giacôbê với hai tháp chuông song đôi, đúng y như chúng tôi đã thấy trong vô số hình ảnh và vidéo. Chúng tôi đã thật sự có mặt ở đây rồi!
Chiếc xe buýt đỗ sát bên một lùm cây ngay trước Nhà thờ. Chúng tôi chạy ào ra đến chỗ một đám đông tụ họp bên ngoài Nhà xứ sát cạnh Nhà thờ. Cuộc hiện ra ở bên trong (Nhà xứ) đã xong, nhưng đám đông còn nán lại, và chúng tôi cũng muốn chen vào đấy.
Ngay lúc đó, một cánh cửa mở ra và Marija, thị nhân trẻ vốn luôn có vẻ dè dặt và trầm tĩnh, xuất hiện. Cô đi với một vị linh mục đến phía sau Nhà thờ. Khi ngang qua bãi cỏ, đám đông ùa theo sau cô, những người gần cô nhất thì kêu lớn tiếng xin cô cầu nguyện, hoặc chỉ cố chạm vào người cô.
Bỗng nhiên, tôi nhớ đến đám đông thường chạy theo Arnold Palmer ở giải thi đấu Golf Masters tại thành phố Augusta, bang Georgia. Tôi còn nhớ một cách đặc biệt, gương mặt của một cụ già đã hăng hái bước đi bên cạnh tay chơi golf ấy và xin được chữ ký của anh ta. Cụ ấy sung sướng như một đứa trẻ, khuôn mặt sáng lên - y như khuôn mặt đang sáng lên của mấy người chạy theo Marija.
Linh mục và thị nhân đi qua cửa sau vào phòng mặc áo lễ, còn đám đông quay lại cửa trước Nhà thờ để dự lễ tiếng Croát đang sắp sửa bắt đầu. Nhưng vì lý do nào đó, Maureen và tôi còn nán lại.
Thánh lễ ban chiều. Trong Nhà thờ T.Giacôbê chật cứng. Có người đã phải đi một hai tiếng đồng hồ trước để có chỗ.
- “Nhìn kìa, nhìn kìa!” cô vừa nói, vừa thúc cùi chỏ vào tôi và chỉ tay về phía cửa sổ của phòng mặc áo lễ. Tôi nhìn - và trông thấy Marija giúp linh mục vận lễ phục vào để chuẩn bị làm lễ. Lòng tôi trào dâng một tâm tình khiêm tốn tri ân về đặc ân được chứng kiến khoảnh khắc này, cho đến khi chuông báo giờ lễ vang lên kéo tôi ra khỏi cơn mơ màng.
Vội vàng chạy vòng ra phía trước, chúng tôi thấy Nhà thờ đã chật ních người. Người ta ngồi đầy những hàng ghế và đứng chen chúc nhau theo các lối đi. Thánh lễ bắt đầu bằng một bài thánh ca tiếng Croát, và cả Nhà thờ thật sự đã rền vang tiếng hát ấy. Điều duy nhất tôi có thể nghĩ tới để so sánh: đây là một Nhà thờ Báptít trong kỳ phục hưng cao độ !
Tôi cố chen vào giữa lối đi bên trái cho đến khi không còn chen được nữa. Tiếng hát của thánh vịnh bất hủ ấy vang dội trong tôi thấu tận xương tủy. Tôi để ý thấy nhiều người nước mắt lăn dài trên má. Phần tôi, tôi quá đỗi sửng sốt, không khóc được. Đến phút này, sau vụ thấy hiện tượng mặt trời quay, cây Thập Giá trên núi và việc quan sát Marija giúp linh mục mặc áo lễ chuẩn bị Thánh Lễ, tất cả mọi giác quan của tôi đều đã quá tải. Tôi chỉ biết nghĩ: Thật là quá sự mong đợi của tôi! Không một băng hình nào, không một quyển sách nào, ngay cả cha Scotti, đã chuẩn bị trước cho tôi điều này.
Rồi khi đang đứng đấy, tôi cảm thấy có người kéo tay áo tôi. Tôi nhìn xuống: một bà cụ người Croát, ít nhất cũng trên 70 tuổi, ra dấu nhường ghế cho tôi. Hoảng quá, tôi lắc đầu, nhưng bà cụ tóc bạc với khuôn mặt xạm nắng hằn vết lo âu đó cố nài. Tôi vui vẻ từ chối lần nữa, ra dấu cho bà cứ ngồi đấy.
Cuối cùng, bà nắm cánh tay tôi và ấn tôi ngồi xuống. Tôi phải mất một lúc mới hiểu ra bà đang vâng lời “Rất Thánh Đức Mẹ”, Người đã yêu cầu dân làng Mễ Du hãy biết cho đi, đặc biệt đối với các người hành hương, như Con của Người đã cho đi vậy.
Tôi làm theo như lời bà cụ đội khăn choàng và mặc áo dài đen truyền thống bảo tôi. Tôi ngồi vào chỗ của bà cụ, còn bà cụ thì đứng ở lối đi ! Tôi không thể cầm được hai dòng nước mắt tôi đang chảy dài trên đôi má.
-
“Hãy vui mừng luôn trong Chúa! Tôi nói lại lần nữa: Hãy vui lên! ước gì tâm hồn nhân hậu của anh em được mọi người biết đến...” (Ph 4,4-5)
Chương 12
TIẾNG CHIM HÓT LÚC NỬA ĐÊM
Tối đó, chúng tôi trở lại khách sạn ở Citluk để dùng bữa và chia sẻ cảm nghiệm với nhau. Tôi quá phấn khích, không ăn được khi kể chuyện bà cụ Croát đứng lên nhường chỗ cho mình. Những anh em khác thì kinh ngạc vì thấy đám đông chật cứng Nhà thờ và nhiều người đã đứng suốt hơn hai giờ dự buổi cầu nguyện và Thánh Lễ. Tất cả chúng tôi đều đã xúc động sâu xa về sự tôn nghiêm trong buổi thờ phượng: thật không còn lời nào để mô tả nữa.
Ăn xong, chúng tôi về chỗ riêng của mình, nhưng không ai muốn đi ngủ. Tính đến giờ đó, chúng tôi đã thức suốt 30 tiếng, vậy mà vẫn muốn nói chuyện hơn là ngủ. Cuối cùng, rồi cũng ngủ thôi, nhưng khi thức dậy đồng hồ chỉ 4 giờ 30 sáng - và tôi hoàn toàn tỉnh táo. Quyết định đi bộ một vòng quanh Citluk, tôi thay quần áo bước ra ngoài và hết sức ngạc nhiên thấy trời đã gần sáng hẳn. Mặt trời chưa mọc, mà bầu trời xem ra sáng hơn lúc mặt trời sắp mọc ở xứ tôi. Thực ra, ở Nam Carolina, thì trước rạng đông trời vẫn còn tối lắm.
Một lúc sau, những người bạn khác thức dậy. Chúng tôi vội vàng lót lòng với bánh mì và cà phê hoặc nước trà, rồi lên xe đến Mễ Du. Đến nơi, chúng tôi rảo bộ khắp nơi, kể cả con đường mòn phải đi mất hai mươi phút để đến đồi Podbrdo, nơi Đức Maria hiện ra lần thứ nhất. Trên đường đi, một bà cụ người Croát bưng một rổ trái cây tặng cho chúng tôi mỗi người vài trái với một ly rượu vang, khi chúng tôi đi ngang qua. Một người trong chúng tôi muốn cho bà tiền, nhưng bà từ chối. Ở đâu trên đường, chúng tôi cũng đều thấy cảnh này. Thỉnh thoảng, một bé trai hay gái đứng đó cạnh bà nội hoặc bà ngoại, để phụ bà một tay. Đây là hình ảnh tôi sẽ ghi nhớ suốt đời.
Ba ngày kế tiếp trôi qua không có gì đặc biệt. Chúng tôi đi lễ tiếng Anh buổi sáng và tiếng Croát ban chiều; chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại có thể ở trong Nhà thờ nhiều giờ đến thế và yêu mến từng giây phút của thời gian ấy. Chúng tôi chen vào đám đông bên ngoài Nhà xứ lúc giờ hiện ra, chúng tôi lang thang đi đây đi đó xem xét mọi nơi mọi chỗ của Mễ Du.
Tối thứ hai, cả nhóm quay về Citluk, vừa mới ngồi xuống chuẩn bị ăn tối, sơ Margaret hổn hển chạy vào: “Tôi hiểu thế này là quá gấp gáp, nhưng trong buổi hiện ra tối nay, Rất Thánh Đức Mẹ nói với các thị nhân là người sẽ hiện ra với các em đêm nay tại đồi Podbrdo.” Chị nghỉ để lấy hơi rồi tiếp: “Xe buýt đang đợi ngoài kia, nếu có bạn nào muốn đến, phải đi ngay bây giờ!”
Muỗng nĩa rơi loảng xoảng, bàn ghế xô đẩy khi chúng tôi vội vã đứng lên, chạy tán loạn ra bóng đêm bên ngoài và ào ào leo lên xe buýt. Khi đến đồi tôi hơi thất vọng, vì thấy đã có nhiều xe buýt đến trước chúng tôi rồi. Tôi cứ tưởng chúng tôi là những người duy nhất biết được lần hiện ra đặc biệt này.
Chúng tôi nhập vào làn sóng những người hành hương, dò dẫm leo lên từng bước trên con đường dốc dác và lởm chởm đá, trong bóng tối của một đêm không trăng. Đèn chiếu không được phép sử dụng, vì chính quyền cấm chỉ những cuộc tụ tập trên đồi. Trời tối đen như mực, khó mà thấy được bóng người đi trước mình, nhưng không một ai trượt chân hoặc than vãn. Hình như chúng tôi ai nấy đều tìm được đúng chỗ để đặt bàn chân lấy đà trèo lên. Hằng triệu ngôi sao chằng chịt trên bầu trời, góp thêm vẻ đẹp vào sự kiện đầy kịch tính này, dù chúng chỉ thắp sáng yếu ớt.
Chúng tôi đến đỉnh đồi và kiếm được một khoảng trống nhỏ xíu - mà tôi cảm giác là khá gần với các thị nhân. Tiếng xầm xì của đám đông khi họ cầu kinh cho biết đang có một cuộc tụ họp đông đảo ở đây. Sơ Margaret đã dặn chúng tôi không được chụp hình bằng đèn chớp, và ngay cả khi chúng tôi đứng thu mình chờ đợi trong bóng tối, các hướng dẫn viên vẫn lặp đi lặp lại lời cảnh báo ấy bằng tiếng Pháp, tiếng Ý cũng như tiếng Anh. Nhưng trong đám đông nào cũng có những kẻ cảm thấy là nguyên tắc không áp dụng cho mình. Họ cứ chụp ảnh, đèn chớp loé lên gởi đi những tín hiệu lồ lộ xuống thung lũng bên dưới, nếu ngẫu nhiên có ai đang nhìn về hướng chúng tôi.
Trong một nhóm nọ, có người bắt đầu xướng kinh Mân Côi bằng tiếng Đức, và tất cả chúng tôi lặng lẽ đáp lại. Chúng tôi thầm thĩ rất khẽ, nhưng tất cả ngần ấy người cùng nhau, tiếng chúng tôi tạo thành một tiếng rầm rì trầm vang khắp vùng đồi. Khi nó chấm dứt, sự im lặng tiếp theo đó khá nặng nề, còn chúng tôi hầu như không thở, lắng nghe. Rồi một người nào đó lại bắt đầu một chuỗi Mân Côi khác.
Vào khoảng 11 giờ đêm (khó mà nói được giờ chính xác, vì không có cách nào để xem đồng hồ), cuộc hiện ra bắt đầu. Tất cả bỗng im bặt. Tôi nghe thấy các thị nhân cầu nguyện bằng tiếng Croát ở gần bên. Có lúc họ ngừng, lúc lại cầu nguyện, và tôi hiểu là Đức Maria đang cầu nguyện với họ. Rồi các em nhẹ nhàng nói chuyện với Người, khi lần lượt mỗi người, khi cùng nói đồng loạt. Cuối cùng, một trong các thị nhân kêu lên nhẹ nhàng: “Ode!” nghĩa là “Người đi rồi!” và một em khác loan báo một điều gì bằng tiếng Croát, điều ấy được dịch liền ra tiếng Ý và tiếng Anh: Ivan đã gởi gấm chúng tôi (hiểu theo bất cứ nghĩa nào) cho Đức Mẹ, Người hài lòng vì chúng tôi đã lên đồi. Điểm chính yếu trong sứ điệp của Người cho chúng tôi đêm ấy là: “Hãy về nhà và cầu nguyện chung với nhau trong gia đình”, vì nếu cùng cầu nguyện, chúng ta sẽ cùng trở nên thánh thiện, để Người có thể giới thiệu chúng ta như một bó hoa đẹp cho Con của Người, Đức Giêsu. Người cũng ban phúc lành cho tất cả những ai có mặt trên đồi trong đêm đặc biệt này.
Trong lần hiện ra trên đồi ban đêm mà tác giả được dự, Đức Maria nhắn nhủ việc đọc kinh chung trong gia đình. Và còn nhắc lại rất nhiều lần trong các thông điệp….
Có nhiều tiếng thầm thì hân hoan và mọi người đứng lên, lần mò đi xuống con đường mòn lởm chởm đá trong đêm đen như mực. Có quá đông người nên đi xuống rất chậm, nhưng không sao. Ai đó cất tiếng nhẹ nhàng hát “Ave Maria”, tất cả chúng tôi hòa theo. Tiếng hát bay đi khắp nơi, lên trên cao trong bầu trời đêm, quyện quanh chúng tôi và như thấm nhập tâm can chúng tôi. Có đi khỏi khu đồi hay không, tôi cũng không cần biết.
Rồi khi đang đứng ở trên đường đợi xe buýt và lắng nghe tiếng hát của những người còn đang đi xuống, bỗng có người la lên: “Chúa ôi, nghe chim hót kìa!”
Tôi đáp: “Ừ, hay quá!”
- “Anh không hiểu sao? Chim không hót ban đêm!”
Quả thật như vậy, nghe như mọi con chim biết hót trong thung lũng đang cất tiếng hót hết cỡ, như thể chúng đang chào đón bình minh, đương khi giờ này là nửa đêm. Và tiếng hót ấy cứ tiếp tục cho đến khi tất cả chúng tôi đã lên xe và đi khỏi.
Lúc đầu, không ai nói gì khi chiếc xe chật vật len lỏi trên con đường vừa đủ rộng cho một mình nó. Mỗi chúng tôi đang mải nghiền ngẫm thưởng thức phép lạ nho nhỏ mới vừa cảm nghiệm. Chúng tôi thực sự đã ở đó, đã có mặt trong một cuộc hiện ra - và Mẹ Thiên Chúa đã ban phúc lành cho chúng tôi - để rồi đi xuống đồi giữa tiếng hát và khám phá tiếng hót của hằng ngàn con chim cất lên vào lúc nửa đêm! Quả thật, phép lạ hiển nhiên về sự hiện diện của Thiên Chúa đang diễn ra nơi đây!
Sự im lặng bị phá vỡ bởi một phụ nữ mập mạp ngồi dẫy ghế bên kia: “Tôi thất vọng quá!” bà la lên, “Tôi không thấy gì hết!”
Tôi nhìn bà, không tin: “Thế bà mong thấy gì? Bà không biết là bà đã có mặt trong lúc Đức Mẹ hiện ra, ở chính nơi Người đã đến lần đầu tiên à? Bà có mặt ở đó mà!”
- “Phải, nhưng có người bảo họ thấy những tia sáng loé lên. Còn tôi không thấy gì hết!”
Tôi nhăn mặt, không nói gì nữa. Trong ít ngày chúng tôi có mặt ở đây, tôi đã nghe nhiều lời bình luận tương tự từ những người muốn thấy phép lạ mặt trời, hoặc muốn cho tràng hạt của họ biến thành màu vàng kim loại. Nhiều người đến đây thật ra chỉ vì muốn thấy dấu chỉ và phép lạ, rồi khi không được thỏa mãn, họ cảm thấy bị lừa bịp. Họ không nhận ra được hiện tượng đích thực ở đây là sự thay đổi kỳ diệu nơi những người đến đây và những người sống ở đây. Nhiều cuộc đời đã thay đổi một cách rất mạnh mẽ, trở thành mến Chúa và yêu đồng loại, nhưng ngay lúc này thì điều đó không ngoạn mục bằng mặt trời quay. Sau này, tôi hiểu ra là sự hối cải có những đường lối khác nhau, và tất nhiên nó là trung tâm điểm của một cuộc hành hương đến Mễ Du. Một ngày nào đó, phụ nữ này sẽ nhận ra ân huệ mà bà đã cảm nghiệm trên đồi.
Khi về đến khách sạn thì đã 12 giờ 30. Tôi liền đi ngủ, dù rất muốn thức để nói chuyện với những người khác. Tôi cần giấc ngủ ngắn ngủi quí giá này, vì đã quyết định sẽ dậy sớm, đủ thời gian để đi bộ từ Citluk đến Mễ Du, và đạt đến đỉnh núi Krizevac vào lúc mặt trời mọc. Không biết đích xác mặt trời mọc giờ nào, tôi cứ tính dậy sớm để có đủ thời gian đi hết chín cây số rưỡi trước rạng đông.
Vài người khác tỏ ý muốn cùng đi với tôi, nhưng cuối cùng, chỉ có Maureen và Bernie Hanley, một trong những tình nguyện viên của Trung Tâm Hòa Bình đang phục vụ cho chuyến đi này, quyết định đi với tôi. Tôi sắp xếp với Bernie để gặp anh tại cây cầu nhỏ, dọc theo con đường từ chỗ chúng tôi đang trọ. Maureen cũng trọ một chỗ với tôi, cách phòng tôi bốn phòng.
Khi tỉnh giấc, tôi mò tìm cái đèn pin, chiếu nó vào đồng hồ đeo tay: gần bốn giờ sáng. Vội vàng thay áo, tôi chạy đến gõ nhẹ vào cửa phòng Maureen, rồi đi đến phòng chính đợi cô. Một lát sau, Maureen đi ra, có vẻ nhợt nhạt và mệt mỏi: “Tôi không được khoẻ, tôi thực sự muốn đi, nhưng tôi nghĩ là không nên. Ngày mai đi được không?”
- “Maureen à, hôm nay tôi phải đi, dù cô không đi được. Nhưng nếu cô muốn, ngày mai chúng ta lại đi.”
Bên ngoài, đêm không trăng vẫn còn tối đen, khi tôi bắt đầu bước trên con đường hướng về phía Mễ Du. Trong không khí mát lạnh, dưới bầu trời đầy sao, tôi mải miết đi thẳng luôn qua cầu, quên bẵng là đã hẹn Bernie ở đó.
Sơ đồ Giáo xứ Mễ Du : Bên trái: xóm Bijacovici; phía trên : Đồi Podbrdo, nơi Đức Maria hiện ra. Bên phải: núi Krizevac, với các chặng đàng Thánh giá ngoằn ngoèo lên tới đỉnh.
Không có tiếng chim hót nào trong đêm nay. Tôi giật mình, khi chợt nhận ra tôi là tạo vật duy nhất đang động đậy trên toàn miền cao nguyên này - không chim, không bò, không gì hết. Con đường tôi đi được chiếu sáng chỉ bằng ánh sao. Bắt đầu bước đều, tôi rút xâu chuỗi ra và bắt đầu lần hạt. Đi được một lúc, tôi nhận ra bóng ngọn núi Krizevac hiện ra lờ mờ từ xa. Tôi sẽ còn phải hành hương lên núi Krizevac để đi Đàng Thánh Giá, và tôi đã bắt đầu thấy ưa thích sâu đậm ngọn núi này, coi nó như người lính canh thân thương của ngôi làng.
Bây giờ, khi tôi nhìn vào cái bóng lờ mờ còn khó phân biệt của ngọn núi, tôi chú ý thấy một ánh sáng phát ra từ trên đỉnh. Có lẽ là một ngọn đèn hiệu cho máy bay, tôi lơ đãng nghĩ - nhưng chợt giật mình nhớ lại: không có một đèn hiệu cho máy bay nào - mà tôi đã từng thấy - lại phát ánh sáng như vậy. Đó không phải là một tia sáng, cũng không phải là ánh sáng của hỏa châu, nhưng là một thứ ánh sáng dịu nhẹ hơn nhiều.
Phải chăng W.Weible đã nhìn thấy một hiện tượng ánh sáng như thế này quanh cây thập giá trên núi ? Hình kỳ diệu này do một nhiếp ảnh gia chụp được vào lễ Phục sinh năm 1989.
Khi tôi ngắm nhìn mê mệt, ánh sáng có vẻ như rung động theo một nhịp không đều, tăng lên rồi hạ xuống trong một chuyển động nhẹ nhàng. Không thể đi tiếp, tôi ngừng lại và đăm đăm nhìn, ngây ngất vì vẻ đẹp lạ lùng của nó. Và rồi từ trong tim, tôi nghe thấy những lời này: “Dành cho con đấy!”
Tôi lịm người. Một tâm tình bình an, hạnh phúc và tri ân sâu xa tràn ngập tâm hồn tôi. Hít một hơi dài và lần hạt hết sức sốt sắng như chưa từng làm, tôi bắt đầu tiến bước. Khi bước đi, mắt tôi cứ ngoái nhìn đỉnh núi: ánh sáng vẫn còn đó, khi tỏ khi mờ. Được chừng hai mươi phút, tôi bỗng lúng túng tự nghĩ: Thôi được rồi, đủ rồi, tôi đã thấy và không nghi ngờ gì hết: ánh sáng đã có ở đó.
Dọc theo con đường dốc dác và đá lởm chởm từ chân núi lên tới đỉnh cao 540 mét, có 14 chặng Đàng Thánh Giá. Vậy mà hầu hết các người hành hương đều thành kính đi đàng Th.Giá ấy theo chân Chúa
Ánh sáng còn tiếp tục mãi đến khi tôi tới Nhà thờ, và chỉ nhạt dần khi ánh bình minh bắt đầu ló ở viền chân trời phía sau đồi Podbrdo về hướng đông. Tôi phấn khởi đến nỗi khi tới chân núi và bắt đầu leo lên theo con đường mòn lởm chởm đá, tôi đã dừng lại và cầu nguyện tại mỗi chặng trong mười bốn chặng của Đàng Thánh Giá, một truyền thống tốt đẹp khác mà tôi đã khám phá khi đọc sách về Mễ Du. Lúc cầu nguyện, tôi để cho thần khí mới mẻ này của Tình Yêu Thiên Chúa đổ tràn ngập tâm hồn tôi, với công nghiệp vô cùng vĩ đại của hi lễ mà Đức Kitô đã thực hiện.
Ở trên đỉnh là một cây Thập giá khổng lồ bằng xi măng, do dân làng dựng lên năm 1933, để kỷ niệm năm thứ 1900 Đức Giêsu chịu đóng đinh. Đó là một kiến trúc thô nhám mà hùng vĩ, và khi chiêm ngưỡng nó lúc mặt trời lên dần và chiếu vào chóp Thập giá, tôi nghĩ đến khối lượng công việc khổng lồ đã đổ vào công trình này. Bởi lẽ không có con lộ nào dẫn lên đây, ngoại trừ cái lối mòn lởm chởm đá và cheo leo ấy. Mọi thứ đã phải đặt lên lưng của dân làng, đàn ông cũng như đàn bà, mà vác lên. Nó nói lên điều gì đó về lòng mộ đạo của người dân trong thung lũng này - và lý do tại sao Thiên Chúa đã chọn nơi này.
Tháo ba lô ra, tôi ngồi bệt xuống một tảng đá dưới chân Thập giá và ngắm cảnh mặt trời phủ dần lên thung lũng. Ở quê nhà bên Mỹ, tôi chưa từng bao giờ có thể ngồi yên lặng lâu như thế này, mà không làm gì hoặc ngay cả nghĩ gì. Mễ Du đã thực hiện nơi tôi những thay đổi lớn lao và bằng nhiều cách.
Bóng trắng nhỏ bên trái Thập giá, đó là Đức Maria đến cầu nguyện mỗi sáng. Ảnh kỳ diệu này một khách hành hương đã chụp được, và nó đã làm ông ăn năn trở lại.
Tôi cảm thấy như đang đắm mình trong ánh sáng tuyệt đẹp này, mà Đức Trinh Nữ đã ban cho tôi như một món quà đặc biệt. Tôi nhớ đã đọc trong một quyển sách về Mễ Du, Đức Mẹ nói: Người cầu nguyện với Con Chí Thánh của Người mỗi buổi sáng tại chân cây Thập Giá hùng vĩ này.
Hai tay ôm đầu gối, tôi ngồi đấy nhìn thung lũng trở mình thức giấc. Đây chắc chắn phải là ngưỡng cửa của thiên đàng. Cơn mơ màng của tôi bị cắt đứt do tiếng động của bước chân đạp trên lớp đá sỏi trên đỉnh núi. Đó là Bernie: “Ê, sao anh không đợi tôi? Tôi tưởng anh ngủ quên nên đi luôn một mình.”
- “Xin lỗi, Bernie! Cảnh bình minh hớp hồn tôi, nên tôi quên bẵng anh!”
Tôi lấy ra từ cái ba lô một thứ mà nay đã trở thành món ăn thích nhất - và nhiều khi duy nhất - của tôi tại Mễ Du: một loại bánh mì ngon lành, mộc mạc như làm ở nhà. Tôi cũng đem theo chút nước trái cây, và đề nghị chia sẻ bữa điểm tâm dã chiến này với anh. Bernie cao, gầy, lớn tuổi hơn tôi, và là một vận động viên môn chạy. Anh đã đến Mễ Du nhiều lần, và thường hay leo núi Krizevac.
Khi ăn, tôi định chia sẻ cảm nghiệm của tôi với anh, nhưng một cách dè dặt, thói quen cũ của nghề nghiệp nhà báo khiến tôi khó lòng cởi mở hoàn toàn: “Bernie, lúc nãy, khi anh đi, anh có thấy ánh sáng ở trên cao này không?”
- “Không, tại sao?”
- “Bởi vì, ừ... tôi thấy...”
Kể lại cho anh nghe những gì đã xảy ra, tôi bất chợt phải kềm lại mối xúc cảm đang chực dâng lên, khi tất cả những điều đó cùng ùa về trong trí tôi. Bernie mỉm cười nói: “Đó là một ơn đặc biệt đấy. Trước kia, tôi có nghe nói về vụ này. Thường thường, khi một người dân trong làng thấy ánh sáng ấy, anh ta bèn bắt đầu đi từng nhà để kể lại.”
Mắt tôi đẫm lệ, tôi xin kiếu và đi sang mé bên kia của ngọn núi. Tôi không cầu nguyện một cách có ý thức; tôi chỉ như đang mang trái tim mình nhốt thẳng vào thiên đàng.
Sau một hồi, không biết bao lâu - có thể là vài giờ - Maureen tìm thấy tôi, khi cô ấy và cả nhóm leo lên núi sau Thánh Lễ tiếng Anh.
- “Nó thế nào?” cô cười tươi rói, hỏi.
- “Cái gì?” tôi nhìn lên, giật mình.
- “Cảnh mặt trời mọc ấy! Đẹp không?”
- “Đẹp”, tôi gật đầu, “Nhưng tôi còn thấy một cái khác đẹp hơn nhiều”, và tôi kể cho cô ấy nghe về ánh sáng. “Nghe này, Maureen, tôi xin lỗi, nhưng bây giờ tôi phải đi xuống. Tôi cần ở một mình. Hẹn gặp lại ở Nhà thờ lát nữa.”
Cô gật đầu: “Tôi hiểu.” Tôi rời đỉnh núi và thong thả tìm đường đi xuống. Có một điều mà bây giờ tôi biết rất rõ: tôi sẽ viết một quyển sách về Mễ Du. Tôi đã luôn luôn cảm thấy một ngày nào đó, tôi sẽ viết một quyển sách, nhưng đề tài và thời gian chính xác khi nào trong đời tôi sẽ bắt đầu, tôi hoàn toàn không biết. Giờ đây tôi đã biết rõ.
Con đường từ chân núi đến Nhà thờ Thánh Giacôbê nay đã thành một lối mòn đi vòng qua một vườn nho, rồi qua một nghĩa địa cổ xưa nằm dưới lùm cây bách hương, cách mặt sau Nhà thờ khoảng nửa cây số. Khi tôi đến, ở đó không có một ai và hoàn toàn yên lặng, kể cả một làn gió nhẹ lay động những ngọn cây xanh cao vút. Một tia nắng mặt trời chiếu vào một bụi huệ trắng trồng dưới chân một tấm bia mộ cổ xưa. Tôi dừng lại, bất động trong bóng râm lốm đốm nắng, hòa mình vào cái tĩnh mịch của nơi vĩnh cửu ấy.
Rồi, từ nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, tôi tạ ơn Chúa đã đưa tôi đến chốn này, tạ ơn Chúa đã trao nhiệm vụ cho tôi và tạ ơn Chúa cho hết mọi sự.
---o0o---
-
“Mẹ mời gọi các con hãy nhất quyết chọn Thiên Chúa. Mẹ van xin các con hãy đầu phục hoàn toàn...”
Chương 13
NGƯỠNG CỬA THIÊN ĐÀNG
Sơ Margaret có tổ chức một cuộc họp tại Nhà thờ lúc hai giờ cho một màn “chiêu đãi đặc biệt”. Không ai biết đó là cái gì, và chúng tôi đoán chừng có lẽ chị đã sắp xếp để vài thị nhân đến nói chuyện với chúng tôi. Bây giờ, ngồi dựa lưng vào tường Nhà thờ dưới ánh nắng ấm áp, trong khi đợi những người khác, tôi bỗng bật cười vì ý nghĩ viết một quyển sách về Mễ Du. Một quyển sách! Quyển đó phải khác với hằng tá quyển đã được tung ra thị trường. Hầu hết các sách đó được viết bởi các linh mục Công giáo, và đề cập phần lớn đến thời gian đầu. Rất ít sách viết về diễn tiến của sự hối cải xảy đến với rất nhiều thường dân đã đến viếng nơi này. Tôi muốn viết về sự biến đổi thiêng liêng to lớn đã đánh động anh chàng Tin Lành nguội lạnh (W.Weible) này. Và sứ điệp quan trọng từ Thiên Chúa đến cho ngôi làng xa xôi, hẻo lánh này, một cách nào đó, phải được truyền đến hằng triệu người không bao giờ có thể có phương tiện đến đây. Sứ điệp này cũng phải được truyền đến những người cần đến đây, để họ cũng sẽ trở thành tông đồ truyền bá sứ điệp khẩn cấp này khi trở về lại nhà.
Với lại, tôi là một người Tin Lành. Điều này làm tăng thêm ảnh hưởng tác động vào việc người ta ăn năn hối cải. Tôi lắc đầu, nhận ra tôi không còn nghĩ mình là Tin Lành, hoặc coi toàn bộ hiện tượng Mễ Du là của riêng người Công giáo nữa. Đơn giản tôi là một đứa con của Thiên Chúa, đang sống ở ngưỡng cửa thiên đàng.
Bây giờ nhiều người trong nhóm tôi đã đến Nhà thờ, tôi đứng dậy nhập bọn với họ. Bên trong, người ta đã sắp sẵn ghế cho chúng tôi ngồi đằng trước. Khi chúng tôi đi lên, ngang qua những người hành hương Pháp và Ý đang ngồi rải rác đằng sau cúi đầu lặng lẽ cầu nguyện, tôi mới nhận ra nhóm chúng tôi là nhóm người Mỹ duy nhất đến Mễ Du lần này. Thực ra, trừ một ít khách hành hương Ai-len, chúng tôi là nhóm người nói tiếng Anh duy nhất trong Nhà thờ.
Cửa phòng mặc áo mở ra, và các thị nhân Marija, Vicka và Ivan bước ra. Nhưng tôi không chú ý đến các em mấy, mà chỉ chăm chú vào vị linh mục mặc áo nâu đang dẫn đường. Tôi nhận ra lập tức người có dáng mảnh khảnh, tóc thưa, đôi mắt xám hay nhìn chăm chú - mà tôi đã thấy qua một băng vidéo: cha Svetozar, tác giả của một quyển sách về Mễ Du có giá trị nhất đối với tôi. Tôi vội vàng đến chỗ sơ Margaret đang ngồi: “Sơ ơi, tôi cần gặp ông này!” Chị nhìn tôi với một nụ cười hiểu biết, điềm tĩnh trả lời: “Đừng lo, anh sẽ gặp.” Tôi trở lại chỗ ngồi, hơi bối rối vì câu khẳng định ấy, nhưng tôi rất vui.
Nhờ có cha Svet thông dịch, các thị nhân tóm lược những biến cố của tháng 6 năm 1981. Sau đó, họ trả lời những câu hỏi không tránh được mà dân chúng thường đặt ra: Đức Mẹ trông như thế nào? Người mặc áo gì? Tóc Người màu gì?
Khi nghe như vậy, tôi rất ngạc nhiên về sự kiên nhẫn của những người trẻ tuổi này. Cho đến nay, chắc là họ đã phải nghe cũng những câu hỏi ngớ ngẩn ấy đến mười ngàn lần, hoặc hơn nữa. Thế nhưng, tôi không thể khám phá ra một chút xíu mệt mỏi hay chán ngán nào trong những câu trả lời của họ - và đó hẳn là ân sủng Chúa ban để họ chu toàn ơn gọi của mình.
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh043.jpg
Hình chụp năm 2006. Từ những năm đầu tiên Đức Maria hiện ra đến nay, Vicka vẫn đứng chỗ này để rao truyền sứ điệp của Mẹ cho các đoàn người hành hương như thế… có vẻ như không hề biết mệt mỏi, vì luôn vẫn nở nụ cười trên môi…
Đó là một ơn gọi mà tôi chẳng thèm muốn, ghen tị. Bên ngoài nhà của Vicka, luôn luôn có những nhóm người đứng xếp hàng tràn cả ra đường, chờ đến lượt nghe cô nói và đặt câu hỏi với cô. Với người Philippin sẽ mất 20 phút, rồi người Ý, rồi người Đức, v.v... Cứ như thế suốt ngày, nhưng cô không phàn nàn: cô chỉ đang làm điều mà Gospa (Đức Mẹ) yêu cầu cô.
Tôi cũng vậy, nhưng cho đến nay vẫn có phần nào thiếu sẵn sàng, hăng hái. Âm thầm, tôi hi vọng sự dấn thân viết cuốn sách ấy sẽ khuyến khích tôi để tâm vào toàn bộ sứ điệp mà Đức Maria đã ban cho tôi.
Khi buổi nói chuyện chấm dứt, tôi cố chen đến gần cha Svet, nhưng lại bị đè bẹp bởi đám đông đang xô đẩy, chen lấn từ tứ phía của Nhà thờ. Rõ ràng, người ta đã truyền miệng nhau rằng cha Svet đang có mặt ở đây với các thị nhân - và lập tức, Nhà thờ thành đông nghẹt. Sau đó, điều tôi biết được là thấy ông bị người ta bao vây, phần lớn là dân làng, ông cố vươn tay ra trên họ để ban phép lành: ông làm tôi nghĩ đến một ứng cử viên tổng thống ở bên nhà. Còn những người bao vây ông thì rộn ràng, hớn hở: ông giống như một ngôi sao điện ảnh đối với họ.
Khi cảnh huyên náo đã lắng xuống và khi có được cơ hội, tôi liền nắm chặt tay cha: “Thưa cha, tôi là một nhà báo Mỹ. Tôi chỉ muốn cha biết là cuốn sách của cha có ý nghĩa biết chừng nào đối với tôi. Cha đã viết với cả trái tim và tâm hồn. Tôi rất sung sướng được gặp cha!”
Nắm chặt tay tôi, ông nói khẽ: “Anh vui lòng đợi tôi một chút!”, rồi tiếp tục ban phép lành cho đám đông. Tôi đứng đó, sững sờ. Ông muốn gì ở tôi? Khi người cuối cùng đã được chúc lành, ông ra dấu cho tôi đi theo đến phòng mặc áo, một căn phòng nhỏ tiếp giáp với bàn thờ, nơi các linh mục mặc áo lễ và chuẩn bị dâng lễ. Tôi bước theo, cảm giác như đang bước chân trên đất thiêng.
Vừa mới bước qua cửa nhà mặc áo lễ, một gia đình ba người Croát lao vào, nài xin cha Svet cầu nguyện cho một người con gái thuộc gia đình họ đang gặp rắc rối - tôi đoán đại khái như vậy. Khi đã xong việc với họ và họ đi rồi, ông đóng cửa lại, quay sang tôi, đặt hai tay trên vai tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi: “Anh Wayne, tôi muốn xin anh một đặc ân: Tôi đã hoàn tất bản thảo quyển sách thứ hai tôi viết về Mễ Du, và tôi cần một nhà văn người Mỹ hoặc người Anh giúp tôi phần biên tập. Anh có thể ở lại đây mười hay mười lăm ngày nữa để giúp tôi không? Hay là anh về rồi trở lại đây?”
Tôi muốn ngã lăn ra: thật chẳng khác gì nhà đại danh họa Michelangelo đang xin một anh thợ sơn giúp đỡ. “Thưa cha, tôi ư? Làm sao tôi có thể giúp...”
- “Không.” ông cắt ngang, “Anh chính là người ấy. Tin tôi đi, tôi biết mà”, rồi đăm đăm nhìn tôi.
Tôi giải thích cho ông biết tôi đã lập gia đình, có hai con nhỏ ở nhà và may mắn lắm tôi mới được cơ hội đến đây, vậy đừng nói chi đến việc ở nán thêm một thời gian nữa. “Nhưng,” tôi nói thêm, “được làm việc với cha là một vinh dự. Tôi sẽ về nhà, rồi sẽ liệu sau.”
Sau cùng, ông thở dài nói: “Vâng, tôi sẽ chờ anh báo lại. Nếu không, có lẽ anh có thể giúp tôi từ bên Mỹ. Sơ Margaret sẽ đem theo bản thảo của tôi về và làm cho anh một bản sao tại Trung Tâm Hòa Bình. Nếu cần, anh có thể trở lại đây tháng sau với tập bản thảo. Còn nếu không, anh có thể gởi lại bản thảo đã sửa chữa xong cho tôi qua nhóm Trung Tâm Hòa Bình, khi họ trở lại Mễ Du.”
Tôi đáp: “Vâng, có lẽ được. Ít ra, tôi cũng sẽ cố gắng.”
Ông ôm chặt tôi và nói: “Chúa ở với anh, Wayne!”
Tôi băng qua lối đi giữa Nhà thờ - giờ đây đã vắng vẻ, chỉ trừ một vài người đang cầu nguyện - để ra ngoài đi tìm sơ Margaret. Trong thâm tâm, tôi thấy khó mà trở lại Mễ Du được, nhưng tôi sung sướng rộn ràng vì ông lại còn yêu cầu tôi việc ấy nữa. Đến khi tôi gặp sơ Margaret, tôi hỏi một cách ngạc nhiên: “Chị có biết cha nhờ tôi làm cái gì không?” Chị cười, đáp: “Biết.”
- “Vậy chị có thể cho tôi hay điều chị biết mà tôi không biết không?”
- “Tôi có nói với cha Svet là trong nhóm này có một nhà văn người Mỹ và cha rất mừng.”
- “Cái gì làm cho cha nghĩ là tôi có thể làm việc đó?”
Chị nhún vai nói: “Nếu cha nói anh làm được, thì có nghĩa là anh làm được.”
Tôi cho là còn nhiều điều khác nữa trong vụ này, hơn là những gì sơ nói với tôi, nhưng ngay lúc đó, Maureen với đám người trong nhóm chúng tôi xuất hiện, xôn xao muốn biết chi tiết tại sao cha Svet lại muốn gặp tôi nói chuyện; do đó, tôi không thể nói chuyện tiếp với sơ Margaret. Tôi tự dặn: sau này sẽ gặp lại để tìm hiểu thêm về vị linh mục thánh thiện này và về quyển sách mới của ông.
Vài ba người trong nhóm, khi nghe nói về ánh sáng mà tôi được thấy trên núi sáng hôm ấy, đã rủ tôi sáng hôm sau đi lên núi thật sớm với họ; cho nên tối nay tôi phải đi ngủ sớm, dặn họ trễ nhất là bốn giờ sáng phải ra khỏi nhà, nếu muốn được ngắm cảnh mặt trời mọc.
Sáng hôm sau, có hai người đã thật sự đi được: Maureen và một thanh niên tên Paul. Khi bắt đầu lên đường, Paul hỏi: “Này, Wayne, anh đi được bao xa khi bắt đầu thấy ánh sáng đó?”
- “Vài cây số.”
- “Lúc ấy anh đã băng qua cây cầu dẫn tới Mễ Du chưa, hay là sao? Mà nói chính xác thì nó giống cái gì?”
Tôi cứ bước tới như thể không nghe anh ta nói gì, chỉ đề nghị vừa đi vừa lần hạt Mân Côi. Paul rất dễ bị kích thích, bồn chồn muốn thấy bất cứ hiện tượng nào dính dấp đến Mễ Du. Ý định của anh tuy tốt, nhưng đây không phải là lúc, là nơi để chuyện trò. Đây là lúc cầu nguyện và suy gẫm trong yên lặng với Chúa. Tôi rất mừng khi Maureen xướng lên những kinh đầu của chuỗi Mân Côi.
Sáng nay, chúng tôi không thấy ánh sáng. Maureen và Paul thất vọng, nhưng tôi không ngạc nhiên. Tôi biết kinh nghiệm hôm qua là dành riêng cho tôi, để thêm một bằng chứng không thể chối cãi về sứ vụ mà tôi đang được yêu cầu đảm trách.
Khi chúng tôi đến chân núi, Maureen muốn cầm chắc sẽ đến được đỉnh núi vào đúng lúc mặt trời mọc, cho nên cô bước nhanh khi chúng tôi bắt đầu leo lên. À, làm gì có chuyện tôi để cho Maureen đi nhanh hơn! Thế là tôi phóng theo, bỏ lại Paul trèo lên chuệnh choạng, nặng nề phía sau. Anh ta gọi theo: “Ê, làm gì mà mấy cha đi nhanh dữ vậy?”
Chúng tôi đến chặng thứ nhất của Đàng Thánh Giá và hổn hển đọc kinh, xong Maureen lại vọt đi như một con linh dương. Tôi bám sát phía sau. Chúng tôi leo bốn chặng theo kiểu đó, cho tới khi Paul xuất hiện, trông như sắp chết, van vỉ: “Mấy cha làm cái gì vậy?”
Maureen nhún vai:
- “Tôi làm thế này để đền tội một cách đặc biệt, nhưng không có nghĩa là anh cũng phải làm.”
- “Tôi cũng đền tội”, tôi thêm vào, cương quyết đi chung với cô.
Bầu trời phía sau đồi Podbrdo bây giờ bắt đầu sáng rồi, mặt trời có thể mọc lên bất cứ lúc nào, mà chúng tôi thì muốn ở trên đỉnh để ngắm cảnh đó. Mồ hôi nhỏ giọt ướt đẫm, chúng tôi đã đến nơi - và thật đáng công! Không đầy một phút sau khi chúng tôi cầu nguyện xong ở chặng đàng Thánh giá cuối cùng, toàn bộ ngọn núi bỗng biến thành một biển vàng và kim cương ánh sáng lóng lánh. Một mình dưới chân thập giá, Maureen và tôi lặng lẽ thưởng thức khoảnh khắc đó. Vài phút sau Paul tới, quá hụt hơi, không nói lời nào.
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh044.jpg
Toàn cảnh làng Mễ Du từ núi Krizevac nhìn xuống. Ở giữa làNhà thờ Thánh Giacôbê với hai ngọn tháp cao; rải rác trong vùng là những thôn xóm, chen vào giữa là những vườn trồng nho và thuốc lá, là những phương tiện sinh sống chính của làng nhỏ bé và nghèo nàn này.
Ba đứa chúng tôi ngồi lại nói chuyện, uống nước trái cây và chia nhau một ổ bánh mì “nhà làm” mà tôi mua tại một tiệm ở Citluk. Khi nhìn quanh, tôi ngán ngẩm vì khối lượng rác vương vãi trên đỉnh núi. Tôi nhặt lên một lon Coca Cola rỗng, rồi một mảnh giấy gói kẹo, rồi một hộp cơm mới ăn hết nửa, và tôi đem đến cái hố rác được đào bên cạnh đỉnh núi. Mọi thứ ở đó đẫm ướt sương đêm, tôi chùi tay vào quần sau khi dọn dẹp mấy thứ đã nhặt.
Bỗng nhiên, tôi chú ý thấy một vật gì giống như một tấm ảnh đang nằm phía trên cùng, rồi nhặt lên. Đó là một tấm ảnh Đức Giêsu lớn bằng tấm bưu thiếp. Mà lạ quá, nó lại hoàn toàn khô ráo, trong khi tất cả đều đẫm sương. Không có ai ở trên núi khi chúng tôi lên đến đỉnh, cũng như không có ai đi xuống núi ngang qua chúng tôi. Như vậy, tấm ảnh phải ở đó ít nhất suốt đêm qua.
- “Maureen!” tôi gọi, “Lại đây. Tôi không tin nổi!”
Cho cô xem tấm ảnh, tôi nói rất khẽ: “Nó khô rang!”
- “Ôi, tôi muốn nó, tôi muốn nó!” cô kêu lên, ôm chặt tấm ảnh vào người, mà không để ý là nó hoàn toàn khô.
Khổ thân tôi, vì tôi cũng muốn nó quá - nhưng rồi chợt nhớ đến món quà được xem thấy ánh sáng mà hôm trước tôi đã được.
- “Tấm ảnh này từ đâu ra?” tôi tự hỏi. Lật qua mặt sau, tôi thấy không có gì, ngoại trừ một hàng chữ đề ngày tháng viết bằng tay: 18 tháng 6 năm 1986. “Chắc là của người châu Âu,” tôi quan sát, “vì ngày đặt trước tháng. Nhưng tại sao lại chỉ đề ngày tháng? Và tại sao lại đề trước sáu tuần nữa kể từ hôm nay?”
Maureen chỉ biết lắc đầu, đưa ảnh cho Paul xem rồi hí hửng cất vào túi. Sau đó, chúng tôi đi xuống, để kịp dự Thánh Lễ buổi sáng. Bức ảnh kỳ bí và ngày tháng sắp tới ghi sau lưng cũng bị quên luôn.
Mỗi chúng tôi đều biết rõ hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của mình ở Mễ Du, vì thế, xem ra mọi sự đều rõ nét, mọi cảm nghĩ đều bén nhạy một cách đáng kể. Dần dần, tôi nhận ra mình không muốn rời nơi này một chút nào: một điều điên rồ! Tôi nhớ Terri, nhớ bọn nhóc và muốn gặp lại họ đến chết được... Nhưng trong Thánh Lễ sáng hôm ấy, tôi thấy những cảm xúc của mình dâng lên thật cao. “Chúa ôi!” tôi thầm thĩ, “Đây là ngày cuối cùng của con ở đây!” Tim tôi tan nát, vì mặc dù có lời yêu cầu của cha Svet và ước muốn riêng của tôi được làm việc với ông, tôi thật sự vẫn nghĩ có thể mình sẽ không bao giờ trở lại đây được.
Thời gian còn lại trong ngày trôi qua rất nhanh - quá nhanh. Nơi nào tôi nhìn, tôi đều thấy có một cái gì khác nữa mà tôi muốn ghi nhớ mãi. Mặt trời lặn dần trên dãy núi về phía Tây. Và thoáng chốc đã đến lúc tới Nhà thờ lần hạt Mân Côi trước giờ Thánh Lễ tiếng Croát. Khi bước vào, mắt tôi chợt thấy mấy tòa giải tội ở cuối Nhà thờ. Mỗi bên có ba tòa, trước mỗi tòa có tấm bảng nhỏ ghi chữ: Hvrotski (tiếng Croát), Deutsche (tiếng Đức), English (tiếng Anh), Francais (tiếng Pháp)...
Như thường lệ, mọi hàng ghế đều chật cứng người; nhưng ở hàng chót bên tay phải, người ta nhường một chỗ cho tôi và mời tôi ngồi chung. Người ta bắt đầu đọc kinh, nhưng tôi không chú ý đến việc lần hạt, mà chỉ nghĩ đến việc xưng tội. Trong suốt mấy ngày cuối, tôi cứ nghĩ đến việc đi xưng tội. Vì là một tín đồ Tin Lành, nên chuyện này quá mới lạ với tôi. Bên Tin Lành Lutêrô, chúng tôi xưng tội công khai như một phần trong buổi thờ phượng; nhưng tôi muốn bật ngửa, khi thấy rất đông khách hành hương xếp hàng nối đuôi nhau cả trong lẫn ngoài Nhà thờ, để đến lãnh bí tích đặc biệt này. Nhiều người trong nhóm cũng đã hỏi tôi có muốn xưng tội không. Khi tác động dồn dập của Mễ Du mỗi ngày thêm chồng chất, nhiều khách hành hương cảm thấy cần phải tẩy sạch tâm hồn, bằng cách xưng thú tội lỗi mình. Với một số người, đó là lần đầu tiên trong nhiều năm... Bằng hành động này, họ sẽ niêm phong những cảm nghiệm Mễ Du của mình trong lòng suốt đời.
Tôi cũng muốn làm việc đó nữa, nhưng tôi lại là người Tin Lành. Tôi chịu bí tích này có được không? Tôi hỏi sơ Margaret, nhưng chị không biết. Tôi là người Tin Lành đầu tiên chị đưa đến đây. Một mặt, bí tích này dành cho người Công giáo, nhưng mặt khác, làm sao người ta có thể từ chối bí tích này với một người muốn ăn năn một cách đàng hoàng? Tôi cũng hỏi Maureen, cô ấy khuyến khích tôi đi xưng tội. Cô còn dặn: “Nhưng, làm gì thì làm, anh đừng gặp ông cha Arcadius, ông cha có bộ râu trắng và cặp mắt dữ tợn đó. Tôi đã có lần xưng tội với ông, ông rất nghiêm khắc với người Công giáo - hoàn toàn không thích hợp cho một người Tin Lành đi xưng tội lần đầu tiên!” cô nói với một cái nháy mắt.
Sau cùng thì quyết định là do tôi, cho nên tôi định sẽ đợi đến lúc về nhà. Nếu tôi vẫn cảm thấy thôi thúc, tôi sẽ xin mục sư Lutêrô của tôi nghe tôi thú tội. Tôi cố tập trung vào việc lần hạt Mân Côi. Nhưng khi giờ lễ buổi chiều bằng tiếng Croát đến gần, lòng tôi càng thêm tan nát bởi ý nghĩ đây sẽ là Thánh Lễ cuối cùng của tôi.
Cuối cùng, không chịu được nữa, tôi liền đứng dậy, ra khỏi Nhà thờ. Khi đi ngang qua tòa cáo giải dành cho người nói tiếng Ý, vì lý do nào đó, tôi bỗng liếc nhìn xuống cái bảng nhỏ, rồi nhìn vào đôi mắt của ông linh mục cao lớn, mập mạp đang đứng đó. Ông hỏi nhỏ: “Muốn xưng tội bằng tiếng Ý hả?”
- “Dạ không, tiếng Anh”, tôi trả lời bằng tiếng Anh rồi chực bước đi. Nhưng ông đã hiểu lầm ý định của tôi. Vừa cười tươi rói vừa nắm vai tôi, ông đẩy tôi thẳng vào cái buồng gỗ nhỏ, tức tòa cáo giải, ở bên cạnh. Ở đó có đặt cái bảng nhỏ ghi chữ “tiếng Anh”. Tôi bị sốc: bỗng nhiên, tôi thấy mình đang đi xưng tội, dù có muốn hay không!
Khi quỳ xuống trên tấm ván cứng, tôi mới biết đầu gối tôi đau đến mức nào, vì suốt tuần tôi đã quỳ rất nhiều - lần đầu tiên trong đời. Nhìn qua khung cửa nhỏ có che màn, tôi trông thấy nét mặt nhìn nghiêng của một linh mục có bộ râu trắng, mà tôi nhận ra ngay là vị tu sĩ ẩn dật thường đến các đền thờ như Lộ Đức và Fatima, để giúp các nơi hành hương này trong việc ngồi nghe người ta xưng thú tội lỗi. Đây đúng là ông cha Arcadius mà Maureen đã cảnh giác tôi! Thôi, bây giờ thì trễ rồi!
Ông nói nhẹ nhàng: “Thế nào, con của cha?”
Tất cả những gì tôi nhớ được chỉ là câu mình đã xem trong một cuốn phim ở đâu đó: “Thưa cha, xin chúc lành cho con, vì con đã phạm tội.” Thế rồi, ông đợi, tôi cũng đợi; tôi không biết phải nói gì tiếp theo.
Cuối cùng, tôi tuôn ra: “Con muốn xưng tội, nhưng không biết phải làm sao. Con chưa bao giờ làm chuyện này. Con là người Tin Lành.”
Linh mục thình lình quay đầu lại: “Con là gì?”
Tôi lẩm bẩm: “Thưa cha, người Tin Lành.”
Hai đầu gối tôi đau điếng, mồ hôi toát ra như tắm. Bấy giờ, tôi chỉ muốn đứng lên và chạy. Ông nhìn tôi chăm chú rồi nói: “Thôi được, cha sẵn sàng nghe con xưng tội, nhưng cha không được quyền ban phép giải tội cho người ngoài Công giáo.”
Tôi hoàn toàn không hiểu ông đang nói gì: “Vậy à, thưa cha. Cái đó không thành vấn đề.” Lại im lặng. Rồi ông nói: “Nào, con nói đi.”
- “Thưa cha, con không biết phải làm sao.”
Ông lắc đầu, ngừng một lát rồi nói: “Cha sẽ nhắc lại mười giới răn, còn con chỉ cần trả lời có hoặc không.”
Tôi tự nhủ: tôi không tin chuyện này lại đang xảy ra! Ông bắt đầu nêu lên từng giới răn một. Tôi nhẹ cả người khi ông đọc đến câu “Chớ giết người”. Cuối cùng, tôi đã có thể trả lời “không”.
Khi đã xong, ông nói: “Khi trở về Mỹ, nếu con muốn đi thú tội, thì nên đến với mục sư của con.”
Tôi đáp: “Xin cám ơn cha!” rồi vọt lẹ ra ngoài. Ra đến ngoài, hai chân tôi run lẩy bẩy. Tôi gấp gáp gọi taxi về Citluk. Đến nơi, tôi xuống xe và bước lên con đường đất dẫn về nơi chúng tôi trọ, nhưng tôi không về mà vẫn tiếp tục đi. Tôi rung động sâu xa, nhưng cũng nhận thức rằng tôi thật sự cảm thấy tuyệt vời - được tẩy sạch đến tận cùng sâu thẳm tâm hồn tôi như chưa từng có. Rồi tôi lại nghĩ đến việc mới vừa xảy ra. Tôi phá lên cười. Tội nghiệp ông cha! Trong hai chúng tôi, chưa chắc ai đã run rẩy hơn ai.
Tôi trở về phòng trọ, đi tắm và thu dọn hành lý, vì đây là đêm cuối cùng, và tôi muốn sáng sớm mai sẽ có chút giờ rảnh. Tôi đã quyết định đi (từ nhà trọ tới) Mễ Du thêm một lần nữa - lần này không phải để lên núi, nhưng để có thời gian ở một mình trong Nhà thờ, trước Thánh Lễ bảy giờ sáng. Ngay sau đó, chúng tôi sẽ ra đi đến Dubrovnik.
Tôi đi ngủ trước khi những người khác về, và đang khi chờ giấc ngủ đến, tôi thấy vui biết bao vì đã đi xưng tội. Nó chẳng làm tôi trở thành Công giáo hoặc không Công giáo vì việc đó. Sự thú tội đã thật sự làm nơi tôi những gì mà nó đã làm nơi nhiều người khác: nó ghi khắc mãi mãi vào lòng tôi những cảm nghiệm Mễ Du.
Rồi tôi lại nhận ra thêm một điều khác nữa: từ khi đến Mễ Du, tôi ít nghĩ về Đức Maria, cho dù Người đang hiện ra hằng ngày. Tôi thấy xấu hổ, vì để khởi sự, chính Người đã đem tôi đến đây. Tuy nhiên, tôi cảm thấy Người không bận tâm về chuyện đó, Người thích lui vào phía sau hơn, để hướng người ta đến với Con của Người. Trong trường hợp tôi, chắc chắn là Người đã thành công: sau tuần lễ này, mối quan hệ giữa tôi với Thiên Chúa trở nên thật hơn và trực tiếp hơn bao giờ. Đó là một mối quan hệ riêng tư, gần gũi, thân mật, và tôi cảm thấy nó sẽ tiếp tục mãi, cả khi tôi về nhà. Thỉnh thoảng, tôi lại thấy mình đang thầm thì: “Ôi, Giêsu! Con yêu mến Chúa!”, hoặc: “Ôi, Giêsu! Con xin cảm ơn!” Trước kia, chưa bao giờ tôi cầu nguyện như vậy; thực ra, cả cuộc đời tôi từ nay sẽ không còn như trước nữa - đó chính là trọng tâm của (sứ điệp) Mễ Du.
Sáng hôm sau, khi đang rảo bước trên con đường nay đã thành quen thuộc với tôi, không khí trong lành và mát mẻ của buổi sáng sớm như đang kết tinh lại tất cả những biến cố đã xảy ra trong tuần. Tôi thấy ở đó một sự tiến triển rõ nét và thiêng liêng cho tôi. Chắc chắn, tôi cũng đã thấy có sự chuyển biến dần dần nơi những người khác: người đàn bà mập mạp ưa phàn nàn trên xe buýt, nay đã dịu đi và bình tĩnh; những linh mục đã đến với vẻ lãnh đạm chai lỳ thì nay, khi tuần lễ chấm dứt, hầu như đã trở nên hăng hái, nhiệt thành.
Phần tôi, tôi cứ nói mãi: “Lạy Chúa Giêsu, con không thể nghĩ là con có thể bỏ đây mà đi được. Con đang ở đây, ở ngưỡng cửa của thiên đàng, và con thực sự không muốn về nhà.” Và rồi, tim tôi lại cứ nhớ mong Terri, Kennedy và Rebecca, và cứ ước ao tôi có thể đưa cả mấy mẹ con tới đây.
Khi tôi tới Nhà thờ, Nhà thờ trống trơn - lần đầu tiên tôi được thấy như vậy. Tôi nghĩ không có gì đáng ngạc nhiên, vì còn ít nhất một tiếng đồng hồ mới đến giờ Lễ. Tôi quỳ vào hàng ghế đầu, và ngay lúc đó, cảm xúc trào dâng trong lòng tôi. Tôi tự nhủ: mình không nên làm như thế này, nhưng nước mắt vẫn không sao cầm lại được. Tôi thầm thĩ: “Ôi Giêsu, con biết là chúng con phải ra đi bây giờ, nhưng con không thể...”
Thời gian như tan biến, bỗng nhiên, Maureen và nhiều bạn khác trong nhóm đến ngồi bên cạnh tôi. Cô mỉm cười nói nhỏ: “Ê, đồ lén lút! Tại sao không cho tụi tôi biết anh đến đây sớm?”
Tôi nhìn cô rồi vội vàng quay đi đáp: “Tôi cần được ở một mình, vậy thôi.” Tôi không tài nào cầm được nước mắt. Thánh Lễ tiếng Anh thì ít người hơn và thân mật hơn lễ buổi chiều. Trong phần hiệp lễ, tôi cảm nghiệm được sự hiện diện êm ái, dịu dàng của Chúa, mà tôi sẽ không bao giờ quên. Khi Thánh Lễ chấm dứt, tôi vội vàng ra ngoài. Tôi chỉ muốn được ở một mình. Chỉ còn nửa giờ nữa trước khi xe buýt đến đưa chúng tôi đi Dubrovnik - và cuộc hành hương của chúng tôi sẽ chấm dứt.
Tôi nhanh chân đi vòng ra phía sau Nhà thờ, nơi không ai có thể thấy tôi. Bây giờ, mặt trời đã lên cao, và bầu trời không một đám mây. Tôi quỳ gối xuống khóc nức nở, không sao kềm chế: “Lạy Chúa là Chúa Trời con, xin đừng đưa con đi khỏi nơi này!” Tôi trở nên một đứa trẻ - đứa con của Chúa - mà chúng tôi được nghe nói đến suốt trong tuần. Cảm xúc đã vượt quá khả năng diễn đạt của ngôn ngữ; tất cả những gì tôi có thể lặp đi lặp lại chỉ là: “Giêsu - Giêsu - Giêsu.”
Dần dần, tôi nhận thấy có một sự bình an kỳ diệu đang ngự trị trong lòng, cho tôi biết sẽ không bao giờ lìa xa Mễ Du về tinh thần. Nhưng đã đến giờ trở về - và sống mỗi ngày với những gì tôi đã cảm nghiệm nơi đây.
Cuối cùng, tôi đứng lên, đưa mắt nhìn lên ngọn Krizevac, để thu lấy hình ảnh cuối cùng cái biểu tượng của ngôi làng bé nhỏ xinh đẹp này. Tôi nhìn lại lần nữa - và mở to mắt nhìn trừng trừng: không có cây Thập giá!
Tôi nheo mắt, chớp mắt, quay đi, quay lại - vẫn không có Thập giá! Bị sốc, tôi moi túi xách lấy máy ảnh ra, nhìn qua ống nhắm: không có gì hết! Tôi chụp mấy tấm làm bằng chứng, vì đã từng chụp ngọn núi - với Thập giá - cũng từ một góc độ ấy. Đi thong thả ra phía trước sân Nhà thờ, tôi gặp Maureen và một người khác trong nhóm, anh Bob Veasey, giờ đã thành bạn thân. Chỉ tay lên ngọn núi, tôi điềm tĩnh nói: “Nhìn kìa!”
Bob cười toe: “Biết rồi! Tụi tôi cũng không thấy Thập giá!”
Suốt mười hoặc mười lăm phút, chúng tôi đăm đăm nhìn vào đỉnh núi, rồi giờ khởi hành đến. Khi chúng tôi đã ngồi vào chỗ và liếc nhìn ngọn Krizevac lần cuối, khôi hài thật: cây Thập giá đã trở lại, và ai cũng trông thấy rõ ràng.
Quay lại phía Bob, tôi nhẹ nhàng nói: “Đó là lời chào tạm biệt đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể có được.