ĐỌC NHÃ CA HỒI KÝ
nguyễn xuân nghĩa
Thói thường - dường như thói thường của Tây phương -người ta thường tránh nói về cái tuổi của một phụ nữ mình quý mến. Riêng ở trường hợp Nhã Ca, người viết khó noi theo cái thói thường đó. Tập Hồi Ký vừa xuất bản đầu năm nay là tác phẩm thứ 41, hoàn tất vào năm bà mừng sinh nhật 50 của mình.... Con số 41 tác phẩm, gồm cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết, là một con số đồ sộ, nếu người ta nhớ là Nhã Ca đã bị mười bốn năm treo bút trong mười bốn năm treo niêu, trốn tù và chạy ăn cùng chạy loạn trên đường phố Sài Gòn, trên con đường từng mang tên Tự Do.
Với bốn mươi tác phẩm đã ra mắt của bà, người viết không còn có thể giới thiệu Nhã Ca với độc giả, một việc mà nhà thơ Nguyên Sa đã so sánh là “đẩy ra một cánh cửa đã mở lớn.” Ở đây, người viết chỉ trình bày một vài cảm xúc riêng của mình, khi đọc Hồi Ký Nhã Ca.
Vào chương một, ở hàng đầu tiên là hình ảnh của khóm cúc vàng trước thềm nhà bị bánh xe nghiến nát. Cuộc tổng truy lùng văn nghệ sĩ tự do tại Sài Gòn - chiến dịch “thanh toán bọn văn nghệ sĩ phản động” theo ngôn ngữ Việt cộng - đã khởi sự vào ngày mùng 3 tháng Tư năm 1976. Nhã Ca cùng chồng là Trần Dạ Từ lập tức được chiếu cố. Hình ảnh đầu tiên của bà khi bị còng đi là khóm cúc vàng bị bánh xe cán nát giữa trưa. Mười mấy năm sau, Nhã Ca vẫn còn nhớ, và nhắc lại hai lần. Người đọc có thể không nhớ hết tên những đứa conthơ dại của bà, Sớm Mai, Phương Đông, Hoà Bình, Vành Khuyên, Sông Văn hay Hưng Chấn... nhưng không thể không nhớ khung cảnh bụi mù của buổi trưa kinh hoàng đó. Và cảm giác nhờn nhờn đến lợm giọng khi bàn tay xương xẩu tỉ mỉ của chị công an sờ nắn khám xét nhà văn nữ của chúng ta.... Không phải tay người. Mềm. Nhám. Vuốt. Quấn. Xiết. Cào vào da đầu. Một con rắn. Không phải, vẫn chỉ là bàn tay người: vì bàn tay biết hươi ngay cái kẹp ba lá của tù nhân, bỏ gọn vào túi.
Con rắn không biết ăn cắp. Khác với công an nhà nước ta ở chỗ đó, và chỉ chỗ đó thôi. Đọc Hồi Ký Nhã Ca, người ta đi vào một gian hàng triển lãm của quỷ. Không. Một gian hàng vẫn còn quá nhỏ, một khu, một vùng, một cõi âm dưới ánh mặt trời mới đúng. Trong đó, con người chỉ là chất liệu cho phương án xây dựng một xã hội đảo ngược. Qua gian hàng triển lãm này, người đọc không chỉ gặp những khuôn mặt đã làm nên văn học miền Nam trong hơn hai chục năm, mà còn thấy số phận điêu linh của hàng trăm hàng ngàn người “vô can” khác. “Vô can” là những người dân bình thường, không thuộc diện văn nghệ sĩ hay trí thức bị Việt cộng tróc nã và đàn áp theo chánh sách. Thành thử, trong cảnh đổi đời này, chẳng ai là vô can. Là người thì người nào cũng có tội, được minh danh hẳn hoi và nhốt vào tù kỹ lưỡng, hay lang thang ở bên ngoài, trong cái nhà tù lớn là quê hương mình như Nhã Ca gọi khi được thả ra.
Vô can thế nào, lũ con thơ dại của Nhã Ca. Đứa lớn, mới mười ba, cái tuổi của một bài hát dễ thương. Đứa nhỏ đang chập chững tập đi. Vừa bập bẹ tiếng “Ba” đã học nói tiếng “Tù”. Vô can thế nào được, nên cha mẹ vừa bị bắt, chúng liền bị đuổi khỏi nhà. Vô can thế nào, đứa con của Chu Vị Thủy và Đằng Giao, cháu ngoại của nhà văn Chu Tử. Mới sơ sinh còn đỏ hỏn, Cu Red đã vào tù cùng me.. Vô can thế nào, linh mục Trần Hữu Thanh, lãnh đạo phong trào chống tham nhũng trong Nam ít tháng trước, nay cũng lãnh còng, chân bị tê liệt. Vô can thế nào, Hòa thượng Thích Trí Thủ, như cây bồ đề trong Chùa Già Lam, mười năm sau rồi cũng bị chiếu cố, và viên tịch trong hoàn cảnh rất mờ ám, mà có lẽ cũng rất lô gích, theo cái lô gích của Ma vương....
Nhưng, viết về thời kỳ hoàng kim của “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” - thời mạt vận của dân tộc - thì hầu như tác phẩm văn chương nào, trong mười lăm năm vừa qua, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, tùy bút hay hồi ký trong và ngoài tù... cũng đều có đầy ắp những chứng liệu cho một bản án về tội ác của chế độ cộng sản tại nước ta đối với đồng bào và nhân loại. Vì vậy, người viết sẽ không nói nhiều về những cảnh lầm than khốn khổ của gia đình tác giả: một chục người chui rúc về căn phố nhỏ trên đường Tự Do và bị trận “đánh tư sản mại bản” cuốn phăng xuống tỉnh, trong khi bản thân Nhã Ca thì lang thang chạy trốn trong thành phố, và chẳng còn ai thăm nuôi Trần Dạ Từ ở trên rừng. Người viết cũng không nói nhiều về chánh sách quái ác của chế độ đối với các văn nghệ sĩ. Hay cảnh điêu linh của người dân, chánh sách trả thù đê tiện của Việt cộng đối với con em của “Ngụy”. Hay cảnh vượt biên chục lần của cô bé Sớm Mai, ngồi tù cả năm trời, chuyện Phương Đông vượt biên đường bộ qua tới Căm-pu-chia. Hay tư cách đạo tặc của những kẻ trương bảng giải phóng đi cướp nhà hôi của giữa ban ngày....
Không nói tới, vì biết là mỗi độc giả sẽ suy nghiệm và đối chiếu với những cảnh đã thấy, những chuyện đã nghe, để tin chắc rằng địa ngục có thật. Không nói tới, nhưng biết là từng trang sách của Nhã Ca sẽ còn làm người đọc chưng hửng và phẫn nô.. Người ta khó tin là trên quê hương mình, người với người lại đối xử như vậy.
Nhưng, Hồi Ký Nhã Ca không là một bản án của chế độ cộng sản. Tác phẩm thứ 41 của bà cũng không chỉ là cái mặt trái sô gai của cái gấm hoa giả trá cộng sản. Người viết không nghĩ là Nhã Ca đã cầm bút trong mục tiêu thanh toán nợ nần với những người đã gieo bao tai họa cho quê hương và bản thân hay gia đình, hay bạn hữu của bà.
Bà viết trước hết cho các bạn còn ở lại. Mỗi lần vào thăm tù thăm chồng, Nhã Ca đều được Trần Dạ Từ nhắc nhở: “Bình tĩnh. Tin tưởng. Thở cho đều”. Gặp nhau là họ hỏi han về tình hình bạn hữu. Ra tù trước, Nhã Ca là người chứa chấp Mai Thảo khi ông còn lẩn trốn tại Sài Gòn. Theo lời khuyên của Từ. Bà cũng là người giúp Mai Thảo tìm đường dây vượt biển, trong khi chính mình bị một bạn cũ cự tuyệt không dám chứa lúc bị đuổi khỏi nhà đi kinh tế mới. Trong Hồi Ký Nhã Ca, bạn hữu của Từ và Nhã chiếm một vị trí đặc biệt. Nhờ vậy mà chúng ta có biết nhiều về cảnh địa ngục thì sẽ biết nhiều hơn về những người đã tạo nên không khí sinh hoạt văn học của miền Nam trước 1975. Và nhất là sau đó. Những chân dung của Nguyễn Gia Trí - khẳng khiu như một thiền sư - của Doãn Quốc Sỹ gầy gò mà tươi tỉnh, nhanh nhẹn - của Nguyễn Khánh Giư - to lớn dềnh dàng, mắt muốn lồi khỏi kính, với chòm râu khiêu khích -Nguyễn Sỹ Tế - chững chạc áo sơ mi trắng ngay giữa rừng - được Nhã Ca ghi khắc căn kẽ. Y như qua khe cửa nhà tù, mặt trời lấp lánh như sợi chỉ.
Chúng ta sẽ bật cười về thái độ sống thật đáng yêu của Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Trung. Chúng ta không quên được tiếng cười sảng khoái của Hoàng Anh Tuấn, tà áo dài lạc lõng của Nguyễn Thị Hoàng, ngày bà cố tình trang điểm thật đẹp, đạp xe đi chào Từ và Nhã trước khi họ ra đi.
Chúng ta gặp Trần Lê Nguyễn bán đồ cổ ngoài chợ trời, Minh Đăng Khánh bị liệt trong tù, được thả, lê xe lăn đi thăm bạn bè, miệng cười móm mém. Tú Kếu, Nguyễn Thụy Long trốn chui trốn lủi ngoài đường ngoài chơ.. Người đọc sẽ nhớ Thảo Trường, đóng vai “tướng cướp Mây Tào” chặn đường chào hỏi Nhã Ca khi chỉ là anh tù khổ sai xách rựa đi đốn tre trên rừng, cũng như hình ảnh còm cõi của Trần Việt Sơn, những buổi trưa nắng lội bộ đi chia quà của các bạn gửi về cho bằng hữu. Ông nói câu than thở, nhưng vẫn với nụ cười bình dị, trung hậu. Nụ cười ấm áp của Trần Việt Sơn, Nhã Ca không quên được, và người đọc cũng không thể được quên. Ông đã mất.
Như thầy Trí Thủ, như Nguyễn Mạnh Côn, như Hồ Hữu Tường,như Minh Đăng Khánh, như Hoàng Vĩnh Lộc, như Nguyễn Hoạt....
Người viết thú thật đã thấy mình ứa nước mắt khi đọc đoạn hồi ký Nhã Ca về nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Ông bị tù tháng Năm, năm 1985, cùng khoảng thời gian với Hòa thượng Trí Thủ. Và chết tại Chí Hòa. Theo lời dặn, con rể ông đã hỏa táng thi thể và bưng cốt tro đi chào một vài người bạn thân quý của ông, trước khi rải xuống sông Sài Gòn. Bạn bè khi đó có còn ai, người đã đi trước, kẻ còn ở tù. Chỉ còn Nhã Ca lang thang trong thành phố. Có ai tưởng tưởng ra một đám táng như vậy không? Sau phút bàng hoàng, bà thất thểu chạy ra bờ sông nắng chói chang. Phải nhìn thấy dòng nước.
Khi cả nước gặp nạn, các bạn văn lần lượt bị tù, chỉ riêng mình Hiếu Chân được yên. Hình như do một món nợ ân tình vài chục nămvề trước với một người lãnh đạo chế độ mới. Ông không được yên lòng trong cái thế được yên đó. Cuối cùng, tác giả của Tỵ Bái, ngòi bút sâu sắc thâm trầm của mục Nói Hay Đừng trên nhật báo Tự Do thập niên 60, cũng được thỏa lòng. Vào tù và chết thảm.
Nhiều bạn văn khác của Hiếu Chân, bị tù, có phân vân về cái nỗi được yên của ông, cho tới ngày ông mất mới tấm tức ân hận về nỗi phân vân của mình. Phải nói là vào thời đó, hắc bạch quả khó phân minh. Và bạn hữu của Nhã Ca lại thuộc đủ thành phần, bất đồng chính kiến với nhau cũng có - người khuynh tả người chống cộng- bất đồng sở thích với nhau cũng có - kẻ mê rượu người yêu kinh - và yếu đuối hay can trường trước bạo lực cũng có... nhưng đối với ai, Nhã Ca cũng vẫn một lòng cư xử đâu ra đấy và giữ được hòa khí với mọi người.
Chỉ riêng đối với các “quan cách mạng”, mới hay cũ, thành danh hoặc vừa nổi, thì rõ ràng là Nhã Ca có thái độ xử thế dứt khoát. Chừng mực nhưng dứt khoát. Những đoạn gặp gỡ Nguyễn Tuân -Trán cao. Hói kiểu cách. Miệng mỏng. Ăn nói duyên dáng có TrịnhCông Sơn, Sơn Nam, hay cuộc gặp gỡ với Nguyễn Đắc Xuân - tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế gặp nhân vật của mình, người ngồi xử những phiên tòa chôn người trong trận Mậu Thân - là những đoạn lý thú nhất, sảng khoái nhất.
Tội nghiệp cho họ.. Ngần ấy nhân vật, chẳng thấy ai hồ hởi cả!
Tình bạn trong Hồi Ký Nhã Ca mở rộng sang tình người. Phần thứ ba của quyển hồi ký hơn 500 trang, viết về kỷ niệm của tác giả với chùa Già Lam và thầy Trí Thủ là một cõi riêng, mang hình ảnh thấp thoáng của một vị bồ tát và làm người ta càng quý mến tâm hồncủa tác giả. Ở đây, người viết muốn nhắc đến những người bạn ngoài đời của Nhã Ca, không thuộc giới văn hữu của bà. Người ta nhớ không hết những câu chuyện thương tâm và cảm động bà ghi lại khi nói tới những người có khi chỉ mới quen, hoặc cũng chẳng quen, đã từng cưu mang cứu giúp một gia đình khốn khổ gồm toàn người già, phụ nữ và trẻ thơ, là gia đình Nhã Ca. Nhưng người viết khó quên Nguyễn Chánh Lý, cựu tổng giám đốc Kỹ Thương Ngân Hàng, một người bạn tận tình và chu đáo của gia đình Từ và Nhã, cũng như không quên “công ty tiêu tùng”, những Lượm, Bảy, Cường... những thanh niên bụi đời đã tôn trọng một luật giang hồ rất người và rất đẹp ngay trong thời loạn. HayAndre và Stefan, hai người Đức ở hai nước Đông Tây, chưa bao giờ gặp nhau mà cùng chia xẻ một nỗi xót xa với gia cảnh éo le của tác giả và tìm đủ mọi cách giúp đỡ bà và bầy con dại.
Chói lọi hơn cả, bên cạnh một Nhã Ca “biệt kích văn hóa” dữ như cọp cái khi phải xoè cánh che chở đàn con trước lũ công an hung ác, Hồi Ký Nhã Ca còn làm nổi bật khuôn mặt của một bà mẹ khác: bà Vũ, hiền thê của cố khoa trưởng trường luật Vũ Quốc Thông.
Cuộc thăm nuôi những người tù trên vùng Gia Rai Công Tum, qua lời kể của Nhã Ca, có nét độc đáo của một cuộc hành quân. Bà Vũ là người chỉ huy tất cả, thật tươm tất, và đầy tình cảm ân cần với các tù nhân và các bà vợ đi thăm nuôi. Không hiểu sao, người viết luôn luôn có cảm nghĩ trong nhà của bà phải có một bàn thờ Phật, và chính khuôn mặt bà đẹp ẩn hiện như nét đôn hậu của đức Quán Thế Âm. Hình ảnh và cách xử thế của bà - không khác gì bóng mát trên chùa Già Lam - và của những khuôn mặt nhân hậu khác đã khiến Hồi Ký Nhã Ca không thể là một bản án về tội ác con người.
Khác với Sài Gòn Cười Một Mình, tập hồi ký làm người đọc không tuyệt vọng. Hình như tình người vẫn đưa đến phép lạ.. Và quả nhiên là tình thương đã nẩy nở ở những nơi bất ngờ nhất, vào những lúc bất ngờ nhất. Hoàn cảnh của Nhã Ca và Trần Dạ Từ khiến nhiều người ngoại quốc xúc động. Nhà văn, nhà báo Thụy Điển đã biết đến trường hợp Nhã Ca. Sau đó là sự can thiệp của chính quyền Thụy Điển.
Cái chế độ Hà Nội đang cầm bát ăn xin đã phải nhả cho chính phủ ân nhân của họ những người họ đã đày đọa trong mười mấy năm. Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca cùng năm người con còn lại cuối cùng được phép đi Thụy Điển. Hồi Ký Nhã Ca viết về cảnh tiễn đưa cũng làm ta bồi hồi nhộn nhạo như lúc bà bị bắt vào tù ở chương đầu. Nhưng trong tiếng rộn ràng của một khúc happy ending, hình như vẫn xen lời nức nở. Vì ở đằng sau, cái nhà tù lớn kia vẫn còn đó. Sừng sững.
Nhã Ca viết cho cái nhà tù đó, cho hơn sáu mươi triệu bạn tù còn lại của bà.
* Nhã Ca: Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, Thương Yêu xuất bản, 1991 |