-
“Satan rất mạnh và đang sẵn sàng thử thách các con. Hãy cầu nguyện để nó không thể làm tổn thương các con, cũng không thể cản trở các con trên con đường thánh thiện...”
Chương 24
LÊN ĐƯỜNG
Vừa qua là một chuyến đi đầy hứng thú, nhưng được về nhà cũng sung sướng biết bao! - ít ra tôi tưởng như vậy, cho đến lúc bước vào văn phòng vài ngày sau đó. Ở đó, la liệt thư từ chất thành từng đống trên bàn viết của tôi, khiến ai thấy cũng tưởng tôi đã đi vắng một năm. Tôi la lên: “Denease, cái gì đây?” Denease đáp tỉnh bơ: “Thư từ trong hai tuần.”
- “Có chuyện gì vậy? Như thế này mà hai tuần sao? La liệt khắp nơi!”
Denease cười: “Anh có biết số lượng bản sao những bài báo đang gởi đi mỗi tuần là bao nhiêu không? Gần 50 ngàn đấy! Còn những cái mà anh đang nhìn trừng trừng đó không phải là đơn đặt hàng đâu. Đặt bao nhiêu tụi tôi lo gởi đi hết rồi. Trên bàn anh, tôi chỉ để toàn những thư riêng của những người đã đọc các bài báo và muốn viết cho anh để tâm sự!”
Sửng sốt, tôi đến bên bàn giấy, ngồi xuống, rồi rút ra một lá ở trên cùng một chồng gần nhất. Thư này do một phụ nữ ở Illinois gửi đến, như sau:
“Ông Weible thân mến!
Thứ năm vừa qua, một người bạn đã tặng tôi mấy bài xã luận của ông. Tôi đã tình cờ nghe nói về Mễ Du và cho đó là chuyện không thể có. Rồi tôi được đọc mấy bài xã luận của ông, tôi không còn nghĩ như thế nữa. Thật vậy, bây giờ Thiên Chúa là có thật đối với tôi hơn, hơn bao giờ hết, kể từ khi tôi chịu phép Thêm Sức...”
Có ít nhất hơn một trăm lá thư được viết với cùng một nguồn cảm hứng tương tự. Tôi phải mất cả ngày để đọc hết, và khi xong rồi, tôi không nói được lời nào. Tôi cầm một bó đưa cho Terri xem, nàng mỉm cười nói: “Em biết rồi, em đã đọc.”
- “Anh phải làm gì với hết đống thư này?”
Nàng trả lời: “Anh cứ in thêm những bài xã luận, rồi ngồi xuống mà bắt đầu hồi âm cho một số. Có lẽ anh sẽ làm được việc ấy trong thời gian hành trình đi diễn thuyết.”
Quả thật như vậy, càng ngày càng có nhiều lời mời tôi đi các nơi nói về Mễ Du. Tôi đã nhận được thư mời đầu tiên đi diễn thuyết ở ngoài tiểu bang của tôi, trong vài ngày đầu tháng ba. Một phụ nữ ở New Orleans, tên Lettie Bindewald, một thành viên đoàn hành hương của Trung Tâm Hòa Bình trong chuyến đi trước, đã nghe tôi nói chuyện ở tầng hầm Nhà Xứ, và sau Thánh Lễ sáng hôm đó, chị cùng vài người bạn leo lên núi Krizevac. Đến chiều tôi cũng lên đó thì gặp nhóm họ đi xuống. Lettie hơi sửng sốt khi trông thấy tôi, và rút ra từ túi xách đeo trên vai một tờ giấy, chị nói nhỏ với tôi: “Tôi viết cái này khi ở trên đỉnh núi, có ý đưa cho anh sau này. Bây giờ đừng đọc, nhưng chờ đến khi anh lên tới đỉnh.”
Tôi đã làm theo yêu cầu của chị. Đó là những ghi nhận về cảm xúc của chị khi đến Mễ Du, và điều đã tác động mạnh nhất nơi chị là được nghe một người Tin Lành nói chuyện. Chị viết: “Tôi yêu niềm tin Công giáo của tôi, nhưng tôi vẫn ước ao loan truyền sứ điệp này cho anh em Tin Lành một cách mãnh liệt. Cho đến lúc anh nói chuyện, tôi vẫn chưa biết phải làm sao. Nhưng bây giờ tôi biết.”
Tôi bồi hồi cảm động và quyết định cất giữ mảnh giấy ấy. Về sau, chị có biên thư cho tôi, và trong thư phúc đáp, tôi đã đồng ý một lúc nào đó trong tương lai sẽ đến nói chuyện ở chỗ chị. Nhưng chị đã gọi. Chị nói: “Tôi không nghĩ tôi sẽ gọi điện cho anh sớm đến thế, nhưng có một nhóm người ở đây đã từng đọc bài xã luận của anh, bây giờ rất sung sướng mời anh đến nói chuyện.”
Tôi chấp nhận, nói cho chị biết đây là lần đầu tiên tôi đi diễn thuyết ngoài tiểu bang Nam Carolina, vì quả thật tôi chưa bao giờ đi nói chuyện ở đâu xa nhà tôi hơn 100 cây số.
Chị trả lời: “Tuyệt quá! David và tôi rất hân hạnh được tiếp anh ở nhà, nhưng nếu anh muốn, chúng tôi sẽ đặt phòng khách sạn cho anh.”
Tôi nói nhanh: “Không, không, tôi thích ở với gia đình anh chị.” Tôi ngạc nhiên về quyết định của mình, vì thường tôi thích một căn phòng khách sạn hơn. Nhưng, bây giờ khác rồi: tôi muốn ở chung với những người yêu mến Mễ Du giống tôi vậy.
Tôi nói với Terri về cú điện thoại và tôi đã nhận lời mời đến đó diễn thuyết. Trong tất cả các thành phố ở Bắc Mỹ, New Orleans là nơi quan tâm đến Mễ Du nhất. Tôi không có lời giải thích nào về việc này, nhưng tôi chắc chắn có được rất nhiều lời xác nhận. Cho đến nay, đó là nơi chúng tôi gửi đến những bài xã luận với số lượng nhiều nhất. Và tất cả là do công truyền bá của Terry Colafrancesco và Peter Crary.
Terri trả lời bằng một giọng khó có thể cho là hăng hái: “Trời ơi, đi hoài à! Bây giờ anh lại còn nói tới chuyện đi diễn thuyết ở bang khác!” Nàng lại càng không vui khi biết ngày giờ chuyến đi. Nàng cằn nhằn: “Đó là ngày em phải đi Texas dự đám cưới Doris đấy - em đã nói với anh rồi!”
Khi nàng nói ra, tôi liền nhớ lại. Nhưng tôi vẫn lạc quan đáp: “Coi nè, tại sao em không đi Texas, rồi khi đám cưới em gái em vừa xong, thì lấy máy bay đi New Orleans? Anh hết sức mong em đến với anh.”
Nàng suy nghĩ một lát rồi lắc đầu: “Em không muốn bỏ mặc con cái lâu ngày như vậy.”
Tôi vẫn giữ lập trường: “Chúng ta có thể nhờ người trông coi chúng. Thôi mà, đi đi, em sẽ thích New Orleans ngay.” Nàng nghe theo. Terri biết chuyện gì sắp xảy ra. Từ ngày tôi xuất hiện trên đài truyền hình trong chương trình của Sally Jessy Raphael hồi tháng hai, những lời mời đi diễn thuyết đến từ khắp nơi trong nước. Con số những bài báo gửi đi cũng tăng lên theo.
Chương trình truyền hình đặc thù này được một hãng thông tấn quốc tế mua bản quyền, và là một dịp tốt để giới thiệu những cuộc hiện ra ở Mễ Du với ngành truyền thông trên cấp độ quốc gia. Không ngờ là hai ký giả khác có mặt với tôi trong chương trình tivi ấy đều là người New Orleans - Jim Bailey và Mary Lou Mc Call, là ê kíp chủ chốt chương trình tin tức thời sự của đài truyền hình địa phương. Sau khi nghe nói về sự kiện hiện ra tại Mễ Du, họ đã thuyết phục được viên giám đốc của đài rằng: một chuyến đi đến cái làng nhỏ bé, làm một loạt phóng sự tường tận sẽ làm tăng một cách đáng kể số khán giả của đài. Hằng ngàn cư dân địa phương gốc Công giáo trong và quanh miền New Orleans đã kéo nhau đi hành hương Mễ Du, hoặc đã nghe nói về Mễ Du. Người ta khao khát được biết thêm tin tức về hiện tượng đó.
Trước khi đi, quan tâm chủ yếu của mấy ký giả này chỉ có tính cách nghề nghiệp; cũng như tôi, họ chỉ biết săn tin giật gân - và có lẽ cũng có một giải thưởng quốc gia kèm theo. “Chúng tôi tìm cách để có thể tố giác toàn bộ câu chuyện là trò lừa bịp, và biết đâu nhờ đó mà ẵm một giải Emmy của ngành truyền hình!” Đó là lời thú nhận của Mary Lou, giờ đây đã cảm thấy xấu hổ. Người phụ nữ chuyên nghiệp hiện đại này, hấp dẫn và thông minh, là một người Công giáo, nhưng trước khi đến Mễ Du, chị đã bỏ lễ hơn hai năm. Còn Jim Bailey, người tự nhận theo thuyết “bất khả tri” (không thể biết các điều gì siêu phàm), có gia đình thuộc giáo phái Báptít trên danh nghĩa. Lần cuối cùng anh đi nhà thờ chỉ vì là lễ hôn phối của chính anh.
Họ trở về từ Mễ Du với một loạt phim tài liệu xuất sắc, đầy tính khách quan nghề nghiệp về những cuộc hiện ra, và quả thật, bộ phim đã làm tăng số khán giả của đài trên cả mức dự kiến của mọi người liên quan. Họ cùng trở về nhà với một lòng xác tín không lay chuyển là Đức Trinh Nữ Maria thực sự đang hiện ra cho các thị nhân. Từ đó, cuộc sống của họ thay đổi hẳn - y như trường hợp tôi. Sau này, họ còn đi khắp nơi xa gần để truyền bá sứ điệp cho mọi người, thuộc mọi tín ngưỡng.
Chương trình truyền hình đó - lần đầu tiên phát sóng trên toàn quốc câu chuyện về Mễ Du - như thế cũng đã đề cập cả đến ơn gọi của ba ký giả trước kia là những người vô tín đa nghi, và nay có cuộc đời thay đổi toàn diện. Chương trình này được phát sóng vào tháng 2 năm 1987, và đã mau chóng trở thành một trong những mảng được ưa chuộng nhất trong lịch sử các chương trình truyền hình. Hàng ngàn lá thư và cú điện thoại tuôn tới phim trường của họ tại St. Louis, yêu cầu cung cấp thêm thông tin về các lần hiện ra. Trong sáu tuần kế tiếp, nó được phát lại trong hơn 83 tỉnh thành, kể cả phần lớn các tỉnh nước Canada và Anh quốc. Chỉ trong vòng 30 phút thôi, mà chương trình truyền hình này đã truyền bá tích cực cho công chúng về sự hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria tại Mễ Du, hơn tất cả mọi nỗ lực trước đó của ngành truyền thông gộp lại. Và bây giờ, tôi đang lên đường đi New Orleans...
Đón tôi tại sân bay vào một sáng thứ bảy đầu tháng ba là anh chị Lettie và David với bốn đứa con của họ. Căn cứ theo sự im lặng của David trong suốt đoạn đường về nhà, tôi đoán là anh không hoàn toàn hăng hái như vợ anh về chuyến đi diễn thuyết này của tôi. Người đàn ông cao lớn, ít nói ấy đã nghe tôi nói chuyện ở Mễ Du, và bây giờ anh đang mỉm cười, nhưng tôi nghĩ David Bindewald là một người không muốn dính dáng đến bất cứ điều gì một cách bốc đồng. Qua thái độ, cử chỉ, anh như muốn nói: Được rồi, nếu anh không lừa bịp, hãy chứng minh cho tôi thấy.
Họ đã lên chương trình cho ngày hôm đó là có hai buổi nói chuyện - một vào buổi chiều, và một vào buổi tối. Terri đã đi Austin ngày thứ năm, và phải đến New Orleans vào khoảng sáu giờ chiều, đúng vào lúc chúng tôi di chuyển đến địa điểm dành cho cuộc nói chuyện buổi tối. Lettie bảo đảm với tôi sẽ có một người bạn đến đón và đưa Terri đến dự buổi nói chuyện.
Trên máy bay sáng hôm ấy, tôi cố gắng không nghĩ gì về chuyến đi này - nhưng cuối cùng cũng nghĩ ngợi linh tinh. Tất nhiên, tôi đã cầu xin Thiên Chúa, nhờ Thánh Linh của Người ban cho tôi lời để nói và cách để diễn đạt. Tôi biết là tôi không nên lo sợ, vì như thế có nghĩa là tôi không tin vào quyền phép của Chúa - tuy nhiên, tôi vẫn không thể cưỡng lại được.
Bây giờ, tôi đang ở đây, và sửa soạn cho buổi diễn thuyết thứ nhất trong một nhà thờ Công giáo rất lớn, có một bãi đậu xe mênh mông - hầu như đã đặc kín khi chúng tôi đến nơi. Nhưng còn 45 phút nữa mới bắt đầu!
Khi chúng tôi bước ra khỏi xe và đi lên cửa trước, dân chúng túa đến, tay cầm bản sao những bài xã luận của tôi mà vẫy, và nói: “Ông Wayne, xin vui lòng ký tên vào đây cho tôi!” … “Cho tôi chụp tấm hình ông với chồng tôi được không?”… “Tôi có thấy ông trên tivi...” Và nhiều người khác cám ơn tôi chỉ vì đã viết mấy bài báo.
Không mấy chốc, tôi bị bao vây. Tôi không biết làm thế nào, đành ký tên lia lịa, không phải vì tôi muốn, nhưng nét mặt của họ khiến tôi nghĩ thà cứ ký tên vào, còn hơn là nói không với họ. Tôi liếc mắt nhìn David Bindewald và tưởng tượng điều anh đang nghĩ: “Bây giờ mình mới vỡ lẽ: tất cả những chuyện ấy chỉ để cho cha này bước lên đài vinh quang thôi!”
Tôi liền cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cất điều đó khỏi con. Khi con bắt đầu nói thì xin cho họ thấy Chúa, chứ đừng thấy con.” Và tôi cảm thấy sự bình an của Người bao phủ trên tôi.
Khi chúng tôi đi ở lối giữa để vào nhà thờ, tôi không thể không nhận thấy nhà thờ đã chật như nêm. Đến khi nghe Cha Xứ nói nhỏ với Lettie là họ ước đoán số người tham dự vào khoảng 1.200 người, mắt tôi mở to, và tôi bắt đầu khiếp vía.
Rồi bỗng nhiên họ vỗ tay. Tôi hoảng hồn - nhưng đồng thời đầy lòng tri ân. Tôi biết họ đang thực sự tán tụng kỳ công của Thiên Chúa tại Mễ Du, còn tôi chỉ là sứ giả của Người. Và tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc. Người đang tỏ ý hài lòng, vì tôi đang hoàn thành sứ mệnh loan truyền sứ điệp Người đã mang đến từ Con của Người. Tôi mỉm cười, vẫy tay chào họ, và nôn nóng bắt đầu.
Ngay lúc tôi mở miệng nói, tôi nhận ra Thiên Chúa đang đáp lời tôi xin và ban cho tôi lời lẽ để nói. Tôi không biết tôi sẽ nói tiếp lời gì, nhưng nó cứ tuôn ra từ miệng tôi, luôn luôn chính xác từng lời.
Sau mục tường thuật, chúng tôi có thêm ít phút trao đổi dưới dạng hỏi đáp, và phần này nữa, tôi cũng phản ứng nhạy như điện trong các câu trả lời. Hình như mỗi câu hỏi là một vấn đề có lẽ đã đè nặng trong tâm tư nhiều người. Và với ơn Chúa, Người dường như đang ban cho tôi những câu đáp làm sáng tỏ vấn đề và mang lại ích lợi.
Cuối cùng, Cha Xứ giơ tay lên nói: “Đây sẽ là câu hỏi cuối cùng. Tối nay, anh Wayne còn phải nói chuyện ở một nhà thờ khác, chúng ta không muốn anh ấy bị kiệt sức hoặc đến trễ giờ!” Tôi nhìn ông ngạc nhiên, ngỡ rằng mình mới nói được nửa giờ, ngờ đâu đã kéo dài hơn một tiếng rưỡi.
Khi tôi bước xuống bục giảng sau bài thánh ca tạ ơn, những hàng ghế bắt đầu trống, vì người ta vội vàng tuôn đến quanh tôi, tất cả đều hỏi cùng một lúc và xin tôi cầu nguyện cho họ. Tôi ngơ ngác. Chưa bao giờ tôi trải qua những chuyện như thế này! Tôi cảm thấy vừa bối rối lại vừa hạnh phúc - và phần nào tách rời không dính líu, như thể tôi đang đứng xa xa mà nhìn những gì đang xảy ra...
Tôi cố gắng tập trung chú ý vào từng người một. Một phụ nữ, mắt đẫm lệ, bắt đầu nói bà hết sức thích thú nghe tôi nói chuyện, rồi lập tức trút ra hết với tôi những vấn đề phức tạp của gia đình bà.
Có rất nhiều trao đổi với từng người một như vậy, hết người này đến người khác. Sau khoảng 30 phút, Lettie nhẹ nhàng nhưng kiên quyết nhắc tôi đã trễ giờ, phải đi ngay. Và thế là chúng tôi phải chật vật lách qua đám đông thoát ra ngoài.
Nhà thờ kế tiếp, cũng Công giáo, nhỏ hơn, nhưng người ta ngồi chen chúc hơn ở nhà thờ trước.
Khi gần đến cổng, chúng tôi được báo cho biết có khoảng 900 người đang đợi. Thật là vui, vì Terri đã đến ngay phía sau chúng tôi. Gặp nàng tôi mừng quá! Nhưng khi thấy dân chúng đứng chật tận cuối nhà thờ và dọc theo lối đi, nàng phát hoảng, miệng thều thào: “Trời đất, em không ngờ lại như vầy!”
Sau đó, khi chúng tôi rẽ đám đông dân chúng để tiến lên phía trước, Terri níu chặt cánh tay tôi, thầm thì giọng trêu chọc: “Anh sẽ nói cái gì với cả đám người này?”
Tôi đáp khẽ lại: “Terri, đừng nói như thế!” Rồi tôi bắt đầu nghĩ: tôi có sẽ nói cũng những điều mà tôi đã nói trong phiên buổi chiều không?
Cũng vẫn với cảm giác nôn nóng và sự hiện diện mạnh mẽ ấy của Thiên Chúa như lần trước, tôi bắt đầu nói. Nhưng chưa được bao lâu thì vị linh mục tiến lên thông báo: “Tôi rất tiếc phải làm gián đoạn buổi nói chuyện, nhưng chúng ta đang có vấn đề: có 12 chiếc xe ngoài kia đậu không đúng chỗ. Trước đây, cảnh sát đã cảnh cáo rồi. Bây giờ chúng tôi không muốn họ đến kéo xe đi, vậy ta cần phải dời xe đi gấp. Đây là những xe có bảng số như sau...”
Đến lúc ông gọi xong bảng số xe thứ 12 và người chủ xe lách ra khỏi ghế ra ngoài, thì dòng điện trong người tôi tắt ngúm. Tôi cố gắng nối lại chỗ đã bị bỏ lửng, nhưng cảm thấy hụt hẫng, như thể tôi đang cố đẩy một khối đá lớn lên một cái đồi dốc đứng. Chỉ khi gần kết thúc, thì cái cảm xúc đặc biệt của Mễ Du mới trở lại, tôi mới thấy lòng mình rộn ràng, sôi nổi như trước. Một lần nữa, lời lẽ nơi miệng tôi cứ tự nhiên tuôn ra, và những giọt lệ cũng cứ tự nhiên trào lên nơi khoé mắt của nhiều người.
Khi tôi kết thúc, một việc tương tự cũng xảy ra như lần trước: đám đông xô đẩy về phía trước để chào tôi, để bắt tay, để gởi gấm tâm sự và xin cầu nguyện. Lần này, tôi đã có thể ở lại với họ lâu hơn một chút.
Trên đường về, Terri nhỏ nhẹ nói với tôi: “Đó là bài hay nhất mà em từng được nghe anh nói.”
Tôi giật mình, vì nàng không dễ khen ai; tôi đáp lại: “Sau lúc bị gián đoạn để họ đọc số xe, anh cảm thấy nói khó quá. Lúc đầu nói thật là dễ dàng, nhưng khi bị gián đoạn rồi thì không có hứng nữa, cứ thế mãi cho đến khi gần kết thúc.”
Nàng ngạc nhiên nói: “Đối với anh có thể như thế thật, nhưng không phải như vậy nơi những người em thấy chung quanh em. Bài nói chuyện của anh rất hay, rất thích hợp.” Rồi nàng vội nói thêm với một nụ cười tinh nghịch: “Nhưng anh đừng tưởng bở sẽ luôn luôn được như vậy!”
Ngày hôm sau, Chúa nhật, tôi nói chuyện cả sáng lẫn chiều. Ở phiên buổi chiều, thật không tin được, Cha Xứ lại phải chen vào la rầy con chiên về chuyện đậu xe; rồi lại một đám đông tràn ra khỏi nhà thờ. Rồi, như một màn chiêu đãi đặc biệt để kết thúc, Lettie đã thu xếp để tôi nói chuyện tối hôm ấy tại một nhà thờ Tin Lành Lutêrô gần nhà họ. Lettie nói: “Chúng tôi làm việc này là cho anh. Đó là một nhà thờ mới toanh, nhưng nhỏ thôi, cho nên ta không mong số người đến nghe vượt quá 40 hay 50.”
Tôi mỉm cười đáp: “Tốt. Chúa muốn cho ai đến, người ấy sẽ đến.”
Bữa ăn tối vừa xong, Lettie nói: “Có một chuyện tôi quên nói với anh: mỗi lần nói chuyện, anh đều đề cập đến tràng hạt Mân Côi và cho biết nó có ý nghĩa lớn lao chừng nào đối với anh. Nhưng tối nay, vì người tham dự toàn là Tin Lành Lutêrô... vậy thì anh nên thận trọng, đừng đề cập đến chuỗi Mân Côi..”
Tôi ngạc nhiên hỏi Lettie: “Tại sao? Tôi vẫn luôn nhấn mạnh chuỗi Mân Côi là lời cầu nguyện với Chúa Giêsu, và...”
Chị vội vàng nói: “Vâng, tôi biết, nhưng đây là một thông điệp tế nhị. Người Công giáo hiểu ngay, nhưng có thể người Tin Lành không hiểu.”
Terri quay sang tôi: “Anh à, chị ấy nói có lý đó.”
Tôi mỉm cười: “Thôi được, tôi sẽ tùy cơ ứng biến.”
Khi chúng tôi đến nhà thờ, tôi cảm thấy biết ơn vì là buổi nói chuyện cuối cùng. Chưa bao giờ làm chuyện này trước đây, tôi không nhận ra là vài ngày diễn thuyết liên tiếp như vậy cực nhọc đến thế nào. Kể cả buổi phỏng vấn của đài phát thanh, đây là bài diễn thuyết thứ sáu của tôi trong vòng hai ngày, và tôi thật tình không hiểu mình còn chịu nổi nữa hay không. Tuy nhiên, đây lại là một nhà thờ Tin Lành Lutêrô... Và đàng khác, tôi cũng tự nhắc cho mình nhớ: đây sẽ không phải là chính tôi hành động...
Nhà thờ này cách nhà chị Lettie khoảng một cây số, chúng tôi không mất nhiều thời gian đi đến đó. Lại một lần nữa, nhiều xe đậu trên đường dẫn tới nhà thờ, đến nỗi đi bộ tới nhà thờ sau khi xuống xe mất nhiều thời gian hơn là lái xe từ nhà chị Lettie đến đó. Vị mục sư rất phấn khởi khi đón chúng tôi: “Chúng ta có hơn 400 người ở trong đó!”
Khi chúng tôi đi vào nhà thờ, Terri ghé tai tôi nói nhỏ: “Anh nhớ nhé, đừng nhắc đến chuỗi Mân Côi đấy!”
Nàng nói chưa dứt, thì có một phụ nữ trẻ Công giáo tên Eugenie, mà tôi đã gặp tại Mễ Du, tiến đến gần tôi, nhìn quanh rồi nói nhỏ: “Anh Wayne, nếu anh muốn nói với họ về chuỗi Mân Côi, thì tôi có sẵn 100 cỗ đây nè!” rồi chị vỗ vỗ vào túi xách to tướng của chị. Tôi không nhìn Terri.
Khi đã ở trước mặt thính giả, tôi không thấy có micro; họ không thể ngờ người ta sẽ đến đông như thế. Không thành vấn đề, tôi tin chắc Chúa Thánh Linh sẽ phóng lớn âm thanh, nếu cần. Khi bài thánh ca khai mạc xướng lên, tôi nhận ra tôi sung sướng biết bao vì được chia sẻ những điều này với các anh em Tin Lành Lutêrô của tôi.
Tối hôm ấy, tôi cảm thấy bổn phận phải làm sống lại Giáo hội Lutêrô đè nặng trên tôi đến nỗi tôi đã đi vào đề mạnh bạo hơn bình thường. Tôi nhấn mạnh tới sự cần thiết phải quan tâm nhiều hơn đến đời sống thiêng liêng, cũng như phải mở lòng ra với Chúa Thánh Linh. Đến khi đang thao thao nói về sự kiện Mễ Du được nửa chừng, đột nhiên tôi khựng lại. Trong tôi bỗng nổi lên một thôi thúc mãnh liệt phải nói với họ về chuỗi Mân Côi.
Rút từ trong túi ra tràng hạt của mình, tôi giơ cao lên và nói: “Tôi sẽ nói với các bạn chuyện này: tôi lần tràng hạt này mỗi ngày. Nhiều người trong các bạn thậm chí không hiểu chuỗi Mân Côi là gì, và nhiều người khác sẽ nhìn xâu chuỗi này mà nói: Cái đó là của Công giáo...” Tôi ngưng một lát và tiếp: “Được rồi, để tôi nói cho các bạn nghe, tôi không xem cái này là của Công giáo. Đối với tôi, đó là lời cầu nguyện với Chúa Giêsu Christ. Và đó là cách tôi đọc kinh này, như là lời kinh dâng lên Chúa Giêsu. Khi các bạn đi từ đầu đến cuối tràng hạt Mân Côi, các bạn đang đi xuyên suốt cuộc đời của Chúa Giêsu từ lúc giáng sinh, đến cái chết thập giá, rồi đến Phục sinh. Và nếu các bạn cầu nguyện thật lòng, không do thói quen, nhưng suy niệm Đức Giêsu là ai và Ngài đã làm gì, thì tràng hạt Mân Côi không làm gì khác hơn ngoài việc lôi kéo các bạn đến gần Chúa Giêsu. Có thể các bạn sẽ không cảm thấy gần gũi gì mấy với Ngài khi các bạn bắt đầu, nhưng khi kết thúc thì các bạn đã ở đó rồi, sát bên Ngài...”
Liếc nhìn về phía Terri, tôi thấy nàng đang tròn xoe đôi mắt nhìn lên trời. Tôi kết luận: “Trong tất cả các việc đạo đức có liên quan đến kinh nguyện tôi học được từ Mễ Du, đây là kinh nguyện tôi trìu mến hơn cả.” Tôi kết thúc bằng cách báo cho họ biết: một phụ nữ trẻ tuổi ở cuối nhà thờ đang có 100 cỗ tràng hạt sẵn sàng biếu cho những ai muốn có.
Tôi vừa dứt lời, một tràng pháo tay nổ ra như sấm. Và khi người ta báo có giải lao với cà phê và bánh ngọt trong phòng họp, thì ở cuối nhà thờ diễn ra một cảnh lộn xộn. Người ta đang sấn tới Eugenie để dành được tràng hạt. Về sau, chị ấy cho biết chỉ trong hai phút, số tràng hạt đã hết sạch.
Thay vì đi giải lao, tôi rút êm ra bên ngoài. Đây có lẽ là lần thứ nhất trong suốt ba ngày tròn tôi được ở một mình. Tâm hồn tôi tràn đầy hạnh phúc, mặc dù thân xác tôi mệt lừ. Rồi ngay lúc ấy, tôi cảm thấy một niềm vui tột độ dâng lên trong lòng. Tôi có cảm giác Đức Maria đang ở ngay bên cạnh. Theo trực giác, tôi biết là Người đang có mặt ở đó với tôi, vì tôi đã nói về tràng hạt Mân Côi, và điều đó làm Người vui lòng. Tôi quyết định sẽ không bao giờ tránh né nói về tràng hạt Mân Côi, nếu đó là những gì Thánh Linh hướng dẫn cho tôi nói.
Chuyến đi New Orleans lần ấy dường như đã mở ra một đập xả nước lũ những lời mời đi diễn thuyết, và tôi bắt đầu đi khắp nơi: Indianapolis, Pittsburgh, Philadelphia... Tôi hết sức thích thú những chuyến đi ấy, không cần biết những nhọc nhằn do đó mà ra. Vì thật là hào hứng được thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động giữa dân Người.
Hiện nay, mặc dù tôi phải vắng nhà thường xuyên, Terri vẫn tán thành. Có lần tôi than phiền không biết làm sao đeo đuổi công việc ấy được, nàng nói: “Tại sao anh không tổ chức đi cách một tuần một chuyến - rồi thử xem sao?”
Tôi biết là nàng khổ sở lắm khi nói ra điều ấy. Không phải chỉ là sự vắng mặt của người chồng và người cha trong gia đình, nhưng còn vì nàng phải điều hành công ty in ấn hầu như một mình. Nàng phải đương đầu với mọi vấn đề nhức óc... Tôi chỉ biết nhìn nàng lắc đầu.
Vào khoảng lễ Phục sinh năm 1987, con số một triệu bản sao được phát hành mà tôi mơ tưởng đã bị vượt qua bởi một triệu bản nữa. Số lượng đơn đặt mua báo ngày càng tăng. Bây giờ chúng tôi cần thêm ba xưởng in mới đáp ứng đủ nhu cầu, và một hôm, Terri trầm ngâm nói: “Anh biết không, có lẽ mấy bài xã luận đó chính là quyển sách mà anh vẫn mong viết. Em nhớ là có nói với anh trước đây rồi, nhưng...”
Tôi lắc đầu lia lịa: “Không đâu, Terri, anh phải viết cuốn sách đó! Bây giờ có lẽ chưa đến lúc, nhưng trước sau gì anh cũng phải viết.”
Trong lúc ấy, việc đi đây đó để diễn thuyết thì quan trọng hơn. Đã đến lúc đưa sứ điệp lên đường.
---o0o---
-
“Mẹ thúc giục các con dâng mọi hi sinh cho Chúa với lòng yêu mến. Mẹ mong muốn các con - vốn là những người trơ vơ không tự lo liệu được - hãy bắt đầu trông cậy...”
Chương 25
MARY MARGARET
Có hai chuyến đi khác vào mùa xuân năm 1987 cũng đáng chú ý. Chuyến thứ nhất đến Nashville, bang Tennessee, nơi tôi đã được các nữ tu Dòng Đaminh trường Trung học Aquinas mời. Khi đến diễn thuyết ở New Orleans, tôi đã nói rõ tôi không đòi hỏi một khoản thù lao nào, ngoài vé máy bay và một chỗ trọ. Đó sẽ là tiêu chuẩn cho tôi khi đến nói chuyện về Mễ Du ở các nơi.
Tôi giật mình khi biết giá vé máy bay đi Nashville là hơn 500 đô, và người liên lạc của tôi ở Aquinas là sơ Mary Louis cũng hoảng hốt không kém, vì thông báo về buổi nói chuyện đã được gởi đi khắp nơi, còn hội trường đã đặt thuê rồi.
Chị than thở với tôi: “Chúng tôi chỉ có 250 đô thôi, nhưng vì chúng tôi mong ông đến quá... Tôi không biết phải làm sao.”
Tôi trả lời: “Sơ đừng lo, tôi sẽ trả phần tiền còn lại.” Chị đón tôi tại sân bay, tôi nhận ra đó là một nữ tu tuyệt vời và khiêm tốn. Tối hôm ấy, tôi được đặc ân nói trước một cử tọa gồm toàn nữ tu Đaminh. Khi bắt đầu, tôi đã nghĩ một người tín đồ Tin Lành như tôi thì có thể nói cái gì, để tạo cảm hứng cho một nhóm phụ nữ đã hiến trọn đời mình phụng sự Chúa? Dầu vậy, tôi đã có thể vượt qua được sự ngập ngừng ban đầu, và đã kể cho họ về câu chuyện và vẻ đẹp của sứ điệp Mễ Du. Một lần nữa, Chúa Thánh Linh đã có mặt và tác động mạnh mẽ, và thời gian trải qua với các ái nữ đặc biệt của Chúa khiến cả hai bên đều hài lòng. Về sau, tôi nhận ra là họ cũng giống như bất cứ nhóm nào khác, họ cũng có nhu cầu, có nỗi sợ hãi, nghi nan và có một ước muốn được biết về những phép lạ chứng tỏ tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.
Xế chiều hôm sau, tôi nói chuyện tại trường Trung học nói trên và dự kiến còn phải diễn thuyết một lần nữa vào tối hôm ấy. Hầu như đã trở thành tiêu chuẩn thông lệ, hội trường đông nghẹt thính giả, chỉ có điều gây ngạc nhiên vì đó là một buổi nói chuyện vào lúc xế chiều. Khi tôi kết thúc, có một phụ nữ chen lấn trong đám đông đang vây quanh để đến được gần tôi, níu tay tôi nói: “Ông Wayne, ông không biết tôi, nhưng tôi vừa đi Mễ Du về với một số người dân ở đây...”
- “Tuyệt quá! Tôi rất mừng vì chị đi được tới đó - và được thấy...”
Chị vội ngắt lời tôi: “Xin lỗi ông, nhưng vội quá, tôi đang đậu xe trái phép ngoài kia. Có nhiều người trong nhóm nhờ tôi đến nói với ông: chúng tôi mời ông dùng bữa tối nay, và chúng tôi không muốn ông từ chối chút nào. Tôi sẽ đón ông ở đây lúc 5 giờ chiều. Tôi hứa sẽ đưa ông về lại đây đúng giờ cho buổi nói chuyện tối. Như thế có được không sơ?” chị quay sang hỏi sơ Mary Louis đang đứng gần và cũng đang ngẩn ngơ như tôi.
Người nữ tu nhún vai với một nụ cười: “À, cái đó tùy ông Weible!”
- “Chắc cũng được thôi!” tôi nói một cách yếu ớt, vì lúc ấy tôi cảm thấy được thúc giục từ bên trong phải nhận lời mời bất thường ấy, mặc dù tôi không muốn rời khỏi khu vực này chút nào. Việc được người ta “quá mong chờ”, thật không hợp với tính tôi, vì tôi thường chỉ muốn quay về phòng, và tận hưởng vài giờ yên tĩnh.
Chị ấy la lên: “Hoan hô Wayne! Tôi sẽ đến đón ông ngay phía ngoài hội trường vào đúng 5 giờ chiều.”
Đúng như đã hứa, Mollie Gavigan, như người phụ nữ tự giới thiệu, đã có mặt lúc 5 giờ đúng. Trong khi lái xe về nhà, chị kể tóm tắt cuộc hành hương của 70 người dân Nashville đến Mễ Du và mới trở về. Chị bắt đầu câu chuyện: “Phần lớn chúng tôi đi Mễ Du là vì một cặp vợ chồng ở đây. Họ tên là Gino và Jeannie Marchetti, có một đứa con gái 2 tuổi là Mary Margaret bị xơ nang. Jeannie đem con đi Mễ Du, hi vọng được vào phòng “hiện ra” để con gái được chữa lành.”
Chị còn nói đã có một phóng viên và một người quay phim của một đài truyền hình địa phương đi theo nhóm, để làm một phóng sự đặc biệt, tập trung vào gia đình Marchetti và ước nguyện con gái họ được phép lạ chữa lành.
Nhóm 70 người này đã thấy thời tiết ở đấy vào đầu tháng ba lạnh và gió khủng khiếp - nhưng họ vẫn cảm thấy ấm áp cũng như nhiều người đã đến trước đó, vì sự hiếu khách đặc biệt của dân làng. Người bạn thân của tôi, cha Svetozar, lại một lần nữa nắm bắt được sự việc. Họ đã gặp cha lúc ngài đang đi đường, liền nhận ra ngài và xin ngài đặt tay cầu nguyện chữa lành cho Margaret. Cha Svet, theo cách đơn sơ và khiêm tốn của ngài, đã bảo Jeannie là tốt hơn nên cầu nguyện cho Margaret, con gái của họ, được hạnh phúc hơn là được khỏi bệnh.
Mollie nói thêm: “Jeannie thực sự thất vọng. Đã từng đọc sách và nghe nói rất nhiều về cha Svetozar, cô ấy chỉ biết có một điều là cha có thể làm phép lạ.”
Vào ngày trước khi nhóm hành hương phải ra về, gia đình Marchetti đã được phép vào trong căn phòng nhỏ của Nhà Xứ, để được có mặt lúc Đức Maria hiện ra. Sau lần ấy, Gino và Jeannie nhìn nhận rằng phép lạ đích thực là việc chính họ được chữa lành: bây giờ, họ có thể chấp nhận tình trạng của con gái họ. Mặc dù Mary Margaret trở về nhà vẫn đau đớn vì bệnh xơ nang, nhưng gia đình Marchetti đã biết vui lòng đón nhận Thánh Ý Chúa, bất luận việc gì sẽ xảy ra.
- “Chuyện hay quá, Mollie.” tôi thì thầm, xúc động, vì một lần nữa, phép lạ Mễ Du đặt trọng tâm vào việc chúng ta biết chấp nhận cuộc sống, dù nó ra sao. Tôi mong sao mọi người đều biết được điều này, và tập trung vào phương diện này của các cuộc hiện ra ở Mễ Du, chứ không nhắm vào các hiện tượng hoặc phép lạ, chẳng hạn như tràng hạt đổi thành màu vàng kim loại, hoặc mặt trời nhảy múa trên không trung, hoặc cây Thập giá biến mất khỏi đỉnh núi Krizevac. Mễ Du đơn thuần là một món quà của tình yêu vô biên Thiên Chúa tặng cho mỗi người chúng ta.
Nhưng, khi đến nhà Mollie và sau ít phút hỏi han Jeannie, lúc ấy đang bế Mary Margaret trên tay, tôi nhận thấy cô đang cố kềm chế những cảm xúc của mình. Cuối cùng, không chịu được nữa, cô òa lên khóc nức nở: “Tôi có thể nói chuyện với anh một mình, ở chỗ khác, được không?”
Chúng tôi đi ngay vào một phòng ở phía sau. Mary Margaret thì khác hẳn với thái độ bồn chồn, đau khổ của mẹ: em ngồi trên đầu gối mẹ, tươi vui và bình thản.
- “Anh nghe này, tôi biết Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi ơn biết chấp nhận bệnh trạng của con mình, và tôi đã chấp nhận. Nhưng tôi có sai không, nếu cứ tiếp tục nài nỉ xin cho con tôi được khỏi bệnh?”
Lúc ấy, Jeannie âu yếm đưa mắt nhìn xuống đứa con, và bình tĩnh nói thêm: “Có lẽ tôi đã không biết ơn Chúa cho đủ vì những gì Chúa đã ban cho chúng tôi trong chuyến đi ấy.”
Tôi biết phải nói gì hoặc làm gì cho người phụ nữ này bây giờ? Ai có thể hiểu được nỗi khổ của một người mẹ đối với đứa con, ngoài một người mẹ khác? Tôi bỗng nghe chính tôi nói: “Jeannie, cô mong muốn cho Mary Margaret được khỏi bệnh thì đâu có gì sai trái; tuy nhiên, điều cô phải làm là hoàn toàn đón nhận Thánh Ý Thiên Chúa, là yêu thương cháu bé và tạ ơn Chúa cho cháu, bất luận tình trạng của cháu như thế nào...”
Tôi ngừng lại, ngạc nhiên vì những lời lẽ tôi vừa nói đã đến một cách dễ dàng như thế. Đối với tôi, hoặc với bất cứ ai chưa hề trải qua thử thách như vậy, thì nói những lời ấy chẳng khó khăn gì. Nhưng mọi sự đã rõ: hãy hoàn toàn phó thác và chấp nhận mọi sự xảy đến cho đời ta.
Tuy nhiên, tôi vẫn linh cảm mạnh mẽ cháu bé sẽ được chữa lành, và tôi lại nghe thấy mình tự dưng nói với mẹ cháu: “Mary Margaret sắp được chữa lành.”
Tôi cho tay vào túi áo khoác, rút chuỗi Mân Côi của mình ra. Tôi quý xâu chuỗi này như là một phần của chính tôi. Một phụ nữ tuyệt vời sống gần Myrtle Beach đã tự tay kết tràng hạt này bằng những hạt gọi là “nước mắt ông Gióp”, rất hợp để làm thành xâu chuỗi. Và người ấy đã tặng cho tôi như một món quà đặc biệt. Tôi đưa xâu chuỗi cho Jeannie: “Đây, tôi mong cô giữ lấy và lần tràng hạt này để cầu nguyện cho Mary Margaret.”
- “Ồ, tôi không dám...”
- “Không, cô phải cầm lấy!” Tôi nói thêm: “Cô nghe này, tôi sẽ đặt tay trên Mary Margaret và cầu nguyện cho cháu - ngay bây giờ.”
Tôi không tin nổi mình đang làm chuyện này! Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ đặt tay trên ai mà cầu nguyện cả, nhưng giờ đây, một điều gì đó đang thúc giục tôi. Trong lòng tôi như thể đang diễn ra một cuộc chiến, vì một tiếng nói khác dường như đang bảo tôi: “Mày điên hả? Mày tưởng mày là ai mà dám làm cho người phụ nữ này hi vọng con gái mình sẽ thực sự được chữa lành?” Khi cầu nguyện xong, tôi lặp lại với Jeannie là Mary Margaret sẽ được an lành.
Chúng tôi bước ra khỏi phòng, vừa sung sướng, vừa sửng sốt - và riêng tôi, khá sợ hãi. Nếu Mary Margaret không hết bệnh thì sao? Điều gì sẽ xảy ra cho người mẹ bất hạnh mà tôi đã gieo niềm hi vọng là con cô sẽ lành bệnh, nếu sau đó lại chỉ thấy là...? Tuy vậy, trong thâm tâm, tôi biết mọi sự đã diễn ra như vậy thì đúng như đã được định phải diễn ra.
Chúng tôi đã có một bữa tối ngon tuyệt, và đám đông tụ họp để nghe nói chuyện tại nhà trường tối ấy cũng lại đông hơn mọi lần. Tôi từ giã Nashville ngày hôm sau, mệt nhoài nhưng hạnh phúc.
Một chuyện tức cười đã xảy ra trên đường về. Số vé của chuyến bay từ Charlotte đến Myrtle Beach đã được bán nhiều hơn số ghế, nên hãng hàng không cần những người tình nguyện nhường vé lại, chờ đi chuyến sau. Vì hôm đó là thứ sáu, tôi không có gì phải vội, nên đã tình nguyện nhường chỗ - và tôi được thưởng một vé khứ hồi đến bất cứ nơi nào trên đất Mỹ. Bay được khoảng nửa đường, tôi mới ngạc nhiên khám phá ra rằng cái vé miễn phí này có trị giá cao hơn món tiền tôi đã bù vào chiếc vé khứ hồi đến Nashville. Một lần nữa, Thiên Chúa đã đáp lại gấp bội những gì Người nhận được.
Ba tuần lễ sau, khi sắp sửa rời văn phòng đến phi trường để bay đi Indianapolis, thì chuông điện thoại reo. Đó là Jeannie Marchetti.
- “Alô, Jeannie”, tôi nói, “Tôi nuốn nói chuyện lắm, nhưng nếu không chạy ra phi trường ngay bây giờ, tôi sẽ lỡ chuyến bay. Jeannie, tôi sẽ gọi cô từ Indianapolis, và...”
- “Anh Wayne! Mary Margaret khoẻ hẳn rồi!” Jeannie khóc, giọng cô run lên vì xúc động: “Cháu lành bệnh rồi...!”
Đầu óc, ruột gan tôi rung chuyển khi nghe chính mình nói một cách phấn khích với cô ấy: “Tất nhiên rồi! Tôi đã nói với cô là cháu bé sẽ khoẻ mà!”
- “Sao anh biết được?” Jeannie vừa cười vừa khóc vì quá vui sướng, “Tức là, sau khi cha Svet đặt tay trên cháu mà cầu nguyện, rồi sau đó được vào trong phòng hiện ra, và bây giờ thì...”
- “Jeannie, sự khỏi bệnh đã khởi sự từ Mễ Du. Lúc đó, cô không hiểu ý cha Svet, nhưng khi ngài bảo hãy cầu nguyện để cháu bé hạnh phúc, tức là ngài bảo cô hãy chấp nhận Ý Thiên Chúa, bất luận mọi kết quả. Tôi không hiểu làm sao mà tôi biết được, nhưng Thánh Linh của Chúa hành động theo những cách mà không một ai hiểu được. Tôi chỉ biết một điều là tôi cảm thấy tôi cần đặt tay cầu nguyện trên cháu bé, và tôi biết cháu sẽ khoẻ. Tôi sẽ gọi lại cho cô nhé, bây giờ tôi phải đi.”
Tôi tiếc phải ngừng ngang câu chuyện với Jeannie, nhưng máy bay không chịu chờ tôi - mặc dù trong lòng sung sướng cực độ, đến nỗi tôi cảm thấy như mình vẫn có thể đến được Indianapolis mà không cần có chiếc máy bay ấy. Được làm dụng cụ để Thiên Chúa thể hiện ơn chữa lành thật tuyệt diệu biết bao - và cũng đáng sợ biết bao!
Người đón tôi tại phi trường là cô Mary Ann Barothy, một chuyên gia về giao tế công cộng và là người đã sắp đặt chuyến đi Indianapolis này. Cô cho tôi biết chúng tôi sẽ lái xe tới Terre Haute, để thăm và nói chuyện ngắn tại tu viện St. Mary, thuộc Trường Woods College. Một lần nữa, tôi lại được nói chuyện với một nhóm nữ tu.
Khi chấm dứt buổi nói chuyện, tôi nhớ đến tràng hạt mà tôi đã tặng cho Jeannie Marchetti. Lòng vẫn còn tràn ngập sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ về tình trạng đã cải thiện của cháu Mary Margaret, tôi kể cho họ nghe câu chuyện đó và việc tôi được thúc đẩy đặt tay cầu nguyện cho cháu bé như thế nào. Rồi tôi kết luận: “Các chị thấy đấy, Thiên Chúa đã lấy đi một món quà nhỏ như cỗ tràng hạt, vốn rất quý giá đối với tôi, và để đổi lại, Người cho cháu bé này cùng với cha mẹ cháu ơn được hạnh phúc. Mary Margaret đang lành mạnh.”
Khi chúng tôi từ giã Mẹ Bề Trên và một số nữ tu ở phía ngoài căn phòng tôi vừa nói chuyện, một nữ tu cao tuổi bước về phía tôi, hai tay bà chìa ra, trong đó là một cỗ tràng hạt bằng hồng ngọc tuyệt đẹp. Bà nói: “Anh hãy cầm lấy cái này!” đôi mắt bà long lanh giọt lệ, “Tôi giữ tràng hạt này đã hơn 25 năm, nay tôi muốn anh cầm lấy - và trao cho bất cứ ai cần được chữa lành.”
Chúng tôi ai nấy đều bàng hoàng. Hành động gần như một cái máy, tôi cho tay vào túi áo khoác và rút ra một cỗ tràng hạt nhỏ, gồm những hạt tròn bằng gỗ xâu lại với nhau bằng một sợi dây. Terri đã bỏ nó vào túi áo tôi khi tôi chuẩn bị lên đường, bảo rằng nàng đã mang tràng hạt ấy về từ chuyến đi Mễ Du - và nàng còn nói: “Có thể anh sẽ gặp ai đó cần đến tràng hạt này chăng.”
- “Thưa sơ, đây!” tôi vừa nói vừa trao tràng hạt cho bà. “Tôi xin tặng sơ cái này để đổi lấy cái kia. Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc đã chúc lành cho cỗ tràng hạt này tại phòng hiện ra ở Mễ Du.”
Thời gian như ngừng trôi, và tất cả chúng tôi được bao phủ bởi một bầu khí thánh thiện khôn tả. Tâm tình ấy đã theo tôi trong suốt chuyến đi 5 ngày tại vùng Indianapolis, và chính nó đã củng cố ơn gọi của tôi: Thiên Chúa thật sự muốn cho sứ điệp tình yêu của Người, được đổi mới qua những cuộc hiện ra tại Mễ Du, phải được lên đường truyền bá khắp nơi.
---o0o---
-
“Hãy cầu nguyện sao cho lời cầu nguyện của các con, sự tuân phục của các con đối với Thiên Chúa, có thể trở nên một dấu chỉ dẫn đường...”
Chương 26
HOÀN TOÀN ĐẦU PHỤC
Tôi cứ tủm tỉm cười đang khi chuẩn bị trở lại Mễ Du lần thứ tư trong thời gian chưa đầy một năm. Ngôi làng đó có cách hấp dẫn người ta, khi đã đến một lần, thế nào bạn cũng khao khát được trở lại lần nữa. Thế gian này không có một nơi nào mà lại an bình đến thế.
Nhưng lần này, nhu cầu trở lại của tôi không chỉ đơn thuần thiêng liêng, mà tôi còn muốn nghỉ ngơi. Sáu tháng vừa qua, miệt mài với những chuyến đi, những buổi nói chuyện và những cuộc phỏng vấn liên tiếp đã lấy đi hết sức lực. Tôi như một bình điện rỗng, nên thấy mình cần phải khẩn cấp đem đi sạc lại.
Lần này sẽ hơi khác: tôi sẽ đi với nhóm Du lịch Toàn Cầu, cơ quan đã tổ chức các chuyến đi du hành cho Trường Đại học Steubenville.Trước biến cố Mễ Du, tôi chưa bao giờ nghe nói đến một trường thuộc dòng Phan Sinh, trong cái thị trấn mỏ than mờ mịt ấy bên dòng sông Ohio. Bây giờ, tôi mới biết đó là một nhà máy điện thiêng liêng, nơi các sinh viên - hiểu theo nghĩa đen - đặt Thiên Chúa lên trên hết, và là nơi sự đổi mới liên lỉ như đang tiến triển. Những nhóm cầu nguyện sinh viên họp nhau cầu nguyện vào mọi giờ, suốt ngày đêm, và ơn gọi tu trì được coi như một sự lựa chọn nghề nghiệp có thể thành tựu được. Nhưng điều quan trọng đối với tôi là Trường Đại học đã dấn thân loan truyền sứ điệp Mễ Du, kể cả tổ chức hành hương đến ngôi làng ấy.
Người đứng đầu tổ chức Du lịch Toàn Cầu tên Dale Krieger. Tôi biết ông lần đầu tiên qua điện thoại, và sau đó, gặp đích thân ông tại New Orleans. Gầy và cao lêu khêu, Dale là một người miền Nam rất thoải mái. Tác phong và hành động của ông bình thản như thể không gì khiến ông thật sự bối rối, lo lắng, mặc dù những bất trắc của ngành kinh doanh du lịch. Khi được biết rõ về ông hơn, tôi nhận ra sự bình thản phi thường ấy bắt rễ từ một niềm tin tưởng không thể lay chuyển: dù đời có thế nào, Thiên Chúa vẫn nắm quyền kiểm soát.
Đức tin của ông đã được tôi luyện qua cái chết thảm khốc của cô con gái 18 tuổi của ông sau một tai nạn xe hơi. Khi đợi ở bệnh viện và cầu nguyện cho con, ông phải vật lộn với chính lòng tin của mình. Cho đến lúc đó, đức tin Công giáo của ông không gì khác hơn là lễ lạy, kinh sách ngoài môi miệng. Trong thời gian bình phục về tâm lý sau khủng hoảng do cái chết của con ông gây nên, ông mới khám phá lại tình yêu ông dành cho Chúa Giêsu - mà về sau, điều này đã dẫn đến hoạt động tích cực trong việc đưa người hành hương đến Mễ Du.
Từ ngày mới gặp nhau, chúng tôi đã thấy tâm đầu ý hợp, và việc tôi đi chuyến sắp tới với nhóm của ông xem ra cũng hợp lý. Chương trình của tôi là đi cùng với họ vào cuối tháng bảy, rồi ở lại đó thêm một tuần, trước khi trở về nhà với một nhóm khác cũng của ông. Tôi sẽ được ở một mình trong suốt thời gian đó - hoặc ít ra tôi tưởng như vậy.
Khi chúng tôi đến Dubrovnik, tôi lại đến mấy hãng cho mướn xe hơi - và thấy rằng trong tám tháng giá thuê đã tăng lên gấp đôi! Rõ ràng là những hãng cho mướn xe biết những người hành hương đến Mễ Du nếu thích được độc lập, sẽ không chùn bước trước giá đắt cắt cổ, nên đã thẳng tay chặt đẹp. Nhưng đó chỉ là một điềm báo cho những thay đổi sau này.
Khi chiếc xe buýt của hãng Du lịch Toàn Cầu (có tôi trên đó) đi ngang qua cầu dẫn vào Mễ Du, tôi khó mà nhận ra được nơi này. Dọc hai bên đường bây giờ là những văn phòng du lịch, quán cà phê, những sạp đồ vật̀ lưu niệm bán rong đủ thứ từ tượng Đức Bà bằng thạch cao cho đến món pizza, nhiều thứ chẳng dính dáng gì đến Mễ Du.
Sững sờ, tôi hỏi Dale tại sao lại như vậy. Dale giải thích rằng đa số người buôn bán là dân du cư bohêmiêng (gypsies), vốn không quan tâm đặc biệt gì đến Mễ Du - nhưng đến đồng tiền của người hành hương. Những người lang thang này xâm nhập từ từ vào làng, và lấn đất dựng sạp cho đến khi chỉ còn cách nhà thờ khoảng 50 mét. Các linh mục đã kịch liệt phản đối và làm hết sức để họ dời đi, nhưng cho đến nay chính quyền vẫn tảng lờ.
Khi chiếc xe buýt của chúng tôi nhích đi từng chút trong một thứ đang diễn ra ngày càng tăng là những vụ kẹt xe, tôi chợt nhìn ra cửa sổ, khi một phụ nữ bôhêmiêng bước xuống khỏi một chiếc Mercedes (!) tay ôm một búp bê và một cái chăn mà bà ta vừa rút ra từ băng sau. Khi tôi tròn mắt nhìn bà ta, vì thấy không tin nổi, bà ta cuộn con búp bê vào trong chăn để che bớt các chi tiết. Rồi nhìn quanh, bà ta lấy điệu bộ thảm thương và ngửa tay ra xin. Thoáng chốc, nó đã đầy đô la do nhóm người hành hương đầu tiên mới đi ngang qua.
Buồn nôn quá, tôi kể lại cho Dale điều tôi vừa chứng kiến. Ông nhún vai, nói rằng các linh mục đã lưu ý khách hành hương đừng cho tiền hành khất. Còn ngoài ra, các ông ấy không thể làm gì hơn. Người ta cứ tưởng như vậy là thực hành theo sứ điệp của Đức Trinh Nữ Maria, cho nên họ tiếp tục bố thí cho những người nghèo khó giả dạng ấy.
Tôi lắc đầu. Điều gì đang xảy ra cho ngôi làng mà tôi quý mến và coi như gia đình thiêng liêng của mình? Một bọn trộm cướp từ xa đến đây đang biến ngôi làng thành một nơi buôn bán hỗn loạn. Tôi phân vân không biết những người hành hương mới sẽ có thể tìm thấy sự thánh thiện - vốn đã dẫn đến việc cải hối của hằng triệu người trong sáu năm qua - nữa hay không.
Nhưng vẫn chưa hết những ngạc nhiên đáng lo ngại. Sau khi đã ổn định chỗ ở tại nhà ông Grgo Vasilj, tôi tiến về nhà thờ Thánh Giacôbê. Ngôi nhà thờ vẫn luôn là một ốc đảo yên tĩnh cho tôi, bất luận những gì có thể diễn ra bên ngoài. Như thông lệ, người ta hay tụ họp dưới mấy lùm cây trước nhà thờ. Thình lình, một người chỉ về phía tôi, và họ liền ùa đến từ tứ phía, đặt câu hỏi và chụp hình lia lịa.
Tôi kinh ngạc và bối rối. Terri đã báo động với tôi rằng với ba triệu bản sao bài báo đã phát hành, cái thời không bị ai chú ý khi ở trong đám đông có thể đã qua, nhưng tôi vẫn hoàn toàn không được chuẩn bị cho chuyện này.
Cuối cùng, tôi cũng thoát được và leo lên bậc cấp dẫn vào nhà thờ. Một số người khác bắt đầu chạy về phía tôi, nhưng tôi làm như không thấy họ, vội vàng bước vào nhà thờ lúc ấy còn vắng người, vì chưa đến giờ hành lễ kế tiếp. Đi lên hàng ghế bên phải đối diện với tượng Đức Trinh Nữ Maria, tôi quỳ xuống cúi đầu tạ ơn Chúa đã đưa tôi trở lại đây. Chưa đầy một phút, tôi cảm thấy có bàn tay vỗ lên vai tôi. Quay lại, tôi thấy một phụ nữ tuổi trung niên, vai quàng một túi xách, trên đó có tên hãng du lịch đưa bà đến đây mà tôi không hề biết. Bà ấy cúi xuống hớn hở nhìn tôi, trong khi ông chồng đứng ngay phía sau.
Bà ấy bắt chuyện: “Xin lỗi ông, ông chính là Wayne Weible, phải không? Là người Tin Lành đã viết các bài báo về Mễ Du phải không?”
Tôi gật đầu, cố gắng mỉm cười.
- “Tôi xin lỗi đã quấy rầy ông, nhưng tôi phải cám ơn ông vì đã thay đổi cuộc đời chúng tôi. Nhờ ông mà chúng tôi có mặt ở đây. Một người bạn đã tặng các bài báo của ông cho tôi. Và mọi sự lạ bắt đầu từ đó. Lần đầu tiên trong đời, lòng tin là một cái gì có ý nghĩa đối với tôi. Chúng tôi phải đến thôi.”
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh083.jpg
Pho tượng Đức Mẹ Lộ Đức
tuyệt mỹ này được đặt bên
cạnh bàn thờ chính trong
Đền thờ Thánh Giacôbê Mễ Du.
Tôi gật đầu và cám ơn bà, đoạn quay lại cầu nguyện, đôi mắt khẩn khoản nhìn lên bức tượng Đức Maria tuyệt mỹ, thầm thì bày tỏ nỗi lòng: “Lạy Đức Maria Hồng Phúc, con không muốn được người ta chú ý quá xá như thế này!” Tôi mong đến đây để nghỉ ngơi, để chạy trốn. Cảnh an bình ở đây nay đâu rồi? Tôi nhìn lên mặt bức tượng gần như muốn xin được một dấu chỉ qua một nụ cười, một cử chỉ...
Câu đáp hoàn toàn không phải điều tôi mong đợi. Đột nhiên, tôi lại cảm thấy Đức Trinh Nữ Hồng Phúc nói với tôi: “Tại sao con tìm Ta trong các dấu chỉ? Ta ở với con bất cứ nơi nào con đang có mặt. Hãy đi ra ngoài với dân chúng và hãy làm những gì con đã nói con sẽ làm...”
Tôi đứng dậy và ra khỏi nhà thờ, cảm thấy nhỏ bé như chỉ cao có năm phân thôi, vì quá xấu hổ. Tôi hiểu ra rằng: làm một sứ giả của Thiên Chúa là một ơn gọi mà một ngày phải làm việc 24 giờ và một năm làm việc 365 ngày, chứ không phải chỉ khi ở trước đám đông vỗ tay hoặc khi ở trước đèn quay phim truyền hình. Phải làm việc bất cứ khi nào và nơi nào sứ điệp cần được loan báo - đang vào mùa hay đang hết mùa, lúc thuận hay lúc nghịch. Cuộc đời nhiều người đang thay đổi, và bất cứ một sự khuyến khích nào có thể làm cho người ta, đều là chuyện cần thiết để củng cố những đổi mới đó. Một cách ngoan ngoãn, tôi thề nguyền sẽ học để biết khoan dung, rộng lượng, kiên nhẫn và biết lắng nghe, dù tôi có mệt nhọc đến đâu, hoặc các câu hỏi của người ta có ngớ ngẩn thế nào.
Bên ngoài nhà thờ, dân chúng lại bắt đầu tụ tập, và lần này tự tôi tiến đến hỏi han họ. Có những nhóm đến từ California, Alabama, Phoenix... và mỗi nhóm đều nóng lòng cho tôi biết mấy bài xã luận của tôi đã khiến họ có quyết định đi đến đây. Bây giờ thì tôi mừng quá, mừng cho họ - và cũng mừng cho ơn gọi của mình nữa.
Một người hỏi tôi: “Nếu chúng tôi sắp xếp được thời giờ với người hướng dẫn, ông có vui lòng nói chuyện cho nhóm chúng tôi không?”
- “Vâng, được, được, nhưng vì tôi vừa mới đến, nên xin quí vị liên lạc lại với tôi.”
- “Ngày, giờ nào thì tiện cho ông?”
- “Lúc nào cũng được, trừ giờ Thánh Lễ tiếng Anh buổi sáng và lễ tiếng Croát ban chiều.”
- “Ông thích nói chuyện ở đâu?”
Tôi nhớ nhóm Caritas, mà tôi có dịp nói chuyện với họ trong chuyến đi trước, đã rất thích lùm cây phía sau nhà thờ. Tôi bèn hỏi: “Các bạn có biết cái nghĩa địa nhỏ trong trảng cây bách hương, trên đường mòn dẫn lên núi Krizevac không? Chúng ta sẽ nói chuyện ở đó lúc 16 giờ nhé!”
Nghĩa trang cổ xưa với từng làn gió nhẹ thở dài qua những ngọn cây ngàn năm xanh ngắt, đã gây nơi mọi người cảm giác sâu đậm về sự bình an và hiện diện của Thiên Chúa. Chiều hôm ấy, khi nói chuyện với họ, tôi chỉ cần trút hết mọi tâm tư cho họ nghe.
Sau đó, tin đồn tôi đang có mặt tại Mễ Du lan ra nhanh như chớp. Tôi đã được yêu cầu nói thêm sáu lần nữa trong tuần đầu tiên, và cuối cùng, khi có quá nhiều yêu cầu mà tôi không thể đáp ứng hết, có người khuyên tôi đến gặp cha Philip Pavic, một linh mục người Mỹ, gốc Croát, hiện thường trú ở Mễ Du, để xin ngài cho phép thuyết trình trong nhà thờ Thánh Giacôbê.
Cha Philip, một nhà thần học cao lớn, có bộ râu xám với đôi mắt nâu ấm áp, trái ngược với vóc dáng oai phong của ngài, đã từng nghiên cứu nhiều năm tại nhà thờ Đức Bà Paris, sau 12 năm phục vụ tại Đất Thánh; chính khi đó, Đức Mẹ gọi ngài về Mễ Du. Ngài phụ trách các vấn đề liên quan đến người hành hương nói tiếng Anh. Khi tôi đã thắng được sự ngượng ngập lúng túng, và trình bày xong những khó khăn của tôi, cha sắp đặt cho tôi nói chuyện tại nhà thờ Thánh Giacôbê vào sau trưa thứ năm. Cha Svet thường từ Konjic xuống Mễ Du để giảng thuyết vào các ngày thứ năm, nhưng tuần này, ngài lại đến vào thứ sáu, cho nên mọi sự được sắp xếp êm xuôi.
Tôi vui sướng rộn ràng - nhưng không khỏi khiếp đảm. Ngay cả trong những giấc mơ điên cuồng rồ dại nhất của mình, tôi cũng không thể tưởng tượng tôi được một đặc ân như thế.
Trong khi chờ đợi, vẫn còn những buổi nói chuyện đã sắp đặt trước đó mà tôi chưa thực hiện: một buổi cho nhóm Trung Tâm Hòa Bình, cũng do sơ Margaret hướng dẫn, với Bernie và Ellen Hanley trợ tá. Tôi thích thú khám phá ra Rita Klaus và gia đình cũng đến đây như khách mời đến nói chuyện của nhóm “Trung Tâm Hòa Bình”. Chỉ mới hơn một năm sau khi được phép lạ chữa lành bệnh đa xơ cứng, Rita cuối cùng đã có thể đến được ngôi làng của những Cuộc Hiện Ra này.
Bernie đã yêu cầu hai chúng tôi nói chuyện với nhóm họ vào một bữa tiệc trưa đặc biệt. Rita nói trước và kết thúc trong nước mắt - thật ra thì cả nhóm đều khóc. Đến khi tôi bắt đầu, tôi nhận ra đây là lần nói chuyện khó khăn nhất mà tôi phải đương đầu. Đó là vì tôi bị choáng ngợp bởi cảm xúc đến từ những lời kể của Rita, cũng như bởi vai trò của Trung Tâm Hòa Bình đã giúp tôi dấn thân vào việc Mễ Du. Và rồi, ngay giữa cuộc nói chuyện, tôi gục xuống trong nước mắt. Điều này chưa bao giờ xảy ra, và tôi mắc cỡ quá - cho đến khi nhận ra mọi người khác cũng đang khóc như tôi. Đó đã là một bữa tiệc trưa thấm đẫm tình cảm - một bữa ăn ghi dấu ân tình Thiên Chúa, biểu hiện qua những giọt nước mắt hạnh phúc ấy.
Sau đó, Rita bằng lòng ngồi lại và cung cấp thêm một số tư liệu cho quyển sách của tôi. Cô xuất thân từ “một gia đình Công giáo gốc”, và cô đã nghiệm được ơn gọi của Chúa từ thời thơ ấu lúc 8 tuổi. Lên 16, cô vào một dòng tu ở Omaha, bang Nebraska, ở nhà tập 5 năm trước khi khấn hứa. Trong suốt thời gian này, cô bị một chứng bệnh ngày càng phát triển, và cuối cùng được xác định là bệnh đa xơ cứng.
- “Khổ nhất”, cô nói tiếp, “là bà Mẹ Bề Trên không tin tôi. Tôi trông khoẻ mạnh, nhưng có nhiều ngày tôi choáng váng và có khi không sao bước lên cầu thang được. Bà mẹ cứ tưởng tôi muốn được người khác quan tâm đặc biệt.”
Sau đó, Rita phải rời nhà dòng, và bị khủng hoảng nặng nề. Cô không hiểu tại sao điều này xảy đến với cô, trong khi cô hết sức mong muốn làm nữ tu để phụng sự Chúa. Các vấn đề khác bắt đầu nổi lên nữa. Cô không kiếm được việc làm, vì tình trạng sức khoẻ. Rốt cuộc, bác sĩ của cô khuyên cô đừng nói với những người có thể sẽ thuê cô làm việc rằng cô mắc bệnh đa xơ cứng. Ông ấy đoán bệnh trạng của cô sẽ còn ổn định ít nhất trong vòng năm hoặc sáu năm nữa, và tốt nhất cô nên đến sống ở miền duyên hải phía Đông hoặc phía Tây. Cô nói: “Tôi đã dạy học một thời gian ở tu viện, nên tôi quyết định đi Pennsylvania để tiếp tục học và thi lấy bằng. Tôi kiếm được một chỗ dạy học ban ngày, còn ban đêm thì tôi đi học.”
Rồi Rita gặp Ray, chồng cô, sau một thời gian dài tìm hiểu, hai người đã kết hôn. Cuộc sống xem ra phát triển êm đềm, nhưng cô cảm thấy rất đau đớn, cay đắng đối với Giáo Hội. Cô vẫn đi lễ, nhưng vì thói quen hơn là vì mộ mến. Sau này, khi cơn bệnh vượt quá mọi nỗ lực chống chọi của cô, cô đâm ra thất vọng và tự cô lập. “Tôi chạy đủ thầy đủ thuốc, trừ việc cầu nguyện. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi vẫn ổn định, và Ray, chồng tôi, thì tuyệt vời. Chúng tôi có ba đứa con, nhưng tôi vẫn cay cú khủng khiếp, vì cho rằng đời đã chơi tôi một vố quá đau.”
Tôi gật đầu đồng ý - và tự hỏi có bao nhiêu tâm hồn bị tổn thương muốn giải bày những nỗi đau như hoàn cảnh nói trên?
- “Như anh biết đấy, sự đổi đời đã đến với tôi vào năm 1981, khi một cô bạn đến mời tôi đi dự một buổi cầu nguyện chữa lành với cô ấy. Anh Ray bảo là tôi đã chạy chữa đủ cách, tại sao cách này lại không thử?” Cô lắc đầu nhận rõ mình đã cẩu thả, thờ ơ như thế nào.
- “Thế là tôi đi. Khi đã tới đó rồi, tôi lại hối hận vì đã đến. Tôi chỉ biết rằng người ta đang chằm chằm nhìn tôi, làm tôi chỉ muốn độn thổ. Đã thế, khi các linh mục tiến lên từ lối đi, một vị bỗng nắm lấy vai tôi từ phía sau và đặt tay trên tôi cầu nguyện liên tục. Tôi cảm thấy nhục nhã và cứ tự hỏi cái gì đang diễn ra ở đây. Nhưng một cảm giác bình an rất sâu đậm như bao bọc tôi - và tôi bắt đầu cầu nguyện với linh mục ấy. Đó là lần đầu tiên trong một thời gian rất lâu dài, tôi mới có cái cảm giác như vậy. Tôi nhận ra đó là sự chữa lành về mặt tâm linh. Tôi không quan tâm đến bệnh tật nữa: bất cứ điều gì Chúa muốn, tôi sẽ chấp nhận và sẽ hạnh phúc.”
Tôi ngồi đó như bị thôi miên bởi sự đầu phục hoàn toàn của Rita trước Thánh Ý Thiên Chúa. Một lần nữa, đó là điều cốt lõi của sứ điệp xuất đi từ Mễ Du. Sự tùng phục của Rita đã đi đến chỗ trở thành một chứng từ chói lọi về tình yêu luôn hiến ban của Thiên Chúa bằng chứng là ơn chữa lành phần thể xác của cô.
Nhưng điều càng hiển nhiên hơn nữa là vẻ đẹp của sự chữa lành về phần tâm linh. Cô và cả gia đình giờ đây hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.
“Như anh đã biết phần cuối của câu chuyện: vào đêm 18 tháng 6 năm 1986 đó, tôi xin Thiên Chúa chữa tôi khỏi những gì cần được chữa, và ngày hôm sau, tôi không còn là nạn nhân của bệnh đa xơ cứng nữa.”
Tôi mở to mắt ngạc nhiên nhìn cô ấy. Tôi tắt máy ghi âm, đứng dậy bước ra xa vài bước. Cô ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì vậy?” Tôi chỉ biết huơ tay, không nói nên lời. Hóa ra là cái ngày 18-6-1986 ấy! Ngày tháng ấy đã được ghi phía sau tấm ảnh!
Tôi kể lại câu chuyện tấm ảnh Chúa Giêsu mà Maureen Thompson và tôi đã nhặt được trên đỉnh núi Krizevac, nó hoàn toàn khô ráo trong khi mọi thứ khác ướt đẫm sương, và ngày 18 tháng 6 năm 1986 được ghi đơn độc ở mặt sau, còn chúng tôi thì nhặt được tấm ảnh vào ngày 7 tháng 5 năm 1986, sáu tuần lễ sớm hơn, (xem lại chuyện này ở chương 13).
Rita và tôi ngồi đó khá lâu, không nói được một lời. Cả hai chúng tôi đều không nghi ngờ chuyện đó liên quan đến ơn lành bệnh của Rita. Nhưng, tôi biết rõ, điều bí ẩn của ngày tháng ấy không quan trọng - nếu so với sự đầu phục hoàn toàn Thánh Ý Chúa của Rita. Đầu phục - đó là chìa khóa đích thực để mở cánh cửa cuộc sống mới của chúng tôi như những người truyền bá sứ điệp Mễ Du.
Bao giờ cũng vậy, thời gian ở Mễ Du đều rất hữu ích cho tôi. Trong chuyến đi với chủ ý nghỉ ngơi ấy, tôi đã giải quyết công việc bằng mười lăm buổi nói chuyện, kể cả buổi quan trọng nhất tôi sẽ̃ nói trong nhà thờ Thánh Giacôbê vào xế chiều một ngày thứ năm oi ả.
Khoảng một tiếng đồng hồ trước giờ thuyết trình, tôi ngồi trên khoảng sân bên ngoài, dựa lưng vào tường đá mát rượi của nhà thờ. Tôi không sao bình thản được, khi nhìn thấy mấy sạp hàng của người Gypsy dựng san sát nhau dọc con đường dẫn tới nhà thờ.
Đang khi tôi cố gắng tập trung và cầu nguyện, xin Chúa Thánh Linh ban cho tôi lời lẽ tôi sẽ cần đến, thì một người đàn bà hành khất tiến lại phía tôi, ba đứa trẻ rách rưới, bẩn thỉu lẽo đẽo theo sau. Bà ấy chìa tay ra, và khi thấy tôi không để ý đến bà, bà dùng một ngón tay của bàn tay kia gõ gõ vào lòng bàn tay bà đang chìa ra một cách đòi hỏi.
À, tôi biết là các linh mục không khuyến khích bố thí cho những người hành khất Gypsy, nhưng nếu đây là một thiên thần giả trang thì sao?
Tôi thò tay vào túi và lôi ra tất cả những gì có trong đó - khoảng bốn ngàn dinari (tương đương bảy đôla).
Bà ta cầm lấy rồi lắc đầu, nói: “Không, không! Đô la!” rồi bà lại ngửa tay ra.
Tôi chưng hửng vì bà còn xin thêm, trả lời: “Tôi chỉ có bấy nhiêu thôi!”
Bà ta đốp lại: “Không! Cho tôi đô la!” Tôi nhìn bà ấy, không tin vào tai mình, và bấy giờ bà trở bàn tay lại để cho tôi xem bà muốn cái gì. Trong bàn tay đó là một cuộn lớn tiền giấy đô la dày cỡ bảy phân. Chỉ tay vào đó, bà ấy xin: “Cho tôi đô la!”
Tôi chỉ biết lắc đầu xua tay cho bà ấy đi chỗ khác. Nhưng nhìn thấy cây Thánh giá nhỏ bằng vàng đeo ở cổ tôi, bà liền giơ tay ra lấy, rồi nói: “Ông cho tôi cái này!”
Bây giờ tôi đã điên tiết lên. Tôi đứng dậy xua bà ấy đi, nhưng mấy đứa trẻ níu tay tôi, xoa bụng và rên khóc. Rõ ràng chúng đã được mẹ huấn luyện cho làm như vậy, nếu quả thật bà là mẹ chúng. Tôi vội bỏ chỗ đó, vòng ra đằng sau nhà thờ để tránh bà, lúc ấy đang lộ vẻ thất vọng rất thiểu não. Bà ta có thể là một cái gì đó trá hình, nhưng chắc chắn không phải một thiên thần giả trang.
Bấy giờ, tôi bắt đầu cầu nguyện sốt sắng và từ từ lấy lại được sự bình an. Thậm chí còn tạ ơn Chúa vì sự cố bẩn thỉu này, và đặc biệt vì nó xảy ra đúng lúc. Nó đã chỉ cho tôi thấy: bất chấp mọi thứ thương mại phàm tục của thế gian chộn rộn đang xâm phạm đến Mễ Du, nhưng cốt lõi sự thánh thiêng tuyệt đẹp – tức tác động siêu phàm của Đức Giêsu – vẫn không bị chạm tới. Đó là dòng hải lưu sâu thẳm tận đáy đại dương, cái còn lại chỉ lao xao trên mặt nước.
Tôi đi vào nhà thờ bằng cửa sau, rồi sau mấy lời giới thiệu vắn tắt của cha Philip Pavic, tôi bước lên bục giảng. (Xem hình, chỗ khoanh tròn).
Tôi cảm thấy đông cứng lại vì sợ. Tôi quen làm người tham dự cùng cộng đoàn trong nhà thờ chật cứng như nêm. Thế mà giờ đây, tôi đứng từ trên nhìn ngược xuống cộng đoàn ̀ ở phía dưới, điều đó tôi đâu có quen. Nơi thánh này... tôi làm sao lại dám...
Tôi liền nhớ lại: không phải tôi, nhưng chính Thiên Chúa đã đưa tôi đến đây. Chính Người đã mở cửa và đưa người ta vào đầy nhà thờ. Bây giờ, bởi Thánh Linh của Người, Người sẽ đặt nơi miệng tôi những lời mà Người muốn họ được nghe. Tôi chỉ có việc mở miệng ra mà nói những lời ấy.
Đó là một trong những bài thuyết trình về Mễ Du trọn vẹn nhất mà tôi đã làm. Nó đã được mọi người tiếp nhận, và sau đó, cha Philip trao cho tôi một cuộn băng thu lại toàn bài để tặng cho Terri. Tôi cám ơn cha, mà không ngờ rằng về sau, cũng giống những bài xã luận, con số những bản sao của cuộn băng ấy đã dần dần tăng lên đến hàng trăm ngàn, phân phát trên khắp thế giới.
Tôi không phải là người duy nhất có cuộn đó ngày hôm ấy. Trong cử tọa có Mary O’Sullivan, người Ai-len. Cô cũng xin cha Philip một cuộn – và đem về Ai-len. Ở đó, cô đã nhân bản lên và tung ra thị trường vài ngày sau, và dùng tiền lời để đưa các linh mục đến Mễ Du. Vào lúc tôi đến Ai-len lần thứ nhất, đã có hơn 15.000 cuộn băng được bán ra.
Cho đến lúc ấy, chuyến đi này không thể gọi được là chuyến đi nghỉ ngơi. Nhưng không sao, vì đó là thời gian tôi được học hỏi về sự đầu phục hoàn toàn.
HẾT