Chào Xô huynh,Quote:
XXG đồng ý với Thứ Lang huynh, là thể thơ Tung Hoành Trục Khoán này chỉ làm cho vui thôi. Chứ nếu mình sáng tác một bài thơ THTK phải đúng theo ý (từ bố cục đến nội dung) của 2 câu "tung" & "hoành" đã được "khoán" thì không dễ. Nhất là cái kiểu mang 2 câu Hán Việt ra để làm theo 7 câu khác bằng chữ thuần Việt thì lại càng "tréo cẳng ngỗng" hơn nữa. Ngoại trừ tác giả là một người thật giỏi Hán Việt, sẽ làm 7 câu còn lại hoàn toàn bằng Hán Việt thì ta không nói làm gì. XXG đã từng mục kích qua một vài tác giả làm kiểu thơ Tung Hoành Trục Khoán này hoàn toàn bằng Hán Việt rồi và XXG thật sự khâm phục những ACE & những vị tiền bối đó. XXG có quen một ông anh (đã trên 70 tuổi) sống bên New York, ổng làm mấy chục bài thơ toàn bằng Hán Việt. Nghe nói, hồi xưa ở Sài Gòn ổng theo môn Hán Nôm gì đó trong trường học.
___ Ở đây, mình hãy thử đưa ra một thí dụ điển hình về cái khó của thơ này khi làm bằng 2 câu "tung hoành" Hán Việt, là khi ta ráp câu Tung (trục Tung [縱] theo chiều dọc) thì mỗi một chữ của câu ấy sẽ là chữ đầu của câu 1,2,3,4,5,6,7. Nếu gặp chữ Hán Việt nào dễ thì không nói, nhưng lỡ mình gặp một chữ Hán Việt nào (mà) khi đứng một mình, nó sẽ không có ý nghĩa gì cả trong Việt Ngữ, thì ngay tức thì ta phải kiếm một chữ Hán Việt khác để ráp vô với chữ Hán Việt (đã "khoán") của đầu câu đó. Vấn đề ở đây, là mình phải ráp (nó) bằng chữ Hán Việt, chứ nếu ráp bằng chữ Thuần Việt thì nó sẽ ra "quần Tiều, áo Quảng" liền. Sẽ làm mất đi ý nghĩa của chữ đó (của cả câu "Tung" hổng chừng). Và nếu câu đó lại là một trong bốn câu "thực & luận" thì lại càng gắt hơn, vì câu sau ta lại phải dùng Hán Việt để đối.
Trước đây, XXG đã từng thấy (và nhắc khéo qua) một chàng thi sĩ biết lem nhem Hán Việt vụ "ráp chữ bậy" này rồi. Vì muốn "nổ" lấy le, cua "ghẹ" nên chàng ráp chữ tứ tung xà bèng luôn. Thậm chí, rất nhiều lúc mớ chữ "ráp" [nửa Việt, nửa Hán Việt] của chàng trong câu thơ lại hoàn toàn vô nghĩa. Buồn cười hơn, là chàng còn quên (tuốt) rằng văn phạm của một câu văn Hán Việt khác với văn phạm của một câu viết bằng thuần Việt. Chàng chuyên môn quất những câu Hán Việt theo kiểu "nói chiện" bằng Tiếng Việt mới chết... Hàn Mặc Tử của tui!
Chưa kể - không như câu Hán Việt hoàn chỉnh trong 2 bài thơ THTK của Thứ Lang huynh bên kia - XXG còn thấy có nhiều ông thần hay xách một câu Hán Việt trong bài thơ chữ Hán nào đó (hoặc một câu thành ngữ Hán Việt) rồi ghép với một câu Hán Việt khác (hoàn toàn khác ý câu đầu) để làm ra 2 câu "tung hoành" mới là "râu ông này cắn cằm bà nọ."
Người không rành Hán Việt đọc vô thì có biết gì đâu để khen với chê. Hễ bài thơ "lên xuống" đúng thanh/âm luật thì họ biết vậy thôi. Còn người rành Hán Việt thì họ ngồi gải đầu hoặc là họ chạy vô quyển "ỐcKipedia" kiếm cái chữ mắc dịch đó tới cận thị luôn cũng hổng ra luôn :24:
Cám ơn Xô huynh đã ghé qua Liễu Thùy Viên và cùng “tám” cho vui mùa Covid.
Như Thứ Lang đã nhiều lần nói, làm thơ ở đây cốt ý để “vui là chính” mà thôi, chứ không phải là chốn thi các, văn đàn đúng nghĩa, vì chúng ta hoàn toàn không có cái cao vọng đó. Mà chỉ là để giải trí trong lúc “nhàn cư” (để vi bất thiện!). Sở dĩ Thứ Lang đưa cái chuyện thơ THTK vào đây là để cùng nhau làm cho trí óc “vận động” coi như cho trí óc exercise vậy thôi, bỏ lâu chữ nghĩa bị “lụt”!
Xét cho cùng thì thời đại và lứa tuổi của chúng ta, Hán Văn đã lùi vào bóng tối từ lâu rồi. Ngay cả Hán tự chúng ta còn mù tịt thì đâu dám bàn đến Hán văn. Trình độ Hán tự (vocabulary) của chúng ta còn i tờ thì sao dám lạm bàn đến câu cú (sentence) cho tròn nghĩa chuẩn xác. Ngay cả viết câu còn chưa tròn nghĩa thì viết đối lại càng không tưởng!
Cho nên thơ THTK ở đây lấy “vui là chình” có nghĩa là mình theo cái “khoán” mà giữ đúng khoán thủ, khoán vĩ (tung hoành) và khoán vận (họa vần) mà thôi, và cái nội dung muốn nói gì tùy ý.
Xô huynh nói rất đúng, vì vốn ngữ vựng chữ Nho (Hán) mình rất yếu, nên tìm một chữ để đối lại cũng đã khó rồi, nói gì đến nguyên câu mà phải gò bó vào khuôn khổ theo luật đối nữa.
Ngay cả cái chuyện dễ nhất mà làm còn chưa được là họa vần mấy bài thơ xưa của các tiền nhân văn học có xen từ ngữ Hán-Nho trong đó chúng ta còn chưa họa, đối được, nói gì đến bài thơ toàn chữ Hán-Nho.
Nói chi xa, chữ bình minh chúng ta muốn tìm chữ để đối cũng khó rồi. Mà đâu phải trong thơ văn chỉ có một vài chữ thôi đâu. Nếu chúng ta dùng chữ dịch nghĩa để đối thì không được, vì Việt-Nôm không thể đối với Hán-Nho.
Đó là chưa kể câu trục tung khi đến hai cặp tối (thực luận) thì hai chữ đi liền kề không cùng tự loại thì làm sao chỉnh đối được. Rốt cuộc, chúng ta chỉ có thể làm bài thơ “tiếng bồi” mà thôi, chủ yếu “vui là chính”. Nôm na là như chúng ta nói tiếng Tây bồi, tiếng Anh bồi vậy. Theo cai kiểu:
Tám giờ xe lửa huýt
Hai cẳng duỗi ngay đơ
Cũng như bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, chúng ta họa bằng Việt văn cũng đã là khó rồi (vì có nhiều từ ngữ Hán-Nho), vậy mà có người họa toàn bài bằng Hán-Nho văn, mới đáng nể (vì họ giỏi Hán-Nho văn). Chúng ta là hạng hậu sinh, sinh sau đẻ muộn, khi chúng ta vào mẫu giáo thì Hán-Nho văn đã cáo chung từ lâu rồi thì làm sao chúng ta thông thạo được nên không đáng trách.
Nhân đây, nghe Xô huynh nói có quen ai làm thơ Tung Hoành Trục Khoán toàn bài bằng Hán-Nho văn, xin huynh vui lòng post vào đây để chúng ta cùng nhau học hỏi và mở mang thêm kiến thức thi văn, văn học.
Sẵn, Thứ Lang cũng xin đưa bài họa vận “Thăng Long Thành Hoài Cô” bằng Hán-Nho văn vào đây để chúng ta cùng thưởng lãm:
Phù Thế Nan Trường
Phù thế nan nan đắc cửu trường
Xuân mai hạ liễu phục thu sương
Mỹ nhân đáo tuế tùng cô nguyệt
Hào kiệt chung thời dữ lạc dương
Nhất phiến bạch vân trầm thủy ảnh
Đơn thanh hoàng hạc thán tang thương
Cổ lai thiên địa vô tình ý
Tĩnh dạ tương tư cố bất trường
(Trầm Thi Hoàng Cúc)
Còn mấy bài họa nữa, cũng bằng Hán-Nho văn.

