-
Bà là ai
Xin giới thiệu đến các bạn tác phẩm BÀ LÀ AI của tác giả Wayne Wible . Nguyên văn là The Message . BÀ LÀ AI ?
CHỨNG TỪ TRUNG THỰC VÀ ĐẦY XÚC ĐỘNG
CỦA MỘT KÝ GIẢ TIN LÀNH VỀ ĐỨC MẸ
Chuyển ngữ từ cuốn “MEDJUGORJE, THE MESSAGE” của Wayne Weible
Paraclete Press, Orleans, Massachussets, 22nd Printing, 1996.
Xin chân thành cám ơn Linh mục Phêrô Hoàng Minh Tuấn, CSsR đã dịch ra tiếng Việt và cho phép chúng con được đăng lên mạng cho mọi người được hưởng ân huệ của Chúa.
-
Lời Giới Thiệu Của Linh Mục SVETOZAR KRALJEVIC (Dòng Phan Sinh)
Tôi còn nhớ như mới xảy ra hôm qua, hôm mà anh tôi từ trong nhà chạy ra nói với tôi, vẻ mặt đầy khích động: “Trong nhà ta có một người không phải là Công giáo mà là một người Tin Lành!” Nghe vậy, tôi nghĩ ngay người đó chắc phải kỳ dị lắm, và tôi vội vàng chạy vào xem ông ta. Tôi muốn xem ông ta có mắt mũi miệng tai như chúng tôi không. Vì cả đời tôi chưa bao giờ biết một người mà lại không phải là Công giáo.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy người ấy “một người Tin Lành” hoàn toàn giống như chúng tôi, cả bề ngoài lẫn cách cư xử.
Ngày nay tôi nhận ra đó là một giai đoạn đơn sơ song quan trọng trong tiến trình đưa tôi hiểu được cho đúng giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô : qua nhận thức ngây ngô của thời trẻ nhỏ hồi đó, tôi hiểu ra một trong những chân lý sâu xa nhất của Thiên Chúa, đó là: Thiên Chúa đã tạo dựng mọi người bình đẳng như nhau.
Thế rồi những năm gần đây, tình bạn và sự cộng tác giữa tôi và ông Wayne Weible (Uên Uây-bơn) đã dẫn tôi đến một giai đoạn mới trong việc nhận thức về tình bằng hữu phổ quát giữa mọi người trên địa cầu. Càng về sau tôi càng nhận rõ hơn vẻ đẹp của thực tại ấy. Qua những giờ cùng cầu nguyện, làm việc và nói chuyện với ông Wayne trong khung cảnh Mễ Du, tôi càng nhận ra rằng Thiên Chúa không đặt giữa chúng tôi một rào cản nào cả. Hình như tôi nghe vẳng lại lời Chúa Giêsu từ trên thập giá nói với Mẹ Ngài: “Hỡi Bà, đây là các con của Bà!”
Mà đó lại chính là kinh nghiệm thật của việc ăn năn trở lại ở Mễ Du. Khi Thiên Chúa ra tay dẫn dắt Dân Người, thì họ sẽ ăn năn trở lại và sống với nhau trong niềm thông cảm sâu đậm hơn. Bất cứ ai đón nghe lời Thiên Chúa với cả trái tim, sẽ đạt được một sự nhận thức đầy đủ, một sự hòa hợp giữa trời và đất. Chính khi đó những tâm tình sợ hãi hay bất an sẽ tan biến đi.
Cuốn sách các bạn sẽ đọc đây, không muốn đi trước các phán quyết tối hậu (của Hội Thánh) về các sự kiện xảy ra ở Mễ Du. Nó chỉ là một chứng từ về lòng tin và kinh nghiệm ăn năn trở lại của những người đã để cho Thần Khí hiện diện ở đó dẫn dắt họ.
Svetozar Kraljevic,
Dòng Phan Sinh.
-
LỜI NÓI ĐẦU CỦA TÁC GIẢ
Mấy câu đầu tiên của quyển sách này đã được viết dưới chân cây Thập giá trên núi Krizevac thuộc làng nhỏ Mễ Du, nước Nam Tư (cũ). Phải như thế thôi! Chính ở chỗ rất đặc biệt này mà ý nghĩa tròn đầy của việc Thiên Chúa ban Con Một mình cho chúng ta mới trở nên một thực tại có tính quyết định cho tôi.
Thập giá là một biểu tượng phổ quát của Chúa Giêsu, một dấu hữu hình nhắc lại luôn mãi cuộc Thọ nạn và cái chết của Ngài vì chúng ta, để chúng ta được bình an trong tâm hồn và sự sống đời đời. Mà đó cũng là sứ điệp căn bản phát đi từ những lần hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc tại Mễ Du. Đó là một mời gọi đón nhận cuộc hiện ra ấy bằng cách hòa giải với Chúa Giêsu. Việc này khởi đầu bằng một sự ăn năn trở lại hoàn toàn theo đường lối của Ngài: quả là một con đường thập giá.
Từ tháng 6-1981, tại làng Mễ Du nhỏ bé, Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc đã nhắc nhở lại như chưa từng thấy, lời kêu gọi ăn năn trở lại và hòa giải với Thiên Chúa. Đức Maria hiện ra ở đó hàng ngày cho 6 trẻ sống trong thung lũng dưới bóng cây thập giá núi Krizevac. Theo lời các trẻ đã được tuyển chọn cho sứ vụ canh tân thế giới ấy, thì Mẹ Chúa Giêsu khẩn thiết van nài – nhân danh Chúa Giêsu Con Mẹ – toàn thể nhân loại hãy từ bỏ một thế giới đang hấp hối trong tội lỗi, để quay về làm hòa với Ngài.
Toàn cảnh : Núi Krizevac, với cây thập giá khổng lồ bằng xi măng, cao 12 mét, và phía xa dưới đồng bằng là Giáo xứ Mễ Du, nằm giữa thung lũng với các đồi núi bao quanh.
Cả thế giới đã đáp lại lời kêu mời ấy. Hàng chục triệu người đã thay đổi đời sống để theo đường lối của Thiên Chúa. Hàng chục triệu người đã và đang tiếp tục đến linh địa ấy. Giữa lòng thế giới hiện đại với lối sống khoa học kỹ thuật tân tiến đang cứ dần dần lôi cuốn người ta xa ơn sủng Thiên Chúa, biểu tượng thập giá quả là đang được phục hồi cách kỳ diệu.
Cây thập giá dựng trên núi Krizevac là một công trình đúc bê tông, cao 11 mét, nặng 15 tấn, đứng sừng sững oai nghi trên đỉnh cao nhất trong các đồi núi bao quanh làng Mễ Du. Từ xa hàng chục cây số, người ta đã thấy nó. Nó trở thành cột mốc chỉ chỗ cho linh địa này. Điều này cũng phải như thế thôi!
Năm 1933, người dân làng đã phải khó nhọc leo lên leo xuống sườn núi dốc dác này, lởm chởm đá sắc nhọn và đầy những bụi gai rậm rạp, trên vai vác những sô nước và xi măng. Họ quyết tâm dựng một tượng đài để tưởng niệm1900 năm ơn Cứu Chuộc do cây Thập giá của đồi Can-vê. Dự án ấy đối với họ mang nhiều ý nghĩa đến nỗi họ đổi tên ngọn núi ấy từ Sipovac thành”Krizevac”, nghĩa là “Núi Thập giá”. Cử chỉ đức tin sâu đậm đã thi hành từ mấy chục năm trước ấy, chiếu dọi ý nghĩa của nó trên ơn huệ đặc biệt của chốn này bây giờ : tức là nó được Đức Maria chọn làm nơi cho Người hiện ra đem ơn cứu độ của Thập giá đến cho nhân loại.
Hình dáng cây thập giá ấy chẳng có vẻ gì đẹp. Với năm tháng trôi qua, khí hậu khắc nghiệt làm nó long lở nhiều mảng xi măng và thêm đen sạm, càng xấu xí. Nhưng vẻ đẹp của nó không ở bề ngoài. Krizevac đã trở thành hình ảnh khắc sâu vào tâm khảm hàng chục triệu khách hành hương đến Mễ Du. Nó trở thành một nhắc nhở thường xuyên về kinh nghiệm mà tâm hồn họ đã nếm trải, một kinh nghiệm đã đem lại cho tâm hồn họ vẻ đẹp mà thế giới không có gì sánh được.
Hầu hết các người hành hương đến Mễ Du đều đi chặng đàng Thánh giá rất cực nhọc trên con đường lởm chởm đá, dẫn đến chặng cuối cùng là chân thập giá xi măng ấy. Đó là một cuộc leo núi rất khó nhọc, dài khoảng một cây số rưỡi, leo đến đỉnh núi thì hết hơi. Thế mà người ta cứ leo từng đoàn từng lũ, trẻ có già có, kẻ khỏe cũng như người ốm đau. Đôi khi có những người vì tuổi tác hay sức khỏe không tốt, bình thường thể xác không có sức kham nổi một việc gì nặng nhọc, thế mà vẫn tìm được không biết do đâu, ý chí và sức lực để leo lên tận đỉnh.
Tất cả họ đến để cầu xin cho được lành bệnh thể xác hay linh hồn. Người ta kể chuyện một người cụt cả hai chân, lê bằng hai tay và bằng thân mình lên tới đỉnh, tới nơi anh hoàn toàn kiệt sức, máu chảy dầm dề, song đắc thắng! Một người khác nhỏ thấp, cũng thường hay đến núi ấy, trên lưng cõng người vợ liệt bại và leo lên tới chân cây thập giá. Cho những ai đến đấy từ bốn phương thiên hạ, những truyện ấy trở thành dầu thắp sáng ngọn lửa ăn năn trở lại và hòa giải khởi phát từ hiện tượng Mễ Du siêu nhiên này.
Đối với những tâm hồn khao khát sự thiêng liêng, cây Thập giá Krizevac nhắc họ đến núi Can-vê và Chúa Giêsu trong giờ Tử nạn bi thảm, nhưng cũng là giờ vinh thắng của Ngài. Đó là nơi hoàn thành Giao Ước mới của Thiên Chúa với nhân loại, và hứa ban sự sống đời đời nhờ cái chết hiến tế của Con của Người.
Hàng chục triệu người vẫn đang tiếp tục đến ngôi làng nhỏ bé Mễ Du để nghe lời Giao Ước ấy lặp lại qua sứ điệp của Đức Maria từ Con của Người gửi đến. Tôi là một trong số đó. Tôi viết sách này như chứng từ cá nhân của một tâm hồn đói khát nguồn sống siêu nhiên, sau khi đã tìm thấy sự bình an và tình yêu trong sứ điệp ấy nhờ con đường thánh giá trên núi Krizevac.
- Wayne Weible -
-
Chương 1
SỨ GIẢ ĐEM HY VỌNG
LỜI DẪN CỦA NGƯỜI DỊCH :
Chương 1 này của tác giả, có thể coi là chương cuối song ông đem đặt lên đầu ở đây. Đó là vì sau khi ông được ơn biết và tin vào sự kiện Đức Maria hiện ra ở Medjugorje (Mễ Du), đã đến tận linh địa để tận mắt chứng kiến, và đã viết nhiều về sự kiện này, ông được nhiều nơi mời ông đến thuyết trình cho họ. Trên đường của một trong những chuyến đi ấy, ông được nghe kể về cảnh tượng xâu xé đáng buồn mà ông thuật lại trong chương 1 đây... Nó đã gợi ông nhớ đến tâm trạng cũng đáng buồn của ông trước khi được Đức Mẹ kêu gọi ông phục vụ cho Người và phổ biến sự kiện hiện ra vô tiền khoáng hậu này của Người.
Một buổi xế chiều rất đẹp của tháng năm, toàn cả quang cảnh xứ Ai Len chúng tôi thấy trước mắt, hiện ra đẹp như trong một bức tranh quảng cáo. Trên xe hơi, chúng tôi đã hạ kính cửa xuống để hưởng không khí trong lành. Con đường khá hẹp, hai bên đường thường có tường xây, phân ranh giới giữa các cánh đồng một mầu xanh ngắt. Lâu lâu chúng tôi lại thoáng thấy một mái nhà tranh, có lẽ đã có mặt đó từ ba bốn trăm năm. Có cảm tưởng là ở hạt Donegal đây, thời gian đã ngưng trôi từ mấy thế kỷ.
Vừa tới một đỉnh đồi, xe chúng tôi phải thắng gấp vì một bầy chiên do một cô gái chăn đang được dẫn đi ngang qua giữa lộ. May mà tôi không là người cầm lái.
Tài xế của chúng tôi, cô Vera McFadden, vẫn tỏ ra bình tĩnh. Cô với hai cô bạn khác ngồi ở băng sau, đã đến LetterKenny trên chiếc xe hơi Ăng-lê nhỏ này để đón tôi đến nhà thờ ở Derry, nơi tôi sắp nói chuyện chiều nay. Tôi ngồi ở băng trước, ghế bên trái, nơi bình thường có tay lái.(*)(1) Một chút ngỡ ngàng thôi. Nhưng không sao, tôi vẫn thoải mái thưởng thức cảnh đẹp của một hạt cực bắc của xứ Ai Len.
Tôi nói: “Không thể tưởng tượng ở đây cỏ lại xanh ngắt đến như thế!”
Vera đáp: “À! Nếu anh biết được ở đây đã mưa nhiều như thế nào! Hôm nay là một ngày đẹp trời hiếm có đấy, lại có mặt trời nữa!” Tôi mỉm cười gật đầu, dù giọng nói tiếng Anh của cô có hơi khó hiểu đối với tôi. Kể từ năm ngoái, đây là lần thứ hai tôi đến nói chuyện ở xứ Ai Len, cho nên tôi hiểu cái không khí lạnh và ướt mưa đặc biệt của xứ này.
Đến khúc quặt sau, chúng tôi bỗng im bặt tiếng cười nói, trước mặt chúng tôi một cây sào lớn sơn khoang trắng khoang đỏ ngăn lối – dấu hiệu một trạm kiểm soát của lính Anh trước ngõ vào Bắc Ai Len. Trước mặt, hai binh sĩ người Anh mặc quân phục và súng cầm tay. Tôi vừa sửng sốt vừa bực mình và sợ hãi. Bên kia cổng gác, chừng một tá binh sĩ đang ngả mình trên thảm cỏ bên vệ đường, vừa hút thuốc vừa tán gẫu, vũ khí đặt cạnh mình.
Cô Vera ngừng xe, và một binh sĩ tiến lại gần. Cô đưa xem các giấy tờ, anh lính xem qua không nói gì, anh ra hiệu cho một bạn khác nâng rào chắn. Không ai nói tiếng nào. Chúng tôi tiếp tục lái xe đi qua trạm gác vào xứ Ai Len. Tôi cảm thấy vẻ đẹp ngày hôm ấy không còn nữa.
Mới đi chừng một cây số, Vera lái xe tránh về bên mé đường, nhường cho một xe bọc sắt vượt lên. Chính lúc ấy tôi thấy một binh sĩ chĩa súng về phía chúng tôi qua chiếc cửa sổ nhỏ hé mở phía sau xe bọc sắt. Chưa bao giờ tôi bị mũi súng chĩa về phía tôi như thế. Chiếc xe nhấn ga lao vút đi và biến mất ở góc đường. Tôi giận lắm.
- “Chuyện gì thế?”, tôi hỏi.
Thay vì trả lời, Vera lại lái xe né vào mé đường và một xe bọc sắt thứ hai vượt lên trước. Cũng lại cảnh lần trước tái diễn. Cửa sổ phía sau hé mở, một binh sĩ chĩa súng về phia chúng tôi, rồi xe lại biến dạng…
Một thoáng cảm giác là tình hình ở đây bất ổn làm tôi kêu lên: “Cái gì xảy ra ở đây thế?”
Vera đáp: “Họ luôn đi hai xe với nhau để tránh bị phục kích.”
- “Nhưng chúng ta là dân sự mà! Họ phải coi chúng ta như là đồng minh mới phải! Tôi thật không thể hiểu nổi!”
Vera nhún vai: “Chúng tôi lại là người Công giáo”, vừa nói cô vừa chỉ lên cỗ tràng hạt treo trên kính chiếu hậu, “và lại có anh ngồi với chúng tôi, vậy họ nghĩ anh cũng là người Công giáo nốt.” Rồi cô thở dài: “Không thể trách họ, bạn bè của họ thường bị đánh bom chết hay bị đạn giết.”
Lập tức tôi thấy được tấn thảm kịch hiện tại của miền Bắc Ai Len. Những tay khủng bố người Công giáo bắn giết binh lính Anh và người Thệ Phản vô tội; ngược lại, những tay khủng bố Thệ phản giết những người Công giáo vô tội. Mỗi hành vi tàn ác lại châm thêm dầu vào lửa hận thù. Câu chuyện như thế đã tiếp diễn từ bao thế hệ rồi, và chưa thấy có dấu hiệu gì thay đổi cục diện. Chỉ luôn thấy âm ỉ một hận thù truyền kiếp. Các trẻ em của hai bên lớn lên trong căm thù, như cha mẹ chúng trước chúng.
Tôi hỏi: “Làm sao các người có thể cứ sống như thế được?”
- “Chúng tôi phải tiếp tục sống như thế, biết làm sao?”, cô Vera trả lời với nụ cười héo hắt. “Đành rằng không phải tất cả mọi người đều như vậy. Tôi có những bạn hàng xóm người Tin Lành, và chúng tôi sống với nhau rất êm thấm. Chúng tôi có những nhóm cầu nguyện gồm cả Công giáo lẫn Tin Lành. Thật ra chỉ những phần tử cực đoan của hai phía gây ra hỗn loạn. Anh biết không, đôi khi anh chỉ còn biết phì cười thôi.
“Đây, một hôm tôi đang đi vào ngân hàng, có một người trùm đầu bằng vải đen, cầm súng dí vào đầu tôi. Bên cạnh hắn là một người khác cũng trùm đầu bằng vải đen. Tôi nghĩ thầm chúng đang muốn ăn cướp ngân hàng bằng cách bắt tôi làm con tin.”
- “Chúng là ai vậy?”
- “Chắc chắn là nhóm khủng bố IRA (Tổ chức quân đội Cộng Hoà Ai Len) hay một phe nào đó, không cần biết. Họ thường xuyên bắn giết lẫn nhau. Chỉ có điều là ngoài hai tên đó, có một tên thứ ba đến nhập bọn, nhưng hắn trùm đầu không bằng vải đen mà vải nâu. Bất ngờ tôi bật cười và nói với hắn ta: “Anh không mang đúng đồng phục!” Tôi chẳng biết tại sao tôi bật cười và nói như thế, vì lúc đó tôi quá sợ hãi.”
Cô bắt đầu cười khi kể lại cho tôi chuyện đó, và hai cô bạn ngồi băng sau cũng cười. Rõ ràng các cô này biết câu truyện ấy.
Vera nói tiếp: “Thế là không biết chúng bị khích động sao đó vì câu nói của tôi, mà chúng quay lưng rồi bỏ đi thật nhanh. Tôi nghĩ ngân hàng đáng lý phải thưởng cho tôi mới phải!” Thế là cả ba cô cùng cười như nắc nẻ. Phần tôi rất ngạc nhiên làm sao các cô có thể cười được trong một tấn bi kịch như thế, nhưng tôi nhận ra rằng họ giữ được thái độ vui vẻ lạc quan như thế quả là điều cần cho họ.
Sau khi đã bình tĩnh trở lại, Vera nhẹ nhàng nói với tôi, mắt không rời khỏi đường: “Tôi không thấy có nơi nào trên thế giới lại lâm vào tình cảnh bi thảm như sáu hạt của miền Bắc Ai Len này. Chắc có lẽ vì tôi quen biết một số những người vợ trẻ mới mất chồng, và những gia đình tang tóc với những đứa trẻ lớn lên mất cha.”
Rồi cô lắc đầu nói tiếp: “Với bao nhiêu người Kitô hữu ở cả hai phe, đáng lẽ sự tình phải thay đổi chứ. Thế mà chúng tôi cầu nguyện và cầu nguyện mãi, và xem ra chẳng có gì thay đổi cả. Đôi khi tôi tự hỏi không biết Thiên Chúa có nghe tiếng chúng tôi không?” Cô quay đầu về phía tôi: “May ra sứ điệp mà anh mang đến chiều nay có sẽ đem đến một sự thay đổi nào đó, nếu đẹp ý Chúa.”
Chúng tôi tất cả chìm vào im lặng. Tôi nhìn cảnh bên ngoài đang lướt nhanh ngoài xe, vẻ đẹp của nó đang che giấu nỗi tuyệt vọng của dân tộc họ. “Sứ điệp” mà tôi mang đến cho họ (chiều nay) xuất từ Đức Trinh Nữ Maria Hồng Phúc, Mẹ Chúa Giêsu Kitô, khi Người hiện ra với một nhóm sáu bạn trẻ người Croát, ở một làng nhỏ miền núi Mễ Du, nước Nam Tư (cũ). Sứ điệp trung tâm của Người về bình an và yêu thương đã từ từ song vững chắc lan rộng ra khắp bốn phương trời, đã làm cho hàng triệu triệu người trở lại với Thiên Chúa.
Chiều nay tôi, một người Thệ phản thuộc Giáo hội Lutêrô, sẽ nói với họ về một hiện tượng tôn giáo, chính ra được coi như thuộc về Công giáo, trong một xứ sở bị xâu xé bởi một cuộc chiến tranh giữa hai tôn giáo. Liệu sứ điệp của Mễ Du có thể gây ra một thay đổi nào trong cuộc chiến đã khởi sự từ tám trăm năm? Hay chỉ là một giọt dầu bình an nhỏ vào sóng nước hỗn loạn ghê sợ ấy? Tôi không hề ngờ vực chút nào và tôi tự trả lời: Có! Thiên Chúa chăm nom săn sóc chúng ta, Thiên Chúa nghe chúng ta ! Tối nay, tôi sẽ chia sẻ bằng chứng cho họ xem và chia sẻ niềm hi vọng…
Chợt tôi nghĩ lại, thật mỉa mai: cách đây chưa lâu, chính tôi cũng là người không có hi vọng ! Thế mà nay, tôi sẽ đem đến một sứ điệp hi vọng phi thường cho một xứ sở đã đánh mất hi vọng !
Tôi nhẩm lại trong trí chuỗi dài vô tận những biến cố đã dẫn tôi đến ngày hôm nay: …
* * *
… Bắt đầu là vào một buổi chiều tháng mười, ba năm trước đây, đang khi tôi ngồi tại phòng khách nhà tôi ở Myrtle Beach, miền Nam Carolina ….
Trái tim xé nát và nhỏ máu của miền Bắc Ai Len không xa với tâm tình của tôi lắm đâu ….
-
Chú thích của HH
1. Ai len : Ire Land
2. Hạt Donegal : County Donegal ( có thể dịch là quận hạt Donegal )
3. Mễ Du : một ngôi làng nhỏ Medjugorje ở nước Nam Tư cũ .
4. Lutero : Giáo phái Lutheranism .
-
“Mẹ đến để nói cho các con biết là Thiên Chúa hiện hữu, và Người yêu thương các con.”
Chương 2
LÚC KHỞI ĐẦU
Tôi đăm đăm nhìn xuống cái băng vidéo để trên đầu gối tôi mà phát sốt cả ruột, vì phải chờ Terri, vợ tôi, lo cho con cái ngủ xong, rồi cả hai cùng xem chung một lượt. Tôi đã đọc xong một quyển sách người ta tặng cho tôi cùng lúc với băng cassette, nên cũng biết được đại khái câu chuyện: tại một ngôi làng nhỏ bé miền núi nước Nam Tư, người ta kể lại có Đức Nữ Trinh Maria, Thân Mẫu Chúa Giêsu Kitô, đã hiện ra cho một nhóm thiếu niên từ tháng 6 năm 1981, và vẫn còn tiếp tục hiện ra mỗi chiều tối từ đó đến nay.
Mỗi chiều tối ư?... Nếu thật như vậy thì sao? Nếu đó không phải là trò lường gạt, là ảo giác tập thể, hoặc một chuyện mơ mộng kỳ quặc của một dân tộc đầy ảo tưởng và mê tín thì sao? Và nếu thật sự có một hiện tượng thuần túy tôn giáo đang xảy ra trong ngôi làng nhỏ bé có cái tên (Medjugorje)(2) khó đọc này thì sao? Thôi thì ít ra, việc này có thể sẽ cung cấp một câu chuyện thú vị cho một mục của tờ báo hằng tuần của tôi. Đó là điều tôi quan tâm hơn cả.
- “Terri, em xong chưa?” Tuy hỏi như vậy, nhưng tôi biết chắc là nàng chưa xong việc đâu. Tôi nghe tiếng Kennedy, đứa con trai năm tuổi của chúng tôi đang vòi mẹ nó một ly nước uống theo thường lệ mỗi tối. Còn Rebecca, em gái nó, thì đã ngon giấc.
Terri đáp: “Em lỡ hứa kể chuyện cho con nghe, đợi em vài phút nữa, em sẽ ra!” Chắc là phải hơn 20 phút cơ đấy! Tôi thầm nghĩ như vậy mà buồn cười. Terri là một người mẹ yêu thương, chăm sóc con cái. Tôi tự hỏi Kennedy có biết được là nó may mắn lắm không! Dĩ nhiên, cả tôi nữa, tôi cũng may phúc lắm chứ! Nàng là điều tốt đẹp nhất đã xảy đến cho đời tôi. Trải qua cảnh gia đình tan vỡ, đau đớn ê chề sau 14 năm chung sống với vợ trước, sinh được bốn đứa con, tôi hết hi vọng thoát khỏi cái hầm tăm tối đang bao quanh đời sống tình cảm tôi - thì chính lúc đó, Terri đến với tôi.
Terri cũng muốn biết cái gì đang xảy ra tại ngôi làng bé nhỏ đó, tuy vì những lý do khác. Nếu cái gì đó có thật, và nó tạo ra những đổi mới trên thế giới, thì ắt sẽ có ảnh hưởng trên con cái chúng tôi.
Chúng tôi có nghe nói về hiện tượng đó lần đầu tiên trong một lớp học Kinh Thánh ngày Chúa nhật, tại nhà thờ Luterô của chúng tôi. Tôi là một giảng viên của một trong hai lớp học dành cho người lớn. Thỉnh thoảng, tôi cho học viên tự chọn một đề tài để học. Chương trình học hoạch định sẵn ở trường thường khô khan và khó giảng giải, và đa số học viên trong lớp là những cặp vợ chồng trẻ và người độc thân, họ thích thay đổi đề tài. Riêng lớp học cuối tháng 10 năm 1985, tôi ra cho họ một bài làm hơi khác thường: họ hãy sưu tầm những câu chuyện, hoặc tin tức, hoặc những tư liệu khác có liên can đến phép lạ trong thời hiện đại.
Khá nhiều học viên đã làm bài ở nhà, nên việc thảo luận hôm ấy rất sôi nổi. Lúc sắp tan lớp, Becky Ginley, một cô bạn của Terri, phát biểu: “Này các bạn, có chuyện này hay lắm, các bạn có nghe nói gì về việc đang xảy ra tại Nam Tư không? Ở đấy có một ngôi làng bé tí mà người ta đồn rằng Đức Trinh Nữ Maria đang hiện ra với sáu đứa trẻ, đến nay đã hơn bốn năm rồi.”
Tất cả lớp học nhìn chòng chọc vào cô. Becky cười hớn hở, vì thấy mình vừa gây được ngạc nhiên nơi chúng tôi. Đối với tôi, nói “ngạc nhiên” ở đây là quá nhẹ, để tả những gì tôi đang cảm nhận. Là một nhà báo viết mục xã luận, tôi thật khó mà tìm được cho mỗi tuần một vấn đề mới mẻ và thú vị. Tôi linh cảm chuyện này sẽ rất giật gân. Vả lễ Giáng Sinh lại đang đến gần: quả là lúc thuận lợi, vì là thời điểm duy nhất mà dân chúng chợt nghĩ đến Đức Nữ Trinh; vào dịp lễ Giáng Sinh, khi làm hoặc đến bên máng cỏ, người ta thấy có Người quỳ bên Chúa Hài Nhi Giêsu. Riêng tôi, chưa bao giờ tôi quan tâm đến Người.
Tôi hỏi Becky: “Cô nghe chuyện đó ở đâu vậy?”
- “Do một người bạn Công giáo.”
- “Công giáo mắc mớ gì với chuyện này?”
- “À, anh biết chứ, loại chuyện này thường xảy ra trong Giáo Hội Công giáo.”
- “Thế sao?”
Cô nhìn thẳng vào tôi: “Anh chưa bao giờ nghe nói đến Fatima hoặc Lộ Đức à?”
- “Không, tôi...”
Đúng lúc ấy, chuông hiệu tan lớp vang lên, mọi người đổ xô ra cửa. Tôi lớn tiếng vói theo khi họ đang ra về: “Này các bạn, chúng ta sẽ trở lại vấn đề này tuần sau nhé!” Tôi vội vàng hỏi Terri xem Becky có thêm tin tức nào nữa về vấn đề này không. Vì cô ấy vội đi đón hai đứa con cô gởi ở vườn trẻ, chúng tôi chạy dọc hành lang đuổi theo sau cô ấy.
- “Becky, đợi một phút đi!” Terri gọi cô ấy, “Chúng tôi lấy thêm tin tức ở đâu?”
Becky nhìn đồng hồ, cắn môi như để nhớ lại: “Chị có biết Mary Jeffcoat không?”
- “Có.” Mary là một nữ ủy viên Hội Đồng thành phố, trước kia phụ trách giao tế công cộng của một trong những bệnh viện tại địa phương, và chúng tôi quen biết cô qua công việc báo chí.
- “Được rồi.” Becky vừa nói vừa lùi xe. “Mary là người đã nói với tôi về chuyện đó, tôi nghĩ cô ấy có nhiều thông tin hơn.”
- “Thông tin nào?”
- “Chẳng hạn vidéo hay vài quyển sách. Thôi, tôi vội phải đi đây. Gọi điện cho tôi.” Nói xong, cô vội vã chạy đến nhà trẻ.
Suốt trên đường về nhà và cả lúc nọ lúc kia trong ngày, Terri và tôi trao đổi với nhau về cuộc hiện ra vừa mới nghe được. Tôi thấy đây là một câu chuyện thật thú vị. Tôi đã phác họa trong đầu một đầu mối... Một phép lạ thời hiện đại có thể đang xảy ra tại một làng quê ở Nam Tư, đúng vào lúc chúng tôi chuẩn bị mừng phép lạ Chúa Giáng Sinh. Chỉ có điều một đề tài tôn giáo vớ vẩn như thế có thể gây hại đến uy tín nhà báo của tôi.
Chiều hôm đó, Terri gọi điện cho Mary Jeffcoat. “Ngày mai, sau giờ làm việc, cô ấy sẽ mang băng vidéo đến đây cho chúng ta mượn, kèm theo luôn quyển sách của cô nói về chuyện đó nữa.”
Qua ngày sau, tính hiếu kỳ nghề nhà báo của tôi lên đến cực độ. Tôi muốn đọc sách đó ngay khi vừa chạm đến nó. Sách không dày lắm - chỉ 98 trang thôi - do một linh mục Công giáo, Robert Faricy, và một nữ tu, Lucy Rooney, cùng biên soạn, tường thuật về những ngày đầu của việc hiện ra tại Mễ Du. Cả Terri cũng muốn đọc. Giống như mấy đứa trẻ giành nhau một đồ chơi mới, chúng tôi tranh nhau xem ai được đọc trước. Đến phiên tôi, tôi ngấu nghiến nó chỉ trong hai tiếng đồng hồ.
Trên vùng núi Hercegovina miền Trung nước Nam Tư, khoảng một giờ lái xe dọc bờ biển Adriatique, có một ngôi làng nhỏ đến nỗi không thấy có tên trên hầu hết bản đồ. Những tin tức đăng tải sau ngày 25-6-1981 xem ra có kể đến một cộng đồng nông thôn nhỏ, với khoảng 400 gia đình Croatia. Hôm ấy, khi mặt xế bóng, một loạt biến cố xảy đến, làm thay đổi hẳn lịch sử của ngôi làng và vùng phụ cận - và có lẽ cả thế giới.
Ivanka Ivankovic, 15 tuổi, và bạn em, Mirjana Dragicevic, 16 tuổi, sau khi đã làm việc ở mấy mảnh ruộng xong, bèn cùng nhau thả bộ trên con đường đất bên cạnh thôn Bijakovici, dọc theo chân đồi Podbrdo. Trên đường về nhà, Ivanka bỗng nhiên ngước mắt nhìn lên, và giật mình khi thấy trên sườn đồi hình bóng chói sáng của một phụ nữ đứng giữa một vầng ánh sáng chói lòa. “Mirjana, nhìn kìa! Gospa (nghĩa là Đức Bà) đó!”, em kêu lớn tiếng mà không biết mình đang nói gì.
- “Xạo”, cô bạn khoát tay đáp lại với vẻ bất cần, và không thèm nhìn, “Tại sao Gospa lại hiện ra cho chúng ta?” Rồi em tiếp tục rảo bước về nhà, nhưng Ivanka rất xúc động, xin bạn tin là mình có thấy cái gì đó thật. Khi hai em đến gần nhà của Milka Pavlovic, 13 tuổi, thì đúng lúc em này đi ra ngoài để lùa cừu về. Ivanka xin cả hai bạn trở lại với em, để xem thử bóng người phụ nữ còn đó không, và khi các em đến chỗ Ivanka đã thấy Bà, thì cả Mirjana và Milka cũng được thấy nữa.
Ngay đó, các em gặp Vicka Ivankovic, non 17 tuổi, một bạn thân của hai em nói trên, cũng đang đi tìm các bạn. Thấy các bạn từ trên đường vẫy tay gọi rối rít, em chạy đến nhập bọn ngay. Khi nghe các bạn nói là chúng đã thấy Đức Mẹ, em đâm hoảng sợ và bỏ chạy, trong lòng không khỏi thắc mắc tại sao các bạn có thể đùa với một việc thánh thiêng như vậy.
Nhưng do hiếu kỳ, em trở lại một lúc sau đó, dẫn theo hai bạn trai đang lượm táo trên đường, Ivan Dragicevic, 16 tuổi, và Ivan Ivankovic, 20 tuổi (không một em nào trong bọn trẻ có họ hàng với nhau; nhiều người dân trong làng có tên họ giống nhau). Ivan nhỏ bỏ chạy, nhưng Ivan lớn ở lại và cũng được thấy cái gì đó, mà sau này cậu tả là “một vật gì trắng toát đang quay”. Phần Vicka, sau khi quay trở lại thì đã được thấy rõ hiện tượng xảy ra, nên có thể nói rõ hơn. Em mô tả rằng: Bóng người phụ nữ hiện ra ấy mặc áo xám dài lóng lánh bạc, mái tóc đen, màu da trắng nhạt, tay đang bế một em bé và ra dấu bảo các em lên đồi, tiến đến gần hơn, nhưng các em quá sợ, không dám nhúc nhích. (Trừ dịp lễ Giáng Sinh ra, đây là lần độc nhất Bà hiện ra với Thánh Tử của Người).
Một vài em trong bọn trẻ bắt đầu khóc, mấy em kia thì cầu nguyện. Chúng ở lại cho đến lúc trời tối, và sương đêm bắt đầu nhẹ rơi. Về đến nhà, các em kể lại những gì đã xảy ra cho cả gia đình nghe. Các em bị quở mắng và bị chế nhạo, cha mẹ các em sợ hàng xóm gọi con mình là quân nói láo. Chị của Vicka trêu: “Chắc tụi nó thấy đĩa bay!”
Hôm sau, khi đã xong công việc đồng áng, các em cảm thấy một sự nôn nóng bên trong thúc đẩy trở lại đồi, tuy không phải tất cả các em đều đi được. Mẹ của Milka, không dám tin nơi con mình, nên đã đưa em đến một cánh đồng xa để làm việc hôm ấy; khi em muốn đi theo các bạn trở lại chỗ đó thì đã ở quá xa rồi. Khi những em khác ghé nhà Milka để rủ em cùng đi, thì chị của em là Marija, 17 tuổi, nói là Milka không có ở nhà. Vì vậy, các em yêu cầu Marija cùng đi. Jacov Colo, mới 10 tuổi, có họ với Milka và Marija, cũng có mặt ở đó, được Marija thúc giục, em liền nhập bọn luôn.
Ivan Ivankovic, lớn tuổi hơn các em khác nhiều, thì cho rằng đi xem “thị kiến” chỉ dành cho con nít, nên cậu này từ chối không chịu trở lại. (Mấy ngày sau đó, cậu trở nên vững tin và tiếc đã bỏ không đi trở lại. Sau đó ít lâu, cậu bị bắt và bị giam tù hai tháng vì tội đi lên đồi, chống lại lệnh cảnh sát cấm các trẻ “thị nhân” và dân chúng không được làm như vậy). Còn cậu Ivan nhỏ kia cùng đi với các thị nhân, chắc là xấu hổ vì đã bỏ chạy ngày hôm trước. Một số dân làng đi theo bọn trẻ xa xa, để xem “tin đồn” Đức Mẹ hiện ra có thực hay không.
Khoảng một lát sau sáu giờ chiều, “Bóng người” lại hiện ra, ra dấu mời các em đến gần. Lần này, các em làm theo lời. Đúng ra, bọn trẻ đã leo lên đồi tới chỗ ấy với một tốc độ đáng kinh ngạc, và khi đến gần “Bóng người”, các em quỳ gối xuống. Một số dân làng đi theo xem, cố chạy theo các em, nhưng không tài nào theo kịp. Họ thuật lại là đã thấy sáu thiếu niên đó đăm đăm nhìn vào một cái gì đó ở cao hơn chỗ các em một chút, độ mấy thước. Bọn trẻ bắt đầu đọc kinh “Lạy Cha” như Vicka đã giải thích sau đó: “Chúng tôi không biết làm gì khác.” Lần viếng thăm thứ hai này kéo dài khoảng 15 phút, trong khi đó, “Bóng người” tỏ mình ra là: “Trinh Nữ Maria Hồng Phúc”.
Về nhà, các em vẫn lại bị quở mắng nữa, nhưng nhờ lời chứng của dân làng, các em bị quở mắng nhẹ thôi. Họ vẫn biết mấy trẻ này không phóng đại hoặc bày trò phỉnh gạt, và nhất định chúng không hề nói láo về một điều mà chúng cho là rất thánh thiêng. Nếu chúng nói là chúng thấy cái gì đó, ấy là chúng đã thấy thật, mặc dầu người khác không thấy.
Tin đồn lan truyền khắp năm thôn của giáo xứ Mễ Du, nhất là loan tin về một hiện tượng phi thường chưa từng nghe biết. Chiều hôm sau, hằng ngàn người kéo lên trên đồi cùng với mấy trẻ. Hầu như họ đến từ khắp nơi, có người từ xa như thị trấn Ljubuski và thành phố Mostar, cách đấy đến nửa tiếng đồng hồ xe chạy.
Vào ngày thứ ba, có một luồng ánh sáng rực rỡ xuất hiện trên đồi và chỉ đường cho sáu thị nhân đến nơi diện kiến với “Gospa” (Đức Bà, theo tiếng bản xứ). Những người khác thấy được ánh sáng, nhưng không thấy được cái gì ở bên trong ánh sáng đó. Milka cũng có mặt đó nữa, mẹ em mới công nhận con bà đã nói thật, sau khi nghe biết được điều Marija chứng kiến ngày thứ hai. Nhờ Marija nài nỉ, bà cho phép Milka đi, để em cũng được thấy nữa. Nhưng, tiếc thay, hôm ấy em không được thấy “Gospa” nữa, kể từ ngày đó đến nay.
Lần này, cả sáu em dạn dĩ hơn, nhờ kinh nghiệm các ngày trước, nên đã đưa ra nhiều câu hỏi với Bà hiện ra: Tại sao Bà đến với làng các em? Tại sao lại hiện ra với các em? Và Bà muốn gì ở dân làng này?
- “Ta đến đây vì ở đây có nhiều người tin chân thật”, đó là câu đáp của Bà. “Ta đến để nói với các con là Thiên Chúa hiện hữu, và Người yêu thương các con. Những ai không thấy được Ta như các con, hãy tin như các con.”
Jacov thuật lại có hơi khác một chút. Theo em, lý do Bà đến là để mọi người được có bình an và hòa giải với nhau. (Tôi nhận thấy đáng tin ở chỗ sáu thị nhân không lặp lại cùng một câu chuyện giống hệt nhau từng chữ một. Quả thật, cứ xét theo tính cách độc lập của trẻ vào lứa tuổi đó, nếu lời tường thuật của các em giống nhau in đúc, thì tôi lại cho là đáng nghi ngờ).
Cha Jozo Zovko lúc đó là chánh xứ Mễ-Du
Đến ngày thứ tư, nhà cầm quyền sở tại đóng ở thị trấn Citluk đã được báo động; tình hình đã vượt tầm kiểm soát. Họ cho mời sáu em đến trạm cảnh sát, ở đấy, các em bị tra vấn gắt gao, rồi được khám bệnh bởi một bác sĩ - ông này tuyên bố các em là những thiếu niên hoàn toàn bình thường và mạnh khỏe. Thất vọng, sau đó, chính quyền cho mời Cha Xứ nhà thờ Thánh Giacobê tại Mễ Du, là cha Jozo Zovko, dòng Phan Sinh. Ngài vừa đi giảng tĩnh tâm ở Zagreb về. Họ cảnh báo cha là việc tụ tập trên đồi phải chấm dứt, và họ buộc cá nhân cha phải chịu trách nhiệm. Nói cho cùng, Nam Tư là một nước Xã hội Chủ nghĩa, chính thức không công nhận có Thiên Chúa. Tuy vậy, họ là một đảng Cộng sản “sáng suốt, tiến bộ”, nên các sinh hoạt tôn giáo đều được phép cử hành trong khuôn viên nhà thờ, có đăng ký ngày giờ và thời gian. Những phép rộng ấy không có nghĩa là dung túng cho các cuộc biểu dương tập thể quần chúng tự động tụ họp trên đồi.
Cha Jozo trấn an họ là cha cũng không kém quan ngại hơn họ về các biến cố gây kích động kia, đã xảy ra trong thời gian cha đi vắng. Ngài không nói với họ là đã hỏi chuyện bọn trẻ, cũng không đứng ra như người bầu chữa, nhưng ngài lắng nghe, tìm sơ hở nào đó để dẹp chuyện này. Nghe đâu có một em trong nhóm mang ma túy về làng từ một thành phố ở xa (Mirjana sống ở Sarajevo và chỉ về nghỉ hè tại Mễ Du), cha nghi bọn trẻ bị ảo giác do ma túy, và một khi chúng đã bị nhiễm như thế, thì không còn biết làm gì hơn là tiếp tục chơi trò ấy.
Cha Zrinko Cuvalo, phụ tá cha Jozo, tỏ ra nghiêm khắc hơn đối với các em trong những cuộc tra hỏi. E ngại có thể có một trò bịp bợm đang âm mưu nơi đây, cha trở nên rất cứng rắn; so sánh với tai họa không kể xiết có thể xảy đến - cho làng mạc, cho đức tin và cho Giáo Hội Nam Tư - thì sự cực khổ tâm lý tạm thời của sáu thiếu niên đâu có quan trọng gì. Vì vậy, cha tra hỏi đi tra hỏi lại các em, lúc từng đứa một, lúc khác chung một lượt sáu đứa. Ngài không cần giấu diếm về sự hoài nghi và tính nóng nảy, với chủ tâm khiêu khích để chúng nói ngược nhau.
Một linh mục Phan Sinh thứ ba, vừa mới đến lúc xảy ra các sự kiện ở Mễ Du, ông đưa ra một giải pháp triệt để hơn: đem cả sáu đứa ra trừ tà; nhưng hai linh mục kia bác bỏ đề nghị này. Sáng kiến đó ư?... quả thật là quá nghiêm khắc. Cho dù bọn trẻ có phạm lỗi thế nào đi nữa, chúng đâu có bị quỷ ám! Ý kiến này cuối cùng cũng được vị linh mục thứ ba này nghe theo, sau khi ông được tiếp xúc trực tiếp với sáu em. Cả ba linh mục, một khi ý thức được trọng trách đang đè nặng trên vai, liền tiến hành điều tra cách cẩn thận. Chưa biết kết quả sẽ ra sao, nhưng thế giới, chính phủ và Giáo Hội đều qui trách nhiệm vào ba vị này.
Qua tất cả các việc đó, sáu trẻ vẫn bình chân như vại trong lời chứng của mình. Tại Citluk, buổi chiều, lúc sắp đến giờ “Hiện ra”, các viên chức chính quyền phái một bác sĩ khác, tên Darinka Glamuzina, đến quan sát tình hình trên đồi. Họ tin tưởng rằng bác sĩ này, một người tự xưng mình là vô thần, đang phục vụ trong đội Cứu thương, khi trở về cơ quan có thể mang về một báo cáo, cho phép họ dựa vào đó mà chặn đứng trọn bộ vụ việc này ngay lập tức.
Buổi chiều, lúc mặt trời sắp lặn, dân chúng đã tụ tập đông nghịt trên đồi, ngàn ngàn lớp lớp người. Mấy thị nhân đi riêng rẽ từng người và mất hút trong đám đông, chẳng mấy chốc biến thành một đại hí trường. Marija được cha Zrinko đi kèm. Cha vận thường phục, vì không muốn để chính quyền phát hiện (đây là lần đầu tiên một linh mục địa phương đi lên đồi). Khi em thấy ánh sáng đặc biệt, liền chạy lên đồi theo đến chỗ ánh sáng. Các em khác chắc cũng thấy như vậy, vì chẳng bao lâu, chúng gặp được Marija và bắt đầu cầu nguyện.
Theo lời các quan sát viên đứng cách sáu em thị nhân khoảng mấy bước, thì bỗng nhiên, cùng một lúc, kinh nguyện các em lúc ấy dừng lại. Các em ngây ngất trước một hiện tượng mà chỉ có các em thấy được. Mỗi em hình như đang hỏi chuyện với “Bà hiện ra”, có lúc em này nói chồng lên em kia, vậy mà mỗi em đều tiếp nhận được câu đáp cho riêng mình, khiến chúng rất phấn khởi. Một trong các câu hỏi ấy là: Bà có điều gì muốn các em chuyển lại cho các linh mục không .
- “Các linh mục hãy tin mạnh mẽ và giữ vững lòng tin của mình”, đó là câu trả lời mà về sau đã được kể lại.
Sau cuộc “thị kiến”, những người chứng kiến thuật lại là bác sĩ Glamuzina đã vội vã chạy xuống đồi, nét mặt lộ ra một vẻ xúc động sâu xa. Bà từ chối lập bản báo cáo và không muốn dính dáng gì đến vụ hiện ra nữa. Một trong sáu em thị nhân cho biết lý do: bà ấy đã táo tợn yêu cầu các em xin cho bà ấy “chạm” đến “Bà hiện ra”, mà các em bảo là đã được diện kiến. Một trong các em hỏi: “Bà có cho phép bà bác sĩ chạm đến không?” “Bà” đáp: “Hãy để bà ấy tiến lên chỗ này. Luôn mãi sẽ có những Giuđa không có lòng tin.”
Ngày thứ năm của cuộc hiện ra nhằm ngày Chúa nhật. Cha Jozo vẫn giữ thái độ hoài nghi, đã không đề cập gì đến các hiện tượng xảy ra trên đồi Podbrdo trong bài giảng của ngài. Ngài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tuân giữ đức tin theo kiểu truyền thống. Nếu cha có ý đưa ra một lời cảnh báo, thì cũng chẳng có ai để ý, vì chiều tối hôm ấy, dân chúng tụ tập trên đồi đông hơn bao giờ hết. Có thể nói là tất cả mọi người đàn ông, đàn bà và trẻ em cư ngụ trong vòng mấy chục cây số quanh đó đều có mặt.
Khoảng 18g40, cuộc hiện ra bắt đầu. (Tuy địa điểm hiện ra lần này lần khác có thể thay đổi, nhưng giờ giấc vẫn luôn giữ nguyên). Sau này, khi được phỏng vấn, các thị nhân thiếu niên thuật lại một trong những câu các em hỏi “Bà” là: “Thưa Bà kính mến, tại sao Bà không hiện ra trong nhà thờ để mọi người có thể thấy Bà?” Câu đáp của Bà, theo một thị nhân kể lại sau này, thì cũng y như lời Con Bà đã phán: “Phúc cho ai không thấy mà tin...”
Kể từ ngày đó, hàng triệu khách hành hương luôn luôn kéo nhau lên đồi nơi Đức Maria hiện ra những ngày đầu, để tưởng niệm hồng ân Mẹ trên trời đến viếng đoàn con dưới thế để kêu gọi họ quay trở về với Thiên Chúa và hoà giải với tha nhân.
Sáng thứ hai tại Citluk, nhà cầm quyền triệu tập một cuộc họp khẩn cấp. Hiện nay đã có báo cáo về những phép lạ chữa lành: nào là một em bé bại liệt được khỏi và đi được, nào là một người mù được sáng mắt, và nhiều tật bệnh nhỏ khác đã được lành. Tình hình đang trở nên nghiêm trọng. Nếu cứ để tiếng đồn về hiện tượng ấy loan ra, nhà cầm quyền sẽ cảm thấy không kiểm soát nổi đoàn lũ dân chúng sắp tràn đến ngôi làng bé xíu này. Một lần nữa, họ cho vời mấy trẻ thị nhân đến, và lần này, họ đưa các em đến phân khoa tâm thần của bệnh viện ở Mostar. Chắc chắn là đến đó, các em sẽ được chẩn đoán là có bệnh ảo giác, hoặc bị một thứ loạn óc nào khác. Nhưng, lần này nữa, người ta khẳng định các em lành mạnh, không bệnh tật, và các em được trả về nhà.
Chiều hôm ấy, các đường lộ nhỏ hẹp dẫn đến làng Mễ Du bị tắc nghẽn suốt nhiều dặm. Hằng hà sa số người tìm đường leo lên đồi. Khi các thị nhân đến gần, dân chúng đổ xô đến bu quanh các em, khiến cậu Marinko Ivankovic, nhà ở bên kia đường gần nhà Marija, phải hô hào dân làng nắm tay nhau thành một vòng tròn vây quanh các trẻ, để cho các em có chỗ cầu nguyện. Như đã thành thói quen trong những ngày trước, các em bắt đầu đọc kinh Lạy Cha và Kính Mừng, khi còn đang đọc nửa chừng, cuộc hiện ra bắt đầu. Một trong những câu hỏi lần này là: “Bà sẽ còn tiếp tục hiện ra với các em bao lâu nữa?”
Câu đáp của Bà quả thật rất bất ngờ: “Lâu bao nhiêu tùy các con muốn.” Sáng hôm sau, hai phụ nữ trong làng, là nhân viên xã hội của Nhà nước, đến bằng xe hơi, mời các em đi du ngoạn. Vì đã từng quen biết các bà ấy, nên các em chấp nhận đi chơi một ngày thoải mái. Nhưng khi gần tới giờ “hiện ra”, các em trở nên băn khoăn và đòi trở về đồi. Hai nữ nhân viên xã hội chỉ cười và tiếp tục cho xe chạy, làm như họ không hiểu gì hết. Đoán được âm mưu, các em dọa sẽ nhảy ra khỏi xe, nếu họ không dừng xe lại để cho các em xuống. Hai bà vội vàng cho ngừng xe lại bên lề đường.
Vừa khi xuống xe, tất cả các em, kể cả hai phụ nữ nhân viên xã hội, liền thấy một bầu ánh sáng từ phía đồi tiến đến gần họ. Mấy trẻ quỳ xuống cách xa lề đường một quãng ngắn, rồi bắt đầu nói chuyện một hồi lâu với “Đấng hiện ra”.
Hoàn toàn bị rung động bởi bầu ánh sáng và bởi chứng kiến tận mắt việc hiện ra, hai nhân viên xã hội đưa các em trở về nhà. Ngày hôm sau, họ đệ đơn xin thôi việc và sau đó dời chỗ ở khỏi vùng này.
Bây giờ, chính quyền trở nên cứng rắn và quyết định không cho hội họp trên đồi với nhân vật siêu nhiên nào đó. Nếu bọn trẻ muốn làm trò hề, chúng cứ việc làm ở nhà thờ; nhưng chúng phải kín đáo, để người khác không bị lôi cuốn vào việc điên khùng của chúng. Tình hình càng trở nên khó khăn: dân chúng bỏ công ăn việc làm để đi lên đồi, không còn ai thiết tha lao động nữa. Cả vùng đều tê liệt. Nhà cầm quyền thông báo thẳng thừng: nếu bọn trẻ không chấp hành, gia đình các em sẽ bị rắc rối. Trong một nước Xã hội chủ nghĩa, chính quyền kiểm soát giấy phép hành nghề và mọi thứ khác, các thị nhân biết rõ sự đe dọa này không phải nói suông.
Nhưng hôm sau, thứ tư, một tuần sau lần hiện ra đầu tiên, chính quyền đột nhiên thay đổi ý kiến, ra lệnh chấm dứt ngay cái trò điên rồ đó đi. Họ sai cảnh sát đến Mễ Du để bắt giam các em thị nhân.
Thật là một cơn ác mộng cho bọn trẻ. Dân chúng bị buộc phải báo cho cảnh sát biết là họ thấy mấy trẻ đó ở đâu - khi thì ngoài đồng, lúc ở trong làng, lúc gần nhà thờ - nhưng cảnh sát tới đâu thì họ cũng đều bắt hụt. Sáu trẻ thị nhân tỏ ra rất thông thạo trong trò cút bắt nguy hiểm này. Chúng luôn bị động, chạy cúi rạp mình giữa các vườn nho để khỏi bị phát hiện, chúng chạy trốn vào rừng cây, thay đổi áo quần để đánh lạc hướng bọn người đuổi bắt chúng. Kinh nghiệm khốn khổ đó không ngờ cuối cùng lại đã dẫn các em đến nhà thờ.
Cha Jozo đang ở trong nhà thờ Thánh Giacôbê, lặng lẽ quỳ gối trước Cung Thánh cầu xin ơn soi sáng dẫn đường chỉ lối cho ngài biết phải làm gì. Như xưa kia Thiên Chúa đã phán bảo cho Abraham và Môsê trong lúc họ gặp thử thách lớn, thì nay cha cũng xin Thiên Chúa dạy cho biết phải làm gì.
Trong cảnh tĩnh mịch của ngôi nhà thờ không một bóng người, bỗng nhiên, cha nghe có tiếng nói: “Hãy ra ngoài ngay và bảo vệ lũ trẻ!” Kinh ngạc vì nghe tiếng ra lệnh rõ ràng, cha đứng dậy, đi nhanh ra cửa sau nhà thờ. Vừa mở cửa, cha thấy bọn trẻ từ góc nhà thờ chạy bán sống bán chết đến quanh cha vừa khóc vừa kêu cứu: “Cha ơi, cha cứu chúng con với!”
Cha Jozo vội vàng đưa các em vào Nhà xứ, chờ cảnh sát đến. Cha dặn các em tuyệt đối im lặng, đoạn ngài trở ra ngoài và chờ. Quả thực, ba cảnh sát viên chạy đến Nhà xứ, thở hổn hển hỏi cha: “Mới đây, ông có thấy bọn trẻ không?”
Cha đáp “Có” trong tư thế sẵn sàng bảo vệ các em với bất cứ giá nào. Nhưng thay vì nán lại một chút để hỏi cha thấy chúng ở đâu, họ lại chạy thẳng một mạch đến thôn Bijakovici, nơi các em sống. Cha Jozo đợi đến lúc họ đã đi khuất mới trở vào Nhà xứ. Sau khi trấn an các thị nhân đang khiếp vía và mệt nhoài, cha cho chúng ăn uống tí gì đó.
Sau đó, lúc chiều hôm, cuộc hiện ra đã xảy ra tại Nhà thờ Thánh Giacôbê, có đông dân làng tụ họp theo lời yêu cầu của vị mục tử của họ. Nếu có chút hoài nghi nào còn sót lại trong lòng cha Jozo về sự xác thực của sự kiện hiện ra, thì giờ đây được đánh tan ngay: bởi cha cũng được thấy Đức Trinh Nữ đúng hệt như các em đã thấy. Từ đó trở đi, cha trở thành người bênh vực chủ chốt cho sự kiện hiện ra, lập trường đó sau này đã khiến cha phải trả giá 18 tháng tù khổ sai, vì đã dám từ chối đóng cửa Nhà thờ để ngăn chận hiện tượng này.
Cha Jozo quyết định hiến cho dân chúng một điều quan trọng hơn mọi thứ khác: ngài sẽ làm thêm một Thánh Lễ lúc sáu giờ chiều hôm ấy, và ngài nhờ cha Zrinko hướng dẫn việc lần hạt trước Thánh Lễ. Sau đó, khi cha ra nhà thờ lại, ngài thấy nhà thờ đã đông chật người, ngay cả quanh bàn thờ cũng không còn chỗ trống. Vị mục tử mà trước kia đã rất nghi ngờ về các cuộc hiện ra, vì thấy không còn mấy ai đến nhà thờ hoặc muốn xưng tội nữa, giờ đây thì ngược lại, cha phải chật vật lắm mới có thể giơ tay lên để chúc: “Chúa ở cùng anh chị em!” Dân chúng không còn là những khán giả thụ động trước Thánh Lễ nữa; họ đã trở thành những người tham dự tích cực vào một việc thánh thiêng, có sức ảnh hưởng đến cuộc sống của hằng triệu người trên khắp thế giới.
Buổi lễ buổi chiều hôm đó đã khởi đầu cho việc thành hình một thói quen dâng lễ ban chiều hằng ngày (ở Mễ Du mãi đến ngày nay).
Các cuộc hiện ra có thể xảy ra ở bất cứ đâu, miễn là các em có mặt ở đó lúc ấy hoặc cả nhóm, hoặc từng cá nhân. Nay cha Jozo bảo các em tụ tập lại tại phòng mặc áo nhỏ, ngay bên phải bàn thờ của Nhà thờ Thánh Giacôbê. Trước kia, những người dân làng thường đi làm đến tối mới về, nay thì đến chật Nhà thờ từ năm giờ chiều. Họ nguyện cả 15 chục của Kinh Mân Côi. Sau đó còn dự nghi thức chúc lành và chữa lành. Nếu kể cả Thánh Lễ, thì nhiều người ở lại trong nhà thờ đến ba tiếng đồng hồ mỗi chiều. Thế là Mễ Du bắt đầu công trình hoán cải từ đó. Ăn năn trở lại theo con đường của Chúa Giêsu: đó là sứ điệp căn bản của Đức Maria. Người thường dạy: Con đường dẫn tới sự ăn năn trở lại là cầu nguyện, chay tịnh và sám hối. Những việc này dẫn tới sự ăn năn trở lại thật lòng và tới bình an nội tâm cho mỗi người. Thật vậy, dân làng Mễ Du giờ đây đang cố gắng sống sứ điệp này.
Nhưng niềm phấn khởi thánh thiện này không kéo dài mãi với họ: ngày 18 tháng 8, Cha Xứ của họ bị bắt, bị tố cáo xách động quần chúng dấy loạn, (có một đôi lời giải thích trong bài giảng của cha bị lên án là tuyên truyền chống Chính phủ). Đó là một hành động tuyệt vọng từ phía chính quyền, họ đưa ra biện pháp này với hi vọng dập tắt được vụ hiện ra, đã lôi cuốn dân chúng tụ tập đông đảo ở đây. Cha Jozo biết được cái gì sẽ phải xảy ra, và khi họ đến bắt, ngài đã sẵn sàng. Nhưng cả cha lẫn giáo dân không ngờ đến những chuyện sẽ xảy ra sau đó: nhà thờ bị lục soát, các đồ thánh, tượng đạo bị vứt tung tóe và đập vỡ, nhà thờ được lệnh đóng cửa.
Tuy vậy, vừa nghe tiếng chuông, thì nhà thờ đã đầy người, dân chúng cứ vờ như không hay biết gì về lệnh cấm. Một sự im lặng não nề đè nặng tâm can họ, khi họ chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát. Rồi cha Zrinko bước lên bàn thờ và thông báo cho dân chúng về việc cha Jozo bị bắt giữ, tuy nhiều người đã biết tin đó. Với giọng xúc động, cha nói với họ: “Hôm nay là ngày khốn khó nhất trong đời tôi”. Cả nhà thờ vang lên tiếng khóc.
Thánh Lễ bắt đầu, nhưng khi bài hát nhập lễ được xướng lên, mọi người đều nghẹn ngào không thốt nên lời; với các kinh nguyện khác cũng vậy. Đến khi nguyện kinh Lạy Cha, cha Zrinko đã phải mấy lần xin giáo dân lặp lại câu: “Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Sau Thánh Lễ, thông lệ đọc bảy kinh Lạy Cha, bảy kinh Kính Mừng và bảy kinh Sáng Danh do các thị nhân xướng lên. Thình lình, các em ngưng đọc kinh và chạy tới phòng nhỏ cạnh bàn thờ. Linh mục báo cho cộng đoàn: “Đức Mẹ gọi các em đến đó.” Tất cả đều im lặng, mọi con mắt đều hướng về cánh cửa căn phòng nhỏ ấy. Lúc sau, bé Jacov đi ra cùng với mấy em khác, tiến đến micro và nói với dân chúng: “Đức Mẹ gọi chúng cháu đến phòng đó, nơi Mẹ đang chờ chúng cháu. Mẹ bảo chúng cháu nói với quí vị đừng sợ. Mẹ muốn chúng ta hạnh phúc và lộ niềm vui trên nét mặt. Mẹ nói Mẹ sẽ che chở cha Jozo.”
Sau giây phút bàng hoàng, những tràng pháo tay nổ ra và dân chúng bắt đầu ca hát. Kinh nguyện đã xong, nhưng nhiều người còn nán lại rất lâu, không muốn rời nhà thờ.
Mễ Du còn tiếp tục đón nhận các thử thách. Nhưng về phần dân làng, thì quả thật Đức Mẹ vẫn để mắt coi sóc...
* * *
Tôi buông quyển sách trên đùi, ngước nhìn lên và lắc đầu: “Sao mà lạ lùng quá vậy!” Nghề nghiệp nhà báo đã dạy tôi: trước hết, phải biết hoài nghi và dè dặt trong phán đoán, cho tới khi thu thập được những bằng chứng khách quan cụ thể. Nhưng câu chuyện này diễn ra đến nay đã hơn bốn năm, mà lại dính dáng đến mấy đứa trẻ ít học nữa cơ chứ! Làm sao các em đó có thể bày ra một trò bịp bọm trong thời gian lâu như vậy? Thôi kệ, tôi chỉ nhắm vào câu chuyện, ngoài ra có gì đâu mà phải bận tâm?
- “Anh nè, còn đợi gì? Bỏ cuộn băng vào máy đi, để xem các phép lạ trên hết các phép lạ này ra sao!” Terri nói với nụ cười tinh nghịch, bước vào phòng lấy ghế ngồi xem.
Tôi bỏ cuộn băng vào máy. Bây giờ, chúng tôi mới tự mình xét xem vụ hiện ra ở Mễ Du là xác thực hay chỉ là chuyện bày đặt phóng đại của trẻ con.
-
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh004.jpg
Từ trái: Lm. Bob Faricy (S.J), thị nhân Marija Vicka, Sơ Lycy Rooney, thị nhân Ivanka, Jakov, Lm. Tom Forrest (CSsR/DCCT), 25/09/1982
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh006.jpg
Cha Jozo Zovko lúc đó là chánh xứ Mễ-Du
-
“Các con là con Mẹ, và Mẹ xin các con hãy làm theo Ý Con Mẹ...”
Chương 3
SỨ ĐIỆP
Cuộn băng vidéo khởi chiếu một đoạn khá dài cảnh ngọn núi phía sau nhà thờ Thánh Giacôbê, trên đỉnh núi có một tượng Thánh Giá đúc bê tông. Tiếp đến, trên nền nhạc của bài hát lễ bằng tiếng Croát, máy quay phim từ từ cho thấy cận ảnh ngôi Thánh đường, với hai tháp chuông và đám đông dân chúng tụ tập trước sân. Một linh mục Công giáo người Mỹ đang phỏng vấn dân chúng đến từ khắp nơi: Pháp, Ý, Đức... Ở đấy có những đôi vợ chồng, những gia đình và nhiều người trẻ. Ngài hỏi họ tại sao đến đây và đã tìm thấy gì. Đoạn phim này kéo dài khoảng 15 phút. Cảnh sau, ống kính tập trung vào sáu thiếu niên đã trở thành “thị nhân” và trung gian chuyển lại các Sứ điệp của cuộc hiện ra.
Như sách trên đây của linh mục Faricy tường thuật, các em là những thiếu niên trông rất bình thường, khỏe mạnh. Theo bản năng tự nhiên, tôi bắt đầu ghi: mỗi em có cá tính mạnh mẽ và phát triển tốt, có vẻ hạnh phúc và thoải mái. Đó là những đứa trẻ khá dễ coi, nhưng hoàn toàn trung bình. Cuộn phim được quay trước đây mấy tháng, tức là bốn năm sau những biến cố đã được kể lại trong sách, và bây giờ mọi việc đã được ổn định cách đáng kể. Các lần hiện ra buổi chiều hằng ngày đã trở nên thường lệ, và chính quyền tỏ ra bớt khắt khe. Sự thay đổi thái độ này có nguyên nhân chủ yếu là nguồn lợi ngoại tệ bất ngờ và khổng lồ, thu được từ túi khách du lịch và hành hương.
Khi chiếc máy quay phim thu cận ảnh các thị nhân ngay trước giờ hiện ra, mọi tính cách khách quan nhà báo của tôi tan biến. Lúc ấy, tôi thấy tôi cứ lắc đầu, miệng lẩm bẩm: “Thật không thể tin nổi!” Nhưng ngay lập tức, trong thâm tâm tôi lại cảm thấy đó là sự thật. Nhưng làm sao chuyện ấy đã xảy ra trong một thời gian lâu dài như thế, mà không một ai trong đất nước này (Mỹ) biết đến vậy?
Từ trái: Ivan, Marija, Ivanka, Jakov, Vicka. Hì̀nh chụ̣p nà̀y đã̃ minh hoạ̣ những điều mô tả dưới đây lúc các em thị nhân diện kiến Đức Mẹ.
Mấy em thị nhân bắt đầu cầu nguyện. Đột nhiên, các em dừng lại ở giữa câu và quỳ thụp xuống. Vicka mỉm cười và rõ ràng là đang nói chuyện, nhưng không có âm thanh nào phát ra từ đôi môi đang mấp máy của em. Ivan cũng đang chuyện trò trong im lặng, nhưng đôi môi mấp máy không đồng bộ với môi của Vicka. Marija chỉ chăm chú nhìn lên cao, miệng mỉm cười trong dáng điệu tôn kính. Tất cả các em đều nhìn về cùng một hướng, và không ý thức về sự có mặt của đám đông đang vây quanh mình hay về những ánh chớp sáng của đèn flash hướng thẳng vào mặt mình.
Khi đang xem say sưa, tôi bỗng có một cảm giác lạ lạ: có ai đó đang nói với tôi! Không phải một tiếng nói tai nghe được, nhưng là một tiếng nói từ bên trong tôi. Thật khó tin! Nhưng một cách nào đó, tôi biết chính là tiếng nói của Đức Trinh Nữ Maria.
Toàn thân tôi ra tê dại. Mọi vật trong phòng như biến tan đâu mất, chỉ còn lại mỗi mình tôi với các điều đang tiếp diễn trên màn ảnh truyền hình. Và tiếng nói bên trong ban một sứ điệp: “Con là con Mẹ, Mẹ xin con hãy làm theo Ý của Con Mẹ...”
Nghẹn ngào đến không thở được, tôi ráng đưa mắt nhìn qua phía Terri: Nàng có nghe thấy tiếng nói ấy không? Nàng đang thích thú nhìn lên màn ảnh, song hoàn toàn thản nhiên. Tôi nhận ra là điều đó chỉ xảy đến cho mình tôi thôi. Tim tôi đập loạn xạ, tưởng chừng như sắp chết giấc đi được. Tiếng nói còn tiếp tục: “Hãy viết về các biến cố ở Mễ Du! Việc này sẽ trở nên sứ mạng của đời con, nếu con đồng ý chấp nhận. Không bao lâu nữa, con sẽ thôi công việc hiện tại con đang làm.”
Phần còn lại của cuộn băng trước mắt tôi chỉ còn là một đám sương mù đối với tôi. Khi phim kết thúc, chúng tôi chỉ ngồi và nhìn nhau sững sờ. Tôi có nên nói cho Terri biết việc vừa xảy ra không? Cô ấy có tin tôi không? Cuối cùng nàng nói:
- “Quả thật hay lắm, hay hơn đọc trong sách. Cũng lạ thật, em thấy mình có thể tin câu chuyện này không mấy khó khăn.”
Tôi chỉ còn biết gật đầu cách ngớ ngẩn. Terri nhìn tôi, chờ đợi một phản ứng. Khi thấy sắc mặt tôi có vẻ khác thường, cô ấy hỏi:
“Kìa, anh làm sao vậy?”
- “Terri à, anh biết nói ra điều này, em sẽ cho là điên khùng, nhưng Bà ấy vừa nói với anh...”
- “Ai vậy?”
- “Đức Trinh Nữ Maria. Bà vừa nói với anh đấy. Bà xin anh loan báo sứ điệp của Người” - Tôi nghẹn lời.
Nàng đăm đăm nhìn tôi một lát: “Anh có nghĩ là anh bị tác động quá đáng bởi vụ này không?”
- “Terri này, anh quả quyết với em điều đó xảy ra thật mà!”
Tôi không thể trách vợ tôi hoài nghi, nhưng tôi thất vọng vì nàng không tin tôi. “Anh không biết thế nào và tại sao, nhưng anh quả quyết với em là chuyện đó xảy ra thật!”
Nàng mỉm cười và cố làm cho câu chuyện ra nhẹ nhõm hơn: “Thôi được, mà sao anh không uống vài viên aspirine rồi đi ngủ? Sáng mai sẽ ổn thôi!”
Tôi lắc đầu: “Em đi ngủ trước đi! Chắc anh không tài nào ngủ được!”
Nàng đứng dậy, đến bên tôi và ôm hôn tôi. Bây giờ nàng nhận ra: dù chuyện ấy có xảy ra thật hay không, thì tôi thực sự đã bị cuốn băng đó tác động sâu xa rồi... “Anh đừng lo nghĩ gì nữa. Nếu đó là xác thực, sớm muộn gì rồi anh cũng sẽ biết thôi. Em đi ngủ đây, anh đi ngủ lúc nào tùy ý.”
Tôi ngồi một chặp lâu, mắt nhìn đăm đăm vào màn hình tivi đã tắt, đảo qua đảo lại trong đầu những gì mới xảy ra. Thế rồi, hít một hơi thở thật sâu, tôi quyết định làm sáng tỏ câu chuyện. Tôi chưa hề có một kinh nghiệm nào trước đây, để có thể chuẩn bị cho tôi về việc này. Tôi đứng trước hai khả năng: hoặc là tôi khùng, hoặc tôi vừa mới nhận một sứ điệp của Thiên Chúa qua Đức Trinh Nữ Maria.
Phải chăng cái gì đó đã quật ngã tôi? Đời tôi đã gặp nhiều áp lực đè nặng, nhưng có cuộc đời nào mà lại chẳng có áp lực đâu! Trong vòng chín năm, chúng tôi đã làm chủ và điều hành bốn tờ tuần báo và một nhà in. Áp lực căng thẳng là bạn đồng hành thường nhật: nào hạn chót phải trả tiền, nào cạnh tranh, nào những rắc rối về nhân viên và bao thứ khác nữa... Có thể nói chắc chắn là trong đời tôi, chưa bao giờ tinh thần tôi lại ổn định hơn lúc này.
Tuy nhiên, suy tư về Đấng ấy còn khó khăn hơn gấp bội. Chúa Giêsu Kitô đột nhiên trở nên thật trước mắt tôi - một Chúa Giêsu thật bằng xương bằng thịt, Ngài đang sống, bây giờ và mãi mãi. Và Thân Mẫu Ngài, Đấng đang hiện ra với mấy thiếu niên ở làng Mễ Du... vừa mới nói với tôi.
Trước thực tại bỗng trở nên hiển nhiên này, tôi quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện, như chưa bao giờ tôi cầu nguyện như vậy trong đời.
-
http://www.khoi-nguon.com/BaiVo/MucS...es/Hinh009.jpg
Từ trái: Ivan, Marija, Ivanka, Jakov, Vicka. Hì̀nh chụ̣p nà̀y đã̃ minh hoạ̣ những điều mô tả dưới đây lúc các em thị nhân diện kiến Đức Mẹ.
-
“Mẹ mời tất cả các con bắt đầu sống trong Tình yêu Thiên Chúa... Mẹ muốn dẫn các con đến với sự thánh thiện hoàn toàn...”
Chương 4
CON LÀ CON MẸ ...
Tôi không biết đã quỳ ở đấy bao lâu, miệng cứ lặp đi lặp lại: “Chúa ơi, Chúa ơi, tại sao lại là con?” Tôi không đủ tư cách làm việc này. Tôi không biết gì hết về những chuyện hiện ra hoặc về Giáo Hội Công giáo. Điều duy nhất tôi biết được về Đức Trinh Nữ Maria là Bà đã được chọn để sinh hạ Chúa Giêsu Kitô. Tại sao Bà lại xin tôi phổ biến sứ điệp Bà đã đem đến cho dân làng Mễ Du nhỏ bé đó?
Tôi cảm thấy mình hoàn toàn không xứng đáng được tham dự vào một chuyện thánh thiêng như vậy. Cảm nhận bất xứng này không do lòng khiêm nhường, nhưng do nhận thức cay đắng về những lầm lỡ tôi đã vấp phải trong đời. Tất cả mặc cảm tội lỗi về vụ ly dị của tôi trước đây, bấy giờ trào lên trong tôi, như xát muối vào vết thương mới mở.
Tuy nhiên, dù những ý nghĩ đó có ảm đạm và nặng nề đến đâu, một cảm giác về Tình Yêu Chúa vẫn không rời tôi. Dường như có một sứ điệp khác bên trong đang trấn an tôi rằng: Tuy tôi tự thấy mình bất xứng, nhưng Chúa vẫn chấp nhận tôi. Lúc ấy, tôi nhớ lại những gì tôi thường nghe giảng ở nhà thờ, và kể cả dạy trong các lớp học ngày Chúa nhật, đó là: Chúa Giêsu đã chết trên thập giá, để tội lỗi của chúng ta - tất cả mọi tội lỗi - được tha thứ. Tất cả những gì chúng ta phải làm, là xin cho được lòng ăn năn chừa cải cho thật. Nhưng dạy hay nghe biết điều ấy là một chuyện, còn sống cụ thể điều ấy lại là một chuyện khác. Tôi cảm thấy mình như một đứa bé được đùm bọc trong yêu thương và đón nhận sau khi bị quở mắng.
Tôi quỳ ở đó một hồi lâu, quá mệt mỏi không còn làm được cái gì khác. Thế rồi tôi đứng dậy, bỏ băng vào máy lại, rồi nằm xoài ra trên đi văng.
Lần này, khi xem phim, tôi được đổ tràn một ánh sáng thấu tận tâm can, vượt trí hiểu của tôi. Tôi không cần hiểu thế nào và tại sao điều này lại xảy ra cho tôi như vậy; tôi chỉ biết đó là thật và đó là tất cả những gì cần biết.
Khi chiếu đến đoạn trước lúc hiện ra, sứ điệp mà lúc nãy tôi đã nghe lại được lặp lại. Tôi biết là tôi phải làm nhiều việc khác nữa, chứ không chỉ viết sách về sự kiện Mễ Du; chứ không chỉ sống sứ điệp tình yêu và an bình cho cá nhân. Kể từ lúc đó, Mễ Du đã trở nên cuộc sống của tôi.
Mệt nhoài, nhưng không tài nào ngủ được vì quá xúc động, tôi ngồi trên đi văng hồi tưởng lại những biến cố lớn trong đời tôi. Vụ ly dị của tôi chắc chắn là biến cố đau thương nhất. Sao tôi lại dại dột đi lập gia đình quá sớm như vậy, rồi sau đó để cho một gia đình với bốn đứa con thơ xinh xắn tan rã trong một bi kịch oán hờn và chia cách? Tôi cứ tưởng chuyện đó không bao giờ có thể xảy đến với tôi...
* * *
Chán ngấy trường trung học, tôi đã bỏ đi khi hết lớp mười và gia nhập Hải quân. Sau khi giải ngũ, tôi sang Columbia, thuộc bang Carolina, để thăm bà chị ruột và người chồng mới của chị. Tôi chỉ ghé thăm một chút thôi, vì còn phải đi tới Tempe, bang Arizona, để vào Đại học quốc gia Arizona cùng với một người bạn Hải quân sống ở đấy.
Tôi chưa bao giờ tới Arizona. Tôi gặp một thiếu nữ giáo phái Báptít và chúng tôi bắt đầu hẹn hò. Đó là mối quan hệ nghiêm chỉnh đầu tiên của tôi, và tôi tin chắc là nếu tôi không cưới cô ấy, tôi sẽ không còn có cơ hội nào khác nữa. Cô ấy có tính nhút nhát, sinh trưởng ở tỉnh nhỏ, và đi nhà thờ thường xuyên. Tôi bắt đầu đi nhà thờ với cô ấy, tuy gia đình tôi thuộc giáo phái Lutêrô. Thực ra, tôi không cần biết là đi nhà thờ nào hoặc có đi nhà thờ hay không. Chưa đầy một năm, chúng tôi đã cưới nhau.
Một Chúa nhật nọ, ít lâu sau đám cưới, tôi cảm thấy được thúc giục hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa. Tôi không hiểu tại sao tôi muốn làm điều đó. Có lẽ là do lời mời gọi ăn năn hối cải, vốn thường là thành phần trong giờ thờ phượng của giáo phái Báp-tít; hoặc là do ảnh hưởng bài giảng trong nhà thờ buổi sáng hôm ấy. Tôi chỉ biết có một điều: tôi cần thay đổi nếp sống của tôi. Từ đó, tôi trở nên ngoan đạo, đi lễ mỗi sáng Chúa nhật và chiều thứ tư.
Nhưng, mặc dù tôi dấn thân làm việc Giáo Hội, cuộc hôn nhân của chúng tôi vẫn rắc rối, chỉ vì giữa hai chúng tôi có quá nhiều khác biệt. Mối tình của chúng tôi xem chừng đã nguội dần từ mấy tuần đầu, nhưng tôi không đành để mất chút an toàn và tình thương nó mang lại. Chúng tôi chỉ phải cố gắng làm cho nó phát huy hiệu quả mà thôi.
Ít tháng sau, từ một lần đi thăm cha mẹ vợ trở về, tôi tìm thấy giấy nhập học của trường Đại học Nam Carolina trong thùng thơ. Tôi sửng sốt. Tôi đã lãnh được giấy chứng nhận đã thi hành nghĩa vụ quân sự bốn năm trong Hải quân, và đã nộp đơn xin vào trường đó chỉ vì người anh rể của tôi đang học trường Dược ở đấy thuyết phục tôi. Tôi làm đơn cốt yếu để được rảnh nợ với anh ấy, chứ không bao giờ dám mơ tưởng mình sẽ được chấp nhận.
Bây giờ, chuyện đã vậy rồi, tôi không thể chần chừ nữa. Tôi dự định lấy chuyên khoa báo chí, vì từ lâu, tôi vẫn muốn làm nhà văn. Thoạt đầu, mọi việc khá hấp dẫn, tôi không có một ý tưởng gì về những khó khăn sẽ phải gặp bốn năm sau như thế nào.
Mới bắt đầu được ít lâu, tôi được biết vợ chồng tôi sắp có con. Bỗng nhiên tôi phải đi học cả ngày, đồng thời kiêm một việc làm suốt ngày. Sau bốn năm và có ba đứa con, tôi nhận được văn bằng như hằng mong ước. Nhưng chính cái nỗ lực căng thẳng để đạt được thành quả ấy, đã gây họa lớn cho cuộc hôn nhân của chúng tôi.
Tôi đi làm cho một công ty báo chí địa phương - không phải như một phóng viên, nhưng như một nhân viên giới thiệu quảng cáo thuộc bộ phận quảng cáo của công ty. Tôi hoàn toàn bị thất vọng, nhưng việc này đem lại cho tôi lợi nhuận nhiều hơn là làm phóng viên. Vả lại, trong hoàn cảnh một vợ ba con và một đứa còn trong bụng mẹ, tôi không còn lựa chọn nào hơn. Việc làm của tôi hóa ra đã được Chúa an bài: tôi đạt thành quả mau lẹ, chẳng bao lâu lên đến cấp quản lý. Tôi vẫn luôn muốn cầm bút, nhưng ít ra với từng ấy là tôi cũng đã “thành công”.
Năm 1971, cánh cửa may mắn mở ra cho tôi. Trước đó, công ty này đã mua lại ba tờ tuần báo ở trong và chung quanh vùng Myrtle Beach, một thành phố nghỉ mát ven biển. Tôi được trao công tác tăng số phát hành của tờ lớn nhất (trong ba tờ đó) và chuyển tờ tuần báo thành nhật báo. Nếu làm được, tôi sẽ trở thành chủ nhiệm tờ báo. Tôi liền chụp ngay lấy cơ hội.
Đang khi đó, vợ tôi không chia sẻ sự hăng hái với tôi. Gia đình vợ tôi lúc ấy ở cách chỗ tôi làm việc chỉ có chưa đầy một tiếng đồng hồ lái xe. Nàng nghĩ rằng dọn xuống Myrtle Beach, xa cách đó 300 cây số, là đánh mất gia đình và bạn bè; ý nghĩ ấy quá sức chịu đựng của nàng. Thế là tôi phải đi đi về về hằng tuần. Mối quan hệ giữa chúng tôi ngày càng tồi tệ. Cứ đến mỗi chiều Chúa nhật, tôi lại ra đi trong tiếng gào khóc và nước mắt của các con tôi. Mỗi ngày, tôi phải làm việc từ 15 đến 17 giờ. Khi về đến nhà vào tối thứ sáu hằng tuần, tôi hoàn toàn kiệt sức.
Mọi người, trừ tôi, thấy việc ly dị không còn xa mấy. Tuy cuộc hôn nhân của chúng tôi không mấy hạnh phúc, nhưng vì các con, tôi muốn duy trì tình trạng như vậy. Nhưng hoàn cảnh đã không được như thế. Rốt cuộc, việc phải đến đã đến: chúng tôi ly dị nhau. Quá sức đau đớn khiến tôi cay đắng đối với nhiều người, nhất là với những kẻ giả hình hay đi nhà thờ. Sao Thiên Chúa lại cho phép biến cố này xảy đến cho chúng tôi? Tôi đã cố gắng sống tốt để giáo dục con cái tôi - thế mà tôi lại được phần thưởng như thế đó! Tôi ngưng lui tới nhà thờ và thề sẽ không bao giờ đi nhà thờ nữa.
Đang trong tình trạng chao đảo như thế, cô Terri Harris đến với tôi. Tuy ít tuổi hơn, nhưng nàng chín chắn hơn tôi về nhiều mặt. Đối với người khác, nàng hơi nhút nhát; nhưng với tôi, nàng thoải mái và hồn nhiên. Tính nàng kiên quyết và không dễ bị nao núng, với một vốn sống khôn ngoan hiểu đời phong phú. Từ buổi sơ giao, tôi phải công nhận câu ngạn ngữ thời xưa nói về “Các cực đối kháng lại cuốn hút nhau” là đúng cho trường hợp của hai đứa chúng tôi, tuy chỉ có trời mới biết nàng đã thấy những gì nơi tôi, với những vấn đề khó khăn của tôi lúc đó.
Tuy thế, vào lúc ấy, Terri chính là điều cuối cùng mà tôi muốn có trong đời. Đây không phải là lúc dấn thân vào một mối quan hệ nghiêm túc. Theo bản năng, tôi cảm thấy nếu chúng tôi cứ gặp gỡ hẹn hò, việc nghiêm trọng tất sẽ xảy ra. Và đã xảy ra như vậy.
Terri là điều tốt đẹp duy nhất đã đến trong đời tôi lúc đó. Với một cuộc đời tan nát như thế, tôi đâu còn đầu óc để điều khiển một tờ báo - việc ấy dĩ nhiên văn phòng tổng quản trị ở Columbia đã thấy ngay. Ông tổng giám đốc đến Myrtle Beach để nói chuyện với tôi. Kết quả, họ đánh giá cao mười năm công tác của tôi, nhưng công việc là công việc, mà họ thấy công việc lại chẳng ra làm sao. Người ta bèn trả cho tôi ba tháng lương trong thời gian tôi đi tìm việc khác.
Vào tuổi 37 và trong hoàn cảnh khổ não vì vụ ly dị, tìm được một chỗ làm mới không phải là dễ. Hồi đầu, tôi lạc quan vì có một lý lịch công tác khá gây ấn tượng. Nhưng chính điều đó mới thành vấn đề: nơi nào tôi đến gõ cửa, họ cũng đều nói là trình độ nghiệp vụ của tôi quá cao. Tôi phải hạ thấp đòi hỏi và kỳ vọng của mình, nhưng vẫn không đi đến đâu. Một buổi sáng nọ, tôi chạm đến đáy vực, khi gặp một tay phát báo dạo trên đường đi. Hắn nhìn tôi với vẻ thương hại. Không ai trong tòa báo biết được tôi đã nghỉ việc, chỉ trừ người này. Mà nếu anh ta biết, thì chắc hẳn mọi người sẽ biết. Tối hôm đó, sau một ngày tìm việc không kết quả, tôi chán chường ngồi trong bóng tối của căn phòng trọ, nơi tôi đang tạm trú. Đây là một trong những đêm tồi tệ nhất trong đời tôi.
Terri thấy được điều đang xảy ra cho tôi. Nàng khuyến khích tôi đến hỏi thử các cơ sở tuyển dụng, lại còn lái xe đưa tôi đến các thành phố xa, vì thôi việc, tôi không còn quyền sử dụng xe của công ty nữa. Nhà băng trước kia đã từng cho tôi thế chân căn nhà để vay một số tiền lớn xây ngôi nhà mới tại Myrtle Beach, nay cũng từ chối cho tôi vay khoản tiền 800 đô để mua một chiếc xe Volkswagen cũ, trừ phi tôi kiếm được một người nào chịu ký nợ chung với tôi.
Ngày 30 tháng 6 năm 1974, tôi lãnh tháng lương cuối cùng. Hầu hết số tiền này được chi vào khoản trợ cấp cho con cái sau khi ly dị. Khoảng một tuần lễ sau, tôi nhận được điện thoại của một trong những cơ sở tuyển dụng. Một đại diện văn phòng niên giám điện thoại quốc gia đặt tại Tennessee phân vân hỏi tôi có muốn đi bán “những trang giấy vàng” quảng cáo chăng. Tôi nói chắc với ông ấy là tôi muốn, và còn hẹn với ông ấy một buổi phỏng vấn vào mấy ngày sau.
Ông ấy cho tôi biết đây là một dịch vụ được hưởng hoa hồng trực tiếp, và tôi phải tự lo các khoản chi phí đi lại. Tôi nói: “Tốt thôi, tôi biết tôi bán được.” Tôi cố giấu không để lộ vẻ lo sợ, vì tôi chưa bao giờ bán hàng ăn hoa hồng. Nhưng tôi cần việc làm, bất cứ việc gì. Ông ấy hứa trong một tuần sẽ gọi tôi và cho tôi hay.
Tôi cám ơn về thời giờ ông dành cho tôi, trong bụng thầm nghĩ có lẽ chẳng bao giờ ông gọi điện lại cho mình nữa. Vậy mà cuối tuần sau, ông đã gọi và giao việc cho tôi.
Bây giờ, tôi cần có một chiếc xe hơi, và Terri đồng ý ký hợp đồng vay tiền chung với tôi. Tôi không muốn nhờ vả như vậy, nhưng tôi không còn biết xoay sở cách nào hơn. Sau hai tuần lễ tập huấn, tôi bắt đầu lên đường hành sự. Nhưng sau hai ngày chạy đôn đáo, tôi chẳng bán được gì cả. Tệ hơn nữa, có một khách hàng cũ nhất định không mua quảng cáo nữa, thế có nghĩa là số tiền dịch vụ của tôi thiệt mất 35 đô.
- “Tôi không thể làm việc này được”, tôi cứ lẩm bẩm. Nhưng lần này, tôi không đơn thân độc mã, tôi còn có Terri. Tôi gọi điện cho nàng ở Myrtle Beach. Nàng khuyên tôi nên nhẫn nại và chờ đợi ít lâu. Thật vậy, nàng xác tín đến độ làm cho tôi phải giận chính mình vì đã mau chán nản. Sáng hôm sau, tôi đi bán hùng hục như bị ma đuổi, rồi cả ngày hôm sau nữa cũng vậy. Đến tối thứ sáu, tôi kiếm được hơn 500 đô tiền hoa hồng.
Tuần kế tiếp, tôi kiếm được hơn 800 đô và trong vòng sáu tháng, tôi đã là một trong năm người bán hàng giỏi nhất trong cả nước. Thật là khoái trá khi tôi trở lại gặp tay giám đốc ngân hàng để trả dứt món nợ mua xe, và làm giấy tờ để vay tiền mua một chiếc xe mới. Chiếc xe này đánh dấu ngày tôi thoát cơn bĩ cực mà hướng tới cảnh thái lai. Lòng đầy tự tin, tôi cầu hôn cùng Terri. Tháng 5-1976, nàng trở thành vợ tôi.
Ít tháng sau, khi đang ở Bắc Carolina bán hàng, tôi để ý đến một tờ tuần báo tại một nhà hàng ăn. Đó chỉ là một loại báo quảng cáo phát không kèm theo một số tin tức địa phương, nhưng cái đó làm nảy sinh nơi tôi một sáng kiến. Vừa về đến Myrtle Beach, tôi nói ngay chuyện này với Terri: “Em biết không, đây đúng là công việc mà anh luôn muốn làm; anh còn có thể viết một mục cho tờ báo ấy.” - “Anh có khùng không đó?”, Terri chận ngang. Tôi chống chế: “Anh làm được mà! Anh đã chứng tỏ là anh bán được quảng cáo và...”
- “Và bây giờ cuộc sống anh đã ổn định, anh làm ra nhiều tiền, anh lại muốn liều mạng để mất hết vì mấy cái trò ngu ngốc...”
- “Ê! Anh đã xuống tận đáy vực sâu rồi, còn sợ gì nữa? Chúng ta làm được mà!”
Tôi tin chắc rằng cùng với nhau, hai đứa chúng tôi có thể làm được mọi việc. Nhưng Terri vẫn nghi ngờ và lo lắng. Cuối cùng, tôi thuyết phục được nàng đi với tôi đến nói chuyện với viên giám đốc của một tờ tuần báo nhỏ và một nhà in nhỏ ở cách đó khoảng 60 cây số. Khi nghe tôi nói chuyện với ông ấy một cách thông thạo, với những từ nhà nghề như: dàn trang, chia cột, chế bản, lên khuôn, v.v..., Terri bắt đầu đổi ý và cuối cùng chịu thua.
Tháng 2-1977, tôi bỏ việc làm cũ để triển khai một tờ báo mới: tờ The Horry Shopper (Horry là tên hạt chúng tôi đang ở). Sau nhiều thử nghiệm và sai sót, ấn bản đầu tiên đã được phát hành. Thật đáng ngạc nhiên: mục xã luận hàng tuần của tôi trên tờ báo rất được chú ý, vì nó không phải là mục bàn những chuyện phù phiếm. Quả thực, ngay những tuần lễ đầu, mục xã luận thường là mục mà độc giả đọc, trước khi vứt tờ báo vào sọt rác.
Dần dà, dân chúng bắt đầu ngóng đợi tờ báo phát hành để được đọc. Họ chận tôi lại trên đường để nói với tôi là họ thích bài xã luận tôi viết tuần qua. Các mục quảng cáo bắt đầu có hiệu quả như tôi đã tiên đoán. Terri với tôi họp lại thành một đội tuyệt vời. Đến cuối năm thứ hai, thì chúng tôi có rủng rỉnh tiền bạc.
Năm 1980 là năm ghi dấu nhiều biến cố xảy ra cho chúng tôi, quan trọng nhất là sự ra đời của con trai chúng tôi, Kennedy. Trong khi đó, công việc làm ăn của chúng tôi tiếp tục phát triển. Chúng tôi xuất bản thêm tờ báo thứ hai, rồi thứ ba và thứ tư. Đến năm 1982, vì thấy chi phí in ấn gia tăng, chúng tôi quyết định trang bị một dàn máy in để tự in lấy. Nó làm chúng tôi phải vét hết tiền trong ngân hàng, nhưng tôi tin là chúng tôi sẽ không bị kẹt lâu đâu. Bây giờ chúng tôi có số phát hành trên 55.000 bản, phủ kín một địa bàn trên 100 cây số quanh tỉnh Myrtle Beach, với 35 nhân viên. Và tuy thường xuyên thiếu tiền mặt, nhưng trên giấy tờ thì chúng tôi xem ra vẫn ngon lành.
Bức tường sau lưng bàn giấy tôi treo đủ thứ bằng khen. Tôi tham gia nhiều câu lạc bộ dân sự, đang là chủ tịch Hội những nhà xuất bản quảng cáo cấp khu vực và là thành viên Ban quản trị cấp quốc gia. Năm 45 tuổi, căn cứ theo các tiêu chuẩn đã được người đời công nhận, cuối cùng, tôi được coi là người thành đạt.
Cuộc sống thật tốt đẹp, tốt đẹp vượt cả những gì tôi dám hi vọng. Thế rồi, một sáng thứ bảy, khi chúng tôi đang làm việc chung với nhau ngoài sân, Terri nói là chúng tôi phải đem đứa con trai, nay đã hai tuổi, đến nhà thờ để chịu phép Thánh tẩy. Trong lòng, tuy phập phồng lo sợ, nhưng bề ngoài, tôi cứ tảng lờ đi, hi vọng nàng sẽ quên việc đó. Nhưng nàng cứ nhấn đi nhấn lại không thôi, rốt cuộc, tôi phải nói: “Này, anh không đi nhà thờ lại, dù chỉ để cho Kennedy được chịu Thánh tẩy. Anh không tin vào nhà thờ. Anh cho đó là giả hình, anh đã chán ngấy nhà thờ cho đến chết”
Không cần biết là tôi đang giận, nàng cứ kiên trì: “Ít ra chúng ta phải đi nhà thờ vì con chứ! Khi lớn khôn, nó có thể tự quyết định.” Nàng cứ từ tốn nói khiến tôi nản lòng.
Rốt cuộc, tôi phải đầu hàng. “Thôi được”, tôi bực bội khua tay nói lớn tiếng, “Vậy chỉ đi đến nhà thờ để con chúng ta được Thánh tẩy, chừng đó thôi, không thêm gì nữa nghe!”
Vợ tôi tìm thấy một nhà thờ Lutêrô cách nhà khoảng hai cây số, nhà thờ có một chương trình học đạo cho trẻ rất tuyệt. Nghĩ đó là nơi lý tưởng cho Kennedy, nàng quyết định cùng đem con đến đó, mà không ngờ rằng gia đình tôi vốn gốc thuộc giáo phái Lutêrô. Việc trước tiên là nàng phải gặp vị mục sư.
Thứ sáu sau đó, khi chúng tôi vừa xong bữa ăn tối thì nghe tiếng chuông cửa reo. Đó là mục sư William Wingard ở nhà thờ Thánh Philip, thuộc giáo phái Lutêrô. Ông cùng với vợ ghé qua thăm xã giao, hi vọng sẽ thuyết phục chúng tôi gia nhập giáo hội của họ.
Tôi nổi nóng. Trong gia đình, chúng tôi có một nguyên tắc cơ bản là dù áp lực có nặng nề đến đâu, chúng tôi cũng không bao giờ thảo luận về công việc trong các ngày cuối tuần, cho dù hoàn cảnh thúc bách mấy đi nữa; và nếu được, chúng tôi tránh làm bất cứ việc gì trong những tối thứ sáu. Đó là một nguyên tắc tốt, thường tỏ ra là một biện pháp độc đáo giúp đầu óc chúng tôi tỉnh táo. Thế mà bây giờ lại có người không hẹn mà đến làm gián đoạn, lại còn để nói toàn chuyện tôn giáo.
Bill Wingard, tối hôm đó, bị rơi vào tổ ong vò vẽ. Ông ta với bà vợ đến chưa được mười phút, thì đã nghe tôi tuyên bố thẳng thừng: Tôi không thích gia nhập giáo hội của ông, bây giờ cũng như mãi về sau. Theo tôi, cuộc viếng thăm của ông ấy chỉ làm phí thời giờ của ông cũng như của tôi. Dầu vậy, tôi mến phục ông ấy vì sự kiên nhẫn, và sự đôn hậu . Ngay sau đó, tôi không ngờ lại nghe thấy chính mình đồng ý đến nhà thờ “đôi ba lần”, cho đến khi Kennedy được chịu phép Rửa. “Nhưng chỉ có thế thôi, chớ đừng mong tôi thay đổi ý kiến”. Được đằng chân lân đàng đầu, trong lần thứ nhất đến nhà thờ, Terri đã năn nỉ tôi đi với nàng đến dự lớp học trường Chúa nhật, dành cho người lớn trước giờ thờ phượng. Rồi tuần kế tiếp cũng vậy. Hầu như chẳng ai thèm nói chuyện với tôi, và tôi tự nghĩ: “Đúng, chẳng có gì thay đổi: nhà thờ vẫn là nơi tụ tập một bọn người giả hình.”
Nhưng đến Chúa nhật thứ ba, tôi phát biểu trong buổi thảo luận của lớp học. Sau đó, có vài người cho tôi biết họ rất thích mục xã luận tuần vừa qua của tôi - do đó, tôi nghĩ: Có lẽ mình đã xét đoán họ quá khắt khe.
Rồi có hai phụ nữ trong lớp học hỏi tôi có muốn dạy một vài lớp không. Làm sao mà tôi từ chối được? “Cái tôi” nó không cho phép điều đó. Chẳng bao lâu, tôi đã đến đó dạy đều đều và còn tham gia ủy ban này, ủy ban kia. Đến khi mục sư Wingard hỏi tôi là ông có thể ghi tên tôi vào danh sách ứng viên Hội Đồng nhà thờ không, tôi liền ưng thuận. Tôi rất ngạc nhiên là mình đã được bầu.
Rất thản nhiên, theo cách thức và thời gian của tôi, tôi nhìn nhận rằng trở lại với nhà thờ là tốt. Và tất cả đều do vợ tôi muốn cho con trai chúng tôi được chịu phép Thánh tẩy. Tôi mỉm cười khi nhớ đến câu Kinh Thánh: “Và một trẻ thơ sẽ dẫn dắt họ...”
Và ngày Chúa nhật – (lẽ nào chỉ mới có bốn ngày trước đây?) – khi đang giảng dạy tại trường Chúa nhật, là chính lúc tôi được nghe nói đến Mễ Du lần đầu tiên...
Lúc từ từ chìm vào giấc ngủ, dường như tôi nghe thấy những lời ấy lần nữa trong lòng tôi: “Con là con của Mẹ, Mẹ xin con hãy làm theo Ý Con Mẹ...”