Register
Page 14 of 17 FirstFirst ... 41213141516 ... LastLast
Results 131 to 140 of 168

Thread: Coi chùa

  1. #131
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446



    Giáo Hội PGVN Thống Nhất tiếp tục hoằng pháp


    Hòa Thượng Thích Như Điển, phương trượng chùa Viên Giác tại Hannover, trao tặng 24 tập Thanh Văn Tạng cho Học viện Á Phi thuộc Đại học Hamburg. (Hình: Văn Công Tuấn)


    Nhưng đằng sau bản tin ngắn gọn trên là một sự kiện rất đáng chú ý: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thành lập năm 1964 ở Sài Gòn, vẫn đang tiếp tục hoạt động khắp thế giới, kể cả ở trong nước...

    Tin tức từ nước Đức cho biết Hòa Thượng Thích Như Điển, phương trượng chùa Viên Giác tại Hannover, đã trao tặng 24 tập Thanh Văn Tạng cho Học viện Á Phi thuộc Đại học Hamburg. Báo chí tiếng Việt ở các nước khác coi đây chỉ là một “tin địa phương,” truyền thông chính thức ở trong nước không loan tin.

    Nhưng đằng sau bản tin ngắn gọn trên là một sự kiện rất đáng chú ý: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thành lập năm 1964 ở Sài Gòn, vẫn đang tiếp tục hoạt động khắp thế giới, kể cả ở trong nước – mặc dù sau năm 1975 đã bị đảng Cộng sản cấm đoán, các tăng, ni bị bắt giam và đầy ải, nhiều người phải sống lưu vong ở nước ngoài!


    Hội Đồng Phiên Dịch Tam Tạng Kinh Điển Lâm Thời do chính Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, từng ở chùa Già Lam, Sài Gòn, chủ trì và lãnh đạo. Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu ở San Diego, California, là hội Trưởng Hội Ấn Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam (Việt Nam Tripitaka Foundation); Hòa Thượng Thích Như Điển ở Hannover, nước Đức, là Chánh Thư Ký của Hội Đồng. (Hình: Văn Công Tuấn)

    Ấn loát và truyền bá 29 cuốn Thanh Văn Tạng trong Đại Tạng Kinh là tiếp tục một công trình bắt đầu từ năm 1973, khi Giáo Hội Thống Nhất thành lập Hội Đồng Phiên Dịch Tam Tạng. Một nửa thế kỷ sau, công việc in ấn và phân phối kinh điển tiếp tục, với nỗ lực cộng tác của tăng ni và Phật tử ở nhiều quốc gia, từ Việt Nam qua Âu châu và nước Mỹ.

    Hội Đồng Phiên Dịch Tam Tạng Kinh Điển Lâm Thời do chính Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, từng ở chùa Già Lam, Sài Gòn, chủ trì và lãnh đạo. Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu ở San Diego, California, là hội Trưởng Hội Ấn Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam (Việt Nam Tripitaka Foundation); Hòa Thượng Thích Như Điển ở Hannover, nước Đức, là Chánh Thư Ký của Hội Đồng.

    Đây là một công trình lịch sử, kể từ khi Phật Giáo được truyền vào nước ta, với những Phật tử như An Tiêm, Chử Đồng Tử còn được nhắc tên qua các truyền thuyết đời Hùng Vương. Sau khi bị quân ta đánh ba lần, vua nhà Nguyên đã gửi tặng một bản Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán khi Trần Nhân Tông vẫn xin giảng hòa và “xưng thần.” Bản kinh này chắc không đầy đủ như ấn bản do Thiên hoàng Đại Chánh (Taisho) cho thực hiện trong những năm 1924 đến 1934. Đầu thế kỷ 20 người Việt Nam không còn sử dụng chữ Hán, các kinh được dịch ra chữ quốc ngữ, như các bản dịch của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh từ chữ Hán, và của Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ chữ Pali, được phổ biến rộng rãi. Hiện nay, các công trình phiên dịch trong một thế kỷ qua được góp lại và tăng bổ thêm, bắt đầu với bộ Thanh Văn Tạng bằng tiếng Việt.

    Bộ Thanh Văn Tạng gồm 29 tập mới ấn hành đòi hỏi việc nghiên cứu và chú giải công phu. Vì Tam Tạng kinh điển đạo Phật đã được phiên dịch nhiều lần, qua nhiều ngôn ngữ, truyền tụng và tu tập trong gần 25 thế kỷ. Tam Tạng nghĩa là Ba Kho báu, ba bộ phận chính gồm Kinh, Luật và Luận. Một trăm ngày sau khi Phật lìa đời, 500 đệ tử trình độ giác ngộ cao nhất đã tập họp, nhắc lại các lời Phật đã nói (Kinh), các quy tắc hành sử (Luật). Người nhớ kinh nhiều nhất là Thầy Ananda (A Nan). Người thuộc các giới luật nhất là Thầy Upali (Ưu Bà Li), ông nhớ rõ cả những sự kiện xảy ra đưa tới việc thảo luận và quyết định các quy tắc sống chung.

    Kinh ghi lại những lời do chính Đức Phật nói, tùy theo căn cơ, nhu cầu, trình độ của thính chúng trong mỗi lần tập hợp. Những người theo học Phật gọi là các hành giả, những người đến nghe để thực tập. Mỗi lần, Đức Thích Ca thường nói trọn vẹn về một đề tài; chú trọng đến việc tu tập, hành trì hơn là lý thuyết, dù đề cập tới những tuệ giác sâu xa.

    Luật gồm những quy tắc hành trì, được đặt ra do kinh nghiệm trong cuộc sống tăng đoàn đầu tiên xuất gia theo Đức Phật. Mỗi lần có ai bị nghi ngờ là hành động không thích đáng, tăng đoàn lại thảo luận, đặt ra các quy tắc mới, những quy tắc đó là giới luật bảo vệ “uy nghi.” Phần thứ ba, Luận, gồm những bản tóm tắt, xếp đặt theo đề mục và giải thích những lời Phật dạy, do công trình các đệ tử của Phật và các luận sư trong nhiều đời sau.

    Hiện nay các kho kinh tạng Phật Giáo thế giới được gìn giữ trong ba ngôn ngữ chính. Tạng chữ Pali của Phật Giáo Nam Truyền, còn gọi là Theravada hay Nguyên Thủy. Các nước Bắc Tông, cũng gọi là Đại Thừa, dùng bản dịch chữ Hán. Phật Giáo Tây Tạng và Mông Cổ có bản dịch chữ Kanjur hoặc Tenjur. Phần lớn các bản chữ Pali, đã được dịch sang tiếng Anh. Các bản chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh gồm 55 bộ, mỗi bộ hàng ngàn trang chữ Hán. Các truyền bản chữ Tây Tạng gồm hơn 300 bộ. Hầu hết các kinh bản trong ba kho ngôn ngữ đều giống nhau trong ý nghĩa chính.

    Về nội dung, các kinh điển có thể phân chia thành ba kho tàng chính, tùy theo mục tiêu: Thanh Văn Tạng, Bồ Tát Tạng và Mật Tạng. Trong việc hành trì, Phật Giáo Nam Truyền ở Sri Lanka, Thái Lan, Miến Điện, Lào Campuchia, Việt Nam, chú trọng đến mục tiêu giác ngộ của hàng Thanh Văn, cao nhất là A La Hán. Phật Giáo Bắc Truyền ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản. Đài Loan, Hàn Quốc đề cao con đường tu tập của các vị Bồ Tát. Mật Tạng được thực tập nhiều nhất, dù không phải duy nhất, trong Phật Giáo Tây Tạng.

    Ba bộ phái Phật Giáo thật ra không phân cách, không đối nghịch với nhau, như trong các tôn giáo khác. Ngay từ hai ngàn năm trước, trong các tự viện theo phái Theravada vẫn có những vị tu học các hạnh nguyện của Bồ Tát. Các vị sư người Trung Hoa như Huyền Trang (thế kỷ thứ 7), Nghĩa Tịnh (thế kỷ thứ 8), đều kể lại sự kiện này ở khắp nơi đã đi qua, trong lục địa Ấn Độ hay Afghanistan và Pakistan bây giờ. Dù có nhiều tông phái Phật Giáo, nhưng dù ở phương Nam hay phương Bắc, tất cả đều thọ trì các giới luật giống nhau. Cả ba dòng Phật Giáo trên đều đang phát triển tại các nước Âu châu, Mỹ châu. Hiện nay 53 phần trăm những người theo Phật giáo ở các nước Bắc Tông, 36% thuộc phái Theravada và 6% theo học Kim Cang Thừa, Tây Tạng.

    Bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam mới ấn hành trong giai đoạn đầu phiên dịch Phần I là Thanh Văn Tạng, gồm 29 tập; trong đó có 16 tập thuộc Kinh tạng A-hàm, 6 tập thuộc Luật tạng, 5 tập Luận tạng, và hai kinh khác. Các học giả thực hiện Đại Tạng Kinh Việt Nam đã sử dụng bản chữ Hán làm gốc, đối chiếu với các bản chữ Phạn, chữ Pali và Tây Tạng để hiệu đính cho chính xác. Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ soạn thêm năm Tổng mục, tóm tắt nội dung, liệt kê mục lục và thư mục đối chiếu, so sánh các từ vựng Phạn-Hán, Pali-Việt-Hán.

    Ngày 21 Tháng 5 năm 2023 Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu, San Diego, hội trưởng Hội Ấn Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã ra Thông Báo cho biết 1,000 bộ Thanh Văn Tạng đã được chuyển từ kho nhà in ở Thái Lan tới các địa điểm tại Hoa Kỳ 330 bộ, Âu châu 320 bộ, Úc châu 200 bộ, Canada 100 bộ. Ước tính chi phí ấn hành và vận chuyển một bộ 29 tập khởi đầu là $250 USD.

    Ngày 3 tháng 6, Phương trượng Chùa Viên Giác, Hannover, Hòa Thượng Thích Như Điển, cùng khoảng 50 vị tăng ni và 400 Phật tử đã cung thỉnh Thanh Văn Tạng chuyển về đến chùa. Ngày 11 tháng Sáu, cùng một số tăng ni và cư sĩ đã họp mặt tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB) cùng vị Viện trưởng Chân Pháp Ấn đón nhận bộ Thanh Văn Tạng do Hòa Thượng Thích Như Điển gửi tặng. Ngày hôm sau, 10 bộ Thanh Văn Tạng được đưa tới Chùa Việt Nam ở Kanagawa, Nhật Bản; sau đó sẽ lần lượt cúng dường các chùa của người Việt và các trường Đại Học có chuyên khoa Phật học tại Nhật Bản. Các chùa ở Đài Loan cũng nhận được quà tặng Thanh Văn Tạng mới ấn hành để các Phật tử người Việt thêm cơ hội học hỏi.

    Bản tin Hoằng Pháp ngày 12 tháng Bảy, 2023 cho biết bản Thanh Văn Tạng đã được chuyển tới Sri Lanka (Tích Lan), trao cho Thượng toạ M. Dhammajothi, Giáo Sư Tiến Sĩ, Viện trưởng Viện Cao học Phật học và Pali của trường Đại học Kelaniya (PGIPBS); sau đến lượt các học viện tương tự thuộc Đại học Peradeniya và Đại Học Phật Giáo và Pali (BPU).

    Một tin tức đặc biệt nhất, theo bản tin Hoằng Pháp của Hội đồng Hoằng Pháp, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngày 15 Tháng 5, các Đại đức Thích Chúc Hiếu và Thích Tâm Luân đã cung thỉnh Thanh Văn Tạng tại Văn phòng Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, tại chùa Phật Ân, Long Thành, Đồng Nai. Ngoài ra, có người ở trong nước đã “in lậu” bộ Thanh Văn Tạng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà không xin phép! Theo thông báo ngày 21 Tháng 5 năm 2023 của Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu, ấn bản lậu này chỉ có 28 cuốn, thay vì đủ 29 cuốn. Trên trang bìa trước và trang lót, người in trái phép đã xóa bỏ những hàng chữ “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” và “Hội Đồng Hoằng Pháp.”

    Trong buổi ra mắt bộ Thanh Văn Tạng mới ấn hành ở Quận Cam, miền Nam California, một Phật tử đã xin đóng góp cho các chi phí cho các công trình in ấn tiếp tục trong tương lai. Trong kế hoạch tương lai sẽ còn có khoảng 220 tập được phiên dịch trong vòng 10 năm tới, do Hội Việt Nam Tripitaka Foundation, California thực hiện.

    Những tin tức trên đây, với đầy đủ hình ảnh kèm theo, cho thấy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn hoạt động, ở khắp thế giới cũng như ở trong nước. Đối với người Việt Nam theo đạo Phật, đây là điều rất đáng phấn khởi.

    Ngô Nhân Dụng

    /* nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/giao-...p/7187631.html
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  2. #132
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post
    My Zen teacher, Samu Sunim, says that people have to be miserable to discover Buddhism
    Phiền Não Tức Bồ Đề

    https://www.youtube.com/watch?v=W3I1rxihOpw

  3. #133
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post
    Phiền Não Tức Bồ Đề

    https://www.youtube.com/watch?v=W3I1rxihOpw

    Không có phiền não và cũng không có bồ đề.

    (theo Trung quán luận)
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  4. #134
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446



    ĂN CHAY và TRỨNG GÀ



    Nhân nghe bài pháp của cố pháp sư Tịnh Không rồi không biết lúc nào lại lan man đến trang www.niemphat.vn. Có lẽ do pháp sư Tịnh Không tu theo phái Tịnh Độ, nghĩa là phái tu nhất niệm, chỉ có niệm Phật cầu giác ngộ.

    Trên trang này lại thấy có đoạn này, đọc thấy tức cười. Đoạn văn trả lời về chuyện "Ăn chay và ăn trứng" như sau:

    Quote Originally Posted by https://www.niemphat.vn/an-chay-co-an-trung-duoc-khong
    Hòa Thượng Tuyên Hóa là một bậc cao tăng thời cận đại (1918 – 1995) cũng đã có lời dạy: “Bạn cho rằng ăn chay thì ăn trứng cũng được? Cũng được! Chờ tới khi bạn đầu thai làm gà rồi khi đó bạn sẽ hiểu (phận làm gà) chính do ăn trứng gà mà ra”. Xin được trích đoạn câu trả lời của Hòa thượng Tuyên Hóa dạy, khi có đệ tử hỏi về việc này như sau:

    Hỏi: Là đệ tử Phật thì có thể ăn trứng không?

    Đáp: Nếu quý vị thèm muốn ăn những thứ dinh dưỡng đó, thì cần gì phải hỏi tôi?

    Hỏi: Tại sao người ăn chay không được ăn trứng?

    Đáp: Không có gà trống, gà mái cũng có thể ấp trứng nở ra gà con như thường. Ngày xưa người ta không hiểu điều này nên họ nói là, nếu trứng không có trống thì không thể nở ra gà con. Nhưng lối nói này cũng không có gì làm chứng cớ. Tại sao người ăn trứng lại lý luận như thế? Tức là vì họ muốn ăn trứng đó mà. Bất luận trứng có trống hay không có trống, nó đều có thể sanh ra gà con, chớ không phải không thể sanh đâu. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói “Noãn duy tưởng sanh,” tức trứng do tưởng mà sanh ra.
    Phụ nữ cũng vậy, con gà mái cũng vậy, trứng mà không thụ tinh không thể nào thành mầm mống con gà con được. Cho nên câu "Nhưng lối này cũng không có gì làm chứng cớ" là sai. Thời nay mà trên những trang phổ biến Phật học mà đăng tải luận cứ như vậy là không thể chấp nhận.

    Tuy nhiên hòa thượng Tuyên Hóa nói một câu có lý lẽ là "Nếu quý vị thèm muốn ăn những thứ dinh dưỡng đó, thì cần gì phải hỏi tôi?"

    Bây giờ chúng ta thử nghe pháp sư Tịnh Không nói thế nào về việc này:





    Trích đoạn tiểu sử cố pháp sư Tịnh Không:

    Chin Kung AM (淨空; pinyin: Jìngkōng; 13 March 1927 – 26 July 2022)[1] was a Chinese Buddhist monk and scholar from the Mahayana tradition. He was the founder of the Corporate Body of the Buddha Educational Foundation, an organization based on the teachings of Pure Land Buddhism. He was known for his teaching of Pure Land Buddhism and work in promoting inter-faith harmony in Australia and the Asia-Pacific region.

    He was born in Lujiang County, Anhui, China as Hsu Yeh-hong (徐業鴻, Xú Yèhóng),[2] and received some classical Confucian education from a tutor in his hometown. At the age of ten, he moved with his family to Fujian where his father was posted as a chief secretary for the country government. When the Second Sino-Japanese War erupted, Hsu's father joined the National Revolutionary Army.[3] Due to the disruptions of war, which he described as 'unsettling and traumatic', he had to hike with other schoolchildren further inland to Guizhou province in the southwest to avoid battlefront areas.[3] He studied at the National Third Kuichou High School during the Second World War, and then at Nanking First Municipal High School following the war.[4] His formal secular education ended in 1947, when his father died, depriving the family of their only breadwinner.[3]

    In 1949, after the communist victory in the Chinese Civil War,[3] he moved to Taiwan and spent thirteen years as a clerk at the Shihchien Institute, a training institution for military officers,[3] studying Buddhism and Philosophy in his spare time under the guidance of Professor Fang Tung-mei (方東美), Changkya Khutukhtu (章嘉呼圖克圖 a master in Mongolian Buddhism), and lay teacher Lee Ping-nan (李炳南). He entered the monastic life in 1959, and was ordained at Lintzi Temple at Yuanshan in Taipei, Taiwan. It was then that he received the dharma name of Chin Kung, meaning "pure emptiness".[4] He started studying under Lee Ping-nan in Taizhong in 1958 and trained under him for ten years.[5] At the time, there was an oversupply of monks in Taipei, due to an influx of refugees from mainland China, and there was not enough positions in temples for them. Furthermore, associates of Lee were viewed unfavourably by the establishment, as lay dharma teacher Lee was frowned upon for intruding into what was seen as the domain of ordained monks.[5]

    /* nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Chin_Kung


    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  5. #135
    “Paṭācārā, đừng phiền muộn. Ngươi đã đến với người có thể là nơi ẩn trú, nơi che chở, nơi nương tựa cho ngươi. Những điều ngươi kể đều đúng cả. Cho đến ngày nay, qua biết bao nhiêu vòng luân hồi, ngươi đã khóc vì mất con, mất người thân, nước mắt rơi nhiều hơn nước bốn biển.”

    Gần Xa

    Gần, xa nói về không gian. Dùng cho thời gian cũng được.

    Lấy không gian chia cho thời gian, mình được cái gì?

    Thời nhỏ ai cũng học đường dài = vận tốc * thời gian. Quảng đường càng ngắn thì thời gian đi càng ngắn. Và ngược lại. Quá đúng.

    Every rule has exception. Sau này mình mới biết không phải luôn luôn như vậy.

    Ngày nay, con người có thể thám hiểm vạn, vạn dặm xa. Từ lặn xuống hố sâu nhất ở Thái Bình Dương đến chinh phục ngọn núi cao nhất trên Hy Mã Lạp Sơn. Từ tìm ra hạt quark vô cùng nhỏ tới bay lên mặt trăng, gửi phi thuyền thám hiểm ra ngoài thái dương hệ, nhìn ra các dãi Ngân Hà vô cùng lớn xa triệu tỉ năm ánh sáng.

    Chỉ một điều: không mấy ai chịu quay vào trong để tìm hiểu, thám hiểm cái cách mình có vài ly. “He who knows others is smart. He who knows himself is enlightened.” Tất cả đều đi ra, ra ngoài, tìm tòi bên ngoài. Bỏ cái bên trong, bỏ quên công trình huyền diệu nhất của tạo hóa: Thám hiểm cái rất gần (về không gian) mà lại rất xa (về thời gian).

    Nói gần cũng đúng mà xa cũng được. Gần vì ngay trước (sau?) mắt mình. Không cần, không phải đi đâu hết. Không phải trèo đèo lội suối. Không cần nhiều tiền, dụng cụ tinh vi, tối tân, máy móc điện tử, tầu ngầm, tầu không gian… gì cả. Cũng không cần thông minh, thần đồng, bằng cấp (Lục tổ Huệ Năng không biết chữ). Mình chỉ quay vào trong nhìn lại chính mình (seeing the-self). Thế thôi.

    Xa vì lâu lắm rồi, đã qua lủy, lủy kiếp luân hồi mà mình vẫn không tìm thấy mình, không thoát ra khỏi được cái khổ của sinh tử. Quành đi quành lại trong vô lượng kiếp, vô lượng nước mắt.

    Con đường đã có. Đã có người đi. Và đến. Chỉ mình không chịu đi thôi. Lại bảo xa. Khi khổ đến, lại khóc.

    Người trí thấy khổ khi khổ còn chưa đến (Thái tử Siddhartha bỏ cung điện đi khi ngài còn trong nhung lụa). Kẻ mê thấy hiện tại vui sướng là vui rồi, chẳng cần nghĩ xa. Ngày không thể nắng hoài. Mùa không thể xuân hoài. Cái giường đắt nhất thế gian là giường bệnh. Khi nước đến chân rồi làm sao nhảy kịp?

    Xa hay gần do tâm, không do vật. Nhớ câu “đường đi khó, không khó…” không?

    “Mạc đạo Tây phương cận
    Tây phương thập vạn trình
    Di Đà thùy tiếp dẫn
    Vô tử diệc vô sanh

    Mạc đạo Tây phương viễn
    Tây phương tại mục tiền
    Thủy lưu quy đại hải
    Nguyệt lạc bất ly thiên”


    (st)

  6. #136
    Cách Xưng Hô trong Phật Giáo Việt Nam
    Thích Chân Tuệ

    Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:

    1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
    2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
    3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy (hay Sư phụ), người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy? Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
    4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng “con” được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là “con” với vị xuất gia?
    5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?

    Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, chúng ta cần thông qua các điểm sau đây:

    1) Chư Tổ có dạy: “Phật pháp tại thế gian”. Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời. Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời. Chư Tổ cũng có dạy: “Hằng thuận chúng sanh”. Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.

    2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp: Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh. Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi. Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy. Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.

    3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo. Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra. Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp). Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời. Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.

    Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ. Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là “khu ô sa di” (sa di đuổi quạ).

    Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có. Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni. Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.

    Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch), không phải thụ giới nào cao hơn. Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông, nam tông không có giới này. Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.

    Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng như sau theo hiến chương của giáo hội Phật giáo:

    1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
    2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
    3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.

    Còn đối với bên nữ (ni bộ):

    4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
    5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
    6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).

    Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của giáo hội Phật giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp đại lễ hay đại hội Phật giáo, trong các giới đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.

    Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ. Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ. Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ. Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: “Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni”, chính là nghĩa đó vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni. Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai.

    Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở giáo hội Phật giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại tùng lâm, Phật học viện, Tu viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các giáo hội Phật giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).

    Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.

    1) Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách). Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư). Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.

    2) Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy. Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni, xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.

    3) Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là “quí Phật tử”. Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật tử, chứ không riêng tại gia là Phật tử mà thôi. Việc một Phật tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng, không nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.

    4) Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp. Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di (Tín nữ, Cận sự nữ).

    5) Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng “con” trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm “con” của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng “con” trong giáo pháp của đức Phật.

    6) Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, đảm nhận trọng trách, nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.

    7) Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư ông, Sư cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.

    8) Danh xưng Sư tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo. Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.

    9) Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh. Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức. Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức.

    10) Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Thường bất khinh Bồ tát, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. Cho nên đơn giản nhất là “xưng con gọi Thầy”. Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.

    Tóm lại, ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng.

    Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị tại gia phát tâm tu tập, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ, nếu có, trong nhà đạo. Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi. Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia cũng như xuất gia. Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm, chính là nghĩa như vậy.

    Cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt, thế thôi! Đó là phần tu tâm.

    Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng tu tâm dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải thoát, đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia.

    Đó chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy.

  7. #137
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446



    Tui rất ít đi chùa, vì chùa ở xa nhà quá, nhưng khi có dịp và gặp các vị tu sĩ, tôi xưng là tôi, gọi họ là thầy, thứ nhất là lâu lâu mới đi, đôi khi gặp các tu sĩ trẻ măng, đoán rằng từ Việt Nam sang tu học, không biết họ là sa di hay tì kheo v.v.v.v, kế đến, tất cả các vị tu sĩ đứng về phía tâm linh chắc chắn đều đáng bậc thầy. Nên tôi gọi thầy cho tiện.

    Các vị tu sĩ trẻ cũng có nhiều người rất dễ thương, họ còn gọi tui bằng bác Minh Phước và xưng là con ngon ơ. Vui vẻ, hòa đồng. Tui thật ngưỡng mộ.

    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  8. #138
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446



    Sau cùng tinh hoa của Phật giáo Việt Nam cũng không còn nữa.




    Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị trưởng lão uyên bác, viên tịch ở tuổi 81


    Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch sau hơn một năm trở thành lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất

    Đại lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị trưởng lão nổi tiếng uyên bác, thông tuệ của Phật giáo Việt Nam đồng thời được xem là lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa viên tịch sau một thời gian lâm bệnh nặng.

    Báo Giác Ngộ, tờ báo của Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã viên tịch vào lúc 16 giờ chiều ngày 24/11 năm 2023 tại chùa Phật Ấn, tỉnh Đồng Nai, nơi ông về cư ngụ trong những năm cuối đời.

    Hòa thượng đã ngã bệnh kể từ đầu tháng 9 và đã được đưa vào Bệnh viện Quốc tế Mỹ ở Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.

    Hồi tháng 9 năm ngoái, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã công bố di chúc của Đức Đệ Ngũ Tăng thống – Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ - về việc tái lập Hội đồng Giáo phẩm Trung ương. Sau khi tái lập, cơ quan này đã suy cử ông làm Chánh Thư ký kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất – tổ chức không được Nhà nước Việt Nam thừa nhận.

    Kể từ đó, ông đã lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Giáo hội, trong đó chủ yếu là chọn lọc và bổ sung thêm thành viên cho Hội đồng Phiên dịch Đại Tạng Kinh để tiếp tục công việc dịch kinh điển Đại thừa. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hội đồng đã dịch và in xong 29 tập của bộ Thanh Văn Kinh, một phần của Đại Tạng Kinh, và đã cho công bố hồi đầu năm nay.

    Sinh năm 1943 tại Paksé, Lào, có nguyên quán tại tỉnh Quảng Bình, Hòa thượng Tuệ Sỹ có con đường tu học trải từ Sài Gòn đến Huế và Nha Trang. Ông thọ giáo với những vị trưởng lão hàng đầu của Phật giáo Việt Nam như Thích Thiện Siêu và Thích Trí Thủ.

    Ông được biết đến là một trong những vị cao tăng thông tuệ nhất của Phật giáo Việt Nam với những công trình nghiên cứu, khảo luận về Thiền học và Phật học. Cả cuộc đời ông chủ yếu tập trung vào các sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy và dịch kinh điển Phật giáo ra tiếng Việt.

    Hòa thượng tốt nghiệp Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn và sau đó là Viện Đại học Vạn Hạnh khi mới 22 tuổi, và được Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, đặc cách bổ nhiệm làm giáo sư khi mới 27 tuổi – giáo sư trẻ nhất vào lúc đó – và làm tổng thư ký tạp chí Tư Tưởng của Viện.

    Bên cạnh là nhà nghiên cứu, nhà giáo, dịch giả, Hòa thượng Tuệ Sỹ còn là nhà thơ, nhà văn có nhiều tác phẩm đã xuất bản, trong đó nổi bật như ‘Triết học về tánh Không’, ‘Đại cương về thiền quán’, ‘Tổng quan về nghiệp’, ‘Thiền định Phật giáo’, ‘Huyền thoại Duy-ma-cật’, ‘Du-già Bồ-tát giới’, ‘Tô Đông Pha, Những phương trời viễn mộng’ và những tập thơ như ‘Giấc mơ Trường Sơn’, ‘Thiên lý độc hành’, ‘Hoàng cầm tình khúc’…

    Các bộ kinh mà Hòa thượng đã dịch và được phổ biến rộng rãi đến các Phật tử trong đó chủ yếu tạng kinh A-hàm bao gồm các bộ Trường A-hàm, Trung A-hàm và Tạp A-hàm. Ông thông thạo tiếng Phạn, tiếng Tạng, tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…

    Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ từng bị chính quyền cộng sản bắt vào năm 1984 tại chùa Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp và bị kết án tử hình 4 năm sau đó về tội ‘Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân’ cùng với Hòa thượng Thích Trí Siêu. Nhưng đến năm 1998, nhờ áp lực quốc tế, ông được thả.

    Ông từng bất đồng với tôn sư của ông là Hòa thượng Thích Trí Thủ - người dẫn đầu công cuộc vận động thống nhất Phật giáo vào năm 1981và sau này trở thành Chủ tịch Hội đồng Trị sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Nhà nước thành lập.

    Hòa thượng Thích Minh Tâm, viện chủ chùa Phật Ấn và là người gần gũi săn sóc Hòa thượng Tuệ Sỹ lúc cuối đời, từng kể với VOA rằng ông ‘luôn trăn trở về sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn còn nội ma ngoại chướng nhiều’.

    /* nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/hoa-t...1/7368609.html

    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  9. #139
    Biệt Thự dulan's Avatar
    Join Date
    Nov 2011
    Posts
    3,191
    Quote Originally Posted by Triển View Post



    Sau cùng tinh hoa của Phật giáo Việt Nam cũng không còn nữa.




    Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị trưởng lão uyên bác, viên tịch ở tuổi 81


    Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch sau hơn một năm trở thành lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất


    ...



    KÍNH TIỄN HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ!







    ...



  10. #140
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,446

    "xá lợi tóc"




    Chuyện gian hàng bán Phật ở chùa Ba Vàng


    Thích Trúc Thái Minh


    Chỉ trong vài ngày, đại sự kiện được gọi là chiêm bái xá lợi tóc ở chùa Ba Vàng do ông Thích Trúc Thái Minh tổ chức đã để lại muôn vàn suy nghĩ cho nhiều người về đạo Phật hôm nay.

    Trong lời quảng bá về sự kiện này, ngày 23 Tháng Mười Hai, ông Thích Trúc Thái Minh viết trên Facebook cá nhân, nói là đã thỉnh được một sợi tóc của Đức Phật Thích Ca từ quyền sở hữu của chùa Parami và Bảo tàng Xá Lợi Phật Quốc tế Parami, thành phố Yangon, Myanmar do Thượng tọa Sayadaw U Wepulla làm trụ trì.

    Ngày hội thúc giục đến xem “xá lợi tóc”, về mặt tạo thương hiệu, đúng là đã thành công mỹ mãn khi khiến hàng ngàn người ở miền Bắc tụ về, làm chật cả những con đường đi đến chùa Ba Vàng. Họ xếp hàng rồng rắn đi từng bước để được nhìn thấy một sợi tóc lơ lửng di chuyển. Thật như một phép lạ khi sợi tóc của Đức Phật lại uyển chuyển lay động. Trong các bức ảnh và video của phát trên các trang mạng, gương mặt nhiều cụ già vừa sợ hãi vừa sùng kính, tròn miệng nhìn sợi tóc đó.

    Chỉ một ngày sau sự kiện chấn động ở chùa Ba Vàng – một ngày trước lễ Giáng sinh – thu hút không chỉ dân trong vùng, mà gần như toàn bộ người dân miền Bắc mộ tín, tin tức và hình ảnh đã lan nhanh tới miền Nam, đồng thời xuất hiện cùng những lời tố giác của không ít người, về sợi tóc huyền bí lơ lửng như vậy. Rất nhiều dẫn chứng cho thấy, vật thể đó, được gọi tên là “xá lợi”, được bán dẫy đầy trên shopee – một hệ thống mua bán trực tuyến rất quen thuộc trong nước, giá dao động từ 500 đến 900 ngàn đồng.

    Nhiều người cũng chỉ ra, đây không là tóc, mà là một loại cỏ, tên thường gọi là pili (tên khoa học là heteropogon contortus). Ở một số làng quê Việt Nam, cỏ này hay gọi là cỏ Đồng Hồ. Rất lạ, cỏ này khô, khi gặp nước thì tự chuyển động. Cũng có người trình diễn trực tuyến “xá lợi tóc” mà họ có được, cùng sự mỉa mai.


    Chùa càng to, sư sãi càng kiếm nhiều tiền, Phật giáo Việt Nam ngày càng suy sụp


    Chùa Ba Vàng im lặng trước các phát hiện đời thường này, không trả lời gì về các câu hỏi của bất kỳ ai đặt ra, ở các trang liên quan đến chùa. Nhưng ngược lại thì rất nhiều đệ tử của ông ta xuất hiện ở mọi nơi để nguyền rủa về những kẻ “không hiểu biết”, rằng họ sẽ bị đọa đày xuống địa ngục. Họ “giảng” bằng những bài luận sâu sắc rằng đây là chuyện mà kẻ phàm phu không thể hiểu. Nhưng điều quan trọng nhất mà người ta nhìn thấy Phật giáo miền Bắc sau nhiều năm phát triển rối loạn là sự hỗn mang của mê tín nhân danh Phật giáo.

    Hầu hết lời phản ứng và vạch trần đều xuất hiện từ những người Phật tử ở miền Nam. Một số vị thầy tu không kiềm chế được cũng viết đôi ba lời xa gần để chê cười câu chuyện trục lợi của chùa Ba Vàng.

    Phải nói, từ câu chuyện này, mới thấy sự khác biệt rõ của nội hàm Phật giáo miền Bắc và miền Nam. Thật cảm phục trước sức mạnh bản thể của Phật giáo ở miền Nam, vốn trải rộng từ thế kỷ trước, đã tạo ra một tín ngưỡng nguyên khôi và sâu rộng ở mỗi con người, đủ để hàng triệu người theo Phật về sau, biết, tỉnh táo và ghê sợ trước câu chuyện hoang đường mang dấu ấn chùa Ba Vàng nói riêng, và cả phía Bắc nói chung.

    Chỉ ở miền Bắc mới có những người mộ tín đến chùa và nhét tiền vào tay tượng Phật để thể hiện một tinh thần vay-trả: Tiền đặt xuống để đổi lấy ân phước ngày sau. Kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam do nhà nước quản lý hình thành từ năm 1981, có một loại ngôn từ phát triển rầm rộ thúc hối người đến chùa phải tận hiến cúng dường, thậm chí phải đóng góp tiền bạc, không được tiếc nuối, để chuộc lại những tội lỗi tiền kiếp, hiện kiếp của mình.

    Thích Trúc Thái Minh, kẻ được coi như là một thủ lãnh trong việc tạo tiền của cho chùa Ba Vàng và là gương “điển hình học tập” của nhiều chùa nhà nước hiện nay, từng có phát ngôn khiến sững sờ nhiều người, rằng “nghèo khó càng phải nên cúng dường để có thể thoát nghèo”. Trong một video thuyết giảng, Thích Trúc Thái Minh còn nói rằng “tại sao lại bỏ tiền cúng dường, vì Phật dạy là phải cúng dường”.

    Nói để biết, là trong cuộc trình diễn sợi tóc lơ lửng của chùa Ba Vàng trong mùa Giáng sinh ở Việt Nam, số người đến chiêm bái sự huyễn hoặc đó kèm theo việc cúng dường hiển nhiên đã làm cho chùa Ba Vàng bội thu trong mùa cuối năm này. Rất công phu cho chuyện marketing cọng cỏ lơ lửng, Thích Trúc Thái Minh còn làm cả một video hoằng pháp về chuyện “Phước báo cúng dường xá lợi Phật”. Rất giỏi thao túng tâm lý và tác động quần chúng u mê, Thích Trúc Thái Minh đã kinh doanh Phật giáo như một món hàng tín ngưỡng. Tiền thu được của chùa Ba Vàng từ tín đồ từng được báo Tuổi Trẻ ghi nhận là “một tháng thu hơn bốn tỷ đồng”.

    Chuyện làm giàu ở các chùa không phải chỉ riêng ở chùa Ba Vàng mà gần như ở tất cả các chùa của nhà nước biết hưởng lợi thế của thời thu tiền tự do. Sốt ruột trước những số tiền không biết về đâu như vậy và làm giàu cho những người mặc áo vàng da trắng mặt trơn, Bộ Tài chính Việt Nam từng ra công văn số 11752/BTC-HCSN, buộc kiểm tra và báo cáo kết quả về công tác quản lý tiền công đức.

    Suốt nhiều thập niên, nhà nước Việt Nam cố gắng dựng nên một “đạo Phật mới” trải rộng của thời đại cộng sản, với sự hỗ trợ của những kẻ lãnh đạo Phật giáo có khả năng thu hút công chúng. Điều này cũng có nghĩa, một khi “Giáo hội mới” phát triển thì cũng sẽ khiến người ta quên đi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội truyền thống có từ năm 1964 ở Việt Nam.

    Nhưng đến ngày hôm nay, thì nhìn lại, mọi chuyện dường như đã vượt khỏi sự kiểm soát của những người suy tính về một Giáo hội Phật giáo mới. Những “thủ lĩnh áo vàng mới” đều là những kẻ không đủ đức độ cũng như học thuật, và một khi chạm tay vào danh và lợi, thì những thủ lĩnh đó chỉ còn kịp khoác chiếc áo và cất lời hô xung trận kiếm tiền. Nếu không “leo” lên hệ thống trực tuyến để nói những lời điên dại tấn công những tôn giáo khác nhằm chứng minh sự đắc lực của mình thì họ cũng truyền bá những điều quái dị u mê nhân danh Phật giáo, để làm mê hoặc tín đồ.

    Những “thủ lĩnh áo vàng” ngày càng lộ nguyên hình là những kẻ buôn thần bán thánh, những nhà thu hút đầu tư và tài chính từ hàng hàng lớp lớp những “thiện nam, tín nữ” mù dốt Phật pháp nhưng mê đắm “chùa to, Phật lạ”. Những “thủ lĩnh áo vàng” giỏi mở các gian hàng buôn bán Phật, độc quyền và thao túng, trong sự dõi theo bất lực của chính những kẻ dựng nên hình hài cho họ.


    Tuấn Khanh
    29 tháng 12, 2023

    /* src.: https://saigonnhonews.com/thoi-su/vi...-chua-ba-vang/
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

 

 

Similar Threads

  1. Vào chùa Việt
    By Dân in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 1
    Last Post: 11-20-2013, 05:50 AM
  2. Học chùa
    By Triển in forum Giáo Dục
    Replies: 2
    Last Post: 06-29-2013, 10:11 PM
  3. Các Ni sư tự xây chùa Ni Viên Thông Tự ở Houston, Texas
    By Mây Hồng in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 10-07-2012, 10:29 AM
  4. Lên chùa cúng sao
    By Triển in forum Khoa Huyền Bí Học
    Replies: 69
    Last Post: 03-16-2012, 10:46 AM
  5. Con sãi ở chùa lại quét lá đa
    By Triển in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 2
    Last Post: 11-15-2011, 10:25 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 07:26 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2024 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh