Register
Page 15 of 15 FirstFirst ... 5131415
Results 141 to 147 of 147

Thread: Coi chùa

  1. #141
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    686
    Quote Originally Posted by Triển View Post



    Chuyện gian hàng bán Phật ở chùa Ba Vàng


    Thích Trúc Thái Minh


    Chỉ trong vài ngày, đại sự kiện được gọi là chiêm bái xá lợi tóc ở chùa Ba Vàng do ông Thích Trúc Thái Minh tổ chức đã để lại muôn vàn suy nghĩ cho nhiều người về đạo Phật hôm nay.

    Trong lời quảng bá về sự kiện này, ngày 23 Tháng Mười Hai, ông Thích Trúc Thái Minh viết trên Facebook cá nhân, nói là đã thỉnh được một sợi tóc của Đức Phật Thích Ca từ quyền sở hữu của chùa Parami và Bảo tàng Xá Lợi Phật Quốc tế Parami, thành phố Yangon, Myanmar do Thượng tọa Sayadaw U Wepulla làm trụ trì.

    Ngày hội thúc giục đến xem “xá lợi tóc”, về mặt tạo thương hiệu, đúng là đã thành công mỹ mãn khi khiến hàng ngàn người ở miền Bắc tụ về, làm chật cả những con đường đi đến chùa Ba Vàng. Họ xếp hàng rồng rắn đi từng bước để được nhìn thấy một sợi tóc lơ lửng di chuyển. Thật như một phép lạ khi sợi tóc của Đức Phật lại uyển chuyển lay động. Trong các bức ảnh và video của phát trên các trang mạng, gương mặt nhiều cụ già vừa sợ hãi vừa sùng kính, tròn miệng nhìn sợi tóc đó.

    Chỉ một ngày sau sự kiện chấn động ở chùa Ba Vàng – một ngày trước lễ Giáng sinh – thu hút không chỉ dân trong vùng, mà gần như toàn bộ người dân miền Bắc mộ tín, tin tức và hình ảnh đã lan nhanh tới miền Nam, đồng thời xuất hiện cùng những lời tố giác của không ít người, về sợi tóc huyền bí lơ lửng như vậy. Rất nhiều dẫn chứng cho thấy, vật thể đó, được gọi tên là “xá lợi”, được bán dẫy đầy trên shopee – một hệ thống mua bán trực tuyến rất quen thuộc trong nước, giá dao động từ 500 đến 900 ngàn đồng.

    Nhiều người cũng chỉ ra, đây không là tóc, mà là một loại cỏ, tên thường gọi là pili (tên khoa học là heteropogon contortus). Ở một số làng quê Việt Nam, cỏ này hay gọi là cỏ Đồng Hồ. Rất lạ, cỏ này khô, khi gặp nước thì tự chuyển động. Cũng có người trình diễn trực tuyến “xá lợi tóc” mà họ có được, cùng sự mỉa mai.


    Chùa càng to, sư sãi càng kiếm nhiều tiền, Phật giáo Việt Nam ngày càng suy sụp


    Chùa Ba Vàng im lặng trước các phát hiện đời thường này, không trả lời gì về các câu hỏi của bất kỳ ai đặt ra, ở các trang liên quan đến chùa. Nhưng ngược lại thì rất nhiều đệ tử của ông ta xuất hiện ở mọi nơi để nguyền rủa về những kẻ “không hiểu biết”, rằng họ sẽ bị đọa đày xuống địa ngục. Họ “giảng” bằng những bài luận sâu sắc rằng đây là chuyện mà kẻ phàm phu không thể hiểu. Nhưng điều quan trọng nhất mà người ta nhìn thấy Phật giáo miền Bắc sau nhiều năm phát triển rối loạn là sự hỗn mang của mê tín nhân danh Phật giáo.

    Hầu hết lời phản ứng và vạch trần đều xuất hiện từ những người Phật tử ở miền Nam. Một số vị thầy tu không kiềm chế được cũng viết đôi ba lời xa gần để chê cười câu chuyện trục lợi của chùa Ba Vàng.

    Phải nói, từ câu chuyện này, mới thấy sự khác biệt rõ của nội hàm Phật giáo miền Bắc và miền Nam. Thật cảm phục trước sức mạnh bản thể của Phật giáo ở miền Nam, vốn trải rộng từ thế kỷ trước, đã tạo ra một tín ngưỡng nguyên khôi và sâu rộng ở mỗi con người, đủ để hàng triệu người theo Phật về sau, biết, tỉnh táo và ghê sợ trước câu chuyện hoang đường mang dấu ấn chùa Ba Vàng nói riêng, và cả phía Bắc nói chung.

    Chỉ ở miền Bắc mới có những người mộ tín đến chùa và nhét tiền vào tay tượng Phật để thể hiện một tinh thần vay-trả: Tiền đặt xuống để đổi lấy ân phước ngày sau. Kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam do nhà nước quản lý hình thành từ năm 1981, có một loại ngôn từ phát triển rầm rộ thúc hối người đến chùa phải tận hiến cúng dường, thậm chí phải đóng góp tiền bạc, không được tiếc nuối, để chuộc lại những tội lỗi tiền kiếp, hiện kiếp của mình.

    Thích Trúc Thái Minh, kẻ được coi như là một thủ lãnh trong việc tạo tiền của cho chùa Ba Vàng và là gương “điển hình học tập” của nhiều chùa nhà nước hiện nay, từng có phát ngôn khiến sững sờ nhiều người, rằng “nghèo khó càng phải nên cúng dường để có thể thoát nghèo”. Trong một video thuyết giảng, Thích Trúc Thái Minh còn nói rằng “tại sao lại bỏ tiền cúng dường, vì Phật dạy là phải cúng dường”.

    Nói để biết, là trong cuộc trình diễn sợi tóc lơ lửng của chùa Ba Vàng trong mùa Giáng sinh ở Việt Nam, số người đến chiêm bái sự huyễn hoặc đó kèm theo việc cúng dường hiển nhiên đã làm cho chùa Ba Vàng bội thu trong mùa cuối năm này. Rất công phu cho chuyện marketing cọng cỏ lơ lửng, Thích Trúc Thái Minh còn làm cả một video hoằng pháp về chuyện “Phước báo cúng dường xá lợi Phật”. Rất giỏi thao túng tâm lý và tác động quần chúng u mê, Thích Trúc Thái Minh đã kinh doanh Phật giáo như một món hàng tín ngưỡng. Tiền thu được của chùa Ba Vàng từ tín đồ từng được báo Tuổi Trẻ ghi nhận là “một tháng thu hơn bốn tỷ đồng”.

    Chuyện làm giàu ở các chùa không phải chỉ riêng ở chùa Ba Vàng mà gần như ở tất cả các chùa của nhà nước biết hưởng lợi thế của thời thu tiền tự do. Sốt ruột trước những số tiền không biết về đâu như vậy và làm giàu cho những người mặc áo vàng da trắng mặt trơn, Bộ Tài chính Việt Nam từng ra công văn số 11752/BTC-HCSN, buộc kiểm tra và báo cáo kết quả về công tác quản lý tiền công đức.

    Suốt nhiều thập niên, nhà nước Việt Nam cố gắng dựng nên một “đạo Phật mới” trải rộng của thời đại cộng sản, với sự hỗ trợ của những kẻ lãnh đạo Phật giáo có khả năng thu hút công chúng. Điều này cũng có nghĩa, một khi “Giáo hội mới” phát triển thì cũng sẽ khiến người ta quên đi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội truyền thống có từ năm 1964 ở Việt Nam.

    Nhưng đến ngày hôm nay, thì nhìn lại, mọi chuyện dường như đã vượt khỏi sự kiểm soát của những người suy tính về một Giáo hội Phật giáo mới. Những “thủ lĩnh áo vàng mới” đều là những kẻ không đủ đức độ cũng như học thuật, và một khi chạm tay vào danh và lợi, thì những thủ lĩnh đó chỉ còn kịp khoác chiếc áo và cất lời hô xung trận kiếm tiền. Nếu không “leo” lên hệ thống trực tuyến để nói những lời điên dại tấn công những tôn giáo khác nhằm chứng minh sự đắc lực của mình thì họ cũng truyền bá những điều quái dị u mê nhân danh Phật giáo, để làm mê hoặc tín đồ.

    Những “thủ lĩnh áo vàng” ngày càng lộ nguyên hình là những kẻ buôn thần bán thánh, những nhà thu hút đầu tư và tài chính từ hàng hàng lớp lớp những “thiện nam, tín nữ” mù dốt Phật pháp nhưng mê đắm “chùa to, Phật lạ”. Những “thủ lĩnh áo vàng” giỏi mở các gian hàng buôn bán Phật, độc quyền và thao túng, trong sự dõi theo bất lực của chính những kẻ dựng nên hình hài cho họ.


    Tuấn Khanh
    29 tháng 12, 2023

    /* src.: https://saigonnhonews.com/thoi-su/vi...-chua-ba-vang/

  2. #142
    Chùa núi Big Bear
    PHÚC QUỲNH

    “Một khối khí lạnh sẽ tiến vào khu vực trong ngày hôm nay và thứ Hai, có gió thổi rất mạnh, mưa sẽ rơi ở vùng thấp và tuyết trên núi. Mưa sẽ đến từ lúc sớm trưa.”

    Đọc xong mục tóm lược thời tiết trên báo Los Angeles Times để biết về tình trạng mưa gió trong ngày như thế nào, tôi chợt e ngại, không biết có nên xét lại chuyện lái xe lên núi San Bernardino vào sáng Chủ Nhật để thăm một tu viện mà chúng tôi chưa hề đặt chân đến bao giờ, không quen một ai ở trên đó, chỉ có một số điện thoại mà mấy tuần trước vợ tôi có gọi và được nghe một vị sư căn dặn, “Cô đừng lái xe lên đây một mình, phải có người đưa cô lên đây, đường lên núi vòng vèo, nguy hiểm lắm.” (Thầy đừng lo, vợ tôi lúc nào cũng có ông chồng “tình nguyện” làm tài xế lái xe đưa rước.)

    Lần nói chuyện ấy xảy ra trong một ngày chớm thu, thời tiết còn ấm áp như mùa hè trên khắp Nam California, nên tôi còn lạc quan tếu, không mảy may quan tâm đến lời dặn dò của một vị tăng mà tôi chưa biết mặt, cũng không biết tu viện mới này có tên hay không. Vợ tôi từng nghe sư Tâm Hạnh giảng một lần ở Thiền Đường Mây Từ tại Westminster mùa hè qua, được biết sư đang tạo dựng một tu viện ở trên núi, nên rủ tôi “tình nguyện” lái xe đi cho biết. Không rủ tôi cũng đi. Núi rừng luôn có một sự thu hút, quyến rũ lạ kỳ, không thể giải thích đối với tôi, dù nơi chốn ấy có thể quá vắng vẻ, cô tịch, hoang sơ cho người vốn quen sống giữa chốn lao xao của đời thường.

    Mấy ngày qua khí lạnh từ đông bắc Thái Bình Dương đã tràn đến khu phố Little Saigon, đẩy nhiệt độ vào ban đêm xuống mức lạnh như ở Canada. Vợ chồng chúng tôi có thể chịu lạnh trên đường đến chùa, nhưng nếu gặp bão tuyết, giông tố thì e không dám, không còn đủ ý chí liều mạng để lái xe trên những quãng đường chật hẹp, quanh co, trơn trượt đổ xuống dốc như thời trẻ. Sức khỏe và sự tinh nhạy của mấy chục năm trước nay đã không còn, chỉ có một chút quyết tâm muốn tầm đạo. Và có lẽ chính sự quyết tâm ấy đã thúc đẩy chúng tôi hãy mạnh mẽ khởi hành, hãy dứt khoát buông lại những tâm tình từng một thời níu kéo chúng tôi ở lại với lạc thú trần gian.

    Thế nên tôi đành chịu lỗi với các bạn thân quen ngày hôm ấy, một ngày trong một cuối tuần có những cuộc hẹn lý thú mà lẽ ra vợ chồng tôi nên đến để chung vui: một buổi ra mắt thơ nhạc với sự góp mặt của một số nghệ sĩ danh tiếng, một chương trình hợp ca mà các bạn đã khổ công tập dượt suốt cả năm, một cuộc triển lãm tranh ảnh, một buổi qui tụ tiệc tùng ở một nhà hàng dưới phố Bolsa. Ấy là chưa kể những cuộc vui riêng tư khác mà tôi từng tìm đến mỗi cuối tuần: ra biển, dạo công viên, xem football. Úi chà! Nói đến thể thao thì lòng tôi còn “thổn thức” dữ lắm. Nhưng cũng đành đứt khoát để hết lại sau lưng. Tất cả những cuộc vui đó tôi đều đã nếm qua vô số lần, đã tận hưởng hết thảy những thế vị ngọt bùi đắng cay do những cảm xúc, ý tưởng mang đến, nhưng rồi chúng tôi thấy cuộc sống vẫn còn thiếu một chút gì đó, một chất vị mà hình như những cuộc vui ở đời không thể mang đến.

    Cổ đức có câu “Quế hương bất viễn thư hương viễn / Thế vị vô như đạo vị trường.” Từ ngày đọc và hiểu được lời khuyên của một vị hiền triết thuở xưa được ghi lại trong một cuốn sách nào đó mà tôi đã góp nhặt được dọc theo con đường học đạo, tôi tự nhắc mình câu nói ấy hầu như mỗi ngày, để đừng quên tuốt luốt và rồi lầm đường trở lại những cuộc vui lạc thú của đời thường.

    Có lẽ nhờ sự thôi thúc chan chứa đạo vị đó mà hai đứa chúng tôi đã ráng dậy sớm vào sáng Chủ Nhật hôm ấy, ngày 15 tháng 11, 2015. Đó cũng là ngày lễ Dâng Y, hay còn gọi là Kathina, được tổ chức ở các tu viện theo hệ phái Nguyên Thủy mà tôi được biết ở Quận Cam. Trong buổi lễ này, các Phật tử cúng dường y áo cho các tăng ni, theo đúng truyền thống đã có từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

    Bản đồ trên Google Maps cho thấy cuộc đi lên núi Big Bear sẽ dài hơn hai tiếng đồng hồ. Được biết lễ Dâng Y bắt đầu lúc 10 giờ 30, chúng tôi cố gắng rời nhà trước 8 giờ sáng. Phải “cố gắng” vì có một số thủ tục, chuyện lặt vặt cá nhân cần phải giải quyết trước khi lên đường. Vả lại đêm thứ Bảy tôi thường đi làm về khuya, nên việc thức sớm sáng Chủ Nhật là điều khó khăn, phải chiến đấu dữ dằn lắm với tên giặc lười thì mới có thể chui thoát ra khỏi lớp chăn mền đầy ấm áp.

    Từ Westminster, chúng tôi lái xe lên xa lộ 22, qua 55 rồi nhập vào 91 đi miết theo hướng đông bắc, vượt qua Riverside đến Redlands trong vùng San Bernardino, rồi men theo mấy con đường khác để bắt đầu leo lên núi cao. Ở đâu đó trên đường 18 chạy sát bên sườn núi, giông tố tràn đến, phủ kín đất trời, gió thổi mạnh như giông bão, mây ào tới che kín không trung trước mắt làm chúng tôi e ngại, vừa lái chậm vừa cầu mong xe không trượt xuống sườn núi. May thay càng gần đến thị trấn Big Bear, mây xám tan dần, mặt trời ló dạng và chiếu những tia nắng ấm áp xuống không gian đang lạnh buốt trong những cơn gió thổi rơi những chiếc lá từ các nhánh cây đã xơ xác.

    Tới ngã rẽ vào Big Bear Lake, một nơi vui chơi mùa đông cũng như mùa hè của người dân từ chốn đô thị Los Angeles và từ Quận Cam, tôi bồi hồi nhớ lại những dịp đưa các con đến đây mười mấy năm trước, để chơi tuyết hay để tạm rời xa khu phố Bolsa đi tìm những giây phút hạnh phúc cho gia đình. Nay các con đã có những cuộc vui riêng, rời xa cha mẹ như trong bao lần hợp tan trong muôn vạn kiếp. Trước khi đi tiếp tới Big Bear và ngôi chùa mà chúng tôi đoán chỉ còn cách xa chừng mười-lăm phút, hai vợ chồng mặc thêm áo ấm, đội nón len để có thể chịu được khí lạnh đang kéo đến ồ ạt theo cơn giông tố đã được báo trước.

    Tìm ra đường Fourth dẫn lên một chóp đồi cao, chúng tôi nhận ra ngôi chùa có treo Phật kỳ ngũ sắc nằm lẫn trong một khu gia cư thưa thớt và hẻo lánh, gần cuối một con đường chưa được tráng nhựa. Miền Big Bear này nằm cao hơn mặt biển trên hai-ngàn thước, mà chùa lại ở một nơi còn cao hơn những nhà cửa ở chung quanh. Khác với dự đoán của chúng tôi rằng chùa Big Bear là nơi hoang sơ, chùa là một ngôi nhà tương đối khang trang, ấm cúng, nằm trên một mảnh đất đã được giải tỏa những tảng đá và san bằng mặt đất.

    Vợ chồng từng thoáng ngại việc đến một ngôi chùa ở nơi vắng vẻ như Big Bear, sẽ không gặp một ai ngoài các sư. Ở chùa dưới Quận Cam thì dễ hòa nhập vào đám đông vào mỗi dịp lễ, còn ở đây quá xa, mà nếu chỉ có hai vợ chồng thì e không biết “đàm đạo” như thế nào với các sư.

    May sao, ngay lúc quẹo xe vào cổng với cánh cửa sắt được kéo mở rộng, chúng tôi thấy một khuôn mặt quen quen. Cô ấy đang bận cúi đầu tránh gió lạnh, tay cầm điện thoại nói chuyện với ai đó với nét mặt khẩn trương. Vợ tôi nhận ra cô ấy là Trúc Mai, một đạo hữu rất hoạt bát sinh hoạt tại chùa Văn Thù ở Riverside. Trúc Mai từng dạo đàn guitar hát ca khúc “Gặp Mẹ Trong Mơ” trong buổi thuyết pháp của thầy Pháp Hòa tại Văn Thù đầu tháng Bảy vừa qua.

    Đêm hôm ấy là lần đầu tiên chúng tôi được nghe một ca khúc chắc đã thịnh hành cả mấy năm, rồi thỉnh thoảng có nghe tại chùa khác nhân mùa lễ Vu Lan. Đến mấy tuần trước, chúng tôi tình cờ tìm trên YouTube và rồi nghe đi nghe lại bài hát từ miền hoang dã Mông Cổ với sự thích thú lạ kỳ. Sáng Chủ Nhật gặp cô gái từng hát ca khúc đầy tình cảm ấy ngay trước cổng chùa, vợ chồng không vội nói ra nhưng đều nghĩ đến một sự dẫn dắt nào đó từ cõi vô hình.

    Thế rồi trong một sân chùa với những tảng đá lớn, chúng tôi ngạc nhiên không kém khi thấy cả mấy chục đạo hữu từ chùa Văn Thù cùng một khuôn mặt rất thân quen và “dễ thương.” Đó là thầy Quảng Phú, người thường nói hai chữ “dễ thương” trong những buổi giảng pháp. Thì ra thầy đã hướng dẫn các đạo hữu từ Văn Thù đến đây để làm lễ Dâng Y cho hai vị tăng sống trong tu viện. Nếu không có nhóm Văn Thù, vợ chồng chúng tôi đã là kẻ duy nhất “bơ vơ” đến chùa sáng hôm ấy.

    Không khác các Phật tử của chùa, thầy Quảng Phú cũng mặc hai, ba lớp áo ấm để chống lạnh, bên ngoài khoác chiếc y vàng khi làm lễ, nên trông thầy tròn mập hẳn ra. Như ở chùa Văn Thù, thầy Quảng Phú luôn chăm sóc các Phật tử với vẻ lo lắng, tất bật của một người mẹ giữa một đám con mà có lúc họ đứng ngồi xớ rớ, không biết phải làm gì. Và cũng nhờ sự chu đáo của thầy, kể cả việc thầy phải cầm loa nói to cho các vị ở xa nghe rõ, mà buổi lễ diễn ra có trật tự mặc dù trời rất lạnh.

    Lễ bắt đầu với nghi thức Nhiễu Phật, khi mà các đạo hữu xếp hàng đi quanh sân chùa ba vòng. Giữa núi trời rét lạnh, từng người đội một túi trong đựng những tấm y mới tinh để dâng cho các sư. Họ đi chậm rãi trong sân chùa khá rộng. Người được tôi chú ý nhất trong đoàn người diễn hành trước ngôi chùa là một vị tăng trẻ người Mỹ. Cao hơn một người Mỹ bình thường, anh càng quá cao so với một người Việt trung bình. Thế nên vị sư trẻ không chỉ nổi bật trong đám đông mặc áo lam chúng tôi với chiếc y vàng đậm, mà còn vượt trội với chiều cao quá khổ này. Tôi chú ý đến vị sư trẻ vì sự oai nghi và nét trầm lặng của thầy.

    Sau lễ Nhiễu Phật, chúng tôi vui mừng được vào bên trong một chánh điện nhỏ, vừa đủ chỗ cho khoảng bốn chục người ngồi chen chúc bên nhau. Vì lăng xăng lo chụp vài tấm hình lưu niệm, tôi đứng ở phần đuôi của hàng người bước vào bên trong, và nhờ vậy được chào hỏi thầy Quảng Phú, khi thầy lo nhiệm vụ “lùa” mọi người vào bên trong và nhận ra tôi. Thầy cười, xoa vai tôi một cách thân mật, không hỏi nhưng lộ vẻ vui ở giây phút hội ngộ bất ngờ.

    Vợ chồng chúng tôi từng ghé chùa Văn Thù đôi ba lần kể từ năm 2011 đến nay. Giữa những kỷ niệm vui đầy đạo vị với chùa Văn Thù mà tôi từng kể trong một bài viết khác trước đây, quí nhất là kinh nghiệm được ăn chay ở Văn Thù. Thầy Quảng Phú nấu ăn rất khéo. Mặc dù từng ăn chay lai rai trước đó, tôi chưa thật sự quyết tâm dứt bỏ ăn mặn cho đến khi được “nếm mùi” chay ở Văn Thù. Tuy chỉ mới thưởng thức được mấy món như mắm và rau, bún sáo măng, tôi nhận ra ăn chay ở chùa không chỉ ngon mà còn vui, một niềm vui trong tâm rất khó tả vì nó hàm chứa một tình thương rất bao la. Từ khi nếm được niềm vui vô bờ bến đó, tôi đã đoạn tuyệt với món mặn mà lòng không một chút hối tiếc.

    Thế nên buổi gặp thầy Quảng Phú tình cờ ở ngôi chùa trên núi, lòng tôi vui không ngờ. Quả thật có sự dẫn dắt từ một chốn xa nhưng lại rất gần, như tình thương của một người mẹ được diễn tả trong bài hát Mông Cổ “Gặp Mẹ Trong Mơ” từng được nghe ở Văn Thù.

    Cũng vì lao nhao đi chụp hình, tôi thấy một tấm bảng nhỏ trong garage và mới biết chùa núi Big Bear có tên chính thức là Tu Viện Đạo Tâm. Trong buỗi lễ diễn ra trong chánh điện, chúng tôi được nghe sư Tâm Hạnh nói một bài pháp với giọng vui, gần gũi về ý nghĩa của lễ Dâng Y từ thời Đức Phật. Tôi được biết sư Tâm Hạnh cùng quê Nha Trang với tôi, từng dạy ở trường Vạn Hạnh tại Việt Nam. Thầy có nét mặt hồng hào, thân hình khỏe mạnh, khá rắn chắc đối với một người đã trên sáu mươi tuổi. Buổi lễ còn có một vị ni từ nơi khác đến là Sa Di Ni Diệu Thanh. Nhưng riêng đối với tôi, người được chú ý nhất vẫn là vị sư trẻ tuổi.

    Nhà sư Mỹ trông lạc loài giữa đám người Việt Nam mà có lúc họ nói chuyện rất huyên náo. Tôi đoán sư chỉ biết tiếng Việt rất sơ sài mặc dù sư Tâm Hạnh là sư phụ của thầy. Thỉnh thoảng sư Tâm Hạnh nói vài câu tiếng Anh, để nhắc vị sư trẻ làm một việc gì đó, như tụng kinh tiếng Pali chẳng hạn. Ngoài những lúc tụng kinh hay trả lời nho nhỏ với sư phụ, sư Tâm Đạo hầu như không nói một lời nào mặc dù thỉnh thoảng nở một nụ cười rất thánh thiện với một ai đó đang quan sát mình. Thầy luôn nhìn thẳng với đôi mắt to, xanh, sâu thẳm như muốn rọi chiếu vào từng cảnh vật đang hiện ra trước mắt.

    Sau buổi lễ dài khoảng một tiếng và sau bữa ăn với các món (trứ danh) do chính chùa Văn Thù mang tới (gỏi, miến xào, súp măng), tôi tìm đến vị sư trẻ để trò chuyện, một phần vì không thấy ai thăm hỏi thầy, một phần vì tính tò mò, muốn biết cơ duyên nào đã đưa một người trẻ như thầy vào đường đạo. Vả lại, tôi cần phải tranh thủ thời gian vì biết chúng tôi chỉ còn ít thời giờ trước khi bão tuyết tới, mọi người cần “xuống núi” sớm để không bị kẹt lại trên Big Bear.

    Thế là trong cuộc “phỏng vấn” ngắn trước khi chia tay, tôi được biết thầy có thế danh là Eric, quê ở Texas. Tôi từng gặp các thầy trẻ Việt Nam, nhưng một người Mỹ thì chưa bao giờ. Sự trầm lặng, đôi mắt sâu có lúc thoáng một chút ưu tư trên khuôn mặt hao hao nét Ấn Độ đã thu hút tôi đến gần sư Tâm Đạo. Trong suốt cuộc nói chuyện, vị sư trẻ không hỏi tôi một câu nào, chỉ từ tốn trả lời từng câu hỏi, như một người đang giữ chánh niệm và theo dõi từng lời nói, ý tưởng và hành động của mình.

    Sư Eric kể cha mẹ thầy rất cởi mở nên họ không e ngại khi biết con muốn xuất gia để đi theo một ông sư Việt Nam có tên Mỹ là “Lee.” Sư Tâm Hạnh, tức thầy Lee, từng có một ngôi chùa ở Carrollton, Texas. Năm 16 tuổi, Eric sống trong vùng và ghé chùa để hỏi sư Lee về cách thiền. Sư Tâm Đạo, nay được 23 tuổi, kể rằng thầy đã tự tập thiền một mình được một thời gian, nên khi biết có một ngôi chùa gần nhà, thầy ghé để tìm hiểu thêm, và rồi vì một cơ duyên có lẽ từ đời trước, thầy quyết định xuất gia với Sư Tâm Hạnh.

    Kể ra, hai thầy trò khác nhau không chỉ ở thể chất (thầy Eric gầy, cao, có cốt xương to của một người Mỹ thuộc hạng lớn). Trong khi Sư Tâm Hạnh hoạt bát, năng động, vui tính, nói nhiều, Sư Tâm Đạo lại rất trầm ngâm, suy tư, ít nói. Khi nghe tôi hỏi rằng ở tuổi 23, khi các bạn học năm xưa đang vui ở trường đại học, đang khởi đầu một sự nghiệp sáng lạn, hoặc đang có hạnh phúc gia đình, thì thầy có niềm vui gì? Vị sư trẻ nhanh tay chỉ cho tôi xem tầng cao nhất trong tủ sách nằm trong phòng tiếp khách cạnh chánh điện. Ở trên kệ cao đó, tôi thấy những bộ kinh Phật giáo được viết bằng tiếng Anh. Thầy mỉm cười rất hiền lành, nói rằng học kinh chính là niềm vui của thầy.

    Sư Tâm Đạo cho biết thầy đi theo sư phụ Tâm Hạnh, nên nhờ đó đã đến nhiều nơi để học đạo, tiếp xúc với nhiều Phật tử, nên niềm vui của thầy là niềm vui của đạo. Trong một lần nghe sư Tâm Hạnh giảng ở Westminster, vợ tôi được biết sư Tâm Đạo rất thương thú vật, thương chúng như thương chính bản thân thầy. Sư Tâm Hạnh kể rằng khi mới đến tu viện trên núi Big Bear, có lúc sư cầm những viên đá nhỏ để ném mấy con sóc. Sư không cố tình ném trúng sóc, chỉ ném gần cho chúng bỏ đi. Vậy mà sư Tâm Đạo cũng đến ngăn tay sư phụ, nói rằng nếu sư phụ muốn ném đá mấy con sóc thì hãy ném con trước. Được gặp và nói chuyện với sư Tâm Đạo, tôi mới tin chắc vị sư trẻ này là người rất nhân từ, và cũng rất quả quyết với lòng nhân từ ấy.

    Trước khi chia tay, tôi chụp hình lưu niệm với thầy Eric. Không chỉ cao hơn tôi từ vai lên đến đỉnh đầu, vị thầy trẻ này cũng “cao” hơn tôi trên đường tu. Tôi không dám nói là thầy đã tu từ kiếp trước, nhưng chắc chắn thầy đã biết đạo, đã sớm nhìn ra con đường mà mình phải đi trong một đời người rất hiếm quí này, không thể để cho nó uổng phí tan loãng giữa biển thế vị mê hồn.

    Sư Tâm Hạnh cho biết những ai muốn đến đây tu thì sẽ có phòng trọ miễn phí, nhưng không được nấu ăn vì hai sư sẽ lo chuyện đó cho khách. Địa chỉ của Tu Viện Đạo Tâm (Mindful Way Buddhist Meditation Society) là 45564 Fourth Street, P. O. Box 2864, Big Bear City, CA 92314. Phone (909) 585-6785.

    Rời Tu Viện Đạo Tâm, chúng tôi cũng hối hả lái xe như các đạo hữu từ chùa Văn Thù, vì trận bão tuyết đã bắt đầu tràn tới với gió và mây đen thổi đến từ hướng tây bắc. Lúc ấy là sau 1 giờ trưa. Không lâu, trên con đường xuống núi, tôi phải lái xe thật chậm, rà thắng nhiều lần vì tuyết trắng bắt đầu bám mặt đường. Giữa không gian trắng xóa, mịt mù không thấy xa hơn vài thước trước mắt, tôi nghe tiếng vợ niệm Phật chậm rãi và trầm tĩnh. Chính tôi cũng thấy sáng suốt, bình tĩnh lạ thường, biết rõ tay mình đang cầm bánh lái, mắt không rời lằn sơn vàng dẫn đường ở trước mắt, tim vẫn đập đều đặn cho dù mưa tuyết đang trút xuống tới tấp, mỗi lúc một nhiều.

    Hơn nửa tiếng sau, xe xuống đến chân núi, bắt đầu hòa vào những dòng xe huyên náo. Nơi đây không có mưa, cũng chẳng có tuyết, chỉ có một bầu không gian dầy đặc những âm thanh ầm ĩ từ những chiếc xe phóng vun vút trên xa lộ hướng về thành phố. Lúc ấy chuyến đi chùa núi sắp kết thúc, nhưng tôi biết cuộc hành trình vẫn tiếp tục với từng hơi thở, từng lời niệm Phật, và từng buổi gặp gỡ đầy đạo vị trên con đường dài, rất dài. (pq)

  3. #143
    Minh Tâm là một bút hiệu khác của Nguyên Phong

    Tìm Phật ở đâu?
    MINH TÂM

    Nhân mùa Phật Đản kỷ niệm đức Thích Ca giáng trần cứu độ chúng sinh, chúng ta hãy thử đi tìm Phật. Hầu hết mọi Phật tử đều thuộc lòng lịch sử Phật Thích Ca giáng sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni, con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, trị vì thành Ca Tỳ La Vệ, nước Ấn Độ bấy giờ; ngài lớn lên lấy vợ, rồi xuất gia thành đạo, chuyển Pháp Luân cứu độ chúng sinh, nhập Niết Bàn ở vườn Ta La. Vậy câu hỏi Tìm Phật Ở Đâu thật là dễ, ai cũng trả lời được..

    Nếu chữ Phật có nghĩa là đức Phật Thích Ca, một vị Phật lịch sử, thì câu trả lời sẽ là Phật ở Ấn Độ, cách đây hơn 2500 năm. Nhưng nếu Phật đã nhập Niết Bàn thì làm sao chúng ta tìm gặp Phật được nữa? Và tại sao kinh điển lại có câu "Phật biến nhất thiết xứ," nghĩa là Phật biến hiện ở tất cả mọi nơi? Để hiểu rõ danh từ Phật, ngoài cái nhìn lịch sử thông thường là đức Phật Thích Ca, chúng ta nên vươn tầm mắt vượt qua lịch sử mà nhìn vào chỗ sâu kín nhiệm mầu mà danh từ ngôn ngữ không đạt đến được, đó là lý cao siêu của chữ Phật

    Phật là Giác, là thức tỉnh ra khỏi giấc mê, là người đã rũ sạch bụi trần, là vượt ra ngoài ba cõi, là hiểu biết đến chỗ vô cùng, vô tận, là Toàn Trí (Omniscient), là xuất hiện khắp nơi (Omnipresent), là giác ngộ giải thoát, là từ bi hỷ xả, là vô ngã lợi tha, là tình thương, là sự sống... Nếu những ai đạt đến những đức tính quý báu đó, thực hiện được những tinh thần cao cả đó thì được tôn xưng là Phật.

    Theo giáo lý nhà Phật thì có rất nhiều Phật: Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Dược Sư... nhưng mỗi vị Phật giáo hóa một cõi có nhân duyên với ngài. Thí dụ như Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh ở cõi Ta Bà, Phật Dược Sư giáo hóa chúng sinh ở các cõi phương Đông, Phật A Di Đà giáo hóa chúng sinh ở các cõi phương Tây. Mỗi tam thiên đại thiên thế giới chỉ có một vị Phật giáo hóa, có chư Bồ Tát và Thiên Long Bát Bộ hộ trì. Nhưng chính kinh Phật lại nói rõ là Phật biến hiện khắp nơi, có vô số Phật đồng hiện diện ở các cõi, như vậy có mâu thuẫn không?

    Nếu đứng về Sự mà nói thì mỗi cõi chỉ có một vị Phật giáo hóa, các Phật khác đều thị hiện làm Bồ Tát, Trời, Rồng, Quỷ, Thần, chúng sinh, sông núi, cây cỏ... để hộ trì vị Phật kia. Nhưng nếu đứng về Lý mà luận thì Phật ở khắp nơi, trong mỗi chúng sinh đều có một vị Phật ẩn tàng, đó là Phật tánh, là Chân Tâm, vì vậy trong kinh có câu: "Tâm, Phật, chúng sinh, tam vô sai biệt."

    Phật ở ngay trong chúng ta mà ít người biết tới. Theo quan niệm tín ngưỡng bình dân thì ở hai vai mỗi người lúc nào cũng có hai vị thần ghi chép những việc lành dữ của chúng sinh gây tạo; hoặc có nhiều vị Phật tử mỗi khi làm việc gì cũng nói là có đức Phật chứng minh, tin rằng đức Phật có nghìn mắt, nghìn tai, thấy và nghe tất cả mọi điều. Đó là những hình thức giản dị mà giới bình dân thường quan niệm, không ngờ lại đúng với ý nghĩa cao siêu của Phật giáo. Hai vị thần ghi chép hoặc Phật chứng minh, chính là tượng trưng cho Chân Tâm đã ghi nhận mọi hành động và tư tưởng lành dữ, chính là A Lại Da Thức đã huân tập chủng tử để rồi khi thời gian thuận tiện, đủ duyên cho hạt giống nẩy mầm, nhân quả hiển nhiên, công tội thưởng phạt rõ ràng.

    Ngoài cái lý ẩn tàng sâu kín trong Tâm, chúng ta có thể tìm thấy Phật qua Chánh Pháp của Phật để lại, vì Pháp chính là Phật. Chánh Pháp mà còn thì Phật còn, nhưng nếu Chánh Pháp biến thành Tà Pháp, những ý nghĩa cao siêu của Phật bị diễn tả sai lạc, những lời dạy dỗ của Phật biến thành mê tín dị đoan thì bóng dáng Phật đã bị vô minh che kín mất rồi. Chính đức Thích Ca đã căn dặn các đệ tử: "Hãy tuân theo Chánh Pháp mà tu, hãy giữ gìn giới luật mà sống, thì Như Lai lúc nào cũng gần gụi. Nếu không theo Chánh Pháp, không giữ giới luật, thì có Như Lai bên cạnh cũng chẳng giúp được gì.”

    Chúng ta cũng có thể tìm thấy Phật qua hình dáng các vị Cao Tăng tu hành chân chánh, giới đức tròn đầy; các vị là Trưởng Tử của Như Lai, đại diện cho Phật để chúng sinh có chỗ quy ngưỡng; nhưng nếu là Kiêu Tăng phạm giới, không giữ lục hòa, thì Phật sẽ ẩn, ma sẽ hiện. Các vị Kiêu Tăng chính là người phá Phật, hại Pháp mạnh hơn tà ma ngoại đạo nhiều lắm.

    Chúng ta có thể tìm thấy Phật khắp nơi, chỗ nào có Tình Thương ngự trị, có Từ Bi Hỷ Xả hiện tiền, có chân lý hiện hữu, là có Phật ở ngay đó. Một người nào, bất cứ xuất gia hay tại gia, mà trong một khoảng thời gian phát tâm Bồ Đề, khai mở Chân Tâm, tu hành tinh tấn, thực hành Từ Bi Hỷ Xả, thì ngay trong phút giây đó, người ấy đã là Phật, vì Phật là Giác. Nhưng sau phút giây giác ngộ, người ấy trở lại sống tầm thường, ích kỷ thì Phật lại tiềm ẩn, để chờ cơ hội phát huy. Phật chỉ khác chúng sinh ở chỗ Phật vĩnh viễn giác ngộ, lúc nào cũng sáng, còn chúng sinh thì chỉ lòe sáng trong giây phút, rồi lại chìm đắm trong bóng tối vô minh.

    Một hiền phụ hy sinh cơm áo, thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, chẳng ngại đói rét, nhọc mệt để lo cho các trẻ mồ côi, một lính cứu hỏa xông pha vào nhà cháy để cứu người bị kẹt, một thanh niên nhảy xuống sông cứu người chết đuối, một y tá quên mình chữa chạy cho bệnh nhân, một tù nhân cải tạo chịu đói để chia xẻ nắm cơm cho một người bạn đồng cảnh ngộ... tất cả những hành động đầy tình thương đó đều là những việc làm của Phật, của Bồ Tát, và trong giây phút mà Từ Bi Hỷ Xả ngự trị, quên mình (Vô Ngã) để cứu người (Lợi Tha), thì những vị đó chính là đức Phật Thích Ca, đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân. Chúng ta chẳng cần tìm Phật ở đâu xa, ngài luôn luôn ở ngay trong cuộc đời, nhưng chúng ta không thấy, vì chúng ta chỉ nhìn đời bằng đôi mắt thịt, mà quên sử dụng trí tuệ để quan sát những gì tiềm ẩn trong hoặc đằng sau những việc làm đó.

    Chúng ta có thể tìm thấy Phật qua sự sống trong tất cả chúng sinh, cầm thú, thảo mộc. Sự sống đó bàng bạc trong khắp không gian và thời gian, lan rộng rì rào trong gió, róc rách trong tiếng suối reo, chim hót, hoa nở, trăng tròn. Sự sống đó chuyển mình trong vũ trụ cao xa cũng như trong thâm tâm sâu kín. Nếu lắng tai, chúng ta có thể nghe thấy tiếng nói của sự sống đó, tiếng của Chân Tâm, của Lương Tâm, của Phật. Trong kinh Pháp Hoa có diễn tả tiếng tằng hắng, tiếng gẩy móng tay của Phật chấn động cả tam thiên, đại thiên thế giới, chính là tiếng của Chân Tâm, Phật Tánh vậy. Vì đã thông cảm với sự sống nhiệm mầu nên một vị Thiền sư, mỗi sáng ra thăm vườn lại vuốt ve những mầm lá xanh tươi và nói: "Một ngày kia, chúng cũng thành Phật."

    Nếu chúng ta chấp nhận cái lý Phật là sự sống khắp nơi, trong mỗi chúng sinh đều có Phật, thì chúng ta không còn dám sát sinh nữa, ai dám giết Phật? Đó là lý do căn bản của giới thứ nhất do đức Phật đặt ra: Giới sát, cấm giết hại chúng sinh. Phật tử đã không sát sinh mà còn phải lo phóng sinh, cứu mạng sống cho cầm thú, tôn trọng sinh mạng muôn loài, do đó nên ăn chay, không làm điều ác, chỉ làm việc lành, giữ thân tâm trong sạch. Vì Phật ở ngay trong Tâm, một vọng niệm xảy ra là Phật đã biết; nếu chúng ta chấp nhận Phật ở trong Tâm thì không bao giờ dám có tư tưởng sái quấy. Một khi tư tưởng sái quấy đã không có thì tất nhiên không còn hành động tội lỗi nữa. Đó là lợi ích hiển nhiên của cái lý nhiệm mầu: Phật ở khắp nơi.

    Đạo Nho có câu: Thận Kỳ Độc, nghĩa là giữ gìn cẩn thận tư tưởng và hành vi, ngay khi chỉ có một mình. Vì sao? Đâu phải một mình, còn Trời Phật, Thánh Thần soi xét, đèn Trời chiếu rõ, không sao chối cãi được. Nho giáo cũng chủ trương đạo Hiếu, con cái phải hiếu với cha mẹ: Phụ Mẫu tại đường như Phật tại thế, vì hiếu với cha mẹ tức là phụng sự đức Phật, là phổ biến Tình Thương, Đạo Phật còn mở rộng Tình Thương từ cha mẹ, anh em đến mọi loài chúng sinh, nên kinh điển có câu: "Bố thí cho chúng sinh tức là cúng dường mười phương chư Phật."

    Nếu đem cái lý Phật ở khắp nơi, trong chúng sinh nào, dù là hành khất hay cầm thú, cũng có Phật thì câu kinh này thành ra quá dễ hiểu. Bố thí tiền bạc, bố thí tình thương là bớt lòng ích kỷ, là diệt trừ chấp ngã, là lợi tha, là bình đẳng, là thương yêu giúp đỡ, đó chính là những việc làm, những đức tính mà đức Phật thường nhấn mạnh, đề cao. Do đó, bố thí đứng đầu Lục Độ. Mở rộng Tình Thương, khuếch Tiểu Ngã thành Đại Ngã, phá bỏ mọi ranh giới phân chia giai cấp, chủng tộc, quốc gia, không còn nhân ngã bỉ thử, không còn tranh chấp hận thù, chỉ có một thực tại đầy ánh sáng của Giác Ngộ. Đó là đức Phật ở khắp nơi.

    Kính mong chư Phật tử hãy bỏ tư tưởng rằng Phật ở Ấn Độ, ở Chùa, Phật ở trong tượng, trong ảnh, trong kinh, mà hãy cố gắng tìm Phật hiện diện trong tất cả muôn loài chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có hạt giống Phật. Hãy làm cho hạt giống Phật nẩy mầm, đơm hoa, kết quả, đừng làm cho hạt giống đó bị vùi lấp, khô cằn. Nếu nơi nào còn những tội lỗi xấu xa thì hình ảnh của Phật còn bị vô minh che khuất, chỗ nào mà tình thương phát triển, chân lý hiện tiền thì chỗ đó vô minh bị diệt, đức Phật hiện ra, hào quang rực rỡ, an lạc tuyệt vời.

  4. #144
    https://m.media-amazon.com/images/I/...L._SL1311_.jpg

    Huyền thuật của một cuốn sách cũ
    Phúc Quỳnh

    Sáng nay tôi có một chuyện buồn, hơi sên sến, một cảm giác buồn nhè nhẹ, buồn vu vơ, vớ vẩn, vụn vặt, buồn vi vu, vi vút, vân vân và vân vân. Tôi buồn vì phải chia tay một người bạn đã quen trong suốt mấy tuần qua: bà Alexandra David-Néel. Bà đã mất hơn 40 năm trước. Tôi gặp bà không phải trong một giấc mộng chiêm bao, hay trong cõi xuất hồn xuất vía gì cả, mà qua một cuốn sách đã nằm đóng bụi trên kệ từ lâu.

    Chắc bạn còn nhớ, nhà chúng tôi từng có cả ngàn cuốn sách. Hơn một năm trước, chúng tôi đã quyết định bỏ bớt sách báo để nhà được rộng thoáng. Sau mấy đợt lược sách, mang chúng đến tặng thư viện, giao cho nhà sách bán giùm hoặc bưng thảy thẳng vào thùng rác, nay chúng tôi còn hơn một trăm tựa, phần lớn là sách văn chương được tạm thời đánh giá có “giá trị,” và sách về tâm linh, tôn giáo. Tuy không còn tha thiết với sách vở, tôi vẫn lưu lại những tác phẩm liên quan đến thế giới vô hình, kinh điển tôn giáo như thầm biết rằng đó là một linh địa cuối cùng tôi cần phải ghé qua trước khi dứt sạch nghiệp dĩ với chữ nghĩa. Và tôi đã không thất vọng một chút nào từ ngày bước vào cõi giới vô biên đầy hấp lực ấy.

    Mặc dù rất bận rộn, căng thẳng với công việc ở sở, luôn loay hoay với những chuyện bề bộn cần phải làm ở nhà, dạo gần đây tôi vẫn cố gắng dành mỗi ngày chừng nửa tiếng thật yên tĩnh để đọc sách. Vì thời gian dành cho sách quá ít so với sự mong ước, nên tôi đã mất đâu chừng gần hai tháng mới đọc xong cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” dày không tới 300 trang của bà Alexandra David-Néel.

    Cuốn sách này đã nằm trên kệ trong nhà của chúng tôi từ lâu lắm rồi, đâu chừng gần 20 năm chứ không ít. Tôi cứ hứa lần hứa lượt rằng sẽ dành một cuối tuần “thiệt là rảnh rỗi” để đọc nó, đọc cho xong để không còn thắc mắc sách viết gì ở bên trong một bìa mềm với hàng tựa hấp dẫn. Đến khi đọc đến trang cuối cùng, tôi mới nghe khởi lên một cảm giác tiếc nuối trong lòng, chưa muốn dứt khoát từ giã nó, hay đúng hơn là từ giã bà David-Néel và những mẩu chuyện bà đã kể về một xứ Tây Tạng đầy huyền bí mà tác giả từng sống ở đó gần một thế kỷ trước đây. Ở xứ ấy có những đạo sĩ tu luyện ở nghĩa địa, có pháp sư cắn lưỡi xác chết trong một phương pháp tu luyện nghe rất ghê rợn, và có những lá cây mang chữ “Om Mani Padme Hum” nẩy chồi suốt mấy trăm năm.

    Bà David-Néel chào đời tại Pháp năm 1868, trưởng thành ở Bỉ trước khi phiêu lưu đến các quốc gia trong hơn nửa thế kỷ, mà phần lớn thời gian là để tầm đạo và có lúc lang thang trên dãy núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn. Bà sống những ngày cuối đời ở quê nhà, từ trần năm 1969, thọ 101 tuổi. Trên bước đường phiêu bạt giang hồ ở Châu Á, theo Wikipedia, người phụ nữ với cá tính mạnh mẽ, thông minh, đầy nghị lực này đã từng ghé qua Việt Nam trong một vai trò ít người biết. Đó là đi theo một gánh hát opera, trình diễn vai chính trong các tuồng “cải lương” Âu Châu Carmen và La Traviata ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào cuối thế kỷ thứ 19.

    Cũng may bà David-Néel đã được thế giới biết nhiều hơn qua những tác phẩm viết về Tây Tạng và cõi tâm linh mà bà đã được tiếp cận ở quốc gia nằm trên đỉnh của trái đất. Cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” là tác phẩm nổi tiếng nhất trong hơn 30 sách viết của bà David-Néel, được xuất bản tại Pháp vào năm 1929 với tựa đề “Mystiques et Magiciens du Tibet.” Tựa sách tiếng Việt do Nguyên Phong phóng tác, Làng Văn phát hành năm 1992.

    Qua tài lược dịch thoáng đạt của ông Nguyên Phong, một người viết có công chuyển dịch nhiều tác phẩm Phật giáo đến với độc giả Việt Nam sau năm 1975, tôi say mê làm quen và rồi kính phục bà David-Néel ở nhiều khía cạnh. Đáng phục nhất ở nơi bà mà tôi được biết trong cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” là bà đã tĩnh tu trong một hang đá ở miền Sikkim sát biên giới Tây Tạng vào năm 1914. Với lòng thiết tha cầu học đạo với một tu sĩ tự xem mình là “một người dân quê dốt nát,” không có gì để dạy dỗ một phụ nữ Tây Phương đầy kiến thức như bà David-Néel và còn khuyên bà nên đến học ở một tu viện với các bậc lạt ma trưởng lão, bà đã tu trong hang đá trên miền núi tuyết, ngồi thiền quay mặt vào vách đá mỗi ngày trong suốt ba năm trời.

    Từ câu chuyện tĩnh tu trong hang đá đó, tôi càng say mê và ráng đọc tiếp trong những ngày hiếm hoi được dịp cầm cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng.” Tôi cũng không ngờ bà David-Néel được gặp Đức Đạt Lạt Ma thứ 13, không chỉ một lần mà đến hai lần, một cơ hội rất hiếm hoi dành cho một phụ nữ từ Âu Châu thời đó. Bà là phụ nữ đầu tiên được tiếp chuyện với Đức Đạt Lạt Ma. Ngày nay Đức Đạt Lạt Ma thứ 14 đi hoằng pháp ở khắp thế giới mà nhiều người như tôi còn không được dịp gặp ngài thì chuyện gặp Đạt Lai Lạt Ma ở Hy Mã Lạp Sơn gần một thế kỷ trước quả thật quá hiếm quí.

    Trong một buổi gặp ngắn ngủi, ngài Đạt Lai Lạt Ma chỉ khuyên bà David-Néel hãy học tiếng Tây Tạng nếu muốn biết về văn hóa và tín ngưỡng của người Tây Tạng. Lời khuyên đó như kim chỉ hướng cho bà bước vào một miền đất mà sau đó bà khám phá cả một thế giới tôn giáo rất phong phú, một nền văn minh về tâm linh cao tột đỉnh như núi Tuyết Sơn. Theo bước chân không ngưng nghỉ và bộ óc không thành kiến của bà David-Néel, độc giả được biết về các tu viện giáo dục tâm linh đã có từ mấy trăm năm trước với các cấp bậc học hành như trường đại học ngày nay.

    Lý thú hơn nữa là những câu chuyện huyễn hoặc nhưng có thật được ghi chép từ một miền đất mà bà David-Néel từng phải cải trang thành người địa phương trong một hành trình đi xuyên qua Trung Hoa trong thời loạn lạc, từ miền đông qua miền tây để trở về miền cao nguyên Tây Tạng.

    Bà đã kể về Kum Bum, một tu viện nổi tiếng nhờ một cây “linh thụ của đại sư Tsong Khapa,” người sáng lập phái tu Mũ Vàng Gelugpa ở Tây Tạng được truyền thừa qua các ngài Đạt Lai Lạt Ma. Cây thiêng ở chùa Kum Bum được gọi linh thụ vì mỗi lá cây đều có câu thần chú “Om Mani Padme Hum” hiện ở bên trên mặt lá. Điều kỳ lạ là cây mọc giữa một miền núi quá lạnh, không có cây xanh nào có thể mọc lên nỗi. Mỗi lá mới đều tiếp tục xuất hiện câu thần chú một cách tự nhiên như có sự gia hộ với một thông điệp phước lành từ cõi thiên, không như mưu kế viết dòng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” mà người Việt từng làm trên lá cây trong một cuộc chiến ở thế kỷ thứ 15. Vào thế kỷ thứ 16, người ta xây tháp bảo vệ cây thần chú. Hai linh mục Abbé Huc và Joseph Gabet từng đến đây truyền đạo và được chứng kiến tận mắt một cây xanh tươi với từng chiếc lá mọc lên với câu thần chú.

    Cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” còn có những mẩu chuyện rất ly kỳ đến kinh dị mà đáng lý tôi không nên đọc vào ban đêm trước khi ngủ như từng làm một lần kia. Đêm hôm ấy tôi xem đến chương “Huyền Thuật và Ma Thuật,” rởn tóc gáy khi đọc câu chuyện tu luyện âm binh, sai khiến quỷ nhập tràng của một đạo sĩ bằng cách ôm chặt một cái xác vừa chết trong phòng tối kín mít. Ông đạo sĩ ghì chặt tử thi, truyền hơi ấm vào miệng xác, tập trung tư tưởng để truyền những bài thần chú cho đến khi một vong linh nhập vào xác để sống dậy, và ông phải cắn lưỡi xác này để vong linh không thể điều khiển ngược lại ông.

    Trong một câu chuyện khác, tôi nghe bà David-Néel kể về những người luyện “Chod” ở nghĩa địa hoặc ở nơi có nhiều ma quỷ để sám hối bao đời nghiệp ác và diệt trừ bản ngã của họ với sự dâng hiến thân xác cho quỷ ma. Phương pháp này có thể làm cho người ta điên loạn hoặc chết trong sự sợ hãi nếu thiếu đạo lực. Ngoài ra, còn có những pháp sư phù thủy truyền hết quyền năng vào một món vật được gọi là Phurba, thường là một khúc xương hoặc một con dao nhỏ. Pháp sư dùng Phurba để làm chuyện ác. Bà David-Néel kể rằng một con dao Phurba có thể giết người theo sự sai khiến của pháp sư mặc dù ông đã chết, và bà đã có thấy một con dao như vậy nhưng bà không bị nó giết như những người khác có lẽ vì bà cao tay ấn hơn vị pháp sư chủ của con dao.

    Sách còn nhiều hiện tượng tâm linh khác mà bà David-Néel đã chứng kiến, như từng thấy một nhà sư bay lướt qua sa mạc bằng khinh công, mặt ngửa lên bầu trời với mắt tập trung vào một điểm, trong khi chân không đụng đất mà thân lướt bay vùn vụt. Bà cũng chứng kiến những đạo sĩ luyện nhiệt công và có thể ngồi trần truồng giữa tuyết lạnh băng giá nhiều ngày mà không bị lạnh.

    Viết đến đây thì tôi có điều này muốn “tâm sự” với bạn. Đó là tôi đã hết buồn, cảm thấy vui nữa là đằng khác. Tôi vui vì nhận thấy có sự thay đổi (không biết xảy ra bao nhiêu lần trong đời) trong cái nhìn mới của mình. Tôi từng quyết định dẹp bỏ tủ sách, một “thư viện” mini dưới garage vì không còn hứng thú, tin tưởng ở chữ nghĩa trong mớ sách được gọi là “văn chương” mà tôi đã tích tụ trong gần 40 năm.

    Thế nhưng qua mấy cuốn sách viết về đạo, như cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” mới đọc xong, tôi lại khám phá một chân trời mới bắt nguồn từ một thói quen cũ, thói quen cầm một cuốn sách trong tay để đi tìm chân lý. Trong thời đại mà người ta chỉ đọc “sách” trên các trang mạng, xem ebook, tôi nhận thấy đọc một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen vẫn tiện hơn, thân mật, gần gũi hơn như được học với “một người dân quê dốt nát.” Có lẽ vậy nên tôi mới cảm thấy chút luyến tiếc khi phải chia tay bà David-Néel, và vui khi biết trên kệ sách vẫn còn những thế giới để cho tôi có thể bước vào trên đường tầm đạo. (pq)

  5. #145
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,388




    Nhân dịp xem cái clip này từ trang Nhân Gà Vlog nên vào lại trang "coi chùa".
    Clip này là "coi chùa" thật sự nha bà con. Nhìn cái chùa này tội quá sức.

    Cái chùa này chỉ có đập đi xây lại chứ mình nghĩ không có cách nào để sửa cả.
    Khuôn viên chùa thấy cũng có chỗ, nhưng cái chùa thì nhỏ xíu, chỉ có cái bao lơn
    và cái chánh điện và cái nhà bếp.

    Ai xem các ngôi chùa đồ sộ rồi xem cái chùa này tại Huế thấy thật đau lòng.

    Cũng tại Huế, hòa thượng Thích Mãn Giác từng viết câu:

    Mái chùa che chở hồn dân tộc
    Nếp sống muôn đời của tổ tông

    Nhưng tui nghĩ, dân tộc vào đây sẽ chạy hết, vì ngày mưa là dột hết. Nếu không dột thì có nguy cơ
    kèo, cột, mái ngói sụm bà chè. Rơi rớt chắc cũng sứt mẻ hết cả người.

    Ngay trong chánh điện có vị tu sĩ "trụ trì" trẻ, có để sẵn tấm bạt che mưa. Che được một chỗ, còn các
    chỗ khác dột thì lấy thau hứng nước.



    Last edited by Triển; 06-09-2024 at 12:00 PM.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  6. #146
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,388







    Ngôi Chùa Đẹp Nhất Việt Nam ...






    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  7. #147
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,388




    Ngôi chùa này hôm qua có hàng ngàn người tới viếng. Tội nghiệp thầy Minh Tuệ
    phải tiếp Phật tử chắc là mỏi mệt lắm.
    Hôm nay thành chùa bà đanh rồi vì thầy đã biến mất. Bào đệ thầy nói thầy đi ẩn tu
    rồi. Vẫn còn lai rai người lưu luyến đến vái và nguyện lâm râm cái chùa trống trơn.

    Chưa biết là thầy khuya về tự đi mất, hay an ninh lại hốt thầy đi tiếp. Nhà thân sinh
    thầy thì được các người làm nghệ thuật nào tặng tượng, nào tặng hình ảnh. Bà con
    ra vào viếng thăm tự nhiên như người điên, y hệt như vào viện bảo tàng. Trong nhà
    lẫn khuôn viên quanh nhà.


    .
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

 

 

Similar Threads

  1. Vào chùa Việt
    By Dân in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 1
    Last Post: 11-20-2013, 05:50 AM
  2. Học chùa
    By Triển in forum Giáo Dục
    Replies: 2
    Last Post: 06-29-2013, 10:11 PM
  3. Các Ni sư tự xây chùa Ni Viên Thông Tự ở Houston, Texas
    By Mây Hồng in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 10-07-2012, 10:29 AM
  4. Lên chùa cúng sao
    By Triển in forum Khoa Huyền Bí Học
    Replies: 69
    Last Post: 03-16-2012, 10:46 AM
  5. Con sãi ở chùa lại quét lá đa
    By Triển in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 2
    Last Post: 11-15-2011, 10:25 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 01:47 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2024 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh