Register
Page 9 of 9 FirstFirst ... 789
Results 81 to 83 of 83

Thread: Coi chùa

  1. #81
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    24,337



    Đừng Tranh Cãi Vô Ích


    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif

  2. #82
    VÀI CHÚ GIẢI VỀ THIỀN ĐỐN NGỘ
    Nguyên Giác Phan Tấn Hải

    Bài này để chú giải bài thơ "Ảnh Trầm Hàn Thủy" của Thiền Sư Hương Hải, thuộc Thiền Phái Trúc Lâm, trong một pháp thoại với vua Lê Dụ Tông. Riêng cũng để trả lời cho câu hỏi của một người bạn cách nay nhiều năm, mà lúc đó chưa thể nói hết ý, vì thứ nhất là khó giải bày những hình ảnh Thiền cho người bạn Thiên Chúa giáo, thứ nhì là câu hỏi đó do trước là một hiếu kỳ văn học, sau là một tò mò về Thiền, chứ không để tâm về chỗ thực tham thực ngộ, dù vậy nay cũng có lời để cảm ơn tri ngộ. Nếu có lời nào trong bài này hợp ý Tổ thì đó là nhờ ơn sâu day dỗ của Thiền Sư Trạm Nhiên Tịch Chiếu, chùa Tây Tạng (Bình Dương, Việt Nam); nếu có lời nào chưa phải, xin trọn lòng sám hối trước ba đời chư Phật.

    Bấy giờ Thiền Sư Hương Hải đã 78 tuổi, được vua Lê Dụ Tông mời vào nội điện lập đàn cầu tự vì hiếm con. Vua hỏi Sư:

    - Trẫm nghe Lão Sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão Sư thuyết pháp cho Trẫm nghe để Trẫm được liễu ngộ.

    Sư đáp:

    - Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu 4 câu kệ này:

    Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
    Thẩm sát tư duy tử tế khan
    Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
    Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

    Thượng Tọa Thanh Từ dịch là:

    Hằng ngày quán lại chính nơi mình
    Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
    Trong mộng tìm chi người tri thức
    Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.

    Qua cách đặt câu hỏi của một người nào đó, chúng ta có thể xét định được tầm nhìn, tầm hiểu của người hỏi. Ở đây ta thấy vua Lê tìm Sư là do ý định cầu tự tìm con trai, chứ khởi tâm không có ý định cầu pháp giải thoát. Người xưa muốn hiểu đạo phải trèo núi vượt sông, tìm đủ thiện tri thức, không tiếc thân mệnh mình, chứ có đâu quan liêu thoải mái như ông vua này. Ta thấy ngay động cơ tìm nhau đã là chưa ổn rồi. Nhưng vì lòng từ bi, Thiền Sư cũng mượn phương tiện thiện xảo, giở trò phù thủy lập đàn cầu tự, để tìm cơ hội hóa đạo.

    Vua nói: "...Lão Sư học rộng nhớ nhiều..." Thế là hỏng, không có câu nào phỉ báng một Thiền Sư hay ho đến như vậy. Nói câu này với một Giảng Sư, Pháp Sư hay Luận Sư thì thật là tuyệt diệu, không lời khen ngợi nào hơn. Nhưng tai hại thay, người trước mặt lại là một Thiền Sư, thật là hỏng bét. Nhắm ngay một người chủ trương bất lập văn tự mà không chịu hỏi chỗ không lời mà nói, không tâm mà nắm, không ý mà truyền, lại khen rằng sao đầu Thầy nhồi nhét lắm chữ thế... Không gì nhảm hơn. Ngay câu đầu mở miệng, vua đã hiện tướng chồn hoang rồi, biết tới kiếp nào mới thành sư tử.

    Kế tiếp, vua nói "... để Trẫm liễu ngộ." Vậy là cũng có hùng tâm lắm, can đảm lắm, dám đòi ngộ ngay sau một bài pháp. Nhưng căn bản đã sai rồi, nếu bài pháp này do chỗ "học rộng nhớ nhiều" thì không thể nào có một Thiền Sư đứng trước mặt như vậy và cũng không thể nào vua liễu ngộ sau một lời được. Một bài pháp thích đáng phải là do chỗ không có gì để học và cũng không có gì để nhớ.

    Đối với mỗi căn cơ, các Thiền Sư sẽ có những cách dạy khác nhau. Ngay cả đối với hàng căn cơ cực cao, các Sư cũng phải chuẩn bị mọi chuyện thuần thục rồi mới nói chuyện tới. Ở đây, ta thấy Sư Hương Hải đã dùng nhiều lời cho thích hợp với ông vua hỏng kiểu này.

    Ý của Sư qua 4 câu đó là, mỗi giây phút trong đời, vua phải quán sát, nghe ngóng tâm mình. Mình đang ở trong một giấc mộng lớn (ý là cuộc đời như huyễn này) này đâu cần phải tìm chi thiện tri thức (cũng là người mộng trong giấc mộng này thôi). Cứ quán sát tự tâm như vậy hoài tới một lúc sẽ thấy được khuôn mặt của Thầy (ý là mặt Phật) trên khuôn mặt của mình. Rõ ràng ở đây chẳng có gì là bí hiểm cả, cũng chẳng có đánh đập la hét gì cho có Thiền vị cả. Câu chuyện chỉ là cứ việc theo dõi các niệm trong tâm liên tục như vậy, tới một lúc sẽ thấy mặt Thầy (hay mặt Phật, Tánh Phật hay Tâm Phật) trên mặt mình (hay tự tâm).

    Từ phản văn tự kỷ cho tới thẩm sát tư duy vẫn chưa đúng là Thiền Đốn Ngộ. Hay nói đúng hơn, đó mới chỉ là Như Lai Thiền chứ chưa thực là Tổ Sư Thiền. Trước khi phân biệt hai thứ Thiền này, chúng ta nên nói thêm về cách trả lời của các Thiền Sư. Giáo pháp của đức Phật được ví như ngón tay chỉ mặt trăng. Các Thiền Sư thường không ưa nói về ngón tay mà thường chặt phăng ngón tay để nói thẳng tới mặt trăng. Bởi vì cái con đường có giá trị nhất phải là cái con đường không có đường, cánh cửa vào nhà Tổ trực tiếp nhất phải là cửa không cửa. Có gì đâu phải loanh quanh đi tìm đường lên Niết Bàn hay cửa vào nhà Tổ, trong khi chỉ cần chớp mắt cho rụng tí bụi đã thấy ngay ta vẫn hằng ngồi yên trong Thanh Tịnh Pháp Thân. Mà vốn thật có chi gọi là bụi đâu mà phải chớp mắt nhướng mày hay là lau sạch đài gương.

    Hai cách gọi Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền thường ít được dùng vì thật sự cả hai đều từ một gốc mà ra. Nhưng sự phân biệt chỉ là để nhấn mạnh hơn một nghĩa khác biệt. Như Lai Thiền là những pháp môn Thiền do từ lời dạy của đức Phật. Tổ Sư Thiền là pháp môn Thiền không do từ lời dạy mà do từ cử chỉ của Phật khi cầm đóa hoa đưa lên và mỉm cười. Bấy giờ chỉ duy có ngài Ca Diếp hiểu được và nhận truyền thừa. Các Tổ truyền đăng pháp nay qua nhiều đời, tới khi gặp những cơ may của đời sau mới phát triển rộng ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản... Tổ Sư Thiền còn nhiều tên gọi khác để chỉ như là Đốn Ngộ Thiền, Trực Chỉ Thiền, Phật Tâm Tông, Tâm Tông... Quan niệm của Như Lai Thiền là phải huân tập từ từ (tiệm) đầy đủ giới, định, huệ mới thành Phật được. Quan niệm của Tổ Sư Thiền là đốn, là ngay tức khắc, là một nhảy liền vào đất Như Lai như cách nói của Thiền Sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca:

    Đốn giác liễu Như Lai Thiền.
    (Nếu đốn ngộ được thì là hoàn thành hết cả Như Lai Thiền)

    Bởi vì Trong Tự Tánh đã sẵn đủ giới, định, huệ. Vả lại, giới, định, huệ do sự tu tập làm sao bằng được giới, định, huệ của Thanh Tịnh Pháp Thân. Vấn đề chỉ còn là làm sao nhảy được vào đất Như Lai. Cách tốt nhất vẫn là tìm cho được một vị thầy có bản sắc của Tông môn.

    Bốn câu kệ trên của Sư Hương Hải vẫn còn dựa vào Như Lai Thiền. Những gì là phản văn với thường quan với thẩm sát tư duy chưa có gì là trực chỉ hết. Đây vẫn còn là ngón tay chứ chưa là mặt trăng, vẫn là con đường có đường và cánh cửa có cửa. Sư có thương vua Lê cũng không thể nói khác hơn được vì ông vua này mới mở miệng đã bốc mùi chồn hoang rồi, chưa được chuẩn bị để húc đầu vào vách bạc tường sắt. Ngay cả câu cuối, nói sẽ thấy mặt Phật trên mặt mình cũng chỉ mới là Như Lai Thiền. Cái chữ tương lai đầu câu bốn đã làm hỏng cả những kiểu nói của Huệ Năng, Huyền Giác... Làm sao nhảy được vào đất Như Lai với cặp nạng của phản văn với thẩm sát nhỉ. Đây là chỗ không một tâm có thể nắm bắt được thì lấy tâm nào là tâm tương lai để thấy được tâm Phật trong tâm mình. Cốt yếu của Tổ Sư Thiền còn ở chỗ này: Còn thấy được tâm Phật trong tâm mình vẫn chưa là thực ngộ.

    Vua Lê Dụ Tông vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác. Cái này là đương nhiên, có đánh thêm ba mươi gậy vẫn còn là hỏng kiểu. Vua lại hỏi thêm:

    - Thế nào là ý của Phật?

    Sư đáp:

    Nhạn quá trường không
    Ảnh trầm hàn thủy
    Nhạn vô di tích chi ý
    Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

    Thượng Tọa Thanh Từ dịch nghĩa:

    Nhạn bay trên không
    Bóng chìm đáy nước
    Nhạn không có ý để dấu
    Nước không có tâm lưu bóng.

    Một lần nữa, chúng ta phải lắc đầu đến nản vì ông vua này. Lần đầu phải gọi là chồn hoang, lần này không biết gọi là gì cho đáng. Đứng trước mặt một người dạy Tổ Sư Thiền mà hỏi ý của Phật là nhảm nhí không gì bằng. Muốn biết ý Phật cứ việc lật kinh điển ra đọc là đủ. Phật đã nói hết cả, đâu có giấu gì đâu. Duy có điều không nói được là không nói được mới đáng hỏi chứ. Câu đáng lý ra phải hỏi là "Ý của Tổ Sư là gì?" vẫn được các Thiền sinh thắc mắc từ đời này qua đời nọ. Để cho có vẻ chính quy sách vở hơn thì là như hà thị Tổ Sư Tây lai ý, ý của Tổ Sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phương Tây tới là gì. Đầu thai ba mươi kiếp nữa biết Lê Dụ Tông có thấm nỗi trận đòn này chưa, khổ quá, hỏng không gì bằng, chỉ mệt cho người đời sau phải lôi pháp thoại này ra chú giải.

    Sau khi nghe bài thơ của Sư, vua khen ngợi:

    - Lão Sư thông suốt thay.

    Khổ quá, hiểu không nổi, hỏi không xuôi, mà lại khen như thầy người ta ấy, như thể vừa cố tâm bắt bí học trò. Nào có biết đâu Lão Sư vừa mới bắt bí đến cả mấy chục đời sau. Nắm được diệu nghĩa của mấy câu này cũng đủ để đi hiên ngang giữa dòng đời bất tuyệt mà không dính một tí bụi vào thân.

    Chúng ta có thể thấy thứ tự câu chuyện như vầy. Đầu tiên vua khen Sư học rộng nhớ nhiều rồi xin nghe một bài pháp để được liễu ngộ. Sư tặng cho bốn câu chỉ pháp Như Lai Thiền. Bốn câu này dễ hiểu quá, Trời ơi, vua tưởng bở thừa thắng xông lên, hỏi thêm một câu trật chìa nữa. Sư vẫn rất mực từ bi, phơi mở tận cõi lòng, tặng thêm bốn câu chỉ pháp Tổ Sư Thiền. Tới đây vua mới choáng váng mặt mày, biết là khó ăn, mới khen một lời, ý là để xin thôi.

    Ta thấy bài này để chỉ pháp cho hàng thượng căn, chỉ ngay cảnh giới của chư Phật. Ở đây Sư đã rất mực từ bi, vua hỏi ý của Phật, Sư chỉ ngay cảnh giới chư Phật, nào có khó tính như các Sư khác. Đúng ra nhằm một câu hỏi trật cách Tông môn như vậy, câu trả lời đáng là bảo vua về lật kinh điển mà tìm ý của Phật. Hiểu được ý của Phật chưa chắc đã hiểu được lời của các Thiền Sư. Nhưng hiểu được lời của các Thiền Sư chắc chắn hiểu được ý Phật.

    Cánh chim nhạn bay trên không. Ảnh của chim hiện trong nước. Ảnh chỉ hiện đúng được khi sóng (niệm) lặng. Chim nhạn (hay vật, hay cảnh, hay là pháp) không có ý lưu dấu (đây là chỗ mây rồi sẽ bay qua đi, sóng rồi sẽ lặng xuống, bụi vốn không thật là bụi, niệm vốn thật vô tự tánh).

    Nước (hay là Tánh của Tâm, đây là chỗ Thức đã chuyển thành Trí) cũng không có tâm (đây là tâm vô tâm, hay tâm của kẻ giác ngộ, gọi khác là tâm đã không còn một hiện tượng) lưu bóng chim nhạn (đây là chỗ cảnh tự trụ cảnh, niệm cứ việc khởi, bụi cứ việc bay, nhưng gương Trí đã sáng, sự thật là vốn hằng sáng, thì lấy đâu là nơi cho niệm lưu, cho bụi bám). Sư đã rất mực từ bi, bài toán này không thích hợp cho ông vua đa tình hiếm con này.

    Đây là cảnh giới của vô tâm, nhưng Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán (như cách gọi của Sư Lâm Tế).

    Cánh chim nhạn (hay là cảnh, hay pháp) thấy được là không (pháp vốn tự tánh) rồi, và nước (khi bặt sóng, hay tâm vô tâm, hay Tánh của Tâm, hay tánh vô tự tánh của tâm) đương nhiên hiện ảnh (nhạn đến thì hiện nhạn) mà không hề khởi tâm (tâm đã không thì lấy gì để khởi), mà cũng không có tâm lưu ảnh (thấy được tánh của pháp là vô tự tánh, tánh của niệm là vô tự tánh, vào nơi vô niệm mà niệm vẫn hằng sinh, hay ở nơi niệm mà vẫn hằng vô niệm - tâm của kẻ giác ngộ - thì lấy tâm nào để mà lưu ảnh).

    Nhưng lấy đâu làm viên gạch dộng cửa để vào nhà Tổ đây, lấy gì làm trớn để một nhảy liền vào đất Như Lai, đứng thẳng ở cảnh giới này? Đối với hàng thượng căn, mọi chuyện thầy đã chuẩn bị thuần thục, thì bốn câu này là đủ. Ngoài ra thì hoàn toàn không có viên gạch nào dộng cửa trong bốn câu này cả, không một phương tiện thiện xảo nào để vin lấy mà đi cả. Cánh cửa đã mở rộng tới hư không thì biết đâu là cửa để mà vào, quan ải đã quét sạch (trong 4 câu này) tận hư không thì làm sao người Thiền sinh biết chỗ mà một đao qua ải?

    Một khi đã thấy pháp (hay cảnh, hay nhạn) vốn vô tự tánh (không ý lưu bóng) và nước (tâm) vốn vô tự tánh (nên không tâm lưu ảnh) thì đã vượt qua cả cảnh giới tâm cảnh nhất như (cảnh giới thứ ba của Tứ Liệu Giản, pháp không và tâm không). Đây là cảnh giới thứ tư của Tứ Liệu Giản, tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh; pháp và tâm đã không (vô) tự tánh được rồi lại tới đây (trong 4 câu này) ngay đến cái không (vô) đó cũng không dựng lập lên thì lấy đâu mà không với có nữa. Bấy giờ là cảnh giới niệm khởi mặc niệm mà tâm vẫn hằng vô niệm, lấy gì mà dựng lập Niết Bàn với sinh tử, thiên đường hay địa ngục.

    Nói trở lại, tâm đã không và pháp đã không thì hiện tướng tâm cảnh nhất như, chỉ còn một cái thấy biết mình người không cách nhau tới một sợi tóc, thấy tính bình đẳng của vạn pháp (phạm trù thứ ba nhắc trên). Nhưng trong bốn câu này, cái đa (mình người, tâm pháp, nước và nhạn) đương nhiên đã không dựng lập (vốn không ý không tâm thì lấy gì mà dựng với lập), mà ngay đến cái nhất (mình người, tâm pháp vô phân biệt) cũng không hề có (cái vô phân biệt cũng không hề dựng lập) thì lấy gì mà gọi nhất như với như nhất nữa. Nói trở lại lần nữa cho rõ hơn, không thấy cái đa thù (phân biệt) thì thấy cái nhất như (tính bình đẳng hay tâm vô phân biệt), nhưng ở đây (bốn câu của Sư Hương Hải) trong cảnh giới này ngay đến cái như ấy còn không dựng lập thì còn chỗ đâu mà đa với nhất, mà gọi là phân biệt hay vô phân biệt. Nói cho đúng thuật ngữ nhà chùa là, ở chỗ này, lấy gì để mà đoạt với bất đoạt.

    Trong bốn cảnh giới thấy tánh vô tự tánh của Tứ Liệu Giản, Thiền Sư Hương Hải lại lấy ngay cảnh giới thứ tư chỉ cho vua Lê Dụ Tông thì làm sao ông vua đa tình hiếm con này liễu ngộ được. Khổ quá, ai bảo đòi biết ý Phật làm chi. Cái tướng đa thù đã không còn mà ngay đến cái tướng nhất như cũng không thấy nữa, ngay đến cũng không thấy các đẳng đâu để hiện tướng bình nữa thì lấy đâu cửa mà vào. Còn như nếu vua trở lại bốn câu Như Lai Thiền (Phản văn...) để tìm cửa vào thì tới kiếp nào mới thành sư tử. Như vậy, vấn đề của vua Lê cũng như của chúng ta hôm nay là phải đi tìm chìa khóa (hay viên gạch dộng cửa) để vào nhà Tổ.

    Theo quan niệm của chư Tổ là nói nhiều về viên gạch dộng cửa thực sự không có lợi cho người muốn thực tham thực ngộ. Riêng bốn câu thơ Ảnh Trầm Hàn Thủy cũng đã quá đủ rồi, đi lối bặt đường chim không phải là đã à. Còn muốn chi tiết hơn, đó là vấn đề của các dòng Lâm Tế, Tào Động, Tây Tạng...

    Nếu bài này có chút gì sai hay ngã mạn với vua Lê, xin trọn lòng sám hối. Nếu có chút gì công đức, xin biến cùng tận pháp giới đưa tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.

  3. #83
    https://images-na.ssl-images-amazon....1h765-GjYL.jpg

    Năm Ngày Ở Tu Viện Mộc Lan
    Hoàng Hưng

    Namo Avalokiteshvara… Không lần nào nghe bài tụng hồng danh Quán Thế Âm Bồ Tát của tăng thân Làng Mai mà tôi không rớm lệ. Cả vũ trụ bao la tình bi mẫn. Và sao cứ hiện về hình ảnh lần nghe đầu tiên, các sư em và thiền sinh tu viện Bát Nhã năm nào ngồi xếp bằng tụng ca tên Mẹ trước bầy người hung hãn đợi lệnh xông vào. Gương mặt họ sáng lên một ánh sáng lạ kỳ, còn mình thì cứ chảy nước mắt…

    Gần mười năm rồi. Tối nay cũng lại bài tụng ấy mở đầu khóa tu “Tâm an, thế giới an” 5 ngày ở Tu viện Mộc Lan (Magnolia Monastery), bang Mississipi Hoa Kỳ. Lại gặp những gương mặt thuở ấy, nay đã rắn rỏi trong cương vị điều hành hay giáo thọ của một Trung tâm Thiền xa quê hương vạn dặm: Sư cô Hỷ Nghiêm, Sư cô Khải Nghiêm, các thầy Pháp Hội, Pháp Sĩ, Pháp Tịnh…

    Vẫn cứ bất ngờ, như đã từng bất ngờ ở Làng Mai bên Pháp năm nào, trước sức thu hút của một sư em Việt nhỏ xíu trẻ măng, với một giọng Mỹ đầy truyền cảm, dẫn dắt gần 200 thiền sinh người nước ngoài từ các bang Hoa Kỳ, cả từ nước khác nhân qua Hoa Kỳ thăm con gặp khóa tu cũng tới dự, với sự dí dỏm khiến những ông Tây bà đầm mái đầu bạc phơ chốc chốc lại cười vui như con trẻ.

    Phải, đã là nếp sống của Làng Mai ở bất cứ đâu: đến với Làng, học hay tu, thiền hành hay rửa bát, đều là tiếng cười, đều là thực tập “pháp môn hạnh phúc”.

    Thiền đường lớn, quá lộng lẫy trong sự giản dị tối đa của gỗ thông vàng ươm, có sức chứa trên 1000 người. Những công trình xây dựng ở đây đều do cư sĩ người Mỹ được gọi tên thân yêu là Uncle Rick chỉ huy, với bàn tay lao động của sư cô, sư thầy, Phật tử. Thật khó mà tưởng tượng cảnh các cô ngồi trong chiếc thùng được cần cẩu đưa lên cao để tự tay đóng những tấm ván gỗ thông vào trần nhà, như lời kể của anh Lê Văn Trạch ở Memphis, thân phụ của hai sư cô trẻ. Những tiểu phẩm xinh xắn rất Việt Nam như những cây đèn hoa sen, những bài thơ, lời dạy, nét bút mềm như liễu của Thầy khắc trên đá do một sư cô tạo tác. Những hàng mộc lan, tường vi, liễu, trúc, những vườn hồng, cúc, ao sen… do bàn tay tăng thân tạo dựng. Sau hơn 10 năm, 118 acres (gần 40 ha) đất đồi, nguyên là trang trại nuôi bò, do ba gia đình Phật tử người Việt gốc An Bằng (Huế) mua để cúng dường Sư Ông Làng Mai, đã thành một trung tâm thiền tập lớn, tiện nghi và ấm cúng. Dẫn tôi đi thăm quanh khu đồi Tu viện, anh Hồ Thanh Bình, nguyên là huynh trưởng gia đình Phật tử vượt biên sang đây, một thành viên của nhóm thiện nguyện đầu tiên tạo nên cơ sở Mộc Lan, không muốn nói đến số tiền bạc gom góp từ những tháng ngày vất vả kiếm sống trên quê người. Anh kể: “Sau ngày “Đi bộ vì hòa bình” (Peace Walk) năm 2003 ở Memphis có Sư Ông qua dẫn dắt, nhóm đã phát tâm tìm mua đất cúng dường. Năm 2005, Sư Ông cùng tăng thân Làng Mai qua nhận đất, nhưng Sư Ông dạy: ‘Cứ tu tập đi, rồi mọi việc tốt lành sẽ tới’. Anh em vâng lời Thầy, tu tập thành tâm, và từ từ xây cất. Phải đến sau pháp nạn Bát Nhã, tháng 03/2010 có 6 sư cô từ Làng Mai Pháp đến, Làng Mai mới chính thức có chúng xuất sĩ thường trú để bắt đầu hình thành Tu viện Mộc Lan, bảo lãnh quý sư thầy, sư cô từ tu viện Bát Nhã sang tiếp tục tu học.

    Tiếp nhận thiền sinh người việt tới dự khóa tu là Sư cô Khải Nghiêm. Sư cô qua Mộc Lan từ 2015. Nguyên là một cô giáo ở Cam Ranh, cô đã lặng lẽ từ chối vào Đảng Cộng Sản để xuất gia. Sau khi cô bị buộc phải rời Bát Nhã về lại chùa ở quê, an ninh tới tận chùa chất vấn: - Cô đi tu là trốn tránh trách nhiệm xã hội, sao cô không tiếp tục làm một cô giáo để cống hiến? Cô trả lời: - Tôi đi tu trước hết để bản thân mình trở thành một con người tốt. Một con người tốt sẽ truyền cái hạnh tốt cho những người khác. Những người ấy lại truyền cái hạnh tốt ra khắp xã hội. Đó chính là đóng góp của những người xuất gia như tôi”.

    Nhắc lại những kỷ niệm đau buồn, cô không sao quên được cái lúc đặt chân xuống sân bay Charles de Gaulle khi phải rời Việt Nam, nỗi tủi thân thắt lòng đứa con đang đầy hy vọng đóng góp cho quê hương mà bị thẳng thừng từ chối.

    Cô tâm sự: “Sang đây, lại gặp một vùng quê nghèo của nước Mỹ, rất đông con cháu của người nô lệ da đen xưa. Tu viện đã mở cửa đón các cháu sinh hoạt những ngày cuối tuần, đã chia sẻ thực phẩm cho những gia đình nghèo. Nhìn các cháu mà lòng con không nguôi nghĩ về Việt Nam”. Nỗi niềm của cô Khải Nghiêm phần nào được an ủi vì số Phật tử gốc Việt từ khắp nước Mỹ bắt đầu quy tụ về, mỗi năm một đông. Khóa tu 2017 này có 80 người.

    Ngày khai mạc khóa tu năm nay (11/10) lại trùng vào Sinh nhật (mà tăng thân gọi là ngày “tiếp nối”) lần thứ 91 của Sư Ông. Sư cô Hỷ Nghiêm vừa từ Trung tâm Làng Mai Quốc tế Thái Lan trở về, báo tin vui là sức khỏe Sư Ông đã tăng tiến nhiều. Cô chia sẻ tấm ảnh chụp Sư Ông ngồi tiếp đại chúng mừng sinh nhật, và truyền lá thư “Ngày tiếp nối của Thầy”, với lời nhắn nhủ đầu tiên: “Con xin buông bỏ hết những bực mình giận ghét người nầy, chê trách những lỗi lầm của người kia. Con xin quay về thủ hộ ý, từ bi và buông nhẹ những đau buồn trách móc”. Nghe, bỗng tự hỏi: Mình có giận ai không nhỉ? Có đấy. Đang giận một người. Phải tìm cách hóa giải. Lạ thật, ở tuổi gần đất xa trời, sức bảo thủ lớn quá chứ, ở nhà vợ con có trách cứ sự gì là lập tức xù lông nhím: - Đến tuổi này chỉ có thế thôi. Đợi kiếp sau sửa nhé! Thế mà sao những lần dự khóa tu của Làng Mai, mình cứ luôn giật mình “tự kiểm” khi có một lời nhắc nhở chung, dù chỉ từ một sư em tuổi con mình? Có lẽ đó cũng là bí quyết thành công của Làng Mai. Chẳng truyền dạy điều gì cao siêu, chỉ nhắc ta tập sống vui, tập lắng nghe, tập buông bỏ, tập trở về chính mình, và quan trọng nhất… tập thở! “Thở vào tâm tĩnh lặng/ Thở ra miệng mỉm cười”. Dễ nhỉ, mà sao khó! Đúng như Sư thầy Pháp Hội nói trong buổi pháp thoại: “Chỉ cần nhắc lại những lời rất quen thuộc của Thầy, nhưng với niềm tin vững vàng, là đã có sức mạnh”.

    Buổi sáng, Sư cô Hoa Nghiêm kết thúc bài pháp thoại “Tâm yên” bằng một món quà. Đó là bài hát mà cô phổ thơ của Sư Ông: “Lòng không bận về”. Cô nhờ thầy Pháp Tịnh ca. Một khúc thiền ca hay hiếm có! Giọng hát hay quá! Và nhạc chở được ý thơ, một trong số ít bài thơ thiền hiện đại mà tôi tâm đắc.

    Xin chép lại bài thơ ở đây:

    Ngồi đây lắng tiếng chim bay
    Ba ngàn thế giới không đầy tấc gang
    Phương tây vừa khuất quạ vàng
    Phương đông thỏ ngọc đã ngang đỉnh đồi

    Trước sau có một mình tôi
    Nghe như có tiếng đất trời gọi nhau
    Xuất thiền lặng lẽ giây lâu
    Lá lay cánh liếp bên lầu sáng trăng
    Sông xưa giờ đã thuận dòng
    Gió đi khắp chốn lòng không bận về

    Cùng một cảm xúc vũ trụ của bậc hành giả, nhưng Không Lộ thiền sư mười thế kỷ trước muốn hét lên một tiếng lạnh cả thái hư “nhất khiếu trường thanh hàn thái hư”, còn Nhất Hạnh thiền sư hôm nay lại lặng lẽ nghe tiếng đất trời gọi nhau; người trước gửi chí vào câu thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán, người nay trải lòng qua nhịp lục bát Việt dịu mềm.

    Buổi chiều lại có duyên tình cờ dự pháp đàm tại cốc giành cho Thầy những khi về đây.

    Tấm đá lớn chỉ lối vào, khắc 4 câu thơ:

    Về đi lữ khách đường xa lắm
    Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
    Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
    Cho hồn thơ ấu được nâng niu

    Một nếp nhà đơn sơ bên sườn đồi còn nguyên rừng cây. Một chiếc bàn lớn nguyên gốc gỗ sồi mà Thầy bảo Thầy đếm từng vân gỗ biết nó đã được 105 tuổi, và vẫn luôn áp bàn tay lên mặt để được tiếp sức từ Mẹ Thiên nhiên. Thầy bảo sư cô Hỷ Nghiêm đặt tên là “Cốc chịu chơi”. Tại sao có tên ấy? Xem hồi sau sẽ rõ.

    Năm ngày đêm trôi qua rất nhanh, với những sinh hoạt mà tôi cũng đã quen ở Làng Mai bên Pháp, ở Viện Phật giáo ứng dụng bên Đức: ngồi thiền buổi sớm và buổi tối, thiền hành, pháp thoại, pháp đàm, thiền làm bếp, cả thiền buông thư (ngủ trưa trong lời dẫn và giọng ca của một nhà sư, sướng thật!)…

    Tất cả đều dung dị, nhẹ nhàng. Nhưng buổi chót là nghi thức thật trang nghiêm, xúc động, lần đầu tiên tôi tham dự: nghi thức truyền 14 giới Tiếp hiện (Inter-being). Thật ấn tượng cảnh gần 20 người Mỹ, nam và nữ, có người phải chống gậy, nghiêm cẩn trong trang phục nâu sồng chùa Việt truyền thống, thành kính đọc những lời nguyện rất “hôm nay” mà Sư Ông soạn: “Ý thức được những khổ đau do sự cưỡng bức người khác vâng theo cái thấy của mình, con nguyện không ép buộc bất cứ một ai, kể cả trẻ em, đi theo quan điểm của mình, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, mua chuộc, dọa nạt, tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và quyền tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải sử dụng những phương tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp”, v.v. (chỉ ví dụ Giới thứ Tư, rất gần gũi nghề văn nghề báo của bản thân!)

    Bà Bobbie Perkins, vừa nhận pháp danh Tiếp hiện là “Chân Truyền Tâm” (True Transmission of Mind), cho biết: bà biết đến Thầy là từ khi đọc cuốn sách “Miracle of Mindfulness” (Phép lạ của Chánh niệm) vào năm 1976. Những người chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo ở Dallas (Texas) dần dà tập họp nhau, lập ra Trung tâm Thiền Dallas (Dallas Meditation Center) mà bà làm giám đốc. Sau khi dự hai khóa tu 2011 và 2013 ở Tu viện Mộc Lan, bà ngày càng tin theo pháp môn Làng Mai, rồi hôm nay trở thành thành viên gia đình Tiếp hiện.

    Chuyện kể của một Sư cô

    Ghi lại chuyện kể của Sư cô Hỷ Nghiêm, người được Thầy cử sang xây dựng Tu viện Mộc Lan từ những ngày đầu.

    Ngay từ chuyến đầu tiên từ Mỹ sang dự khóa tu mùa đông 5 tuần tại Làng Mai bên Pháp năm 1995, cô gái trẻ đã cảm nhận: Đây đúng là nơi mình sẽ đến! Ngay lập tức cô bị thu hút vào một tập thể sống bình dị, vui vẻ yêu thương trong cảnh nghèo như ở một làng quê Việt. Những dòng thơ trào lên trong lòng cô: “… Ôi tuyệt diệu tình thương vô ngã/ Đến với tôi tất cả niềm tin”.

    Thực tình trước đó, cô đã có vài lần thổ lộ ước nguyện xuất gia, nhưng lần nào cũng gặp phản ứng bất lợi từ ba mẹ. Cha cô tha thiết: “Cha đã trải qua bao cực khổ, tù đầy, qua đây chỉ gắng sức mong cho con học hành nên người, sao con nỡ bỏ cha mẹ mà đi!” Nhưng khi cô từ Làng Mai trở về, mẹ cô đọc được điều gì trên gương mặt và ánh mắt con, đã thốt lên: “Thôi chuyến này thì nó xuất gia thật rồi, không cản được nó đâu!”

    Tháng 6 năm 1996 cô quay lại Làng Mai, xuống tóc.

    “Cái duyên với Làng Mai thật ra đã khởi từ lâu”, Sư cô chia sẻ. Năm 1993, khi cô ra phi trường bay qua Mỹ cùng cả nhà, một sư thầy thân quý đã cho cô một tập sách in lậu, với tựa đề “Con đường chuyển hoá” không có tên tác giả, và gần một năm sau có một thầy khác dặn: ‘Muốn hiểu sâu về Đạo thì cứ đọc CĐCH’. Cô hơi gợn thắc mắc: CĐCH là cái gì? Nhưng không kịp hỏi. Mặc dù những ngày tháng bận rộn làm quen với cuộc sống mới, cô vẫn thao thức câu hỏi CĐCH là gì. Mãi đến một ngày gặp cuốn sách tiếng Anh của Thầy Thích Nhất Hạnh “Transformation & Healing”, cô mới Ồ, thì ra trong tay mình bao lâu đã có cuốn tiếng Việt, CĐCH tức là “Con đường chuyển hóa”.

    “Chú có biết cái duyên ấy còn tiếp tục đến bây giờ? Chú đợi một chút, Hỷ Nghiêm cho chú xem cái này”. Sư cô đi về “cốc”, lát sau mang ra cho tôi một tập vở dày, ngoài bìa có dòng chữ nhỏ “Bản thảo CON ĐƯỜNG CHUYỂN HÓA…”, bên trong là những trang dày đặc chữ màu xanh, nhiều chỗ sửa chữa, ghi chú…”. Tháng 10/ 2016 vừa rồi về Việt Nam, Hỷ Nghiêm đã được tặng bản thảo hơn 40 năm trước của Thầy”.

    “Con đường chuyển hóa” đã là bảo bối giúp sư cô trẻ tuổi vượt qua bao thử thách trên đường tu tập và truyền đạo mười mấy năm qua.

    Năm 2001, sư cô được Thầy cử vào nhóm 10 đệ tử lần đầu tiên trở về nước, trong đó có các sư thầy sư cô Tây phương. Thầy nói: “Các con là những hoa trái tốt đẹp mà Thầy chọn dâng lên bàn thờ Tiên Tổ”. Câu nói ấy đã là ánh lửa cho cô trong nhiều lần trở về, dò dẫm trong đêm tối, chuẩn bị cho Thầy về với quê mẹ, rồi cùng các sư chị sư em xây dựng nên Tu viện Bát Nhã lừng danh, cho đến ngày bị xua đuổi.

    “Thực lòng sau sự cố đau lòng ấy, Hỷ Nghiêm chỉ muốn được ở lại Làng Mai ‘thanh thản ngủ trong lòng đạo cả, cho hồn thơ ấu được nâng niu’. Nhưng chẳng bao lâu, Sư Ông lại cử qua Mộc Lan để đón nhận các chị em từ Bát Nhã”.

    Không quên được ngày đầu tiên đặt chân lên vùng đồi heo hút miền Trung Nam nước Mỹ, thỉnh thoảng văng vẳng câu nói của một sư thầy người Mỹ không giấu được sự lo âu nói với Hỷ Nghiêm trước khi về Mộc Lan: “Tại sao mình lại đặt Tu viện ở một vùng mà sự bảo thủ, kỳ thị chủng tộc, tình trạng bạo lực, sexual abuse [lạm dụng tình dục] vào loại nhất, và cũng nghèo vào hạng nhất nước Mỹ?”

    “Hỷ Nghiêm im lặng giây lâu, rồi nhìn vào sư thầy, nói: ‘Chính vì thế mà chúng ta có mặt’. Nhưng quả thực, ngay từ giây phút bước lên khu đất này, Hỷ Nghiêm như nghe thấy tiếng thì thầm: Tổ tiên đất đai ở đây đã sắp đặt cho mình chỗ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ngày đầu tiên ra chợ, những cư dân người da đen quay lại nhìn và hỏi: Cô từ đâu đến, trang phục của cô là theo tôn giáo nào? Hỷ Nghiêm chắp tay xá họ, trả lời với nụ cười trên môi: Tôi là người Việt sống trên đất Mỹ, tôn giáo của tôi là Đạo Bụt Dấn Thân [engaged Buddhism], thì họ cười thân thiện”. Quả nhiên, Tu viện Mộc Lan được sự đón nhận, mở lòng của cư dân và chính quyền địa phương trong suốt quá trình xây dựng và phát triển.

    Năm 2011, khóa tu lớn đầu tiên ở Mộc Lan, phải mướn một chiếc lều lớn cho khoảng 1000 thiền sinh về dự. Xong khoá tu, Sư Ông dẫn Hỷ Nghiêm đi chọn chỗ xây thiền đường và gác chuông. Thầy bảo: “Con, mọi chuyện Chư Bụt Tổ đã sắp đặt hết, mình không thể cưỡng lại sự sắp đặt của Tổ Tiên”. Đến năm 2013, khi dựng nếp nhà cho Sư Ông ở, Thầy cười bảo: “Đặt tên là ‘Cốc chịu chơi’. Con có hiểu ‘chịu chơi’ nghĩa là sao không? Chịu chơi nghĩa là khi có khó khăn thì không bỏ cuộc, cứ vững vàng đi tới”. Nước mắt sư cô trẻ tuôn trào. Cô tâm sự: “Thầy đã hiểu hết những khó khăn của đệ tử. Thầy là Thầy nhưng cũng là Người tri kỷ. Cũng như khi đặt pháp danh cho con là Hỷ Nghiêm, Thầy đã muốn con vượt lên bản tính hay lo âu của mình. Thú thật là thời gian đầu lắm lúc Hỷ Nghiêm cũng chùng bước trước những trọng trách lớn lao, muốn… xách va li chạy trốn. Nhưng ngay sau đó thì xác định dứt khoát: chỉ khi nào Mộc Lan thật yên ổn, và thấy lòng mình thật yên ổn thì mới rời chốn này”.

    Năm 2013, sau khi thiền đường lớn và tháp chuông xây xong, Sư Ông tiên đoán: “Mộc Lan sẽ là trung tâm quan trọng của Làng Mai ở Tây bán cầu”.

    Sau 7 năm, Tu viện Mộc Lan đã định hình với những khóa tu thường kỳ 2 năm một khóa lớn, trại hè mỗi năm cho thanh thiếu niên gia đình Phật tử gốc Việt, với những tăng thân rải rác từ Atlanta, Alabama, Arkansas, New Orleans, Dallas, Houston… Một số trường học quanh vùng như Ole Miss University, Southern Mississipi University, Warren Easton High School thường đưa học sinh sinh viên tới thực tập thiền.

    15/10 chia tay khóa tu “Tâm an thế giới an” cho thiền sinh, các Sư thầy Sư cô Mộc Lan lại bắt tay chuẩn bị đón một trăm mấy chục xuất sĩ từ các Trung tâm Làng Mai trên đất Mỹ tập trung về tu tập.

    Riêng tôi, ngày chia tay Mộc Lan cũng là ngày kết thêm nhiều bạn mới, mà thú vị sao lại là bạn Thơ. Tối qua, trong buổi liên hoan chia tay [Be-in] tôi có đóng góp hai bài thơ viết về Thầy (Bậc Thầy – The Master) và về trải nghiệm tu tập ở Làng Mai (Mười cảnh thiền bất chợt – Ten Zen Scenes caught then and there). Cô thiền sinh rất trẻ Thanh Nhàn giúp tôi đọc bản tiếng Anh. Khá nhiều người Mỹ gặp tôi, cảm ơn, chia sẻ về Thơ. Jim Tillman, thành viên tổ chức Thich Nhat Hanh Foundation cười cười nhắc câu thơ: “Cuckoo, cuckoo…/the practitioner/ wakens” và bình “Yes, it’s zen!”. Vợ chồng Nguyễn Đạt, ông thầy vẫn dạy khí công mỗi sáng cho khóa tu, nhờ thơ mà nhận ra tôi là tác giả những bài viết về Bát Nhã năm nào. Anh Lê Văn Trạch, người đã tham gia tổ chức sự kiện đi bộ vì hòa bình ở Memphis, là cái duyên khởi phát để thành Mộc Lan, tâm đắc với “Bậc Thầy: Thầy vào như hơi gió, Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…”; anh tình nguyện chở vợ chồng tôi về Memphis, đi thăm nơi Mục sư Luther King bị tên phân biệt chủng tộc ám sát năm 1966. Mục sư chính là người đã kết bạn với chàng tu sĩ trẻ Thích Nhất Hạnh thuở nào qua Mỹ vận động hòa bình. Ồ, tất cả cứ móc với nhau như một cái duyên tiền định.

    Cái duyên lành đưa đẩy để hôm nay, văn hóa Việt được truyền bá ra thế giới từ những trung tâm Làng Mai như Mộc Lan ở Mỹ.

    Tu viện Mộc Lan 11-15/10/2017

    H.H.

 

 

Similar Threads

  1. Vào chùa Việt
    By Dân in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 1
    Last Post: 11-20-2013, 06:50 AM
  2. Học chùa
    By Triển in forum Giáo Dục
    Replies: 2
    Last Post: 06-29-2013, 10:11 PM
  3. Các Ni sư tự xây chùa Ni Viên Thông Tự ở Houston, Texas
    By Mây Hồng in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 10-07-2012, 10:29 AM
  4. Lên chùa cúng sao
    By Triển in forum Khoa Huyền Bí Học
    Replies: 69
    Last Post: 03-16-2012, 10:46 AM
  5. Con sãi ở chùa lại quét lá đa
    By Triển in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 2
    Last Post: 11-15-2011, 11:25 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 04:12 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2021 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh