Register
Page 23 of 26 FirstFirst ... 132122232425 ... LastLast
Results 221 to 230 of 255

Thread: Coi chùa

  1. #221
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512


    NESAJJIKANGA - hạnh ngồi không nằm, là hạnh thứ 13 của hạnh đầu đà. Có ai tìm hiểu thêm không? Thời kỳ trung cổ ở Châu Âu, ngủ ngồi là một cách thức giữ gìn sức khoẻ, là kim chỉ nam đấy bà con. Thời kỳ trung cổ từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ XV, người Châu Âu ngủ ngồi, cái giường của họ ngắn hơn, họ kê gối cao để ngồi tựa vào gối mà ngủ.

    Ngày nay việc ngủ ngồi là phản khoa học, vì cột sống bị tác động liên tục không được nghỉ ngơi, đĩa đệm cũng không được nghỉ ngơi, máu huyết khó lưu thông, mạc cơ (fascia) và cơ bắp sẽ bị ngắn dần. Người ta nói ngày xưa thời trung cổ, người ta nhỏ con và bị khòm lưng cũng có một phần vì ngủ ngồi.

    Liệu hạnh 13 đầu đà còn hợp thời đại chăng?

    Hai tuần trước, trên video của youtuber Nhịp Sống News, các thầy trong đoàn sư Minh Tuệ đã được sư phụ hướng dẫn cách tập ngủ ngồi bằng cách làm giá đỡ lưng, và dùng hai sợi dây cột vào giá đỡ, hai tay nắm sợi dây kéo ra phía trước khi có biểu hiện bị ngã ra sau. Tôi tưởng các vị khó lòng học tập. Nhưng sáng nay xem một đoạn các sư khất thực ban sáng ở Mã Lai, có mấy vị đeo theo cái giá đỡ sau lưng. Chứng thực họ vẫn đang cố gắng học tập cho đủ 13 hạnh, hạnh thứ 13 NESAJJIKANGA - Hạnh Ngủ Ngồi. Tôi thấy cảm phục sự kiên trì của họ, nhưng tôi e ngại sức khoẻ của họ và các hệ lụy sức khoẻ về sau.

    Thời trung cổ, người Tây Phương cũng ngủ ngồi, nhưng họ vẫn có điểm tựa, còn các thầy khi ngủ được rồi sẽ không có điểm tựa không biết sẽ ra sao nhỉ. Theo quan sát tướng tá của thầy Minh Tuệ thì ông nhỏ người, nhưng đi đứng ngay thẳng, không bị gù lưng hay có các biểu hiện bị tác động thân thể do tư thế ngủ. Không thể hiểu được.



    ĐẠO CỤ NESAJJIKANGA


    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  2. #222
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    3,965




    250 giới của Tỳ kheo trong Phật giáo



    Bài viết này trình bày chi tiết 250 giới Tỳ kheo dựa trên Tứ Phần Luật, nêu rõ lý do phải hội họp định kỳ, đọc giới bổn, và thực hành nhẫn nhục, sám hối. Đây là phương tiện bảo tồn chánh pháp, dẫn dắt hành giả hướng đến Niết bàn.

    TỨ PHẦN LUẬT TỲ KHEO 250 GIỚI


    Tỳ kheo Tăng Khất sĩ, trong ngày Rằm và 30 của mỗi tháng, phải tựu họp lại đọc luật, không được vắng mặt. Mỗi lần đọc phải từ 4 vị sắp lên (một Tăng là 4 vị, một Giáo hội là 20 vị).

    Sa di, tập sự phải đi ra.

    Ai vắng mặt phải có người thay lời.

    Giáo hội Tỳ kheo ni có xin thỉnh Tăng qua thuyết pháp, phải sắp đi cho rồi.

    Chư Tỳ kheo phải tựu đủ rồi.

    Đại đức nói:

    Ngay hồi sanh tiền, đức Phật có dạy chư Tăng phải họp mặt nhau một tháng 2 kỳ, để khuyên răn sám hối với nhau mà giữ gìn đạo hạnh, chúng ta cúi đầu, tôn trọng Phật Pháp Tăng. Nay chúng ta hội tụ lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ gìn, để bảo tồn chánh pháp luôn luôn.

    Giới luật thật là mênh mông, mênh mông như biển cả, thật là quý giá, quý giá hơn vàng bạc, mà người ta hằng tầm tòi, chẳng biết mệt nhọc. Ấy vì muốn bảo tồn cái kho quý của giới luật Phật, nên chúng ta họp nhau tại đây, vậy chư Đại đức hãy nghe tôi, để khỏi phạm giới to hoặc nhỏ, và các ngài: chư Phật Tỳ Bà Thi, Thích Khí, Tỳ Xá, Ca La Tôn Đại, Câu Na Hàm Mưu Ni, Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni, và các Ngài đại từ đại bi, đáng cho chúng sanh sùng bái, xin các Ngài giúp cho tôi nói, tôi muốn nói những điều tôi phải nói, và chư Thinh Văn Đại đức hãy nghe tôi. Một người thiếu chơn không đi được; cũng như thế, một người sống đời, mà thiếu luật, không lên cõi thượng thiên được. Ai muốn sanh lên cõi trên ngay kiếp này, phải giữ giới luật cho chín chắn kỹ càng, vì nó là chơn của mình, mà mình không được khinh thường.

    Một người đánh xe, lúc qua truông hiểm, thấy mất cái chốt ở bánh xe, hay thấy cốt xe gãy, nó có rầu hay không? Kẻ phạm giới cũng thế, đến giờ chết thì rầu lắm.

    Một người khác, soi gương vui hay buồn, là do ở mặt mình tốt hay xấu, sạch hay dơ, giới luật mà đọc ra đây cũng có cái kết quả y như vậy đó. Chư Thinh Văn sẽ được vui hay buồn, là do nơi mình có trì giới hay phạm giới.

    Hai bên nghịch giao chiến, bên nhát thối lui; cũng như thế, ai trong sạch thì vững bụng, ai lầm lỗi phải sợ lo. Ông vua hơn mọi người; biển cả hơn các thứ ngòi, rạch; mặt trăng hơn các ngôi sao; Phật hơn các thánh hiền; cũng như thế, giới luật đọc hôm nay hơn các giới luật khác.

    Vậy nên đức Phật của chúng ta có lập ra cái lệ này mà không ai được bỏ qua, mỗi kỳ nữa tháng phải đọc giới bổn một lần. Vậy thì bạch chư Đại đức, tôi xin đọc giới bổn, hãy nghe cho kỹ, hãy xét cho kỹ, ai thấy mình phạm hãy khai ra, còn ai biết mình vô tội cứ lặng thinh. Các Ngài mà nín, tôi sẽ kết nhận rằng: các Ngài trong sạch! Dầu tôi có hỏi chung, cũng cầm bằng hỏi riêng từng người; ai có tội, để tôi hỏi qua 3 lần mà không trả lời, người ấy sẽ phạm giới vọng ngữ.

    Phật có dạy rằng: Ai vọng ngữ mà không khai ra, không thể nào tấn tới về đạo đức, các Ngài khá tránh chỗ đại hại đó. Ai phạm điều gì, và muốn thanh tịnh lại, cứ khai ra rồi sẽ được an tâm và vui vẻ.

    Vậy, tôi xin đọc đoạn vô đầu.

    A. 4 ĐẠI GIỚI (TRỤC XUẤT)

    1. Đại dâm giới - Cấm dâm dục

    2. Đại đạo giới - Cấm trộm cắp

    3. Đại sát giới - Cấm sát sanh

    4. Đại vọng ngữ giới - Cấm nói dối (hỏi 3 lần).


    B. 13 GIỚI TỔN HẠI TĂNG TÀN (GIÁNG CẤP)

    1. Cấm lấy tay tự làm sự dâm

    2. Cấm rờ mình đàn bà

    3. Cấm chọc ghẹo, dụ dỗ đàn bà

    4. Cấm làm mai, cưới gã, sự hẹn hò

    5. Cấm khoe phép tinh tấn với đàn bà

    6. Cấm tự ý cất phòng sái luật, và không trình chỗ cất

    7. Cấm không trình chỗ cất, mặc dầu tự ý thí chủ cất cho

    8. Cấm cáo gian một vị Tỳ kheo khác một tội gì mà không có

    9. Cấm dùng cách thế này thế kia, mà phá sự hòa hiệp ở Giáo hội

    10. Cấm nghĩ quấy một vị Tỳ kheo khác một tội gì mà không có

    11. Cấm binh vực kẻ phá sự hòa hiệp ở Giáo hội

    12. Cấm không nghiêm làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước

    13. Cấm cưỡng lý khi làm quấy mà chẳng chịu nghe lời khuyên giải (hỏi 3 lần)

    C. 2 GIỚI KHÔNG ĐỊNH
    1. Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà chỗ vắng vẻ, đáng nghi ngờ

    2. Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà, tự do chỗ chán chường (hỏi 3 lần)


    D. 30 GIỚI PHÁ SỰ THANH BẦN
    (Cấm phòng 6 bữa)

    1. Cấm cất giữ dư chăn, áo quá mười ngày

    2. Cấm bỏ chăn, áo ở một nơi khác, trong một đêm

    3. Cấm để dành vải quá một tháng, khi rách mất có người cúng

    4. Cấm nhận áo của một Tỳ kheo xa lạ (trừ sự đổi áo mới)

    5. Cấm để Tỳ kheo ni xa lạ, giặt nhuộm, cất giữ áo cho mình

    6. Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ (trừ khi thắt ngặt)

    7. Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ (trừ khi thắt ngặt)

    8. Cấm tự ý muốn kiểu cắt may (khi có một thí chủ định sắm cho)

    9. Cấm tự ý muốn kiểu cắt may (khi có nhiều thí chủ định sắm cho)

    10. Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo hội may liền

    11. Cấm dùng chăn áo bằng tơ, lụa, hàng (mặc dầu có pha lộn vải)

    12. Cấm dùng ngọa cụ màu đen rặt không có pha lộn màu khác

    13. Cấm dùng ngọa cụ màu trắng rặt không có pha lộn màu khác

    14. Cấm chưa đúng sáu năm, mà sắm thêm ngọa cụ khác

    15. Cấm lấy ngọa cụ mới, che cho cái cũ làm mau hư

    16. Cấm khi viễn hành có ai cúng vái, mà ôm đi xa quá ba ngàn thước

    17. Cấm biểu Tỳ kheo ni xa lạ, giặt nhuộm, cất giữ vải cho mình

    18. Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế

    19. Cấm buôn bán đồ quý báu

    20. Cấm buôn bán bất luận vật gì

    21. Cấm giữ thêm một cái bát, cất quá mười ngày

    22. Cấm kiếm bát mới, tốt, mặc dầu đúng năm, mà cái cũ còn xài được

    23. Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ, dệt áo cho mình khi có kẻ cúng

    24. Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình

    25. Cấm giận hờn đòi áo lại, khi đã cho người rồi

    26. Cấm để dành thuốc, đường, dầu quá bảy ngày (trừ khi đau có người cúng)

    27. Cấm xin vải choàng tắm mùa mưa, trước một tháng, dùng trước mười lăm ngày

    28. Cấm lãnh áo trước kỳ, khi đến lệ còn hỏi nữa

    29. Cấm gởi áo nhà quen quá sáu ngày, sư ẩn cư khi về Giáo hội

    30. Cấm lấy lén một món đồ gì của Giáo hội (hỏi 3 lần).



    E. 90 GIỚI HÀNH PHẠT (QUỲ HƯƠNG)

    1. Cấm cho rằng phải một việc sái

    2. Cấm chê đè làm cho người ta rún chí

    3. Cấm nói hai lưỡi đâm thọc, làm cho người ta giận nhau

    4. Cấm ở chung nhà với đàn bà, trong một đêm

    5. Cấm ở quá hai đêm, chung với người chưa thọ giới nhà sư

    6. Cấm tụng kinh chung và một lượt với người chưa thọ đại giới

    7. Cấm học tội một vị Tỳ kheo khác, với người chưa thọ giới nhà sư

    8. Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông, với người chưa thọ đại giới

    9. Cấm một mình thuyết pháp với đàn bà năm sáu câu, mà không có đàn ông thí thức chứng dự

    10. Cấm đào đất, cuốc đất

    11. Cấm đốn cây phá chỗ thần ở

    12. Cấm cãi nhiều lời làm cho người ta phiền nghịch

    13. Cấm chê bai, nói ác, xúc phạm đến vị sư trị sự trong Giáo hội

    14. Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể

    15. Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất

    16. Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác

    17. Cấm đuổi hay sai đuổi ra khỏi phòng, một Tỳ kheo không hạp ý mình

    18. Cấm giăng mùng lót ván, để cây rớt trúng người ta

    19. Cấm lấy nước dùng, mà trong ấy mình biết là có côn trùng

    20. Cấm dùng đồ nhiều quá, mà lợp tịnh thất, chất nặng bậy làm sập

    21. Cấm dạy đạo, đọc giới bổn với Tỳ kheo ni, không có lệnh Giáo hội sai đi.

    22. Cấm thuyết pháp với Tỳ kheo ni, buổi chiều, tối tới sáng, mặc dầu có lịnh.

    23. Cấm nói giễu vị sư đi thuyết pháp cho Tỳ kheo ni là cốt để ăn uống no say

    24. Cấm tặng áo cho Tỳ kheo ni xa lạ (trừ khi mua giùm hoặc đổi áo mới)

    25. Cấm may áo cho Tỳ kheo ni xa lạ

    26. Cấm ngồi chung với Tỳ kheo ni ở một chỗ che khuất

    27. Cấm đi chung với Tỳ kheo ni (dầu làng này hay làng kia)

    28. Cấm hẹn nhau đi chung một thuyền (trừ khi qua đò)

    29. Cấm ăn cơm của thí chủ đãi, mà nhờ có Tỳ kheo ni nói vào

    30. Cấm đi chung với đàn bà (dầu làng này tới đầu làng kia cũng vậy)

    31. Cấm ăn đến hai buổi cơm một ngày, hai buổi hai ngày trong một nhà

    32. Cấm ăn nhiều buổi cơm, ở nhiều chỗ trong một ngày (trừ cơn đau)

    33. Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội (trừ cơn đau, đi xa, trai tăng tởi áo)

    34. Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa (nhưng còn đói có thể hỏi thêm)

    35. Cấm lãnh đồ ăn nhiều quá, mà không chia sớt lại cho vị khác

    36. Cấm ép vị sư khác ăn no rồi, mà ăn lại nữa

    37. Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ mai

    38. Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường

    39. Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng khỏi đi xin

    40. Cấm hỏi đồ ăn mỹ vị (trừ cơm đau tùy món cần dùng)

    41. Cấm cố ý làm cho mấy Tỳ kheo khác trễ quá giờ ăn

    42. Cấm trao tay thí đồ ăn, cho kẻ nam nữ phái ngoại đạo

    43. Cấm ăn rồi mà ngồi nán lại lâu trong nhà có đàn bà đẹp

    44. Cấm lãnh đồ ăn rồi, mà ngồi lại chỗ kín, nhà có đàn bà đẹp

    45. Cấm ngồi gần đàn bà chỗ chán chường

    46. Cấm oán ghét, kiếm cớ làm cho một vị sư khác bơ vơ, nhịn đói

    47. Cấm lãnh để dành nhiều thuốc

    48. Cấm xem diễn binh tập lính

    49. Cấm ở chung với quân binh hai ngày (trong khi có lý cớ gì)

    50. Cấm ưa thích sự tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ

    51. Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau

    52. Cấm tắm rửa một cách quá tự do và giỡn cợt

    53. Cấm lấy tay chân mà đánh đá người ta

    54. Cấm bất tuân và khinh để lời quở trách cản ngăn

    55. Cấm dọa nạt làm cho một vị Tỳ kheo khác kinh sợ

    56. Cấm tắm tới hai lần trong nữa tháng (trừ khi đau, dơ, nực)

    57. Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống (trừ khi đau, lạnh, đêm tối)

    58. Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi giấu đồ của người khác

    59. Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi

    60. Cấm mặc dùng áo chăn màu vải trắng (phải nhuộm cho xấu)

    61. Cấm cố ý giết thác mạng thú vật

    62. Cấm uống nước mà mình biết là có côn trùng

    63. Cấm cố ý làm cho người ta buồn mà không khuyên giải

    64. Cấm giấu tội thô tục, chọc ghẹo, gian dâm của một Tỳ kheo khác

    65. Cấm nhận vào hàng Tỳ kheo, kẻ nào chưa đúng 20 tuổi trọn

    66. Cấm khêu gợi sự rầy rà, sau khi đã êm thuận rồi

    67. Cấm đi chung với gian nhơn (dầu làng này tới làng kia cũng vậy)

    68. Cấm nói dâm dục không ngăn trở sự thành đạo đắc quả

    69. Cấm giữ tại chùa và để hầu mình, kẻ Sa di nói sái quấy ấy

    70. Cấm giao thiệp đưa đồ, nói chuyện với vị sư nói sái quấy ấy

    71. Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại

    72. Cấm nói phá rằng đọc giới bổn là phiền hà vô ích

    73. Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới bổn

    74. Cấm nói chư Tăng nghị xử chẳng công bình

    75. Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị (đi vắng, đi ra ngoài)

    76. Cấm cản không cho thi hành, điều mà Giáo hội đã quyết nghị

    77. Cấm học đi học lại, chuyện cãi lẫy gây gỗ, sau khi đã êm thuận rồi

    78. Cấm giận mà đánh một vị Tỳ kheo khác

    79. Cấm giận mà vả, vặn tay một Tỳ kheo khác

    80. Cấm cáo gian rằng: Vị Tỳ kheo khác phạm giới Tăng tàn

    81. Cấm vào cung vua thình lình, không đợi nghinh tiếp

    82. Cấm lượm, sai lượm của quấy, vật bỏ rơi (trừ khi biết chủ giữ giùm)

    83. Cấm vào làng sái giờ (trừ ra có việc của Giáo hội đúng giờ từ sáng tới ngọ)

    84. Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp

    85. Cấm dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt

    86. Cấm dùng ống đựng kim bằng xương, sừng, ngà

    87. Cấm trãi ngọa cụ choán chỗ rộng quá

    88. Cấm dùng vải giẻ nhiếu quá mà bó chỗ đau

    89. Cấm dùng chăn tấm lớn quá

    90. Cấm mặc áo rộng dài như áo của Phật (hỏi 3 lần)


    F. 4 GIỚI ĐẶC BIỆT (XƯNG TỘI XẢ ĐỌA)

    1. Cấm chẳng đau, mà ăn nhờ đồ ăn của Tỳ kheo ni xa lạ

    2. Cấm chẳng từ chối, Tỳ kheo ni nói với thí chủ đãi cơm mình trước

    3. Cấm xin mãi một nhà, làm cho người ta nghèo túng

    4. Cấm sự ẩn cư chỗ nguy hiểm, để có sự hại cho thí chủ đem cơm tới cho mình (hỏi 3 lần)


    G. 100 GIỚI NHỎ PHẢI HỌC (SÁM HỐI)

    1. Cái chăn phải vặn từ nịt lưng tới nửa ống chân, đừng có xăn

    2. Bộ áo ba cái phải mặc cho có thứ lớp

    3. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà xăn áo lên

    4. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà xăn áo lên

    5. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai

    6. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai

    7. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà đội khăn, đội mũ

    8. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà đội khăn, đội mũ

    9. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà vừa đi vừa chạy

    10. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ sau khi vừa đi vừa chạy

    11. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà chấp tay sau lưng, chống nạnh

    12. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà chấp tay sau lưng chống nạnh

    13. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình

    14. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình

    15. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà múa tay

    16. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà múa tay

    17. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình

    18. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình

    19. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà trông bên này, bên kia

    20. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà trông bên này, bên kia

    21. Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ

    22. Hãy điềm tĩnh khi đi vào nhà cư sĩ

    23. Hãy điềm tĩnh khi ngồi trong nhà cư sĩ

    24. Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ

    25. Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ

    26. Phải để ý khi lãnh cơm

    27. Khi lãnh cơm, đưa bát ra cho ngay thẳng, đừng để đỗ

    28. Khi lãnh canh, đưa bát cho ngay thẳng, đừng để đỗ

    29. Phải trộn cơm với đồ ăn đã lãnh

    30. Món nào xúc trước thì ăn trước

    31. Chẳng nên lựa bên này bên kia, hay giữa bát

    32. Chẳng nên hỏi canh ngon hoặc món lạ (trừ khi đau tùy món cần dùng)

    33. Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa

    34. Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng thèm

    35. Lãnh cơm, đồ ăn đủ rồi, phủ cái bát lại, vừa ăn vừa suy nghĩ

    36. Chẳng nên ăn lớn miếng

    37. Chẳng nên há miệng lớn mà đút đồ ăn

    38. Chẳng nên nói chuyện khi ngậm một miếng đồ ăn

    39. Chẳng nên lấy cơm vò viên mà thảy vào miệng

    40. Chẳng nên ăn trám vàm đến đỗi rớt ra

    41. Chẳng nên đưa đồ ăn từ má bên này qua má bên kia

    42. Chẳng nên nhai lớn tiếng

    43. Chẳng nên nút mạnh trong khi ăn

    44. Chẳng nên lấy lưỡi liếm

    45. Chẳng nên quơ tay trong khi ăn

    46. Chẳng nên lấy tay lượm cơm rớt mà bỏ vào miệng

    47. Chẳng nên cầm đến bình uống nước mà chẳng rửa tay

    48. Chẳng nên tạt nước rửa bát ra sân của thí chủ

    49. Chẳng nên đại, tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên rau cỏ (trừ khi bịnh)

    50. Chẳng nên đại, tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên nước (trừ khi bịnh)

    51. Chẳng nên đứng mà đại tiểu (trừ khi bịnh)

    52. Chẳng nên ở và ngủ trong chỗ thờ Phật (trừ khi canh giữ)

    53. Chẳng nên cất đồ vật tại chỗ thờ Phật (trừ khi bị cướp)

    54. Chẳng nên mang dép vào chỗ thờ Phật

    55. Chẳng nên xách dép vào chỗ thờ Phật

    56. Chẳng nên mang dép đi chung quanh chỗ thờ Phật

    57. Chẳng nên mang giày vào chỗ thờ Phật

    58. Chẳng nên xách giày vào chỗ thờ Phật

    59. Chẳng nên ngồi ăn dưới chỗ thờ Phật (mà bỏ đồ dơ thúi)

    60. Chẳng nên khiêng xác chết đi dưới chỗ thờ Phật

    61. Chẳng nên chôn xác chết tại chỗ thờ Phật

    62. Chẳng nên thiêu xác chết ngay chỗ thờ Phật

    63. Chẳng nên thiêu xác chết chỗ nào mùi hôi thối bay tới chỗ thờ Phật

    64. Chẳng nên thiêu xác chết tại chỗ thờ Phật

    65. Chẳng nên đi dưới chỗ thờ Phật, mang đồ của người chết

    66. Chẳng nên đại, tiểu tại chỗ thờ Phật

    67. Chẳng nên đi nhà tiêu mang theo tượng Phật

    68. Chẳng nên đại, tiểu chỗ nào mùi hôi thúi bay tới chỗ thờ Phật

    69. Chẳng nên đại, tiểu ngay phía chỗ thờ Phật

    70. Chẳng nên xỉa răng, súc miệng dưới chỗ thờ Phật

    71. Chẳng nên tới trước chỗ thờ Phật mà xỉa răng, súc miệng

    72. Chẳng nên đứng bốn phía chỗ thờ Phật mà xỉa răng, súc miệng

    73. Chẳng nên ở tại chỗ thờ Phật mà hỉ mũi, khạc nhổ

    74. Chẳng nên đứng trước chỗ thờ Phật mà hỉ mũi, khạc nhổ

    75. Chẳng nên đứng bốn phía chỗ thờ Phật mà hỉ mũi, khạc nhổ

    76. Chẳng nên ngồi đưa chơn ngay chỗ thờ Phật

    77. Chẳng nên ở, đứng trên cao hơn chỗ thờ Phật

    78. Chẳng nên nắm tay một người khác mà đi dạo

    79. Chẳng nên leo cây cao khỏi đầu (trừ khi có việc)

    80. Chẳng nên bỏ bát vào bao mà quảy lên vai: chỗ đầu cây gậy

    81. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: lật áo

    82. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: quần áo lên cổ

    83. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: khỏa đầu

    84. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: che đầu

    85. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: chấp tay sau lưng, chống nạnh

    86. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: đi guốc

    87. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: đi dép

    88. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cưỡi ngựa, đi kiệu

    89. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: ngồi mà mình đứng

    90. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: nằm mà mình ngồi

    91. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: ngồi chỗ tốt mà mình ngồi chỗ xấu

    92. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp

    93. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: đi trước mà mình đi sau

    94. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: đi trên mà mình đi dưới

    95. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: đứng giữa mà mình đứng bên

    96. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cầm gậy

    97. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cầm gươm

    98. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cầm giáo

    99. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cầm dao

    100. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ: cầm dù (hỏi 3 lần)


    H. BẢY GIỚI GIẢI HÒA DIỆT TRÁNH
    (Khi có việc xảy ra xung đột, bất bình thì xử cho êm đi)

    1. Dùng cách tự thuận

    2. Hoặc nói quyết rằng quên

    3. Hoặc mình không biết, không cố ý

    4. Hoặc xin lỗi thành thật mình đã lỡ phạm

    5. Hoặc chuyển lên Giáo hội xem xét cho

    6. Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

    7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khóa lấp như cỏ mới mọc


    HAI TRĂM NĂM CHỤC GIỚI

    Bạch chư Đại đức! Tôi đã đọc để quý Ngài nghe, đoạn vô đầu:

    A- Bốn đại giới 4 giới
    B- Mười ba giới tổn hại Tăng tàn 13 giới
    C- Hai giới không định 2 giới
    D- Ba chục giới phá sự thanh bần 30 giới
    E- Chín chục giới hành phạt 90 giới
    F- Bốn giới đặc biệt 4 giới
    G- Một trăm giới nhỏ phải học 100 giới
    H- Bảy giới giải hòa 7 giới
    Cộng là: Hai trăm năm chục giới 250 giới

    Tất cả bao nhiêu đó, mà đức Phật Tổ dạy chúng ta, phải hội họp mỗi kỳ nửa tháng, đặng nghe đọc một lần. Vậy, cuộc hội họp này đến đây thì bế mạc.

    (Nhưng trước khi giải tán, tất cả Giáo hội đều đọc kệ chung với nhau, đại khái như dưới đây).

    1- ĐỨC PHẬT TỲ BÀ THI CÓ DẠY RẰNG: Bền chịu với các sự nhẫn nhục, ấy là giới hạnh đầu tiên, mà chư Phật hằng khuyên ta, kẻ đã xuất gia bỏ thế, mà còn phiền giận, thật không đáng với tiếng Tỳ kheo.

    2- ĐỨC PHẬT THÍCH KHÍ CÓ DẠY RẰNG: Người ta có mắt lanh, bao giờ cũng vượt qua khỏi hố sâu thẳm, cũng như thế, bậc Phật Thánh thoát khỏi các nạn khổ.

    3- ĐỨC PHẬT TỲ XÁ CÓ DẠY RẰNG: Tránh nói hành và tật đố, giữ giới hạnh, vừa lòng với sự đủ dùng về đồ ăn uống, bao giờ cũng thỏa thích trong tịnh thất thanh vắng của mình, bền chí về bổn nguyện và cố tiến thủ, ấy là các lý cốt yếu mà chư Phật đã ban truyền.

    4. ĐỨC PHẬT CA LA TÔN ĐẠI CÓ DẠY RẰNG: Quanh quẩn trên hoa, con ong chỉ lấy mật trong hoa mà thôi, chớ không phá màu hoa và mùi hoa, cũng như thế, chư Tỳ kheo ở chung với Giáo hội, chớ nên làm nặng lòng ai hết, chớ xem coi họ có làm, hoặc không làm, mà phải lo lấy mình, xét coi đạo hạnh của mình, có vẹn toàn hay không.

    5- ĐỨC PHẬT CÂU NA HÀM MƯU NI CÓ DẠY RẰNG: Chớ để cái tâm lạc bậy, hãy siêng học các giới luật của Phật Thánh, như vậy người ta sẽ xa lánh mọi sự buồn, và tấn tới Niết bàn.

    6- ĐỨC PHẬT CA DIẾP CÓ DẠY RẰNG: Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở ý của ngươi phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy.

    7- ĐỨC PHẬT THÍCH CA MƯU NI CÓ DẠY RẰNG: Hãy giữ lời nói của ngươi, hãy làm cho tâm ý của ngươi trở nên thanh bạch, đừng làm một việc gì sái quấy, giữ ba điều ấy là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó.

    8- CÁC NHÀ HIỀN ĐỨC GIỮ GIỚI, có ba điều an lạc lợi ích: một là danh tiếng thơm lành, hai là được cúng dường, ba là sanh lên cõi trên sau khi thác, nếu chưa đắc quả A-la-hán.

    9- HÃY XEM QUA TRONG GIÁO HỘI, coi mấy nhà hiền đức, và thành tín, giữ giới luật thế nào? Giữ giới và sống trong sạch, là sự phát sanh trí huệ, là nền tảng mọi việc hay khác.

    10- NOI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT quá khứ, hiện tại và vị lai, người ta giải thoát khỏi mọi sự buồn thảm, mà chư Phật hằng khuyên người phải trân trọng giữ giới. Bảy đức Phật trên kia đều bảo rằng: Sự giữ giới gỡ cho mình ra khỏi các việc trói buộc, và đưa mình lên đến nơi cùng tột là Niết bàn, bây giờ sẽ dứt hết các cuộc phiền não.

    11- CHÚNG TA PHẢI NOI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT, chư Tiên, lời khuyên của thánh hiền, gương lành của mấy vị đệ tử đích đáng, để nong nả tới nơi an lạc của Niết bàn.

    12- TRƯỚC KHI TỊCH KHỎI CÕI THẾ MÀ VÀO NIẾT BÀN, đức Phật Tổ có khuyến khích chư Tăng mấy lời này: “Khi ta từ giã, chư đệ tử chớ nói rằng ta nhập Niết bàn là ta hết bảo hộ đâu; không, ta để luật lại, nó sẽ ủng hộ cho, hãy coi ta là thầy mãi, bao giờ luật của ta còn trì giữ, thì đạo Phật vẫn còn tỏ rõ và thạnh hành, nếu chư đệ tử giữ giới mà làm cho đạo sáng và thạnh, thì sẽ hưởng Niết bàn, còn để cho đạo tắt mất, thì trần thế sẽ bị chôn trở vào nơi hắc ám, cũng như lúc mặt trời lặn buổi chiều, hãy giữ giới cho kỹ, hãy hội họp lại mà đọc giới bổn, theo như ta đã dạy, ráng bảo tồn nó, vì nó giúp ích cho chúng sanh, giúp cho tiến theo nẻo Phật”.

    Kính lạy Ta bà thế giới THÍCH CA MƯU NI PHẬT (3 lạy)

    (Giới bổn này tất cả Khất sĩ đều dùng được hết)

    Luật Tăng đồ nhà Phật này của phái Đàm Vô Đức bộ, do Đại sư Đàm Đế dịch năm 254 sau Dương lịch.

    Tổ sư Minh Đăng Quang

    /* nguồn: https://codo.vn/250-gioi-cua-vi-ty-kheo-trong-dao-phat

  3. #223
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    3,965



    Trong 250 giới có giới này:

    • 76. Cấm cản không cho thi hành, điều mà Giáo hội đã quyết nghị

    Bây giờ dường như tôi hiểu ra rõ ràng, vì sao thầy Minh Tuệ ly khai Giáo Hội Xạo Láo Việt Nam.

    Một cái giáo hội sai quấy bởi những ông sư sai quấy nhiều tuổi đảng ít tuổi đạo, tầm bậy tầm bạ, có những "quyết nghị" bá láp, ví dụ thích công nhận ai là tu sĩ thì cứ thảo cái công văn, thích gán ghép người này tu thật người kia tu giả ( mà vì giữ giới phải tuân theo là không đạt chánh đẳng chánh giác. Nếu đã vậy thì theo lời Phật dạy mà học, chẳng cần giáo hội nữa cho xong.


  4. #224
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    3,965



    Giáo Hội Xạo Láo Việt Nam càng quê độ hơn khi nghe tin này. Lủng Pò Chiều được Việt Nam sùng bái là cái thá gì.

    Các thầy trong nhóm thầy Minh Tuệ được diện kiến cả đức Dalai Lama. Không biết nhóm người Việt nào đã hỗ trợ việc này vô cùng tuyệt vời.





    Các vị hành giả thuộc nhóm Minh Tuệ gặp Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma


    Vị lãnh tụ Phật giáo Tây Tạng cũng đang trong tình cảnh lưu vong, không thể trở về quê nhà.
    Trường Sơn

    2025.05.09



    Sự An Lạc, một trong những người đi theo Minh Tuệ, gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma.

    An Lạc, một trong những người đi theo Minh Tuệ, gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma. (RFA)
    Vào ngày 9 tháng 5, một nhóm các hành giả người Việt thuộc đoàn của hành giả Minh Tuệ đã gặp Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng, tại Dharamsala, Ấn Độ.

    Nhóm 12 hành giả trước đó đã lên tàu để đến Dharamsala vào ngày 7 tháng 5, trong khi hành giả Minh Tuệ và những người khác ở lại Bodh Gaya.

    Dharamsala là nơi Đạt-Lai-Lạt-Ma cùng cộng đồng người Tây Tạng lưu vong sinh sống, nơi này đã trở thành trung tâm hành hương của tín đồ Phật Giáo trên toàn thế giới, tới để diện kiến ‘hóa thân của Quán Thế Âm’, tức Đạt-Lai-Lạt-Ma.

    “Lần đầu tiên con được đến đây, được gặp Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, con cảm nhận thấy một niềm vui, có nhân duyên với nơi này. Lần đầu tiên đi cùng với sư phụ Minh Tuệ thì chỉ nghĩ là đi sang thăm bốn thánh tích của Đức Phật, nhưng lần này hữu duyên được đến mảnh đất Dharamsala này." Hành giả Minh Thiện chia sẻ với RFA.

    Rời Việt Nam vào ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại cửa khẩu Bờ Y, với chỉ 6 vị hành giả cùng với ước nguyện bộ hành đến Ấn Độ. Đoàn của Minh Tuệ giờ đây đã lên đến 35 người, đặt chân tới 7 quốc gia, và di chuyển liên tục trong 148 ngày.

    “Huynh đệ con hay ngay cả sư phụ Minh Tuệ, khi đã đến Ấn Độ rồi sư phụ đã thốt lên một câu: ‘Biết ở đây tốt đẹp thế thì đã bay đến sớm hơn.’ Chấp nhận bay tới sớm hơn. Sư phụ cũng nói về đây rồi giống như về nhà. Con cũng có cảm giác như vậy.” Hành giả An Lạc nói về việc đến Ấn Độ.

    Minh Tuệ và tăng đoàn tới Ấn Độ vào ngày 25 tháng 4 bằng đường hàng không, sau khi kế hoạch đi bộ ở Sri Lanka bị bỏ dở giữa chừng vì gặp phải sự cản trở từ chính quyền sở tại, được cho là chịu sự tác động bởi một bức thư do ông Thích Nhật Từ viết.

    Ở Ấn Độ, nhóm các tu sĩ người Việt cũng gặp phải sự quấy rối của những người đến từ Việt Nam tự xưng “yêu nước”. Những người này mặc áo cờ đỏ sao vàng thường xuyên khiêu khích những tình nguyện viên đi theo trợ giúp nhóm các hàng giả.

    Trong khi đó ở trong nước, chính quyền đã thông báo kỷ luật Đảng đối với ông Lê Anh Tuấn, anh trai của hành giả Minh Tuệ. Và ông Thân Thành Vũ, một tình nguyện viên thường xuyên giúp đỡ Minh Tuệ, cũng đã bị cấm xuất cảnh, không cho rời khỏi Việt Nam.

    Theo các vị hành giả, nhóm 12 người sẽ quay trở lại đoàn tụ với Minh Tuệ để tiếp tục hành trình ở Ấn Độ. Họ cũng sẽ tìm cách gia hạn visa để kéo dài thời gian lưu trú tại quốc gia Nam Á này.


    /* nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/trong...-an-lac-an-do/


  5. #225
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512




    SƯ MINH TUỆ, CƠN MƯA RÀO TỈNH THỨC

    Khoảng giữa năm 2024, khi hiện tượng sư Minh Tuệ nổi lên, cộng đồng đã nhắc đến nhiều về sự tỉnh thức. Điều đó hoàn toàn có lý. Nhưng theo thời gian, cần nhìn lại xem xã hội có thực sự tỉnh thức hay chưa? Hay nói cách khác số người tỉnh thức ấy có phải là đa số, đủ làm nên một sự thay đổi sâu rộng trong cộng đồng hay không?

    Từ đó đến nay cũng được một năm, song nhìn lại biết bao sự kiện, diễn biến liên quan tới sư Minh Tuệ trôi qua. Từ lúc đoàn ly tán, đến lúc ông xuất hiện, rồi thầy ông ẩn tu một thời gian, và một cuộc xuất ngoại, hành hương về Tứ thánh tích. Theo chuyến hành hương đó, lại một lần nữa, là sự sống dậy của truyền thông về đoàn bộ hành và sự nổi lên của các vị “hộ pháp”.

    Từ đây, xã hội bộc lộ ra hết tất cả những gì như nó vốn có. Sự kính ngưỡng, yêu quý sư Minh Tuệ trước kia đã dần cho thấy, nó không mang lại một sự tỉnh thức đúng nghĩa, không có một cuộc thay đổi bản chất nào trong tâm lý nhận thức và lối sống cộng đồng. Mặt khác, sự yêu kính, ngưỡng mộ sư Minh Tuệ cũng không thiên về một khao khát, một niềm tin tâm linh nguyên sơ thuần khiết; mà phần nhiều là những xúc động, rung cảm trước một nhà sư nhỏ thó, gầy nhom, khắc khổ, và chân thật. Số khác thì sùng bái theo cách mê tín, cuồng tín như một thuở họ đã từng mê ở những nơi khác. Lại thêm, đó là một số kẻ nhân cơ hội kéo theo trục lợi…

    Tất cả những điều này được kiểm nghiệm khi có sự xuất hiện của các ông “hộ pháp”. Họ vốn từ một vai phụ, đi theo sư Minh Tuệ, ban đầu được “hào quang” chiếu sáng, rồi sau mượn luôn không trả ánh hào quang ấy. Đó là lúc cộng đồng bắt đầu phân cực, nhiều người từ ngưỡng mộ sư Minh Tuệ dần ly khai, không tin ông thầy mình nữa; mà thay vào đó họ tin vào ông “hộ pháp” với một niềm tin mãnh liệt - chỉ có vị hộ pháp ấy mới tốt với thầy. Và bỏ thầy vì thầy phụ ơn vị hộ pháp ấy.

    Tiếp sau, thật bất ngờ khi xuất hiện một vị “hộ pháp” mới, thế vào chỗ của vị “hộ pháp” cũ. Vị thứ hai này được cái “kham nhẫn” và có lý luận Phật học, nên dần lay động lòng người, và càng được đại chúng tin yêu hơn. Đặc biệt, sẵn một bộ phận cộng đồng đang không ưa vào vị “hộ pháp” trước đó đã trở thành một lực lượng hâm mộ hùng hậu của anh ta.

    Ngay lúc này xã hội đã phân cực thành nhiều nhóm: theo thầy, theo “hộ pháp” đầu, theo “hộ pháp” sau. Đặc biệt có những nhóm vừa yêu kính thầy vừa tin “hộ pháp”.

    Điều đáng nói là, hiện tại không ít người đã đồng nhất sư Minh Tuệ với vị “hộ pháp” đến sau. Họ đưa ra những lý lẽ hết sức kỳ quái, rằng không tin vị “hộ pháp” ấy là không tin thầy, phỉ báng thầy. Vì anh ta được thầy lựa chọn. Trong khi họ quên rằng sư Minh Tuệ chẳng chọn ai, mọi người tự đến tự đi, tất cả là tùy duyên. Đáng sợ nhất là họ chụp mũ bất cứ ai phản biện về ông “hộ pháp” ấy, họ nâng quan điểm lên rằng “thầy biết hết” … “coi thường trí tuệ của thầy”. Khiếp như vậy đấy!

    Họ mặc nhiên “thầy biết hết”, nghĩa là thầy đã đắc thần thông. Theo kinh điển, một vị đắc thần thông có thể biết những thứ mà mất trần không ai thấy. Nhưng họ đâu biết rằng đạo Phật không lấy thần thông làm cứu cánh, mà chủ trương giác ngộ giải thoát, tức trở thành bậc vô sinh, thoát khỏi luân hồi sinh tử. Đó là mục tiêu, là đại nguyện cao nhất của một bậc hành giả.

    Họ cũng bị nhầm lẫn giữa trí tuệ Bát nhã (trí tuệ Phật) với trí tuệ thế gian. Trí tuệ Bát nhã để quán thấy vô thường, vô ngã, hoặc giả để có lòng từ bi với chúng sinh, chứ đâu phải trí tuệ Bát nhã là cái để biết những điều nhỏ nhỏ nhặt rồi dính mắc vào đấy. Cho nên, họ thật kỳ lạ, khi một mặt, thánh hoá sư Minh Tuệ - cho ông là Phật, một mặt họ lại biến trí tuệ Phật của ông thành trí tuệ thế gian, trí tuệ của người đời. Nếu rõ được như vậy, họ sẽ nhìn một cách khác. Và có thể tự kiến giải rằng sư Minh Tuệ đang mở lòng từ bi, vị tha với tất thảy những ai đến với ông, đi bên ông. Nếu rõ được như vậy, có lẽ họ sẽ nhận thức chính mình đang phỉ báng sư Minh Tuệ, vì đã hạ cấp trí tuệ Bát nhã xuống thành trí tuệ phàm phu.

    Đến đây, có thể nói, lòng kính ngưỡng sư Minh Tuệ không đồng nghĩa với một sự tỉnh thức sâu rộng đúng nghĩa. Nói cách khác, không có sự thay đổi về lượng nào đáng kể để làm nên một sự thay đổi về chất. Có lẽ sự xuất hiện của sư chỉ như một cơn mưa rào bất chợt ập đến, cuốn phăng, gột rửa những bụi trần, tạp nhiễm mà chúng đã tích tụ bấy lâu nay. Nhưng mưa rào lại chóng đến nhanh đi. Bụi bặm lại hoàn bụi bặm, uế trược lại về uế trược.

    Nói như vậy không phải võ đoán. Thực tế, nó được kiểm nghiệm không chỉ dừng lại ở sự phân cực từ câu chuyện “hộ pháp”, mà còn hiện tượng hàng vạn con người đua nhau, đổ xô, chen chúc kéo về các chùa để được tận mục sở thị xá lợi Phật. Xá lợi Phật tất nhiên phải quý, vì nó minh chứng cho sự tồn tại của một bậc Chánh Đẳng Giác từng xuất hiện ở thế gian với tư cách là một con người bằng xương bằng thịt. Hơn nữa, nó còn là một biểu tượng tâm linh về sự hiện hữu của vị Giáo chủ cõi Ta bà. Mà đã quý thì ai cũng muốn thấy một lần trong đời, nhất là những người mộ đạo. Nhưng, đạo Phật không hướng cho con người ta đi cầu ông Phật ở bên ngoài, mà hãy tìm ông Phật ở bên trong. Chính thế, đạo Phật đòi hỏi người tu phải tư duy, suy nghiệm cá nhân để mở trí mà nhìn thấy được chân tâm thanh tịnh.

    Bên cạnh đó, xuất phát từ sự tò mò và tính hiếu kỳ. Những trạng thái tâm lý này mặc nhiên ai cũng có. Tuy nhiên, khi một cộng đồng mà không có được số đông tiết chế bằng những suy nghĩ độc lập, đứng tách mình ra; thì dễ tạo thành những hiệu ứng lây lan đáng sợ.

    Như vậy, nhìn nhận một cách khách quan, sự xuất hiện của sư Minh Tuệ, nếu cho là một sự tỉnh thức thì nó mới chỉ là sự khởi đầu. Điều có ý nghĩa nhất, chính sự xuất hiện này đã làm hiển lộ nhiều hơn những tồn tại trong xã hội, và bày ra những thuộc tính, căn tính dân tộc.
    ———
    Nha Trang, 29/05/2025
    Nguyễn Thanh Huy

    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  6. #226
    Đi Chùa
    Minh Thúy (Thành Nội)

    Tôi đi Chùa theo Mẹ từ lúc chưa vào lớp tiểu học, hình như khoảng ba, bốn tuổi thì phải. Hồi đó Mẹ hay đi tụng kinh mỗi tối là ngôi Chùa Tịnh Bình nằm trên đường Tăng Bạt Hổ (thành phố Huế), sau mẹ có duyên quy y chùa Diệu Đế trên đường Bạch Đằng. Những mùa lễ lớn các chú điệu đạp xe vào đưa giấy mời, mẹ cúng dường tịnh tài, tới ngày lễ ghé chợ mua cá đem ra sông phóng sanh.

    Còn nhớ tuổi thơ rất rõ… mỗi lần lên Chùa tôi thường được các cụ xoa đầu nựng má, cho bánh kẹo hoặc quả quýt và khen “cháu giỏi lắm, mẹ ngồi đọc kinh cả tiếng đồng hồ mà cháu ngồi yên không phá phách”, chưa kể được các chú điệu hay các thầy trẻ cho cả bọc bánh In đủ màu sắc (có lẽ lúc nhỏ vì ham quà bánh nên thích theo mẹ chăng?). Khi tuổi thiếu nữ không còn đi theo mẹ nữa, mà thích đi với bạn vào dịp lễ Phật Đản hoặc Vu Lan, lúc đạp xe tới Chùa gần, khi dùng hai chuyến xe Đò lên chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân hoặc xa hơn là chùa Thiền Lâm Tự nằm trên núi. Mỗi lần đi cả nhóm ghé vô chợ Đông Ba mua hoa Sen dâng cúng Phật, hôm đó dặn nhau mặc áo dài trắng đàng hoàng nghiêm chỉnh, dù rằng không còn được quà nhưng ngôi Chùa có sức thu hút theo không khí hiền hoà, cảnh vật đầy hoa thơm đủ sắc thật đẹp, nhất là những cây hoa Sứ trước sân Chùa nở hoa trắng toát ra kỳ hương nhẹ nhàng.

    Những năm từ 1980 đến 1984 tôi vào Sài Gòn tìm đường vượt biên, có lúc ở nhà Dung (bạn hàng xóm Huế) thêu hàng, em trai Dung khoảng 13 tuổi rất hiền lành thường ăn chay nhưng giấu gia đình, ngồi một góc nhai cơm với xì dầu, chị em hợp mạng, em hé môi cho biết mỗi tối lặng lẽ đi Chùa tụng kinh, từ đó sau giờ cơm chiều em nháy mắt tôi đi đúng giờ nhập lễ.

    Vượt biên đến đảo trải qua cuộc hành trình tưởng bỏ mạng nơi biển cả, từ đảo Pulau Bidong chuyển tiếp qua trại Sungei Besi, hai nơi đều được dựng Chùa, nên mỗi chiều tôi thường lên bám víu lời kinh tiếng kệ cho tâm trí tỉnh lại. Qua Mỹ năm 1985 chân ướt chân ráo đã đi cày sáng mờ sương đến tối trời về đầu tắt mặt tối không còn thời giờ. Một buổi chiều được về sớm, cô em dâu chở tôi tới ngôi Chùa Đức Viên trên San Jose lúc đó Sư Bà Đàm Lựu làm trụ trì, tôi mừng hết lớn vì được ngồi trên xe ngắm màu nắng hai bên đồi của Freeway 680. Được thấy ngôi Chùa lần đầu nơi xứ Mỹ, tiếng trống Bát Nhã, hồi chuông thức tĩnh cho tôi cảm giác bồi hồi về kỷ niệm những ngày theo chân mẹ đi Chùa, tôi cố ngăn không để cảm xúc trào dâng nhưng nước mắt cứ tuôn ra như đứa con trôi sông lạc chợ, lăn lóc bụi thời gian đang trở về bến bình yên tạm thời giây lát.

    Sáu năm sau tôi chuyển job, có được ngày cuối tuần nhưng chỉ thuận khi gặp một công mấy việc mới lên San Jose. Một trưa ghé Chùa thỉnh tượng Phật và tìm quyển Hư Hư Lục của sư cô Như Thủy, quý bác đang đổ bánh xèo dùng trưa, sự niềm nở mở rộng tấm lòng làm chúng tôi khó từ chối lời mời, tôi yêu không khí thanh tịnh, hình ảnh quý bác, quý sư cô ăn nói nhẹ nhàng cùng nụ cười nhân từ hiền hậu tăng sự kính mến của tôi vô cùng. Tuy nhiên đường xá xa xôi nên thỉnh thoảng mới viếng Chùa được, tôi hằng mơ ước giá chi dưới vùng mình sinh sống có được ngôi Chùa.

    Trung Tâm Phật Giáo mọc lên nơi thành phố Hayward năm 1986 nhưng tôi không hề hay biết. Nhận job mới nên tôi dời nhà lên vùng Hayward tiện công ăn việc làm, tình cờ dự đám cưới, ngồi chung bàn nói chuyện, cháu B cho biết có ngôi Chùa nhỏ nằm trên đường Calaroga. Từ đó duyên đến với tôi, mỗi chiều thứ sáu sau giờ làm, lòng tôi hớn hở như bao người vì được “xả trại” nghỉ ngơi hai ngày weekends không bị kim đồng hồ báo thức, mà niềm vui trước nhất là được đi Chùa về tối sẽ ngủ dậy trễ sáng sau. Cuối tuần tôi dành thì giờ một ngày đi chợ, nấu ăn đàng hoàng thịnh soạn so với những ngày đi cày, chủ nhật lên Chùa sinh hoạt có khi cả ngày hoặc nửa ngày theo chương trình sắp xếp của Chùa.

    Thầy Tôi
    Tu hành “hữu xạ tự nhiên hương”
    Dũa đức mài tâm giữa sắc thường
    Giảm thiểu rau cà thông mạch lạc
    Đơn sơ y áo ngộ am tường
    Trì kinh sáng tụng rèn nhân đức
    Điểm hạt chiều thiền quán thiện lương
    Chúng dẫn, tăng dìu đường chánh pháp
    Danh Thầy Từ Lực sáng vầng dương
    MTTN

    Thầy Từ Lực trụ trì ngôi Trung Tâm Phật Giáo Hayward là người con của xứ sông Hương núi Ngự, Thầy chuyên cần vừa học vừa tu đã tốt nghiệp cử nhân ngành thư viện, mỹ thuật tại San Francisco State University, sau đó tiếp tục theo ban cao học tại California State University Hayward. Thời gian ấy Thầy cũng rất vất vả vì ban ngày đi làm việc trên trường UC Berkeley, tối về hướng dẫn đại chúng tụng kinh vào thứ hai, tư, sáu. Càng ngày việc phật sự càng nhiều, đám tang cần ma chay tụng niệm cầu siêu người chết, những tiểu bang lạnh mời Thầy đi hoằng pháp lưu động, vì bên đó thiếu vắng Thầy. Các bác họp đạo hữu lại vận động mỗi người một tay cố gắng hỗ trợ tài chánh thêm nữa trang trải hàng tháng, và yêu cầu Thầy nghỉ việc giữ gìn sức khỏe, để còn hướng dẫn đại chúng tu tập. Tưởng yên thân thầy trò lo việc tu học, nhưng vài năm sau County gởi giấy về báo địa điểm Chùa không hợp lệ dùng nơi tụ tập đêm ngày, hàng xóm gởi đơn khiếu nại. Cuối cùng đạo hữu cho Chùa mượn trong vòng 5 năm không lấy tiền lời cộng thêm sự cúng dường của tứ chúng. Thầy tìm được địa điểm trên đường Meekland cũng thuộc thành phố Hayward, xem như Chùa Phổ Từ được thành lập từ năm 2000. Công trình xây cất gặp lắm gian nan vất vả, nói như kiểu người phàm thì thầy “làm dâu trăm họ”, nhưng rồi thiện thần hộ pháp che chở, mọi trở ngại từ nội ma, ngoại ma, nội chướng, ngoại chướng của thế gian cũng được túc đắc tiêu diệt.

    CHÙA PHỔ TỪ
    (Tung hoành trục khoán)
    MÁI ấm tâm linh dội trống đồng
    CHÙA Từ tĩnh lặng nhẹ ngân chuông
    CHE lòng mộ đạo nơi thiền quán
    CHỞ dạ mến Thầy chốn tịnh không
    HỒN đậm pháp môn thường tự tại
    DÂN đằm giáo lý cũng thong dong
    TỘC hành cuộc sống gieo nhân thiện
    NẾP SỐNG MUÔN ĐỜI CỦA TỔ TÔNG
    MTTN

    Ngày tháng tiếp tục đi qua từng mùa xuân, hạ, thu, đông...Tôi vẫn đều đặn sinh hoạt cùng quý bác, quý anh chị và bạn hữu như tìm về nơi chốn bình an cho tâm hồn, bên cạnh cuộc sống chồng chất nhiều lo âu, trách nhiệm đôi khi nhận chịu áp lực nặng nề đè nén tiếng thở dài.

    Đến Chùa gặp những thiện hữu tri thức, tu tập hạn chế lời nói, họ chỉ thực hành bằng công việc cho tôi học hỏi gương tốt rất nhiều. Nhớ những sáng chủ nhật tới Chùa sớm, có lúc quét lá, có khi vào bếp phụ được việc gì trong lúc chờ đợi chương trình đúng 9 giờ hành lễ. Trước tiên Thầy hướng dẫn đại chúng ngồi thiền kêu gọi tâm trở về tĩnh lặng, tập hít sâu thở ra ý thức sự sống phút hiện tại, sau đó thầy trò tụng niệm kinh cầu an, hoặc nếu có cúng hương linh thì tụng thời kinh Di Đà, kinh Địa Tạng và Chú Vãng Sanh, 10 phút thư giãn hoặc thiền hành trong sân, kế tiếp Thầy ban thời pháp hướng dẫn các pháp của Đức Phật dẫn dắt con đường tươi sáng an lạc, buổi trưa dùng cơm thanh tịnh

    Mỗi tháng có ngày tu học từ sáng đến chiều, ngày xưa các cụ gọi là Thọ Bát Quan Trai phải tuân theo các điều lệ nghiêm túc (không đeo nữ trang, không phấn son, không nghe nhạc, chỉ thọ nhận buổi cơm trưa và không được ăn tối). Qua Mỹ cuộc sống bận rộn, thời gian quí báu, Thầy Tự Lực tìm con đường trung dung thích hợp mọi lứa tuổi nên đổi lại “Ngày Tu Học”. Sáng tham thiền, ôn tụng Tam Quy Ngũ Giới và Thập Thiện Giới, hành thiền và nhận thời pháp lời hay ý đẹp của đạo Phật. Thọ chay trước tiên ngồi quán chiếu và hồi hướng công đức tới người trồng ra thực phẩm, người mua về nấu nướng cúng dường cho mình thọ trai. Sau giờ nghỉ ngơi buổi trưa một tiếng, tiếp tục vào chánh điện dưới sự hướng dẫn lạy sám hối 108 lần. Buổi chiều ra về lái xe nhìn khung cảnh chung quanh thật đẹp, thật bình an, lắng đọng soi lại tâm mình để sửa đổi, ngẫm trong thời gian qua đã hành được bao nhiêu điều tốt, bao nhiêu việc thiện, bao nhiêu lần nóng giận, và bao nhiêu lần mắc khẩu nghiệp nói điều có thể làm người khác buồn lòng?

    Ban đầu chúng tôi thọ “Tam Quy Ngũ Giới” tại Trung tâm Phật Giáo được Thầy quy y, tháng ăn chay 4 ngày, chỉ từng đó mà khó lắm đấy, gieo lòng sợ hãi của chúng sinh không đạt tới, nhưng nhờ có sự ân cần khéo léo của Thầy rằng :

    - Cố gắng với nội tâm và ý chí nếu đạt được một điều, hai điều cũng là quý, từ đó mỗi ngày rèn luyện, thanh lọc thân tâm dần thêm.

    Nhờ Thầy dẫn dắt đường đi nước bước nên bà con yên lòng tu tập. Hai năm sau tôi thọ Thập Thiện Giới tại Chùa Quang Nghiêm của Sư Ông Minh Đạt dưới Stockton trong buổi đại lễ, cùng đi cả nhóm đệ tử theo thầy Từ Lực, giới này phải ăn chay tháng 10 ngày. Biết bao nhiêu điều tu tập tôi rớt lên rớt xuống, tập đi tập lại nhưng rất hãnh diện đã thành công điều này. Chiêu dụ người khác theo mình cũng khó, tôi áp dụng tuần hai ngày, tuần ba ngày chay, những ngày còn lại nấu mặn. Nhiều chị bảo “cứ nêm nếm rồi nhổ ra súc miệng sạch hoặc nấu cầm chừng không nếm”, tôi nghĩ phải nấu đàng hoàng mới yên tâm không bị ray rức “bỏ đời theo đạo”, trong khi đang còn bổn phận trách nhiệm, thôi thì đem đạo vào đời, lúc sống cho mình và lúc làm vui lòng người khác.

    Đến Chùa khung cảnh luôn tươi sáng, bông hoa nở rộ, chim hót ríu rít từ đầu cổng ra đến vườn lộ thiên Phật Quan Âm, bên cạnh có hòn non bộ. Ngồi yên, lắng lòng thanh tịnh, nghe tiếng chuông Chùa tĩnh thức đánh tan niềm tục lụy trong giây phút hiện tại. Hình ảnh bức tượng chiếu sáng trong tâm, cảm nhận sự nhiệm mầu của những bậc giác ngộ soi đường nở hoa. Gần gũi thấy lối sống quý sư Cô, quý Thầy suốt ngày lo việc Phật sự, bữa ăn đạm bạc, hình ảnh giản dị với bộ nâu sòng không sắc, cuộc sống thật đáng kính phục hơn nữa khi biết một số ra trường với mảnh bằng PHD hoặc Matter khi còn trẻ tuổi, nếu như ở ngoài đời đã kiếm tiền thật nhiều và dễ dàng, nhưng họ chẳng luyến tiếc để tìm con đường chân lý, hoằng hóa độ sanh thế giới đầy não trượt, buông bỏ vui thú trong cuộc đời giả tạm.

    Ánh Sáng Phật Đạo
    Đồng tu tứ chúng hương dâng nguyện
    Thắp dậy niềm tin luyện pháp kinh
    Hồi chuông lay động vô minh
    Hành Tứ Diệu Đế tâm bình an vui

    Dòng đời vạn biến vùi đau khổ
    Bát Nhã chèo thuyền ngộ vực sâu
    Trầm luân lắm cảnh bể dâu
    Phật đài đánh lễ cúi đầu lắng tan

    Thầm xin tuệ đuốc ban mầu nhiệm
    Khép cửa tham, sân, nghiệm ...Có, Không
    Phật đường ánh đạo khai thông
    Hoa bừng, chim hót nắng hồng vươn cao
    MTTN

    Đôi khi cũng có những nỗi lo theo sự khốn đốn của các Chùa nói chung, lòng cũng nặng nề khó tả, dẫu biết Chùa chiền mọc lên nhiều thì đất thánh nhiều càng tốt, nhưng chỉ là biết mà không kham hết được đành nhắm mắt tuỳ duyên. Tánh tôi thuộc loại cứng đầu cứng cổ, nhỏ lớn không để những vấn đề dị đoan ảnh hưởng như mua nhà xem phong thủy, coi ngày giờ, cầu xin...Tu hành cũng cần có tinh thần Bi, Trí, Dũng.

    Quý Thầy nói điều gì thuận thì nhập vào não và duy trì, điều gì không hợp thì quên nhanh, nhất là sau này nhìn những youtube bên VN người dân quá mê tín theo sự hướng dẫn sai lạc của một số Chùa thật là chán nản. Tôi đọc bài Tản Văn Phật Giáo (Đi Chùa để làm gì) của tác giả Mạnh Kim thấy biết bao nhiêu điều xấu làm mờ đi hình ảnh của ngôi Chùa, có đoạn của Albert Einstein từng nói “Chính những người dung thứ hay khuyến khích việc xấu ác đã làm cho thế giới này trở nên nguy hiểm nhiều hơn là những người nhúng tay vào việc ác”, (nói một cách đơn giản hơn thì sự im lặng trước những điều xấu ác cũng chính là đồng loã)

    Một lần em chồng tôi lên Chùa nhờ Thầy cúng giải Sao, thầy Tự Lực nói khéo

    - Chị gieo việc thiện nhiều sẽ tiêu trừ hoặc giảm bớt những nghiệp xấu.

    Lần nọ trong buổi giảng pháp của Ôn Minh Đạt có người đến xin giúp việc ma chay, coi giờ tốt để chôn cất người mất. Ôn nhẹ nhàng nói:

    - Thầy chỉ truyền thừa sứ mạng Đức Phật giao phó là có nhiệm vụ hộ niệm cho người mất, Thầy không biết xem giờ, khi họ ra đi có chọn được giờ tốt không?

    Đó là những vị Thầy đã phát huy tinh thần giáo pháp của Đức Phật, ngày xưa Phật không cần Chùa, nhưng bây giờ số lượng đạo hữu quá đông cũng phải cần ngôi Chùa để sinh hoạt, nhất là nơi nuôi dưỡng tuổi trẻ gia đình Phật Tử mầm mống xây dựng xã hội lành mạnh, nên Chùa phải cần sự hộ trì tam bảo, giúp đại chúng cùng nhau nương tựa tìm con đường chánh pháp tu tập.

    Thầy giao chìa khoá cho tôi giữ tủ sách, những buổi lễ lớn dọn ra phát hành, một số phật tử về VN thăm gia đình, mua áo tràng, xâu chuỗi cũng như các tượng Phật, ly đèn nguyên thùng đem qua cúng dường Chùa gây quỹ, thì tôi phải dọn ra bán, thêm đồng nào cũng để bù vào những buổi cơm Chùa lo liệu, mời phật tử dùng trưa mỗi chủ nhật đến sinh hoạt. Lúc nhỏ tôi thường hay nghe người ta nói đùa “cơm Chùa, của Chùa không ăn cũng uổng”, giờ tôi mới thấy tận mắt cảnh ấy… một bàn dài thức ăn, không kể quen biết hay xa lạ, đã đến Chùa là được Sư Cô, bạn đạo mời dùng. Cà phê trà nóng sẵn bình, các ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại hay cha mẹ dẫn con cháu đi học tiếng Việt, sinh hoạt gia đình Phật Tử, trong lúc chờ đợi, cha ông đi dọn rác làm vườn, mệt nghỉ vào uống cà phê, hoặc lấy thức ăn ngồi dưới gốc cây bóng mát dùng, các bà mẹ vào bếp nấu lo các em nhỏ. Tôi rất thích khung cảnh thanh bình này, đó là điểm tuyệt vời tôi thích đến đây vì được thấy lối sống hiền hoà, tâm phật, ý Phật, tứ chúng cùng tu. Tâm người như ngựa không cương, nếu ở nhà chắc gì tôi được yên thân hay bị phone gọi, bếp réo chưa kể ma nhác nổi lên lười biếng.

    Tôi được đi hành hương theo tổ chức của Chùa rất nhiều lần. Khi ghé về Sacramento và Stockton thăm Chùa Phước Thiện, Chùa Phổ Minh, Thiền viện Diệu Nhân, lúc lên San Francisco thăm dự lễ Tam Bộ Nhất Bái, hoặc thăm Chùa Sư Nữ người Mỹ, tràn ngập niềm vui trong tình đạo. Các đạo hữu tự sắp xếp chia ca, chia nhóm, mỗi người hai khay lo thức ăn cho ngày Tu Học hoặc các lễ nhỏ, những lúc khách đến bất ngờ quá đông, đạo hữu của Chùa nhịn miệng đãi khách phương xa, nhưng lúc thức ăn quá dư các sư cô nhắc nhở bới về, chị em lấy hộp nhận thức ăn cười và chọc nhau “tu tâm thì ít mà togo thì nhiều”.

    Càng ngày bàn thờ vong càng đông, có những hôm lễ 49 hoặc 100 ngày cúng thất có tới 7, 8 di ảnh nhìn lạnh người. Sự chết không đợi lão 80, 90 mà vẫn có 60, 20, thậm chí ngay cả 5 tuổi. Đối diện và hộ niệm mỗi tuần, tôi thường quán chiếu về sự sống, sự chết, về lẽ vô thường, sâu xa triết lý là Không Sanh, Không Diệt để cố tu tập hơn nữa, ra đi chẳng đem theo thứ gì ngoài công đức để lại.

    Có lần tôi gặp thầy (quên tên) nơi Chùa Thiên Trúc, thầy tốt nghiệp bằng tiến sĩ về môn Thần Học, ngồi trà đạo về đề tài Sống Chết, thầy cười chỉ nói một câu “chết là một cuộc chơi”, không hiểu sao câu nói đó truyền trong tâm thức tôi sự bình thản, khiến tôi không cảm thấy sợ hãi trước sự chết. Đời người một lần ra đi, còn hơi thở ngày nào biết ngày đó, tôi tâm niệm quan trọng khi sống là biết chia sẻ, góp công những điều phước thiện làm đẹp cho đời sống. Sinh, Lão, Bệnh, Tử, nhưng con ma vô thường vẫn không đợi tuần tự như vậy, dĩ nhiên khi đối diện cảnh ngộ của sinh ly tử biệt, ai cũng đau lòng, nhưng phải chuyển hoá sự suy nghĩ để bớt khổ đau hơn, và nghiệp báo mỗi người mang theo phải chấp nhận, chỉ nên cố gắng tu tập, can đảm nhận mọi thử thách và rèn luyện kiên nhẫn như kinh Đức phật từng nhắc nhở “Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, học hay không là do chính bản thân mình, có học thì tới, không học sẽ không bao giờ tới “

    Chỉ còn vài ngày nữa Lễ Phật Đản, năm nay tình trạng bệnh dịch đang còn phòng ngừa dẫu đã được chích thuốc, thôi thì ở nhà dâng hoa quả thắp hương tưởng nhớ đấng Từ Phụ, vị Phật trong tâm nhắc nhở con mỗi khi sai phạm lỗi lầm, nhắc nhở con soi lại tấm gương nội tâm. Mùa của quý Thầy nhập hạ, mùa cho tôi sống nhiều kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu bên mẹ, thời hoa mộng bên bạn bè viếng những ngôi Chùa xa gần “che chở hồn dân tộc” nơi thành phố Huế thân yêu thuở nào....

    Tán Phật
    Bảy bước hoa sen xuất thế trần
    Ta bà hoá độ khắp hoàn luân
    Rừng cây suối cỏ thiền an trí
    Góc gội Bồ Đề quán tịnh thân
    Khai ngộ môn tu bừng ánh đuốc
    Tri thông Phật pháp tỏa làn vân
    Mười phương ánh đạo lan truyền sáng
    Bốn biển năm bề độ cõi nhân

  7. #227
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512



    Không có đạo Phật xấu, chỉ có một số người hành đạo xấu, giả tu.

    Here we are ...


    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  8. #228
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512



    Hết Thái đến thầy chùa tàu Thiếu Lâm tự, khi nào thì giáo hội xạo láo Việt Nam và nhà cầm quyền csVN chịu lật tẩy các tên sư giả trong giáo hội của họ đây?





    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  9. #229
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512


    Công đức vô lượng

    "Công đức vô lượng" - thành ngữ đầu môi này hay nghe ngoài đường, trong chùa, khắp mọi nơi, mọi chỗ, nhiều đến độ, thường đến độ, người ta không hiểu công đức là gì. Người ta tưởng làm việc gì thiện là có công đức, ví dụ lên chùa giúp nấu nướng (công quả), ra đường cho người kém may mắn 2 chục đồng, lên lầu cõng bà già xuống dưới đất, dắt ông lão qua đường, giúp đỡ ai đó việc gì, cho 300 tấn gạo vùng lũ, vùng bị thiên tai, dát 20 tấn vàng lên cái tượng cao 2 cây số, giúp ca lẻ trong đình ráp 500 bài nhạc ...v.v.v nói tóm lại là làm một việc gì thiện, có lợi ích cho người khác là mình có công đức. Sai hoàn toàn. Khi làm việc đó là mình có phước đức, không phải công đức.

    Cho nên ai làm việc gì cho mình, nếu mình muốn cám ơn bằng lời, hãy nói rằng họ làm việc thiện đó "phước đức vô lượng". Khi họ có phước đức đủ đầy, thiện nghiệp trổ ra, lúc đó họ có phước báu, tức là cái quả họ gặt được do họ gieo cái nhân tốt. Họ được may mắn trong đời sống, giàu sang, phú quý, mọi việc làm hạnh thông, trôi chảy, không gặp trắc trở, dựng vợ gả chồng có người 6 múi, 4 múi, chứ không nhận được nhân dồn một cục trước bụng còn gọi là phao cứu thương, gặp được cô vợ đẹp không có chỗ chê.v.v.v

    Tuy nhiên phước báu có nhiều đến đâu rồi cũng vơi đi, anh chồng 6 múi rồi cũng thành một múi, cô vợ đẹp chim sa cá lặn rồi cũng trở thành chim vào nồi, cá lên thớt, giàu có đến đâu rồi cũng già đi, và chết queo, cũng bệnh tình, lão hóa, sầu khổ ..v.v.v lặn ngụp trong cõi ta bà không thoát ra được. Phước đức không giúp người giác ngộ, thoát khỏi luân hồi.

    Tuy nhiên tu tập, giữ giới, hành trì giữ gì giới sẽ có ngày được định, và có ngày được tuệ. Giác ngộ mới là mục tiêu của đạo Phật. Các ông thầy chùa trong các chùa bự hay đề bạt vụ cúng dường cho Phật tử, hoặc làm việc từ thiện là hướng dẫn quý Phật tử tích trữ phước đức, nhưng không hướng dẫn quý Phật tử tu tập giữ giới. Không giữ giới, không có công đức là không thể giác ngộ. Không thể giác ngộ là mãi mãi lặn ngụp luân hồi.

    Nói như vậy không có nghĩa là sống lạnh lùng, không giúp đỡ ai, không làm việc thiện. Cũng có thầy chùa có lương tâm, và hiểu đạo thì khuyên dạy Phật tử "Phước - Huệ" song tu. Nghĩa là vừa làm việc thiện để tích trữ phước đức, vừa giữ giới tu tập loại trừ tham sân si phiền não để có trí huệ. Để giải thoát khỏi luân hồi.

    Từ giờ trở đi, bạn giúp đỡ ai, người ta cám ơn lại bạn và tán thán bạn rằng "công đức vô lượng", thì bạn hãy sửa giúp họ rằng "có thể có một tí phước đức", "không có công đức", nhưng phước đức cũng không vô lượng, không đáng kể. Không nên nói tới.

    -- Master Table --


    Last edited by Triển; 08-02-2025 at 12:48 AM.
    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

  10. #230
    Biệt Thự Triển's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    27,512






    Giữ giới tuyệt đối




    http://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic726_7.gif Puck Futin

 

 

Similar Threads

  1. Vào chùa Việt
    By Dân in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 1
    Last Post: 11-20-2013, 05:50 AM
  2. Học chùa
    By Triển in forum Giáo Dục
    Replies: 2
    Last Post: 06-29-2013, 10:11 PM
  3. Các Ni sư tự xây chùa Ni Viên Thông Tự ở Houston, Texas
    By Mây Hồng in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 10-07-2012, 10:29 AM
  4. Lên chùa cúng sao
    By Triển in forum Khoa Huyền Bí Học
    Replies: 69
    Last Post: 03-16-2012, 10:46 AM
  5. Con sãi ở chùa lại quét lá đa
    By Triển in forum Quê Hương Tôi
    Replies: 2
    Last Post: 11-15-2011, 10:25 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 07:01 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2026 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh