Register
Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 23
  1. #1
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001

    Những mảnh đời - Tuyết Minh




    Nh
    ững Mảnh Đời

    Tuyết Minh


    Lời Giới Thiệu



    Trên văn đàn Việt Nam hải ngoại hiện nay. Nữ sĩ Tuyết Minh đã mở cho mình một lối đi riêng: những bài ngắn, gọn với một nội dung xây dựng của bà là những lời khuyên bảo chân thành cho mọi giới, từ trẻ đến già. Nhìn quanh gia đình, rồi nhìn qua các địa hạt trong xã hội, Nữ sĩ Tuyết Minh đã mang những ý tưởng tốt đẹp của bà để xây dụng cho mọi người. Lần này, chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu tác phẩm thứ ba của bà cũng trong tâm tình và ý thức xây dựng đáng ca ngợi đó.

    Mở đầu tuyển tập là bài nói về “thiên chức làm mẹ”. Chúng tôi thấy Nữ sĩ Tuyết Minh đã nhận lãnh thiên chức đó suốt cuộc đời bà vì bà là một bà mẹ hiền. Nhờ sự giáo dục chân thành và tế nhị của bà mà con, dâu, rể của bà đã thành đạt tốt đẹp, xứng đáng là những người đứng ra góp phần công đức cho xã hội mới.

    Với ý thức Thiên-Chúa-giáo, bà Tuyết Minh muốn lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc để đo mọi sự việc ở đời. Và bà đã nói đến “niềm tin” với tất cả sự chân thành của lòng mình. Bà viết: “Tôi tin có Đấng Tối Cao ở trên trời là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên những người lành cũng như kẻ dữ và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Đấng chí công vô tư sẽ cải biến cái họa thành may, đời này sẽ nối tiếp đời sau”.

    Về gia đình, Nữ sĩ Tuyết Minh muốn Tình và Nghĩa phải đi đôi. Bà nói: “Cái đẹp của ông cha chúng ta luôn luôn bảo vệ hạnh phúc gia đình bằng sự hy sinh, nhẫn nại, nếu tình chẳng còn thì cũng vẫn ở với nhau, sửa chữa cho nhau để giữ nghĩa vợ chồng”.

    Bà cũng đã vẽ chân dung người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh bà Trưng, bà Triệu, bà Lê Chân, bà Bùi Thị Xuân, cô Nguyễn Thị Giang… và kết luận: “Người phụ nữ Việt Nam qua các thời đại có đủ đức tính anh dũng, bất khuất đảm đang, trung hậu, đức hạnh. Những bản tính này đã có từ lâu, người trước làm gương cho người sau, là căn bản cho dân tộc Việt và giúp cho sự gìn giữ và trưởng tồn của người Việt chúng ta.”

    Nữ sĩ Tuyết Minh đã ca ngợi nhiều đức tính tốt như: tha thứ, có tâm hồn bao dung… mà cũng đã nói đến những thói xấu của người Việt Nam chúng ta, như đố kỵ, ghen tuông, lợi dụng nhau, mê tín, có ý hướng mất gốc… Tuy nhiên, dù là khen hay chê, lời lẽ của bà cũng hiền hòa, thân ái, không nặng tay đả phá bao giờ.

    Nhận xét chung, chúng tôi thấy Nữ sĩ Tuyết Minh đã có lối kể chuyện thật đơn giản, ôn hòa, không nâng ai mà cũng không ghét ai, chỉ khách quan mà góp một lời thân ái. Bà cũng không có thái độ dậy đời mà chỉ mong đem tâm tư của mình mà xây dựng cho đời.

    Vườn hoa mà Nữ sĩ Tuyết Minh vun quén vừa đẹp vừa ngát hương. Truyện bà kể có những nét đẹp rất tự nhiên không quá phong lưu, đài các như hoa lan, hoa quỳnh, mà có cái đẹp rực rỡ như ánh mặt trời của hoa hướng dương, cái nét thanh cao của hoa huệ, hoa cúc.

    Bước chân vào khu vườn này, lòng ta tự nhiên thấy rộn rã như ánh dương vui. Ý thức chân thành và tình cảm thâm thúy đã làm cho ta lưu luyến mãi như một làn hương vĩnh cửu…


    Mùa Xuân năm Giáp Tuất, 1994

    Xuân Tước

  2. #2
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001
    1. Chị Cu



    Làng Thành Đức khá lớn, nhân số có 2000 người, chia làm ba thôn. Thôn thượng, thôn trung và thôn hạ. Thôn hạ người làng quen gọi là xóm chợ vì có ngôi chợ sầm uất dưới bóng mát của mấy cây đa cổ thụ. Những cây này không biết đã mọc lên tự bao giờ vì trải mấy đời người mới có thể có gốc cây lớn như vậy, chu vi của gốc bằng ba người ôm cũng không hết.

    Mỗi bên gốc cây có một ngôi miếu nhỏ, trong miếu lúc nào đèn nhang cũng nghi ngút do mấy bà mấy cô đi chợ qua lại khấn vái, kêu cầu cho được buôn may bán đắt. Đằng sau miếu dựa vào gốc cây đa là những ống bình vôi được xếp một ngày một cao thêm. Những ống bình vôi này là của người trong làng khi không còn dùng đến đã đưa đến đây để xếp lên.

    Xóm chợ còn điểm lợi nữa là tọa lạc sát đường cái quan. Chạy song song với đường cái là một con sông lớn rất thuận tiện cho trên bến dưới thuyền, hàng hóa từ chợ bốc xuống thuyền chở đi nơi khác hay ngược lại hàng từ dưới thuyền bốc lên chợ rất tiện lợi. Chung quanh chợ là những cửa tiệm bách hóa, cứ cách mấy tiệm lại có một con ngõ hẹp chạy vào xóm, những xóm này là nơi cư ngụ của những người không làm nghề buôn bán.

    Nhà tôi cũng ở trong một ngõ hẻm, tuy gần chợ nhưng chúng tôi chỉ tới chợ khi nào cần mua bán, còn qua lại giao thiệp đã có hàng xóm với nhau. Bên cạnh nhà tôi là nhà ông bà Cầu, cả hai nhà đều có vườn, ruộng lúa cấy hai mùa và ngoài nghề làm ruộng còn nuôi tằm, ươm tơ. Gia đình tôi thân thiết với nhà ông bà này không phải chỉ vì ở sát cạnh nhau mà vì còn có tình thắm thiết qua lại giúp đỡ nhau khi có nhiều việc.

    Ông bà Cầu khác với ba mẹ tôi. Chỉ có bà Cầu và các con làm việc nhà. Làm nhiều quá không xuể thì mướn thêm người làm, còn ông Cầu thì không mó tay vào việc gì ở trong nhà. Vả lại ông ít khi ở nhà, ông đi buôn hàng chuyến. Tuy không có cửa tiệm nhưng ông có một cái nhà kho chứa hàng, mỗi lần ông đi mua về, hàng chở bằng thuyền hay bằng cả chuyến xe vận tải được chất vào kho. Hàng vừa được phu khuân vác xếp vào kho xong, ngày hôm sau đã thấy tấp nập kẻ ra người vào.

    Những người đến trước là những chủ tiệm quanh chợ, vì ở gần họ đã biết có hàng mới về. Rồi lần lượt những người ở xa như đã được báo trước kéo đến, chỉ trong ít ngày là bán hết. Vào cuối thập niên 30 sang 40, đường giao thông còn ít, báo chí thông tin chưa phổ biến rộng rãi nên các nhà buôn tỉnh nhỏ hay ở các phủ, huyện muốn có hàng bán lẻ, phải tự tới cửa hàng bán buôn hay nơi sản xuất để mua. Vì vậy nên những chủ tiệm đến nhà ông Cầu mua và đặt hàng mới rất tiện cho họ, khỏi phải đi tìm mua hàng những nơi quá xa như từ Sàigòn hay gần như từ Hà Nội.

    Ông bà Cầu lớn tuổi hơn ba mẹ tôi và có hai người con gái lớn hơn chị em tôi nên chúng tôi gọi bằng chị Lan, chị Huệ. Còn ông bà ta chúng tôi gọi là bác Cầu. Bác Cầu trai vẻ người phương phí, lanh lợi hoạt bát, nước da bánh mật, trán cao mắt sáng, miệng cười tươi có duyên. Tiếng nói sang sáng, bác nói và viết thông thạo cả hai thứ chữ Pháp và chữ Nho. Bác rất vui tính và hay nói đùa với chúng tôi, nhất là hai em tôi còn nhỏ mỗi lần sang nhà bác đều được bác bế nựng rồi tìm quà phát cho chị em tôi. Nhà bác ít người lại sẵn qua vì bác luôn luôn có khách, họ đến là mang quà nên chị em chúng tôi hay sang nhà bác chơi.

    Chúng tôi thích thú nhất là những ngày bác đưa hàng về. Chúng tôi được bác cho nhiều bánh lại còn quà. Con gái thì lọ dầu thơm, chiếc lược nhựa để cài đầu. Con trai được quả bóng hay túi bi đủ mầu. Sau khi phát quà xong bác đuổi các em tôi đi chơi, tôi ở lại giúp các chị soạn đồ hay được sai vặt. Rồi bác ngồi làm việc với các chị, chỉ dẫn từng món hàng về giá cả. Giá được viết sẵn ra giấy để các chị cứ việc theo đấy mà bán hàng thay bác, khi nào cần mới phải hỏi. Còn bác phải tiếp khách, không phải là khách mua hàng mà là những ông khách lạ. Những ngày bác ở nhà là những ngày khách khứa ra vào, ở lại ăn cơm hay ngủ lại, truyện trò nhộn nhịp rất vui vẻ.

    Trái lại bác Cầu gái là người nghiêm nghị, ít nói, chăm chỉ làm ăn. Bác rất chiều bác trai. Ngày nào bác trai ở nhà có khách đến ở lại ăn cơm bác làm cơm đãi khách bao giờ cũng thịnh soạn. Tôi thường hay sang giúp bác và các chị những việc lặt vặt như bóc hành, tỏi, lạt rau, chẻ rau muống ăn với chả giò v.v… Tôi không bao giờ thấy bác kêu ca gắt gỏng, phàn nàn trong lúc bác có rất nhiều việc cần phải làm.

    Cuộc sống cứ đều đều trôi, ngày này cũng giống như ngày khác. Tôi đã lớn hơn theo với thời gian. Một hôm tôi thấy em tôi chạy về nói bên nhà bác Cầu có đông người mà chị Lan, chị Huệ đang khóc ở dưới bếp. Nghe em nói tôi sửng sốt, cảm thấy có việc gì quan trọng lắm, vội chạy sang xem. Mọi người có vẻ đăm chiêu, nói rất sẽ. Cả ba mẹ tôi cũng có mặt nơi đây.

    Tôi chỉ nghe họ nói với nhau, ông Cầu bị hậu bối (ngày nay gọi là ung thư), không chữa được đâu. Hai hôm sau bác vĩnh viễn ra đi. Bác Cầu gái than khóc thảm thiết, hai chị Lan, chị Huệ cũng khóc như mưa như gió, chị em tôi cũng mủi lòng khóc theo. Thấy người ta chít khăn trắng chúng tôi cũng xin mỗi người một chiếc khăn trắng theo sau quan tài đưa bác đến nơi an nghỉ.

    Đám tang bác Cầu rất lớn, có cờ ngũ hành, có ban tây nhạc, có hội bát âm và rất đông người đi theo quan tài. Tại nghĩa địa trước khi hạ huyệt có ba ông khách lạ đọc điếu văn kể tiểu sử của bác. Bác đã giúp đỡ nhiều người, bác bước vào thương trường không những giúp gia đình mà còn mục đích giúp đỡ được nhiều người chỉ có tổ quốc biết đến (vào thời Tây cai trị ít ai dám nói yêu nước.)

    Suốt một tuần lễ, cứ về đến chiều nhà bác Cầu gái lại nhộn nhịp có nhiều người hàng xóm hay bạn bè tới nhà đọc kinh cầu cho bác. Có cả một ông đồ ngâm những câu đối, trướng bằng chữ Nho.

    Một hôm tôi sang nhà bác Cầu thăm chơi như thường lệ, tôi rất ngạc nhiên thấy một người đàn bà lạ mặt còn rất trẻ, đẹp, bế một thàng bé con chừng một tuổi, đang múc từng muỗng bột đút cho đứa bé ăn. Bà mẹ trẻ này trên đầu cũng chít khăn tang mà tôi chưa hề gặp trong đám tang bác Cầu. Một lúc sau bác Cầu gái nhìn tôi mỉm cười và nói:

    -Cháu có muốn bế thằng cu, để chị Cu cho nó ăn xong sẽ cho cháu bế.

    Tôi cám ơn bác, trong lòng thich lắm. Tôi nhìn thằng cu bụ bẫm khôi ngô trông giống bác Cầu giai quá. Từ hôm đó tôi hay sang chơi để bế thằng cu, mỗi lần tới tôi chỉ thấy bác Cầu gái bế hay đặt thằng cu ngồi bên cạnh, còn chị Cu phải làm suốt ngày. Chị làm bếp, xay lúa, giã gạo, hay cho heo ăn, không thấy chị ngồi chơi hay bế thằng cu. Như tôi đã nói, vì bác Cầu gái là người nghiêm nghị, ít nói nên không ai dám hỏi bác Cầu chị Cu từ đâu đến, có họ hàng gì không và ở đây đến bao giờ. Cũng không thấy chị trò truyện với ai vì có ai thấy được chị đâu mà nói truyện.

    Mẹ con chị Cu ở nhà bác Cầu chứng một năm thì biến mất. Một hôm tôi sang nhà bác Cầu với chủ ý muốn bế thằng cu đi chơi như mọi khi. Không thấy thằng cu đâu tôi hỏi bác Cầu, bác chỉ cười trả lời nó không ở đây nữa. Thẫn thờ tôi về nhà, hỏi mẹ tôi có biết mẹ con chị Cu đi đâu và chị Cu là người thế nào?

    Mẹ tôi nói riêng cho tôi biết theo lời bác Cầu gái, khi bác trai gần chết, bác có nói với bác gái, bác có một người con trai ở với mẹ nó. Người đàn bà này là con nhà tử tế. Bác xin bác gái bỏ qua lỗi lầm cho bác và xin thương bao bọc cho mẹ con thằng cu. Vì thế bác gái cho đón về nhà, còn bây giờ mẹ con chị Cu đi đâu không ai biết. Mẹ tôi cũng nói việc nhà của ai không nên tò mò.

    Rồi tôi cũng quên luôn chuyện mẹ con chị Cu sau năm cuối của thập niên 30 đó. Tới năm 1954, gia đình tôi theo làn sóng người di cư vào Nam tìm đất sống. Thói thường họ hàng làng xóm quen rủ nhau lập nghiệp và ở gần nhau cho vui. Thời đệ nhất cộng hòa, dân di cư được chính phủ ưu đãi cho thành lập các trại định cư; được giúp vốn, giúp kỹ thuật làm ăn nên sầm uất lợi nhuận.

    Nhu cầu và đòi hỏi tiện nghi gia tăng, một số người có óc buôn bán đưa hàng hóa đến bán tận nơi cho những người định cư. Một bà hàng xóm người làng trước kia làm nghề buôn hàng kiểu này, một hôm đi bán hàng về, bà sang chơi thăm tôi và nói mới gặp mẹ con chị Cu. Tôi hỏi thăm và bà cho biết:

    -Tôi đang đi trên đường phố Nha Trang bỗng nghe có tiếng người gọi hỏi: “Bà có phải người ở xóm chợ làng Thành Đức không?”

    Tôi hỏi lại:

    -Sao bà biết?

    Bà ta nói:

    -Tôi gặp bà trước kia hay lại nhà bà Cầu cùng xóm, nếu tôi nhớ không lầm.

    Rồi bà ta mời tôi về nhà gần đây, giữ ở lại ăn cơm. Tôi lân la hỏi xin cho biết lai lịch để xưng hô vì trước kia tôi chỉ được nghe người nhà bà Cầu gọi là chị Cu. Bà ta cười nói:

    -Bây giờ tôi già rồi. Bà muốn biết, tôi kể cho nghe về cuộc đời của tôi còn bây giờ bà muốn gọi tôi là chị Cu cũng không sao!

    Cả hai chúng tôi cùng cười với danh từ chị Cu. Chị nói tiếp:

    -Tôi có chân trong một hội kín giữ liên lạc nên hay tiếp xúc với ông Cầu. Ông là người có uy tín trong tổ chức của chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều kính trọng về đức độ, về tài năng tháo vát của ông. Riêng tôi càng phục ông ấy hơn vì sự giúp đỡ chỉ bảo giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tôi đặt hết tin tưởng vào ông khi gặp việc khó khăn. Tiếp xúc với ông ta nhiều, từ lòng kính phục tôi tiến sang lòng kính yêu. Tôi yêu ông ta phải nói là say mê. Trước khi bày tỏ tình yêu của tôi, tôi đã biết rất rõ về gia đình ộng; ông ta tuổi lại còn gấp đôi tuổi tôi, nếu nói ra tất cả nhiều người cho là tôi đặt tình yêu không đúng chỗ.

    Qua nhiều đêm suy nghĩ những bất trắc lợi hại, bất chấp dư luận tôi thấy không thể kìm hãm được tình yêu phát xuất tự con tim tôi. Tôi tự tìm đến ông ta để thổ lộ tình yêu và muốn dâng hiến cho ông trọn vẹn. Nói bà đứng cười, ông ấy lấy làm ngạc nhiên và từ chối mối tình của tôi, khuyên bảo tôi nên đặt tình yêu đúng nơi đúng chỗ, đừng lãng mạn bồng bột. Ông nói:

    -Tôi không thễ đáp lại tình yêu của cô, vì tôi đã có gia đình, có tôn giáo khác với tôn giáo của cô. Tôi phải giữ về lòng chung thủy, chỉ có thể có một vợ một chồng.

    Ông khuyên tôi nên quên truyện này và vẫn coi nhau là đồng chí. Ông còn khen tôi đẹp thiếu gì người có danh phận đến cầu thân. Tôi ra về lòng buồn phiền nhưng nhất quyết chỉ yêu có một lần. Rồi tôi chỉ để tâm tìm dịp tạo điều kiện để gặp gỡ ông. Tôi cũng biết ông yêu tôi lắm, nhưng là con người lương tâm đạo đức vẫn giữ ranh giới giữa ông và tôi. Còn tôi quan niệm yêu là cho tất cả nên tôi cứ bám sát ông.

    Nhân một chuyến vào Nam, tới Sàigòn không có nhà quen chúng tôi phải thuê phòng ngủ để hôm sau đi công tác. Qua chuyến này tôi có mang. Từ đây ông đã có bổn phận với vợ với con, tôi đã toại nguyện chờ ngày sinh con; khi có con trai ông ấy quá sung sướng nói với tôi là đã đạt được ước vọng lớn nhất trong đời. Công việc đòi hỏi ông ấy phải di chuyển luôn luôn, không bao giờ ở lại với mẹ con tôi quá tuần lễ và cũng không đi đâu lâu quá một tháng.

    Tôi đang chờ ông ấy về để tổ chức ăn đầy năm cháu như đã dự định, sẽ mời đông đủ bạn bè họ hàng bên tôi thì được tin ông mất đã an táng tại quê nhà. Tôi như bị sét đánh ngang tai, không ngờ hạnh phúc mình được hưởng quá ngắn ngủi, thương cho con tôi côi cút còn thơ. Chúng tôi lấy nhau không chính thức, tôi chưa bao giờ về quê ông ấy, nên tôi không dám đưa con về cư tang.

    Hơn một tháng sau ngày ông ấy chết, bà cả cho người tới đón mẹ con tôi về chơi. Ở được ít lâu, tôi nghe dư luận mấy người con gái con rể nói ra nói vào với bà cả, để mẹ con tôi ở đây sẽ sinh rắc rối, sợ tôi đòi chia gia tài. Tôi có nói cho họ biết mẹ con tôi về đây có ý cư tang ít lâu cho trọn tình nghĩa. Tôi không mong chia gia tài cho con tôi, đừng nghĩ oan. Tôi ở tới giỗ đầu năm rồi hôm sau tôi thu xếp bế con đi. Bà cả có đưa chân mẹ con tôi một món tiền nhưng tôi không lấy.

    Tôi đưa con về Hà Đông buôn bán nuôi con. Tôi cũng được an ủi chút ít do bạn bè và các đồng chí của ông hay đi lại thăm nom giúp đỡ mẹ con tôi. Tôi đã nuôi con một mình thành nhân như ý tôi. Tôi tin vong linh ông cũng vui mừng thấy con trai độc nhất của chúng tôi đã thành danh.

    Qua câu truyện của bà Cầu tức chị Cu, trước mặt bà hàng xóm tôi tỏ lòng quý mến, kính phục bà Cầu là người quả quyết, giữ lòng trung trinh, ngay thẳng, có tấm tình yêu chân thành bền vững, không bị bả lợi danh cám dỗ. Tình yêu chổng đã dồn sang cho con tận tụy nuôi nấng, dậy dỗ cho con nên người. Ôi văn hóa Việt Nam tiền nhân để lại đã tác dụng nên những con người Việt đáng quý, đã giữ vũng năm đức tính cao quý nhân, nghĩa, lể, trí, tín.

    Tôi tự hẹn với lòng một ngày nào sẽ ra Nha Trang thăm mẹ con bà Cầu tức chị Cu. Tôi rất ân hận chưa kịp đi thăm bà Cầu thì biến cố ngày 30 tháng 4 ập đến. Tôi không biết mẹ con bà Cầu hiện giờ ở đâu. Nếu đọc được những giòng trên đây, hy vọng bà Cầu hay ông Cơ liên lạc với người viết.

  3. #3
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    2- Chị Em



    Năm 1978 là năm Cộng sản thu tiền các thương gia Tầu muốn xuất ngoại. Chỉ có người Tầu được đi bán chính thức, người Việt mình muốn đi phải tìm cách móc nối với người Tàu Chợ Lớn để mua giấy, dĩ nhiên là giấy giả. Y phục phải mặc theo kiểu Tầu, bước lên xe ở Chợ Lớn, người nào không biết nói tiếng Tàu cứ ngồi yên rồi đi thẳng xuống tầu ra biển. Người Việt đi theo chỉ thấy người Tầu nói líu lo, không thấy ai nói tiếng Việt hay mặc y phục Việt nên không nhận ra nhau.

    Tầu tới Mã Lai không được phép đổ bộ, vẫn thả neo gần bờ biển, mọi người chưa được lên bờ mà thực phẩm mang theo đã gần cạn, bánh quả cho trẻ con đã không còn. Thằng Thăng con bà Vinh nhìn thấy đứa nhỏ có chiếc bánh nên nó quay lại đòi mẹ kiếm bánh cho nó, khóc nói tiếng Việt ầm ĩ, làm mấy bà người Việt chạy lại chỗ bà Vinh chào hỏi nhau mừng rỡ. Họ hỏi thăm nhau không dứt như gặp bạn thân lâu ngày không gặp.

    Ồn ào lúc đầu rồi ai nấy về chỗ mình, họ còn lo cho ngày mai, chưa được bước chân lên bờ, sợ bị trả về Việt Nam. Bốn bà không có đàn ông đi theo, chỉ đi với các con đều cùng một hoàn cảnh. Họ liên kết với nhau, có điều gì xảy ra hay ai biết thêm điều gì họ đều loan báo cho nhau biết, giúp nhau trên bước đường lữ thữ, bàn tính chuyện xa việc gần khi hằng ngày gặp nhau.

    Cuối cùng tất cả mọi người trên tàu Hải Hồng đều được đi định cư tới các nước. Bốn bà được đi định cư ở Mỹ. Họ liên lạc với nhau, dần dà họ tìm cách ở gần nhau, rủ nhau đi học, đi tập lái xe, đi làm. Cuối tuần họ gặp nhau, ăn uống lần lượt mỗi nhà và tâm sự góp ý kiến với nhau để chia buồn vui. Hôm nay đến lượt chị Vinh kể chuyện về cuộc đời của chị cho chúng tôi nghe:

    -Tôi là con một thương gia có đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuột. Sau khi thôi học tôi trông coi quán cà phê cho bố mẹ. Tôi gặp chồng tôi lúc bấy giờ đeo lon đại úy là vì ngày nào anh cũng lái xe Jeep đến quán tôi, bất kể giờ giấc. Có khi ngồi chưa nóng chỗ anh đã phải đi. Có tối ngồi lại rất khuya mới chịu về. Tôi vẫn nghi ngờ anh chàng người Bắc di cư, đeo lon đại úy vẫn nói chưa vợ, nhưng lâu dần nghe anh nói mãi cũng lọt tai. Bố mẹ tôi thấy anh ăn nói lễ phép nên các cụ cũng bằng lòng.

    Sau đám cưới nhà tôi cứ nay đây mai đó đi hành quân luôn. Chồng tôi thấy vợ con ở gần mặt trận nguy hiểm nên bàn với tôi mua nhà ở Sàigòn để con cái đến tuổi đi học cho tiện. Nhà tôi có dịp có giấy phép về Sài gòn thăm vợ con còn tôi trông nom con cái.

    Rồi tin dồn dập xảy đến. Mất Phước Long. Mất Ban Mê Thuột. Đà Lạt chạy xuống, ngoài Trung chạy vào. Từng ngày, từng giờ hoang mang, người ta tìm cách xuất ngoại còn tôi cứ bồn chồn chờ tin tức chồng rồi sẽ liệu. Ngày 30 tháng 4, cổng Dinh Độc Lập bị xô đổ, dép râu dẫm khắp nẻo đường, mẹ con tôi chán ngán hết hy vọng gặp chồng gặp cha. Thấy người ta tìm đường ra ngoại quốc, tôi muốn đi lắm nhưng chưa được tin nhà tôi sống chết ra sao nên không đành lòng đi.

    Gần một năm sau tôi dò la mới biết nhà tôi bị bắt đưa ra Bắc. Được giấy thăm nuôi, tôi mua đủ thứ thực phẩm, thuốc men đi cùng mấy bà bạn cũng thăm nuôi như tôi. Người nào cũng tay xách vai mang, lên tầu xuống xe còn sợ bị mất cắp, cướp giật, phải canh chừng cho nhau. Hết đường xe, chúng tôi phải đi bộ trèo đèo, lội suối mới tới nơi rừng sâu núi thẳm gặp được chồng, được cha.

    Gặp nhau được mấy phút nhà tôi chỉ nói với tôi, hãy coi như anh đã chết, em về lo liệu cho tương lai các con, đưa chúng ra khỏi nước càng sớm càng hay. Tõi ừ ào cho qua. Với cái quán cà phê vỉa hè, tôi chỉ cầu ngày hai bữa cho năm mẹ con cũng khó đủ. Để dành chút ít để đi tiếp tế thăm nuôi nhà tôi, lấy đâu ra vàng mua chỗ cho năm mẹ con đi ra nước ngoài.

    Vào một buổi chiều trời mưa vắng khách, có hai ông bà dắt đứa con trai chừng 10 tuổi, quần nâu áo nâu đúng là người Bắc mới vô, tôi mời họ vào quán uống nước. Nhìn ông bà khách, tôi có linh tính như là người quen mà mình chưa nhớ ra. Tôi vồn vã hỏi thăm quê ở đâu? Vào Nam có họ hàng hay có việc gì? Người đàn bà cũng chăm chú nhìn tôi. Bà ta nói:

    -Chúng tôi ở làng Mông Hữu, Kiến Xương, Thái Bình. Tôi có người em trai vào Nam từ năm 1954, đi học sĩ quan Đà Lạt. Tôi vào đây cốt dò la tin tức em tôi còn sống hay chết.

    Tôi không kìm nổi đột ngột hỏi ngay:

    -Bà có phải là chị Hiển không?

    -Phải, tôi tên cái là Hiển. Sao bà hỏi tên tôi?

    -Vậy chị là chị Hiển, chị của anh Vinh chồng tôi!

    Chúng tôi mừng quá ôm nhau khóc tức tưởi. Vì trước kia nhà tôi nói về gia đình ở ngoài Bắc có hai người chị. Một đã lấy chồng, con chị Hiển ở nhà với bố mẹ, ở Mông Hữu, Kiến Xương, Thái Bình. Bây giờ nghe người nói đúng tên quê quán, tôi nhận liền không còn hồ nghi. Tôi mời anh chị về ở với tôi để tâm sự. Trong câu chuyện tôi phàn nàn về ý nhà tôi muốn đưa các cháu đi xuất ngoại để lo cho tương lai các cháu. Biết đến bao giờ tôi mới mua nổi chỗ đi, ít nhất mỗi đầu người phải có ba cây vàng, mà đã chắc gì đi một lần là được.

    Ngày hôm sau anh rể tôi muốn dẫn con đi thăm người bà con trong Chợ Lớn. Chị Hiển kêu khó chịu muốn ở nhà. Chị nói hôm nay mợ nghỉ bán hàng một bữa, đợi các cháu đi học nhà chỉ còn hai chị em, chị muốn nói cho tôi biết nhiều điều không muốn cho anh biết. Chị kể:

    -Ông bà Bá Lân, bố mẹ chị và Vinh, chồng em là người hiền lành hay giúp đỡ người nghèo. Gia đình nhà theo nghề nông, nuôi tầm, gặp thời phong đăng hòa cốc được mùa luôn mấy vụ, bố mẹ tậu thêm ruộng mua thêm vườn, trở nên giầu có tiếng trong vùng. Từ khi Việt Minh cướp chính quyền, không khí có vẻ ngột ngạt cho những nhà có bát ăn bát để, còn những nông dân chất phác hồ hởi như rồi ra sẽ được chia ruộng, chia nhà không ai phải đi làm mướn cho ai.

    Vì chưa biết thời thế ra sao, với bản tính lo xa, bố mẹ bán dần đồ đạc, thóc lúa, bí mật đi mua vàng còn bề ngoài làm ra vẻ nhà sa sút. Cuối năm 1952, nhà nước thu thuế nông nghiệp, giảm tô, bố mẹ định đi Hà Nội sống qua ngày và ở gần Vinh đã lên học ở Hà Nội từ trước. Nhưng đã quá muộn, khi thấy bố mẹ bán từ cái nồi đồng, mâm thau, ủy ban trong làng đã cắt du kích canh chừng. Mỗi lần ra chợ cũng bị chúng theo dõi.

    Cuối năm 1953, đội cải cách về làng, gần tới Tết mà chẳng còn ai nghĩ đến sắm sửa ăn Tết. Mở mắt ra đã nghe tiếng trống ếch, một lũ thiếu nhi quàng khăn đỏ vừa hát vừa đi từ đầu làng đến cuối làng trong các xóm: “Cắt đứt là cắt đứt, dứt khoát là dứt khoát, không vương vấn giai cấp địa chủ, kiên quyết đánh đổ địa chủ”. Cả làng bao phủ một sự sợ hãi ngột ngạt.

    Chị muốn quên cũng không quên nổi, buổi chiều hãi hùng 23 tháng Chạp năm đó. Xã cho triệu tập nhân dân đến hội trường để bàn về thuế công, thương, nông nghiệp, tới nơi mới biết là tòa án nhân dân đấu tố. Hội trường lập trên khoảnh đất trống đầu làng, bên trong đã có sẵn giây thừng, hèo, gậy và nhiều dụng cụ tra tấn khác. Những người thiếu thuế không kể thiếu nhiều hay ít đều bị bắt điều tra quỳ ở sân trước hội nghị để tra khảo. Chủ tịch cuộc họp chỉ hỏi có một câu: “Tại sao ngoan cố không chịu nộp thuế?” hoặc nếu nộp không đủ: “Ai xúi mày không nộp đủ thuế?”

    Chúng đánh đập, cùm kẹp, tra tấn cho đến lúc nạn nhân chịu không nổi đuối sức gật đầu. Nếu không gật đầu, nạn nhân bị tra tấn suốt đêm cho đến chết. Đến lượt bố mẹ, bị tên đứng tố là tá điền nhà. Nó hỏi điều gì phải thưa, gọi nó bằng ông nông dân và xưng con với nó. Nó quát gọi bố bằng thẳng, rồi đánh đập túi bụi. Bố gục xuống chết trong đêm đấu tố đó. Mẹ ngất đi lúc lâu mới hồi tỉnh. Khi xin xác bố về nhà, tên chủ tịch ra lệnh chỉ được bó chiếu mà chôn. Nhà bị tịch thu, mẹ và chị bị đuổi ra đường, đứng nhìn sáu gia đình kéo tới chia nhau đồ đạc trong nhà.

    Cuối cùng chúng cho xuống ở chuồng heo cuối vườn, chị phải cắt hàng rào lấy lối ra đường. Xin mãi chúng mới vất lại được cho đôi chiếu rách để mẹ nằm ngả lưng. Cũng may đã tính trước, mẹ đã giấu được dưới chuồng heo mấy bao gạo và một rương quần áo che bằng những đồ phế thải và củi nên được chúng cho ở chuồng heo là mừng rồi. Chị sau đó đi mò cua, bắt ốc, làm thuê sống qua ngày che mắt chúng.

    Vừa nhục vừa buồn, thương chồng nhớ con rồi lo lắng cho chị đời sống sẽ ra sao, mẹ sinh bệnh rồi mất năm tháng sau ngày bố chết. Trước khi qua đời, mẹ có chỉ chỗ chôn giấu được ít vàng cũng ngay chỗ chuồng heo. Mẹ dặn sau này gặp được em lấy lên chia nhau làm vốn sinh nhai.

    Chị lập gia đình lấy anh Sáu là con bác Hai Sinh người cùng xóm. Chỗ chuồng heo khi trước anh chị sửa sang thành ngôi nhà nhỏ, mua mấy thước đất chung quanh để cấy chút rau, nuôi gà, anh chị làm ăn cũng đủ sống.

    Nghe mợ nói ý cậu Vinh muốn mợ đưa các cháu đi nước ngoài cho chúng học hành, chị sẽ trở về đào số vàng bố mẹ để lại lên để mua chỗ cho mợ và các cháu đi. Bây giờ chị tính thế này. Mợ ngỏ lời mời anh chị vào Nam làm ăn buôn bán dễ thở hơn ở ngoài Bắc. Chúng ta chung nhau thuê căn phố mở hàng cơm bình dân. Có cớ rồi, anh chị trở về Bắc bán nhà, chị sẽ lấy sổ vàng bố mẹ chôn mang vào đây.

    Sau mấy ngày ở chơi anh chị Sáu, Hiển trở về Bắc thu xếp bán nhà. Trở lại Nam, chị mang số vàng đào lên chia làm ba phần, chị lấy một phần, một phần chị đưa cho tôi để mua chỗ mà đi, một phần chị nói giữ lại để tiếp tế dần cho anh Vinh.

    Chị em tôi bí mật thu xếp xong, tôi vào Chợ Lớn tìm mối đóng vàng để mua giấy rồi may áo Tàu cho mẹ con tôi. Lúc đi tôi đưa ra ba cây vàng chị Hiển đã giao cho tôi ra trước mặt anh Sáu nhờ anh chị tiếp tế thăm chồng thay tôi. Đi đến nơi bình yên, tôi sẽ đưa tin và gửi quà về. Anh chị đưa chân mẹ con tôi tới khi lên xe. Chị Hiển khóc hứa sẽ làm hết các điều tôi dặn. Tôi yên lòng tin vào tấm lòng thương em của chị. Bằng cớ dù túng thiếu đến đâu chị cũng không dám tiêu đến số vàng bố mẹ trối trăn lại, cũng không nói cho chồng biết, chờ khi tìm được em mới nói.

    ***

    Tính chị em thương yêu nhau thắm thiết từ trong tâm. Dù ở dưới chế độ cộng sản đói rách, man trá, tham lam, người chị vẩn giữ một lòng thương em, không thay đổi. Và như thế mới biết rằng sự độc ác, điêu tàn, gian ngoa của cộng sản cũng không thể nào làm lay chuyển được bản tính tốt lành, chân thật của con người như tình gia đình yêu thương đùm bọc của chị Hiển đối với người em trong câu chuyện kể của chị Vinh.

  4. #4
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    3- Tha Thứ






    Bổn phận của người Công giáo là mỗi ngày chủ nhật phải đi tham dự thánh lể để thờ lạy Đức Chí Tôn, nên số giáo dân đi lễ trở nên đông đúc hơn vì có nhiều người Việt mới tới, có khá nhiều người muốn có chỗ ngồi thoải mái, cần phải đi sớm, ai đi trước ngồi trên không phải chen lấn, ghế nhà thờ kể theo hình móng ngựa. Ngồi hàng ghế giữa quan sát được cả hai bên tả hữu vì thế tôi thích ngồi hàng giữa với ý muốn gặp những người đồng hương mới tới Hoa Kỳ, nếu lại là bạn hữu thì ôi thôi, tâm tình tranh nhau mà thố lộ.

    Bên phía hữu nơi kê chiếc đàn dương cầm, trước mấy hàng ghế dành riêng cho các nữ tu và ban ca vịnh do các nữ tu huấn luyện, trong số các nữ tu thường gặp trong các ngày lễ, hôm nay lẫn vào đây là một khuôn mặt khác, nổi bật với khuôn mặt trái soan, nước da bánh mật sạm nắng, thân hình thon nhỏ ngồi bất động, chỉ có đôi mắt hiền từ trong sáng, ngước nhìn lên chăm chú để hết tinh thần trong suy tư, cách biệt với ngoại vật, nghiêm trang thánh thiện. Trong ký ức ngờ ngợ như có vẻ thân quen với người nữ tu, tôi chú tâm xem lễ xong sẽ ra trước, đừng đón ở cửa nhà thờ.

    Sơ Tâm đã nhận ra tôi trước, rảo bước lại ôm tôi, cả hai chúng tôi nhìn nhau, hơn 30 năm rồi còn gì, xa nhau quá nửa đời người, thật là cuộc hội ngộ hi hữu, cần phải nói với nhau thật nhiều không tiện, tôi ép bằng được đón Tâm về nhà tôi, tôi không ngờ Tâm đã cải đạo và bây giờ trở nên bậc nữ tu khả kính. Tôi hỏi Tâm kể cho tôi biết về mẹ Tâm, các chị, anh và các em Tâm bây giờ sống ra sao với chế độ cộng sản tàn nhẫn ở quê hương. Sơ Tâm kể cho tôi nghe.

    “Từ ngày mẹ Tâm khám phá ra biết cô Hoa lợi dụng tình bạn năng lui tới thăm nom, là có ý tìm dịp gặp ba Tâm để đưa ông cụ vào mê hồn trận, lung lạc làm cho ba mê say cô, không còn nghĩ đến tỉnh tào khang, đến đàn con nhỏ dại có bổn phận phải nuôi dậy. Cả hai người, ba và cô Hoa, rủ nhau bỏ nhà ra đi, đang tâm phá nát gia đình, cướp chồng, cướp cha, cướp của, để vợ và các con lâm cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Từ đây mẹ của Tâm phải làm ăn ngược xuôi, âm thầm mưu sinh nuôi các con ăn học, nhà ở phải đi thuê, đồ đạc bán dần, mẹ Tâm không còn vẻ là một mệnh phụ, phu nhân của một bác sĩ như xưa.

    Một mùa đông ảm đạm, vì quá lao tâm lao lực, mắc bệnh trầm trọng, thuốc không có, nằm trên một cái giường ọp ẹp, chỉ còn da bọc xương, gương mặt đau khổ, hơi thở khò khè, biết mình sắp đến giờ tạ thế, mẹ của Tâm gọi tất cả năm người con, hai trai ba gái đứng hai bên giường, chị cả lớn nhất mới có 14 tuổi, em trai út mới lên 3, nào em tôi có biết gì đâu, nó chỉ khóc phụng phịu, nghe mấy đứa trẻ hàng xóm, nô đùa ngoài sân, nó chạy ra, mẹ tôi làm hiệu giữ nó lại, khi tôi nắm được em đưa vào bên cạnh mẹ, bà cụ nằm lấy tay nó và nói với chúng tôi:

    -Trước khi mẹ chết, mẹ chẳng còn gì để lại cho các con, nhưng mẹ phải trối trăn, các con có thương mẹ, hãy nhớ kỹ những điều mẹ nói sau đây. Bởi vì đâu mà mẹ con ta ra nông nổi này, nghèo, thiếu thốn đã mấy năm nay, một mình hết sức xoay sở, dè sẻn, làm lụng vất vả không đủ nuôi các con ăn học, thiếu thốn từ quần áo, sạch sẽ, gia đình ta bị nhiều người khinh khi. Các con lớn còn nhớ không? Ba mẹ và các con đang sống hạnh phúc, đầy đủ, ba các con đi làm, mẹ ở nhà làm đủ bổn phận một người vợ, người mẹ, không có làm điều gì trái ý ba và các con: đối với họ hàng, lối xóm, chưa xẩy ra điều gì làm mất lòng ai.

    Trong lúc mẹ đang sống hạnh phúc, trong những bạn học cùng trường với mẹ trước kia. Hoa là người bạn gái ở gần nhà mình nhất, chắc các con còn nhỏ, hay đến thăm chơi trò truyện với mẹ, mỗi lần đến bao giờ cũng thân hơn nên mỗi khi đến, mẹ thường giữ cô ta ở lại chơi ăn cơm với ba mẹ, và bao giờ cũng chờ ba con đi làm về mời ăn cơm.

    Mỗi khi đến chơi, cô ta hay đi một mình và lần nào cũng nói về gia đình cô, phàn nàn về chồng cô ta hay cờ bạc, mê đi nghe hát, xem tuồng, lại còn bồ bịch với đào hát này đến đào hát kia, làm cho cô ta thật khổ sở, lương cuối tháng đưa về không đủ tiêu, gia đình thiếu trước hụt sau, mang công mượn nợ, cô ta kêu ca thì người chồng lạm ỷ vào quyền của mình đi làm có lương phải chi tiêu, cho xứng với địa vị của mình, rồi quát mắng chửi bới, đổ tại cô ta hoang phí, không biết gì về nội trợ, chỉ biết ăn sẵn, rồi cô phàn nàn với ba mẹ: “Cứ như thế này tôi không chịu nổi, sẽ phải ly dị để thẳng cha ấy lấy ai thì lấy.”

    Mẹ lấy tình bạn khuyên cô ta nên nhẫn nại, chiều chuộng, khuyên chồng cô bớt cờ bạc, hàn gắn gia đình nhất là cô ta đã có ba đứa con nhỏ dại, phải chăm sóc nuôi dưỡng, và nên tự xét mình xem có điều khuyết điểm nào, hãy tự sửa mình cho hoàn hảo rồi hãy trách người ta. Từ hôm mẹ khuyên cô ta, ít thấy cô ta tới nhà mình, rồi vì công việc bổn phận, mẹ cũng quên đi, lúc nào nhớ tới cô ta, mẹ lại nói với ba, lâu nay cô Hoa ít lại đây chơi, nghe xong ba các con chỉ ừ ào cho qua.

    Rồi một hôm, có một người bạn nói cho mẹ biết Hoa đã ly dị chồng, mà cũng không nhận con về nuôi. Thật tội nghiệp, người chồng là một công chức, sáng sớm đem con đi gửi hàng xóm, đến chiều đi làm về lại đi đón con, cảnh gà trống nuôi con thật là ái ngại. Còn Hoa bây giờ khác trước nhiều lắm, son phấn, quần áo toàn thứ đắt tiền, chỗ nào có hội họp, đình đám đều có mặt, mẹ cũng chỉ nghe qua rồi bỏ.

    Ít lâu sau, mẹ nhân thấy ba con hay đi sớm về tối, cuối tuần lấy cớ đi chơi với người nọ người kia, hay có bệnh nhân đau nặng cần ở lại nhà thương, mẹ vẫn tin ba các con vì nghề nghiệp nên không có ý nghi ngờ. Cho đến một hôm, ba con nói với mẹ nên ký giấy bán một số ruộng ở nhà quê và ngôi nhà đang ở để lấy tiền hùn vốn mở bệnh viện tư, mà ba làm giám đốc, như vậy ba không phải làm việc tư, như vậy ba không phải làm việc dưới quyền ai, bây giờ hãy tạm thuê căn nhà nhỏ rồi ít lâu sau, có lời nhiều mình sẽ tậu ngôi nhà lớn hơn ngôi nhà này.

    Mẹ không một chút nghi ngờ, ký giấy bán ruộng, bán nhà, tìm nhà đi thuê, buổi sáng hôm sau dọn nhà, vì ba đi làm ở nhà thương, nên chỉ có một mình mẹ ở nhà thu dọn đồ đạc. Việc đầu tiên mẹ làm là đi lấy sổ vàng và bạc ba mẹ để dành từ lâu nay, trong số đó có cả các đồ nữ trang, thì ôi thôi! Tất cả đã không cánh mà bay, mẹ chỉ còn biết chờ ba con về để hỏi, may ra ba có cất nơi khác mà không nói cho mẹ biết, thế rồi mẹ cứ ngồi chờ, cho tới khuya cũng không thấy ba các con về.

    Mẹ sốt ruột như có sự gì không ổn xẩy ra cho mẹ, mẹ dặn người làm coi các con, thuê xe kéo tới bệnh viện, ở bệnh viện mọi người đều biết mặt mẹ nên mẹ cứ đi thẳng tới phòng ba làm việc, mẹ không gõ cửa mở cửa vào, thấy con Hoa ngồi gần ba đang to nhỏ. Bất thần mẹ xông vào nắm lấy con Hoa, miệng hét lớn làm mọi người đổ xô đến, ba gỡ tay mẹ để con Hoa chạy biến mất, rồi ba quát đuổi mẹ về. Mẹ thấy ba các con, vì mê đắm con Hoa nên không còn nghĩ gì đến tình vợ chồng, đến đàn con dại. Mẹ uất ức ngất đi, khi tỉnh dậy thấy mình nắm trong phòng hồi sinh, có mấy cô y tá và bà sơ Nguyên hết sức an ủi mẹ, mẹ không bao giờ quên ơn mấy người này mỗi khi đến.

    Từ đấy ba các con không có trở về nhà nhìn vợ nhìn con nữa, còn con Hoa nghiễm nhiên ra vào bệnh viện chỗ ba các con làm việc, nó lại hay phách lối, mọi người đều chứng kiến cảnh bỉ ổi bất nhân đối với mẹ con mình và họ đều tỏ thái độ xem thường ba các con, chỉ còn thiếu điều tẩy chay. Có thể vì xấu hổ nên khi bị tụi VC nằm vùng móc nối, sẵn có nhiều tiền trong tay, ba đem con Hoa trốn ra khu và sau đó lại đi ra làm việc ở Hà Nội. Từ đó mẹ không còn biết nhiều tin tức của ba nữa.

    Mẹ tự trách mình vì quá tin bạn, cứ để nó lui tới hoài và không theo sát ba các con ở bệnh viện, nên mới ra nông nỗi này, thật đúng như lời các cụ xưa thường nói:

    Tin bợm mất bò
    Tin bạn mất vợ (chồng) nằm co một mình.

    Âu cũng là bài học để các con nhớ, không nên quá tin ai, phải tìm hiểu mọi việc xẩy ra. Mẹ muốn nói nguyên nhân của việc gia đình mình bị tan nát để các con hiểu và lấy đó làm gương sau này. Nguyện vọng sau cùng của mẹ trước khi chết là các con phải trả thù cho mẹ, đây là mối thù không đội trời chung, mẹ đã không làm được và nay đã kiệt sức sắp lìa trần, các con hãy thay mẹ trả thù, làm cho con Hoa đau đớn ê chề, hay làm cho nó chết thì mẹ mới hả lòng.”

    -Mẹ tôi nói nhiều, quá mệt, ngất đi và ngày hôm sau mẹ tôi đã vĩnh biệt ra đi – rồi Sơ Tâm nói tiếp: -Một bác sĩ phu nhân đang sống trong hạnh phúc, vật chất đầy đủ, vì quá tin để bạn cướp mất tình yêu, mất chồng, mất hết tài sản đến nỗi mẹ con lâm vào cảnh sống nghèo khổ, nheo nhóc, nhục nhã thì sự thù hận trở nên quá lớn, tôi không dám trách mẹ tôi đã trối trăn cho các con trả thù hộ me, vì mẹ tôi khổ sở trông thấy trước cảnh chị em chúng tôi đều còn nhỏ tuổi trở nên côi cút, tan đàn sẻ nghé mà oán hận đối với người đã gây ra cảnh này cho chúng tôi.

    Sau khi mẹ chết, họ hàng hai bên và bà con lối xóm đến thăm hỏi, lo việc chôn cất bằng việc bán tất cả những gì có thể bán được để trang trải mọi chi phí. Rồi họ hàng bàn nhau chia chị em chúng tôi ra, để mỗi người nhận lãnh một cháu về nuôi và họ chỉ nhận những cháu có thể giúp được việc nhà, trật ra còn hai em nhỏ tuổi nhất chẳng ai chịu nhận cả vì họ sợ rằng nuôi tốn cơm mà chẳng giúp được việc gì.

    Trong lúc ngặt nghèo như vậy, chúng tôi chỉ biết ôm nhau mà khóc, thật Thiên Chúa giúp chúng tôi, đúng lúc này Sơ Nguyên đến cùng với một sơ khác nữa, trông thấy cảnh họ hàng tranh dành chia chúng tôi ra để nhận về nhà giúp việc, sơ Nguyên nói:

    -Tôi đến hơi muộn, tôi xin thưa với bà con cô bác trong hai họ là khi bà bác sĩ còn sống, tôi đã hứa với bà, nhận đón tất cả các cháu mồ côi về để nhà dòng chúng tôi lo nuôi nấng và dậy dỗ, cho các cháu ăn học đến thành tài. Vậy để giữ được lời hứa ấy, chúng tôi xin họ hàng đồng ý để chúng tôi lãnh các cháu mồ côi về.

    Tất cả họ hàng đều đồng ý vì đỡ được gánh nặng nuôi cháu mồ côi, và kết quả là ba chị em gái về với sơ Nguyên ở dòng nữ, còn hai em trai về sống trong dòng các sư huynh.

    Sơ Nguyên đáng kính đã tới đúng lúc để cứu chúng tôi, ơn ấy chị em chúng tôi muôn đời ghi nhớ. Sơ là một nữ tu tự nguyện đến giúp việc ở bệnh viện nơi ba chúng tôi làm việc trước đây, bà làm việc không biết mệt, luôn luôn có mặt an ủi giúp đỡ các bệnh nhân hấp hối, trước hết vì lòng tha nhân, sau nữa cũng là dịp tốt để truyền giáo. Bà đã chứng kiến cảnh mẹ tôi bắt ghen, bà đã an ủi mẹ tôi khi biết rõ gia cảnh chúng tôi bị khánh kiệt, nhục nhã, bà đã để ý giúp đỡ về vật chất cũng như về tinh thần, chăm sóc mẹ tôi khi bị lâm bệnh nặng cũng như khi hấp hôi, và sau hết nhận chúng tôi về nuôi và cho ăn học đàng hoàng.

    Tất cả chị, anh em chúng tôi đã được hai nhà dòng nam nữ, chia nhau nuôi ăn ở, học hành cũng y như các học sinh nội trú phải trả tiền, không có gì phân biệt hơn nữa nhà dòng lại còn may sắm cho chúng tôi dư quần áo, vật dụng cho đời sống nội trú, nhiều khi lại còn hơn các bạn bè chúng tôi nữa. Khi chúng tôi đã khôn lớn, hiểu biết, chúng tôi được tự do chọn lựa tôn giáo để theo, và tất cả chúng tôi đều tình nguyện tòng giáo, và vì lòng cảm phục các sơ và ưa thích đời sống tu trì, tôi và em gái tôi đã trở thành nữ tu, hai em trai, một là linh mục, một là sư huynh, duy chỉ có chị cả chúng tôi lập gia đình được ba cháu đã lớn.

    Năm 1976, sau khi miền Nam bị xâm chiếm, và thông thương giữa hai miền được thống nhất, chị cả đưa tin cho chúng tôi hay là có người quen cho chị địa chỉ của ba chúng tôi ở Hà Nội. Chị cả nhắc chúng tôi lời trối trăn của mẹ trước khi chết là phải trả thù, và hỏi chúng tôi còn nhớ hay không? Lòng chị cả vẫn còn mang nặng mối hận thù đối với cô Hoa, người đã làm cho gia đình chúng tôi tan nát, mẹ chúng tôi chết trong cảnh nhục nhằn đau khổ, và chị quyết tâm thi hành lời mẹ dặn, và không thể tha thứ cô Hoa được.

    Chị em chúng tôi lâm vào cảnh vô cùng khó xử, lời mẹ dặn trả thù vẩn còn văng vẳng bên tai trong suốt 20 năm qua, nhưng nay chúng tôi, hai chị em là nữ tu, hai em trai là linh mục và sư huynh Công giáo, làm sao có thể trả thù cho mẹ được đây! Lời Thiên Chúa dậy trong tám mối phúc thật: “Phúc cho kẻ hòa thuận vì sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, mỗi ngày trong kinh nguyện vẫn đọc: “Tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta”, Theo Tân Ước, Chúa dậy: “Các người đã nghe lời dạy răn: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Nhưng ta bảo các người: đừng chống cự với người ác. Trái lại, hễ ai tát má bên phải ngươi, ngươi hãy đưa má kia cho họ nữa.” (Mat-Thêu 5, 25-42).

    Nên chúng tôi chỉ còn biết khuyên và an ủi chị cả, xin chị hãy quên đi và hãy tha thứ. Lấy lương tâm mà xét, sự việc đã qua hơn 20 năm, mẹ chúng ta đã chết, các em đã được nuôi ăn học, tất cả đều trưởng thành, thấm nhuần tinh thần bác ái của đạo Công giáo, nên chúng em chỉ biết cám ơn Thượng Đế đã thương chúng ta, và xin chị cả hãy quên đi và tha thứ cho cô Hoa.

    Sau đó, các chị em cử tôi đi Hà Nội thăm ba chúng tôi; được phép nhà dòng, xin đủ giấy tờ, tôi đã tới Hà Nội tìm được địa chỉ thăm ba tôi. Tôi rất xúc động khi thấy ba tôi, người già trước tuổi, yếu đau, vấn an rồi tôi nhìn nơi ba tôi ở, tôi không thể ngờ trong một căn phòng trệt chật hẹp, trước kia là nhà để xe của một Pháp kiều, được chính phủ “ưu ái” chỉ định cho ở, sau khi dâng cúng cho đảng một số tiền lớn là cả gia tài của ba mẹ tôi trước đây, mà ba tôi đã lấy đi bằng hết, nghe lời dụ dỗ của cô Hoa để làm vốn và tiêu dùng.

    Chính phủ gọi là đãi ngộ ba tôi có bằng chuyên môn y khoa bác sĩ và dâng cúng một số tiền mới được căn phòng nhỏ bằng phòng chứa đồ phế thải của nhà ba tôi trước kia, đồ đạc độc nhất là một cái phản ọp ẹp, hai cái chõng tre thất kế cao hơn mặt đất chừng một gang tay. Phản là nơi ngủ của ba tôi và cô Hoa, còn hai chõng tre cho hai em con cô Hoa nằm, một cái bàn gỗ tạp, bốn ghế cũ là nơi để tiếp khách và cũng là bàn viết của ba và bàn học của hai em. Chừa một góc phòng làm bếp, khi thổi nấu khói tỏa đầy nhà, mọi người phải ra ngoài hè, trừ người nấu bếp.

    Sau khi tôi chào, cô Hoa đưa hai em còn nhỏ lại giới thiệu nhận chị em, cô nhìn tôi với bộ mặt hối hận cô hỏi tôi:

    -Cháu còn giận cô không?

    Tự nhiên, tôi nhớ lời mẹ tôi và nét mặt đau khổ khi hấp hối, lòng tôi bừng bừng một nỗi xót xa, cay đắng khó trả lời quá, tay tôi vột nắm lấy mẫu ảnh. Chuộc tội, mà tôi, một nữ tu, luôn luôn đeo trong người không bao giờ rời, tôi phải nuốt mối uất hận, nhìn nét mặt đau khổ của ba, và sau một phút, tôi trả lời:

    -Cháu không còn giận cô nữa, vì ba và cô đã chịu hình phạt rồi, nếu có biết hối lỗi. Mẹ cháu đã chết trong đau khổ, nhục nhằn, nghèo khó, bù lại tất cả các cháu đã ăn học thành công, có một đời sống đầy đủ. Bây giờ, cháu lại thương ba, thương cô, các em phải sống thiếu thốn, cả về tinh thần lẫn vật chất.

    Sau câu nói của tôi, ba tôi ứa nước mắt nhìn tôi tỏ vẻ biết ơn. Cô Hoa, nước mắt vòng quanh, nắm lấy tay tôi mà nói:

    -Cô cám ơn cháu, cám ơn lòng từ tâm của cháu, cô hối hận, xấu hổ với các cháu, nhờ cháu chuyển lời xin lỗi đến các chị em cháu. Xin hãy tha thứ cho cô, thật là quả báo, cô đã bị trừng phạt ngay từ ngày bỏ nhà ra Hà Nội, và vẫn còn đang bị trừng phạt, hiện nay ba và cô phải sống thiếu thốn, nghèo nàn, bệnh hoạn, tủi nhục, đấy là cái giá cô phải trả vì lầm lỗi của cô.

    Từ giã ba và tất cả nhà, tôi đã về Huế để kịp ngày nghỉ đã hết. Tôi gặp lại chị và các em tôi, nói rõ hiện tình ba đau ốm, mẹ con cô Hoa sống trong thiếu thốn. Cô Hoa gửi lời xin lỗi tất cả, các em tôi tỏ lòng thương hại, tha thứ, duy chị cả tôi vẫn ấm ức, nói những lời mạt sát cô Hoa. Tất cả chúng tôi yên ủi chị và xin chị nhớ lời dạy của chúa mà mẹ bề trên Nguyên thường nhắc đi nhắc lại là hãy tha thứ:

    “Hãy tha kẻ dể ta, hãy nhịn kẻ làm mất lòng ta”

  5. #5
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    4- Trở Về




    Thoái khỏi cuộc sống chung ở chung cư, kiếm được căn phòng nhà lớn, nhỏ, cũng đủ tiện nghi theo tiêu chuẩn bản xứ, chỉ cần có mảnh vườn để trồng ít rau thơm, những thứ rau thường hay ăn như ở nhà hoặc các thứ cây trái như ý thích, đấy cũng là ý muốn của nhiều người di tản. Sống xa quê hương nhớ nhung đủ thứ lại thèm mỗi buổi chiều khi từ tiệm, hay công sở, hãng xưởng trở về nhà muốn trút bớt mệt nhọc, khó chịu vì những toan tính so kè, kèn cựa, ganh tị, hách dịch, vu oan nói xấu phát xuất từ xếp, đồng nghiệp, khách hàng, ta tạm quên mọi phiền toái đó, ra ngắm khu vườn nhỏ của mình do tay mình xới đất, trồng cây, vun bón.

    Nhìn những luống hoa, luống rau xanh mát làm cho tâm hồn ta hòa đồng với thiên nhiên, với rau trái. Ta cảm thấy thích thú, thư thái và yêu đời hơn. Thỉnh thoảng mang những rau trái biếu những người bạn còn ở chung cư không có đất trồng. Nhìn nét mặt rạng rỡ của bạn ta cũng thấy vui và thoải mái trong lòng biết bao!

    Tôi đưa ý tưởng trên đây nói với bà Hinh, người bạn chúng tôi quen nhân dịp cuối tuần đi chợ Việt Nam mua thực phẩm. Bà Hinh là người đàn bà trẻ đẹp, thuần hậu, nghiêm nghị. Nụ cười của bà rất hiếm trên môi, lúc nào cũng phảng phất nỗi buồn ẩn trong đôi mắt xa xăm. Chúng tôi trở nên thân mật, hay tới thăm nhau vì mỗi nhà đều có vườn hay góp ý chỗ nào nên trồng hoa, chỗ nào trồng rau, trồng cây cho có mỹ thuật, rút kinh nghiệm bổ cứu cho nhau về trồng tỉa. Bà Hinh thường nắm tay tôi cám ơn về sáng kiến giúp bà làm vườn mỗi khi rảnh rỗi để bà không còn thì giờ buồn về những việc đã qua hay hiện tại. Lần gặp gỡ hôm nay, tôi thoáng thấy nét buồn trên mặt bà Hinh, tôi an ủi:

    -Chị có công việc làm tốt, các con ngoan hiền đi học, đi làm, yêu mến và vâng lời chiều mẹ. Tôi ít thấy gia đình nào được hạnh phúc như chị, còn việc tình cảm riêng tư tôi không dám tò mò.

    Bà Hinh đáp:

    -Tôi ít giao thiệp với ai. Đi làm về là săn sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa. Hạnh phúc của tôi đặt hết vào các con tôi. Từ ngày tới đây bà là người bạn độc nhất. Để tôi kể cho bà nghe về chuyện đời tôi.

    Và bằng một giọng nhỏ nhẹ, bà Hinh kể cho tôi nghe:

    Chúng tôi lấy nhau do cha mẹ đôi bên thoả thuận sau khi kén chọn rồi nói cho chúng tôi biết, không có sự ép buộc, nhầm lẫn. Chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc. Chúng tôi theo ngành hành chánh, tôi buôn bán thêm lợi tức. Gia đình cũng sung túc. Khi sanh tới cháu thứ năm tôi bị xuất huyết hơi nhiều nên phải tỉnh dưỡng một thời gian. Cũng là lúc tôi nghe nhiều người nói về chồng tôi bắt bồ với một nữ đồng nghiệp. Thoạt đầu tôi chưa tin hẳn những sau nhiều ngày đi làm về muộn, hay vắng mặt đôi ba lần, tôi cật vấn chồng tôi thì anh ấy nại cớ đi vắng vì công việc vụ, việc nhiều phải ở lại sở làm thêm hoặc lúc thì bạn bè rủ đi chơi v.v….

    Không khí trong nhà ngày thêm ngột ngạt, giữa hai vợ chồng gặp nhau chỉ nói móc họng nhau. Mọi khi bữa cơm chiều vui vẻ, bây giờ mỗi người chỉ muốn ăn cho mau đứng lên. Các con tôi vừa ăn vùa lấm lét nhìn bố, nhìn mẹ. Chúng không dám cười đùa như mọi khi. Tôi không còn muốn săn sóc quần áo cho chồng như mọi khi. Chỉ khổ các con tôi, mỗi khi chàng cần thứ gì không có sẵn là các con tôi bị rầy la mắng chửi, có khi anh ấy còn tiện tay đánh chúng.

    Mấy bà bạn còn bầy cho tôi nên phấn son, sửa soạn đẹp để kéo lại tình yêu và đừng để thua kém người bồ của nhà tôi. Họ bảo người ta ăn diện sang trọng làm đàn ông dễ mê say. Tôi vốn tính căn cơ, ít son phấn và cũng không thích ăn mặc lòa loẹt nhưng bị các bạn thúc bách tôi cũng thử thay đổi xem sao. Nhưng kết quả ngược hẳn lại!

    Chồng tôi cho là tôi đổi tính thích ăn chơi, chưng diện và đâm nghi ngờ ghen tuông là tôi có bồ nên lại càng có cớ bỏ tôi biền biệt, lương tháng cũng không đưa về. Người ta xúi tôi đánh ghen, tôi nghĩ làm vậy xấu người, xấu mình có ích gì đâu. Chồng mình mới là đích, mới là kẻ phản bội, mới là thủ phạm. Sau tôi còn nghe người ta bảo cô này tỉ tê với chồng tôi là tôi thay lòng đổi dạng, cô xúi chồng tôi đuổi tôi ra khỏi nhà.

    Sự chịu đựng có hạn, tôi thương các con tôi có bố cũng như không nên tôi chờ lúc tan sở gặp chàng nhắc chàng con đau hãy về nhà thăm con và để nói chuyện dứt khoát. Tôi hiểu khi người ta đổi lòng đặt tình yêu chỗ khác rất khó kéo lại. Thực tâm tôi không muốn bỏ chồng nhưng liệu thấy có níu kéo cũng không được. Tôi cũng tự ái không khóc lóc, than vãn hay xin xỏ điều gì, tôi chỉ hỏi anh ấy có muốn ở lại với gia đình, vợ con hay muốn ly tan. Tôi chưa nói hết câu, anh ta đã hùng hổ bảo: “Muốn chơi nước thượng hả? Hãy tự xét mình có xứng đáng là người vợ hiền, mẹ thảo hay không? Hay chỉ biết ăn diện, đua đòi, đàn đúm, bỏ con…”

    Anh ta chưa nói hết câu tôi đã điên lên phản ứng lại ngay. Tôi quát lại: “Đừng có thách, đi tìm con điếm kia đi!” Thế là cả hai xô vào nhau… Bây giờ nhớ lại lúc đó cả tôi và chồng tôi như người điên. Các con tôi khóc om xòm, hàng xóm kéo tới khuyên can hai bên. Tôi gọi các con tôi lại giải thích cho chúng hiểu là chúng tôi không thể chung sống với nhau được nữa, các con muốn theo ba hay theo má? Ngày mai tôi sẽ trả nhà lại cho chủ nhà. Còn chồng tôi, lời cuối cùng anh ta nói với tôi là: “Cô muốn đi theo đứa nào thì đi, để các con lại đây cho tôi!”

    Hôm sau hắn đi làm việc như thường lệ. Còn tôi xúc tiến các việc xin giấy chuyển trường cho các con, trả nhà thu xếp công việc trong ba hôm thì xong. Trong mấy hôm ấy tuy không nói ra nhưng tôi mong chồng tôi trở về nói vài câu hòa giải để được hàn gắn. Nhưng cho đến lúc mẹ con tôi lên xe, tôi vẫn đảo mắt nhìn xem có thấy bóng chồng tôi không.

    Gần 20 năm vợ chồng, con cái không gặp nhau, không thư từ, tin tức. Một người quen cho tôi biết sau khi mẹ con tôi bỏ đi, chồng tôi ở với người đàn bà đó, cô này đã khống chế anh ta, cô ta còn dèm pha đặt điều tôi đi buôn bán rồi lang chạ với nhiều người. Nhiều lần anh định về thăm con cũng bị cô ta tìm cách ngăn cản.

    Phần tôi lúc đầu vì quá giận dữ và cũng tự ái nên không đòi hỏi chồng chu cấp nuôi con. Thấy tôi gặp cảnh không may, mấy người quen mách mối, tôi buôn đi bán lại những hàng viện trợ Mỹ. Công việc này cũng hợp với khả năng, tôi kiếm được nhiều tiền và bận bịu với công việc nên cũng ít nghĩ tới người chồng phản bội.

    Gần ngày 30 tháng 4, 75 tôi thấy người ta di tản, tôi cuống cuồng nhìn đàn con nhỏ rồi sẽ ra sao. Đi hay ở, biết bàn với ai? Tôi nhớ tới người chồng phản bội và ước gì gặp lại để cùng bàn tính và tôi sẽ tha thứ hết mọi lỗi lầm của anh. Nhưng tôi cũng chẳng gặp lại nên đành liều dẫn đàn con nhỏ xuống tàu theo mọi người rồi đến đâu hay đến đó.

    Tới Mỹ tôi lo đi học, đi làm, ổn định được đời sống, ít phải lo lắng như hồi còn ở nhà. Khổ nỗi ngoài giờ đi làm về thấy mình đơn độc, không họ hàng, người quen. Nhiều giấc ngủ tôi triền miên bị ám ảnh vì quá khứ. Những giấc mơ cứ dẫn dắt về những ngày chúng tôi bắt đầu chung sống, những lúc vui mừng khi chồng tôi được lên lương, anh mua đồ chơi cho các con, mua vải đẹp tặng tôi. Chúng tôi bàn định chuyện tương lai, những dự định đi chơi, con cái… Tôi còn mơ cả những lúc chúng tôi cãi nhau, đập phá đồ đạc. Thức dậy tôi rất khổ sở.

    Mới đây tôi nhận được thư của người nhà gửi từ Việt Nam kể có gặp chồng tôi và kể tình cảnh anh ấy. Họ còn cho địa chỉ anh ta. Sau 30 tháng 4 chồng tôi không còn việc làm, cô vợ bỏ anh. Anh ta bị đi học tập một thời gian đến khi trở về không nhà không cửa, không vợ con. Anh ta phải ở nhờ ngoài hàng ba nhà bếp một người bà con ở Phú Nhuận. Và tôi đã nghĩ đến việc trở về tìm anh ta, tôi rất phân vân sợ mất việc. Tôi cũng chưa biết sẽ giải quyết thế nào.

    ***

    Đúng một tháng sau bà Hinh trở lại. Và câu chuyện bà kể như sau:

    -Tôi tìm đến khu Phú Nhuận theo địa chỉ trong thư. Tôi gặp chủ nhà, họ nói gần tối anh ấy mới về. Chúng tôi gặp nhau bỡ ngỡ như hai kẻ xa lạ. Chúng tôi không nhắc gì đến chuyện ngày xưa, chỉ nhắc đến con cái, công việc học hành của chúng. Tôi đưa xấp hình các con cho nhà tôi xem. Anh ấy rất cảm động. Anh rất ít nói, tôi hỏi câu nào anh ta trả lời câu đó.

    Tôi đưa quà anh cũng từ chối, rủ anh đi chơi anh cũng không. Anh chỉ trả lời vắn tắt rằng anh rất xấu hổ vì những tội lỗi đã qua, anh không còn xứng đáng là người chồng, người cha thiếu bổn phận không giúp đỡ vợ con, không nuôi nấng dạy dỗ các con chỉ vì mê say nghe lời xúi dục không phân biệt phải trái. Anh chỉ còn biết ăn năn tội, không muốn nhận một ân huệ nào của vợ con. Anh rất mừng khi thấy vợ con sung sướng do tôi lo lắng, quán xuyến. Anh xin lỗi tôi về những nghi ngờ xưa kia.

    Tôi cũng xin chồng tôi hãy quên quá khứ, chuyện cũ đừng nhắc lại chỉ thêm buồn. Phần tôi cũng nhận lỗi nóng nẩy, không biết nhẫn nại chịu đựng nhau để đi đến đổ vỡ.

    Trong hai tuần lễ đầu tôi nói thế nào anh cũng không chịu nhận một chút quà hay sự giúp đỡ của tôi dù tôi biết anh thiếu thốn đủ thứ. Gia tài chỉ có mỗi chiếc xe đạp cũ, mỗi buổi sáng đeo trên xe đủ đồ nghề tới Lăng Cha Cả gần Tân Sơn Nhất chữa bất cứ cái gì người ta đem đến như nồi bẹp, ấm sứt quai, chậu thủng… Tôi nhẫn nại hòa đồng xuống mức sống của anh để anh khỏi mặc cảm. Tôi thật khổ tâm đến mức chán nản về sự cố chấp của anh.

    Rồi một buổi tối tôi kể lại những giấc mơ từ ngày xa nhau tôi cứ miên man bị ám ảnh như một cuốn phim quay lại cả cuộc đời chúng tôi đã chung sống trước kia. Khi tôi ngừng nói thì anh tươi cười nhìn tôi và cũng kể lại là anh cũng có những giấc mơ như vậy. Và bà biết sao không, anh nói với tôi:

    -Thiên Chúa đã kếp hợp chúng ta, không có gì chia rẽ được chúng ta nữa.

    Anh đã nhận những đề nghị của tôi mua một căn nhà nhỏ trước khi tôi về. Tôi sẽ thu xếp để các con tôi có dịp về thăm ba chúng. Tôi trở về vào đúng ngày lễ Valentine.

  6. #6
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001
    5- Lợi Dụng



    Đầu tháng vào ngày chủ nhật chúng tôi hay đi shopping sắm sửa quần áo hay mua bán vật dụng cần phải có, luôn thể đưa các cháu nhỏ đi chơi và cũng là dịp để gặp thêm người quen. Những người mới tới thường thích đi shopping sắm đồ và xem các cửa hàng lạ mắt quây quần trong một khu rộng lớn.

    Đang mải la cà khu bán quần áo, tôi gặp một ông chống nạng cùng đi với một người đàn ông còn trẻ cũng đang lựa quần áo như tôi. Tuy không quen nhau nhưng biết là người Việt Nam, chúng tôi đều mỉm cười chào nhau. Khi thấy vết sẹo ở cằm ông ta, tôi chợt nhớ như đã gặp ông chống nạng này ở đâu.

    Vào thời kinh tế kiệm ước mùa thu của ông tổng Ngọc, nhà cửa, thực phẩm leo thang, giới thương phế binh, quả phụ tử sĩ phải sống theo đồng lương cố định không đủ, nhiều người bị đuổi nhà. Không chỗ trú ẩn, không nơi buôn bán, nghĩ đến thân phận hẩm hiu đã hy sinh một phần thân thể cho tổ quốc, một số bất mãn rủ nhau đi “cắm dùi”. Họ không phạm vào của tư nhân nhưng họ dựng lều các vỉa hè, đất công làm mất vẻ tráng lệ của thành phố, và như thế họ mới buộc được chính phủ đãi ngộ, ưu tư đến họ được.

    Đứng trước cửa nhà, tôi đang theo dõi mấy người thương binh dựng quán dựa vào bức tường phía bên kia đường thì có một ông chống nạng vai đeo túi vải tách rời sau khi nói truyện với mấy người bạn thương binh. Ông băng qua đường đứng lại trước cửa nhà tôi nói muốn xin một ly nước lạnh. Tôi mời ông vào nhà láy nước uống. Trông vẻ mặt bơ phờ, tôi hỏi ông đi đâu. Ngần ngừ một lúc ông ta nói: “Tôi vừa ở nhà thương ra, định về quê ở Bến Tre, tiền xe không đủ bà có thể giúp tôi chút ít?”

    Tôi có hỏi thăm gia đình nhưng ông ta từ chối khéo: “Tôi không còn nhớ và cũng không muốn nhớ lại những gì đã qua!” Sau khi nhận số tiền nhỏ, ông cảm ơn và hứa khi nào có dịp tới đây để cám ơn bà một lần nữa. Tôi cười nói xin ông hãy quên đi.

    Cho đến bây giờ gần 20 năm tình cờ gặp lại, ông chống nạng nhận ra tôi, vui vẻ, vồn vã và mời tôi lại hàng nước gần đây và kể chuyện.

    “Tôi vẫn nhớ ơn không quên bà đã giúp tôi có tiền xe về quê. Hôm nay được gặp lại bà tôi rất lấy làm sung sướng. Bây giờ bình tĩnh rồi để tôi kể câu truyện ngày xưa bà muốn biết.

    Học xong trường làng, ba má cho tôi lên Sài gòn ở nhà cô tôi để đi học. Ba má tôi thỉnh thoảng mới lên thăm tôi, còn tôi không dám về quê vì vùng tôi ở gần như xôi đậu. Ban đêm cộng sản làm chủ, ban ngày của quốc gia. Năm tôi thi trượt tú tài hai, tôi nhập ngũ đóng đồn gần Bảo Lộc. Lúc rảnh rỗi chúng tôi lấy xe rủ nhau đi xuống Đình Quán, hay ngược tới Đà Lạt. Gặp quán là chúng tôi xà vào uống nước, quán nào có cô gái xinh xinh đều là mục tiêu của chúng tôi.

    Phần nhiều quán nào cũng có các cô ngồi thu tiền, chúng tôi tuổi trẻ chẳng suy nghĩ gì sâu xa nên gặp cô nào chúng tôi cũng tán. Riêng tôi nhờ có bông mai trên áo, tôi được một cô thu ngân tên là Lý tỏ vẻ săn sóc, chiêu đãi hơn những người khác. Lâu dần tôi cũng thấy thương cô ta thật tình. Ông bà già cô ta cũng săn đón quý hóa tôi; nhân một dịp tôi ở lại họ đãi tôi một bữa cơm thịnh soạn và ngỏ ý muốn mời ba má tôi lên chơi lo thu xếp cho tôi và Lý. Thực là dịp may, tôi vội viết thơ mời ba má tôi lên xem mặt con dâu tương lai và cưới vợ cho tôi.

    Ba má tôi tin tưởng ở tôi, lại được ông bà xui khéo chiều, đón rước nên ba má tôi cũng bằng lòng. Đàng gái lấy cớ xa xôi cho làm đám cưới ngay, tốn bao nhiêu ba má tôi bỏ tiền để nhờ đàng gái lo liệu. Vả lại ở quê tôi không được an ninh nên vợ chồng tôi không cần phải về quê chào họ hàng. Vợ tôi vẫn được ở nhà coi quán bán hàng giải khát. Bên cạnh là cửa hàng bán gạo của bố mẹ vợ. Thấy cửa hàng người ra vô mua gạo vui vẻ, ba má tôi nghe lời ông già vợ tôi rủ hùn vốn để mở lớn hơn. Lại có lợi để cho vợ chồng chúng tôi trông nom luôn thể.

    Ba má tôi thực thà dễ tin ngay, về nhà bán ruộng thu xếp được bao nhiêu đưa cho xui gia buôn bán. Mỗi lần ba má đi thăm chúng tôi, thấy những xe chở gạo đầy ắp ông bà rất mừng. Nghe xui gia nói buôn bán muốn khuếch trương vốn bao nhiêu cũng thiếu, ba má tôi lại về gom góp đưa thêm vốn. Đến khi không còn vốn góp thêm, ba má tôi ngỏ ý với xui gia lấy tiền lời ra để tiêu. Ông bà xui bèn hoãn binh rằng hàng còn bán chịu chưa thu được tiền, bán đến đâu phải đặt trước mua hàng, ở Sàigòn họ mới chịu cho hàng lên.

    Còn tôi từ ngày lấy vợ, trừ ngày đi hành quân vắng, ngày nào có mặt ở văn phòng là có việc gia đình nhà vợ can thiệp. Nói là có ít hàng ở Sàigòn lên xin bỏ qua. Tôi chẳng biết hàng gì những tính cả nể nhắm mắt theo lệnh bố vợ xin tha! Nếu không thuộc thẩm quyền tôi, bố vợ tôi lại lôi tôi đi lên cấp trên xin, kèm theo quà cáp. Tôi rất khổ tâm, phản đối bố mẹ vợ đôi lời là có màn vợ tôi chu chéo khóc lóc. Tôi lại mềm lòng muối mặt làm theo ý bố vợ. Cũng vì vậy tôi bị tiếng xấu, bị chỉ trích làm giầu cho bố vợ một cách phi pháp. Cấp trên dù thân cũng đành phải đổi tôi đi hành quân trên Ban Mê Thuột.

    Tôi muốn đưa vợ con đi theo nhưng vợ tôi không chịu, lấy cớ không bỏ được cửa hàng. Con lại đẻ thiếu tháng, thằng bé hay đau yếu phải ở gần ông bà ngoại trông nom giúp đỡ. Tôi nói xa con tôi nhớ lắm mà con khỏe mạnh có thấy đau yếu gì đâu. Vợ tôi cũng vẫn không đi. Tôi cũng đành chịu vì biết tính vợ tôi lỳ lắm.

    Tôi ở trên Ban Mê Thuột được ít lâu, bất thần được dịp về Sài gòn vì quân vụ. Trên đường đi, tôi ghé qua nhà thăm vợ con. Không kịp báo trước, tôi về thẳng cửa hàng vì vợ tôi vẫn thường ở đây. Cửa hàng đóng, tôi sang nhà ông bà ngoại thấy một người đàn ông lạ mặt đang bế con tôi. Chưa kịp có phản ứng gì, bà ngoại nó ở dưới nhà tất tưởi chạy lên bế vội thằng bé, miệng hỏi thăm tôi mới về. Bà giới thiệu người đàn ông lạ mặt, nói là người cháu họ ở xa đến chơi thăm ông bà. Tôi hỏi vợ tôi đi đâu thì bà trả lời tới nhà người bạn mua hàng. Bà nói huyên thuyên những chuyện chẳng ăn nhập gì, rồi hối tôi tắm rửa thay quần áo nghỉ ngơi cho đỡ mệt. Tôi nóng lòng muốn gặp vợ, tự nhiên tôi có cảm tưởng có việc gì người ta không muốn cho tôi biết. Chơi với con một lúc, đến giờ phải đi, tôi không kịp gặp mặt vợ, vội vàng hôn con rồi chào ông bà nhạc ra xe.

    Chuyến đi này tôi rất ân hận vì không được gặp mặt vợ. Về đến nhiệm sợ, tôi nhận được thư ba má tôi phàn nàn. Nói tin tưởng ở xui gia và vợ chồng con nên bao nhiêu vốn tom góp hùn vào để con dâu trông coi, hơn hai năm nay không chia được đồng lời nào, bây giờ muốn rút vốn ra ông bà xui nay khất mai hoãn, ý không muốn trả, còn bảo cũng như ba má chia phần cho vợ chồng con. Bây giờ quê không thể ở được, ba má tính dọn lên Sài Gòn cho các em con đi học. Ba má không còn tiền, mọi sự trông vào con nói ông bà xui trả vốn lại cho ba má..

    Xem thư ba má tôi vô cùng đau khổ, thương ba má tôi vất vả. Tôi phải năn nỉ xin phép đặc biệt được hai ngày về thăm vợ con. Tôi nói với ông bà nhạc trả lại vốn cho ba má tôi phải dọn về Sài Gòn ở. Họ cũng nói một giọng điệu như đã trả lời ba má tôi là buôn bán thua lỗ, bị Việt Cộng cướp và vợ con tôi đau yếu luôn phải lấy ra ăn xài. Tôi tức ứ lên đến cổ, không còn biết phải làm sao vì ba má tôi đưa tiền, tin nhau nên không có viết giấy tờ hay có ai làm chứng. Còn vợ tôi đổi thái độ luôn. Từ lúc gặp tôi cho tới lúc tôi ra xe, vợ tôi tỏ ra lạnh nhạt, ít nói cũng chẳng buồn hỏi thăm tôi. Bố mẹ vợ tôi nói vuốt, bây giờ chưa sẵn tiền, rồi ra sẽ thu xếp ít nhiều gửi trả ba má tôi sau. Đây là lần cuối cùng tôi gặp lại bố mẹ vợ.

    Tình hình trở nên sôi động, tôi phải đi hành quân liên miên. Trong một cuộc hành quân, tôi bị thương, lúc mở mắt tỉnh dậy mới biết mình đang ở nhà thương Cộng Hòa và bị mất một chân. Tôi gặp được ba má và các em tôi đầy đủ. Má tôi nói có đưa tin cho vợ con tôi biết. Tôi thưa ba má xin tha tội cho tôi vì khờ dại quá tin để người ta lợi dụng làm thiệt lây cho ba má mà mất tiền. Tôi xin hãy quên đi tất cả vì lần về thăm vợ con, gặp người đàn ông lạ mặt bế con và thái độ của vợ tôi, tôi đã đặt dấu hỏi và điều tra.

    Tôi được biết trước khi lấy tôi Lý đã có bầu với một người có vợ. Họ cố ý chài tôi lấy Lý để làm bức bình phong. Tôi quá tin không chịu xem xét kỹ lưỡng nên mới vấp phải tay chuyên lợi dụng và làm tay sai cho Việt Cộng. Tôi không bị thủ tiêu là may. Bây giờ họ giầu có rồi nên cần cắt đứt với một con rể tàn tật.

    Lúc lành bệnh ra khỏi bệnh viện, tôi gặp được bà giúp cho tiền xe về quê hôm đó. Ba má tôi đón tôi với lòng thương cảm không bao giờ trách tôi nửa lời vì tôi mà mất sạch vốn liếng. Chúng tôi cả gia đình sau đó về Long An sống đắp đỗi qua ngày. Tới 30 tháng 4, 75 chúng tôi ra đi tìm tự do, tìm đất sống. Bây giờ tôi và các em tôi đều có nghề chuyên môn. Còn gia đình nhà vợ giầu có cũng chẳng giữ được bao lâu khi cộng sản tràn vào miền Nam.


    ***

    Lợi dụng phát xuất từ những người có lòng tham lam. Người ta lợi dụng quyền uy ban phát chia chác chức tước cho những người bất tài tham nhũng để thu lợi. Người ta lợi dụng những người hiền lành thật thà dễ tin để làm điều bất chính mờ ám. Xưa và nay, dù với hạng người nào, giữ chữ tín cũng là điều quan trọng. Nhiều người chỉ biết lợi dụng nói cho được việc. Lấy được tiền của người ta xong rồi ù lỳ không giữ lời hứa. Đây là những người thiếu đạo đức, thiếu lương tâm, những người này không biết rằng không ai sống mãi ở đời và sẽ có lúc “lưới trời lồng lộng” và “ác giả sẽ ác báo”.

  7. #7
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    6- Tâm Hồn Bao Dung




    Thói đời ai cũng thích cho người ta khen mình tài giỏi, đạo đức v.v… Còn khi nói tới người khác, lời khen thì ít, lời chê thì nhiều. Người ta chỉ nhìn phiến diện nên sự khen chê ít khi công bằng, có khi việc đáng khen lại bỏ qua không khen, mọi việc sơ sót thì chê bai làm lớn truyện, rồi dư luận xuyên tạc, thêm mắm thêm muối, bớt đầu thêm đuôi, cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, phán đoán một cách bất công chỉ vì yêu hay ghét bộ mặt đẹp, xấu, lời nói khéo chiều ý người bị hàm oan mang tiếng xấu thiệt thôi. Nếu bình tĩnh xét về tình người mà mình bất bình, sẽ thấy họ không hoàn toàn xấu như mình nghĩ; cho đến khi người hay bị chỉ trích nằm xuống bây giờ mới được minh oan, công tội dư luận sẽ công bằng hơn, nhưng người quá cố còn nghe hay cãi được nữa đâu.

    Khi người Việt tị nạn mới tới Hoa Kỳ, tại các trại chuyển tiếp người còn ít, nhiều gia đình cứ tưởng dành được căn phòng rộng rãi cho gia đình thoải mái tạm trú chờ người bảo trợ để đi định cư, nhưng mỗi ngày các chuyến máy bay đổ xuống thêm nhiều người nữa và được phân phối vào các phòng, không ai có quyền dành riêng cho gia đình mình mà phải ở chung, nên người tới trước ở giường tầng trệt, ở sau phải trèo lên giường tầng trên, loại giường nhiều tầng của trại binh, người lớn tuổi ở tầng dưới, trẻ em thích leo trèo ở giường tầng trên. Vì cảnh tị nạn vừa lo vừa buồn, dù ở chật chột, ồn ào nhưng người ta dễ thông cảm nhau, ít có cảnh dành giật đồ dùng, thực phẩm; nếu cần được giúp đỡ giấy tờ, hỏi thăm tin tức, tìm thân nhân, trẻ lạc, ai ai cũng sẵn sàng giúp đỡ chỉ bảo những điều họ biết.

    Theo luật lệ không một người tị nạn nào được ra khỏi trại để đi định cư nếu không được người bảo trợ tới lãnh ra, nên việc được bảo trợ đã trở thành một vấn đề lo âu đối với dân tị nạn vì biết ai, nhà thờ nào tới lãnh gia đình mình đi định cư đây? Luật lệ lại cũng ấn định rằng người tị nạn được phân tán khắp nơi trên toàn cõi Hoa Kỳ, nên người thì đi miền Bắc lạnh lẽo cô đơn, kẻ đi miền Nam ấm áp ẩm thấp, người ở thành thị, kẻ ở đồng quê.

    Nhiều gia đình gặp được người bảo trợ có lòng nhân ái, giúp đỡ tận tình, tìm chỗ ở, công ăn việc làm nhiều người không may gặp phải người bảo trợ lợi dụng lãnh dân tị nạn về giúp việc nhà hay làm trong nông trại, phần nhiều không hợp với khả năng và thù lao không tương xứng, nhiều gia đình bị lâm vào cảnh sống dở chết dở không khác gì dân nô lệ ngày trước; có một gia đình được ông sĩ quan cố vấn đơn vị ngày trước tới bảo lãnh đưa về cho ở giữa một vườn cam rộng bao la, hoàn toàn bị cô lập, muốn ra ngoài nhưng không có xe, không thuộc đường, mỗi tuần được tiếp tế thực phẩm một lần, cả gia đình bị phân công chăm sóc trại trồng cam, đời sống tị nạn tưởng thật bi đát nhưng rồi gia đình này cũng thoát ra khỏi, lần về trại Fort Chaffee xin tái nhập vào trại, để rồi lại chờ người bảo trọ khác. Hầu hết người bảo trợ (sponsor) đều là người tốt, thương người tị nạn bơ vơ, số bảo trợ “thực dân” chỉ có một hay hai người mà thôi.

    Câu truyện bảo trợ của gia đình này được loan truyền khắp trại nên bà con chuẩn bị kỹ lưỡng, học hỏi kinh nghiệm để rồi ngồi chờ, ai là người tới bảo trợ gia đình đi định cư đây? Tuy lo âu đấy nhưng ai cũng vui mừng vì tới được đất tự do, thoát được nạn cộng sản tức là thoát cảnh ngục tù, đói khổ, mỗi người tị nạn đều đem theo một tâm trạng não nùng, ít có gia đình nào đi được toàn vẹn; có gia đình thiếu cha, thiếu mẹ, thiếu chồng, thiếu con, thiếu anh, thiếu em, rồi lan man nghĩ tới cả thiếu bạn bè, hàng xóm, thân thuộc.

    Nhiều người tị nạn chỉ thoát đi được một mình, cả gia đình bị rớt lại nên sống trơ trọi ở trại; có gia đình bà mẹ mang đi chín người con, đứa trẻ nhất còn đang bú sữa mà ông chồng bị kẹt lại, hỏi bà ấy lo âu đến mức nào? Nhưng rồi đời sống tị nạn cũng được ổn định dần dần, nhờ ở lòng từ tâm của các nhà thờ, lòng thương người rất đánh kính phục của dân chúng Hoa Kỳ, và cũng nhờ ở lòng bao dung của chính những người tị nạn biết bao bọc nhau “lá lành đùm lá lách”.

    Trại chuyển tiếp đã được đóng cửa, dân tị nạn Việt Nam đã được định cư trên khắp nước Mỹ kể cả tiểu bang Alaska, nơi lạnh lẽo nhất cũng có hàng chục gia đình định cư và chẳng bao lâu dân mình tìm cách về ở gần nhau, tụ lại ở những nơi ấm áp hơn, những nơi công ăn việc làm sẵn, những nơi có trường học tốt cho con cái, nên hiện nay đời sống của gần triệu người Việt trên đất Hoa Kỳ này đã thấy thịnh vượng không kém bất cứ sắc dân nào khác và có vẻ trội hơn nữa, nhiều khu buôn bán của người Việt đã mọc lên ở khắp nơi như Little Saigon ở California, Houston, San Jose, Chicago v.v..

    Dân tị nạn Việt làm ăn khá giả ở Hoa Kỳ thì cũng do đó, nhiều đoàn thể được thành lập, cơ quan truyền thông như báo chí, đài truyền hình, phát thanh phát triển mạnh; đời sống được ổn định nên có nhiều bộ mặt tốt cũng như xấu, đố kỵ nhỏ nhen cũng được phơi bầy nên mới có nhiều dư luận bàn ra tán vào, nhưng cộng đồng người Việt vẫn sống an hòa tuy cũng có một vài khi sóng gió nổi lên. Trong công cuộc định cư người tị nạn Việt Nam, khi mà nguồn những người, cũng như nhà thờ bảo trợ khan hiểm dần, thì các hội thiện nguyện vẫn tiếp tục lo việc định cư, nhưng cũng là lúc các hội đoàn của người tị nạn bắt tay vào việc đóng góp giúp người đồng hương an cư lập nghiệp.

    Ngay những năm đầu tiên của chương trình tị nạn gần 400 anh em trong binh đoàn Nhẩy Dù ở Fort Chaffee được bảo trợ ra định cư ở một tỉnh miền Trung Hoa Kỳ, với kế hoạch nhận ra từng toán 4 người một, sau khi tìm được việc làm, mua được xe hơi, thì mỗi người trong toán lại bảo trợ 4 người khác nữa, rồi cứ thế nhân lên, công việc làm ăn ở tỉnh này đã được một hội đoàn lo liệu rất sẵn nhưng vấn đề khó khăn là nếu không có xe hơi riêng thì không thể đi làm được vì hệ thống xe bus không thuận lợi, mà thành phố thì lại qúa rộng. Vậy làm thế nào để anh em mua được xe, vừa mới ra định cư, công ăn việc làm chưa vững, anh em đâu có đủ “credit” để mua xe dù là xe cũ, mấy ai có tiền sẵn để trả tiền cọc.

    Để giải quyết nỗi khó khăn này, ông P., giám đốc chương trình tìm việc làm đã xung phong, bất chấp thân sơ, đứng ra bảo lãnh (co-sign) mua hơn 200 xe cho dân tị nạn trong đó có anh em Nhẩy dù, nhiều người nghĩ rằng đây là một hành động liều lĩnh, nhưng ông P. tỉnh bơ nói rằng “Giúp được là tôi giúp để cho anh em được lạc nghiệp”, và kết quả vô cùng đẹp đẽ là anh em đều trả tiền đầy đủ có đi ở tiểu bang khác cũng vẫn trả tiền.

    Các hội thiện nguyện đưa ra người tị nạn về tỉnh này định cư, có hội chỉ cấp cho mỗi đầu người một ngân khoản 200 mỹ kim, thế là hết và phải lo liệu lấy, lạ nước lạ cái, tiếng nói không thông nhiều người còn biết xoay xở ra sao, sau khi tiêu hết tiền lại phải chạy đến ông P. là có công ăn việc làm, không có chỗ ở ông đưa về nhà riêng tạm trú, ai có việc gì cần nhờ đến ông P. ít khi bị từ nan; đã một lần, một thanh niên tị nạn dở điên dở khùng lang thang ngoài đường phố, ông P. bắt gặp đã dám đưa về nhà nuôi dưỡng, dù trong lúc đó ở nhà còn mấy cô con gái lớn chưa lập gia đình, rồi chính anh thanh niên điên được nuôi nấng ấy, thừa lúc cả nhà đi làm đi học, ăn cắp một cây đàn guitare điện đáng giá 500 đồng mang đi bán lấy 30 mỹ kim để đi uống la de. Ông P. chỉ cười trừ và tiếp tục giúp đỡ hết người này đến người kia.

    Nhưng nhân vô thập toàn, ông bà và các con lớn vẫn phải đi làm, số thu có hạn, mà khi ông giúp tha nhân vì lòng thương, ông đã không lượng được khả năng tài chánh trong nhà, rồi lại vướng vào vụ bảo lãnh vay tiền hộ bạn bè, nên có lúc đã không giữ được chữ tín đổi với người khác. Nhiều người không hiểu được công việc ông đã làm một cách vô vị lợi, nên khi còn sinh thời ông P. cũng bị dư luận nói xấu nhiều tốt ít.

    Nhưng khi nghe tin ông P. đau nặng, nhiều người đã tới tỏ tình, thăm hỏi hơn, cụ thể hơn, đám táng của ông đã có mấy trăm người tới nghiêng mình tỏ ý biết ơn ông, trong số đó có nhiều cặp vợ chồng cùng con cái đến chịu tang vì chính ông đã đứng chủ hôn giúp gầy dựng gia đình, nhiều người đã nhờ ông tìm công ăn việc làm và đừng bảo lãnh mua xe. Nếu căn cứ vào dư luận mà xét đoán thì ông P. khi nằm xuống đã không có cảnh được ưu ái như trên.

    Người cộng sản đã đặt thông tin, tuyên truyền dối trá lên hàng đầu, gây dư luận xấu cho người quốc gia, họ đã thành công vì kiên nhẫn cứ nói đi nói lại, gieo vào đầu óc mọi người mãi, rồi từ hoài nghi dần dần đến tin tưởng sự dối trá là thật, nên người quốc gia đã có câu “Nói như Vẹm”.

    Người ta rất sợ dư luận nếu mình làm trái và không nên sợ dư luận khi sự thật bị bóp méo. Trong lịch sử nước Việt, vì dư luận, biết bao nhiêu vị trung quân ái quốc, những vị chính nhân quân tử, anh hùng hào kiệt đã bị thất sủng, bạc đãi, ô danh rồi được lịch sử phục hồi danh dự. Những người nghe dư luận bàn tán không đủ khách quan suy xét, nhận chân thực giả, lại xu thời, đã làm thiệt hại cho đại cuộc, cho đất nước, cho những người chân chính có tinh thần bao dung.

  8. #8
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    7- Nhớ Về Người
    Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa



    Đọc trên BNS Tự Do lời kêu gọi của Hội Cựu Trợ Thương Phế Binh Việt Nam tại Hoa Kỳ; “Hỡi các chiến hữu tha hương và đồng bào ruột thịt, có còn nhận diện được chúng tôi? Hay thương tích, đói khổ đã thay dạng đổi hình! Xin hãy hướng về quê hương với câu “Lá lành đùm lá rách”. Làm cho tôi vô cùng cảm xúc, nhất là khi được đọc bản báo cáo về tài chánh và danh sách ân nhân cùng danh sách Thương phế binh đã được cứu trợ với đầy đủ chi tiết như địa chỉ, mức độ tàn phế cùng hình ảnh càng làm cho chúng tôi thêm tin tưởng rằng ít nhất ở nơi hải ngoại này nay đã có những đoàn thể của Thương phế binh của VNCH cũ của chúng ta đang phải chịu biết bao khổ cực ở quê hương Việt Nam dưới chế độ hà khắc và bạo tàn của cộng sản.

    Nói về Thương phế binh làm cho tôi hồi tưởng lại những cảnh tượng đau thương của cuộc chiến tranh bạo tàn mà bao nhiêu thanh niên tuấn tú, con yêu của quốc gia dân tộc đã hy sinh nơi chiến trường, mang những tật nguyền, bệnh tật và trở thành phế nhân bị ruồng bỏ sau khi Sàigòn thất thủ; nghĩ tới thảm cảnh người mất tay, cụt chân, đầu mình máu me, kẻ tỉnh, người mê, đau đớn kêu rên xót xa, làm cho cha mẹ, vợ con, anh chị thương lo đau xót, âm thầm chia sẻ. Còn cảnh những người không có thân nhân ở gần, lúc tỉnh lại ngơ ngác nhìn không thấy ai là người trong gia đình, tủi thân cắn môi thở dài, khi nhìn người thương binh bên cạnh được vây quanh thăm hỏi, có bánh quà của người thân mang lại.

    Chính phủ ưu tiên săn sóc, nhà thương có đầy đủ thuốc men dụng cụ, có nhiều bác sĩ, nhân viên y tế cũng nhiều, nhưng số thương binh hàng ngày đưa về hết lớp này đến lớp khác, nhất là những năm cường độ cuộc chiến ác liệt kéo dài. Những người có phận sự săn sóc ưu tiên cho những thương binh mới tới và tình trạng thương tích cần được săn sóc hơn.

    Những bệnh binh đã qua thời kỳ nguy hiểm còn phải ở lại dưỡng thương, được chia ra ở nhiều phòng: những người được xuất viện nhường chỗ cho những người mới càng ngày càng đông. Không khí Sài gòn nóng nực ít khi mát mẻ, nhiều thương binh cụt chân, thiếu tay không thể tự mình di chuyển và cần có ai giúp đỡ đưa ra sân hay ngoài hàng lang hóng gió hoặc đổi khí trời.

    Phòng thương binh tê liệt lại còn ái ngại hơn nhiều. Khí trời nóng bức, nằm lâu mỏi mình, không giở được mình, bị ngứa không gãi được, không ai giúp đỡ, có nhiều khi cố lăn lóc trên giường, lăn ngã xuống đất không ai nâng đỡ dậy, trông thât thảm hại. Nếu có được đầy đủ xe lăn cho những người còn tay sử dụng được để tự di chuyển ở trong trại hay ra ngoài hành lang thì đỡ biết mấy.

    Vào những năm 1967, 1968, các chị em bạn hàng ở các chợ Phú Nhuận, Tân Định, Bà Chiểu ở Sàigòn – Gia Định quyên góp tiền mua được một số xe lăn giúp anh em thương phế binh; các bà trong hội Phan Sinh đóng góp vào sự an ủi các thương binh bằng cách phân công cho nhau lên Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm hỏi và việc chính là giúp việc gội đầu, rửa mặt và chăm sóc các thương binh không có thân nhân giúp đỡ.

    Mỗi chiều thứ sáu trong tuần, tôi thường theo bà Ba, người hàng xóm hội viện hội Phan Sinh lên Tổng Y Viện Cộng Hòa tham gia công tác gội đầu, rửa mặt cho các thương binh nằm điều trị tại đây. Tại ngay cổng Y viện, số người tới thăm bệnh binh rất đông, người nào cũng mang xách gói lớn gói nhỏ, sau khi làm thủ tục kiểm soát các gói quà để phòng gian. Thấy tôi ngơ ngác đứng nhìn xếp hàng, bà Ba kéo tay tôi đi vào theo lối cổng xép, sát cạnh cổng chính, vì thấy tôi lạ mặt, người lính gác cửa chặn hỏi theo thường lệ: “Các bà đi đâu?” Bà Ba nhanh nhẩu trả lời: “Tôi dẫn thêm bà này đi gội đầu”, người lính mỉm cười nhường chỗ cho chúng tôi quá.

    Tới hành lang gian phòng xếp để đồ, tôi thấy có mấy bà đang đứng chờ cho đủ người, rồi các bà phân công từng nhóm ba người một khu, mang thau nhôm, gáo múc nước, khăn lông, xà bông. Nhóm của tôi phụ trách giúp gội đầu các thương binh trong phòng hồi sinh, một người đi lấy nước, người bưng thau không để hứng nước dưới đầu người thương binh, một người vừa dội nước, xát xà bông, vừa chà sát phải thật khéo tay tránh không để nước và xà bông thấm vào vết thương, người đi lấy nước trở lại đổi thau nước đó đi đổ.

    Thương binh nào mới ở phòng cấp cứu ra, máu trên đầu người thương binh khô lại dính với tóc bết vào da đầu khó gội, phải xấp nước cho tan máu, hay gỡ máu khô ra, mùi máu, mùi bùn đất để lâu có mùi hôi tanh, nhiều khi phải gội đi gội lại nhiều lần mới hết máu hết đất. Nhiều thương binh chưa có thân nhân kịp tới, sau khi được gội đầu, rửa mặt, được lau khô, đặt nằm ngay ngắn trên giường, nếu còn tỉnh táo nói được câu “Cám ơn”, nhiều người còn quá mệt mỏi, chỉ mở mắt nhìn chúng tôi tỏ vẻ dễ chịu hơn, rồi nhắm mắt lại hoặc thiếp đi.

    Trong các phòng khác cũng vậy, những thương binh không bị thương trên đầu, nhưng cụt chân, mất tay, lại không có thân nhân giúp đỡ và không tự mình làm lấy được, mỗi khi trông thấy các bà hội Phan Sinh mang thau nước tới họ đều tỏ vẻ vui tươi, mong chờ. Sau phần gội đầu rửa mặt, một số bà phải ra về, còn một số khác ở lại chờ tới giờ phát cơm; các bà lấy phần ăn cho những thương binh không di chuyển được. Nhà thầu thường chỉ mang tới hàng lang các phòng và các bệnh binh phải ra lãnh phần cơm, nên có nhiều trường hợp thương binh mất phần ăn của mình.

    Có một ngày bà Ba đưa tôi sang khu tê liệt, tới giừng của một anh đang ngồi, trước mặt anh khay cơm vẫn còn nguyên, bà Ba vội kéo tay tôi lại, nhìn anh ta thấy anh mất cà hai tay và bà Ba tự động lấy muỗng xúc cơm đưa vào miệng anh ra vừa nói “Để tôi giúp anh”, chờ cho tới khi anh ta ăn và uống nước xong tôi mới hỏi: “Nếu hôm nay không có chúng minh giúp đỡ, anh ấy làm sao ăn được cơm?” Bà Ba trả lời: “Anh ta phải đợi người bên cạnh ăn xong mới tới giúp cho anh ta ăn được.”

    Tới một phòng khác thăm một thương binh mất cả hay tay, vết thương chưa lành, dáng người mệt mỏi, nét mặt đau khổ, bên cạnh giường một em bé 12 tuổi, vẻ mật ngây thơ đứng cạnh bố, tôi không hỏi ông ta nhưng hỏi qua em bé, cháu nói: “Mẹ cháu ở đây từ hôm bố cháu bị thương, bây giờ hết tiền với lại ngày mùa, mẹ cháu phải về làm mùa xong, có tiền mới lên đây. Mẹ cháu để cháu ở lại đây tới bữa lấy cơm cho bố con ăn.”

    Ngoài hàng lang dẫy phòng kế, một anh thương binh hỏng một mắt, cụt một tay đang được cắt tóc; rất nhanh, bà Ba dúi vào tay anh một số tiền, rồi kéo tay tôi đi thật nhanh. Tôi quay lại nhìn người thương binh miệng há hốc, tỏ vẻ cảm động, không nói được lời nào và bà Ba cũng chẳng nói gì. Chúng tôi đi khuất tầm nhìn của anh thương binh, bà Ba mới kể cho tôi nghe: “Người vợ anh ta từ ngoài Trung đưa hai đứa con vào thăm chồng thăm cha được một ngày, người vợ bỏ hai con lại cho chồng rồi trốn đi. Người thương binh vội nhắn mẹ già vào để đưa hai con về nuôi, nhà bà cụ nghèo quá nên hôm nay tôi có ít tiền biếu anh ta để gửi về cho mẹ già nuôi cháu. Thật tội nghiệp!”

    Một trường hợp khác khiến chúng tôi vô cùng cảm động. Một cô gái trẻ đẹp đi với người chị tới thăm ý trung nhân bị thương đang nằm tại Tổng Y Viện Cộng Hòa; tới nơi gặp người chồng tương lai nằm trên băng ca theo sau là bà mẹ già của anh ta; người chị cô này hỏi thăm, bà mẹ anh thương binh vừa khóc vừa nói: “Em nó bị thương, chân bị cưa cụt tới háng, ngoài ra còn nhiều vết thương nữa”. Nghe bà cụ nói xong người chị chào bà cụ và kéo cô em ra về ngay. Cô này vừa khóc vừa nói với chị: “Chị về trước đi, để em ở lại giúp bà cụ và người em yêu, khi nào anh ấy lành mạnh em mới về.”

    Người chị nhất định bắt em về, từ lời nói ngọt đến nói xẵng: “Anh ấy với em chưa cưới hỏi, bố mẹ chưa bằng lòng, họ hàng chưa ai biết, em lấy người tàn phế hay sao?” Cô em nhất quyết ở lại chăm sóc người yêu và cô chị đành phải bỏ ra về một mình. Nghe đâu ít lâu sau, khi anh thương binh xuất viện, lành mạnh tuy cụt một chân, hai người đã được bố mẹ cho làm đám cưới.

    Ôi! Những người thương phế binh anh hùng dũng cảm, lăn xả nơi tiền tuyến, không may đã phải đổi xương máu và một phần thân thể cốt để giữ cho hậu phương được tự do, an bình, riêng mình phải chịu tàn phế, đau khổ cả cuộc đời còn lại. Thật là bất công, nếu những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ đang phải trầm luân đau khổ từ tinh thần đến vật chát ở quê nhà, không nhận được những sự giúp đỡ tối thiểu của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nên nhưng nỗ lực của Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh Việt Nam tại Hoa Kỳ quyên góp tiền gởi về giúp đỡ đồng đội là một điều đáng khen ngợi và bổn phận của chúng ta là phải tích cực yểm trợ các công tác cứu trợ này.

  9. #9
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    8- Ông Hai An




    Nhập gia tùy tục, sống ở một xứ thực tế như nước Mỹ, trừ trẻ con và người già yếu, mọi người đều nghĩ đến làm việc. Làm việc gì? Ở đâu? Những người học hành đầy đủ, có nghề có nghiệp, có người hướng dẫn, ra đời dễ dàng tìm việc làm. Những thanh nên, thiếu nữ mới lớn lên, vì lười, vì thích ăn chơi, vì môi trường kích thích xấu xa làm những tâm hồn non dại thiếu người chỉ bảo bị sa đọa, hư hỏng, bỏ học, bỏ hành, gây ra nạn băng đảng, trộm cướp.

    Nhiều người đã viết sách, báo nhắc nhở trách nhiệm phụ huynh về sự giáo dục con cái và để ngăn ngừa, sửa chữa nhưng chưa được phổ biến rộng rãi, hoặc những người có tấm lòng vàng, mạnh thường quân lưu tâm đến vấn đề trẻ em hư hỏng, chỉ hoạt động trong âm thầm, không cần nói ra để lấy tiếng khen. Một trong những này mà tôi biết là ông bà Hai An.

    Theo bạn tôi nói về ông bà Hai An, bà đi bán hàng, ông làm công nhân ở một hãng như mọi người. Họ không dư dả, nhiều tiền của nhưng lòng bác ái có thừa. Ông bà An đã làm được những việc mà nói ra chắc nhiều người không tin. Ông bà đã khuyến dụ giúp đỡ đưa được một số em đi bụi đời trở về đời sống lương thiện, đi học, đi làm. Rất ít người biết đến những việc làm cao cả và đẹp đẽ này. Khi biết chuyện tôi đã mang lòng cảm phục ông bà và đã nhờ người bạn để dẫn tôi đến giới thiệu và gặp ông bà An vào ngày cuối tuần.

    Không kiểu cách, không khách sáo, ông bà Hai An đã đưa chúng tôi sang phòng bên cạnh gặp các em có thành tích, quá khứ bất hảo và giờ đây đang trú ngụ nơi nhà ông bà, coi gia đình này như nơi hạnh phúc, an toàn. Các em từ tuổi 15 tới 20, vẻ mặt em nào cũng vui tươi khỏe mạnh. Nhân ngày nghỉ các em đang sửa soạn rủ nhau đi câu cá.

    Tôi hỏi:

    -Sự thúc đẩy nào đã khiến ông bà làm công việc giúp đỡ các em bỏ nhà ra đi, trong khi ông bà còn phải trông coi con cái của mình?

    Ông An cười trả lời:

    -Chúng tôi chỉ có lòng thành thực, yêu mến các em. Gặp em nào muốn rời xa băng đảng chúng tôi coi các em như người thân và mời về ở với chúng tôi.

    Tôi muốn hiểu rõ hơn và hỏi ông bà Hai An về một trong những trường hợp của các em này. Ông An kể:

    -Một hôm tôi ở trong chợ ra, đang xếp đồ vào trong xe, nghe tiếng cãi nhau trong chiếc xe đậu kế bên rồi tháy một em khoảng 16, 17 tuổi bị bốn cậu con trai khác trong xe đẩy xuống và phóng xe chạy đi mất. Em này đứng nhìn theo, vẻ mặt cau có, tức tối, buồn thảm. Tôi đoán chừng cùng một bọn với nhau mà bỏ cậu này đứng lại một mình. Có chuyện gì đây. Tôi lại gần cậu trai, tươi cười hỏi:

    -Em không đi với các bạn em à? Em đợi họ trở lại hay đợi ai khác?

    Cậu ta không trả lời, trân trối nhìn tôi, vẻ mặt vẫn còn những nét khó chịu, tức giận. Tôi hỏi tiếp:

    -Em cần về đâu, anh đưa em về?

    Vẻ mặt cậu ta bắt đầu dịu lại và trả lời:

    -Em không có chỗ nào để về cả.

    Tôi đã hiểu phần nào tình cảnh những em như em này và đề nghị về nhà tôi chơi. Nhìn tôi từ đầu đến chân rồi như cái máy, cậu ta bước vào xe ngồi cạnh tôi không nói gì. Tôi lái xe về nhà, trên đường đi, tôi hỏi cậu ta có đói không? Vẻ mặt em này lúc đó bắt đầu tươi hẳn lên vì từ sáng chưa có gì vào bụng. Tôi lái xe ngang qua McDonald và mua hai chiếc Big Mac cho tôi và cậu ta cùng ăn. Về đến nơi, nhà tôi ra mở cửa đón, tôi nói với nhà tôi:

    -Chú em đây mới gặp, anh mời về nhà mình chơi.

    Tôi nói cho em này biết chúng tôi có mấy em khác cũng hoàn cảnh như em ở đây với chúng tôi và nếu em muốn, cũng có thể ở lại như vậy. Thấy vợ chồng tôi vui vẻ, lại còn mấy người bạn nữa để làm bạn, cậu ta sung sướng nhận lời ngay. Nhà tôi hỏi về gia cảnh, cậu ta nói:

    -Nhà em đông người, có tới tám anh chị em. Em là con thứ năm trong gia đình. Bố mẹ em đều đi làm, chúng em đi học chiều mới gặp nhau. Người về trước, kẻ về sau, ai đói tự động tìm cơm mà ăn. Bố mẹ cũng không để ý đến, chỉ trừ khi nào bị đau không ăn cơm hay bỏ học bố mẹ mới hỏi đến. Em muốn ăn xài, nhưng bố mẹ không cho, nói đi làm có tiền thì mua mà ăn mà mặc. Em thiếu thốn nhiều thứ, cần có tiền. Ở lớp có mấy đứa rủ em đi chung với chúng nó, kiếm tiền dễ ợt. Em bỏ nhà, bỏ học theo chúng đi lang thang. Chúng dậy cho biết cách ăn cắp, đi ăn cướp, bán ma túy.

    Hôm nay chúng đi mua những thứ cần thiết để lên đường sang tiểu bang khác vì ở đây động rồi. Chúng bảo em đi theo nhưng em thấy nhớ nhà định về lại nhà lấy ít quần áo. Vừa nói ra, chúng nó nhao nhao lên phản đối, có đứa đòi đánh rồi đẩy xuống xe. Chúng nói cho mầy chết đói rồi chúng lái xe đi luôn. Em nhớ nhà nhưng bỏ học bỏ nhà đã mấy tháng không dám về gặp ai. Bố mẹ gặp lại chắc sẽ đánh chửi, em chưa biết sẽ ở đâu, may gặp chú đưa về đây cho ở lại, em sẽ đi kiếm việc làm.

    Chúng tôi nói với em này:

    -Em sẽ ở cùng phòng với sáu em nữa, vậy kêu em là Bảy!

    Chúng tôi giới thiệu Bảy làm quen với mấy em khác. Các em đến trước dẫn dắt người đến sau, đưa đi học trở lại, sắm quần áo, sách vở đầy đủ.

    ***

    Chúng tôi biết với tuổi này, các em chưa đủ trí khôn, suy nghĩ sâu xa, chỉ thích chơi, thích phiêu lưu, không muốn bị kìm hãm. Chúng tôi chủ trương tìm hiểu từng em về hoàn cảnh, tính tình, sở thích, cái tốt cũng như cái xấu để dần dần dụ lại về đường ngay. Ngoài ra còn phải đề phòng những em có tính năng động quá cao, như không kiếm được việc làm, bị mạt sát, không thỏa mãn điều gì hay thất vọng, dễ đưa đến tự vẫn hay lại bỏ nơi này đi phiêu lưu lần nữa khi chúng tôi chưa đủ thời giờ để dẫn dụ họ ở lại. Có khi tôi phải xin nghỉ vài ngày để ở nhà tổ chức ăn uống, đi chơi, chiều về hát hỏng, đàn địch, nói truyện vui để tạo ra không khí ấm cúng gia đình và sinh hoạt cho cả nhóm.

    Chúng tôi quan niệm sửa đổi con người phải sửa từ cái nhỏ, phải hòa mình tìm hiểu họ. Ngoài ra phải biết lượng sức mình để họ từ từ vào khuôn phép. Như tập dần cho họ giữ trật tự, giữ vệ sinh, giữ giờ ăn, giấc ngủ, sửa lại lời nói thô bỉ, tập cho họ cử chỉ lễ phép hơn.

    Chúng tôi cũng tìm dịp thích hợp để nói chuyện về những thành công của người này, người khác để kích thích họ, nói về lòng nhân, nghĩa, giữ gìn chữ tín. Cũng phải tránh để không chạm đến tự ái họ, chỉ là câu truyện, không phải dậy họ. Dần dà chúng tôi hướng về tâm linh, nói về đời người, về kiếp người ngắn ngủi chóng qua. Chúng tôi cũng đưa các em đó vào các đoàn thể tổ chức tôn giáo, có các sinh hoạt. Các em thích thú gia nhập, tìm hiểu về tôn giáo và giao du bạn bè trong giới này. Có em gặp được ý trung nhân vì hoạt động với nhau và hiểu nhau. Cách đây mấy hôm, chúng tôi đã tổ chức đám cưới cho một em như thế.

    Tôi hỏi ông bà Hai An:

    -Ông bà có lần nào bị thất bại không?

    -Có chứ! Có thành công thì cũng có thất bại. Thường do vì tôi thiếu lưu tâm đến ảnh hưởng bên ngoài quá mạnh hay do chúng gặp lại bạn cũ trong băng đảng đến dụ dỗ bỏ đi. Châm ngôn của chúng tôi là hãy đến với những em đang đi sai đường, đừng vội kết tội, đe dọa, trách móc họ vì tâm hồn họ cần có sự an ủi, nâng đỡ, săn sóc cả tinh thần lẫn vật chát. Sau đó từ từ hướng dẫn họ, từ việc nhỏ đến việc lớn và mong mỏi thành công trong việc dẫn họ trở lại đường ngay lẽ phải.

    ***

    Tôi cảm phục về việc làm này của ông bà Hai An. Họ quả thật là người có lòng quảng đại, lưu tâm đến sự giúp đỡ giới trẻ. Ước mong có được nhiều người bắt chước ông bà này để săn sóc, dậy dỗ con em để nạn băng đảng không còn lộng hành được nữa và những thanh thiếu niên lầm đường lạc lối có cơ hội trở thành những người tốt, hữu ích trong xã hội.

  10. #10
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,001



    9- Con Nuôi




    Cuối năm các cửa hàng buôn bán lớn nhỏ, các công ty đều tính sổ xem lời nhiều, lời ít, hòa hay lỗ vốn, kiểm kê hàng còn lại, rút kinh nghiệm cho biết thứ hàng nào bán chạy, được khách hàng ưa thích.

    Cửa hàng bà Viết bán chạp phô linh tinh đủ thứ. Người ta đưa đến cửa hàng của bà gửi bán, bất cứ thứ gì bà cũng nhận bán lấy lời. Điều này cũng tiện cho những người làm thủ công nghệ tại gia hay nhà it người ăn không hết đưa các thứ rau đậu, hột gà, hột vịt v.v.. đến bán không phải nộp thuế. Hai bên mua bán chỉ cần kiểm điểm số lượng, giá bán rồi hẹn kỳ trả tiền vào ngày nào hoặc khi đưa hàng mới lấy tiền hàng cũ. Bà Viết giữ được sự tín nhiệm với mọi người nên việc làm kiểm kê sổ sách kết toán đối với bà dễ dàng. Mua bán sòng phẳng, đến đâu bà trả tiền hết luôn không thiếu chịu món hàng nào.

    Cửa hàng chạp phô của bà Viết ở khu Hòa Hưng, sát Sàigòn. Gia đình ngoài bà chỉ có thêm một cậu con trai nhỏ và một người làm giúp việc. Đời sống nơi đây cũng bình thân nên ông Viết an tâm để vợ con ở hậu phương an toàn. Mỗi khi sau cuộc hành quân được nghỉ phép, ông Viết về thăm vợ con, cuộc sống rất hạnh phúc.

    ***

    Đang chú mục vào cuốn sổ, nghe tiếng động, bà Viết quay ra nhìn. Ông Viết đã tiến vào tận bên bà, miệng cười tươi hỏi:

    -Con đâu em?

    Bà Viết mừng rỡ nhìn chồng. Bà hơi ngạc nhiên khi thấy tren tay ông bổng một đứa trẻ. Ông Viết một tay bế đứa bé, một tay nắm tay vợ âu yếm. Đứa trẻ ngủ say sưa trong tay ông Viết. Ông trao đứa nhỏ cho vợ và nói:
    -Anh nhặt thằng nhỏ này về để em nuôi.

    Bà Viết gọi người làm ra giúp bà cho đứa bé ăn và dục chồng đi rửa mặt, thay quần áo nghỉ ngơi để rồi còn chơi với thằng Nhân, con ông bà cũng trạc bằng tuổi đứa bé mà ông Viết vừa mang về.

    Sau đó ông Viết thuật lại cho bà nghe lai lịch đứa nhỏ. Ông kể: Cách đây một tuần khi đi hành quân ở quận Bung-Hô, đến nơi chỉ thấy hoang tàn. Bọn Cộng sản trước khi rút lui đã đốt cháy cả làng, để lại nhiều thây người chết. Bên cạnh những xác chết đó, một đứa trẻ đang bò, miệng khóc đã khàn tiếng, Nghĩ rằng bố mẹ nó đã chết hay đã chạy đi để thằng bé lạc lõng nơi này nên ông đưa về nuôi cùng với con mình cho nó có cha có mẹ.

    Nghe chồng kể, bà Viết cũng thấy thương đứa bé và đặt tên cho nó là Đức. Bà cũng cho ăn mặc như thằng Nhân. Lúc mới về nhà bà, thằng Đức gầy gò, bẩn thỉu và xấu xa, nhưng ít lâu sau được sự chăm sóc của mẹ nuôi nó như lột xác và trắng trẻo hẳn ra. Hai má nó bụ bẫm, hồng hào và khỏe mạnh. Nó như cây mọc ở đất tốt. Cả hai trẻ Nhân và Đức cùng đi học với nhau. Ông bà Viết không phân biệt con nuôi, con đẻ, mà cũng không bao giờ nói với ai là có con nuôi.

    Hai trẻ lớn lên được học hành dậy dỗ trong sự bao bọc của bố mẹ, tuy bà Viết hơi buồn khi hai đứa con mang học bạ về nhà, bao giờ thằng Đức cũng hơn điểm thằng Nhân. Nhưng chưa bao giờ Đức tỏ ra tự phụ là giỏi hơn anh Nhân. Nó vẫn kính trọng anh, nhiều luc bị anh bắt nạt, sai bảo hay mắng mỏ nó vẫn chịu phận làm em. Nhiều lần bà Viết phải can thiệp bảo Nhân không được bắt nạt em quá vậy. Càng lớn Đức càng to lớn, vạm vỡ. Nó tỏ ra lanh lợi khôn ngoan, ngoài giờ đi học về nhà còn giúp đỡ bà Viết làm lợi cho cửa hàng.

    Từ khi sinh nở thêm bốn lần nữa, sức khỏe bà Viết trở nên yếu kém, Đức đã phải thay mẹ điều khiển cửa hàng, nhất là những lúc bà đau yếu nhiều. Trong khi đó Nhân cậy mình là anh cả, chẳng giúp việc gì trong nhà, chỉ nay xin tiền, mai xin tiền đi chơi với bạn bè.

    ***

    Chiến tranh đã mang lại sự đau khổ cho tất cả mọi người. Đau khổ trở nên một thứ định mệnh của nhân loại. Và định mệnh đó đã đến với gia đình ông bà Viết.

    Ông Viết tỉnh lại ngơ ngác thấy chân tay băng bó, trong người thì đau đớn, mệt mỏi và chán chường. Ông nhìn quanh thấy Đức chứ không thấy vợ và các con khác đâu cả. Ông hỏi:

    -Mẹ, anh Nhân và các em con đâu cả?

    -Mẹ bị đau và mệt vì buồn rầu. Con xin mẹ ở nhà để con đi thay. Anh Nhân vừa đi ra ngoài, để con gọi anh. Anh vẫn đi đi về về đưa tin cho mẹ và lấy thêm đồ cần dùng. Tất cả nhà ở đây khi người ta đưa bố tới bệnh viện. Bố cần gì đã có con.

    Nhìn Đức, ông Viết buột miệng nói nhỏ: “Con nuôi mà tốt còn hơn con đẻ”. Dù ông nói sẽ nhưng Đức cũng nghe thấy. Chàng đứng lặng một lúc. Những nghi vấn đã có từ lâu chứ không phải đến ngày hôm nay mới có. Đã có lần sang nhà hàng xóm bên cạnh, ông chủ nhà khen chàng đẹp trai rồi nói với người đứng bên: “Con nuôi mà hiếm thấy có người được tốt lành nên ông ta coi như con đẻ.” Bây giờ hôm nay chính miệng ông Viết nói ra mình là con nuôi. Đức tự hỏi: “Bố mẹ mình ở đâu?” Còn sống hay đã chết? Tại sao mình lại là con nuôi?” Đức nhớ lại từ lúc hiểu biết thấy bố mẹ vẫn yêu quí mình như anh Nhân, như các em, có khác gì đâu. Chàng định khi nào bố mẹ hết đau yếu sẽ hỏi cho biết, bây giờ hãy chu toàn bổn phận đã.

    Trong thời gian ông Viết nằm dưỡng thương Nhân và Đức thay phiên trông coi và hầu hạ ông Viết thay cho mẹ vì bà Viết còn phải trông coi cửa hàng và mấy con nhỏ. Mỗi ngày bà chỉ có mặt một lúc rồi về lo công việc.

    Ông Viết trở về nhà trên chiếc xe lăn. Đời quân ngũ của ông chấm dứt. Còn đâu những lúc xông pha nơi trận chiến, hồi hộp tranh thủ từng mô đất, lựa chọn thế công thế thủ, bảo vệ được cứ điểm, chia ngọt xẻ bùi với anh em đồng đội, thuộc cấp rồi cuối cùng còn hiến cho tổ quốc một phần thân thể. Thực tế hiện tại thật phũ phàng! Còn giúp được gì vợ con, gia đình nữa? “Lực bất tòng tâm”. Hay chỉ đem lại cho vợ con một gánh nặng, một xót xa thương cảm.

    Đang là một con người đầy năng lực, chí phấn đấu cao, ông không muốn ai tỏ ý thương xót ông trước những thương tật hiện tại nên không sao tránh khỏi sự cáu kỉnh, khó chịu. Bà Viết và các con bảo nhau phải cố sức chiều chuộng theo ý ông nhưng cũng không giải tỏa được sự buốn chán từ trong tâm hồn ông Viết.

    Bà Viết nghĩ chỉ có Đức có thể làm ông nguôi ngoai nên bà hỏi con:

    -Đức à, con nghĩ có cách nào làm cho bố bớt buồn khổ và bằng lòng với số phận đã an bài?

    -Cho con ít tiền đi mua sách, con sẽ tìm cách làm bố khuây khỏa.

    Chàng tìm tới hiệu sách chọn một sổ sách về tâm lý học, khảo cứu, tôn giáo, chính trị, đưa về để ông Viết xem. Khi có thì giờ rảnh, Đức thường bàn luận hay hỏi ông về những điều trong sách mà chàng chưa hiểu thấu đáo. Các em đi học về, Đức bắt các em vào kể chuyện trường học, chuyện học hành của chúng cho ông Viết nghe. Trong bữa cơm thì tìm những câu chuyện vui để cả nhà vừa ăn vừa nói chuyện.

    Dần dần ông Viết chấp nhận tình trạng thương tật của mình và an phận. Bà Viết thầm cám ơn Chúa Trời đã cho bà người con nuôi hiếu đễ, giỏi giang. Mỗi khi bà gặp chuyện khó nghĩ phải hỏi Đức, nhờ Đức giải quyết. Đứa con nuôi nay hơn hẳn những đứa con đẻ của bà về cả tinh thần lần thể xác.

    ***

    Chiến tranh ngày một ác liệt và lan tràn khắp nơi. Nghe radio loan tin mất Phước Long, Ban Mê Thuột, triệt thoái Cao nguyên, là một cấp chỉ huy, ông Viết hiểu địa hình, địa thế, biết tình thế lâm nguy gần kề. Ở Sàigòn nơi ông ở, cứ nay xuống đường, mai xuống đường phản chiến, tố tham nhũng những người chóp bu, ăn chơi hưởng thụ, không biết chia sẻ khổ đau với những người đem thân bảo vệ cho họ an hưởng.

    Một đêm, ông Viết trải bản đồ ngồi tính toán. Quá nghĩ ngợi, sẵn chứng đau tim, ông gục ngủ vĩnh viễn bình an trên tấm bản đồ tổ quốc thân yêu.

    Nhìn người cha nuôi khí phách, đầy lòng vị tha mà anh hằng kính yêu tuy những ngày cuối cùng của ông sống mà không giúp được vật chất gì cho gia đình nhưng ông vẫn là một quyền uy, một cột trụ cho gia đình nương tựa. Đức hiểu từ nay bổn phận chàng phải thay thế ông, vẫn là một phần nào vì bà Viết hay đau yếu, công việc hàng đã phải cáng đáng quá nhiều. Qua bậc đại học, Đức hiểu phải kiếm thêm tiền mới đủ cho gia đình chi tiêu vì trông vào cửa hàng không đủ nuôi sáu con ăn học.

    Đến tháng 4, 1975, cuộc đổi đời ập đến. Mọi người hoang mang đi hay ở, đi đâu bây giờ? Ở lại chứng kiến kẻ thắng mà ngu xuẩn chỉ biết tàn phá như bầy thú hoang chứ không biết xây dựng, ăn gian nói dối, ức hiếp người ngay thẳng. Đức bàn với mẹ nuôi phải đi tìm tự do mới có tương lai. Bà Viết không chịu đi ngay lấy lý do bố mới nằm xuống chưa đủ trăm ngày, chưa ráo mồ, để ông Viết cô quạnh, không đành lòng đi. Bà cho rằng người ta sống được thì mình cũng sống được.

    Đức không đành để mẹ và các em ở lại, vả lại không có chàng bà Viết sẽ lúng túng. Bà Viết chỉ biết bán dần đồ đạc nuôi các con. Đức học hỏi ở bà tài tháo vát, buôn đi bán lại, chàng nay như cột trụ của gia đình. Mọi người trong nhà trông vào tài tháo vát may rủi của Đức trong lúc mọi việc kiếm sống mỗi ngày một khó khăn hơn.

    Trong lúc xông xáo đi mua bán, Đức vẩn để ý tìm đường vượt biên và để dành tiền mua vàng. Dịp may đến khi có phong trào bài Tàu, người Việt gốc Hoa tổ chức nhiều tàu lớn như chiếc Hải Phòng vượt biên, bảo đảm an toàn hơn. Đức bàn với bà mẹ nuôi. Bà Viết lo làm sao nổi mua chỗ cho cả nhà 7 người. Mỗi người phải mất 3 cây vàng, làm sao bà lo được? Cuối cùng còn thiếu bao nhiêu Đức phải làm giấy nợ để khi đến nơi an toàn đi làm trả sau.

    ***

    Tới đất tạm cư, Đức đứng mũi chịu sào tìm nơi ở, tìm chỗ học cho các em, chỗ làm cho anh Nhân. Chỉ có mình bà Viết ở nhà lo cơm nước. Gia đình thật đầm ấm.

    Năm tháng dần trôi, anh Nhân lấy vợ và tách ra ở riêng. Các em đã lớn vừa đi học vừa đi làm. Bà Viết vẫn nhắc nhở Đức về chuyện lập gia thất để cho bà yên lòng. Nhiều cô lui tới làm thân với các em gái Đức nhưng Đức chỉ xem họ như các em mình. Đức vẫn thường nói: “Khi tất cả các em tôi có gia dình hết cả, tôi sẽ rời khỏi nhà này, không ai phải lo cho tôi”.

    Ngày người em cuối cùng lên xe hoa, Đức khuyên bà Viết nên lần lượt luôn phiên ở với các con ít lâu vui hơn. Rồi chàng mời tất cả anh em ăn bữa cơm trước khi từ giã. Chàng nói với mọi người, với bà Viết:

    -Con là đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trên đường. May mắn được bố bắt gặp, cưu mang, thương con và không quản vất vả đưa về cho mẹ nuôi. Mẹ cũng thương con như bố và nuôi dưỡng không phân biệt con nuôi, con đẻ và cũng chẳng bao giờ cho ai biết con là con nuôi. Con biết được điều này từ ngày bố ở nhà thương, trong lúc nửa tỉnh nửa mê bố nói ra con mới hay. Con biết rõ nguồn gốc còn yêu quý và kính trọng bố mẹ hơn nữa.

    Con học được ở mẹ tính thật thà, tháo vát, học ở bố lòng quảng đại và kiên nhẫn. Lòng vị tha của bố mẹ là tấm gương cho con học làm người. Công ơn nuôi dưỡng con chỉ mong báo đáp được chút nào. Nay tất cả chúng con đã lớn khôn, mẹ không cần phải lo cho con nào nữa. Con biết mẹ chỉ còn thắc mắc về con chưa lập gia đình. Mẹ đừng lo cho con, con đã ý thức phải tạo cho mình một lý tưởng, một mục đích để theo đuổi là tìm đến hạnh phúc chân thật và trường cửu. Con nhận ra đời này chỉ là nơi tạm gửi, nơi thử thách. Con đã chọn một viện tu. Con xin bái biệt mẹ, chia tay với tất cả anh em.

    Bà Viết thấy mắt mình nhòe đi. Bà không biết mình khóc vì thương cảm cho đứa con nuôi hiếu thảo hay mừng cho Đức đã tìm được hạnh phúc vĩnh cửu.

 

 

Similar Threads

  1. Chuyện đời chuyện người - Tuyết Minh
    By frankie in forum Nhân Văn
    Replies: 33
    Last Post: 10-26-2022, 10:19 AM
  2. Giòng Đời Xưa và Nay - Tuyết Minh
    By frankie in forum Nhân Văn
    Replies: 31
    Last Post: 09-21-2022, 01:59 PM
  3. Phiên Khúc Nhớ Paris-Tuyết mai
    By phamanhdung in forum Âm Nhạc
    Replies: 0
    Last Post: 09-19-2019, 08:28 PM
  4. Replies: 0
    Last Post: 01-25-2013, 09:46 PM
  5. Những mảnh đời vá víu
    By MưaPhốNúi_ in forum Truyện
    Replies: 4
    Last Post: 05-22-2012, 06:36 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 02:51 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2022 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh