Register
Page 11 of 16 FirstFirst ... 910111213 ... LastLast
Results 101 to 110 of 152
  1. #101
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Chứng nhức nửa đầu migraine rất thường thấy, ở đàn bà nhiều hơn đàn ông, bắt đầu khi mới lớn và kéo dài cho đến khi lớn tuổi sẽ đỡ lần đi. Thường nhức nửa bên đầu, mỗi khi nhức như giật lên từng hồi, không làm việc được, kèm theo với ói mửa đôi lúc.

    Một số người có thể có triệu chứng về thần kinh hay tê liệt. Mỗi cơn nhức kéo dài một hai ngày rồi hết, có thể trở lại khi sắp có kinh nơi người đàn bà, hoặc khi bị căng thẳng quá mức. Có người dùng thuốc ngừa thai cũng hay bị loại nhức đầu migraine này. Một số người bị lên cơn nhức đầu sau khi ăn uống những chất để lâu lên men có chất tyramine, có người uống rượu nhất là rượu vang đỏ cũng hay bị. Cà phê, trà, chocolate cũng thế.

    Chứng nhức đầu migraine thường di truyền trong gia đình, nguyên nhân không được rõ lắm, có thể do sự mất thăng bằng trong việc điều hòa sự co thắt, dãn nở của mạch máu đầu, hoặc do sự xáo trộn về biến dưỡng của chất Serotonin trong não bộ.

    Loại nhức đầu kinh niên thứ hai hay thường thấy là nhức đầu do căng thẳng, tension headache. Loại này thường gây nhức cả đầu, đến từ từ chứ không đến nhanh chống từng cơn như loại migraine và kéo dài lâu hơn, có thể nhức đầu triền miên cả vài tuần hay vài tháng. Ngủ thì không sao nhưng thức giấc là thấy nhức đầu ngay.

    Loại này khác với migraine ở chỗ thường bắt đầu ở tuổi trung niên và có thể kéo dài nhiều năm. Nguyên nhân của nhức đầu tension headache cũng không được rõ lắm, một số người cho là do các bắp thịt đầu và cổ căng thẳng, co rút gây ra nhưng có lẽ cũng phần lớn do sự dãn nở bất thường của các mạch máu đầu gây ra.

    Thực sự một số lớn bệnh nhân bị nhức đầu kinh niên có cả hai đặc tính của nhức đầu migraine lẫn với nhức đầu căng thẳng và cách chữa phải dùng thuốc cho cả hai loại.
    Last edited by frankie; 10-27-2023 at 07:45 AM.

  2. #102
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Loại nhức đầu tension headache có nhiều yếu tố về tâm lý tuy không bắt buộc. Lo âu quá mức, chán nản, thất vọng cũng thường thấy nơi những người nhức đầu kinh niên loại này, khoảng 60%. Chữa trị tâm lý thường cũng trở thành cần thiết cho loại này.

    Chữa trị chứng nhức đầu thông thường hàng ngày do mỏi mắt, mệt, cảm thường.. v.v…chỉ cần Tylenol hay Aspirin là đủ, tuy nhiên chữa trị chứng nhức đầu kinh niên khó khăn hơn nhiều. Phần lớn các người bị bệnh này uống các thuốc nhức đầu như Tylenol, Anacin ..v..v..thường xuyên tuy không hiệu quả nhiều lắm. Dùng quá nhiều các loại có aspirin có thể làm loét bao tử, chảy máu bao tử ở một số người. Tylenol hay Ibuprofen (Advil, Nuprin) lạm dụng có thể ảnh hưởng trên thận.

    Nếu bị nhức đầu nặng loại migraine thường các thuốc nhẹ loại trên ít có tác dụng. Thường phải dùng thuốc có thêm thuốc ngủ, caffeine như Fiorinal, Esgic. Nặng hơn nữa phải dùng thuốc có chất ergot như Cafergot.

    Một loại thuốc mới để chích dưới da và trị nhức đầu migraine rất hiệu nghiệm là thuốc loại triptans như sumatriptan tên thương mại là Imitrex có tác dụng làm co mạch máu đầu nhờ ảnh hưởng cơ cấu serotonin receptor của mạch máu trong đầu. Thuốc này làm hết ngay cơn nhức đầu migraine trong vòng 10 phút khi chích dưới da 6mg thuốc Imitrex. Bệnh nhân có thể xin toa bác si để mua thuốc này tự chích lấy để chữa các cơn nhức đầu migraine. Imitrex cũng ở dưới dạng thuốc viên, tiện lợi hơn.

    Loại khác là rizatriptan hay Maxalt, có thể chích, uống hay là thuốc xịt vào mũi. Một loại mới hơn là Lasmiditan cũng rất có hiệu quả, tuy uống vào dễ bị buồn ngủ và có thể chóng mặt.

    Loại thuốc trị migraine mới nhất hiện nay gọi là gepants có cơ chế là Calcitonin gene-related peptides antagonists. Hai thuốc loại này là Ubrogepant bán dưới tên Ubrelvy và Rimegepant bán dưới tên Nurtec là thuốc uống. Thuốc Zavegepant bán dưới tên Zavzpret là thuốc xịt vào mũi, hiệu quả tức khắc làm hết bị migraine trong 15 phút.

    Tuy nhiên phải được khám nghiệm và chỉ dẫn cẩn thận về cách dùng và những phản ứng có thể xảy ra. Muốn ngăn ngừa các cơn nhức đầu migraine phải dùng thuốc Propanolol hay nặng hơn nữa dùng loại thuốc Methysergide. Một số lớn trường hợp phải dùng thuốc an thần, anti-depressant để chữa trị về tâm thần, đặc biệt cho các người bị nhức đầu kinh niên do căng thẳng, tension headache.

    Thực sự chữa trị về nhức đầu kinh niên hiện nay chưa được thoả đáng, thường phải tùy từng trường hợp nặng, nhẹ, nhiều hay ít để dùng từng loại thuốc khác nhau. Tuy nhiên đối với bệnh nhức đầu kinh niên, tác dụng của thuốc cũng chỉ có giới hạn. Điều quan trọng vẫn ở bệnh nhân ăn, uống cẩn thận, điều độ, tránh những thứ dễ kích thích như rượu, thuốc lá.. v..v…nghỉ ngơi đầy đủ, thể dục đúng mức và nhất là nhận thức được những gì gây ra lo âu, phiền não cho mình hằng ngày và tìm cách để đối phó, thích hợp cho đời sống thoải mái hơn.

  3. #103
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    BỆNH KINH GIẬT


    HỎI:

    Tôi bị bệnh kinh giật từ Việt Nam và có uống thuốc một thời gian. Từ khi sang Hoa Kỳ tôi bỏ uống thuốc và không thấy bị kinh giật được vài năm. Nhưng mấy hôm trước đây, tôi bị kinh giật lại kéo dài khoảng mấy phút. Xin bác sĩ cho biết tại sao tôi bị bệnh này và tôi cần uống thuốc chữa bệnh này trong bao lâu nữa?

    Trần Hoàng A.


    ĐÁP:


    Bệnh kinh giật (epilepsy) là bệnh về thần kinh khá thông thường. Tỷ lệ số người bị bệnh này khá cao. Trong một trăm người, khoảng từ 2 đến 5 người có thể bị bệnh kinh giật loại kinh niên và 8 người có thể sẽ bị lên cơn động kinh (seizure) một lần trong đời!

    Trước hết ta hãy tìm hiểu tại sao bị kinh giật. Kinh giật xảy ra khi một số tế bào não phát ra những luồng điện bất thường một cách đồng nhịp và kéo dài. Những luồng điện từ một trung tâm điểm (focus) này lan ra đến những tế bào khác và theo những vòng dây thần kinh chạy đi khắp một vùng của não bộ hay đôi khi toàn thể não bộ.

    Tùy theo từng vùng của não bộ kiểm soát những cơ năng nào của cơ thể, ta sẽ thấy những hình thức kinh giật khác nhau. Hoặc nếu những luồng điện này chạy khắp cả não bộ, sẽ đưa đến kiểu kinh giật làm co quắp và giật tất cả tứ chi cũng như làm bất tỉnh.

    Tại sao những tế bào não này lại phát ra những luồng điện bất thường? Lý do là tế bào não truyền những tín hiệu hay mệnh lệnh bằng giòng điện giữa các tế bào với nhau gọi là synapses. Giòng điện phát ra tùy thuộc vào sự di chuyển của chất calcium, được kích thích tùy thuộc chất glutamate và bị ngăn chặn bởi chất gammaaminobutyric acid.

    Nếu vì lý do nào, ba cơ chế này bị thay đổi, luồng điện phát ra sẽ bất bình thường và lan rộng làm kinh giật. Khi những luồng điện bất thường này truyền đi toàn thể não bộ, cơn kinh giật xảy ra sẽ thuộc loại co giật tổng quát (generalized tonic-clonic seizure), còn gọi là grand mal (tiếng Pháp và Anh dùng chung một chữ).

    Kinh giật kiểu này trông rất đáng sợ. Người bệnh bất thình lình mất ý thức, các bắp thịt tay chân và trong người co cứng, té xuống đất sau khi kêu lên một tiếng ghừ ghừ trong cổ. Sở dĩ có tiếng kêu này vì những bắp thịt lồng ngực co cứng lại sẽ đẩy hơi từ phổi thoát ra ngoài, đi ngang qua dây nói trong họng cũng đang căng cứng.

    Sau khi té xuống, người bệnh ở trong tư thế co quắp trong vài giây đồng hồ và thường bị thương tích do đập đầu hay thương tích tay chân. Mặt lúc này xanh xám vì ngưng thở hẳn trong ít lâu. Sau đó, cơn giật bắt đầu. Cả 4 tứ chi đều giật trong một khoảng thời gian dài ngắn thay đổi tùy trường hợp.

    Khi cơn giật chấm dứt, người bệnh thường vẫn còn bất tỉnh trong vài phút đồng hồ, thở khó khăn vì nước dãi chảy ra đầy trong miệng, bọt mép sùi ra ngoài. Đôi khi miệng chảy đầy máu vì cắn phải lưỡi khi lên cơn giật. Người bệnh cũng có thể mất điều khiển bọng đái nên tiểu ướt ra hết quần.

    Ý thức trở lại dần dần nhưng người bệnh vẫn mơ hồ không biết gì trong một khoảng thời gian nữa. Thường sau cơn kinh giật chấm dứt hẳn, người bệnh hoàn toàn không nhớ đến những gì đã xảy ra. Đôi khi cơn mất trí nhớ này kéo dài và kèm thêm những hậu quả như nhức đầu, không tỉnh trí, mơ mơ màng màng kéo dài cả một vài ngày.

  4. #104
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Một loại kinh giật tổng quát khác gọi là petit mal hay absences, xảy ra rất ngắn và không có những co giật. Người bệnh chỉ đột nhiên thấy mất ý thức trong vài giây đồng hồ, đôi khi kèm theo những cử động không tự nhiên như mắt chớp liên hồi, miệng nhai nhóp nhép hay tay chân rung rung trong ít giây. Loại kinh giật này khó định bệnh vì không rõ ràng như loại grand mal kể trên.

    Tuy nhiên loại kinh giật này quan trọng vì hay xảy ra ở trẻ em, thường trong khoảng từ 6 đến 14 tuổi. Những em này có thể bị những cơn động kinh kiểu absences này hàng trăm lần mỗi ngày mà không ai biết, chỉ thấy học hành tự nhiên dở hẳn đi. Tuy nhiên cần biết sớm để chữa vì sau đó uống thuốc sẽ trở lại như thường. Nhiều em bị động kinh kiểu này cả hàng năm trời mà không ai tìm ra bệnh gây ra nhiều hậu quả xấu sau này.

    Loại động kinh ở người lớn thưòng thấy hơn là loại ở từng vùng trong não bộ gọi là complex partial seizures. Loại này thường bắt đầu bằng những dấu hiệu báo trước gọi là aura. Tùy theo từng vùng những luồng điện phát xuất trong não bộ, những dấu hiệu báo trước này sẽ khác nhau.

    Như nếu động kinh từ vùng thùy thái dương (temporal lobe) của não bộ, người bệnh có thể thấy trước khi động kinh một mùi lạ (thí dụ như mùi vỏ xe cao su cháy), một vị lạ trong lưỡi, một cảm giác thấy vật thể trước mắt tự nhiên nhỏ dần hay lớn dần, hoặc cảm tưởng như sự kiện đang xảy ra mình đã thấy trước đó rồi (gọi là déjà-vu), hoặc cảm thấy một cơn sợ hãi tăng dần...

    Những hiện tượng này xảy ra tùy người và người bệnh có thể nhờ đó biết trước được mình sắp lên cơn động kinh. Cơn động kinh thường diễn biến với tay chân vung vảy, mắt nhìn trừng trừng, miệng nói những lời vô nghĩa, đi lại môt cách vô hồn, tay bứt áo từng hồi... Sau khi cơn động kinh kiểu này chấm dứt, người bệnh cũng hoàn toàn không biết mình đã làm gì và mất cả vài phút hay cả giờ trước khi tỉnh trí hẳn.

    Hiếm hơn là động kinh xuất phát từ các vùng thùy trán (frontal lobe), thùy chẩm (parietal) và thùy ót (occipital). Đặc biệt vùng thùy sau ót của não bộ là nơi kiểm soát về thị giác nên người bệnh trước khi động kinh thường thấy những ảo giác hiển hiện trước mặt nhiều khi rất kỳ quặc gọi là visual hallucinations.

  5. #105
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Nguyên nhân gây ra bệnh kinh giật có rất nhiều loại. Ở trẻ em, những bệnh bẩm sinh trong não hay thương tích đầu lúc sinh ra, bệnh nhiễm trùng óc... đều dễ để lại những tổn thương cho não và tạo nên những vùng phát xuất luồng điện gây kinh giật.

    Ở người lớn, nguyên nhân quan trọng nhất gây ra kinh giật là bướu trong óc, hay những mạch máu nở lớn bẩm sinh gọi là arteriovenous malformations. Nguyên nhân khác thường thấy là những chấn thương óc như đụng xe, ngã đập đầu.v..v.., những vết sẹo sau khi chấn thương cũng dễ làm phát xuất luồng điện gây kinh giật. Một số lớn bị kinh giật nhưng không được biết nguyên nhân rõ ràng. Đôi khi bệnh kinh giật này xảy ra trong gia đình nên nguyên nhân di truyền cũng có thể là yếu tố quan trọng.

    Để định bệnh chính xác về kinh giật, hai thử nghiệm cần làm là đo điện não kế (electroencephalogram hay viết tắt là EEG) và chụp hình não bộ bằng cộng hưởng từ gọi là magnetic resonance imaging, viết tắt là MRI. Làm test về MRI rất quan trọng để tìm những nguyên nhân nguy hiểm và có thể chữa được như bướu não, nở mạch máu, cần phải giải phẫu ngay.

    Một nguyên nhân quan trọng và có thể giải phẫu được là bệnh teo vùng não hippocampus, gây ra động kinh kiểu thùy thái dương như đã tả trên và giải phẫu có thể chữa hẳn bệnh khỏi phải dùng thuốc chống động kinh suốt đời.

    Thuốc chữa kinh giật gồm nhiều loại. Những thuốc hay dùng nhất là Dilantin, Carbamazepine tên thương mại là Tegretol, Valproic acid bán dưới tên Dekapote, Phenobarbital, Zarontin dùng cho kinh giật loại absences và nhiều thuốc khác. Thường dùng nhất là Tegretol và Dilantin.

    Những người bị kinh giật nhiều lần thường phải dùng thuốc lâu dài để chặn những cơn động kinh kế tiếp. Nếu kinh giật do những nguyên nhân rõ ràng và thường trực như có bướu, sẹo do chấn thương..., thường phải dùng thuốc uống cả đời để chặn kinh giật.

    Nếu kinh giật không có nguyên nhân rõ ràng và đo điện não kế thấy bình thường, sau vài năm dùng thuốc có thể giảm dần và ngưng thử. Tuy nhiên nếu bị kinh giật sau khi ngưng, người bệnh lại phải dùng tiếp. Thống kê cho thấy, sau khi ngưng thuốc 2 năm, khoảng 41% người bệnh sẽ bị kinh giật trở lại và phải tiếp tục dùng thuốc chống kinh giật như đã nói trên.

    Tóm lại bệnh kinh giật là bệnh tương đối khá thông thường và có nhiều loại khác nhau cũng như do nhiều nguyên nhân gây ra. Để định bệnh chính xác, người bệnh cần đi đo điện não kế và chụp hình não bằng MRI. Một số trưòng hợp có thể cần phải giải phẫu, tuy nhiên phần lớn thường phải dùng thuốc chống kinh giật một cách lâu dài để ngừa tái phát và những biến chứng nguy hiểm xảy ra nếu cơn động kinh không được ngăn chặn.

  6. #106
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    UNG THƯ DỊCH HOÀN


    HỎI:

    Tôi năm 32 tuổi. Gần đây tôi thấy dịch hoàn bên trái của tôi sưng lên một cục, sờ không thấy đau, chỉ hơi có cảm giác khó chịu. Đi tiểu vẫn bình thường, không thấy đau hay ra máu gì cả. Tôi mới lập gia đình, chưa có con. Tôi cũng không hề đi chơi bời bậy bạ bao giờ. Xin bác sĩ cho biết bệnh này là bệnh gì và có nguy hiểm nhiều hay không?

    Trần văn N.


    ĐÁP:


    Bệnh về dịch hoàn (testis) quan trọng nhất là ung thư, nhất là khi nổi một cục lớn và ít đau, hay hoàn toàn không thấy đau. Những trường hợp sưng dịch hoàn và đau nhiều thường là do chứng bệnh viêm phần trên của dịch hoàn gọi là epididymitis, do nhiễm trùng, hoặc vi trùng bệnh lậu hay vi trùng Chlamydia. Bệnh viêm này dễ chữa, uống trụ sinh một thời gian sẽ khỏi.

    Truờng hợp khác làm sưng dịch hoàn do viêm gọi là orchitis, hay do cực vi trùng bệnh quai bị (mumps) gây ra, thấy ở trẻ con không chích ngừa hay đôi khi hiếm thấy ở người lớn.

    Sưng dịch hoàn còn có thể do chứng có bọc nước gọi là hydrocele gây ra. Định bệnh thường dễ dàng bằng cách dùng đèn dọi chiếu sát vào dịch hoàn. Nếu sáng đỏ lên gọi là transillumination, thường là do bọc nước.

    Một số trường hợp khác sưng dịch hoàn là do sưng và đọng những tĩnh mạch gọi là varicocele. Định bệnh cũng dễ bằng cách khám dịch hoàn ở tư thế nằm và đứng. Nếu thấy thay đổi to nhỏ khác nhau thường là do varicocele.

    Tuy nhiên cách thử nghiệm quan trọng nhất là siêu âm dịch hoàn (ultrasound). Khi siêu âm sẽ phân biệt được sưng dịch hoàn là do bọc nước, sưng tĩnh mạch hay có bướu đặc do ung thư gây ra.

    Vì sự quan trọng trong việc định bệnh ung thư dịch hoàn, tất cả các trường hợp sưng dịch hoàn đều phải nghi là có thể có ung thư cho đến khi khám và làm thử nghiệm tìm ra bệnh khác. Như thế trường hợp của câu hỏi trên phải đi khám nghiệm ngay để xem có thể bị ung thư hay không.

  7. #107
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Ung thư dịch hoàn thường xảy ra ở lứa tuổi từ 25 đến 40 tuổi. Sau 40 tuổi rất hiếm khi thấy bệnh này. Trước kia, bị ung thư dịch hoàn nhất là khi đã chạy khắp nơi, thường không chữa được và chết.

    Tuy nhiên với những phương pháp trị liệu gần đây, ung thư dịch hoàn đã chữa được rất hiệu quả. Có thể nói việc chữa trị ung thư dịch hoàn là thành công huy hoàng nhất của nền y khoa hiện đại. Nếu khám phá ra bệnh sớm, ung thư chưa chạy đi đâu, tỷ lệ chữa khỏi hẳn bệnh lên đến 100%.

    Ngay cả khi ung thư dịch hoàn đã chạy khắp cơ thể (metastases), tỷ lệ chữa khỏi bệnh cũng lên đến 70% Bằng chứng về thành công chữa bệnh ung thư dịch hoàn được biết đến nhiều nhất là trường hợp của tay đua xe đạp Lance Armstrong.

    Anh này bị ung thư dịch hoàn đã chạy đi khắp nơi, lên cả phổi và óc, tuy nhiên bằng phương pháp hoá học trị liệu mới (chemotherapy), Lance Armstrong đã khỏi hẳn được bệnh ung thư và hồi phục sức khỏe để đoạt giải đua xe đạp Tour de France trong nhiều năm liên tiếp! Điều này chứng tỏ bệnh ung thư dịch hoàn không còn đáng sợ như trước.

    Tuy nhiên việc định bệnh sớm trước khi ung thư chạy đi vẫn quan trọng vì nếu chữa sớm có thể khỏi 100% nhưng nếu để muộn vẫn còn 30% trường hợp chữa không được!

    Ung thư dịch hoàn hầu hết đều phát xuất từ những tế bào truyền giống (germ cell). Có hai loại ung thư. Loại đầu gọi là seminoma và loại thứ nhì là non-seminoma. Loại ung thư sau tiết ra những kích thích tố, đặc biệt là chất beta-HCG (human chorionic gonadotropin), giống như kích thích tố của đàn bà mang thai, và cũng tiết ra chất hoá học gọi là alpha-fetoprotein.

    Hai chất này có thể đo lường được trong máu và dùng để theo dõi xem có chữa khỏi được ung thư dịch hoàn hay chưa. Nếu chữa bệnh mà đo hai chất này vẫn cao, có nghĩa ung thư vẫn còn chưa hết hẳn và phải đi tìm để xem tế bào ung thư dịch hoàn chạy ẩn nấp ở nơi đâu.

    Như vậy việc định bệnh ung thư dịch hoàn tương đối dễ dàng. Nếu có cục bướu nơi dịch hoàn và làm siêu âm thấy không phải là bọc nước hay tĩnh mạch sưng trướng mà là bướu đặc, cộng thêm thử máu thấy hai chất HCG và alpha- fetoprotein cao, hầu như gần chắc đây là trường hợp ung thư dịch hoàn.

  8. #108
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Chữa trị đầu tiên sẽ phải cắt bỏ dịch hoàn có bướu ung thư gọi là orchiectomy. Nếu ung thư là loại seminoma và làm CAT scan không thấy ung thư chạy đi nơi đâu, sẽ chỉ cần chạy điện radiation therapy vùng bụng.

    Trường hợp ung thư loại non-seminoma hay ung thư đã chạy đi khắp nơi, sẽ phải chữa bằng hoá học trị liệu (chemotherapy) dùng các thứ thuốc cisplatin, epotoside và bleomycin.

    Như trên đã nói, cách chữa này sẽ chữa khỏi hẳn bệnh ung thư dịch hoàn trong 70% trường hợp, tuy nhiên người bệnh cần theo dõi thường xuyên để xem bệnh ung thư có còn trở lại hay không và trong trường hợp nonseminoma, theo dõi hai chất HCG và alpha-fetoprotein là cách thức dễ dàng và giản dị nhất.

    Những trường hợp ung thư tái phát thường xảy ra trong vòng 2 năm đầu sau khi chữa. Tuy nhiên dù ung thư trở lại, cách chữa bằng hoá học trị liệu cũng sẽ có hiệu quả và có thể khỏi hẳn trong 25% trường hợp những người không may bị tái phát này.

    Điều quan trọng đối với những người bị bệnh ung thư dịch hoàn chưa có con cái là chữa trị bằng hoá học trị liệu sẽ làm chết các tinh trùng. Tuy nhiên sau hai năm đã hết hẳn ung thư, dịch hoàn còn lại sẽ có khả năng để làm lại tinh trùng và những người bệnh này vẫn có thể có con được.

    Tuy nhiên, để tránh trường hợp có thể việc sản xuất tinh trùng của dịch hoàn không bị ung thư bị suy kém sau khi chữa, người bệnh thường phải dự trữ tinh trùng đông lạnh (frozen sperm storage) trước khi chữa bằng chạy điện hay hoá học trị liệu, để sau này vẫn có thể có con bằng thụ thai nhân tạo.

    Tóm lại, ung thư dịch hoàn là một bệnh nguy hiểm, nhưng nếu định bệnh sớm và chữa trị đúng cách, bệnh này có hy vọng chữa hết hẳn. Dù bệnh ung thư có chạy đi khắp nơi, tỷ lệ chữa khỏi cũng rất cao và như trường hợp Lance Armstrong chứng tỏ, với trị liệu tốt, tập luyện và lòng tin sắt đá, mọi chướng ngại vẫn có thể vượt qua để đem đến thắng lợi huy hoàng.

  9. #109
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    TIỂU KHÓ


    HỎI:


    Tôi năm nay 66 tuổi, gần đây tôi bị chứng đi tiểu khó khăn, thường cảm thấy như đi tiểu không hết, đôi lúc như muốn tiểu thường xuyên. Xin bác sĩ cho biết đây là loại bệnh gì và cần chữa trị ra sao?

    Trần Văn B.


    ĐÁP:


    Chứng tiểu khó ở người đàn ông lớn tuổi thường do các bệnh thuộc về bọng đái (bladder), bệnh thuộc về tuyến đường tiểu (prostate gland) gây ra. Trong số các bệnh này, bệnh lớn tuyến đường tiểu là bệnh thông thường nhất.

    Tuyến đường tiểu là một hạch tuyến ở người đàn ông nằm dưới bọng đái, bọc chung quanh đường tiểu. Nhiệm vụ của tuyến này là tạo ra tinh dịch để nuôi dưỡng tinh trùng được cấu tạo từ dịch hòan, trung bình tuyến lớn khoảng 20 grams sau tuổi dậy thì và không thay đổi kích thước trong khoảng 20- 30 năm.

    Bắt đầu vào tuổi 45- 50 trở đi, tuyến đường tiểu thường có khuynh hướng phát triển lớn hơn với đa số người đàn ông. Nếu tuyến này trở thành quá lớn gọi là prostate gland hyperplasia, có thể sẽ để trên đường tiểu tuyến này vây bọc chung quanh và gây ra chứng tiểu khó.

    Nguyên nhân tạo ra tuyến đường tiểu lớn quá độ là do tác dụng của kích thích tố sinh dục nam dihydrotestosterone làm tăng trưởng các tế bào của tuyến này. Ở người già, một loại kích thích tố khác gọi là estradiol phụ giúp tác dụng này và càng lớn tuổi, chất estradiol càng có nhiều hơn nên càng làm cho tuyến này phát triển hơn.

    Thông thường đến tuổi 80 trở lên, có thể nói hầu hết người đàn ông nào cũng bị tuyến prostate phát triển quá lớn, tuy có thể có người bị triệu chứng tiểu khó, người không bị. Đặc biệt người Á Đông thường bị ít hơn người da trắng hay da đen, tuy nhiên số người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng bị chứng lớn tuyến đường tiểu cũng không phải là ít.

    Các triệu chứng của bệnh này gồm đi tiểu khó khăn, nước tiểu chảy yếu, đôi khi nhỏ giọt và thường cảm thấy như nước tiểu còn lại trong bọng đái, chưa tiểu ra hết. Một số người bị bệnh lớn tuyến đường tiểu có thể bị thêm các bệnh khác như nhiễm trùng hoặc có thể có ung thư tuyến sẽ có thêm các triệu chứng khác như đi tiểu bị buốt, đau, đi ra máu, thấy lúc nào cũng bắt đi tiểu v.v. . .

    Trong số các bệnh cũng làm đi tiểu khó và kèm thêm một số triệu chứng như kể trên, dĩ nhiên bệnh ung thư tuyến đường tiểu (prostate carcinoma) là bệnh đáng ngại hơn hết. Ung thư tuyến đường tiểu thường xảy ra ở người già và chỉ xếp hạng sau ung thư phổi và ung thư ruột già về mức độ tử vong.

    Người Á Đông tương đối bị ít hơn người da trắng và da đen cũng giống như trường hợp lớn tuyến, tuy nhiên nếu sống ở Hoa Kỳ nhiều năm, mức độ có thể bị ung thư về tuyến đường tiểu sẽ tăng lên. Điều này cho thấy việc tạo ra ung thư tuyến đường tiểu có thể một phần do môi trường ngoại giới.

  10. #110
    Biệt Thự
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    2,932
    Ung thư tuyến đường tiểu cũng giống như các ung thư khác, điều quan trọng là định bệnh sớm, nếu ung thư còn ở trong bọc tuyến chưa chạy ra ngoài, giải phẫu cắt bỏ có thể chữa khỏi, tuy nhiên phần lớn trường hợp khi định bệnh được, ung thư tuyến đường tiểu đã lan rộng và chữa trị rất khó khăn. Vấn đề định bệnh sớm như vậy rất quan trọng.

    Khi đi khám bệnh tuyến đường tiểu có thể khám trực tiếp bằng cách khám hậu môn (rectal examination). Tuyến prostate khi khám bằng cách này có thể ước lượng được mức độ lớn bao nhiêu, có trơn tru, nhẵn hay không. Nếu có ung thư, thường có thể sờ thấy những cục lớn như hạt đậu hay gồ ghề trên mặt của tuyến.

    Muốn rõ hơn nữa, phải dùng thử nghiệm siêu âm để chụp hình, hoặc dùng cách chụp quang tuyến CAT scan để xác định mức độ ung thư đã chạy ra ngoài chưa. Ngoài ra muốn định bệnh chắc chắn phải dùng cách biopsy tức là cắt một miếng nhỏ để xem dưới kính hiển vi.

    Một phương pháp thử máu để tìm bệnh ung thư tuyến đường tiểu có thể giúp ích cho việc định bệnh này sớm hơn. Cách thử máu này gọi là PSA tức là đo lượng prostate specific antigens trong máu. Nếu lượng này khá cao và khám tuyến đường tiểu qua hậu môn có sự nghi ngờ, thường phải làm biopsy để tìm ung thư.

    Cách thử máu này gây ra nhiều bàn cãi vì một số trường hợp đo lượng PSA lên cao trong khi không có ung thư (gọi là false positive) và cách thức sử dụng phương pháp thử máu này để tìm bệnh ung thư tuyến đường tiểu đã làm nhiều người bệnh bị chữa trị ung thư một cách không cần thiết.

    Lý do là khoảng 50% người lớn tuổi có thể có ung thư nằm sẵn trong nhiếp hộ tuyến. Nhưng thường những ung thư này mọc rất chậm và nằm yên trong tuyến. Người bệnh thường chết do những lý do khác, không phải vì ung thư nhiếp hộ tuyến. Nhưng vì thử PSA thấy khá cao nên làm biopsy tìm ra ung thư và và được khuyến cáo nên chữa trị, trong khi có thể chỉ cần theo dõi thường xuyên. Nếu thấy ung thư phát triển nhanh mới cần chữa, nếu không cứ để nguyên, Vì sẽ chết do những lý do khác, không phải vì ung thư nhiếp hộ tuyến! Và chữa trị không cần thiết có thể đem lại những biến chứng và hậu quả không tốt. Có nghĩa vì thử PSA nên tìm ra ung thư nhiếp hộ tuyến trong khi không biết đến hay cứ để nguyên cũng không sao. Và chữa trị không cần thiết đem lại hại nhiều hơn lợi!

    Trở lại câu hỏi của ông viết trong thư, chứng đi tiểu khó của ông, muốn định bệnh cần phải biết thêm nhiều chi tiết khác về bệnh lý, cần phải khám nghiệm về tuyến đường tiểu prostate nếu cần phải làm thử nghiệm.

    Một điều đáng chú ý là một số loại thuốc uống thông thường có thể có những tác dụng trên đường tiểu và làm đi tiểu khó khăn. Những loại thuốc có thể ảnh hưởng trên hệ thống giao cảm - đối giao cảm là hệ thống thần kinh điều khiển các bắp thịt mở đóng của bọng đái đều có thể gây ra tác dụng làm đi tiểu khó. Các loại thuốc có đặc tính này gọi là anticholinergic như các thuốc chống đau bụng (Donnatal, Bentyl… v.v...) một số thuốc chữa suy nhược thần kinh loại anti depressant và ngay cả một số thuốc chữa cảm có chất antihistamine thông thường đôi khi có thể gây ra tác dụng trên đường tiểu tuy hiếm hơn.

    Như vậy, điều trước tiên là phải để ỷ xem có đang uống thuốc gì có thể gây ra tác dụng trên đường tiểu hay không? Nếu không, có thể là bệnh của bọng đái hay bệnh của tuyến đường tiểu prostate. Trường hợp bệnh của tuyến đường tiểu prostate, điều quan trọng là phải xác định đây là chứng lớn tuyến thông thường gọi là benign prostate hypertrophy hay có thể là ung thư prostate. Nếu nghi là ung thư sẽ phải làm nhiều thử nghiệm hơn. Nếu chỉ là lớn tuyến thông thường, chỉ cần làm quang tuyến đường tiểu gọi là IVP (intravenous pyelogram) để xem mức độ nghẹt đường tiểu và bọng đái.

    Về cách chữa trị, nếu có triệu chứng nhiều do bệnh lớn tuyến prostate, có thể cần phải giải phẫu để cắt bỏ tuyến này. Hiện nay có một loại thuốc mới tên gọi là Finasteride có thể làm nhỏ tuyến đường tiểu và không cần mổ, tuy nhiên phải dùng một thời gian lâu dài vài tháng trở lên mới bắt đầu có hiệu quả và phải dùng liên tục.

    Trường hợp nếu khám nghiệm và làm thử nghiệm có ung thư tuyến đường tiêu prostate, phương cách trị liệu là giải phẫu cắt bỏ nếu ung thư còn giới hạn. Trường hợp đã lan rộng, thường sẽ phải dùng cách chạy điện phóng xạ (radiation therapy) để trị liệu. Những cách trị liệu khác cho ung thư prostate đã đi khắp cơ thể là cách dùng thuốc để chống kích thích tố nam androgens hay cắt bỏ dịch hòan, hay dùng hoá học trị liệu chỉ có tính cách làm giảm thiểu tạm thời và cũng không kéo dài được lâu.

    Tóm lại, tiểu khó là một triệu chứng nơi người lớn tuổi cần phải khám nghiệm cẩn thận để định bệnh, đặc biệt là tuyến đường tiểu nơi người đàn ông. Bệnh lớn tuyến thông thường hiện nay có thể trị liệu tương đối hiệu quả bằng thuốc, trong trường hợp nặng vẫn cần phải giải phẫu. Điều quan trọng khác là việc tìm bệnh ung thư và nếu lan rộng hay nhiều độc tính, cần phải chữa trị về ung thư.

 

 

Similar Threads

  1. Giải đáp y khoa
    By frankie in forum Sức Khoẻ/Sắc Đẹp
    Replies: 0
    Last Post: 07-18-2023, 12:35 PM
  2. Replies: 3
    Last Post: 09-04-2014, 07:00 AM
  3. Thông tin khoa học
    By Dân in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 04-10-2014, 03:52 AM
  4. Thông tin khoa học
    By Dân in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 1
    Last Post: 03-28-2014, 05:23 PM
  5. Replies: 0
    Last Post: 04-01-2013, 03:07 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 08:50 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2024 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh