Register
Page 136 of 201 FirstFirst ... 3686126134135136137138146186 ... LastLast
Results 1,351 to 1,360 of 2001
  1. #1351
    Biệt Thự
    Join Date
    Nov 2016
    Posts
    1,804
    Quote Originally Posted by aovang View Post
    chời ! đã có một dê khờ khạo...giờ sao có kiến... khờ nữa ???
    thiệc, chỉ có vàng là bà chằng ...hét ...ra lửa...với giọng ca ?

    Oh! Hồi xưa tan trường về, chị cũng có người theo sau bụi đỏ đường mơ nữa hả?? Câu hỏi này đúng là vừa ...khờ vừa vô duyên quá há??!! Thôi, không cần dùng mi-nhon hay gì gì .... cứ nói ..hay quá thì không có khờ hạo chút nào phải hông??

  2. #1352
    Biệt Thự aovang's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    2,059
    Quote Originally Posted by Kiến Hôi View Post
    Oh! Hồi xưa tan trường về, chị cũng có người theo sau bụi đỏ đường mơ nữa hả?? Câu hỏi này đúng là vừa ...khờ vừa vô duyên quá há??!! Thôi, không cần dùng mi-nhon hay gì gì .... cứ nói ..hay quá thì không có khờ hạo chút nào phải hông??

    Thế mới là phải phải !
    à, mà tui không nói câu trước " là ta đây chứ ai" đâu nha

  3. #1353
    Biệt Thự
    Join Date
    Nov 2016
    Posts
    1,804
    tán thành vậy, thì đâu thấy gì là khờ? ..hé..hé ..

  4. #1354
    Biệt Thự aovang's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    2,059

    đúng rồi...khờ ...bị bắt nạt miết đó !








    LẠI MỘT CHUYỆN TÌNH...
    truyện ngắn
    Lê Thị Bạch Nga

    Năm nay tôi ăn Tết một mình.

    Bên ngoài trời giá lạnh, mùa đông vẫn còn ngự trị vì mới vào tháng hai. Gia đình các con bận tíu tít với những ngày lễ, tết, nào là lễ Giáng Sinh rồi Tết Tây, Tết Ta, thêm họp bạn, party ở sở, ở trường... Đã 35 năm trời qua kể từ ngày rời VN, các con tôi quen theo Mẹ, giữ gìn phong tục mình, xem lễ Tết đầu năm rất quan trọng và thiêng liêng, âu đó cũng là điều đáng mừng...
    Phải chăng đó là một nét văn hóa được gửi lại, trân trọng gìn giữ và chấp nhận của thế hệ thứ hai trên xứ người.
    Còn thế hệ thứ ba, các cháu nội ngoại của tôi lại càng mong Tết, nhớ Tết nhiều hơn nữa vì Tết thì được phát bì thơ đỏ lì xì.

    Mới đó mà đã mười lăm năm qua đi, ngồi hồi tưởng lại quá khứ, tôi bâng khuâng tự hỏi làm sao mà mình có thể sống ngụp lặn triền miên trong đau khổ, hận thù không dứt như thế nhỉ?

    Tôi đã đau đớn xót xa, tủi hổ, giận hờn, chán chường, tuyệt vọng đến nỗi khuôn mặt trở thành méo mó, đăm chiêu, nhăn nhúm, buồn thảm và thân mình gầy đét như con mắm phơi khô. Chỉ bởi vì tôi không có được cái hạnh phúc của người đàn bà trong cái tuổi chín muồi, giữa khung cảnh gia đình ấm êm, chồng con đầy đủ.

    Tôi ly dị với người đàn ông, cha của ba đứa con tôi khi ông bỏ gia đình, vợ con, để đi theo một người đàn bà chỉ bằng nửa số tuổi của ông. Lúc đó tôi vừa qua tuổi 45.

    Đó là một cơn "choc" lớn và tôi bị "dépression" nặng, mặc dù ông ta đã để lại cho tôi và các con đầy đủ tiền bạc.

    Sau hai năm bệnh hoạn lăn lóc, bò lê bò càng vì buồn khổ tuyệt vọng, công ăn việc làm lở dỡ, cuối cùng tôi gượng dậy được vì quá thương con cái còn trong tuổi dậy thì...Trách nhiệm của một người mẹ không cho phép tôi nhảy xuống sông để thả trôi đời mình theo dòng nước.

    Tôi cố gắng trở lại đời sống bình thường, lo cho con cái ăn học, trở về làm việc. Thế nhưng trong tôi, nỗi hận thủ, nói đúng hơn là nỗi hận tình vẫn dâng cao....Tôi bỏ hết tâm lực vào sự trả thù người đàn ông....Tôi tìm mọi cách ngăn cản cha con gặp mặt. Tôi lấy làm thỏa mãn một cách bệnh hoạn khi nhét được vào đầu ngây thơ của các con những lời nhục mạ cha mình. Các con tôi nghe hết vào tai và đôi khi về nói lại với cha chúng nó trong những lần gặp gỡ.

    Người chồng cũ của tôi nghe hết, nhận hết mà không phản ứng lại một lời. Ông ta ngậm câm, âm thầm như một bãi đất hoang và như thế tôi lại càng thù hận thêm. Những lời lẽ nhục mạ cay đắng càng lúc càng nặng nề hơn.

    Nhưng vết hằn quan trọng nhất đối với cuộc đời tôi là từ đó tôi nhìn đàn ông với một con mắt khinh bỉ lẫn sợ hãi, ghê tởm. Trong vòng bạn bè cũng vậy mà trong công việc ở sở làm cũng vậy, tôi xa lánh đàn ông và trở thành cô đơn, khép kín, mang nỗi hận thù trong tim với hình ảnh duy nhất của người chồng cũ.

    Rồi thời gian qua đi, các con trưởng thành, học hành nên người, tạo lập gia đình hạnh phúc lứa đôi. Tôi cũng đã già đi và đến lúc này trở thành bà nội bà ngoại của bốn đứa cháu ngây thơ xinh đẹp. Chồng tôi cũng đã có hai con với người vợ mới và hình như giao tình giữa các con tôi và gia đình mới của cha nó khá tốt đẹp.

    Đời sống của tôi trở thành nhẹ nhàng hơn. Ngoài giờ làm việc, tôi đến thăm các con, các cháu , và ít khi nhắc nhở đến người xưa. Các con cũng biết nỗi đau của mẹ nên tránh đề cập đến chuyện gia đình ngày trước.

    Cuộc sống êm êm cứ thế trôi qua.
    Những ngày rảnh rỗi không đi làm, không thăm cháu thì tôi ghé chùa làm công quả, gặp các bạn già, tụng kinh niệm Phật, nghe quí thầy giảng Pháp, tham dự những khóa tu thọ bát quan trai và ngồi thiền.

    Với cái tuổi gần sáu mươi lăm, cuộc đời tôi kể như đã an bài. Vài năm tới tôi nghỉ hưu, ngày tháng thênh thang trước mặt...độ rày tôi bắt đầu trở lại hành thiền chăm chỉ hơn. Những lúc trầm tư suy nghĩ về cuộc sống và những thay đổi của cuộc đời. Tôi có một ý niệm rõ ràng hơn về sự hư ảo mong manh của đời sống, ví dụ như bước đường đi từ sanh qua tử, có nhiều việc không muốn mà vẫn xảy đến, có những điều không mong mà vẫn biến mất rời xa, ví dụ như tôi đây, từ một cô gái ngây thơ, đầy mộng mơ và nhựa sống, nhiều lý tưởng, tôi biến thành một người đàn bà khác, trở thành người vợ người mẹ, tôi đã sống qua những ngày vui vẻ hạnh phúc, rồi bổng thoắt, hạnh phúc biến mất, đùng đùng rã tan, như sét đánh ngang trời. Tôi trở thành một người đàn bà sống dở chết dở vì tình. Tôi hận người đàn ông đã tàn nhẩn bỏ rơi tôi và các con sau nhiều năm hương lửa mặn nồng.

    Mối hận thù dễ sợ này tôi đội lên đầu, vác lên vai, chất đầy trong tim và lầm lủi cô đơn bước đi trên con đường đời hơn cả chục năm nay. Những năm cuối cùng sau này nhờ thâm cứu Phật pháp, nghe giảng Pháp, tôi bình tâm suy nghĩ chính chắn hơn và thấy ra sự hư ảo của cuộc đời mình và nhiều cuộc đời khác quanh mình, lòng tôi cũng nguội lạnh, phai bớt thù hận theo thời gian, như miệng núi lửa tắt ngúm trong lòng đất.
    Nghĩ lại ngày xưa như nhớ lại một giấc mơ, một ác mộng gồm nhiều sóng gió, đau thương và sợ hãi.

    Noel vừa qua, các con tôi đánh tiếng ao ước rằng tôi sẽ đến dự bữa tiệc do các con tổ chức, có mặt đông đủ gia đình mới của Ba.

    Vết thương lòng vừa khép miệng chưa kịp đâm da non thì lại bị mở tung ra. Lòng tự ái bị tổn thương, tôi lại nổi giận không kém ngày xưa, cái ngày xưa của mười lăm năm cũ... Những lời giận hờn cay đắng phun ra như từ miệng núi lửa.
    ‘’Các con có thể chọn lựa, có ba thì không có mẹ, hoặc ngược lại, có mẹ thì chẳng có cha’’

    Thì ra, mười lăm năm đã trôi qua, tôi vẫn chưa chống trả được với ngọn lửa thù hận, với nổi ám ảnh của một lần đổ vỡ xa xưa.
    Các con bây giờ đã thành nhân, các cháu nội ngoại của tôi lớn lên như chồi non, như nụ hoa, trong tình yêu thương gia đình.
    Trong lòng tôi, tình thương của người mẹ vẫn tiềm tàng tuôn chảy miên man, như một dòng suối bất tuyệt.

    Tôi biết tôi thương các con và các con cũng thương tôi lắm. Từ mười lăm năm nay các con vẫn kề cận bên tôi trong những ngày lễ Tết, tôi cảm thấy rất hạnh phúc và được an ủi trong tình yêu thương của con cái.

    Lẽ tất nhiên, muốn tránh nghĩ về quá khứ đau buồn, tôi không muốn gặp lại người đàn ông một thời đã cho tôi tuổi xuân đầy ngọt ngào và hạnh phúc mà cũng là người đã phá bỏ hết, quay lưng ra đi. Tôi cũng không muốn trút hết giận hờn còn lại của mười lăm năm khốn khổ lên các con, các cháu với những lời lẽ cay đắng hận thù.

    Những ngày học Phật đã dạy cho tôi bài học
    ‘’Hận thù diệt hận thù, đời này không thể có
    Tình thương giải hận thù, là chân lý ngàn thu ’’

    Bằng chứng là các con tôi vẫn thương quí mẹ dù rằng mẹ chúng luôn miệng nói lời thù hận và chúng cũng vẫn thương cha dù đã nghe đầy tai những lời nhục mạ, nói xấu, thất vọng về người cha của chúng.
    Tình thương là một cái gì thường hằng, thiêng liêng, dịu ngọt, và có khả năng đem lại niềm ao ước kéo cha và mẹ, như hai kẻ thù, đến gần lại nhau.

    Chỉ còn mươi ngày nữa là qua năm mới. Tôi gởi email cho các con.

    ‘’Tết VN năm nay, các con sẽ tụ họp ba gia đình, và mời gia đình Ba với các em chúng con về ăn Tết, đón giao thừa với nhau. Nhớ đem các cháu đi chùa và thăm ông ngoại thờ ở chùa, để chúng biết hương vị Tết VN trong truyền thống gia đình mình. Đừng quên mấy bao lì xì đỏ mẹ gửi cho các cháu.

    Còn mẹ ư? Mẹ sẽ theo các bạn qua California ăn Tết bảy ngày với phái đoàn "Hành hương thập bát tự ", thăm mười tám ngôi chùa ở Mỹ Quốc, các con đừng lo mẹ buồn.

    Vậy năm nay mẹ ăn Tết một mình, không có các con bên cạnh như mọi năm, nhưng mẹ vui, vui vì đã hiểu được lòng của các con.
    Hôn các con và các cháu. Bonne année! ‘’

    Tôi bấm ‘send’ và thở ra một hơi dài….

    Vậy là vui rồi. Lòng tôi cảm thấy an tịnh, nhẹ nhàng như vừa trút bỏ được một gánh nặng.

    Ôi, gánh nặng mười lăm năm trường nay đã buông xuống, giờ đây, một nửa mái đầu đã bạc, tuổi đời sắp sửa cổ lai hy. Chờ thêm mười lăm năm nữa, lúc mà tóc bạc trắng phau, có gặp lại cố tri, biết đâu sẽ vui hơn!

    Bạch Nga









  5. #1355
    Biệt Thự
    Join Date
    Nov 2016
    Posts
    1,804

    đúng rồi...khờ ...bị bắt nạt miết đó !


    Thấy chị hiền khô, đâu có nạt nộ ai? ...mà bị bắt nạt miết?


    ngác

  6. #1356
    Biệt Thự aovang's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    2,059
    Quote Originally Posted by Kiến Hôi View Post

    đúng rồi...khờ ...bị bắt nạt miết đó !


    Thấy chị hiền khô, đâu có nạt nộ ai? ...mà bị bắt nạt miết?


    ngác

    hehe ...d khờ chứ vàng chằng lửa mà ai bắt nạt được vàng ?
    anh già có lời cảm ơn Kiến đã hỏi thăm chúc Kiến sức khỏe.

  7. #1357
    Biệt Thự aovang's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    2,059
    ...

    ** Đọc bài viết của tác giả TTĐ,
    vui vui...buồn buồn...
    cùng "quê' ĐN với thi sĩ LH,TN & AV...




    HÃY NGỦ YÊN ĐÀ NẴNG CỦA TÔI


    Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng thực dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ những chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okay, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

    Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm Hoa Kỳ lừng danh, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đầu tiên nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Hoa Kỳ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành hai năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn "viện trợ" hai Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

    Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu khó tánh ở Cổ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

    Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước.Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm.

    Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát ra khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

    chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
    trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
    mắt hồng liệng cái ngoắt tay
    dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
    chập chùng xuân ảnh vải hương
    ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
    giả vờ châm thuốc nhâm nhi
    nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.

    (Đà Nẵng, thơ Luân Hoán Luân Hoán)

    Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa đã không về nữa. Các cô đã ra đi, bỏ lại sau lưng hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

    Các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mát. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.

    Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.

    Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém thực dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ cặm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được Hong Kong, Philippines, và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

    Đà Nẵng của tôi sau 1975 không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước:

    "Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng,
    thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi“

    đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say" đã được thay bằng những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.

    Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn.
    Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.
    - Anh sắp phải đi xa.
    - Em biết.
    - Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
    - Anh nói với em rồi. "Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa." Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa
    .- Không phải. Đó là chuyện hồi chưa "giải phóng", bây giờ thì khác.
    - Bây chừ anh tính đi đâu?
    - Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học
    .- Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được
    .- Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè
    .- Anh lại hứa
    .Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào:

    "Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi.
    Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì.
    Tôi là người đi chinh chiến dài lâu.
    Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu“.

    Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để "lòng man mác buồn" nhưng là chia tay vĩnh viễn, nát tan.

    Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là dòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu

    .Bao nhiêu năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.

    Và biết đâu, nhờ chưa về mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi. Nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

    Trần Trung Đạo














  8. #1358
    Biệt Thự
    Join Date
    Nov 2016
    Posts
    1,804
    Có ba thi nhân mơ về một bến. Ắt hẵn bến đó rất...Mơ ...


    ngộ.


  9. #1359
    Biệt Thự aovang's Avatar
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    2,059
    ..

    Quote Originally Posted by Kiến Hôi View Post
    Có ba thi nhân mơ về một bến. Ắt hẵn bến đó rất...Mơ ...


    ngộ.

    đúng rồi, những người đẹp ĐN , thời 50-60 nhiều vô số kể
    mấy bà chị lớn kể lại...mình thì mới sanh ra đời













  10. #1360
    Biệt Thự
    Join Date
    Nov 2016
    Posts
    1,804
    Òh, đó là câu an ủi của hị lớn với em bé gái mới chào đời mà thôi!!

    nghiệm.

 

 

Similar Threads

  1. Phạm thiên thư - người tu sĩ lãng mạn
    By ngocdam66 in forum Nhân Văn
    Replies: 14
    Last Post: 12-10-2013, 08:10 PM
  2. Replies: 26
    Last Post: 12-03-2013, 07:45 PM
  3. Xuân lãng du
    By Frank in forum Âm Nhạc
    Replies: 0
    Last Post: 07-16-2013, 02:54 PM
  4. Chút lãng mạn trong Mưa
    By Mưa PN in forum Thơ
    Replies: 139
    Last Post: 10-09-2012, 12:49 AM
  5. đem nhớ gởi vào quên ...
    By coLaido in forum Không Gian Riêng
    Replies: 0
    Last Post: 02-23-2012, 09:51 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 09:40 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2026 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh