Results 61 to 68 of 68
Thread: Có nên....
-
10-15-2023, 03:01 AM #61Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
Tôi Đi Mổ Ở Bệnh Viện Stanford
Trần Đình Đức
Nếu người nào bị đau như dao đâm hoặc điện giật ở môi, má, mũi, miệng, trán, đỉnh đầu, cằm và quai hàm thì người đó có thể bị đau dây thần kinh số năm. Lúc đánh răng, cuời, nói, ăn uống, sờ hoặc gió thổi thì họ bị đau nhiều hơn. Những cơn đau này kéo dài chừng mấy giây cho tới vài phút với cường độ ngày càng mạnh hơn. Hầu hết bệnh nhân chỉ đau một bên, hiếm khi người nào đau cả hai bên.
Bệnh nhân bị những cơn đau hành hạ khiến họ mất ăn mất ngủ và không tập trung làm việc gì được. Vì vậy họ hạn chế sinh hoạt hàng ngày và ít tiếp xúc với xã hội. Căn bệnh này là một trong những loại bệnh gây đau đớn nhất cho con người. Những cơn đau này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và công việc của bệnh nhân. Ngoài ra nó còn làm cho họ bị trầm cảm vì lúc nào cũng lo lắng không biết tình trạng này kéo dài đến bao giờ?
Theo National Institute of Neurological Disorders and Stroke thống kê thì trong số 8330 người sẽ có một người mắc bệnh này hằng năm. Mặc dầu bất cứ ai ở độ tuổi nào điều có thể mắc chứng bệnh này nhưng hầu hết bệnh nhân đều là những người trên 50 tuổi. Nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới. Nếu quý vị cảm thấy mình bị đau dây thần kinh trên mặt thì nên đi gặp Bác Sỹ khoa thần kinh, Neurologist càng sớm càng tốt. Vì nếu càng để lâu không chữa, bệnh sẽ ngày càng nặng thêm. Sau khi khám bệnh, Bác Sỹ sẽ cho quý vị biết mình có mắc bệnh đau dây thần kinh số năm hay không?
*
Lúc đầu ai bị bệnh này cũng lầm tưởng là mình bị đau răng nên họ cứ đi gặp Nha Sỹ hoài. Cho đến khi họ biết chắc là mình bị đau dây thần kinh thì họ mới ngưng đi gặp Nha Sỹ. Bệnh này tiếng Mỹ gọi là Trigeminal Neuralgia, là chứng bệnh đau dây thần kinh số năm. Dây thần kinh số năm, Trigeminal nerve là một đôi dây thần kinh sọ lớn nhất trong số mười hai đôi dây thần kinh nằm ở não. Nó đi từ não ra khỏi hộp sọ, chạy ra phiá trước lỗ tai rồi mới tới khuôn mặt. Nhiệm vụ của nó là điều khiển việc nhai, cắn, kiểm soát việc tạo ra nước bọt và nước mắt đồng thời chi phối cảm giác trên mặt. Gốc rễ của dây thần kinh số năm nằm ở phiá gần lỗ tai. Từ điểm đó, nó tẻ ra làm 3 nhánh V1, V2 và V3.
Nhánh đầu tiên được gọi là V1, Ophthalmic nerve hay là dây thần kinh mắt là vùng nằm xung quanh mắt gồm cả phần da đầu từ trán lên tới đỉnh đầu, mí mắt trên, sống mũi. Tôi bị đau nhất ở vùng lông mày và xung quanh đỉnh đầu. Nhánh thứ hai là V2, Maxillary nerve là dây thần kinh hàm trên bao gồm vùng từ mí mắt dưới chạy tới gò má, miệng, môi trên, hàm trên lần tới cánh mũi, má, nướu và răng hàm trên. Tôi bị đau nhiều ở vùng cánh mũi bên phải. Nhánh thứ ba được gọi là V3, Mandibular nerve là dây thần kinh hàm dưới gồm có hàm dưới, vùng thái dương, môi dưới, cằm, phần ngoài lỗ tai, má nướu răng hàm dưới, cảm giác hai phần ba dưới lưỡi. Cho tới bây giờ người ta vẫn chưa biết được nguyên nhân gây ra bệnh này. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng sự mất chất bao bọc "myelin", bao gồm chất béo và protein xung quanh dây thần kinh khiến cho bệnh nhân bị đau. Nó xảy ra khi dây thần kinh số năm bị đè bởi một mạch máu nào đó.
Vì đau quá nên tôi phải nghỉ làm từ cuối năm 2016 để ở nhà chữa bệnh. Lúc đó Bác Sỹ gia đình giới thiệu tôi đến gặp Bác Sỹ chuyên khoa thần kinh. Sau khi khám bệnh, ông cho tôi biết là tôi bị bệnh đau dây thần kinh số năm và cho uống thuốc giảm đau. Mới đầu ông cho uống hai viên Carbamazepine 200mg mỗi ngày.
Tuần sau nghe tôi nói còn đau ông cho thêm Gabapentin 300mg uống ba viên mỗi ngày. Vì liều lượng thuốc quá cao khiến tôi choáng váng không lái xe hoặc làm việc gì được. Tôi nói với Bác Sỹ là tôi muốn giảm thuốc. Bác Sỹ nói tôi uống mỗi thứ một viên cũng được. Mỗi ngày tôi uống một viên Carbamazepine, đôi lúc tăng thành hai viên nhưng vẫn không hết đau mà còn bị khó ngủ. Khi nào đau nhiều tôi mới uống thêm một viên Gabapentin.
Những thứ thuốc này làm tôi bị chóng mặt, mắt mờ và trí óc không còn minh mẫn nên cả ngày không làm gì được. Điểm thứ hai là nếu uống lâu ngày sẽ bị lờn thuốc khiến tôi phải tăng thêm liều lượng. Vì thế tôi chỉ uống thuốc cầm chừng và cố gắng chịu đựng những cơn đau. Trong khi uống thuốc thì Bác Sỹ cho tôi chụp MRI để tìm nguyên nhân. Kết quả MRI không thấy gì hết nên ông tiếp tục cho tôi uống thuốc.
Người ta nói thuốc tây là con dao hai lưỡi vì nó có cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Nó có tác dụng chữa bệnh nhưng nếu ai lạm dụng quá mức sẽ gánh những hậu quả không lường trước được. Hiện tại vấn nạn Opioids đang là một đề tài nan giải cho cả nước Mỹ vì tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau tràn lan ở khắp mọi nơi. Nhiều người bị nghiện sau khi dùng thuốc giảm đau để trị bệnh trong một thời gian dài. Bác Sỹ cho tôi uống thuốc giảm đau Hydrocodone-Acetaminophen lúc tôi còn nằm trong bệnh viện. Nhưng khi về nhà là tôi ngưng thuốc này liền vì thấy không còn cần thiết nữa.
Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, United States Department of Health and Human Services thì có khoảng 42,249 người ở Mỹ đã chết vì uống thuốc giảm đau Opioids quá liều trong năm 2016. Do đó khi nào cần thiết lắm tôi mới dùng thuốc tây vì không muốn bị ảnh hưởng bởi tác dụng phụ của thuốc nhất là chất gây nghiện.
Uống thuốc chỉ là cách trị liệu tạm thời. Về hiệu quả lâu dài có nhiều phương pháp khác nhau như dùng tần số vô tuyến để ngăn chặn những tín hiệu truyền sự đau đớn (Percutaneous radiofrequency rhizotomy), bắn tia phóng xạ tới chỗ dây thần kinh bị đau còn được gọi là xạ trị (CyberKnife Radiosurgery). Ngoài ra còn vài phương pháp giải phẫu khác nữa. Những phương pháp đó có tỉ lệ thành công không cao còn để lại nhiều biến chứng. Đó là chưa nói bệnh cũ sẽ tái phát trong khoảng thời gian từ hai đến ba năm.
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân và cách chữa trị trên internet, tôi quyết định chọn phương pháp mổ, Microvascular decompression. MVD là giải phẫu trên đầu phía sau lỗ tai, thông qua kính hiển vi để đặt một miếng đệm giữa mạch máu và dây thần kinh. Phương pháp này là giải pháp tốt nhất vì tỉ lệ thành công của nó tới hơn chín mươi phần trăm. Nó không có nhiều rủi ro như những cách mổ khác vì chỉ có năm phần trăm bệnh nhân bị tê và hai phần trăm bị điếc.
Tôi gọi đến bệnh viện Stanford lấy hẹn để gặp Neurosurgeon sau khi có giấy giới thiệu của Bác Sỹ gia đình. Cô thư ký cho tôi cái hẹn sớm nhất vào tuần tới. Tôi lái xe từ San Jose tới Stanford Neuroscience Health Center ở thành phố Palo Alto thuộc miền Bắc California bằng freeway 101 North. Sau khi exit đường Embarcadero, chạy đến cuối đường đổi thành Galvez thì quẹo phải liền đường Arboretum. Tới đây thì tôi đã vào khuôn viên rộng lớn của trường đại học Stanford. Chạy đến đường Quarry thì tôi quẹo phải là đến nơi.
Tôi nói với cô thư ký ở quầy tiếp tân là hôm nay tôi có hẹn thì cô in ra cho tôi cái patient pass rồi chỉ về hướng thang máy. Sau khi thang máy đưa tôi lên tới lầu ba, tôi scan barcode của patient pass dưới cái TV lớn. Màn ảnh trên TV hiện lên ngày giờ tôi gặp Bác Sỹ Steven Daniel Chang tại khoa giải phẫu thần kinh.
Ngồi chờ một lúc tôi được cô Y Tá gọi tên để vào phòng khám. Sau khi đo huyết áp và thân nhiệt, Cô Y Tá hỏi về bệnh tình của tôi để ghi vào hồ sơ.
Một lúc sau, Bác Sỹ Steven bước vào phòng khám. Ông hỏi tôi về triệu chứng của căn bệnh và những loại thuốc mà tôi đang uống. Sau khi nói chuyện với tôi một hồi, ông kết luận là tôi bị đau dây thần kinh số năm loại TN1. Ông nói chỉ có MVD là cách chữa trị hiệu quả nhất vì tôi sẽ hết đau sau khi mổ. Tôi nói với ông là tôi bị bệnh này đã hai mươi năm rồi, hiện giờ rất đau nên tôi muốn ông mổ gấp cho tôi. Nghe tôi nói xong thì ông nói sẽ trở lại trong vòng mười phút đồng thời ông bước ra ngoài hướng về phía hành lang bên trái.
Khi Bác Sỹ trở lại ông nói thứ Hai tới ông sẽ mổ cho tôi. Sau đó thì cô Y Tá đến gặp tôi để đưa giấy tờ cho tôi ký và dặn dò đủ thứ. Xong xuôi, tôi đi thử máu và làm hẹn chụp MRI tại bệnh viện Stanford trước ngày mổ. Bác Sỹ Steven giới thiệu cô Vee Vo với tôi để xem tôi có cần giúp đỡ gì không? Cô Vee Vo hiện thời là Program Manager of Neurosurgery Department. Cô cho tôi biết là họ làm việc theo nhóm để phục vụ bệnh nhân một cách hoàn hảo nhất. Tôi không biết bệnh viện Stanford có một cô giám đốc người Việt trẻ đẹp và giỏi giang như vậy.
Trước ngày mổ, Bác Sỹ còn cho tôi gặp một bệnh nhân được ông mổ cách đây một tháng. Chú Cường khoe tôi tấm hình chụp ông đứng cạnh giường bệnh. Chú chỉ cho tôi thấy một vết sẹo đã lành dài chừng năm phân tây chạy dọc phía sau lỗ tai bên trái của chú. Chú nói là sau khi mổ một ngày thì chú ra khách sạn ở. Một tuần sau chú trở lại bệnh viện để cô Y Tá lấy staples ra.
Hôm nay chú Cường trở lại để gặp Bác Sỹ Steven khám bệnh lần cuối. Chú đi cùng với một Bác Sỹ quen biết ở San Jose. Chú trấn an tôi là đừng có sợ cái gì hết, mổ rồi sẽ hết bệnh không có sao đâu. Vì đây là lần đầu tiên đi mổ nhất là mổ trên đầu nữa nên trong lòng tôi hơi đánh loto.
Mà không có sao thiệt vì tôi gặp chú Cường này đã bảy mươi lăm tuổi rồi mà trông chú rất khỏe mạnh không có vẻ bệnh hoạn gì cả. Tôi mới đem bệnh tình của mình ra kể cũng như hỏi thăm chú về vết mổ. Lúc đó chú Cường mới hỏi tôi qua Mỹ được bao lâu rồi? Tôi trả lời với chú rằng tôi đi vượt biên tới Mỹ được ba mươi ba năm rồi. Chú nói đi vượt biên mà không chết thì mổ cái này không có chết đâu!
Chú Cường nói đúng quá. Có lẽ tôi "chicken" thiệt! Vì bẳng đi mấy tuần nghe tôi nói đi mổ mà vẫn chưa mổ xong thì chú Hùng, một người quen lâu năm của tôi nói đi mổ đi đừng có lo quá! Thế là tôi vội vàng làm hẹn để mổ sau khi đã trì hoãn hơn hai tuần. Trò chuyện một hồi thì chú Cường chia tay tôi để ra về cho kịp chuyến bay trở lại Los Angeles.
Bất cứ lúc nào tôi thắc mắc hoặc có câu hỏi gì liên quan tới bệnh của mình, tôi điều liên lạc với bệnh viện bằng điện thoại hoặc message qua MyHealth account của Stanford. Sau khi Y Tá nhận được message của tôi điều trả lời nhanh chóng nhất là message trong MyHealth account.
Bệnh viện Stanford là một trong mười bệnh viện điều trị ung thư tốt nhất thế giới. Stanford có nhiều chuyên khoa khác nhau như giải phẫu thần kinh, cấy ghép bộ phận cơ thể, thuốc tim mạch, chẩn đoán và chữa trị các bệnh ung thư. Bệnh viện đóng một vài trò khá quan trọng trong việc giảng dạy và nghiên cứu về y khoa. Nó cũng là nơi dành cho các sinh viên y khoa và nghiên cứu sinh đến để thực tập. Ngoài đội ngũ Bác Sỹ và Y Tá chuyên nghiệp thì bệnh viện còn xử dụng các loại dụng cụ y khoa thuộc vào loại tối tân nhất thế giới.
Vào cuối tháng giêng năm 2018, trường Đại Học Y Khoa Stanford công bố là họ đã phát mình ra một loại thuốc chích để trị bệnh ung thư. Bác Sỹ Ronald Levy là giáo sư đồng thời cũng là tác giả của công trình nghiên cứu này, nói rằng họ đã thử nghiệm thành công thuốc này trên loài chuột. Khoảng 87 trên 90 con chuột đã hết bệnh ung thư sau khi được chích hai mũi thuốc trong đợt đầu tiên.
Các thử nghiệm đang được tiến hành với mười lăm bệnh nhân mới bị ung thư bạch huyết 'Lymphoma'. Nếu việc thử nghiệm này thành công trên con người thì từ nay người ta không cần làm xạ trị hay hoá trị nữa. Người bệnh chỉ cần chích vài mũi thuốc là có thể hết bệnh ung thư.
Hy vọng trường đại học Stanford có thêm nhiều khám phá mới để giúp cho nhân loại bớt đi những căn bệnh hiểm nghèo. Có thể trong một thời gian không xa, con người sẽ hết bệnh ung thư sau khi được chích loại thuốc này.
Không biết quý vị có biết câu chuyện về bé Thiên Ân hay chưa? Nhờ đọc những bài phóng sự của phóng viên Ngọc Lan trên báo Người Việt Online nên tôi mới biết đến anh Cường Lê và hội "Kết Nối Việt". Do sự giúp đỡ của anh Cường Lê mà bé Thiên Ân được hãng bào chế thuốc Roche của Thụy Sỹ nhận vào chương trình thử thuốc của họ tại Bệnh Viện Nhi Khoa Stanford. Chương trình này sẽ thử nghiệm một loại thuốc mới để chữa trị các tế bào thần kinh ở cột sống bị tê liệt, Spinal Muscular Atrophy Type 1. Nếu sự tê liệt này xảy ra thì con người không thể tự mình điều khiển những chuyển động của cơ thể.
Đến tháng 3 năm 2018 cũng nhờ vào sự giúp đỡ của anh Cường Lê và hội "Kết Nối Việt", người Việt chúng ta lại có thêm một em bé thứ hai là Gia Linh được hãng bào chế Roche nhận vào chương trình thử thuốc Firefish tại Bệnh Viện Nhi Khoa ở Genova, Italy. Sau khi quý vị đọc những bài viết của phóng viên Ngọc Lan theo những cái link nằm ở cuối bài thì quý độc giả sẽ biết rõ hơn.
Khoảng tháng 10 năm 2017, tôi mang xe tới tiệm sửa xe để thay nhớt thì tình cờ gặp được chú Sơn cũng đi thay nhớt xe với bạn của chú. Sau một hồi lắng nghe tâm sự của tôi kể về chứng bệnh của mình thì chú nói là chú cũng bị đau dây thần kinh ở trên trán, nhưng nay đã khỏi rồi. Chú nói rằng chú bị bệnh này từ lúc chú còn ở Saigon. Lúc đó chú rất đau và không tập trung làm việc gì được. Sau khi đã chữa chạy khắp nơi ở Saigon mà không khỏi thì chú được Bác Sỹ của chú giới thiệu đi Singapore để mổ. Bác Sỹ ở Singapore nói rằng khả năng hết bệnh sau khi mổ chỉ là năm phần trăm. Nhưng vì chú Sơn muốn mình hết bệnh nên đã bằng lòng cho Bác Sỹ mổ. Sau khi Bác Sỹ cắt vài mạch máu đè lên dây thần kinh thì chú hết bệnh vào cuối năm 1998.
Ngày thứ hai 9 tháng 4 năm 2018, sau khi nằm lên giường thì tôi được đẩy vào phòng mổ ngay lập tức. Kể từ lúc đó thì tôi không còn biết gì. Đến khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm trong phòng ICU. Vì chưa có phòng trống nên tôi phải nán lại ở ICU hơn một tiếng đồng hồ. Họ chuyển tôi tới phòng dành cho bệnh nhân được khoảng hai tiếng thì bà xã tôi được vào thăm. Tôi rất mừng vì mình vừa trải qua được ca mổ thành công mặc dầu tôi cảm thấy rất đau ở vùng lỗ tai bên phải.
Cứ mỗi sáu tiếng tôi được các cô Y Tá ghé qua giường bệnh để đo huyết áp và đưa thuốc cho tôi uống. Ngày hôm sau tôi tập đi bằng xe đẩy có bốn bánh xe nhưng vì còn yếu nên cô Joti phải đi theo để trông chừng. Mỗi ngày tôi được ăn ba bữa với thực đơn rất phong phú gồm nhiều món ăn khác nhau tha hồ mà chọn món mình thích. Vì vậy tôi ăn rất ngon miệng chả khác gì ở nhà hàng bên ngoài. Ngoài ra tôi còn được xem movie trên cái TV treo ở trước mặt.
Cô Y Tá nào cũng có một cái smartphone để text với nhau trong lúc làm việc thay vì nói chuyện ồn ào trên phone. Người nào cũng tận tâm, chu đáo và vui vẻ, nhất là cô Y Tá Laurie lúc nào cũng có nụ cười trên môi. Tôi thích trò chuyện với cô Laurie vì những câu nói dí dỏm và sự nhiệt tình của cô đối với bệnh nhân. Các cô Y Tá Ann Pan, Rita và Carol thì lúc nào cũng nhẹ nhàng và tỉ mỉ. Ngày nào cũng có các vị Bác Sỹ tham dự vào ca mổ của tôi đến thăm.
Mặc dầu chỉ ở có hai ngày nhưng tôi cảm nhận được sự thăm hỏi tận tình cũng như chăm sóc chu đáo của các Bác Sỹ và Y Tá. Nằm bệnh viện được hai ngày thì tôi được Bác Sỹ báo là ngày mai sẽ được xuất viện. Hôm sau bà xã đón tôi về nhà mà tôi tưởng mình xa nhà đã lâu.
Nhân đây tôi muốn gởi lời cảm ơn đến bà xã của mình là Thu Vân. Nàng đã không ngại vất vả và cực nhọc để chăm sóc tôi trong thời gian tôi bị bệnh. Nhiều lúc tôi thấy nàng ngủ gật trên giường bệnh của mình mà nước mắt tôi cứ trào ra mãi. Xin cảm ơn em rất nhiều, Thu Vân của anh!
Người thứ hai mà tôi muốn cám ơn là chị Ngọc Cầm của tôi. Có lẽ tôi không thể nào vượt qua được nỗi đau đớn về thể xác cũng như tinh thần nếu như không có sự giúp đỡ, an ủi và khuyến khích của chị. Nhất là lúc tôi cần một người thân bên cạnh thì chị ấy xuất hiện như là vị cứu tinh của tôi. Em xin cảm ơn chị rất nhiều vì chị đã giúp em vượt qua được nỗi khó khăn này.
*
Sau cùng, sức khỏe là cái mà tất cả mọi người chúng ta ai cũng mong ước. Vì nếu người ta có sức khỏe thì họ mới có cơ hội đạt được những gì mà mình mong muốn. Nếu ai có mắc bệnh này thì đừng có nản lòng mà phải kiên trì tìm nơi chữa trị cho mình. Chẳng hạn như lúc đầu tôi rất bi quan về bệnh tình của mình vì nghĩ rằng không có cách gì để trị hết bệnh. Nhưng sau khi tìm hiểu về căn bệnh này trên internet, tôi tìm được nơi trị bệnh là bệnh viện Stanford. Tôi xin cảm ơn Bác Sỹ Steven cùng các cộng sự của ông đã chữa cho tôi hết bệnh. Nhờ vậy mà tôi có lại cuộc sống của mình.
-
01-21-2024, 01:49 AM #62Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
Cẩn Thận Với Thuốc Thiên Nhiên
Bs Nguyễn Thượng Chánh
Dược sĩ Nguyễn Ngọc Lan
Lời tác giả: Bài viết nầy chỉ là những thông tin khoa học tổng quát mà thôi, chớ không có tính cách để chữa bệnh. Mọi thắc mắc hay nghi vấn liên quan đến thuốc thiên nhiên trong trị liệu, xin quý bạn đọc hãy tham khảo trực tiếp với bác sĩ gia đình của mình trước khi sử dụng... (NNL & NTC)
Ngày nay, phong trào dùng thuốc thiên nhiên đang bành trướng mạnh mẽ ở khắp mọi nơi.
Phải chăng đây là khuynh hướng trở về nguồn của con người?
Tại Canada, thăm dò Ipsos Reid 2010 cho biết trên 72% dân chúng sử dụng thuốc thiên nhiên (herbal medicines, produits naturels). Đây là những loại thuốc được làm từ thực vật, cây cỏ, từ các phần của động vật, côn trùng hoặc từ các loại khoáng chất, v.v...
* * *
Thuốc thiên nhiên thường được sử dụng để bồi dưỡng sức khỏe, lọc thận, bổ gan, tẩy độc, tạo thêm sinh lực, trợ dương, tăng sức miễn dịch, phòng trị các bệnh thông thường như ho hen cảm cúm, viêm sưng đau nhức khớp xương hoặc để giúp làm tăng hay giảm cân.
Đối với người Việt Nam chúng ta, hiện tượng này không có gì là mới lạ hết... Ngày xưa ở quê nhà, chúng ta cũng đã từng dùng thuốc thiên nhiên rồi. Đó là thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Ta hay còn gọi là thuốc "Vườn"... Sau 75, danh từ thuốc Dân tộc đã được dùng để chỉ những loại thuốc được sản xuất và bào chế từ cây cỏ ở Việt Nam.
Thuốc thiên nhiên tại Canada được qui định và chi phối bởi luật Loi et Règlements sur les Aliments et Drogues của Bộ Y Tế Santé Canada. Phần lớn được xếp vào trong nhóm thực phẩm bổ sung (supplément alimentaire) và có thể mua dễ dàng không cần toa bác sĩ trong các pharmacies, trong các tiệm Produits naturels cũng như trong các Health food stores hay trong các chợ hoặc qua ngõ bưu điện, Internet…
Qua bài nầy, tác giả không có chủ tâm đánh giá thuốc thiên nhiên hay thuốc Tây.
Thuốc nào cũng có cái hay cái dở, cái mạnh cái yếu của nó hết.
Một nhận định sai lầm
Thường tình, ai cũng nghĩ rằng hễ thiên nhiên là vô hại.
Các nhà khoa học Tây Phương đã cho biết là có một số thuốc thiên nhiên kể cả các loại vitamines, nếu dùng không đúng cách vẫn có thể gây hại đến cho sức khỏe...
Một vài loại thuốc có thể che lấp một cách tạm thời sự diễn biến thật sự của bệnh trạng và làm sai lạc kết quả các tests trong phòng thí nghiệm. Chúng cũng có thể làm gia tăng tác dụng của thuốc Tây đến độ gây nguy hiểm cho bệnh nhân.
Đôi khi thuốc thiên nhiên cũng có thể hóa giải hay làm giảm hoặc làm mất tác dụng của một vài loại thuốc Tây nào đó nếu được dùng chung với nhau.
Tóm lại, tất cả các phản ứng bất lợi vừa nêu trên đều do sự tương tác (interaction) giữa các thứ thuốc dùng chung với nhau, gây ra mà thôi.
Một số thuốc thiên nhiên thông dụng tại hải ngoại
*/ Nữ lang hay Valériane (Valeriana officinalis, Valerian, Herbe aux chats, Herbe de St George)
Giúp an thần, giảm lo âu bức rức, giảm stress, giảm suy nhược tinh thần, động kinh, giúp tập trung tư tưởng và ngủ ngon...
Không nên sử dụng chung với các loại thuốc ngủ hay thuốc an thần (sédatifs) như barbituriques, benzodiazepines (Valium, Librium, Ativan).
Cũng không nên uống chung với các thuốc thiên nhiên có tính an thần như Camomille, Kava và Millepertuis vì tính an thần sẽ bị gia tăng lên gấp bội và bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái mê man.
Cùng một lý do vừa nêu, không nên uống Valériane chung với rượu vì sẽ làm tăng tác dụng của alcool.
Cũng như không nên uống chung cùng một lúc với thuốc trị bệnh mất ngủ vì nó sẽ làm tăng tác dụng của thuốc nầy.
*/ Kava-Kava (Piper methysticum, Tonga, Awa)
Trị lo âu, an thần...
Không nên sử dụng chung với các loại thuốc barbituriques cũng như benzodiazepines, các loại thuốc trị suy nhược tinh thần và thuốc trị bệnh Parkinson.
Kava có ảnh hưởng không tốt đối với các loại thuốc gây mê vì nó có thể làm gia tăng tác dụng của thuốc mê Halothane, rất nguy hiểm khi giải phẫu.
Và không nên uống rượu lúc sử dụng thuốc Kava.
*/ Cúc dại hay Echinacée (Echinacea sp, Cone flower, Hedgehog, Indian Head)
Trị cảm cúm, cảm nhiễm đường hô hấp, tăng cường sức miễn dịch...
Không sử dụng Echinacée nếu đang xài các loại thuốc làm giảm sức miễn dịch (immunosuppresseur) thí dụ như đang dùng thuốc Cyclosporine sau khi được giải phẫu ghép bộ phận.
Cúc dại kỵ các loại thuốc corticostéroides (Prednisone, Decadron), các stéroides anabolisants (Winstrol), amiodarone (Cordarone), methotrexate (Rheumatrex) và ketocomazol (Nizoral).
Phụ nữ đang mang thai không nên xài Echinacée.
Những người nào đang mắc bệnh lao, hoặc các bệnh thuộc tự miễn (auto immune disease) như rheumathoid arthritis, systemic lupus erythomatosus cũng không nên hạn chế sử dụng Echinacée. Chỉ nên uống trong vòng từ 7 đến 14 ngày mà thôi, không nên uống liên tục trong 8 tuần lễ.
*/ Tỏi (Allium sativum, Garlic, Nectar of the Gods, Ail)
Trị cảm cúm, tiêu chảy, giúp làm giảm đường lượng trong máu, giảm cholestérol, giảm áp huyết, ngăn ngừa tình trạng xơ cứng động mạch, ngừa các bệnh thuộc về tim, bổ gan và tăng cường sức miễn dịch…
Thuốc tỏi có khuynh hướng làm loãng máu. Không nên xài thuốc tỏi cùng lúc với các thuốc kháng đông (anticoagulant) như warfarin (Coumadin) hoặc với các thuốc có tính chống kết tụ tiểu cầu (antiplaquettaire) như Aspirine vì có nhiều nguy cơ bị xuất huyết.
Đối với các thuốc trị bệnh tiểu đường thường được gọi là thuốc giảm đường lượng (hypoglycémiant), cũng không nên dùng chung với thuốc tỏi để tránh tình trạng đường huyết bị kéo xuống quá thấp.
*/ Gừng (Zingiber officinale, Gingembre, Ginger)
Dùng trong trường hợp muốn nôn mửa, say sóng (motion sickness) và ăn không ngon, mất đói...
Gừng kéo dài thời gian chảy máu. Tránh dùng gừng chung với các loại thuốc làm loãng máu như Aspirine, Coumadin... Lạm dụng gừng có thể ảnh hưởng đến các thuốc trị bệnh tim và thuốc trị tiểu đường.
*/ Camomille hay Cúc La Mã (Tanacetum parthenium, Feverfew, Wild Chamomile)
Trị tinh thần căng thẳng, nhức đầu, phong thấp, dị ứng, chóng mặt, đau bụng lúc hành kinh...
Một khảo cứu Nhật Bản đăng trong Journal of Agricultural and Food Chemistry 2008, cho biết uống trà Camomille rất tốt vì nó giúp ức chế tác dụng của 2 chất Sorbitol và enzym ALR2, chính nồng độ cao của 2 chất nầy trong máu đã dự phần trong việc gây biến chứng của bệnh diabètes type II.
Không nên uống chung với thuốc chống đau nhức làm loãng máu thuộc nhóm anti-inflammatoire non stéroidien như Tylénol, Aspirine, Ibuprofene (Advil, Motrin), Celebrex.
Cũng không nên uống Camomille chung với thuốc kháng đông anticoagulant như Coumadin vì sẽ dễ gây xuất huyết...
Camomille có chứa chất chát tannin có thể ngăn trở việc hấp thụ chất sắt Fe.
Phụ nữ đang mang thai nên tránh dùng Camomille vì có thể làm tử cung co thắt.
*/ Millepertuis hay St John's Wort (Hypericum perforatum, Goatweed, Herbe de St Jean)
Trị suy nhược tinh thần nhẹ, lo âu, mệt mỏi, ăn không biết ngon, mất ngủ và đau nhức các bắp cơ, tăng sinh lực, giúp ổn định tâm tánh trong thời gian tiền kinh nguyệt...
Uống chung với các thuốc trị sida như thuốc Indinavir vì sẽ làm giảm tác dụng của loại thuốc diệt siêu vi nầy.
Millepertuis cũng ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc trị kinh phong (antiépileptique), thuốc ngừa thai, thuốc làm giảm sức miễn dịch, thuốc chống suy nhược tinh thần (Prozac, Paxil), thuốc chống kết tụ tiểu cầu, thuốc kháng đông (Coumadin), thuốc ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép (Cyclosporine), thuốc chống siêu vi agents antirétroviraux (Invirase), thuốc trị bệnh tim digoxine (Lanoxin) và Théophylline.
*/ Bạch quả (Ginkgo biloba, Yinhsing, Fossil tree, Kew tree, Maiden hair tree)
Giúp máu lưu thông được dễ dàng, trị viêm phế quản, xơ cứng động mạch, cholestérol cao, bồi dưỡng trí nhớ, giảm triệu chứng bệnh Alzheimer, cải thiện tình trạng chóng mặt, giúp gan và túi mật hoạt động tốt...
Có thể làm xuất huyết nếu xài chung với thuốc kháng đông hoặc thuốc làm máu loãng như Aspirine, vitamin E, Plavix, Persantine và Ticlid. Tạp chí New England Journal of Medicine có đề cập đến một ca xuất huyết trong mắt sau khi bệnh nhân đã thường xuyên uống Ginkgo biloba và Aspirin trong một thời gian dài.
Tránh xài Ginkgo biloba lúc mang thai và lúc cho con bú.
*/ Nhân Sâm (Panax ginseng)
An thần, giảm stress, bồi dưỡng sinh lực, tăng sức miễn dịch, giảm đường máu, giảm cholestérol và trợ dương...
Dùng Ginseng chung với thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết.
Với thuốc trị suy nhược tinh thần phenelzine (Nardil) sẽ gây nhức đầu, run rẩy.
Với thuốc trị bệnh tim digoxine (Lanoxin) sẽ làm khó đo lường hiệu quả và tác dụng của món thuốc nầy.
Cũng không nên uống Ginseng nếu đang trị liệu bằng các thuốc tâm thần (antipsychotiques) và thuốc trị suy nhược tinh thần hay trầm cảm (antidepresseurs).
Nếu đang dùng thuốc trị bệnh tiểu đường (Diabeta, Diamicron) thì cũng không nên dùng Ginseng cùng một lúc vì đường lượng có thể bị kéo xuống quá nhanh...
Lạm dụng Ginseng sẽ có nguy cơ làm tăng áp huyết, bồn chồn, mất ngủ, bị tiêu chảy hoặc da nổi đỏ.
*/ Cây Ma hoàng hay Ephedra/Ephédrine (Ephedra sinica, Ma Huang-Sea Grape, Yellow Horse, Desert Herb)
Trị suyễn, tăng sinh lực và để giúp làm giảm cân...
Có thể dẫn đến những phản ứng bất lợi như ngạt thở, áp huyết tăng cao gây hại cho tim.
Sử dụng cùng lúc với thuốc thông mũi (décongestants) có chứa chất Ephédrine như Dristan, Sinutab, Sudafed, Actifed hoặc với các thuốc có caffein thì bệnh nhân có thể sẽ bị co giật hay hôn mê hoặc bị đột quỵ tim.
Không nên uống Ephedra khi mang thai hay khi cho con bú cũng như khi có bệnh tiểu đường, bệnh tăng nhãn áp (glaucome) hoặc đang bị chứng cường giáp trạng (hyperthyroidisme).
*/ Sulfate de Glucosamine
Trị đau nhức do thoái hóa khớp (arthrose), bảo vệ sụn khớp...
Có người cho rằng Glucosamine có tính làm tăng đường máu?
Nếu dùng chung với thuốc Insuline có thể sẽ làm giảm tác dụng của thuốc nầy. Vấn đề trên cũng còn trong vòng tranh cãi giữa các nhà khoa học.
Nên ngưng uống Glucosamine một tuần trước ngày đi thử máu để việc đo đường lượng được chính xác hơn.
Không xài Glucosamine đồng thời với thuốc kháng đông warfarin (Coumadin).
Người nào thường hay bị dị ứng với đồ biển thì cũng nên cẩn thận khi uống Glucosamine có hoặc không có phối hợp với Chondroitine, vì cả hai chất nầy đều có nguồn gốc từ cá mập.
*/ Dong Quai (Angelica sinensis, Ginseng pour femme)
Trị mất ngủ, điều kinh, trị đau bụng và giúp giảm thiểu các triệu chứng bất lợi của thời kỳ mãn kinh...
Không nên dùng Dong Quai lúc đang mang thai, hoặc lúc có kinh nguyệt quá nhiều.
Những người đang bị bệnh tiểu đường cần thận trọng vì Dong Quai có thể làm tăng đường huyết.
Với liều lượng cao, Dong Quai làm tăng nhịp tim và làm tăng áp huyết.
*/ Cam thảo (Réglisse, Glycyrrhiza glabra, Licorice, Sweetwood)
Trị bệnh đau dạ dầy, loét bao tử, loét miệng, ho hen, phong thấp...
Dùng cùng lúc với các thuốc lợi tiểu (diurétiques) có thể làm giảm chất potassium K trong máu. Không nên uống cùng một lượt với thuốc trị bệnh tim như Lanoxin hoặc với các thuốc làm hạ áp huyết.
Tránh dùng Réglisse khi có thai, bị tiểu đường, yếu gan, yếu thận hoặc đang mắc các bệnh chứng về tim mạch hay áp huyết cao.
*/ Cây cọ lùn hay Saw Palmetto (Serenoa repens, Cabbage Palm, Sabal, Dwarf Palm, Palmier Nain)
Có tính lợi tiểu.
Dùng để trị các bệnh thuộc đường tiết niệu cũng như trong truờng hợp tiền liệt tuyến bị triển dưỡng (benign prostatic hypertrophy)...
Phản ứng phụ của thuốc là có thể làm giảm sự ham muốn tình dục và gây nhức đầu.
Nó cũng có thể làm thay đổi tác dụng của các thuốc ngừa thai và của các hormones trị liệu khác. Không nên dùng Saw Palmetto lúc mang thai hoặc trong thời gian cho con bú.
*/ Hawthorn (Crataegus oxycantha, Aubépine, Mayflower, Maybrush)
Trị hồi hộp, tim đập nhanh, lo âu mất ngủ, giảm các cơn đau thắt ngực bằng cách giảm áp huyết động mạch và giảm cholestérol trong máu...
Không nên uống cùng một lúc với các loại thuốc trị bệnh tim như digoxine (Lanoxin) vì nhịp tim có thể bị giảm nhiều.
*/ Hà thủ ô (Polygonum multiflorum, Radix Polygoni multiflori, Chineese knotweed, Flowery knotweed, Ho shou wu, He shou wu, Zi shou wu, Shou Wu Pian, Fo ti)
Rất phổ biến ở Việt Nam và Bắc Mỹ. Theo Đông y, Hà thủ ô dùng để bồi dưỡng sức khỏe, bổ gan-thận-huyết, bổ xương, trợ dương, và còn giữ cho râu tóc lâu bạc…
Nhưng theo cơ quan y tế của Anh Quốc Medecine & Health Care Products Regulatory Agency cho biết, thì có nhiều khảo cứu nói đến tác dụng độc hại của Hà thủ ô đối với gan như làm vàng da, vàng mắt, nước tiểu sậm màu, ói mửa, đau bụng, biếng ăn và làm cho yếu sức (Batinelli et al 2004, New case of acute hepatitis following consumption of Shou Wu Pian, Ann Inter Med140:E589. Park GJ et al,Acute hepatitis induced by Shou Wu Pian.
*/ Nha Đam hay Lô Hội (Aloe vera)
Có tính nhuận trường.
Loại uống để trị viêm, sốt, tiểu đường, hen suyễn, dị ứng.
Loại thoa ngoài da để trị phỏng, làm lành vết thương.
Có khuynh hướng làm giảm chất potassium K trong máu (hypokaliémie). Cẩn thận với những thuốc làm hạ potassium chẳng hạn nhóm digoxine (Lanoxin), cũng như những thuốc lợi tiểu nhóm chlorothiazide (Diuril), furosemide (Lasix), vân vân vì sẽ làm trầm trọng hơn sự sụt mất potassium.
*/ Nước bưởi (Jus de pamplemousse, grapefruit juice)
Món giải khát bổ dưỡng chứa nhiều sinh tố...
Có thể tương tác với một số thuốc Tây rất nguy hiểm.
Nước bưởi (grapefruit juice), cũng như bưởi trái có thể làm gia tăng gấp bội mức độ hấp thụ của một số thuốc vào trong máu, đồng thời cũng kéo theo những tác dụng phụ bất lợi nguy hiểm. Cam và chanh không thấy có ảnh hưởng nầy.
Vài thí dụ về sự tương tác giữa nước bưởi và một số thuốc Tây như sau:
- thuốc trị cao áp huyết: felodipine (Plendil), nifedipine (Adalat), nimodipine (Nimotop);
- thuốc làm giảm cholestérol: simvastatin (Zocor), lovastatin (Mevacor), atorvastatin (Lipitor);
- thuốc làm giảm sức miễn nhiễm dùng trong những ca ghép bộ phận: cyclosporine (Neoral);
- thuốc trị lo âu, mất ngủ, suy nhược tinh thần: diazepam (Valium), triazolam (Halcion), carbamazepine (Tegretol), trazodone (Desyrel), clomipramine (Anafranil);
- thuốc trị dị ứng: astremizole (Hismanal);
- thuốc trị sida: saquinavir (Fortovase)...
*/ Nấm linh chi (Ganoderma lucidum, reishi, ling zhi, mannontake)
Giúp tăng sức miễn dịch, giảm huyết áp, giảm cholestérol, bổ thận, bổ gan, ngừa cancer, mất ngủ...
Tương tác với các thuốc thiên nhiên có tính kháng đông hoặc làm loãng máu (panax ginseng, bạch quả, capsicum, camomile, celery, cam thảo, gừng, củ hành, tỏi...) vì có thể làm dễ chảy máu hơn và làm tuột huyết áp.
Sử dụng chung với các thuốc Tây có tính gây loãng máu hoặc chống kết tụ tiểu cầu (antiplaquettaire) như Aspirin, Voltaren, Ibuprofen, Advil, Motrin, Naproxen, Heparin, Warfarin hay Coumadin: nấm linh chi sẽ làm gia tăng tác dụng kháng đông và làm xuất huyết nhiều hơn.
Còn đối với các thuốc giảm huyết áp như Catopril, Enalapril, Diltiazem, Amlodipine: nấm linh chi làm huyết áp tuột giảm nhanh hơn.
*/ Kim tảo thảo hay Cúc gai hoặc Milk Thistle (Silibum marianum, Chardon Marie)
Tính bổ gan, ngừa xơ gan, viêm gan mãn tính, trị ăn mất ngon, cancer tiền liệt tuyến, tiểu đường, trầm cảm...
Trên lý thuyết có thể ức chế enzyme Cytochrome P450 2C9 substrates làm tăng nồng độ các thuốc amitriptyline (Elavil), warfarin (Coumadin), diazepam (Valium)) và cũng làm ức chế enzyme nhóm Cytochrome P450 3A4 substrates (tăng nồng độ Indavir thuốc trị Sida).
*/ Quả Nụ, Garcinia Cambogia (Garcinia gummi-gutta, Mangostana cambogia…)
Thực vật cùng họ với cây măng cụt
Uống để giảm béo phì, xổ lải, kiết lỵ…
Không nên sử dụng trên 12 tuần lễ. Tránh dùng nếu đang mang thai hay đang cho con bú. Tại Thái Lan, quả nụ dược sử dụng trong ẩm thực, lúc nấu cà-ri.
Chiết xuất phần trái có chứa 50% hydroxycitrate acid (HCA).Chính hoạt chất nầy ngăn cản việc tạo lập chất béo (lipogenesis).
*/ Sâm Ấn Độ Ashwagandha (Withania sommifera còn gọi là Ajagandha, Amangura)
Tính bổ dưỡng, cải thiện khả năng sinh lý, khôi phục sức khỏe sau thời gian bị bệnh, tăng cường sinh lực, cải lão hoàn đồng, chống stress, trầm cảm và lo âu. Có quảng cáo còn cho biết Ashwagandha được dùng để trị tiểu đường và cancer...
Rất thông dụng tại Ấn Độ.
Tuy không nằm trong ginseng nhưng công dụng trị liệu cũng tương tợ, nên người ta còn gọi Ashwagandha là Indian ginseng. Dây cũng là một adaptogen nghĩa là một loại thảo mộc có tính năng động củng cố sức khoẻ toàn diện.
Ở liều lượng cao có thể gây rối loạn tiêu hóa, nôn mửa và gây xảo thai.
Có thể làm tăng tác dụng của các loại thuốc thuộc nhóm benzodiazepine và CNS depressant như barbiturate. Vậy chúng ta nên cẩn thận.
Ashwagandha xài chung với các thuốc thyroid hormones sẽ làm tăng tác dụng của thuốc nầy.
*/ Rau đắng biển (?) Bacopa (Bacopa monnieri còn gọi là Brahmi jalamimba)
Bổ thần kinh, chống co giật epilepsy, bồi dưỡng trí não, trị lo âu. Alzheimer, hen suyễn, phong thấp, đau lưng, lợi tiểu, bổ tim, sex…
Thông dụng bên Ấn Độ.
*/ Trà xanh (Green tea, Camellia sinensis)
Trị đủ thứ bệnh, ngừa cancer (?)
Chứa nhiều anti-oxidants.
Tương tác với các thuốc kháng đông và thuốc chống kết tụ tiểu cầu đưa đến nguy cơ làm gia tăng sự xuất huyết.
Làm giảm hấp thụ chất sắt non heme có nhiều trong thực phẩm thực vật.
Sữa làm giảm tác dụng anti-oxidant của trà xanh.
*/ Nghệ (Curcuma longa còn gọi là turmeric, curcuma, curcumen, Indian saffron)
Hoạt chất của nghệ là curcumin (diferuloymethane), một sắc tố màu vàng có tác dụng kháng viêm, ngăn chặn sự sinh sản tế bào ung thư bằng cách ức chế sự phát triển mạch máu đến nuôi ung thư (angiogenesis)…
Nghệ làm lành vết thương.
Nghệ có tính chống kết tụ máu (antithrombotic) và có chứa nhiều chất anti-oxidants.
Không dùng chung nghệ với các thuốc thiên nhiên có tính làm chảy máu thí dụ như dong quai, tỏi, bạch quả, panax ginseng, cam thảo, củ hành, camomille, vân vân.
Thực phẩm thiên nhiên cho rằng nghệ trị bá bệnh như đau bụng, sình hơi, chậm tiêu, tiêu chảy, vàng da và kể luôn cả cancer.
Ngoài ra, nghệ cũng được dùng làm gia vị trong ẩm thực và là một thành phần trong bột cà-ri.
Không sử dụng nghệ nếu đang uống các loại thuốc kháng đông hoặc chống kết tụ tiểu cầu như Aspirin, clopidogrel (Plavix), Heparin, warfarin (Coumadin)...
Thí nghiệm cho biết loại nghệ rừng Curcuma aromatica (wild curcuma) có tính làm tế bào cancer ruột tự hủy (apoptosis)
*/ Riềng (Alpinia officinarum, catarrh root, China root, chinese ginger, gao liang, India root, gargaut)
Dùng như một chất kích thích, sát khuẩn, bụng đầy hơi, chống viêm sưng, trị sốt nóng...
Có tính làm tăng acid trong bao tử.
FDA liệt kê riềng vào nhóm generally recognized as safe (GRAS).
Hoạt chất chính của riềng là gingerols và diaryhetanoids.
Tránh dùng riềng khi sử dụng các thuốc đau bao tử như cimétidine (Tagamet), ranitidine (Zantac), famotidine (Pepcid), Pepto-Bismol, Gaviscon…
*/ Rau má (Centella asiatica, Hydrocotyle asiatica, Gotu kola...)
Tăng trí nhớ, ngừa mệt mỏi, viêm nhiễm đường tiểu, viêm thấp khớp, đau bao tử, kinh phong, giúp vết thương mau lành...
Với liều lượng cao có thể làm tăng huyết áp, tăng glucose, tăng triglyceride, tăng cholestérol và làm lừ đừ (drowsiness), gây độc cho gan (hepatotoxicity).
Làm tăng tác dụng an thần (sedative) và buồn ngủ nếu dùng chung với thuốc thiên nhiên Capsicum, Siberian ginseng, Celery, Kava, St John's wort, Valerian, Calamus, Calendula, vân vân.
*/ Móng quỷ hay Devil's claw (Harpagophytum procumbens, Griffe du diable, Grapple plant)
Trị xơ cứng mạch, viêm khớp, thấp khớp, gout, đau cơ, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, ăn không tiêu, vấn đề kinh kỳ, dùng ngoài da để trị các vết thương...
Giảm hiệu nghiệm đối với các thuốc antacid trị bệnh đau bao tử như cimetidine (Tagamet), famotidine (Pepcid), pantoprazole (Pantoloc), esomeprazole (Nexium)...
Không dùng chung với warfarin (Coumadin) vì sẽ gây đỏ da purpura.
*/ Lộc Nhung (Cervus Nippon, Antler velvet, Bois de velour, Lu Rong, Nokyon, corne servi parvum)
Tăng sinh lực, bổ dương, trị cao máu, giảm cholestérol, loãng xụơng, chống lão hóa, bổ xương, ngừa viêm sưng...
Lộc nhung có thể làm ức chế tính dung nạp (tolerance) đối với những liều morphine liên tiếp.
Trên lý thuyết, phụ nữ nên tránh xài lộc nhung trong trường hợp họ có bệnh sử gia đình về cancer vú hoặc cancer cổ tử cung.
*/ Đu đủ (Carica papaya, papayas)
Trị rối loạn tiêu hóa, giun lải, an thần, lợi tiểu, tốt cho tim mạch, ngừa ung thư…
Hầu như công dụng trị liệu của đu đủ đã được dân gian của rất nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Á Châu đã biết đến từ lâu.
Từ 10 năm nay, đu đủ được sử dụng nhiều trong giới thuốc thiên nhiên tại hải ngoại.
Lá đu đủ thường được sử dụng nhiều nhất vì trong mủ (papaya latex) có chứa 2% chất papain và carpain. Hai chất nầy có thể làm xót da và niêm mạc.
Papain còn có tính làm phân hủy protein (proteolytique), vì thế có hại cho bào thai.
Tiêu thụ số lượng quá lớn, papain có thể làm thủng thực quản. Ngoài ra papain có thể gây dị ứng ở những người bị dị ứng với chất latex.
Đu đủ có thể làm gia tăng tác dụng của thuốc kháng đông warfarin (Coumadin)
Papain có thể hữu hiệu trong trường hợp bị 'giời leo' herpes zooster cũng như trong trường hợp viêm sưng yết hầu (pharyngitis), nhưng cũng còn thiếu nhiều thông tin và tài liệu về sự hữu hiệu của papain trong những chỉ định khác.
There is insufficient reliable information available about the effectiveness of papain for its other uses (Rf Natural Medicines Comprehensive Database-6th edition 2004-page 979).
Tin đồn cho rằng uống lá đu đủ khô để trị ung thư (?) đã được loan truyền rộng rãi trên internet sau khi khảo cứu của bác sĩ Nam Dang MD, PhD (Nam H. Dang Univ of Florida Shands Cancer Center) được đăng tải trong số 17/2/2010 của tạp chí Journal of Ethnopharmacology.
Khảo cứu đã được thực hiện chung với các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho thấy chiết xuất lá đu đủ thúc đẩy sự tạo ra Cytokine Th1 là một loại protein có ích trong vấn đề miễn dịch và kháng ung thư. Kết quả nầy rất phù hợp với kết quả có từ trước của Úc Châu.
*/Sả (Cymbobogon citratus, Lemongrasss, Citronella)
Dùng trong ẩm thực.
Uống để trị những cơn đau bụng (gastrointestinal spasm), cao máu (hypertension), cảm mạo.
Dầu sả essential oil thoa ngoài da để trị đau bụng, nhức đầu và đau nhức các bắp cơ.
Phụ nữ có thai: uống trà sả có thể làm kích thích tử cung…University Ben Gurion (Israel) có thục hiện khảo cứu in vitro về cây sả và cho biết nhóm thực vật nầy có hoạt chất làm cho một vài loại tế bào ung thư "tự diệt" apoptosis (tin đăng trong Pubmed)
*/ Củ dền đỏ (Beta vulgaris L., betterave rouge, red beet)
Xuất phát từ vùng Địa Trung Hải.
Rất giàu các chất vitamin A, B complex, acide folique, vitamine C, sắt Fe, phosphore, magnesium.
Có tính giúp giảm áp huyết, tăng miễn dịch, tẩy độc, giảm nhức đầu và bệnh ngoài da…
Giới thực phẩm thiên nhiên nói rằng củ dền đỏ có tính ngừa ung thư (?)
Theo các nhà khoa học, chất betaine và bétanin (beetroot Red) tạo nên màu đỏ, là chất chống oxidative stress (đây là mức độ tổn thương về phân tử và về tế bào gây nên bởi hiện tượng oxy- hóa từ các gốc tự do)
Betaine thúc đẩy việc tạo ra choline giúp vào hoạt động của gan, cải thiện sự biến dưỡng của chất béo, đồng thời ngăn cản bớt tình trạng tích tụ mỡ trong gan, giúp cholestérol lưu thông dễ dàng hơn. Choline cần thiết trong việc tái tạo lại tế bào gan trong trường hợp gan bị xơ hóa.
Tiêu thụ thường xuyên liều lượng lớn củ dền đỏ có thể dẫn đến tình trạng mất calci trong máu (hypocalcemia) và hư thận vì chất oxaluric acid (Rf Natural Medicines Comprehensive Database)
Củ dền đỏ cũng chứa nhiều nitrate khi vào cơ thể thì chuyển thành monoxide d'azote NO, làm giảm áp huyết.
Natural Medicines Comprehensive Database (sách tham khảo của dược sĩ) cho biết có quá ít tài liệu và thông tin đáng tin cậy về sự hiệu nghiệm của củ dền đỏ (There is insufficient reliable information available about the effctiveness of beets).
*/ Rau Ngò Om hay Rau Ngổ (Limnophila aromatica)
Đây là rau để bỏ vô canh chua cho thơm.
Ngò om thường được dùng để trị đau bụng, chữa vết thương, trị giun sán và sỏi thận…
Một nghiên cứu quan trọng được đại học dược khoa Mahidol (Thái Lan) và đại học y dược Toyama (Nhật Bản) thực hiện chung, nhằm tìm hiểu hoạt tính của nước chiết ngò om bằng methanol và nước chiết bằng tinh dầu essential oil. Kết quả cho thấy nước chiết bằng methanol có hoạt tính antioxidant chống oxy hóa (lipid peroxydation) trội hơn nước chiết bằng tinh dầu…
Rất giàu antioxidant bioflavonoids nevadensin, isothymusin flavones…
Ngò om có hoạt chất bảo vệ tế bào, kháng khuẩn antibacterial, kháng vi trùng lao antimycobacterial, kháng ung thư antimutagenic…
Một khảo cứu khác của Thái Lan thực hiện năm 2009 cũng nói đến đặc tính chống oxy-hóa, kháng khuẩn và kháng ung thư của rau ngò om.
*/ Cây Chó Đẻ Răng Cưa hay Diệp Hạ Châu (Phillanthus amarus, P. niruri, Chanca Piedra, Stone Breaker, P. urinaria)
Mọc nhiều tại vùng nông thôn Việt Nam. Cây hằng niên, lá nhỏ, hoa và trái mọc dưới lá.
Trị viêm gan B, kháng virus, kháng khuẩn, lợi tiểu, sỏi thận, giảm áp huyết, kháng sốt nóng, chống co giật (antispasmodic), giảm đường huyết, bảo vệ gan …
Nhưng không phải tất cả những điều vừa nêu ra đều được khoa học nhìn nhận.
Cẩn thận khi sử dụng diệp hạ châu chung với thuốc trị bệnh tiểu đường vì có thể đường huyết sẽ bị kéo hạ xuống quá nhanh.
Có hai loại diệp hạ châu:
1- Diệp hạ châu đắng (P.amarus, P.niruri) có thân xanh.
2- Diệp hạ châu ngọt (P.urinaria) có thân đỏ.
Đây là cây hằng niên, cao 60-70cm, nhánh ngắn
Rất nhiều khảo cứu tại Ấn Độ cho thấy diệp hạ châu đắng (P.amarus) có dược tính cao hơn diệp hạ châu ngọt (P.urinaria) trong việc chữa trị bệnh viêm gan B.
Một vài khảo cứu cho thấy cây chó đẻ răng cưa có tiềm năng trong việc giảm sự tăng số của virus viêm gan B (ADN HBV)
*/ Hoàng kỳ hay Huỳnh kỳ (Astragalus membranaceus, Buck Qi Huang Qi, Hwanggi, Milk Vetch)
Rễ dùng làm thuốc.
Trị cảm cúm, tăng sức miễn dịch, trị ung thư, kháng khuẩn, kháng virus, chống viêm sưng, bảo vệ gan, lợi tiểu, giản nở mạch giúp vào việc làm hạ áp huyết...
Thường dùng phối hợp với nữ trinh tử ligustrum lucidum (glossy Privet).
Hoàng kỳ có thể tương tác, làm xáo trộn tác dụng của những thuốc giúp giảm sức miễn dịch immunosuppressive therapy như Imuran hoặc cyclosporine (Neoral, Sandimmune)
*/ Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata, Bidara, Chiretta, Chuan xin lan, Indian echinacea…)
Rất thông dụng tại Việt Nam.
Trị cảm cúm, dị ứng, yếu sức, còi cachexia, phòng bệnh tim mạch, viêm ruột, hạ nhiệt, tiêu chảy, viêm họng pharyngotonsillitis, sưng gan hepatomegaly, vàng da, sốt rét, vết thương ngoài da, giun lải…
Không dùng khi mang thai hoặc đang cho con bú.
Dùng liều lượng cao sẽ gây rối loạn tiêu hóa gastrointestinal distress, mất đói anorexia, có thể làm tăng enzym ALT của gan. Sử dụng chung với các dược liệu làm gỉảm áp huyết như nhân sâm, Thiên ma black cohosh, hạt cần Tây celery seed, vân vân có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng tuột áp huyết.
Làm gia tăng tác dụng của các thuốc kháng đông, chống kết tụ tiểu cầu anticoagulant/antiplatetelet drugs và gây ra xuất huyết.
Làm xáo trộn công hiệu của các thuốc immunosupressants (làm hạ sức miễn dịch) như Imuran, cyclosporine (Neoral), Sandimmune, Prednisolone,
*/ Hải đới hay Tảo nâu hoặc Tảo bẹ kombu (Lamnina japonica, brown algae, horsetail, kelp, kombu, sea girdle)
Đây là một loại rong vùng ven biển và được mệnh danh là vua iode.
Uống để giảm cân, ngừa cancer, cao máu, trường hợp bị táo bón cũng như trường hợp bị nhiễm phóng xạ. Dùng tại chỗ, để vào cổ tử cung để tạo sự giãn nở trong trường hợp lấy vòng xoắn ra, hay để chẩn đoán hoặc trị liệu...
Có thể nguy hiểm nếu dùng qua ngõ miệng.
Các viên thuốc hải đới có thể chứa trung bình 1000mcg iodine.
Uống trên 150mcg iodine/ngày có thể gây nên nhược giáp trạng (hypothyroidism), triển giáp trạng (hyperthyroidism) hay có thể làm trầm trọng hơn tình trạng nhược giáp trạng đang có.
Ngoài ra tảo nâu cũng có thể chứa thạch tín arsenic.
Không nên sử dụng lúc cho con bú.
Vì chứa nhiều potassium, tảo nâu có thể làm gia tăng potassium trong máu (hyperkalemia).
Tương tác với các thuốc trị suy tim sung huyết (congestive heart failure) như digoxine (Lanoxin). Tảo nâu cũng có thể làm xáo trộn tác dụng của các thuốc trị nhược giáp trạng và triển giáp trạng.(Theo Natural Medicines-Comprehensive Database-Sixth Edition).
Thuốc thiên nhiên nầy thấy bán trên thị trường dưới tên Fucoidan.
Một thị trường hỗn độn
Trên 70% thuốc thiên nhiên bán tại Canada được xếp vào nhóm thực phẩm...
Ngày 1 Janvier 2004, Cơ quan Santé Canada cho áp dụng điều luật mới về thuốc thiên nhiên.
Santé Canada gọi tất cả các sản phẩm thiên nhiên với cái tên chung là "Produits de santé naturels PSN".
Trong nhóm nầy bao gồm các dược thảo, rong biển, nấm, vi khuẩn tốt hay probiotics, vitamins, khoáng chất, các acids béo thiết yếu (essential fatty acids) như Oméga-3, các sản phẩm từ thú vật và hải sản, các thuốc Tàu hay thuốc Bắc, Cao đơn hoàn tán, thuốc Nam, thuốc Ấn Độ, các thuốc liệu pháp vi lượng đồng cân (produits homéopathiques)…
Theo luật nầy, tất cả nhà sản xuất thuốc thiên nhiên phải có môn bài cấp bởi Santé Canada. Nhà sản xuất phải đệ nạp các thông tin, thí dụ như phải nêu rõ tên sản phẩm, gồm các chất gì, nguồn gốc lấy từ đâu, có những hoạt chất nào, ảnh hưởng trên sức khỏe cùng liều lượng và cách sử dụng ra sao, các tài liệu khảo cứu liên hệ, vân vân và vân vân.
Nếu được chấp nhận, Santé Canada mới cấp cho sản phẩm một DIN (drug identification number) gồm 8 số, hay số NPN (numéro de produit naturel), hoặc số liệu pháp vi lượng đồng cân DIN-HM (homeopathic medecine). Tất cả chỉ dẫn và các điều cấm kỵ (contre-indications, mise en garde) cũng đều phải được ghi rõ bên ngoài hộp thuốc...
Đối với thuốc thiên nhiên sản xuất tại Canada và Hoa Kỳ, nhà bào chế phải tuân theo một số quy tắc làm ăn đàng hoàng gọi là BPF (Bonne Pratique de Fabrication, Good Manufacturing Practice).
Một món thuốc có mang ký hiệu DIN hay NPN hoặc DIN-HM cho biết là nó đã đáp ứng đầy đủ thủ tục cứu xét của cơ quan Y tế Canada...
Thực tế cho thấy kỹ nghệ thuốc thiên nhiên không ngừng phát triển một cách quá nhanh chóng trong một bối cảnh hỗn độn, không có luật lệ rõ ràng để quy định và kiểm soát. Ai muốn bán gì thì bán, nói sao hay quảng cáo sao cũng được hết...
Tạp chí Protégez-Vous đã từng cho điều tra xét nghiệm một số thuốc thiên nhiên bán tại Québec, thì mặc dù có mang ký hiệu DIN đàng hoàng nhưng không ít sản phẩm đã không tôn trọng những điều đã ghi trên hộp thuốc thí dụ như liều lượng không đúng, thậm chí chất thuốc cũng không tương ứng như những gì đã ghi bên ngoài.
Tại Hoa Kỳ, tất cả thuốc thiên nhiên đều được xếp vào nhóm thực phẩm bổ sung (dietary supplement) và FDA bắt buộc nhà sản xuất phải ghi trên quảng cáo câu:
"Disclaimer-Like all dietary supplements, this product has not been evaluated by the U.S. Food and Drug Administration (FDA) and "is not intended to diagnose, treat, cure, or prevent any disease"
Chất lượng của thuốc: một vấn đề nan giải
Trước một rừng thuốc thiên nhiên đủ loại và đủ cỡ, người tiêu thụ bị hoa mắt cũng như phân vân và tự hỏi không biết mình nên chọn thuốc nào đây? Thôi thì chỉ còn biết tin vào quảng cáo, hình thức và màu sắc bên ngoài của hộp thuốc để mà tự quyết định thôi.
Tại Canada, thuốc thiên nhiên nằm trong vòng kiểm soát của một số nhà bào chế lớn thí dụ như Wampole Canada, Swiss Herbal, Quest, Jamieson, Lalco, Adrien Gagnon, Jean Marc Brunet, v.v. Ngoài ra, cũng có một số nhà bào chế đàn em chen chân kiếm ăn bên cạnh các nhà bào chế đàn anh.
Santé Canada ước lượng thị trường thuốc thiên nhiên tại Canada ở vào lối 4,3 tỷ đô la/năm so với 10,9 tỷ đô la/năm cho các dược phẩm có brevet.
Còn thị trường thuốc thiên nhiên tại Hoa Kỳ là 36 tỷ đô la/năm.
Thuốc thiên nhiên sản xuất theo lối công nghiệp thì đòi hỏi phải có nguồn cung cấp nguyên liệu thật dồi dào. Một số được sản xuất ngay tại Canada hay tại Hoa Kỳ, phần lớn còn lại được nhập cảng từ Á Châu hay từ Nam Mỹ. Hoạt chất của cây thuốc có thể rất thay đổi tùy theo thời gian tăng trưởng, nơi trồng, cách trồng cũng như tùy theo phần nào của thực vật được sử dụng và cây thuốc được gặt hái lúc nào trong năm.
Tại những phương trời xa xôi vạn dặm thì làm sao mà kiểm soát một cách chu đáo tất cả quy trình sản xuất nguyên vật liệu để bảo đảm có một chất lượng an toàn và trung thực cho được?
Và đây cũng là một vấn đề lo nghĩ của những nhà-bào-chế-có-lương-tâm.
Không phải thiên nhiên hoàn toàn là vô hại!
Một số thực vật có thể có hại cho sức khỏe như làm hư gan, hại thận hay thậm chí còn có thể gây ra ung thư.
Bởi lẽ nầy nên một số chất sau đây bị cấm tại Canada: Aristolochic acid của thực vật nhóm Aristolochia (Birthwort, Snake root, Guang Fang Ji), Coca (Erythroxylum coca), Mã tiền Nux vomica (có Strychnine) và Pau d'arco (Tabebuia impetiginosa)...
Santé Canada thường theo dõi và kiểm soát các loại thuốc thiên nhiên bán trên thị truờng, đặc biệt quan tâm đến các loại thuốc nhập cảng từ Á Châu.
Thỉnh thoảng cơ quan kiểm soát nầy cũng có phát hiện ra một số thuốc mạo hóa.
Tuy mang danh nghĩa là thuốc thiên nhiên, nhưng nhà sản xuất lại cố tình pha trộn thêm những loại thuốc Tây bán được theo toa (prescription drugs, médicaments d'ordonnance) vào trong đó... Những chất thuốc thường được pha trộn thêm có thể là những stéroides, hormones, các chất thuốc lợi tiểu, các thuốc kháng viêm sưng (anti-inflammatoires), các thuốc trợ dương (aphrodisiaques) hay thuốc làm giảm đường huyết (hypoglycémiants), vân vân.
Lại nữa, nhãn hiệu của các thuốc nhập cảng từ Á Châu thường lem nhem không rõ rệt, khó hiểu, không đầy đủ chỉ dẫn cần thiết và cũng không nêu rõ những điều cấm kỵ quan trọng!
Kết luận
Tại Canada, thuốc thiên nhiên mặc dù được sử dụng rộng rãi khắp nơi, nhưng khác với một số nước bên Âu Châu, nó vẫn chưa được giới y-khoa chính thức công nhận.
Dù sao đi nữa, không ai có thể chối cãi được những lợi ích của một số thuốc thiên nhiên đã mang lại cho sức khỏe chúng ta, chẳng hạn như nhân sâm và lộc nhung mà mọi người Việt Nam chúng ta đều đã có nghe nói đến...
Trở ngại chính yếu hiện nay của thuốc thiên nhiên là thiếu cơ chế pháp lý quy định rõ rệt để việc kiểm soát loại thuốc nầy được hữu hiệu hơn. Ngoài ra, vấn đề thiếu tài liệu khảo cứu khoa học giá trị và đáng tin cậy cũng làm giới y-khoa e dè chưa có thể chính thức chấp nhận thuốc thiên nhiên như một phương pháp y-khoa phù-trợ (médecine complémentaire) bên cạnh thuốc Tây được!
Vậy: Thiên nhiên không phải hoàn toàn là vô hại!
Collège des Médecins và Ordre des Pharmaciens du Québec khuyên chúng ta không nên sử dụng vitamines với những liều lượng quá lớn, đừng bao giờ mua thuốc thiên nhiên mà nhãn hiệu không rõ rệt, và chỉ sử dụng thuốc thiên nhiên trong thời gian ngắn mà thôi (dưới 3 tháng) vì khoa học chưa biết ảnh hưởng về lâu về dài của món thuốc thiên nhiên đó ra sao!
Cẩn thận với các lời quảng cáo chẳng hạn như bảo đảm sẽ chữa khỏi bệnh, hoặc có thể ngừa được bệnh, hoặc họ nói đây là một loại thuốc nhiệm mầu đã được người Trung Hoa hay Ấn Độ sử dụng từ cả ngàn năm nay rồi. Nếu hỏi người bán đó là chất thuốc gì, tên gì, mà họ không chịu nói, hoặc trả lời ấm a ấm ớ thì tốt hơn hết đừng nên mua!
Mỗi khi đi khám bệnh, bạn cần phải nói rõ cho bác sĩ biết nếu bạn đang dùng loại thuốc thiên nhiên nào. Tốt hơn hết là bạn nên hỏi ý kiến của bác sĩ và dược sĩ trong trường hợp bạn có ý định muốn xài thuốc ngoại khoa!
Lời khuyên của các nhà chuyên môn rất ư là cần thiết nếu bạn đang thường xuyên sử dụng các loại thuốc Tây chẳng hạn như thuốc chống đông máu, thuốc làm loãng máu, thuốc làm giảm đường huyết, thuốc trị bệnh tim hay lúc bạn đang mang thai hoặc cho con bú cũng như lúc bạn chuẩn bị để được giải phẫu, và cuối cùng nếu bạn lúc nào cũng cảm thấy cần phải…sáng say chiều xỉn hết./.
Tài liệu tham khảo:
- UF researchers find cancer-fighting properties in papaya tea
Filed under Health, Research on Tuesday, March 9, 2010
http://news.ufl.edu/2010/03/09/papaya-2/
- Collège des Médecins du Québec et Ordre des Pharmaciens du Québec-Attention, Parlez-en avec votre Médecin ou votre Pharmacien
http://www.opq.org/fr/media/docs/pro...urelscorr..pdf
- Natural Medicines Comprehensive Database - compiled by the Editors of Pharmacist's Letter and Prescriber's Letter, Sixth edition, 2004
- Ds Trần Việt Hưng và Ds Phan Đức Bình-Rau om nên dùng thường xuyên
http://ucchau.ndclnh.com/index.php?o...-kho&Itemid=36
- Bác sĩ Nguyễn văn Hoàng (Hoàng Nguyên)-Thuốc Tây, thuốc Bắc, thuốc Nam dưới mắt một bác sĩ tây y
http://thoibao.com/2013/11/07/thuoc-...-bac-si-tay-y/
- Bs Thú y Nguyễn Thượng Chánh-Ds Nguyễn Ngọc Lan-Mãng cầu Xiêm có trị ung thư được không
http://vietbao.com/p117a218164/mang-...thu-duoc-khong
Đối mặt với bệnh ung thư, còn nước còn tát
http://vietbao.com/p117a218465/doi-m...n-nuoc-con-tat
Dược thảo và những tác dụng phụ nguy hiểm
http://khoahocnet.com/2012/11/23/ds-...phu-nguy-hiem/
- Các khảo cứu về cây diệp hạ châu (Chó đẻ răng cưa)
+ Phyllanthus amarus down-regulates hepatitis B virus mRNA transcription and replication
Lee CD, Ott M, Thyagarajan SP, Shafritz DA, Burk RD, Gupta S.
Marion Bessin Liver Research Center, Madras, India
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9013081
+ Effect of Phyllanthus amarus on chronic carriers of hepatitis B virus
S.P. Thyagarajan a, T. Thirunalasundari a, S. Subramanian a, P.S. Venkateswaran b, B.S. Blumberg b-
http://www.thelancet.com/journals/la...416-6/abstract
+ Efficacy of Phyllanthus amarus for eradication of hepatitis B virus in chronic carriers
Thamlikitkul V, Wasuwat S, Kanchanapee P.
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/1791391
+ Phyllanthus amarus inhibits cell growth and induces apoptosis in Dalton's lymphoma ascites cells through activation of caspase-3 and downregulation of Bcl-2
Harikumar KB1, Kuttan G, Kuttan R
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19223368
+ Phyllanthus urinaria triggers the apoptosis and Bcl-2 down-regulation in Lewis lung carcinoma cells
Huang ST1, Yang RC, Yang LJ, Lee PN, Pang JH.
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12559392
-
04-14-2024, 01:50 AM #63Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
https://m.media-amazon.com/images/I/...445_SX342_.jpg
Yêu
Song Thao (2017)
Bác sĩ David Ramon Hawkins là một nhà tâm lý học rất nổi tiếng, không chỉ ở Mỹ mà hầu như khắp thế giới. Cuốn sách Power vs. Force của ông đã được dịch ra 25 ngôn ngữ vói số bán lên tới nhiều triệu bản. Ông vừa là một bác sĩ, vừa là nhà tâm linh học. Ông đã giảng dậy tại các Đại Học danh tiếng Notre Dame, Stanford và Harvard. Ông đã nhiều năm nghiên cứu về tương quan giữa tinh thần và thể xác. Ông đã tiếp xúc với nhiều bệnh nhân tới từ nhiều quốc gia trên thế giới và cách chẩn bệnh của ông rất độc đáo: ông chỉ cần nhìn bệnh nhân là biết tại sao người đó mang bệnh. Mà bệnh loại dữ dằn: ung thư! Theo ông thì bệnh phát sinh bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”. Thay vào đó, họ chỉ có những chữ “khổ, hận, phiền muộn”.
Có thể nhiều người trong chúng ta sẽ ngạc nhiên, khó chấp nhận ý tưởng này. Nhưng bác sĩ Hawkins đã dựa trên cơ sở khoa học để chứng minh. Sau 20 năm nghiên cứu, ỏng đã phát hiện ra ý nghĩa của sự rung động trong cơ thể con người, thứ mà chứng ta thường gọi là “từ trường”. Ông đặt ra chỉ số cho sự rung động này từ 1 đến 1000. Người có chỉ số dưới 200 thường có những suy nghĩ tiêu cực như căm ghét, phẫn nộ, chỉ trích, trách móc, đố kỵ, ích kỷ, ham lợi cá nhân. Theo Tiến sĩ Hawkins, những người chỉ lo chuyện oán giận, chỉ trích, hận thù, luôn mang cả tầng hỏa ngục trong người, tần số của họ chỉ vào khoảng 30, hoặc 40. Bởi vì năng lượng của họ bị tiêu hao nhiều khi nuôi những hận thù, sân si. Đó là hạng người rất dễ mắc bệnh.
Tinh thần có chỗ đứng trong bệnh tật. Nếu chỉ số rung động trên 200, người ta ít có nguy cơ bị bệnh. Những người biết thương yêu, quan tâm đến người khác, giầu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng thanh thản trong cuộc sống đểu là những người có chỉ số rung động trên 200. Tuy trên lý thuyết, chỉ sổ rung động cao nhất là 1000, nhưng trên thực tế Tiến sĩ Hawkins chưa gặp được những … thánh nhân 1000 bao giờ. Năng lượng trong cơ thể của những người có chỉ số rung động cao rất dồi dào. Khi họ xuất hiện, năng lượng của họ sẽ ảnh hưởng tới từ trường của cả khu vực quanh họ. Một thí dụ rõ ràng là khi Mẹ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình, không khí hội trường rất tốt, tần số rung động cao, từ trường của bà tỏa ra làm mọi người có mặt cảm nhận được sự thánh thiện toát ra quanh bà.
Theo Tiến sĩ Hawkins thì điều mà tế bào ung thư ngán nhất chính là sự yêu thương. Ông đưa ra trường hợp của nhạc sĩ Sean, người chơi đàn violoncelle, của Nhật Bản. Khi ông Sean bị ung thư, mặc dù được chữa chạy rất chuyên môn, bệnh tình của ông vẫn ngày một nặng hơn. Cuối cùng ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông sống một cách lạc quan, yêu đời, yêu mọi người và yêu luôn cả từng tế bào đang rữa mòn cơ thể của ông. Kết quả hết sức bất ngờ làm kinh ngạc mọi người: toàn bộ các tế bào ung thư biến mất! Theo các nhà khoa học, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu sự yêu thương. Vậy nên, biết yêu và được yêu có thể đẩy lùi được bệnh tật.
Phớt lờ anh bệnh thứ dữ là anh ung thư, yêu đời, sống với người, nhiều khi anh ung thư cũng phải xếp giáp quy hàng. Hai ông bạn tôi, nhạc sĩ Từ Công Phụng và nhà thơ Du Tử Lê, đều đã ép được anh ung thư đi chỗ khác chơi. Họ Từ hai lần ung thư túi mật và ung thư gan. Họ Du không kém, cũng chạm mặt anh ung thứ dữ: ung thư ruột già. Đang khi bệnh, Từ Công Phụng vẫn coi bệnh như pha, hiên ngang trả lời cú điện thoại thăm hỏi của tôi: “Mình đánh nó, nỏ đánh lại mình, nó thua thì nó chạy, mình thua thì mình lui. Lui tới chân tường là cùng!”.
Trong cuộc phỏng vấn của cô Thúy Anh vào tháng Tư năm 2011, ông Du Tử Lê tỉnh bơ trả lời: “Tôi may mắn được qua cơn bệnh hiểm ngèo là bệnh ung thư ruột. Theo nguyên tắc, các bác sĩ nói, khi qua được 5 năm, thì bệnh nhân không còn bị đe dọa bởi cơn bệnh nữa. Tuy nhiên chưa được vui trọn thì các bác sĩ lại khám phá trong phổi tôi có một cái bứu… Nhỏ thôi.
Sau nhiều lần CT Scan vẫn không thấy cái bướu tăng trưởng, nên bác sĩ Lê Trần Hoàng, người theo dõi tình trạng phổi của tôi, cho hay, ông hy vọng không phải là một di căn của cancer. Kết luận tạm thời của bác sĩ Hoàng là một kết luận tốt. Vì tôi cũng mong là được như vậy. Tuy nhiên nếu có là cancer thì mình cũng vui thôi!... Sau khi tôi trải qua một cơn bệnh ngặt nghèo và, tôi sống được đến ngày hôm nay, tôi cho đó là một điều may mắn. Một sự kỳ diệu. Nên, mỗi ngày được sống thêm, tôi đều tận hưởng nó, như một bonus, với tất cả lòng biết ơn đời sống. Biết ơn trời đất. Biết ơn gia đình. Biết ơn vợ con. Biết ơn bằng hữu. Nên tôi luôn luôn thấy mình hân hoan. Mỗi buổi sáng, khi mở mắt ra, thấy mình còn sống, tôi lại nói: “Cám ơn Trời Đất đã cho con sống thêm một ngày”. Và tôi mỉm cười với gia đình, với vợ con chung quanh sau câu cám ơn ấy”.
Tới giờ phút này, hai ông bạn tôi vẫn nhởn nhơ với đời. Còn thơ thẩn, còn hát hỏng. Như chưa bao giờ bệnh. Tôi nghĩ chỉ số rung động của các ông này cỡ... 1000 không chừng!
-
08-25-2024, 01:44 AM #64Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
Stress, nếp sống và hệ thống đề kháng
Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh
Hệ thống đề kháng, còn gọi là hệ thống miễn nhiễm của cơ thể giúp ta phòng chống bệnh tật, và giải độc. Khi sức đề kháng yếu, cơ thể dễ nhiễm bệnh từ bên ngoài, là điều dễ hiểu. Nhưng, ngược lại, khi hệ thống đề kháng bị kích thích quá độ, cũng sanh ra bệnh tật từ bên trong.
Khái niệm, “khỏe,” hàm chứa yếu tố minh mẫn của trí tuệ, tráng kiện về thể chất, và lạc quan về tinh thần. Mạnh khỏe và không có bệnh tật là điều ai cũng muốn. Khỏe ở đây không nhất thiết là sức mạnh của bắp thịt, hay sự bền bỉ của hệ thống tuần hoàn để chạy đua đường dài. Khỏe, đối với đại đa số, là, có được hệ thống miễn nhiễm tốt, tránh được bệnh tật.
Khuôn mẫu của một sức khỏe tốt, trong thời đại này, bao gồm sự thay đổi về nề nếp sống, ẩm thực, vận động thể dục thể thao, giảm stress, ngủ ngon giấc, chỉ nhắm vào một mục đích: cải thiện hệ thống miễn nhiễm.
Cải thiện nề nếp sống, khởi đầu bằng cách… giải độc! Không phải bằng cách uống nước sinh tố, mà, cai nghiện thuốc lá, nghiện rượu, ma túy, và kể cả… phơi nắng quá độ.
Kế đến, cải thiện chế độ ẩm thực. Ai cũng biết điều cơ bản: ăn nhiều rau trái và ngũ cốc, ăn thức ăn “thực,” không chế biến. Nói chung là ăn đủ màu của cầu vồng trong thực phẩm.
Không nên cầu kỳ về thức ăn, chẳng cần phải phân biệt giữa “organic” (hữu cơ) hay “non-organic.” Giá trị dinh dưỡng của hai bên không khác nhau mấy. Thức ăn “non-organic” thường có nhiều thuốc trừ sâu và dùng phân bón hóa học, nên để ý, rửa sạch cẩn thận trước khi ăn.
Nghiên cứu cho biết, ăn cử, ăn kiêng lung tung xèng đưa đến hậu quả tai hại đến sức khỏe còn tệ hơn là béo phì. Nói chung là nên bớt ăn lại, và không nên ăn những thứ gì không cần thiết.
Thuốc bổ và thuốc phụ supplement, thì nên hạn chế. Càng nhiều nghiên cứu cho thấy chúng chẳng có lợi gì thêm, và có khi còn sinh hại.
Thể dục thể thao cũng làm tăng sức đề kháng tránh bệnh lặt vặt như cảm cúm chẳng hạn. Trung bình chỉ cần 150 phút mỗi tuần và chia nhỏ ra mỗi lần 10, 15 phút là đủ. Đi bộ ngoài trời vẫn là phương pháp vận động tốt nhất. Ngược lại, không cần thiết phải tập thể dục quá độ như cử tạ nặng, hay chạy bộ đường trường. Nếu không quen, có khi lại tạo nên stress cho sức đề kháng, làm viêm sưng, và hư hao thêm mà thôi.
Hãy giảm stress trong cuộc sống quay cuồng của hệ thống đô thị để đạt được sự an bình của tâm hồn, đồng thời, bớt đi sự hao mòn của hệ thống miễn nhiễm. Thiền, Yoga, Tai Chi là phương pháp giảm stress rất tích cực. Thiền, bắt nguồn khoảng 2500 năm trước, khởi đi từ các tôn giáo như Phật Giáo và Lão Giáo. Ngày nay, ai cũng có thể thiền được, không nhất thiết phải là thiền sư, hay đi tu ở chùa, chỉ 15 hay 20 phút yên tĩnh mỗi ngày là đủ.
Đặt nhiều mục tiêu phải gặt hái, và sống vì tương lai thay vì trong hiện tại là tự giam mình vào stress, nhất là khi mục tiêu trở thành kỳ vọng hay ảo vọng sau khi tốn nhiều thời gian chạy lòng vòng. Khi ở tuổi 20, 30, chúng ta phải đặt ra nhiều mục tiêu phải đạt được, tránh tiêu phí thì giờ, là điều tốt, vì ở tuổi ấy sức khoẻ còn tốt, chịu đựng được stress. Ở tuổi 50 trở đi, thay vì chú trọng vào thời lượng của phần thời gian còn lại, hãy chú ý đến chất lượng của những giây phút hiện tại của cuộc sống.
Stress nhiều trong công ăn việc làm cũng dễ đi đến tình trạng “cháy bóng” – burnout. Nghiên cứu mới nhất cho thấy, burnout lại làm rối loạn nhịp tim, hệ quả là dễ bị suy tim hay đột quỵ tim.
Cuối cùng, đừng quên ngủ ngon. Giấc ngủ bồi dưỡng cơ thể, và giải trừ độc tố trong não. Ở tuổi trẻ, nhiều người cho rằng ngủ là phí phạm thời giờ, nhưng thật ra, bất kỳ ở tuổi nào cũng vậy, giấc ngủ là điều tối quan trọng. Hãy tự tạo ra những thói quen tốt để giấc ngủ đến thật tự nhiên như trẻ nhỏ.
Một khi hệ thống đề kháng bị lệch lạc sẽ làm cơ thể bị suy yếu. Suy miễn nhiễm khiến ta khó chống cự lại bệnh tật. Nhưng, khi hệ miễn nhiễm bị kích hoạt quá độ, chúng sẽ tấn công tất cả những tế bào bình thường của cơ thể, nhất là các tế bào thường xuyên tăng trưởng, thay đổi. Ví dụ, các tế bào gân sụn, khớp xương, có thể bị tấn công, gây ra các bệnh thấp khớp. Hoặc, tế bào máu và mạch máu, có thể bị lở loét và đóng cholesterol vào chỗ bị thương. Một số bệnh về da, tuyến giáp trạng, hay bệnh hoại thần kinh, cũng có thể vì bị hệ miễn nhiễm tự hủy lấy mình.
Bằng cách cân bằng năm yếu tố trên đây: giảm stress, ngủ nhiều, vận động, ăn uống đúng mức và tránh nghiện ngập sẽ giúp ta có được hệ thống đề kháng hữu hiệu, bảo đảm sức khỏe tốt.
-
01-05-2025, 12:54 AM #65Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
KHÍ CÔNG VÀ BỆNH UNG THƯ
Chu Tất Tiến
Khoảng 10 năm trước đây, một bài báo trên Nhật Báo Việt Báo tại California đã làm nhiều người vui mừng. Cụ ông gần 80 tuổi đã mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, và bệnh viện đã cho về nhà vì các tế bào ung thư đã lan khắp cơ thể. Bác sĩ điều trị đã báo cho gia đình hay là sự sống của cụ không kéo dài quá 6 tháng. Đang trong lúc cụ rất buồn, và tuyệt vọng, thì có một người quen mách cho cụ đến tập khí công và Thiền tại một địa điểm gần nhà. Vì không còn hy vọng vào thuốc men, và cũng vì chẳng có chọn lựa nào khác, cụ đã đi tập tại lớp vài lần, rồi áp dụng các phương pháp Thở Khí Công đó tại nhà vào mỗi buổi sáng. Sau vài tuần tập liên tục, cụ thấy tinh thần phấn chấn hơn trước. Do đó, cụ đã dồn hết ý chí vào việc tập Thở, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 tiếng đồng hồ. Kết quả thật lạ lùng: sức khỏe cụ đã trở lại hồi nào không rõ, và không thấy căn bệnh nguy hiểm kia phát triển. Một năm sau, cụ trở lại khám bệnh và điều bất ngờ đã xẩy ra: Bác Sĩ điều trị cho biết các tế bào ung thư đã bị co cụm, và chỉ qua vài lần xạ trị nữa, là căn bệnh đã hoàn toàn biến mất. Khi cụ viết bài này đăng báo, thì cụ đã sống khỏe được hơn 5 năm, sau ngày mà Bác Sĩ thông báo là cụ không thọ được quá 6 tháng.
Tại một lớp huấn luyện Dưỡng Sinh tại khu Mobile Home gần Bolsa, thành phố Westminster, trong các cuộc họp mặt Tân Niên, quan khách đều thấy một phụ nữ cao niên trông thật nhanh nhẹn, đến tiếp đón. Trong chương trình văn nghệ và trò chuyện, với giọng nói trong trẻo, bà đã kể lại chuyện đời mình. Cũng như cụ ông kể trên, bà đã bị ung thư giai đoạn cuối và cũng được thông báo là bà sẽ không sống trên 6 tháng. Nhưng như người sắp bị chìm tầu cố tìm quanh một miếng ván để cứu mạng, bà đã dò hỏi khắp nơi và khi biết có lớp Dưỡng Sinh do một võ sư trẻ huấn luyện tại Bolsa, bà đã nhờ con cháu lái xe đưa bà từ Los Angeles xuống và ghi tên học cuối tuần rồi về nhà cố tập lại những thế mà “Thầy” đã dậy. Chỉ trong một thời gian vài tháng, bà đã thấy sức khỏe hồi phục như trước khi mắc bệnh. Do đó, bà đã di chuyển xuống định cư gần lớp học để có cơ hội tập luyện nhiều hơn. Rồi thời gian qua nhanh, đã mấy năm rồi, bà vẫn trẻ trung và khỏe mạnh, Rất bất ngờ, bà đã lột chiếc mũ vải đội trên đầu và khoe mái tóc bà nửa phần trắng nửa phần đen. Bà cho biết khi bà còn mắc bệnh ung thư, tóc bà đã bạc trắng toàn bộ, nhưng sau vài năm chăm chỉ tập luyện, tóc bà đã dần dần đổi màu đen trở lại.
Một người bạn của ông anh cả người viết bài này, bị ung thư gan. Trong thời gian điều trị bằng Chemo, anh rất đau đớn, không đi đứng được. Anh cho biết vì đau quá, nên anh đã từ chối không cho làm Chemo nữa vì mỗi lần làm Chemo, anh có cảm giác như có người dùng súng bắn thẳng vào đầu, vào tim.. chịu không nổi. Người viết đã chỉ anh cách tập Thở theo Thiền, khi nằm, cũng như khi đi và ngồi. Anh đã chịu khó tập theo vài lần. Sau vài tuần lễ, gặp lại, anh đã cười rất vui và cho hay là vì tập thở đều đặn, anh không còn cảm giác đau đớn như trước nữa, và đã chấp nhận cho tiếp tục điều trị bằng Chemo. Khi vừa chớm đau, anh lập tức nhắm mắt và thở Thiền, thì mọi chuyện qua nhanh, thanh thản. Sau đó môt thời gian, anh đã trở lại phòng tập Spa, và tập luyện bình thường như không có chuyện gì xẩy ra.
Đó là những chuyện khó tin nhưng có thật. Người ta không tin vì chưa tìm ra các phương pháp khoa học để chứng minh sự liên hệ giữa việc khỏi căn bệnh giết người này và sự hít thở. Chúng ta, ai cũng biết rằng, cơ thể con người được cấu tạo bằng các tế bào, mà tế bào sống được là nhờ khí Oxy (O2).Theo một vị Tiến Sĩ về dinh dưỡng, một khi cơ thể thiếu Oxy, thì các tế bào hoạt động giới hạn cho nên khi vi khuẩn hay vi trùng xâm nhập vào, các tế bào không đủ sức kháng cự và từ đó, con người mắc bệnh. Nếu có thể tiếp trợ thêm Oxy vào cho tế bào, bằng cách hít vào và ép hơi để cho Oxygien được giữ lại trong cơ thể, thì cơ thể lại được tăng cường khả năng kháng cự và đẩy vi khuẩn hay vi trùng ra ngoài. Đó cũng là lý do tại sao với vài căn bệnh, bệnh nhân phải mang máy trợ khí Oxy suốt ngày. Nếu bệnh nhân không thở bằng máy trợ khí khi ngủ thì có thể sẽ không tỉnh lại vào sáng hôm sau nữa.
Vì thế, với kinh nghiệm nhiều năm hướng dẫn Khí công, Tài Chi, và Thiền, người viết xin gộp lại các thế tập Thiền, Khí Công thành một phương pháp gọn và dễ hiểu, dễ tập cho những ai không có cơ hội đến lớp. Có 4 loại Thở: Thở đứng, thở đi, thở ngồi, và thở nằm.
1) Thở đứng: Có 4 thế:
-Thế thượng: Đứng thoải mái, hai chân thẳng, hít vào, hai tay từ từ đưa ra hai bên, vòng lên tới đỉnh đầu thì chắp hai bàn tay lại, nín hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra, từ từ hạ tay xuống. Làm tối thiểu 20 lần.
-Thế xoay lưng: Đứng thoải mái, hai tay buông thỏng, hít vào, từ từ “quăng” tay sang bên trái đến hết cỡ thì thở ra, “quăng” hai tay về bên phải, rồi trở lại bên trái, hít vào. Khi “quăng” sang bên nào thì “nhấc” ngón chân bên đó lên để cho đà “quăng” được dài thêm…(“Quăng” có nghĩa là để tay văng tự do theo sự xoay của lưng, không “đưa” tay cứng ngắc như que củi sang bên. Thế này không có nén hơi, để cơ thể xoay liên tục, nhẹ nhàng, xoay bắp thịt lưng tối đa, hết bên này thì chuyển sang bên kia, mỗi lần “quăng” thì thở ra hay hít vào). Làm tối thiểu 20 lần.
-Thế nghiêng: Để hai tay lên cao “hết cỡ” trên đầu, hai bàn tay chạm nhau, nhưng lòng bàn tay lại ngửa lên trời (hướng về trần nhà). Từ từ nghiêng về bên trái, mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước, hít vào, khi không còn nghiêng được nữa, thì thở ra và từ từ trở lại bên phải. Tiếp tục 20 lần. (Hai tay phải thẳng hết cỡ, không được rùn lại, để cho bắp thịt lưng căng ra.)
-“Văng” hai bàn tay: Hai tay để ngang trước mặt, giữ yên cổ tay, để hai bàn tay “văng” cùng một nhịp, ra trước, ra sau và hai bên, trong khi hít vào và thở ra thật chậm. Thế này kích thích máu lưu thông ở cổ tay và cánh tay. Đếm theo nhịp thở, tối thiểu 20 lần.
2) Thở đi: Đứng thẳng, hai tay buông thõng. Hít vào, từ từ nhấc chân trái lên cao rồi đặt nhẹ chân xuống, nhưng không đặt cả bàn chân cùng lúc, mà chỉ đặt ngón chân xuống trước rồi mới đặt gót chân xuống sau, và đặt bàn chân chéo, hướng về phía trái. Thở ra và giữ nguyên bộ dạng. Khi thở ra hết rồi, thì từ từ nhấc chân phải lên, đặt xuống bên phải, cũng đặt ngón trước, gót sau, và hướng chéo về phía phải. Tiếp tục hít vào và nhấc chân trái lên.. Đi vòng hết chung quanh nhà. Thế này, thật ra cũng là một biến thế của phương pháp Hành Thiền.
2) Thở ngồi: Phương pháp này cũng là Tọa Thiền, rất đơn giản và dễ dàng. Ngồi đâu cũng được, trên ghế, trên giường, ngồi dưới đất, chỉ với điều kiện lưng phải thẳng góc với mông, không cong người về phía trước, vì sẽ gây đau lưng. Nhắm mắt, (vẫn nhìn thẳng về phía trước),tập trung tư tưởng, hít vào tới đan điền thì nén hơi, đếm 1,2,3 rồi thở ra. Cố làm chậm chừng nào hay chừng ấy. Tối thiểu 50 lần.
4) Thở nằm: Nằm thẳng, hai tay xuôi theo thân mình, gối đầu cao vừa phải. Nhắm mắt, tập trung tư tưởng, hít vào, nén hơi, và thở ra như thế thở ngồi. Thường thì người thực hiện chỉ làm được chừng 20 lần thì đã ngủ say rồi.
Thật ra, cho đến ngày nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng Hít Thở phối hợp với chuyển động nhẹ nhàng mà lại chữa được bệnh, nhất là bệnh nặng. Nhưng với kinh nghiệm của hàng tỷ người trên khắp thế giới đang tập Tài Chi, Thái Cực Quyền, Khí Công, Yoga mỗi buổi sáng, chắc chắn phương pháp Hít Thở này có công dụng lạ lùng. Trong một số Health Magazine của Mỹ, cũng có nhiều bài viết về các tập thở này. (Người Mỹ tập Tài Chi lại mặc đồng phục rất đẹp). Riêng với người viết, qua bao lần đau nặng tưởng không qua khỏi, đã nhờ Hít Thở mà khỏe mạnh đến bây giờ, thiết tưởng là việc phổ biến cách Hít Thở này đến với mọi người là việc cần làm. Mong được chia xẻ và hy vọng giúp được những ai đang trong tình trạng gần như tuyệt vọng. “Còn nước, còn tát”. Biết đâu, chỉ với phương pháp đơn giản “sử dụng sản vật của thiên nhiên để điều trị con người” này lại cứu được nhiều sự sống đang muốn tắt.
-
05-18-2025, 01:17 AM #66Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
The part of aging that people don't talk about — and 5 ways to deal with it
Judith Graham
For years before her death at age 96, Nancy Lundebjerg’s mother underwent a long, slow decline.
Arthritis made it hard for Margaret Lundebjerg to get around. After two hip surgeries, she needed a walker when she was out and about.
Incontinence was a source of discomfort, as was the need to rely on aides to help her perform daily chores.
Little by little, Margaret became frail and isolated. “There was a sadness to seeing my mother’s circle of life become diminished,” said Nancy Lundebjerg, 58, CEO of the American Geriatrics Society, who wrote about her experiences in the organization’s journal.
The anguish accompanying aging isn’t openly discussed very often, nor is its companion: grief. Instead, these emotions are typically acknowledged only after a loved one’s death, when formal rituals recognizing a person’s passing —the wake, the funeral, the shiva — begin.
But frailty and serious illness can involve significant losses over an extended period of time, giving rise to sadness and grief for years.
The loss of independence may be marked by the need to use a walker or a wheelchair. The loss of a cherished role may dishearten an older woman who is no longer able to cook dinner for her extended family, gathered at the holidays. The loss of shared memories may be painful for adult children when their older father is diagnosed with dementia. And these are but a few examples.
Looming over everything is the loss of the future that an older adult and his or her family imagined they might have, often accompanied by anxiety and dread.
This pileup of complex emotions is known as “anticipatory loss.”
“The deterioration of function, disability and suffering have their own grieving processes, but helping families deal with that isn’t built into the health care system,” said Dr. John Rolland, professor of psychiatry at Northwestern University’s Feinberg School of Medicine and author of “Families, Illness and Disability: An Integrative Treatment Model.”
Rolland and several other experts offered advice on how to deal with difficult emotions that can arise with frailty or serious illness:
Acknowledge your feelings
“Grief starts the moment someone with a serious illness receives the diagnosis,” said Tammy Brannen-Smith, director of grief and loss services at Pathways, a hospice in Fort Collins, Colo. But it doesn’t stop there. Each time a capacity is lost — for instance, an older adult’s ability to negotiate stairs, to drive or to manage household finances — sadness and grief can arise afresh. Brannen-Smith encourages people to acknowledge their feelings and try to “normalize them, because people don’t understand that everyone goes through this.”
Talk openly
When families avoid talking about an aging parent’s frailty or serious illness, the person with the condition can become isolated and family relationships can become strained.
“My view is, you’re better off trying to get through whatever you’re facing together,” Rolland said.
When Rolland works with couples who are dealing with multiple sclerosis, for instance, he asks them to make a list of things they’d like to discuss but don’t. “Usually, there’s about a 75 percent overlap, and it’s a tremendous relief to most people to find out they don’t have to keep things locked up inside,” he said.
“People who are facing serious illness think about what might lie ahead all the time,” Rolland said. “For a family member not to bring this up, for everyone to be off in their own grieving pockets, alone, isn’t helpful.”
Communicate sensitively
Abigail Levinson Marks, a clinical psychologist in San Francisco, regularly works with adults who have brain tumors, which can alter their thinking and wipe out their memories, as dementia does for millions of older adults.
“People with these conditions aren’t the same as they were before, but it would be heartbreaking for them to know that you didn’t see them as the same person,” she said. “So, the truth becomes something that cannot be named and that everybody avoids, for fear of shaming the person.”
In her practice, Marks asks “people to share what each person is going through and not worry about protecting each other from what they’re feeling,” she explained. “Because protecting each other leads to feeling more alone and magnifies the feelings of loss.”
For a caregiver of someone with dementia, that might mean saying,“Sometimes you might see a look crossing my face and think that I’m disappointed. It’s not that I’m upset with you. It’s that I’m sad that there are things that happened in our past that we don’t remember together.”
For someone who has suffered a stroke, it might mean encouraging them to open up about how hard it is to lose a measure of independence and be seen as someone who’s disabled.
Lean in
How people respond to sadness and grief varies, depending on their personality, past experiences, the relationship they have with the person who’s frail or ill, and the nature of that person’s condition.
“Sadness can make you cherish a person even more and appreciate small moments of connection,” said Barry Jacobs, a Pennsylvania psychologist and co-author of “AARP Meditations for Caregivers.”
Some people, however, can’t tolerate feeling this distress and end up distancing themselves from someone whose health is declining. Others might show up in person but focus on tasks instead of allowing themselves to connect emotionally.
If possible, lean in rather than letting yourself become distant. “Cherish the time that you have together,” Jacobs said. “Rather than pulling back, move toward the person and be as engaged with them as possible, particularly on an emotional level.” In the end, connection eases the pain of grief, and you’ll be glad you had this time with the person.
Seek support
“Don’t confront grief alone or in isolation,” said Alan Wolfelt, founder and director of the Center for Loss & Life Transition in Fort Collins, Colo. “Have people around you who are supportive and who will be present for you” — family members, friends, people from a support group, whoever is willing to be a companion through your journey through serious illness.
Ultimately, this journey will help shape how you ultimately experience a loved one’s death.
Wolfelt describes mourning his mother twice. “The day she was diagnosed with Alzheimer’s and all the days I watched her dwindle. And then, the day she died, I had to begin mourning again, at a whole other level.”
play
But Lundebjerg of the American Geriatrics Society found a measure of peace when her mother finally passed away, after two seizures and the family’s decision not to pursue further treatment. “It was OK that she died because she was ready — she had made that very clear. And I had come to peace, over a very long time, with the fact that this was going to be coming.”
-
10-26-2025, 01:49 AM #67Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
Mách Thuốc
Trần Hữu Thuần
Trước hết, xin bỏ đi chuyện ra đường gặp “anh hùng” như Hồ Chí Minh nói vì chuyện buộc làm anh hùng đã sinh ra anh hùng giả kiểu “ngọn đuốc Lê Văn Tám” mà tội nghiệp con cháu chúng ta phải nhai nhải tụng bài. Còn lại, theo tôi, người Việt chúng ta đặc biệt có hai con người: con người thi sĩ và con người thầy thuốc. Con người thi sĩ thì đã nhiều người bàn đến, xin cho tôi được bỏ qua. Tôi chỉ xin lạm bàn một chút về con người thầy thuốc.
Vài tháng gần đây, tôi bị phong thấp. Chỉ riêng cái từ này cũng khó hiểu cho đúng cách, theo cách hiểu thông thường. Sách Đại Nam Quốc âm Tự vị giải thích phong thấp, nguyên văn:
Chứng bệnh hay làm cho trầm trệ cả thân mình hoặc nhức mỏi cả tay chơn, thầy thuốc đoán là tại khí trược dưới đất xông lên (ĐNQATV, Saigon, Rey, Curiol, 1895).
Do đó, cứ cảm thấy nhức mỏi đau chân tay thì gọi là phong thấp. Tiếng Anh thì rõ ràng bệnh tôi đang nghi ngờ có thể bị là Rheumatism. Bệnh này nằm trong loại bệnh gọi là Arthritis, kể cả Gout rồi Rheumatoid Arthritis. Arthritis thì từ điển dịch là viêm khớp. Nhưng hiểu làm sao đây? Bị phong thấp (rheumatism) thì cũng viêm khớp. Rồi còn một chứng nữa mà tiếng Anh gọi là frozen shoulder, dịch nôm na là “vai bị đông lạnh!” Bệnh này làm tê cứng hai xương vai, và lan ra đau buốt đến tận bàn tay, đau đến phát khóc.
Các cơn bệnh này tôi đều đã trải qua với tuổi mấp mé cổ lai hi. Mỗi lần bị bệnh, tôi đều phải gặp bác sĩ gia đình. Có lần bác sĩ gia đình phải gửi tôi đến bác sĩ chuyên khoa. Như lần bị “vai tê cứng,” tôi phải chịu bác sĩ chuyên khoa chích một mũi cortisone vào vai, rồi phải tập trị liệu (therapy) mới hết đau. Gout cũng đã hành hạ tôi. Bác sĩ gia đình cho uống loại thuốc gọi là Cochincine, uống đến khi tiêu chảy té re thì ngưng. Thế mà lại khỏi! Nhưng đến khi đến gặp bác sĩ chuyên khoa, tôi lại được ông ấy bảo là không nên dùng thuốc này như vậy! Biết tin ai bây giờ!
Lần này, bác sĩ của tôi cũng tưởng tôi bị gout dù thử máu thấy gas không lên cao. Ông cho uống Prednisone không hiệu quả, thử máu mới nghi tôi bị rheumatoid, gửi tôi đi chuyên khoa. Khổ nổi, hẹn bác sĩ chuyên khoa này phải đến sáu tuần mới gặp được, gặp y tá điều trị (nurse practitioner) thì cũng phải chờ ba tuần! Suốt cả tháng, bác sĩ gia đình bảo tôi nếu đau cứ uống thuốc giảm đau thông thường. Giận ổng thiệt! Mình đau đến phát khóc mà chẳng có thuốc men gì. Ông còn nói, “Chẳng thuốc men gì, một tháng sau ông cũng khỏi. Có điều không chữa, về lâu về dài sẽ có hậu quả không tốt.” Tôi nghe lời ông, chỉ ba tuần sau thì bệnh thuyên giảm dù chẳng uống thuốc gì ngoài Tylenol và Motrin để giảm đau.
Tôi chỉ dài dòng như vậy để đi vào chuyện thôi. Tôi đau chân, đi phải chống gậy, nếu khi nào đi được. Đang từ nhà thờ bước ra, có một bà - thực sự không thân gì mấy - ghé tai hỏi thăm rồi bảo:
“Em mách ông thứ thuốc này nhá. Bao nhiêu người em mách họ uống lành cả rồi đấy.”
“Thuốc gì mà hay thế?”
“Loại dược thảo này này,” bà ấy ghé tai nói tên thuốc, y như sợ người ta nghe lén.
Tôi cũng chỉ nghe tiếng được tiếng mất, nhưng cám ơn bỏ đi. Lạ nhỉ, bác sĩ thử lên thử xuống vẫn chưa định được bệnh tôi cho rõ ràng, thế mà sao bà này lại biết được và cho thuốc ngay.
“Ông cứ uống, em bảo đảm ba mươi ngày là khỏi!”
Thế thì hay ho gì. Bác sĩ gia đình đã bảo tôi, không uống gì hết, 30 ngày cũng khỏi. Vậy thì uống thuốc bà ấy mách bảo để làm gì. Tưởng năm ba ngày khỏi bệnh thì mới thực là đúng thuốc chứ!
Tôi đi khám chuyên khoa. Bác sĩ chuyên khoa hỏi ngọn nguồn gốc gác bệnh tình tôi, thậm chí gia đình có ai bị arthritis không. Rồi bóp qua vặn lại chân tôi, sờ mó xương sống rồi bắt tôi khum lên khum xuống trong khi ông sờ các đốt xương sống nào đó. Ông cho tôi biết có đến hơn 100 bệnh gọi là arthritis. Trong đó có 15 loại là đến 98% người bị đau khớp mắc phải. Thế có nghĩa cũng còn 2% người bị các bệnh còn lại, không chừng trong đó có tôi. Lí do là cho dẫu bác sĩ gia đình tôi cho xét nghiệm, và trong máu tôi có bệnh gì đó có từ ngữ lupus. Tuy nhiên, bác sĩ này nói chưa chắc, vì đến 99% người bị sưng khớp, nếu thử máu đều có bệnh lupus này, trong khi thực sự chỉ có chừng 0.1% là thực sự có bệnh. Ông còn nói, cứ vô trong mall, lôi bất cứ ai đi thử máu, sẽ có 15% có kết quả mắc bệnh lupus này. Có nghĩa là thử máu cũng chưa chắc đã đúng là bị bệnh! Kết luận, bác sĩ không chắc tôi đang bị rheumatism như bác sĩ gia đình tôi nghi ngờ, mà có lẽ chỉ bị gout. Lạ chưa? Gout thì ở ngón chân cái là thường, sao lại ở cổ chân? Bác sĩ này nói, nếu tôi bị sưng lại, đến ngay để ông rút nước từ chỗ sưng ra xét nghiệm mới có thể biết chắc được. Nghĩa là ông tạm thời bó tay, chỉ cho tôi uống thuốc cầm chừng vì ... không uống cũng lành mà!
Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề. Vấn đề ở đây tôi muốn nói là không dễ gì định một bệnh dù ta gọi cách đơn giản là thấp khớp hay phong thấp hoặc viêm khớp. Thế thì làm sao lại có được thứ thần dược “ai uống cũng lành” mà bạn bè muốn chỉ cho tôi? Mà lành là lành bệnh gì khi chưa định được bệnh? Tôi nhất quyết nói với họ là loại bệnh này bác sĩ tôi nói không uống cũng lành, có điều không điều trị thì di chứng về sau. Họ giận tôi ra mặt!
Hai người quen ở nơi xa, nghe tôi bệnh, vội vàng gọi điện thoại đến.
“Anh ơi! Tờ báo tại địa phương em đây có đăng bài chữa bệnh gout hay lắm. Em đọc anh nghe để thử xem sao.”
Tôi phải chịu trận ngồi nghe người bạn đọc hết bài báo, rồi cám ơn. Một người khác cũng gọi điện thoại đến:
“Em nghe người bạn nói có một bác sĩ bên Ấn độ quảng cáo loại thuốc thấp khớp mà ông chế ra lúc đầu để tự điều trị và có kết quả tốt. Ông nói uống trong 30 ngày sẽ hết bệnh.”
“Tưởng uống ba ngày thì hết bệnh, hoặc ít nữa bảy tám ngày như Prednisone, chứ tới 30 ngày thì tôi không uống cũng lành!”
Thêm một người nữa giận tôi. Tôi đang chống gậy đi trong chợ, lại có người mách:
“Anh về uống thuốc này đi. Tôi đau lắm, cánh tay nhức nhối, đưa không lên. Đi bác sĩ, rồi châm cứu, cũng không kết quả mấy năm trời. Cuối cùng uống thuốc này hết ngay. Tôi chỉ cho nhiều người uống đã khỏi.”
Tôi trả lời:
“Có lẽ anh bị frozen shoulder. Không biết bác sĩ của anh chữa trị thế nào nhưng bác sĩ của tôi gửi tôi đi chuyên khoa và người ta chỉ chích một mũi loại cortisone vào vai là hết ngay.”
Lại thêm một người nữa giận tôi. Cái lạ là không nghe ai hỏi “Anh đã đi bác sĩ chưa?” hoặc “Bác sĩ nói thế nào,” hoặc ít nữa có đến gặp thầy thuốc đông y nào chưa, mà chỉ chụp lấy tôi để mách thuốc. Mà toàn là dược thảo, thuốc Nhật, thuốc Ấn độ, hoặc thuốc Tàu. Chẳng ai trong những người mách thuốc tự hỏi, “Nếu quả thực các loại thuốc đó hay như thuốc tiên vậy, “ai uống cũng lành,” thế sao chưa thấy cạnh tranh với các thị trường thuốc Tây? Cứ cạnh tranh đi cho mấy nhà bào chế chết ngắt để thuốc ta tung hoành thị trường. Còn được lợi nữa là tự ái dân tộc sẽ được nâng cao vời vợi, “Ấy nha, các người bỏ ra triệu này tỉ kia để nghiên cứu, cũng chẳng cạnh tranh lại nổi dược thảo của tôi.”
Không phải là thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Ấn, hay dược thảo hay hoặc không hay mà ở chỗ có định được bệnh thì mới điều trị được. Thầy thuốc đông y trước khi kê toa cũng phải nghe nói triệu chứng, bắt mạch xem trầm, phù, hoặc loạn. Rồi khi kê toa, thầy thuốc còn phải gia giảm theo giới tính nam khác nữ khác, rồi theo mùa, rồi có khi theo tình hình gia đình giầu khác nghèo khác. Dù thuốc nào, không thể dùng thuốc khi chưa định được bệnh. Và, không thể có một loại thuốc bệnh nào cũng chữa được, “ai uống cũng lành.” Câu chuyện Trương Chi Mị nương đã cho thấy, cô công nương không thể dùng được thuốc nào khi thầy thuốc chưa định được bệnh. Và chẳng ai định được bệnh cô nếu cô không tự tiết lộ vì thương ông thầy già.
Tôi nghĩ, phải chăng đặc tính “mách thuốc” này của chúng ta là do hoàn cảnh khó khăn của chúng ta ngày trước còn sót lại. Chúng ta có câu “Lâm bệnh vài tứ phương.” Thôn quê mình ngày xưa thầy hiếm, thuốc không có. Ai chỉ thứ gì, dù lá dù hoa, đều cứ dùng, “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc.” Người Việt chúng ta sẵn sàng mách thuốc cho nhau, không phải chỉ một bệnh trên mà bất cứ bệnh gì. “Ai uống cũng lành,” nhiều người quên mất có người uống xong đi cấp cứu! Tôi còn nhớ lúc còn ở tù cải tạo, một người bạn tù bị xuất huyết nội vì đã dùng sức quá sức mình. Bác sĩ tù cũng ngồi đó nhìn vì không có thuốc, y như đồ tễ không có dao, ao ước phải chi có máu để chuyền và các phương tiện cấp cứu khác. Y sĩ của trại tù xuống và bảo anh em đi lấy cỏ chỉ. Bác sĩ tù nhìn tôi, len lén lắc đầu. Cũng phải đi lấy cỏ chỉ về cho uống! Cuối cùng, khi nhận được một ống calcium thì người bệnh đã 99 phần chết. Bác sĩ tù sửa soạn kim chích. Tôi nói, “Chích làm gì nữa, với lại calcium thì ích gì lúc này?” Bác sĩ tù không nhìn tôi, nói “Thì cứ chích. Cho yên tâm. Đó là phần của anh ấy!”
Âu cũng là lòng từ ái của người Việt chúng ta. Người “mách thuốc” không nỡ nhìn người khác đau khổ. Người “uống thuốc” vì không nỡ làm phiền lòng người mách bảo cho mình. Tôi cũng đã có lần nghe “dụ” về Glucosamine, “Hay lắm, uống vào hết đau khớp ngay.” Tôi hỏi bác sĩ gia đình, ông ta nói chẳng công hiệu gì đâu, nhưng “ông muốn thử thì thử.” Tôi “thử đại” hết một hũ, mất mấy chục đô, chẳng thấy nhúc nhích gì, rồi cũng phải chạy đến ông bác sĩ. Tôi kể lại, ông ấy cười! Từ đó, tôi “kệch.” Xin tạ lỗi với các người thương tôi đã “mách thuốc” cho tôi vì tôi đã không đủ can đảm không làm mất lòng quí vị và các bạn.
-
03-29-2026, 01:27 AM #68Nhà Lầu
- Join Date
- Aug 2017
- Posts
- 318
SỨC KHỎE LÀ VÀNG
Kiều Mỹ Duyên
Có sức khỏe là có tiền bạc
Có sức khỏe là có thời gian
Có sức khỏe là có người thương
Có sức khỏe là có tất cả
Người khỏe mạnh lúc nào mặt mày cũng tươi như hoa, tiếng cười giòn tan như mùa Xuân đang ở rất gần, như tiếng chim líu lo trên cành. Người khỏe mạnh không bao giờ mặt mày cau có, khó coi. Người khỏe mạnh đem sự vui tươi cho người xung quanh. Sự vui vẻ, lạc quan của người này đem niềm vui cho người khác. Người khỏe mạnh rộng lượng, dễ dàng tha thứ. Người đẹp như tiên nữ giáng trần nhưng không khỏe mạnh hay nhăn nhó thì rất khó coi. Người tối ngày cứ cằn nhằn, chê người này, chỉ trích người kia rất khó có bạn thân, vì mọi người ai cũng thích sự vui vẻ, lạc quan, không ai thích gần người bi quan, tối ngày cứ than thở, than như người bệnh khắp chết.
Người nào cũng thích nhìn hoa nở, nhìn cánh đồng cỏ xanh mướt, không ai thích đi trong sa mạc, không ai thích nhìn cành cây héo úa, ủ rũ như người sắp chết. Người vui vẻ, lạc quan có nhiều bạn, dễ kết thân với người xung quanh.
Tiền rất quan trọng, nhưng sức khỏe còn quan trọng hơn.
Sức khỏe không còn, mọi thứ khác đều trở nên vô nghĩa.
Tôi thường rủ bằng hữu hay những người trẻ vào thăm viện dưỡng lão buổi chiều hay thăm những người không nhà tặng thực phẩm, túi ngủ, nhưng số người thích đi đến những nơi này không nhiều. Có người nói đến viện dưỡng lão về nhà tối ngủ cứ nhớ đến bệnh nhân nằm bất động, thở bằng máy, hơi thở đứt quãng không biết bao giờ ra đi. Nhiều người trẻ đi thăm viện dưỡng lão với chúng tôi vài ba lần không muốn đi nữa, vì nơi đó không vui, vì nơi đó là hình ảnh cuối cùng của con người. Đến nơi nào vui thì mới thu hút người khác nhiều hơn. Trời sinh ra mọi người một tính nhưng đến chỗ buồn thì ít người thích đến. Đến những nơi ca hát, đại nhạc hội, tiệc tùng vui vẻ thì hấp dẫn người đến nhiều hơn.
Ngày nào trong viện dưỡng lão hay trong bệnh viện đều có người lìa đời, những giây phút cuối cùng có người thân, con cháu bên cạnh. Có nhiều người con cháu ở xa chưa về kịp, giây phút lìa đời của họ chỉ có y tá hay nhân viên của viện dưỡng lão hay của nhà thương. Sinh và tử cũng vậy, sinh ra chỉ một mình, khi lìa đời cũng chỉ một mình.
Có gì cũng được trừ bệnh
Không có gì cũng được trừ không có tiền
Thiếi gì cũng được trừ thiếu sức khỏe
Sức khoẻ không phải là tất cả nhưng
Không có sức khoẻ sẽ chẳng có thứ gì!
Bây giờ còn sinh tiền mình phải làm gì? Người trẻ cũng có thể ra đi bất cứ lúc nào, người già cũng vậy, sự sống và chết rất gần nhau. Thấy đó rồi chết đó, sinh, lão, bệnh, tử, có ai tránh khỏi bến bờ tử sinh? Không ai sợ chết, nhưng chết rồi mình sẽ về đâu? Về đâu thì chưa ai biết nhưng bây giờ mình nên cố gắng sống làm người tử tế được không?
Ai cũng có thể làm được điều này, sống tử tế, đừng lường gạt ai, đừng dối trá ai, sống để cho người xung quanh thương yêu mình, ông bà, cha mẹ, anh chị em mình có bao nhiêu người mà mình không thương yêu họ thì thương yêu ai bây giờ chứ? Sống làm sao cho thoải mái, sống với khả năng của mình, đừng mơ ước làm vương, làm tướng, thực hiện được những gì trong tầm tay của mình là đủ rồi.
Tôi quen những người bạn 70- 109 tuổi, có người khỏe mạnh, tập thể thao, tập võ hàng ngày, đời sống của họ rất phong phú, đi làm thêm để có tiền giúp cho những người bất hạnh ở quê nhà. Tôi quen những người trẻ vừa rời trường đại học với nhiều mơ ước. Mơ ước nào cũng sẽ thực hiện được nếu kiên nhẫn, chịu khó, sống giản dị, không đánh bài, không hút thuốc, không uống rượu. Làm việc và học hỏi không ngừng sẽ dễ thăng tiến trong nghề nghiệp và có địa vị trong xã hội. Ở xứ sở này có nhiều cơ hội để học, người trẻ, người già, người nào muốn học tới đâu thì học tới đó, học cho đến hơi thở cuối cùng cũng được.
Vàng là của quý giá cao
Đôi khi sức khoẻ còn cao hơn vàng
Vàng thì mua kí bán cân
Sức khỏe khi cần ai bán mà mua
(Tuệ Tâm)
Tốt nghiệp 4 năm đại học chưa đủ, phải học không ngừng nghỉ, người này hơn người kia cũng nhờ có kiến thức, kiến thức không mua được, đó là tài sản vô giá của mỗi người. Đến xứ sở Tự Do phải có mơ ước, nhưng phải kiên nhẫn. Thiếu kiên nhẫn sẽ không thành công ở bất cứ nơi đâu.
Ai cũng nói sức khỏe là vàng, mình là thầy thuốc cho chính mình? Nhưng có bao nhiêu người nghe lời của bác sĩ? Quý vị có đi khám bệnh định kỳ không? Có ăn uống điều độ không? Ngủ đủ không? Bác sĩ khuyên ăn uống phải đúng giờ, ăn những thức ăn thích hợp cho sức khỏe của mình, đừng ăn đồ có dầu mỡ, tôm hùm, đừng ăn mặn, đừng ăn đường nhiều. Người có bệnh cao mỡ, cao máu, cao đường thì phải kiêng ăn. Những gì liên quan đến mỡ, đường thì đừng ăn, đừng ăn cơm, chất béo, chất mỡ, nên ăn rau nhiều, v.v.
Tập thể dục mỗi ngày, đi bộ, ăn rau, ăn trái cây, mỗi ngày phải kiểm tra cân nặng của mình. Đừng ăn sau 6 giờ tối, nên ngủ sớm và thức dậy sớm. Mình là bác sĩ cho chính mình là tốt nhất. Nhưng có mấy ai làm được những điều bác sĩ khuyên bảo, ở nhà có con trai, con gái hay dâu rể là bác sĩ, nhưng bác sĩ trong nhà nói ông bà cha mẹ ít nghe. Bởi vậy ông bà mình thường nói: Bụt ở nhà không thiêng!
Các bài tập giúp ích cho người cao tuổi là tập các động tác có kháng lực: đi bộ, tập dưỡng sinh, thái cực quyền, v.v., làm việc nhà, làm vườn cũng là một cách tập luyện vận động cần thiết.
Ăn ở nhà tốt hơn ăn tiệm, ăn ở tiệm mất công ngồi chờ, mất thì giờ tìm chỗ đậu xe, tiệm ngon thì phải đợi cả giờ chưa chắc tới phiên mình. Bây giờ thức ăn ở tiệm rất đắt, lại phải chờ đợi tốn nhiều thì giờ. Ăn ở nhà tiện hơn, đỡ mất thì giờ và khỏi phải chi nhiều tiền cho tiệm. Ăn ở nhà thức ăn sạch hơn, tươi hơn, không bỏ bột ngọt, bột nêm, những gia vị này rất hại cho sức khỏe của mỗi người. Nếu trồng rau ở nhà được thì tốt hơn, rau hay trái cây ở nhà không bỏ phân hóa học, khỏi phải sợ ung thư. Có người quanh năm suốt tháng chỉ ăn rau cải và trái cây ở nhà, không tốn một đồng đi mua ở chợ và đỡ tốn hơn nhiều. Người già trồng rau cải, cây ăn trái, lại có cơ hội tập thể thao. Làm vườn, chăm sóc vườn rau của mình cũng là cơ hội tập thể thao để sống lâu, sống khỏe.
Nhiều người ghét uống thuốc bổ. Chỉ cần ăn uống điều độ, tập thể dục, đi bộ, không nhăn nhó, không bệnh hoạn, sống thoải mái, sống vui vẻ với mọi người xung quanh là hạnh phúc lắm rồi.
8 bài học sức khỏe
1. Hạn chế ăn thịt, ăn nhiều rau
2. Bớt ăn đường, ăn nhiều trái cây
3. Bớt ăn tinh bột, uống nhiều sữa
4. Bớt đi xe, siêng đi bộ hơn
5. Bớt muộn phiền, ngủ nhiều hơn
6. Bớt tức giận, cười nhiều hơn
7. Bớt nói, hành động nhiều hơn
8. Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn
Sức khỏe là vàng, là hột xoàn, đâu cần uống thuốc bổ. Uống thuốc bổ coi chừng chất bảo quản để giữ cho thuốc đừng hư có thể hại đến sức khỏe của mình, tiền mất tật mang. Đừng tin vào lời quảng cáo, hãy tin vào chính mình, mình là thầy thuốc của mình, là bác sĩ của mình. Tại sao các Hướng Đạo Sinh sống thọ, nhiều người trên 100 tuổi mà khuôn mặt của họ rất hồn nhiên. Họ sống lương thiện, không hại ai, không thù oán ai, không âm mưu lường gạt ai, sống vui vẻ và lạc quan nên họ sống lâu hơn trăm tuổi vẫn khỏe mạnh, vì họ là bác sĩ của chính họ.
Tiền không mua được sức khỏe. Quý vị là tỷ phú, triệu phú nhưng không có sức khỏe, nay bệnh mai đau thì đời sống của quý vị vô nghĩa vì không đem lại sự an vui cho người khác. Bởi vậy sức khỏe là vô giá, sức khỏe cho chúng ta đời sống vui tươi.
Mong tất cả đồng hương luôn khỏe mạnh, lạc quan, yêu đời, yêu người mà sống, sống vui, sống khỏe và hạnh phúc với mọi người xung quanh.



Reply With Quote