Register
Page 5 of 20 FirstFirst ... 3456715 ... LastLast
Results 41 to 50 of 199
  1. #41
    Lotus
    Guest
    Chính phủ CHXHCNVN dự định xuất khẩu 90000 lao động trong 2012

    Vietnam plans to send 90,000 workers abroad in 2012

    The Department of Overseas Labour said 88,289 workers were sent to 40 countries and territories last year, mostly to the traditional markets like South Korea, Taiwan and Malaysia.

    New opportunities are opening this year in Japan and Libya.

    Nguyen Ngoc Quynh, director of the department, said following a trip of Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung to Japan, an agreement has been reached to hire nurses and orderlies from Vietnam, creating an opportunity for Vietnamese expat workers to earn higher salaries in highly respected fields of work.

    In other news, a Vietnamese official last week confirmed the country's second human death from bird flu in less than a month ... The virus rarely infects humans and usually only those who come in direct contact with dead poultry, but experts fear it will mutate into a new form that passes easily from person to person.

    The World Health Organization says that as of Jan. 24, there have been 344 human deaths from 583 confirmed bird flu cases around the world since 2003. About 60 of those deaths occurred in Vietnam.
    http://www.ishnglobal.com/index.php?...appening-today


    Sau 37 năm đơì ta có Đảng, dân ta được xuât´ khẩu qua làm lao nô bên các nươc´ lân bang trong vùng Đông Á như Hàn, Đài, Malaysia, phụ nữ có cơ hội lâý chồng Hàn, Đài, Malaysia.

    Ngoài ra có Nhật và Lybia nhận lao động VN .

    Trong một thông tin khác, thì cho biêt´ là 344 ngươì chêt´ vì cúm gà. Trên thê´giơí có gần 200 quôc´gia, mà riêng mình CHXHCNVN không thôi đã chiêm´ phần 60 ngươì chêt´ trong sô´ 344 ngươì. Có lẽ vì các bệnh viện CHXHCNVN quá tải, dân nghèo không tiền chửa bệnh, cho nên sô´ ngươì chêt´ chính thưc´ mà nhiêù như vậy, còn con sô´không chính thưc´ thì không rõ.

  2. #42
    Lotus
    Guest
    Sau làn sóng sân golf nay thì ... casino :


    Người dân hưởng gì từ những dự án casino?


    2012-02-27

    Luật pháp Việt Nam cấm tất cả những hình thức cờ bạc nhưng những công ty có “máu mặt” trong nghiệp vụ cờ bạc trên thế giới đang có khuynh hướng đổ dồn vào Việt Nam.



    Casino Crown điều hành bởi Silver Shores International Resort ở Đà Nẵng, ngày 15 tháng 2 năm 2011.


    Luật pháp hiện hành của Việt Nam cấm tất cả những hình thức cờ bạc và đánh bạc. Nhưng kể từ cuối năm 2006 đến nay, dự án xin thành lập những khu phức hợp nghĩ dưỡng, giải trí kết hợp casino của những công ty có “máu mặt” trong nghiệp vụ cờ bạc trên thế giới đang có khuynh hướng đổ dồn vào Việt Nam.Thông tín viên Định Nguyên tìm hiểu và trình bày vấn đề này như sau:

    Casino Đồ Sơn, Hải Phòng; Lợi Lai, Móng Cái tính đến nay hoạt động đã được 18 năm. Trong khuôn khổ thí điểm để thu hút khách du lịch nước ngoài. Du khách thì không tăng và nguồn thu từ hai sòng bạc này cũng không lớn. Lý do chính là người Việt không được phép vào đây đánh bạc cộng thêm lượng du khách đến đây chơi bài cũng không nhiều.

    Gần đây những dự án về khu nghĩ dưỡng kết hợp với casino lại nổi lên rầm rộ. Từ Las Vegas Sands muốn thương thảo đầu tư hai khu nghĩ dưỡng kết hợp casino với mức đầu tư lên đến 6 tỷ USD tại Hà Nội và Thành phố HCM, đến Quảng Ninh đồng ý cho tập đoàn Genting của Malaysia nghiên cứu đầu tư khu vui chơi giải trí, bao gồm casino, tại Vân Đồn với vốn đầu tư trên 4 tỷ USD. Trong khi đó casino Hồ Tràm, Vũng Tàu đã được khởi công vào năm 2008. Đó là chưa kể Thủ tướng đã chấp thuận cho Kiên Giang thành lập khu casino tại Phú Quốc, dự kiến sẽ mời gọi đấu thầu mà điều kiện là chủ đầu tư phải là nhà hoạt động trong lĩnh vực sòng bạc và đủ năng lực tài chính với cam kết tổng vốn đầu tư lên đến 4 tỷ USD. Nếu kê đủ thì danh sách xin đầu tư vào ngành cờ bạc còn dài hơn nữa.

    Như vậy Việt Nam đang là “điểm hẹn” hấp dẫn để đầu tư trong lãnh vực casino. Nhưng nguồn cơn tạo nên “điểm hẹn hấp dẫn” thì chưa thấy được. Hiện nay luật pháp Việt Nam cấm tất cả những loại hình cờ bạc. Những casino được phép hoạt động lâu nay chỉ cho phép người nước ngoài chơi, người trong nước không được phép vào đó do vậy hoạt động của những nơi này không mấy hiệu quả. Lai Châu, khách chủ yếu đến từ Trung Quốc, tuy nhiên chính quyền Trung Quốc đang dùng những biện pháp ngăn cấm người dân họ qua Việt Nam đánh bạc, nên lượng khách còn lại không đáng kể. Đồ Sơn cũng cùng chung số phận.

    Giáo sư TS Nguyễn Mại, nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nhà Nước về hợp tác và đầu tư cho biết, chính ông cũng không rõ vì đâu như vậy,nếu căn cứ vào những hoạt động không hiệu quả của những casino hiện có:

    “Tôi cũng không hiểu. Vì Việt Nam hiện nay cũng đang có mấy cái casino. Miền Bắc có 2 cái: một cái ở Lợi Lai, Móng Cái; một cái ở Đồ Sơn Hải Phòng. Ở Đồ Sơn và Lợi Lai đã hoạt động 17, 18 năm nay rồi. Quy mô của nó cũng chỉ nhỏ như vậy thôi không phát triển được. Riêng casino Lợi Lai khi người Trung Quốc sang chơi, thì Trung Quốc cũng phá nên người Trung Quốc sang chơi cũng giảm không thu được nhiều lợi nhuận lắm. Bây giờ có 3 dự án có đến gần 10 tỷ đô, một của Malaysia ở Quảng Ninh, hai cái khác của Mỹ. Tôi không hiểu người ta căn cứ vào đâu? Nếu mà người Việt Nam chơi thì hiện nay chính phủ không cho, còn người nước ngoài chơi thì đấy có hai cái ví dụ như vậy. Tôi không hiểu người ta căn cứ vào đâu để đưa ra những dự án khổng lồ như vậy.”
    Ảnh hưởng xã hội

    Mặt khác, tính đến cuối năm 2009, với trên dưới 80 dự án sân golf đã “ăn” mất 8.000 hecta đất nông nghiệp, những dự án casino sẽ tiếp tục làm cho biểu đồ trái chiều, dự án ăn chơi tăng, đất nông nghiệp giảm, mở rộng biên độ. Đây là một nghịch lý nguy hiểm khi Việt Nam với 70% dân số sống bằng nông nghiệp. Người dân mất đất, để phục vụ cho giới thượng lưu, sẽ nối dài thêm đoàn dân oan khiếu kiện vốn gây nhức nhối công luận lâu nay.


    Casino Đồ Sơn, cách khoảng 130 km về phía đông của Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2002.


    Cũng giống như trước đây, thời đầu tư sân golf, hiện nay các địa phương ra sức tô hồng cho những dự án casino. Trong đó dễ nhìn thấy 2 điều: cứu cánh cho ngành du lịch và tạo công ăn việc làm cho dân địa phương. Câu nói của Jackson Chang, chủ tịch cơ quan phụ trách đầu tư nước ngoài của Macau, được xem như bửu bối để vận động cho casino: “Một trong những yếu tố khiến tỷ lệ khách nước ngoài đến Việt Nam chưa cao là do thiếu casino, trong khi lãnh vực này có thể mang về nguồn ngoại tệ rất lớn cho Việt Nam”. Lượng kiều hối thu được từ du lịch, đặc biệt là du lịch casino, rất hấp dẫn nhưng đích đến cuối cùng của nó có phải là người dân hay không thì chưa có câu trả lời cụ thể. Nhưng cuộc sống mưu sinh của người dân “hy sinh đất” cho các dự án ăn chơi này thì như chỉ mành treo chuông. Chuyện đã thấy rõ qua các dự án sân golf.

    Nhìn ra chung quanh, cũng có rất nhiều quốc gia thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài mà không có casino: Thái Lan, Hồng Kông. Ngay Trung Quốc cũng không có casino. Macau là một ngoại lệ khi nó mang sòng bạc lớn nhất từ thời thuộc địa Bồ Đào Nha trở về với Trung Quốc.

    Khan hiếm vốn đầu tư có phải là nguyên nhân chính bùng nổ dự án casino? Nhưng giữa vốn đầu tư và hậu quả xấu đối với xã hội là điều cần phải xem xét cẩn trọng. Giáo sư TS Nguyễn Mại cho biết:

    “Nước nào cũng phải có một sự lựa chọn. Cho nên chúng tôi cho rằng sự lựa chọn khôn ngoan nhất của chính phủ là nên lựa chọn những ngành mà đất nước đang cần. Người ta rất coi trọng tác động của casino đối với xã hội. Còn thu ngân sách thông qua casino thì lớn nhưng với điều kiện là anh phải kiểm soát được lượng khách quốc tế vào, lượng khách trong nước vào. Cho nên mở của cho người Việt Nam vào chơi casino thì cần phải thận trọng bởi vì tác động về mặt xã hội rất là lớn. Hiện nay tệ nạn đánh bạc, chọi gà, cá độ bóng đá rất nhiều gây ra rất nhiều hậu quả mà không lường được. Còn mỗi năm như vậy thì Việt Nam cũng thu hút từ 15 đến 20 tỷ đô la vốn đăng ký.”

    Về mục tiêu thu hút vốn đầu tư và du khách thì rõ ràng bất cập. Còn tác động đến con người, đến xã hội thì như thế nào trong khi vấn đề luân lý, đạo đức, công bình xã hội đã được công luận cảnh báo là đang ở mức báo động đỏ.

    Trao đổi với Giáo sư Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, trưởng bộ môn Văn Hóa Học, Đại Học Quốc Gia thành phố HCM, về tác động của casino đối với xã hội giáo sư cho biết:

    “Dân ta có câu “cờ bạc là bác thằng bần.” Cái hình thức đó đối với những người mở ra nó thì có thể có lợi nhưng mà một số rất đông là bị phá sản. Dẫn đến gia đình tan vỡ, tù tội và giết chóc nhau v..v. Cái nguy hiểm của casino nó chẳng khác gì thuốc phiện, chẳng khác gì ma túy cả. Cái ý kiến cho rằng vì không có casino nên chúng ta mất một lượng khách du lịch lớn. Theo tôi cách nói như thế là một cách nói ngụy biện. Vì người ta đến Việt Nam không phải mục tiêu chính là để đánh bạc, vì để đánh bạc người ta đến nhiều nơi tốt hơn ta rất nhiều. Người ta đến Việt Nam trước hết là vì những cái mà người ta không tìm thấy đâu hết, như vịnh Hạ Long hay là những di sản văn hóa của Việt Nam chẳng hạn. Ý kiến tóm lại của tôi là tôi không tán thành cái chuyện phát triển quá nhiều, quá nhanh cái dịch vụ casino này.”

    Vốn nước ngoài đầu tư là một xuất phát điểm của bất cứ quốc gia nào muốn phát triển. Loại hình vốn casino có thể làm nên thịnh vượng về kinh tế nhưng không thể tạo nên những tình cảm tốt đẹp cho con người và sự thuần nhã cho xã hội, thì đó có phải là sự chọn lựa tối ưu của nhà cầm quyền Việt Nam hôm nay?



    http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep...012102217.html

  3. #43
    Lotus
    Guest
    Thứ Ba, 06 tháng 3 2012

    Lượng gạo xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm của VN có thể giảm 44.4%


    Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong ba tháng đầu năm nay có thể giảm hơn 44% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống còn khoảng 1 triệu tấn.

    Theo tường thuật của hãng thông tấn Reuters, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam Phạm Văn Bảy nói rằng đây là tình trạng đáng báo động vì trong quí 1 của năm ngoái Việt Nam đã xuất khẩu 1,8 triệu tấn.

    Hoạt động xuất khẩu chậm lại, trong lúc chỉ còn 2 tuần là tiến vào thời kỳ cao điểm thu hoạch của vụ lúa đông xuân, có thể dẫn tới tình trạng giá lúa gạo trong nước sút giảm.

    Ông Phạm Văn Bảy cho biết năm nay thị trường nhập khẩu ít, có thị trường chưa có kế hoạch nhập khẩu, trong khi sản xuất lúa trong nước tiếp tục gặp khó khăn.

    http://www.voanews.com/vietnamese/ne...141569643.html

  4. #44
    Lotus
    Guest
    Sản lượng cà phê Việt Nam giảm mạnh hơn dự báo

    Hiệp hội Cà phê - Ca cao VN ngày 28.2 cho biết, vụ 2011 - 2012 đã thu hoạch xong, sản lượng thấp hơn so với dự kiến trước khi vào vụ.

    Lượng hàng còn trong kho của vụ trước chuyển sang làm sản lượng thực của vụ này còn thấp hơn vụ trước nhiều. Thực tế xuất khẩu từ tháng 10.2011 đến tháng 1.2012 đã giảm 28% về lượng.

    ... dự báo sản lượng niên vụ cà phê 2012-2013 của VN sẽ giảm khoảng 15 - 20%.

    http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/da...ao/7974639.epi

    Ở Tây Nguyên đang khai thác bô xít, cho nên lượng cà phê sẽ giảm nhiêù.

    Sau này, nươc´ nguồn vùng Tây Nguyên chăc´ chăn´ sẽ ô nhiễm nặng như bên Trung Quôc´ .

  5. #45
    Lotus
    Guest
    Thứ Sáu, 23 tháng 3 2012


    WB cho Việt Nam vay 660 triệu đô la phát triển cơ sở hạ tầng và nông nghiệp


    Thông cáo báo chí của Ngân hàng Thế Giới, World Bank, cho hay ngân hàng vừa chấp thuận ba khoản vay trị giá 660 triệu đô la giúp Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng, lĩnh vực năng lượng, và bảo tồn rừng.

    Các khoản vay này đều hỗ trợ cho Chiến lược Đối tác Quốc gia mới của Ngân hàng World Bank dành cho Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016.

    Ngân hàng Thế giới cho biết từ năm 1993 tới nay đã cung cấp cho Việt Nam các khoản tín dụng, vốn vay, và viện trợ không hoàn lại tổng cộng gần 15 tỷ Mỹ kim giúp tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo.

    Cuối năm ngoái, các nhà tài trợ quốc tế cam kết dành 7,4 tỷ đô la vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam trong năm nay, tức giảm 6,5% so với các khoản cam kết của năm trước.


    Nguồn: WB Press Release, Reuters


    http://www.voanews.com/vietnamese/ne...143972726.html

  6. #46
    Lotus
    Guest
    Nợ dây chuyền

    Hàng loạt doanh nghiệp co cụm, phá sản


    Thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, thiếu vốn, áp lực nợ và lãi suất ngân hàng cao đã khiến nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực như: thủy sản, vật liệu xây dựng, đồ gỗ... khốn đốn, nhiều nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng, ngắc ngoải...

    Nợ đang trở thành một chuỗi dây chuyền trong ngành chế biến và nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là mặt hàng cá tra. Doanh nghiệp nợ dân, dân nợ doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi...

    Chuỗi dây chuyền này có nguy cơ đổ vỡ bất kỳ lúc nào.



    Nhà máy chế biến cá tra Đại Tây Dương, Cụm công nghiệp Thốt Nốt (Cần Thơ) đã ngưng hoạt động từ năm 2011 đến nay ...


    Bên hai cái ao vừa bỏ trống, ông Hồ Văn Nghĩa (Thới An, An Thuận) kể tháng 7-2011 ông bán 260 tấn cá với giá 23.500 đồng/kg cho Công ty xuất nhập khẩu Việt Ngư (TP Long Xuyên, An Giang) trị giá hơn 6 tỉ đồng. Hợp đồng thanh toán dứt điểm trong 30 ngày, nhưng sau đó doanh nghiệp cứ lần lữa mãi, đến cuối năm rồi chỉ trả được 1,6 tỉ đồng buộc ông khởi kiện ra tòa. Ngày 7-2-2012 bên thi hành án đã có quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng tới nay vẫn chưa thể nào lấy được 4,7 tỉ đồng còn lại.

    “Nợ ngân hàng quá hạn, nợ mua thức ăn tổng cộng hơn 3 tỉ đồng, chỉ còn nước bán đất, bán nhà trả nợ. Hàng chục hộ ở các tỉnh bị doanh nghiệp này neo tiền bán cá như vậy” - ông Nghĩa bức xúc.

    Tại Công ty XNK Việt Ngư, những ngày giữa tháng 3 này không còn cảnh công nhân vào ca, tan ca như trước. Trong tuần thỉnh thoảng mới có vài công nhân vào làm. Một số công nhân cho biết nhà máy đã cho phần lớn người lao động nghỉ việc, ngày nào công ty mua được cá mới kêu vài chục người vô làm công nhật, theo kiểu làm ngày nào trả tiền ngày đó.

    “Nguyên liệu không có thường xuyên nên thỉnh thoảng mới kêu làm, mà thường chỉ nửa buổi” - một công nhân nói.

    Trao đổi với Tuổi Trẻ, một cán bộ của công ty thừa nhận trước kia nhà máy sử dụng 600 lao động, hiện nay chỉ còn chừng 100 người. Ngày nào mua được cá cũng chỉ chừng 30 tấn và công ty thuê 30 -40 công nhân đến làm công nhật. “Không chỉ chúng tôi mà nhiều doanh nghiệp khác đều như vậy. Tình hình khó khăn chung của ngành chế biến xuất khẩu cá tra hiện nay mà” - ông phân trần.

    An Giang có 17 doanh nghiệp với 21 nhà máy chế biến xuất khẩu cá tra, hiện nhiều nhà máy đều giảm bớt công nhân, một số nhà máy hầu như... án binh bất động. Tại cụm công nghiệp Mỹ Quý, các bến cảng không còn cảnh ghe tàu neo đậu lên cá tấp nập như trước. Hằng ngày công nhân thường tan ca sớm, những tốp nam nữ tụ lại đánh bài và lai rai ở quán cóc sát vách nhà máy suốt buổi.

    Chị Phạm Thị Cẩm Hà, Công ty Ntaco, cho hay từ sau tết tới nay nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng. “Tuần qua vô làm hai buổi rồi nghỉ luôn tới giờ, chưa biết chừng nào mới làm lại. Tháng 3 này chỉ làm được chục ngày, nhiều hôm vào làm 4-5 giờ, thu nhập chỉ còn chừng ngoài triệu đồng, làm sao đủ sống đây!” - Hà than thở.

    Anh Trần Văn Tuấn, một tổ phó sản xuất của Công ty Ntaco, cho biết trước kia đơn vị này sử dụng 600 lao động, hiện còn chừng 300 người. Tuy vậy gần đây việc làm của công nhân vẫn không ổn định. “Thu nhập giảm sút không đủ đắp đổi nên công nhân các công ty đang có xu hướng bỏ việc hẳn. Nhiều người vừa về quê gặt lúa mướn” - chỉ dãy phòng trọ vắng tanh, anh Tuấn nói.

    Anh Trần Công Công, tổ trưởng tổ phi lê ở Công ty TNHH An Xuyên, cho biết từ tết tới giờ nhà máy không làm cá tra mà chỉ làm cá rô phi. Cả nhà máy giờ chỉ còn ngoài 100 công nhân, riêng tổ của anh còn chưa tới 30 người và đều là lao động công nhật.

    Tại Cần Thơ, tình cảnh của nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu cũng tương tự. Trên địa bàn quận Thốt Nốt có gần chục nhà máy, sử dụng hơn 6.000 lao động, nhưng giờ đây những dãy nhà trọ đều vắng hoe. “Cứ phải nghỉ việc liên tục, thu nhập không đủ sống, phần lớn công nhân đã bỏ về quê, đi nơi khác tìm việc” - một bà chủ nhà trọ ở Thốt Nốt cho hay.

    Chị Nguyễn Thị Thanh, ở Khu công nghiệp Trà Nóc, kể trước đây là công nhân của Công ty An Khang, sau khi doanh nghiệp bị vỡ nợ chị cùng bạn bè xin chuyển qua làm ở vài công ty khác nhưng các đơn vị này cũng chỉ hoạt động cầm chừng. “Thiếu cá chế biến nhà máy phải nghỉ liên tục, hôm nào có đi làm cũng không hết ca. Thu nhập của tụi tôi hưởng theo sản phẩm, không có cá làm nên lương không đủ sống” - chị Thanh nói.

    80% giảm công suất

    Ông Dương Ngọc Minh - tổng giám đốc Công ty CP Hùng Vương, phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP) - cho biết hiện đến 80% doanh nghiệp cá tra giảm công suất chế biến, trong đó nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa.

    Riêng Cần Thơ, công suất của 12 nhà máy chế biến cá tra tối thiểu là 1.200 tấn/ngày nhưng hiện sản xuất chưa được 300 tấn/ngày. Cùng với sự đóng cửa của các nhà máy chế biến cá thì các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản cũng đóng cửa hàng loạt.

    “Hiện có đến 70% nhà máy chế biến thức ăn cho cá gặp khó khăn, trong đó trên 40% là đóng cửa” - ông Minh nói...


    http://news.socbay.com/ky_1_no_day_c...-51118080.html

  7. #47
    Lotus
    Guest
    Nhật Bản và Hàn Quốc hỗ trợ nhiêù cho chê´ độ ở CHXHCNVN cũng chẳng qua là vì khoáng sản thiên nhiên / đất hiếm rare earth, mà Nhật và Hàn cần cho các sản phẩm công nghệ .

    Japan turns to Vietnam to mine rare earth minerals vital to electronics


    http://www.telegraph.co.uk/news/worl...ectronics.html

    Thứ Sáu, 30 tháng 3 2012

    Nhật Bản sẽ cho Việt Nam vay 1,6 tỉ đôla

    Việt Nam sẽ nhận các khoản cho vay trị giá tổng cộng 1,6 tỉ đô la từ Nhật Bản để thực hiện 8 dự án nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và công nghệ.

    Bản tin của hãng thông tấn Reuters trích lời các giới chức Bộ Tài chánh Việt Nam cho biết các hợp đồng cho vay, được ký kết hôm thứ Sáu giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản và Bộ Tài chánh Việt Nam, nâng số cam kết hỗ trợ tài chánh của Nhật Bản cho Việt Nam lên tới khoảng 21 tỉ đô la, tính từ năm 1992 tới nay.

    Bộ Tài chánh ở Hà Nội cũng cho hay Nhật Bản giờ đây là nhà tài trợ quốc tế lớn nhất của Việt Nam.

    Thông cáo của Bộ Tài chánh nói rằng 8 chương trình và dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật gồm có: Chương trình tín dụng giảm nghèo, Dự án phát triển thành phố công nghệ và khoa hoc5 Hoà Lạc, Dự án Nhà ga hành khách quốc tế T2 ở phi trường Nội Bài, Dự án xây dựng đường sắt đô thị ở Sài Gòn, Dự án xây dựng quốc lộ 3 mới và mạng lưới đường bộ khu vực đoạn Hà Nội-Thái Nguyên, Dự án cải thiện môi nước Nam Bình Dương, Dự án phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn, và dự án phát triển bệnh viện tỉnh, vùng giai đoạn 2.

    http://www.voanews.com/vietnamese/ne...145180935.html


    Japan this fiscal year will provide Vietnam with a loan of 270 billion yen

    Japanese government will provide Vietnam with about 136 billion yen in loans to help Vietnam to build high-tech industrial park and rail infrastructure, so far, the Japanese financial degree will provide Vietnam with a loan of 270 billion yen, the amount of Japanese aid to Vietnam to new highs.

    According to Japanese media reported 329, Vietnam at the same time the introduction of Japan’s capital is also actively introducing its technology. ¥ 44.3 billion in aid for subway construction in Ho Chi Minh City, Vietnam, Japan, Vietnam will be carried out railway technology, is currently the selection of Japanese companies acquire the relevant technology. Hanoi’s Noi Bai International Airport Terminal construction project contracted to the Japanese company, is expected to completed in 2015.

    http://www.finance-ol.com/2012/04/ja...0-billion-yen/

  8. #48
    Lotus
    Guest
    Khai thác đất hiếm và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nặng nề

    Do việc Trung Quốc, nước cung ứng đến 97% đất hiếm trên thế giới, giảm bớt xuất khẩu loại khoáng sản này, nhiều quốc gia, đặc biệt là Nhật Bản, buộc phải tìm những nguồn cung cấp khác và đây là cơ hội để Việt Nam khai thác tài nguyên này. Nhưng khai thác đất hiếm cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ về môi trường, như bài học của Trung Quốc.

    Đất hiếm chứa 17 nguyên tố hiếm có hàm lượng thấp trong vỏ Trái Đất. Đất hiếm được sử dụng trong việc chế tạo rất nhiều sản phẩm như micro, loa, tai nghe, các thiết bị âm nhạc, ổ cứng máy tính, trong cáp quang viễn thông, công nghệ màn hình LED, công nghệ in tiền, công nghệ bán dẫn, siêu dẫn, v.v. . .

    Trả lời phỏng vấn RFI từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà khoa học đã từng làm việc trong ngành điạ chất ở Việt Nam trong 34 năm trước khi nghỉ hưu, và đã từng là người phát hiện khả năng chứa uran ở vùng than Nông Sơn, cho biết thêm về đất hiếm :

    “Các nguyên tố đất hiếm và các kim loại đất hiếm là tập hợp của 17 nguyên tố hóa học thuộc bảng tuần hoàn Mendeleev, có tên gọi là scandi, yttri và mười bốn trong mười lăm của nhóm Lantan. Trong đó, yttri xuất phát từ tên làng Yterby, Thụy Điển, nơi quặng này được phát hiện đầu tiên; còn scandi là từ bán đảo Scandinavia.

    Do các tính năng vật lý và hóa học đặc biệt, suốt bốn thập kỷ qua, các nguyên liệu đất hiếm đã trở thành đối tượng nghiên cứu, phát minh tạo ra rất nhiều ứng dụng kỹ thuật từ macro đến micro và nano cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau: xúc tác hóa học trong ngành lọc dầu, kiểm tra ô nhiễm trong ngành xe hơi, gốm lót cho các động cơ phản lực, nam châm vĩnh cửu cho các ứng dụng từ tính… Có nhóm cho kỹ nghệ huỳnh quang, đặc biệt là cho các màn hình tinh thể lỏng. Có nhóm cho kỹ thuật nam châm vĩnh cửu trong các thiết bị điện, điện tử, phương tiện nghe nhìn, các máy vi tính và các loại dĩa multi-gigabyte hiện nay. Có nhóm để sản xuất moment từ cực mạnh sử dụng trong kỹ thuật làm lạnh từ tính. Trong tương lai, nó sẽ còn cần cho sản xuất các thùng chứa và ống dẫn hydrogen nhiên liệu khi thế giới cạn kiệt dầu mỏ.”

    Năm 1992, Đặng Tiểu Bình đã từng tuyên bố rằng : “ Trung Đông có dầu hỏa, thì Trung Quốc có đất hiếm”. Sở dĩ Trung Quốc hiện nay trở thành nguồn cung ứng đến 97% đất hiếm cho thế giới, đó là vì nhiều nước khác thấy rằng khai thác khoáng sản này tốn kém, mà lại gây nhiều tác hại cho môi trường, theo lời ông Nguyễn Thanh Giang:

    “ Thực ra việc khai thác công nghiệp các quặng đất hiếm không khởi nguyên từ Trung Quốc. Từ những năm 1950, người ta đã khai thác monazit sa khoáng trên các bãi biển; nhưng khoáng vật phosphat đất hiếm này chứa nhiều thorium có tính phóng xạ, nên từ năm 1965 chuyển sang khai thác carbonat đất hiếm bastnasit tại các mạch đá vùng núi Pass, bang Colorado, Mỹ.

    Về sau, phần do các phí tổn khai thác đất hiếm quá cao, phần e ngại các tác hại đối với môi trường, các nước phương Tây, mà cụ thể là Mỹ, đã đình chỉ sản xuất đất hiếm để dựa vào nguồn cung ứng dồi dào và giá rẻ đến từ Trung Quốc. Sự ỷ lại đó đã tạo điều kiện cho Trung Quốc mặc nhiên độc quyền trong lĩnh vực đất hiếm. Cho đến năm 2009, họ đã nắm tới 97% lượng đất hiếm xuất khẩu trên toàn thế giới.

    Tuy nhiên, thực ra trữ lượng đất hiếm Trung Quốc chỉ chiếm 1/3 trữ lượng của thế giới. Nhiều mỏ đất hiếm lớn đang được triển khai ở Úc, Canada và ở Mỹ. Nhiều nơi khác cũng có các mỏ có trữ lượng lớn như ở Nga, Ấn Độ, Brazil hay Mông Cổ. Ngày 3/1 vừa rồi, tạp chí trực tuyến Money Morning của Mỹ đưa tin một công ty khai khoáng của nước này đã phát hiện mỏ kim loại đất hiếm được cho là lớn nhất thế giới.

    Cho nên Junji Nomura, người chịu trách nhiệm nghiên cứu và phát triển của hãng Panasonic nói. "Đất hiếm sẽ là một vấn đề lớn trong hai năm, nhưng trong bốn năm, vấn đề ấy sẽ qua đi.”

    Việt Nam cũng là một trong những quốc gia được đánh giá là có trữ lượng đất hiếm cao. Cho nên, một số nước như Nhật Bản đang quay sang Việt Nam để tìm nguồn cung ứng bổ sung.

    Nhân chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 10 năm ngoái của thủ tướng Naoto Kan, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo Việt Nam chọn Nhật Bản là đối tác hợp tác lâu dài trong điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến đất hiếm tại Việt Nam.

    Theo tin AFP, hai công ty của Nhật là Toyota Tsusho và Sojitz đang hợp tác với Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) để chuẩn bị khai thác các mỏ đất hiếm tại đây. Dự án sẽ bắt đầu ngay sau khi các nhà lãnh đạo hai bên thỏa thuận xong các điều khoản liên quan.

    Một công ty khác là Sumitomo cũng đang thực hiện một cuộc khảo sát tại một mỏ đất hiếm ở tỉnh Yên Bái, Việt Nam. Công ty này hy vọng Nhật Bản sẽ được nhận những lô đất hiếm đầu tiên vào năm 2013.

    Các dự án của Sumitomo và Toyota Tsusho-Sojitz dự kiến khai thác ít nhất 7.000 tấn đất hiếm mỗi năm, tương đương với 20% nhu cầu của Nhật Bản. Vốn đầu tư ban đầu dành cho hai dự án này vào khoảng 200 triệu đôla.

    Còn theo tờ nhật báo The Australian, số ra ngày 4/1 vừa qua, Hàn Quốc cũng sẽ lao vào tìm kiếm đất hiếm ở bốn quốc gia gồm Việt Nam, Úc, Kyrgyzstan và Nam Phi trong năm nay.

    Thật ra, hiện người ta vẫn chưa biết được đích xác trữ lượng đất hiếm của Việt Nam là bao nhiêu. Về điểm này, ông Nguyễn Thanh Giang cho biết :

    “Ở Việt Nam, những công trình khảo sát sơ bộ và tìm kiếm khóang sản cho biết trữ lượng đất hiếm dự đoán khoảng 10 triệu tấn, gồm đầy đủ các nhóm trong 17 nguyên tố. Trữ lượng xác định qua thăm dò thì mới được khoảng một triệu tấn. Mỏ Đông Pao tới nay được xem là lớn nhất với trên 30 thân quặng lớn nhỏ, nằm trên địa phận xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.”

    Mặt khác, một vấn đề khác được đặt ra, đó là khai thác đất hiếm sẽ mang lại những mối lợi gì cho kinh tế Việt Nam? Theo ông Nguyễn Thanh Giang :

    « Giá bán các kim loại đất hiếm khá cao và ngày càng tăng. Năm 2003, giá mỗi kg kim loại lanthanium là 25 USD và cerium là 30 USD. Đất hiếm được chế biến sâu thành sản phẩm hàng hoá có giá thương mại rất cao. Năm 2008 Europium tinh khiết 99,99% giá khoảng 221.000 USD/kg, Terbium 145.000 USD/kg ...

    Thập kỷ 70 thế kỷ trước, Tiệp Khắc, Ba Lan đã từng khai thác đất hiếm ở Việt Nam. Sau cơn chấn động đất hiếm do Trung Quốc gây ra, Nhật Bản, Hàn Quốc đã đàm phán để xúc tiến kế hoạch thăm dò, khai thác đất hiếm ở Việt Nam với chính phủ ta. Nhu cầu đất hiếm của Nhật khoảng 7 đến 10 nghìn tấn/năm.

    Nước ta có cả hai dạng mỏ đất hiếm gồm các mạch đá kiểu Mountain Pass trong nền đá cổ ở Sơn La, Lai Châu, Yên Bái và trong các dải cát đen ven biển miền Trung.

    Việc khai thác đất hiếm ở Việt Nam không gây vấn đề gay cấn như đối với khai thác bauxite, nhất là đối với việc khai thác các mạch quặng trong nền đá cổ vì diện tích các mỏ khai thác sẽ không rộng lớn như đối với bauxite. Vả chăng, vấn đề gay cấn cơ bản đối với khai thác bauxite lại nằm ở chỗ : Sao lại đưa Trung Quốc vào Tây Nguyên !

    Không nên kỳ vọng nhiều vào việc đóng góp của đất hiếm vào nền kinh tế Việt Nam, nhưng đấy cũng không phải là nguồn lợi quá nhỏ. Vả chăng ý nghĩa của nó còn nằm ở một vài lĩnh vực khác nữa. »

    Hiện giờ Việt Nam vẫn còn thiếu công nghệ chế biến hiện đại, mà cũng chưa có đủ vốn đề đầu tư một cách quy mô, cho nên chỉ có thể hợp tác khai thác với các nước có công nghệ tiên tiến, để dần dần tiếp thu công nghệ cần thiết cho việc phát triển ngành công nghiệp đất hiếm.

    Khai thác, chế biến đất hiếm có nguy cơ gây ô nhiễm lớn hơn nhiều so với các loại khoáng sản khác như than đá, dầu mỏ vì chế biến đất hiếm phải dùng nhiều hóa chất ảnh hưởng đến môi trường. Ngoài ra, trong quặng đất hiếm có khoáng chất mang tính phóng xạ với cường độ cao hơn các loại khoáng sản khác. Tức là khai thác, chế biến đất hiếm chứa đựng hai nguy cơ ô nhiễm : ô nhiễm của hóa chất và ô nhiễm phóng xạ từ đất hiếm. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải bảo vệ sức khỏe của công nhân khai thác, sức khoẻ của người dân trong khu vực mỏ và hoàn nguyên môi trường sau khai thác.

    Ngay cả Trung Quốc nay cũng chuẩn bị ban hành những quy định mới để chống nạn ô nhiễm môi trường do khai thác đất hiếm. Theo tờ China Daily, số ra vào đầu tháng Giêng, các công ty khai thác đất hiếm của Trung Quốc sẽ được lệnh là trong thời hạn từ 2 đến 3 năm phải tuân thủ các chuẩn mực mới về ô nhiễm môi trường. Cụ thể theo những quy định sẽ được ban hành sau ngày Tết Nguyên Đán 3/2, nước thải được sử dụng trong khai thác đất hiếm không được chứa quá 15 mg azote ammoniacal/lít so với 25 mg như hiện nay. Các chất phóng xạ và phosphore cũng không được vượt quá những mức quy định.

    Việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm thật ra cũng chính là nhằm tập trung các nhà sản xuất lại, để kiểm soát tốt hơn các chất thải gây ô nhiễm, như vậy, những nhà sản xuất nhỏ gây nhiễm nhất sẽ phải đóng cửa. Hàng trăm nhà máy nhỏ sản xuất đất hiếm ở thành phố Baotou, vùng Nội Mông, Trung Quốc, cho tới nay vẫn đổ các chất thải này xuống Hoàng Hà một cách vô tội vạ, bởi vì chưa có những quy định chặt chẽ về việc này.

    Một báo cáo vào năm 2005 đã báo động là việc khai thác đất hiếm ở Baotou đã khiến con sông này bị ô nhiễm phóng xạ. Báo cáo viết : « Tại Baotou, nơi mà gần 150 triệu người sống phụ thuộc vào nguồn cung cấp nước của Hoàng Hà, toàn bộ cá đều chết. Nhiều người độ tuổi 30 làm việc gần các mỏ đất hiếm đã chết vì ung thư, rất có thể là do nhiễm phóng xạ ».

    Những gì đã xảy ra qua vụ Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải đã cho chúng ta thấy là ở Việt Nam, nguy cơ ô nhiễm thường không được ngăn chận trưóc, đợi đến khi xảy ra rồi mới xử lý, thì lúc đó tác hại đã lan rộng rồi....

    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/2011...-ve-moi-truong


    Khai thác đất hiếm bên Trung Quốc


    Nước thải độc hại đổ ra Hoàng Hà...

    ...và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng


    Một báo cáo vào năm 2005 viết: “Tại Baotou, nơi gần 150 triệu người sống phụ thuộc vào nguồn cung cấp nước của Hoàng Hà, toàn bộ cá đều chết. Nhiều người độ tuổi 30 làm việc gần các mỏ đất hiếm đã chết vì ung thư, rất có thể là do nhiễm phóng xạ”.

    http://www.khoahoc.com.vn/doisong/mo...y-o-nhiem.aspx


    Đất hiếm chứa nhiều nguyên tố phóng xạ


    TS Lưu Đức Hải, trưởng khoa Môi trường, ĐH Tự nhiên Hà Nội cho biết, việc khai thác đất hiếm ở nước ta đối mặt với nguy cơ phát tán chất phóng xạ với hàm lượng cao, nên khi khai thác nếu không có biện pháp xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

    “Nhiều nước trên thế giới đã dừng khai thác đất hiếm ngoài lý do không cạnh tranh được về mặt giá cả với Trung Quốc còn bởi vì ô nhiễm môi trường”, ông Hải nói.

    Các nhà khoa học Việt Nam cảnh báo, Trung Quốc đang phải trả giá đắt vì đất hiếm hủy hoại môi trường. Thực tế, người dân tại thành phố công nghiệp Nội Mông của đất nước này đang bị ô nhiễm nặng nề, do ảnh hưởng chất độc hại từ mỏ khai thác đất hiếm cách hơn 160km được tích trữ cho quá trình gia công.

    Nhất là ở tỉnh Tây Giang, quá trình chiết xuất đất hiếm còn nguy hiểm hơn. Người dân nơi đây không thể trồng lúa, cây quả không đơm hoa kết trái, cá chết nổi trắng sông, đến cỏ cũng lụi tàn.


    http://m.tamnhin.net/news-5951.html

    Đất hiếm rất quan trọng trong sản xuất công nghệ cao như ổ đĩa máy tính, điện thoại di động và các loại phụ tùng cho loại xe hơi “lai điện” (hybrid), có mặt trong các loại quốc phòng hiện đại như hệ thống radar quân sự hay điều khiển tên lửa. Hiện hiệu quả của các loại xe tăng chiến đấu chính của nhiều siêu cường, điển hình là Mỹ, phụ thuộc vào một kim loại chỉ Trung Quốc mới có.

    Năm 1992, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Trung Đông có dầu hỏa, Trung Quốc chúng tôi có đất hiếm”. Đất hiếm gồm 17 khoáng chất chiến lược sử dụng trong các ngành công nghiệp trọng điểm. Do đó, cũng như dầu hỏa, đất hiếm có thể trở thành vũ khí như cuộc khẩu chiến Trung-Nhật xảy ra vài tháng gần đây đã chứng minh.

    Hàng hiếm do Trung Quốc độc quyền giá

    Trước những năm 1980, Mỹ là nước sản xuất đất hiếm số một thế giới. Sau đó, trọng tâm dịch chuyển sang Trung Quốc. Đất hiếm Trung Quốc càng có giá hơn khi công ty duy nhất còn khai thác đất hiếm ở Mỹ là Công ty Molycorp đóng cửa năm 2002.

    Mỹ và Úc tuy sở hữu lần lượt 15% và 5% tài nguyên đất hiếm nhưng đã ngừng khai thác vì hai lý do: Ô nhiễm môi trường và cạnh tranh không lại với giá bán đất hiếm Trung Quốc. Như thế, Trung Quốc sở hữu 1/3 tài nguyên đất hiếm nhưng năm 2009 sản xuất đến 97% sản lượng tiêu thụ đất hiếm toàn cầu.

    Tổng Giám đốc Matthieu Courtecuisse và chuyên viên tư vấn Quentin Derumaux của Công ty SIA Conseil (trụ sở chính ở Pháp) nhận định: Trung Quốc nhận thức rõ vai trò chiến lược của đất hiếm và đã chơi ván bài hai mặt.

    Một thời gian dài Trung Quốc bán đất hiếm với giá rẻ và đã đánh sập ngành sản xuất đất hiếm của các nước khác. Nguyên nhân giá đất hiếm Trung Quốc rẻ hơn vì chi phí sản xuất thấp và những ràng buộc về ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc không cao.

    Từ năm 2006, Trung Quốc bắt đầu siết hầu bao lại trong bối cảnh các nước đã lệ thuộc vào đất hiếm Trung Quốc. Quota xuất khẩu đất hiếm giảm từ 5% đến 10% mỗi năm với lý do nguồn dự trữ đất hiếm có thể cạn kiệt.

    Tháng 7 mới rồi, Trung Quốc lại gia tăng sức ép khi quyết định giảm quota xuất khẩu 72% trong nửa cuối năm 2010. Giữa tháng 10, Trung Quốc tuyên bố dự kiến sẽ giảm quota trong năm tới khoảng 30%. Sản lượng xuất khẩu 60.000 tấn đất hiếm Trung Quốc năm 2004 giảm chỉ còn phân nửa trong năm 2010. Giá đất hiếm theo đó tăng lên vùn vụt. Ví dụ như giá dysprosium từ 150 USD/kg đã tăng lên 400 USD hồi năm ngoái.

    Các cường quốc tìm dự án mới, trong đó có Việt Nam

    Nhật tiêu thụ 1/5 nhu cầu đất hiếm thế giới và dự báo nguồn dự trữ đất hiếm của Nhật sẽ cạn kiệt vào tháng 3-2011. Tuy nhiên, cuối tháng 9, các công ty Nhật ghi nhận nguồn xuất khẩu đất hiếm từ Trung Quốc bắt đầu teo tóp dần.

    Báo New York Times (Mỹ) đưa tin, từ cuối tháng 10, đến lượt đất hiếm xuất khẩu từ Trung Quốc sang Mỹ có thể sẽ bị hạn chế vì Trung Quốc muốn trả đũa Mỹ đã điều tra Trung Quốc trợ cấp trái phép cho ngành công nghiệp xanh.

    Hồi tháng 6, Liên minh châu Âu (EU) cũng đã lập danh sách 14 loại đất hiếm mà nguồn cung cấp mang tính chất sống còn cho ngành công nghiệp châu Âu, ở châu Âu không có mỏ khai thác nào và có nguy cơ sẽ thiếu.

    Thái độ của Trung Quốc đối với đất hiếm đã làm nhiều nước phải tìm đường xoay xở. Nhật đã đưa ra một chương trình quốc gia nhằm khơi nguồn cung cấp đất hiếm và nghiên cứu tìm kiếm nguyên liệu thay thế đất hiếm.

    Dự kiến năm 2011, Nhật sẽ chi ngân sách 1,25 tỉ USD (tương đương tổng giá trị đất hiếm sản xuất trong một năm) để cung cấp đất hiếm ngoài nguồn Trung Quốc. Nhật và Việt Nam cũng sẽ hợp tác khai thác đất hiếm...

    Mỹ bắt đầu tổ chức khai thác lại các mỏ đất hiếm ở Mỹ. Dự kiến Công ty Molycorp sẽ khai thác mỏ ở California trở lại vào năm 2011 với sản lượng 20.000 tấn quặng mỗi năm. Lầu Năm Góc đã tiến hành nghiên cứu để hạn chế sự phụ thuộc của quân đội Mỹ đối với đất hiếm.

    Đức (nhập khẩu mỗi năm từ 3.000 đến 5.000 tấn đất hiếm) đưa ra hàng loạt biện pháp sẽ tìm nguồn cung cấp đất hiếm từ Mông Cổ, Namibia và Mỹ.

    Ở Úc, Công ty Lynas sẽ khai thác mỏ Mount Weld vào năm tới với sản lượng hằng năm dự kiến 20.000 tấn. Ở Nam Phi, Tập đoàn Mỏ Great Western Minerals của Canada cũng bắt đầu khai thác mỏ Steenkampskraal từ năm tới với sản lượng 5.000 tấn/năm. Nhiều dự án khai thác khác cũng đã khởi động tại Canada.

    http://namcham.net.vn/dat-hiem-hiem-...ac-gia-re.html


    Việt Nam được đánh giá là nước có trữ lượng đất hiếm lớn, song chưa có con số chính xác. Kết quả nghiên cứu, tìm kiếm từ năm 1958 đến nay của PGS Hợp đã phát hiện được nhiều điểm tụ khoáng đất hiếm ở Bắc Nậm Xe, Nam Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lào Cai) và Yên Phú (Yên Bái). Ngoài 5 tụ khoáng gốc trên, dọc bờ biển miền Trung cũng có quặng monazit, xenotim kèm ilmenit trong sa khoáng. Theo dự báo, Việt Nam có tài nguyên đất hiếm trên 17 triệu tấn và trữ lượng gần 1 triệu tấn...

    Hằng năm, Việt Nam mới chỉ khai thác nhỏ, cỡ vài chục tấn quặng bastnaesit ở Đông Pao và vài ngàn tấn quặng monazit hàm lượng 35%-45% R203 ở sa khoáng ven biển miền Trung để bán theo đường tiểu ngạch. Do sử dụng không nhiều nên đến nay Việt Nam vẫn đang dừng ở mức “vừa khảo sát vừa thăm dò” loại khoáng sản này.

    Cũng theo tính toán của giới khoa học, giá thị trường hiện là 800 USD/tấn đất hiếm, song đây được đánh giá là con số không đáng kể, nếu tách riêng các nguyên tố có trong đất hiếm để bán, giá sẽ tăng lên nhiều lần, khoảng 1 triệu USD/tấn nguyên tố. Tuy nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam đến nay chưa thể thực hiện được. Cũng khó có khả năng Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng nhà máy tinh chế đất hiếm bởi chi phí đầu tư quá lớn, trong khi Nhật đã có nhà máy tại nước họ...

    Nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ


    Các nhà khoa học cũng cảnh báo nguy cơ ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác đất hiếm. Đặc biệt là nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ do trong đất hiếm có chứa nguyên tố phóng xạ.

    PGS. TS Nguyễn Xuân Cự - ĐH KHTN, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết, đất hiếm là loại đất có chứa các nguyên tố kim loại rất độc hại, trong đó có nguyên tố phóng xạ. Ở quy mô khai thác lớn, nếu không đảm bảo về công nghệ và quản lý không tốt sẽ có nguy cơ phát tán chất phóng xạ vào trong đất, nước, không khí, và gây hại trực tiếp tới sức khỏe người khai thác. Do nhu cầu thế giới không cao, việc khai thác đất hiếm càng cần phải được nghiên cứu thấu đáo vì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

    Đất hiếm được dùng rất rộng rãi, nhất là trong các ngành công nghệ cao, như: công nghệ thực phẩm, y tế, đánh bóng thủy tinh, sứ gốm, máy tính, màn hình tivi màu, chiếu sáng, ô tô thân thiện môi trường, nam châm, pin, xúc tác lọc hóa dầu, tên lửa, ra đa, công nghiệp hạt nhân…

    Theo phân tích của giới khoa học, Mỹ là nước đầu tiên khai thác đất hiếm. Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc gia nhập thị trường này, Mỹ lập tức dừng khai thác, thay vào đó nước này mua của Trung Quốc nhằm tránh gây ô nhiễm trên đất nước mình. Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc có ý định dừng khai thác đất hiếm cũng được cho là do ô nhiễm môi trường trầm trọng.

    Tại Nậm Xe, nơi được xác định là có trữ lượng đất hiếm lớn, các nhà khoa học Việt Nam cũng tìm thấy vùng không an toàn phóng xạ. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Tự và cộng sự thuộc Liên đoàn địa chất xạ hiếm cho thấy hàm lượng urani, thozi... trong đất và nước tại Nậm Xe cao.

    Bất cứ khoáng sản nào khi khai thác lên cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Do đó, cần hết sức cân nhắc giữa lợi ích kinh tế vốn không lớn và khả năng gây ô nhiễm môi trường khi khai thác đất hiếm .

    http://www.khoahoc.com.vn/doisong/un...-kho-giau.aspx
    http://www.apchemco.com/?view=detailnews&id=92



    Rare Earth Mining Pollution :

    http://www.infobarrel.com/Rare_Earth_Mining_Pollution

    Pollution the big barrier to freer trade in rare earths


    Mon Mar 19, 2012

    http://www.reuters.com/article/2012/...82I08I20120319

    Có thể dùng Google dịch :

    http://translate.google.com/?hl=de&i...-8859-1&tab=wT

  9. #49
    Lotus
    Guest
    Tham nhũng gây nên sự đói nghèo ở các nước giàu khoáng sản

    Những con số trên cảnh báo rằng quốc gia sở hữu nhiều tài nguyên khoáng sản không hẳn đã là một quốc gia thịnh vượng. Sự giàu có về khoáng sản không hoàn toàn giúp cho một đất nước ít nghèo hơn và có phúc lợi tốt cho mọi công dân.

    “Hiện tượng này đã được giải thích là “lời nguyền của khoáng sản” hay nói đúng hơn là “nghịch lý của sự trù phú”. Tham nhũng là yếu tố cơ bản lý giải cho nghịch lý này” - đại sứ Herstrom chốt lại.

    Hậu quả nhãn tiền của tham nhũng, tiêu cực, theo đại sứ Thụy Điển, có thể thấy trong lĩnh vực quản lý, khai thác than. Tỷ lệ thất thoát cao khiến một nước mạnh về than như Việt Nam sẽ phải nhập than vào năm 2012 cho tiêu thụ trong nước.

    http://www.tin247.com/tham_nhung_gay...-21769882.html

  10. #50
    Lotus
    Guest
    S&P xếp hạng từ "nhóm 1" (rủi ro thấp nhất) đến "nhóm 10" (rủi ro cao nhất).

    Hệ thống ngân hàng VN có tính rủi ro cao nhất.

    TEXT-S&P: BICRA on Vietnam revised to Group '10' from Group '9'


    ... The BICRA groups summarize our view of the risks that a bank operating within a particular country and banking industry faces relative to those in other banking industries. They range from group '1', (the lowest risk) to group '10' (the highest risk)...
    Our economic risk score of '10' for Vietnam reflects "very high risk" assessments on economic resilience and economic imbalances, and an "extremely high" credit risk in the economy.

    Vietnam has a low-income economy, developing financial system, and evolving policy framework. These weaknesses increase the vulnerability of the economy to severe shocks. Healthy growth prospects, reinforced by the government's persistent efforts in economic restructuring, partly offset these weaknesses

    We believe there is a very high risk of economic imbalances, given the rapid credit growth in the past several years. Strong growth in real housing prices also contributes to the risk of a sharp drop in prices.

    Our "extremely high risk" assessment of credit risk in the economy is based on high private sector credit, low income levels, and rudimentary underwriting standards. In our view, the legal system has inefficiencies, which could lead to low recoveries and delays in settlement of foreclosures.

    Our industry risk score of '8' for Vietnam reflects an "extremely high risk" assessment of the institutional framework, a "very high risk" assessment of the competitive dynamics, and an "intermediate risk" assessment of system-wide funding...

    http://www.reuters.com/article/2011/...LA880420111109

    http://www.standardandpoors.com/rati...=1245323898302
    Nợ xấu: Vấn đề lớn của Ngân hàng Việt Nam

    Tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam là 125% - cao nhất trong khu vực. Tỷ lệ nợ xấu công bố chính thức khá thấp, nhưng con số thật cao hơn thế nhiều.

    http://smecapital.com.vn/content/no-...-hang-viet-nam


    GDP - Sự dối trá tuyệt vời

    Lâu nay trong các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế chúng ta hay dùng các chỉ số như GDP, tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người…để đo tốc độ phát triển. Theo dõi báo chí, chúng tôi thấy đa số các tỉnh đều công bố những con số chóng mặt : Tăng trưởng GDP của các địa phương 5 năm qua đều tăng từ 11 đến 13%, có tỉnh đến 15%, có nhiều huyện thị còn đạt tốc độ tới 17%. Ngày 1-4-2012 vừa qua, kỷ niệm ngày giải phóng, ông chủ tịch tỉnh Ninh Thuận đã nói rằng : "Ninh Thuận sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ nay đến năm 2020 từ 17 đến 20%”. Nghe mà sớn tóc gáy. Nghĩa là 64 tỉnh thành nước ta đều có tốc độ tăng GDP khủng khiếp, thế giới chưa từng có ! Nghe những con số này ,các nhà tuyên truyền thì phấn khích, còn các nhà kinh tế lại rất mỉm cười bảo:” Dối tra. GDP đâu ra mà lắm thế !”. Một câu hỏi xoáy lòng người : 64 tỉnh thành tăng trưởng GDP rất cao, tại sao GDP cả nước lại tăng ít hơn ? Từ 15 năm nay, GDP nước ta chưa bao giờ vượt ngưỡng 8,5% . Năm 2005, GDP nước ta đạt 8,4%, một trong những nước cao nhất thế giới. Năm 2008 , do thiên tai, biến động kinh tế, ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ, dự kiến GDP cả nước chỉ khoảng 7 %. Năm 2011 : 5,6 %, Quý I- 2012: tăng dưới 5%…GDP cả nước tăng thấp, chỉ bằng một phần ba, một nửa tốc độ tăng GDP của nhiều tỉnh ! Vậy con số nào là thật ? Con số nào là giả ?

    Vậy GDP là gì ? Theo Từ điển kinh tế do Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh (1994), thì “GDP là tổng sản phẩm quốc nội, là tổng trị giá tiền tệ của tất cả các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ phát sinh trong một nền kinh tế trong một năm” . Theo định nghĩa trên , thì GDP cả nước sẽ bằng GDP 64 tỉnh thành cộng với GDP khu vực kinh tế trung ương . Nhất định GDP khu vực kinh tế trung ương ( các tập đoàn, TCT ) bao giờ cũng tăng cao hơn các địa phương vì có ưu thế về vốn, thiết bị, thị trường. Theo cách tính đó thì GDP bình quân của nước ta 5 năm qua phải tăng từ 12- 15% mỗi năm trở lên, chứ không phải phấn đấu cật lực mới được 7- 8,4% ! Cho nên cách tính GDP của các địa phương đang là vấn đề nghi vấn : Một là tự kê khống lên để lòe dân, để biến báo “thành tích nhiệm kỳ”? Đó là bệnh chạy theo thành tích,”màu cờ sắc áo” đã đến kỳ di căn. Đó là sự dối trá tuyệt vời.

    Nếu theo tốc độ tăng GDP của các tỉnh nêu : 15- 17% /năm thì chỉ trong 10 năm, nông thôn nước ta đã giàu có hơn nông thôn nước Nhật, Nước Mỹ lắm lắm . Nhưng sự thật thì hoàn toàn trái lại . Bộ mặt nông thôn, đô thị, cuộc sống nhân dân chẳng biến đổi bao nhiêu so với 10 năm trước ? Mỗi năm tỉnh Thanh Hóa có hàng ngàn hộ đói. Các tỉnh duyên hải miền Trung cuộc sống của người dân không khác gì cách đây 20 năm. Vẫn nhà tranh vách đất, tháng nào cũng hàng ngàn hộ đứt bữa.... Nhiều con đường ở một số thành phố cấp I, cấp II vẫn ổ voi, ổ gà lởm chởm, mưa xuống là ngập lụt. Giá điện, giá xăng, giá nước sinh hoạt tăng liên tục làm người dân khốn đốn. Thịt độc, rau độc, thuốc giả, gạo giả… làm người dân vừa ăn vừa nơm nớp sợ

    Nguyên nhân tình trạng GDP một đường, cuộc sống một nẻo là do trong “tổng sản phẩm quốc nội” gọi là GDP ấy đó có rất nhiều thứ có trên thực tế , nhưng hiệu quả thì không . Ví dụ các dự án xây dựng kéo dài, các quy hoạch Khu đô thị đã xây cơ sở hạ tầng, nhưng không kêu gọi được đầu tư; rồi các dự án đầu tư hàng trăm ngàn tỷ đồng như cảng nước sâu, sân bay…không phát huy hiệu quả kinh tế . Đã có sân bay Nha Trang, Cam Ranh cách đó năm ba chục cây số, lại đầu tư xây dựng sân bay “quốc tế” Phú Yên ! Rồi cảng nước sâu Chân Mây Thừa Thiên Huế, đầu tư hàng ngàn tỉ đồng, xây xong để đấy, mỗi năm chỉ có vài chuyến tàu chở than đá, chở khách du lịch, hay xây chợ mấy năm rồi mà không có vào người mua bán ; Đường quốc lộ, tỉnh lộ vừa tốn hàng trăm tỷ đồng xây dựng, nâng cấp, qua một mùa mưa lại hư hỏng ,lại đầu tư sửa chữa cũng hơn chừng ấy tiền ; thậm chí kinh phí đầu tư để sữa chữa công trình mới thi công xong đã hư hỏng.v.v… Rồi bao nhiêu nhà máy bao bì xi măng, nhà máy gạch men sứ, nhà máy đường, ximăng lò đứng, lò quay, nhà máy tinh bột sắn, khu du lịch…“trời ơi đất hỡi”, thua lỗ triền miên, huyện nào, tihnr nào cũng có khu công nghiệp.v.v..và .v.v… Tất cả vốn đầu tư không hiệu quả ấy đều được tính hết vào GDP . Ngoài ra, nạn “chạy dự án”, tăng đầu tư bất cứ giá nào nhiều năm nay đã trở thành một “mốt” làm ăn thời thượng của nhiều quan chức. Càng đầu tư nhiều tỷ lệ phần trăm ăn chia bên A, bên B, bên C … càng nhiều ! Bệnh thành tích nặng nề cũng thúc đẩy đầu tư bất cứ giá nào. Càng đầu tư nhiều thì GDP tỉnh càng cao, càng có thành tích , lãnh đạo lại giàu có thêm, dại gì không làm !.

    Như vậy, tăng GDP mấy năm trở lại đây là nhờ tăng đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án không có hiệu quả đủ các lĩnh vực, chứ chất lượng cuộc sống của người dân thì không được tăng tương ứng. Càng đầu tư nhiều thì GDP càng cao và tốc độ tăng GDP cũng càng cao, và GDP bình quân đầu người càng tăng, địa phương càng được đánh giá “phát triển cao”. Nhưng GDP đó không phản ảnh được chất lượng phát triển.

    Chất lượng phát triển của một địa phương thể hiện ở các chỉ tiêu sau đây : Thặng dư, lợi nhuận bổ sung vốn để tái đầu tư , sản phẩm mới và sức cạnh tranh , khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước, thu nhập thực tế của nhân dân thành thị nông thôn tạo nên sức mua của xã hội, đặc biệt là môi trường trong sạch. Bây giờ tỉnh nào nếu kiểm tra cũng phát hiện ra những vụ “Vê Đan” gây ô nhiễm rất trầm trọng môi trường sinh sống của người dân. Các xí nghiệp công nghiệp, các bệnh viên lớn nhỏ đều thải trực tiếp nước thải ra sông , ao hồ, ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Ở miền Trung hiện nay phần lớn các tỉnh công nghiệp quy mô nhỏ, chắp vá, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chất lượng thấp, không có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, dẫn đến nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài .

    Tỷ trọng lao động nông -lâm-ngư nghiệp vẫn chiếm trên 70%, lao động thất nghiệp ở nông thôn còn nhiều. Chỉ số GDP bình quân đầu người cả nước được công bố là 650 – 1000 USD/ người/năm , nhưng thực tế thì đa phần hộ dân nông thôn 6 miệng ăn mỗi năm làm ra hạt lúa củ khoai, con cá chưa đầy ba bốn triệu đồng , nghĩa là bình quân mỗi tháng 100- 150 ngàn đồng/ nhân khẩu! ...

    http://danlambaovn.blogspot.de/2012/...-voi.html#more

 

 

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 05:22 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2026 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh