Quote Originally Posted by Thùy Linh View Post

Bài tập mới
Trích trong sách " The Life-Changing Magic of Tidying" author Marie Kondo trang 232

Being surrounded by things that bring joy makes you happy


Everyone has things that they love, things that they cannot imagine parting with, even though other people shake their heads in disbelief when they see them .
I see things that others peope find precious every dayand you would be amazed at the strange and incomprehensible articles that capture people's hearts- a set of 10 finger puppets each with one eye only and every eye different, a broken alarm clock shaped like a cartoon character, a driftwood collection that looks more like a heap of scraps wood.

But the immediate response to my hesitant, " Does this ...uhm ...really spark joy ?" is an emphatic "Yes!" There is no arguing with their confident gaze and shinning eyes because I, too, have one such item: my Kiccoro T-shirt .

~~


Những thứ chung quanh mang lại niềm vui làm cho ta hạnh phúc .


Mỗi người đều có những thứ họ yêu thích, những đồ vật mà họ không thể rời xa cho dù chỉ là trong tưởng tượng, mặc dù người khác nhìn thấy là lắc đầu vì không thể tin được .

Mỗi ngày tôi nhìn thấy những thứ mà người khác quý và ta sẽ ngạc nhiên trước những món đồ kỳ lạ và khó hiểu lại chiếm được trái tim của con người/người ta - một bộ con rối 10 ngón tay, mỗi con chỉ có một mắt và mỗi mắt khác nhau, một chiếc đồng hồ báo thức bị hư có hình nhân vật hoạt hình , một bộ sưu tập gỗ trôi giạt trông giống một đống gỗ vụn/ tạp .

Nhưng tức thì câu trả lời cho sự do dự của tôi " Cái này ...uhm ... có thực sự mang lại niềm vui không?" là một câu chắc chắn "Có!" Không có gì phải bàn cãi với ánh mắt tự tin, sáng ngời của họ bởi vì tôi cũng có một món đồ như vậy: chiếc áo thun Kiccoro của tôi.
Xem nào:
Trước hết là bảng chú giải… mật mã:

PM: Possible mistranslation

TM: Total mistranslation
IT: Inappropriate terminology
NFWT: No-fault wrong terminology (popular misnomer)
CI: Context insensitive
AU: Alien usage
AD: Alien dish
TG: Total gobbledegook

PM: Mỗi người đều có những thứ họ yêu thích, những đồ vật mà họ không thể rời xa cho dù chỉ là trong tưởng tượng, mặc dù người khác nhìn thấy là lắc đầu vì không thể tin được .

AU: Mỗi ngày tôi nhìn thấy những thứ mà người khác quý và ta sẽ ngạc nhiên trước những món đồ kỳ lạ và khó hiểu lại chiếm được trái tim của con người/người ta -

TM: một bộ con rối 10 ngón tay,

NFWT: mỗi con chỉ có một mắt và mỗi mắt khác nhau, một chiếc đồng hồ báo thức bị hư có hình nhân vật hoạt hình ,

IT: một bộ sưu tập gỗ trôi giạt trông giống một đống gỗ vụn/ tạp .

AD: Nhưng tức thì câu trả lời cho sự do dự của tôi " Cái này ...uhm ... có thực sự mang lại niềm vui không?" là một câu chắc chắn "Có!"

AU: Không có gì phải bàn cãi với ánh mắt tự tin, sáng ngời của họ bởi vì tôi cũng có một món đồ như vậy: chiếc áo thun Kiccoro của tôi.

Tip: Sau khi dịch xong thì vất nó vào một góc rồi đi chơi, nhậu nhẹt cóc xoài ổi khế chấm muối ớt hay mắm ruốc cho đã đi đã, hay làm chuyện gì khác ít nhất một tiếng sau (càng lâu càng tốt) rồi mới đọc lại bản dịch. Lần này không đọc bản tiếng Anh mà chỉ đọc bản dịch như thể ta mới … sáng tác. Khi đọc lại sau mỗi câu thì ngẫm nghĩ xem ta có hiểu câu đó nó nói cái giống gì hay không và nghe có thuận tai (nhìn có thuận mắt) như khi ta nói chuyện hay viết lách bằng tiếng mẹ đẻ hay không? Nếu hiểu rõ câu đó nói cái rì và nhìn (đọc trong đầu hoặc đọc lớn tiếng) thấy tự nhiên thì lúc ấy mới sang câu kế. Nếu đọc xong mà vẫn ngẩn ngơ ngơ ngẩn ngớ người ra là câu đó hỏng bét. Lúc này mới đọc lại câu tiếng Anh cho ngấm ý của nó (nếu có chỗ nào nghi ngại thì tra cứu cho chắc). Hiểu rõ và ngấm ý trong đầu rồi thì mới viết lại cái ý đó bằng tiếng ta. Việt một lèo cả câu dựa theo cái ý ta đã hiểu trong đầu chứ không liếc qua liếc lại nguýt lên nguýt xuống giữa câu gốc và câu dịch để níu lấy câu gốc cho nó kéo lê ta theo!
_________
Có nhiều cách diễn tả một ý. Hay là bây giờ quẳng bài tiếng Anh đi chỗ khác chơi, ta xài tiếng Việt thôi. Trò thử … giết lại những câu sau đây theo cách khác (rephrase them) để diễn tả cùng ý của những câu đó (ý của trò á, không phải ý của người đọc khi đọc những câu đó):

1) Những đồ vật mà họ không thể rời xa cho dù chỉ là trong tưởng tượng.
2) Người ta nhìn thấy chúng là đầu không tin được.
3) Những món đồ kỳ lạ và khó hiểu lại chiếm được trái tim của con người/người ta.
4) Một chiếc đồng hồ báo thức bị hư có hình nhân vật hoạt hình.
5) Nhưng câu trả lời tức thì cho sự do dự của tôi " Điều này ...uhm ... có thực sự mang lại niềm vui không?" là một câu chắc chắn "Có!"
6) Không có gì phải bàn cãi với ánh mắt tự tin và đôi mắt sáng ngời của họ bởi vì tôi cũng có một món đồ như vậy.