Register
Page 11 of 11 FirstFirst ... 91011
Results 101 to 108 of 108

Thread: Việt Nam

  1. #101
    Cuộc đầu độc vĩ đại ở Việt Nam
    Thạch Thảo

    Những chuyến xe đêm buồn thảm và tuyệt vọng

    Từ bao nhiêu năm nay rồi, quê tôi có những chuyến xe đêm đi thành phố khởi hành lúc một giờ sáng, đến Sài Gòn lúc năm giờ. Có hai loại hành khách thường phải đi xe khuya như vậy: Một là người đi làm thuê và hai là người đi khám bệnh. Đến Sài Gòn lúc năm giờ sáng, người làm thuê kịp giờ đến xí nghiệp và người đi khám kịp vào bệnh viện “bắt số” để xếp hàng. Hành khách đi khám bệnh thường quen nhà xe và quen biết nhau vì họ đi lên đi xuống Sài Gòn tái khám từ năm này qua tháng nọ.

    Trên xe, họ trò chuyện thân thiết, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình cũng như bệnh tình của nhau, và thường nhắc đến những người bệnh vắng mặt. Cứ dăm ba chuyến xe không gặp thì hiểu là người ấy đã “về nhà” rồi, có nghĩa là về trên chuyến xe chở xác của bệnh viện. Đa số người bệnh trên những chuyến xe khuya ấy đều bệnh ung thư. Quê tôi bệnh ung thư nhiều vô số, đến nỗi có ai đó bị bệnh phải đi Sài Gòn khám là mọi người nói như mặc định “lại ung thư rồi”.

    Ở cửa ngõ Sài Gòn hướng miền Tây có Bệnh viện Triều An, gần như đó là bệnh viện dành cho người miền Tây và dành cho bệnh nhân ung thư. Lúc ông Trầm Bê còn đương thời, ông đã dành một khoản từ thiện tài trợ cho bệnh nhân ung thư, bệnh nhân nghèo bệnh nặng được miễn giảm viện phí ở Triều An.

    Con sông quê đã hết hiền hòa

    Đa số bệnh nhân ung thư ở quê tôi là nông dân. Trong văn chương nghệ thuật, hình ảnh con sông quê luôn đẹp đẽ hiền hòa. Giờ khác rồi, những con sông quê miền Tây vẫn đẹp mà không hiền chút nào. Tất cả ô nhiễm tới nỗi không ai dám tắm sông nữa. Hình ảnh trẻ con bơi đùa trên sông là xưa rồi. Chúng biết sông rất dơ, hễ xuống sông tắm là sẽ bị ngứa, ghẻ lở, nhiễm độc.

    Thành phố có công ty vệ sinh đô thị thu gom rác, chứ nông thôn làm gì có, bao nhiêu rác người dân đều thải xuống sông. Cống rãnh đều dẫn ra sông mà không bao giờ và không ai nghĩ đến chuyện xử lý nước thải. Chợ nông thôn hầu hết đều ở ven sông, tan buổi chợ là tất cả rác rến lùa hết xuống sông. Cách đây mươi năm, hầu hết người dân nông thôn đều đi vệ sinh trên cầu cá, tức là đào cái ao nuôi cá tra, phía trên làm cầu tiêu để lấy phân nuôi cá. Tất nhiên là cái ao có đường cống thông ra sông rạch, có nước ra vô. Sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra Chỉ thị 100 cấm cầu cá thì đỡ hơn, nhưng đây đó vùng quê vẫn còn.

    Dù sao thì rác hữu cơ có dơ chút mà không độc. Những dòng sông quê nhiễm độc là bởi phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, những loại thuốc bảo vệ thực vật cực kỳ độc hại bón trên ruộng lúa, xong rồi xả hết ra sông. Miền Tây trồng lúa ba vụ một năm, đất không có thời gian hồi phục nên phải xài phân thuốc thật nhiều thì lúa mới trúng. Cứ nhìn những doanh nghiệp kinh doanh phân bón, thuốc nông nghiệp giàu lên như thế nào thì đủ biết người nông dân sản xuất lúa toàn bằng phân thuốc.

    Khi được sử dụng xong, các chai thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ bỏ lăn lóc bên bờ ruộng hoặc liệng hết xuống sông, hầu như không ai xử lý đúng cách cả. Chúng ta biết là thuốc sâu độc hại ra sao, thuốc diệt cỏ còn hơn vậy. Những người tự tử bằng thuốc sâu thì còn cứu được, chứ uống thuốc cỏ là bó tay luôn. Nông dân biết hết, nhưng họ tỉnh bơ, họ vẫn trữ thuốc độc trong nhà, trong nhà bếp, pha thuốc vào bình xịt xong vứt chai thuốc lăn lóc sau hè. Thậm chí mấy quán tạp hóa ở quê bán thuốc sâu, phân bón chung với thực phẩm luôn.

    Mấy anh nông dân than với tôi là mỗi khi đi xịt thuốc về, họ “mắc bịnh” cả tuần chưa hết: Nhức đầu, mệt mỏi, nóng sốt, bải hoải chân tay… Đó chính là tình trạng nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhưng họ “quen” rồi, nếu khuyên họ mặc đồ bảo hộ lao động, đeo khẩu trang và kính bảo vệ thì họ không bao giờ nghe, vì “vướng víu khó làm việc”, họ bảo vậy. Những bệnh nhân ung thư tương lai là đây chứ đâu.

    Người nông dân đã hết thật thà

    Đến nhà nông dân, bạn sẽ thấy họ trồng riêng một mảnh ruộng, một mảnh vườn “đồ nhà”, tức là không bón phân xịt thuốc, để dành riêng nhà họ ăn. Họ biết rõ bón phân xài thuốc là rất độc nhưng họ vẫn làm – để lúa có năng suất cao, rau cải xanh tốt – để bán cho người khác ăn. Riêng gia đình họ khôn hơn, chỉ ăn đồ nhà. Chưa hết, nếu ngày xưa mua gạo về để lâu trong khạp, bạn thấy có mọt. Giờ kiếm không ra con mọt nào đâu, gạo đều đã được xử lý chất bảo quản, để bao lâu cũng không mọt, không mốc. Còn rau cải, người đi chợ có xu hướng tìm rau cải có sâu để bảo đảm không bị xịt phân thuốc, nhưng làm gì tìm ra được. Rau xanh mướt, nhưng đem về nhà để tới chiều là bấy nhầy ra, ủng thối.

    Nhà nông bây giờ khỏe re, nuôi heo không còn lo cám gạo rau muống và xắt chuối cây như ngày xưa. Tất cả heo gà vịt cá tôm đều nuôi bằng thức ăn công nghiệp có chất tăng trọng. Đôi khi tôi nghĩ có phải vì thế mà con người cũng béo phì hơn xưa không, ăn thịt toàn chất tăng trọng cơ mà. Tôi có người bạn, con gái làm trang trại nuôi gà công nghiệp. Bạn nói, nó cho gà ăn toàn thuốc và thực phẩm công nghiệp nhập khẩu Trung Quốc, mở đèn, mở máy lạnh cho gà ăn suốt ngày đêm.

    Chỉ 3 tuần lễ là con gà to 3-4 kg. Gà không thể đứng nổi, phải nằm ăn, vì xương không phát triển kịp đủ để nâng đỡ trọng lượng. “Bắt con gà lên sẽ thấy nó nặng trịch và thịt cứng ngắc, rất sợ” – bà bạn cho biết vậy. Gà nuôi bằng thuốc rất yếu, dễ chết, chỉ cần cúp điện tắt máy lạnh chừng vài mươi phút là gà ngã ra chết hết luôn. Họ còn nuôi thuốc cho gà đẻ trứng sai, trứng to và đẻ trứng hai tròng đỏ; nhưng con gà đẻ chỉ một, hai lứa là chết vì kiệt sức. Nếu như ở quê tôi không mấy ai ăn thịt gà công nghiệp thì cả Sài Gòn này đều ăn, nhất là các quán cơm gà bình dân bán cho công nhân và sinh viên. Gà vườn giá hai trăm ngàn trong khi gà công nghiệp chỉ khoảng bảy chục ngàn một ký, Người nghèo ăn đồ độc hại là điều đương nhiên rồi.

    Người bán thực phẩm, những mụ phù thủy độc ác

    Có lần tôi ra cảng cá, thấy cá từ tàu mang lên ướp nước đá nhão nhoét, tôi thắc mắc “Cá như này sao bán được?” Chủ vựa trả lời: Đây mới là cá tươi, bạn hàng mang cá về nhà sẽ “muối” hàn the và ure, hôm sau mang ra chợ thấy cứng sảng, tươi chong chớ mà ăn độc lắm á em.

    Hàn the là chất cấm sử dụng trong thực phẩm, là chất độc và lưu trữ vĩnh viễn trong cơ thể mà không bị đào thải qua bài tiết, nhưng người dân quê vẫn sử dụng để bảo quản thực phẩm, làm cho thức ăn tươi lâu, cứng giòn và dai. Chả lụa ướp hàn the sẽ dai ngon và để ngoài nhiệt độ thường hàng tuần lễ không bị hư. Hàn the ướp dưa chuột, dưa kiệu cho giòn, hàn the hay formol dùng trong sản xuất bún, bánh phở cho dai và để được lâu. Người ta còn dùng Tynopal là chất tẩy trắng trong công nghiệp giấy để làm cho bún trắng sáng. Chập tối đi chợ chiều, tôi từng bắt gặp người bán rải từng vốc hàn the lên thớt thịt để giữ thịt có màu đỏ tươi; sáng mai đem ra bán lại, bán hết thịt cũ mới bán tới thịt tươi, trong khi người nội trợ cứ nghĩ đi chợ sớm sẽ mua được thịt tươi ngon, tội nghiệp biết bao!

    Đi về vùng biển, tôi được bà con ngư dân chia sẻ một bí mật trong cách làm tôm khô. Tôm biển từ tàu đánh bắt xa bờ (đi ít nhất nửa tháng mới về) thì phải ướp để bảo quản. Cá có thể ướp nước đá, nhưng tôm tép thì không bởi tôm ướp nước đá sẽ bị đen đầu. Do đó, ngư dân phải muối tôm bằng hàn the để giữ được con tôm có màu tươi. Vậy là tôm khô biển rất độc hại, bạn chỉ nên ăn tôm biển từ những tàu đánh bắt gần bờ sáng đi chiều về mà thôi.

    Cá khô cũng vậy. Bây giờ ra chợ hải sản khô người ta không thấy ruồi. Cả làng cá ven biển phơi cá lớp lớp trên giàn phơi bốc mùi tanh nồng cũng không thấy con ruồi nào đậu vào. Tại sao? Bạn bè miền biển cho tôi biết, gia đình họ tự phơi cá ăn chứ không bao giờ mua ở chợ, vì cá khô bây giờ đều được ngâm “thuốc ruồi”. Đó là một loại hóa chất diệt côn trùng mua từ bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia, chỉ cần ngâm cá vào hóa chất, treo lên giàn một đêm là cá khô bán được, không cần phơi nắng, không bị ruồi bu sinh dòi, làm “cá một nắng” bằng cách ngâm thuốc sẽ bảo quản lâu mà không cần đông lạnh gì cả.

    Người ta cũng phát hiện nhà kinh doanh hải sản nhuộm ruốc bằng phẩm màu công nghiệp, đó là chất Rhodamine B dùng nhuộm vải, có thể gây ngộ độc cấp tính và gây ung thư. Vàng Ô (Auramine O) là tên thương mại của chất diarylmethane. Đây là chất màu tổng hợp, chỉ được sử dụng trong công nghiệp để nhuộm và dùng để làm màu sơn quét tường. Thế nhưng người Việt dùng chất đó để nhuộm màu vàng cho măng và dưa cải! Và họ dùng oxyt đồng để nhuộm cho dưa chuột ngâm chua giữ được màu xanh tươi.

    Ở Sài Gòn, dù thèm sầu riêng đến mấy tôi cũng không mua. Nhiều người giống như tôi vậy. Họ sợ sầu riêng ngâm thuốc. Con buôn đến từng vườn sầu riêng, bao mua hết vườn, trái non trái già gì họ cũng hái hết, rồi ngâm sầu riêng trong thùng hóa chất; vài hôm sau, sầu riêng chín đều, bán được hết. Những loại trái cây khác như táo, nhãn…, họ cũng ngâm hóa chất – gọi là thuốc phì, chỉ một đêm là táo nở to, trái trông rất ngon; long nhãn nở to đến nỗi nứt cả hạt ra.

    Chợ Việt hàng Tàu

    Khi tôi đi chợ mua rau củ, tôi chỉ mua hàng xấu, củ nhỏ đèo, màu ít tươi. Tôi nói KHÔNG với hàng Trung Quốc. Tất cả rau củ quả, gia vị như cà rốt, khoai tây, củ hành, tỏi, đường, bột ngọt… đều của Trung Quốc. Chợ Việt Nam toàn hàng Trung Quốc. Rau củ Trung Quốc củ to, màu tươi đẹp, bạn mua về để sáu tháng sau không hư hỏng. Và rất rẻ. Chính một chủ vựa hàng légume nói với tôi rằng, “hàng Trung Quốc vừa rẻ, vừa đẹp, để lâu không bị hư, thì chúng tôi (các nhà kinh doanh) tất nhiên là phải mua bán rồi”.

    Khi đến cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn, tôi thấy bãi hoa quả Trung Quốc chuẩn bị đưa sang Việt Nam nồng nặc mùi hóa chất bảo quản. Mỗi thùng trái cây có một bịch hóa chất, bạn sẽ không bao giờ thấy nó bởi chủ vựa đã thủ tiêu mất trước khi bán cho người tiêu dùng. Vì vậy, trái cây Trung Quốc không cần bảo quản lạnh vẫn giữ tươi nguyên mấy tháng liền. Dân buôn bán vùng biên giới gọi đó là hàng nóng. Thật bất công khi hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc phải là hàng lạnh, trái cây phải được bảo quản bằng xe container lạnh, trong khi hóa chất bảo quản của Trung Quốc bán sang Việt Nam đầy ắp ở chợ Kim Biên, Sài Gòn.

    Trong khuôn khổ một bài viết, tôi không biết nói sao cho hết những nỗi khổ của người Việt Nam khi còng lưng làm lụng để rồi phải ăn toàn chất độc, sống trong môi trường nhiễm độc và chết sớm vì bệnh tật. Trung Quốc cung cấp thuốc độc và người Việt đầu độc lẫn nhau, một cuộc đầu độc vĩ đại có thể khiến đất nước và dân tộc này suy tàn, diệt vong.

  2. #102
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    4,712
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post
    Cuộc đầu độc vĩ đại ở Việt Nam
    Thạch Thảo
    có thể khiến đất nước và dân tộc này suy tàn, diệt vong.

    Hồi năm tui đi, Việt Nam dân số có 53 triệu dân thôi. Bây giờ là 101 triệu. 46 năm cách biệt 48 triệu. Mỗi năm tăng hơn 1 triệu.
    Mà số liệu tử vong nghe rằng không nhiều, cái population pyramid nhìn như cây thông, là cái hình mà các xứ thịnh vượng mơ ước.
    Cho nên bị tàu đầu độc chết vài người no star where (không sao đâu)


  3. #103
    Biệt Thự dulan's Avatar
    Join Date
    Nov 2011
    Posts
    3,257
    ...
    Ai hành lũ lụt...



    ...

    Mến chào N5, chieclavotinh và cả nhà

    ...

  4. #104
    Quote Originally Posted by dulan View Post
    ...
    Mến chào N5, chieclavotinh và cả nhà



    “Bên Thắng Cuộc” cũng vượt biên
    NGUYỄN HÒA

    Trên chuyến xe đò từ miền Nam California về San Francisco, ngồi phía sau tôi là ba cụ già rất hay chuyện. Thoạt đầu tôi nghĩ họ là người từ Sài Gòn ra đi bằng con đường vượt biển, hay đoàn tụ gia đình như rất đông đồng bào Việt Nam sống tại Mỹ. Sau một hồi nghe lỏm, tôi nhận ra họ nói giọng Bắc, mà lại là giọng Bắc sau 1975 của những người ở phía bắc vĩ tuyến 17 trong cuộc chiến Việt Nam. Tôi sinh ra ở miền Nam, lớn lên ở Sài Gòn sau chiến tranh, tôi nhận biết các giọng nói khá chính xác.

    – Vâng đúng rồi ạ, tôi ở Hà Nội, còn ông bà kia ở Hải Phòng, chúng tôi đi vượt biên bằng thuyền năm 78, lúc đấy xua đuổi người Hoa đấy.

    Hong Kong

    Vào khoảng cuối năm 1979, 1980, từ Việt Nam, lần đầu tiên tôi biết rằng có những thuyền nhân, rời bỏ Việt Nam từ miền Bắc, miền của phe “thắng cuộc” trong cuộc chiến Việt Nam. Và họ đi thẳng, bằng thuyền buồm, từ Hải Phòng, Quảng Ninh sang Hong Kong, lúc đó vẫn còn là thuộc địa của nước Anh.

    Sau 30-4-1975, tin tức về người thân, bạn bè, hàng xóm, thầy cô giáo,… vượt biển hầu như có hàng ngày trong các thành thị miền Nam, nơi sự áp chế của “chế độ mới” lên những người “bại trận” là rõ ràng nhất. Nhà cửa, tài sản bị trưng dụng, con cái không được học hành,… chỉ còn một đường là… đi!

    Nay lại có thuyền nhân đi từ miền Bắc, vùng đất của những người “thắng trận” là một điều gây ngạc nhiên.

    Theo phân tích của nhà báo Bùi Văn Phú, người có một năm làm việc tại các trại tị nạn tại Hong Kong, nguyên nhân ra đi của những người này cũng khá đa dạng, có nhiều thanh niên không muốn bị bắt lính sang chiến trường Cambodia (bắt đầu cuối năm 1978), nhưng số đông có lẽ bị kích thích bởi những người Việt gốc Hoa đi trước đó, nghe hoặc đọc những bức thư họ gửi về từ phương xa, nói về những điều mà miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc ấy không có, như là những chiếc xe hơi, như là một siêu thị đầy hàng hóa,…

    Những người ra đi từ miền Bắc này không có một quá khứ chính trị như những người ra đi từ miền Nam. Đối với họ, ra đi là tìm cuộc sống tốt hơn, tránh cảnh chiêm khô mùa thối của đồng bằng Bắc bộ, tránh cảnh vần đổi công của hợp tác xã,… Họ không bị phân biệt đối xử về chính trị như những đồng bào ở miền Nam. Thế mà họ vẫn đi.

    Trong số những thuyền nhân gốc miền Bắc này có khá đông sĩ quan công an hoặc quân đội nhân dân Việt Nam. Trường hợp khá nổi tiếng là Thiếu tá Vu Song Thao, Phó giám đốc công an Quận Hồng Bàng, Hải phòng. Vào năm 1989, ông bỏ trốn sang Hong Kong vì sợ bị trừng phạt sau khi gửi đơn tố cáo cán bộ tham nhũng đến Thủ tướng lúc đó là ông Đỗ Mười. (Tài liệu Cơ quan tị nạn Liên Hiệp quốc.)

    Tại Hong Kong, những người miền Bắc này được cho vào những trại khác với những thuyền nhân gốc miền Nam, để tránh những xung đột đổ máu từng xảy ra. Cuộc nội chiến tưởng đã chấm dứt sau hai mươi năm lại kéo dài vào những trại tị nạn Hong Kong.

    Theo những con số thống kê khác nhau, có từ 200 ngàn đến 230 ngàn người tị nạn Việt Nam đến Hong Kong trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 2000, thời điểm trại tị nạn cuối cùng đóng cửa. Trong số hơn 200 ngàn người này, theo phỏng đoán của ông Bùi Văn Phú, số người đi ra từ miền Bắc phải hơn một nửa.

    Những người miền Bắc này đa số được cho định cư tại nước Anh, vì nước Anh là chủ thuộc địa Hong Kong khi họ vượt biên đến đó.

    Đông Âu

    Nếu những người miền Bắc đến Hong Kong là nông dân, dân chài lưới, thì có một số đông những người miền Bắc khác vượt biên sang châu Âu từ Đông Âu, lẻ tẻ trước năm 1989, và ồ ạt sau 1989 khi bức tường Bá Linh và khối cộng sản sụp đổ. Họ là những người khấm khá nhất trong nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa lúc đó, được ưu tiên nhất lúc đó, hoặc đi du học, hoặc đi làm công nhân trong các nhà máy của các quốc gia cộng sản Đông Âu. Họ vẫn ra đi.

    Kỹ sư Nguyễn Đình Xuân, sống ở Đông Đức vào thời gian trước 1989, cho biết mặc dù nước Đông Đức cộng sản được xem là khá nhất trong khối cộng sản, nhiều người Việt, mà đa số ra đi từ miền Bắc, mặc cho nguy hiểm vẫn tìm cách vượt biên về phía Tây.

    Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Không còn những chương trình du học đại trà, không còn những hợp đồng sử dụng nhân công Việt Nam, nhưng người Việt từ miền Bắc tiếp tục đi sang Nga, Đông Âu, và sau cùng là Tây Âu, bằng những con đường khác.

    Cuối những năm 1990, tác giả có mặt ở Hungary và chứng kiến những nhóm người Nghệ Tĩnh ở với nhau trong những khu Gypsy của thủ đô Budapest. Họ có những đầu mối liên lạc, xin hộ chiếu, visa, qua những mối dây đồng tộc, đồng hương với nhau.

    Đông Âu sụp đổ, dòng người Việt đi từ miền Bắc sang vẫn không dừng lại. Những quốc gia Đông Âu hậu cộng sản dần dần tham gia cộng đồng châu Âu, với một không gian rộng lớn không biên giới, càng kích thích dòng người ra đi, mà điểm đến cuối cùng không còn là những Ốp (nơi người Việt tập trung buôn bán) ở thủ đô Moscow của nước Nga, không còn là Chợ Bốn con cọp ở Budapest (khu chợ trời ở thủ đô Hungary) nữa, mà là những nhà kính trồng cần sa tại Anh, những hàng quán cần lao động rẻ tại Pháp,…

    30 năm sau ngày Đông Âu cộng sản sụp đổ, người ta phát hiện 39 thi thể người Việt trong một thùng đông lạnh tại Anh. Tất cả những người này đều là người ra đi từ miền Bắc, vượt biên vào nước Anh bất hợp pháp.

    Nếu lấy thời điểm 1979 làm điểm mốc cho những người Việt gốc miền Bắc vượt biên sau sự kiện xua đuổi người Việt gốc Hoa, thì đã tròn 40 năm, những người của “bên thắng cuộc” vẫn bỏ chạy. Họ cũng chẳng phải là kẻ chiến thắng.

  5. #105
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    4,712
    Quote Originally Posted by chieclavotinh View Post



    “Bên Thắng Cuộc” cũng vượt biên
    NGUYỄN HÒA

    Trên chuyến xe đò từ miền Nam California về San Francisco, ngồi phía sau tôi là ba cụ già rất hay chuyện. Thoạt đầu tôi nghĩ họ là người từ Sài Gòn ra đi bằng con đường vượt biển, hay đoàn tụ gia đình như rất đông đồng bào Việt Nam sống tại Mỹ. Sau một hồi nghe lỏm, tôi nhận ra họ nói giọng Bắc, mà lại là giọng Bắc sau 1975 của những người ở phía bắc vĩ tuyến 17 trong cuộc chiến Việt Nam. Tôi sinh ra ở miền Nam, lớn lên ở Sài Gòn sau chiến tranh, tôi nhận biết các giọng nói khá chính xác.

    – Vâng đúng rồi ạ, tôi ở Hà Nội, còn ông bà kia ở Hải Phòng, chúng tôi đi vượt biên bằng thuyền năm 78, lúc đấy xua đuổi người Hoa đấy.

    Hong Kong

    Vào khoảng cuối năm 1979, 1980, từ Việt Nam, lần đầu tiên tôi biết rằng có những thuyền nhân, rời bỏ Việt Nam từ miền Bắc, miền của phe “thắng cuộc” trong cuộc chiến Việt Nam. Và họ đi thẳng, bằng thuyền buồm, từ Hải Phòng, Quảng Ninh sang Hong Kong, lúc đó vẫn còn là thuộc địa của nước Anh.

    Sau 30-4-1975, tin tức về người thân, bạn bè, hàng xóm, thầy cô giáo,… vượt biển hầu như có hàng ngày trong các thành thị miền Nam, nơi sự áp chế của “chế độ mới” lên những người “bại trận” là rõ ràng nhất. Nhà cửa, tài sản bị trưng dụng, con cái không được học hành,… chỉ còn một đường là… đi!

    Nay lại có thuyền nhân đi từ miền Bắc, vùng đất của những người “thắng trận” là một điều gây ngạc nhiên.

    Theo phân tích của nhà báo Bùi Văn Phú, người có một năm làm việc tại các trại tị nạn tại Hong Kong, nguyên nhân ra đi của những người này cũng khá đa dạng, có nhiều thanh niên không muốn bị bắt lính sang chiến trường Cambodia (bắt đầu cuối năm 1978), nhưng số đông có lẽ bị kích thích bởi những người Việt gốc Hoa đi trước đó, nghe hoặc đọc những bức thư họ gửi về từ phương xa, nói về những điều mà miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc ấy không có, như là những chiếc xe hơi, như là một siêu thị đầy hàng hóa,…

    Những người ra đi từ miền Bắc này không có một quá khứ chính trị như những người ra đi từ miền Nam. Đối với họ, ra đi là tìm cuộc sống tốt hơn, tránh cảnh chiêm khô mùa thối của đồng bằng Bắc bộ, tránh cảnh vần đổi công của hợp tác xã,… Họ không bị phân biệt đối xử về chính trị như những đồng bào ở miền Nam. Thế mà họ vẫn đi.

    Trong số những thuyền nhân gốc miền Bắc này có khá đông sĩ quan công an hoặc quân đội nhân dân Việt Nam. Trường hợp khá nổi tiếng là Thiếu tá Vu Song Thao, Phó giám đốc công an Quận Hồng Bàng, Hải phòng. Vào năm 1989, ông bỏ trốn sang Hong Kong vì sợ bị trừng phạt sau khi gửi đơn tố cáo cán bộ tham nhũng đến Thủ tướng lúc đó là ông Đỗ Mười. (Tài liệu Cơ quan tị nạn Liên Hiệp quốc.)

    Tại Hong Kong, những người miền Bắc này được cho vào những trại khác với những thuyền nhân gốc miền Nam, để tránh những xung đột đổ máu từng xảy ra. Cuộc nội chiến tưởng đã chấm dứt sau hai mươi năm lại kéo dài vào những trại tị nạn Hong Kong.

    Theo những con số thống kê khác nhau, có từ 200 ngàn đến 230 ngàn người tị nạn Việt Nam đến Hong Kong trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 2000, thời điểm trại tị nạn cuối cùng đóng cửa. Trong số hơn 200 ngàn người này, theo phỏng đoán của ông Bùi Văn Phú, số người đi ra từ miền Bắc phải hơn một nửa.

    Những người miền Bắc này đa số được cho định cư tại nước Anh, vì nước Anh là chủ thuộc địa Hong Kong khi họ vượt biên đến đó.

    Đông Âu

    Nếu những người miền Bắc đến Hong Kong là nông dân, dân chài lưới, thì có một số đông những người miền Bắc khác vượt biên sang châu Âu từ Đông Âu, lẻ tẻ trước năm 1989, và ồ ạt sau 1989 khi bức tường Bá Linh và khối cộng sản sụp đổ. Họ là những người khấm khá nhất trong nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa lúc đó, được ưu tiên nhất lúc đó, hoặc đi du học, hoặc đi làm công nhân trong các nhà máy của các quốc gia cộng sản Đông Âu. Họ vẫn ra đi.

    Kỹ sư Nguyễn Đình Xuân, sống ở Đông Đức vào thời gian trước 1989, cho biết mặc dù nước Đông Đức cộng sản được xem là khá nhất trong khối cộng sản, nhiều người Việt, mà đa số ra đi từ miền Bắc, mặc cho nguy hiểm vẫn tìm cách vượt biên về phía Tây.

    Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Không còn những chương trình du học đại trà, không còn những hợp đồng sử dụng nhân công Việt Nam, nhưng người Việt từ miền Bắc tiếp tục đi sang Nga, Đông Âu, và sau cùng là Tây Âu, bằng những con đường khác.

    Cuối những năm 1990, tác giả có mặt ở Hungary và chứng kiến những nhóm người Nghệ Tĩnh ở với nhau trong những khu Gypsy của thủ đô Budapest. Họ có những đầu mối liên lạc, xin hộ chiếu, visa, qua những mối dây đồng tộc, đồng hương với nhau.

    Đông Âu sụp đổ, dòng người Việt đi từ miền Bắc sang vẫn không dừng lại. Những quốc gia Đông Âu hậu cộng sản dần dần tham gia cộng đồng châu Âu, với một không gian rộng lớn không biên giới, càng kích thích dòng người ra đi, mà điểm đến cuối cùng không còn là những Ốp (nơi người Việt tập trung buôn bán) ở thủ đô Moscow của nước Nga, không còn là Chợ Bốn con cọp ở Budapest (khu chợ trời ở thủ đô Hungary) nữa, mà là những nhà kính trồng cần sa tại Anh, những hàng quán cần lao động rẻ tại Pháp,…

    30 năm sau ngày Đông Âu cộng sản sụp đổ, người ta phát hiện 39 thi thể người Việt trong một thùng đông lạnh tại Anh. Tất cả những người này đều là người ra đi từ miền Bắc, vượt biên vào nước Anh bất hợp pháp.

    Nếu lấy thời điểm 1979 làm điểm mốc cho những người Việt gốc miền Bắc vượt biên sau sự kiện xua đuổi người Việt gốc Hoa, thì đã tròn 40 năm, những người của “bên thắng cuộc” vẫn bỏ chạy. Họ cũng chẳng phải là kẻ chiến thắng.


    Có một sự thật rất lạ, là 3/4 người Việt học tập và đi làm việc khi xưa ("hợp tác lao động") từ Đông Âu chạy sang đây và ở lại vẫn cứ nghĩ họ không giống chúng mình, người Việt tị nạn cs, một chút ít tự ti luôn có trong họ, sau 30 năm vẫn vậy, nghĩa là khi họ có tiền chạy một chiếc xe Tesla, bạn sẽ thấy họ rất tự hào và muốn phơi bày sự thành công về mặt tài chính của họ ngay trước mặt bạn.
    Nhưng khi trao đổi với họ, bạn sẽ dễ dàng nhận ra, sau 30 năm họ vẫn chưa hội nhập được. Tin tức họ đọc là đọc từ các trang báo Việt Nam. Về ý thức hệ 7 phần là không hiểu gì về xã hội và con người ở đây. Đơn giản là vì họ chưa cầm được chiếc chìa khóa đời sống nơi họ định cư: ngôn ngữ! Một loại thú vui mà 99% những người này hay có, là đam mê về VN khi có dịp.

    Có lẽ con cái của họ mà chúng ta ít gặp sẽ hội nhập rất sạch sẽ. Cũng có thể rất thành công. Nhưng lớp người trẻ này chỉ có thể gặp tình cờ trong các môi trường làm việc của họ. Chứ hội hè của cha mẹ chúng Xuân Hạ Thu Đông, dường như không còn trong tự điển tiếng Việt của lớp trẻ này nữa.
    https://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic58189_5.gif

  6. #106
    Biệt Thự HXhuongkhuya's Avatar
    Join Date
    Jan 2015
    Posts
    5,280

    Con Không Có Chùa!




    Theo Dấu Chân Trần có nhiều clips hay bây giờ mới chiếu, 5 và các anh chị bạn có coi kênh này chưa?
    Khi xưa HK Vô Sở Hữu của Conikal theo dạng documentary rất thích, giờ tới Theo Dấu Chân Trần.


    HXhuongkhuya cám ơn các anh chị
    , các bạn ghé thăm .




  7. #107
    Biệt Thự 005's Avatar
    Join Date
    Feb 2013
    Posts
    4,712
    Quote Originally Posted by HXhuongkhuya View Post

    Con Không Có Chùa!




    Theo Dấu Chân Trần có nhiều clips hay bây giờ mới chiếu, 5 và các anh chị bạn có coi kênh này chưa?
    Khi xưa HK Vô Sở Hữu của Conikal theo dạng documentary rất thích, giờ tới Theo Dấu Chân Trần.

    Hay quá.
    Cám ơn Hương Trần.
    Mới coi phân nửa. Để dành coi từ từ, không thôi lại hết.
    https://dtphorum.com/pr4/signaturepics/sigpic58189_5.gif

  8. #108
    Cây đắng nở hoa
    Thế Giang

    … Từ giờ cho tới trung tuần tháng Mười, bác sẽ có hai, ba dịp được rượu chè, đãi đằng… đầu tháng Mười Một sẽ có tin vui thật lớn. Tin nầy sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc đời bác… Bệnh nặng nhưng sẽ qua đựợc, không lo, số bác được nhờ con cái…

    – Tháng Mười ta hay tây?

    Người đàn ông trạc ngoài 50 bồn chồn hỏi.

    – Tháng Mười dương, tôi bói bài Tây nên nói theo dương lịch.

    – Như vậy có nghĩa trong tuần tới nầy?

    – Vâng, bài nó hiện lên như vậy. Bác còn muốn hỏi chuyện gì nữa không?

    Người đàn bà mặc áo cánh trắng hơi khó đoán tuổi, có vẻ dân kẻ chợ, ngồi xếp chân vòng tròn trên cái phản độc nhất trong căn nhà lá xốc lại cỗ bài. Người đàn ông tần ngần dấp nước bọt vào ngón tay để rút tiếp con bài cái: “Được uống rượu thì đúng rồi, trong tháng nầy làng có đám giỗ của ông Cả Hương, ông Thuận cuối xóm mới “đi” năm ngoái… Còn ai nữa nhỉ? Đám liệt sĩ chống Mỹ thì cha mẹ, vợ con túng thiếu đã thôi giỗ từ hai, ba năm nay… À, còn thím Tuất xóm Gạch, chồng mới chết bên Kăm-phu-chi-a…thảo nào mà mình không nhớ, chứ cả năm có ngần ấy dịp để uống rượu mà quên sao được.”

    – Đây nầy, tôi nói có sai đâu, thế nào rồi con ách rô cũng hiện ra mà. Cam đoan trong tháng nầy sẽ có tin vui lớn…, từ con cái và tài lộc còn vượng phát nữa.

    Người đàn ông nhấp nhổm người trên phản, chiếc quần đùi đã tụt xuống dưới rốn để lộ ra cái bụng răn reo. Chùi tay vào manh vải độc nhất trên người đó, ông táy máy sờ vào con bài đỏ nằm bên con bản mệnh của mình.

    – Phỉnh người già là mang tội lắm đấy, không lẽ tháng nầy thằng Sơn nó gửi quà cho tôi. Tháng vừa rồi nhận thư nghe nó than ở bên Nga cũng túng thiếu lắm, tiền học bổng mua sách học còn không đủ nữa là…

    – Cái nhà bác nầy, nói thế mà nghe được à, bài nó nói sao thì tôi nói vậy chứ ăn tiền ăn bạc gì của nhà bác mà tôi nói sai nói quàng?

    – Ý bà muốn chê mấy buồng chuối của tôi đắt không muốn mua nên tưởng tượng ra như vậy chứ gì?

    – Trời Phật ơi! Bác ăn nói như vậy không sợ Trời vật hay sao? Thuận mua vừa bán, làng nầy thiếu gì chuối mà tôi phải đi ép uổng bác cơ chứ?

    Người đàn ông còn chưa yên tâm nên thử tiếp:

    – Ý bà muốn bao nhiêu?

    – Thì vẫn như hồi đầu tôi mà cả với bác ấy. Cái chuyện “mua non” chuối nầy tôi cũng không muốn lắm đâu, nó thất đức làm sao ấy mà nhỡ ra xấu trời là mất sạch vốn.

    – Ấy ấy, sao bà lại nói thế, tôi có dám nghĩ gì đâu… mà bà vẫn mua đấy chứ?

    – Tôi mua là để giúp bác, lãi lời là bao nhiêu… mà số bác cũng khá tới nơi rồi…

    – Vị chi tất cả là bảy buồng, nhân cho 18 là 126 đồng. Bà có mang theo tiền không?

    Sợ kéo dài thêm, bà hàng chuối sẽ đổi ý nên người đàn ông vội kết thúc câu chuyện.

    Người đàn ông vừa nhẩm tính trong đầu: bốn cân gạo nhân cho 20 là tám chục đồng, hai cút rượu 16 đồng, số còn lại mua nửa cân lạc về nhấm và rang mặn để ăn dần. Phải rồi, mua gạo ngay chứ chần chừ, nấn ná là mình lại uống rượu hết. Mình khô mép cũng lâu rồi, hai cút không biết có đủ cho hai bữa không. Trời hôm nay mát uống rượu sẽ ngon lắm đây.

    Bữa giỗ năm nay bà cả Hương làm thật linh đình. Ngay từ sáng hôm qua đứa con dâu đã đạp xe lên tận chợ huyện để mua thịt lợn và đậu phụ. Chợ làng thường chỉ có lợn nhỏ và bệnh nên người ta mới giết. Tuy vậy bà cũng gióng giả với làng nước rằng sẽ mua vét cho hết nếu ai ra sau 8 giờ sáng.Ông bí thư xã nghe thấy vậy ngứa tai lắm, nhất là khi vợ rỉa rói đay nghiến làm sao ông lại để yên chuyện hủ lậu giỗ gả nầy trong địa hạt cai quản của mình, định bụng sẽ triệu tập dân làng họp về nếp sống văn minh, lành mạnh và tiết kiệm vào ngay tối hôm trước ngày giỗ để ngăn chặn.Nhưng bà cả Hương thật khéo lo xa, khi cái công văn mời họp còn thảo dở để trên bàn thì bà đã xởi lởi chui vào cổng nhà ông, tay xách cái thủ lợn được bọc kín trong mấy lớp lá chuối. Chị vợ hít mùi máu lợn liền nháy mắt cho chồng. Ông hiểu ý nên lỉnh qua bên Văn hóa thông tin xã cho các bà tiện nói chuyện.

    Không khí giỗ chạp rạo rực đến từng nhà. Các lão ông lo lắng không biết bà quả phụ ông cố chủ nhiệm hợp tác xã mua rượu ở đâu. Rượu của làng này nấu thì tệ lắm, chua loen loét mà uống mãi vẫn chưa ngọt được cuống họng. Đám trẻ con băn khoăn về chỗ ngồi của chúng. Năm ngoái cô con dâu trưởng của bà Hương đã lùa tất cả xuống bếp, mà mâm trẻ con thì thiếu đủ các món nên chúng vừa ăn vừa tranh thủ nhét xôi nhét thịt vào túi áo.

    Lát nữa khi những đứa dại khờ còn đang thòm thèm đứng mút tay nhìn lén qua khe cửa xem người lớn uống rượu thì chúng thong thả kéo nhau ra đình, vừa đi vừa nhấm nháp chỗ xôi thịt vừa thủ được.

    – Nhớ mời bằng được bác Đặng con nhé. Tội nghiệp cái ông nhạc sĩ lỡ thời, cho ông ấy một hai cút rượu vào là chuyện trò rôm rả, nổi đình nổi đám. Thật bốn thằng mõ ngày xưa pha trò không bằng một mình bác ấy. Cái chân giò u cất trong khạp gạo lát nữa nhớ gói về cho bác. Cấm quân bay không được phạm vào!

    Cô con gái phàn nàn rằng vụ cà chua, khoai tây năm nay chưa chắc được mùa, u làm giỗ tốn kém quá, khéo không kéo lại được.

    Bà Hương cười mát giảng giải cho con gái:

    – Quân bay nông cạn lắm; một vốn bốn lời, tao làm bữa giỗ nầy đấm mõm cả làng, đến kỳ đại hội xã viên tới chúng nó sẽ dồn phiếu cho anh cả mày vào chức chủ nhiệm hợp tác xã. Nhìn đấy, cơ nghiệp nhà nầy tạo nên chỉ trong ba năm thầy mày làm chủ nhiệm đó thôi.

    Tuy được u giải thích như vậy, song đám đàn bà trong nhà vẫn thông mưu với nhau cùng giấu bớt rượu thịt.

    – Rước cụ xơi rượu…

    – Vâng bác cứ để mặc em… hình như mâm ta còn thiếu món giò bò?

    Ông Mưu “lác” buông đũa nhỏm người nhìn qua bên cạnh, nơi các ông bí thư, chủ tịch, công an xã đã bắt đầu từ trước đó nửa giờ.

    – Giò bò chỉ cho các chức sắc thôi, cánh ta xơi tạm giò thủ vậy. Kìa, còn có cả ông Huyện đội nữa nầy… Thằng con trai út bà Hương đợt nghĩa vụ quân sự nầy được hoãn… hèn gì mà có giò bò…

    Nhưng rồi thì đám mâm thấp vế cũng cho qua đi cơn ganh tị. Đĩa thịt lợn luộc ngộn mỡ, đĩa cá trôi rán nguyên con đang mở mắt nhìn chòng chọc thế kia thì bố ai mà lo nghĩ chuyện xa xôi cho được.

    Khi tiệc rượu vừa lên đến cao trào, tiếng mời rượu, tiếng gọi món ăn và tăng tẳng đâu đây tiếng đàn miệng đang đi dạo cho khúc quan họ thì cô con gái bà Hương tay bưng bát canh miến nóng hỏi vọng từ ngoài sân, lướt qua mấy chục cài đầu người đang nhấp nhô lượn sóng:

    – Có ai là ông Đặng Đình Hưng ở đây không? Ra có người cần gặp.

    – Hưng nào. Đặng Đình Hưng nào? Làng nầy làm gì có ai tên Đặng Đình Hưng?

    Có tiếng người thắc mắc hỏi lại:

    – Đặng Đình Hưng phải không? Đúng rồi, cái nhà bác nhạc sĩ Đặng ở ven đê đó.

    Ông công an xã xác nhận lại.

    – Mà ai cần gặp? Ông hỏi tới.

    – Cháu không rõ, họ đi xe Volga từ Hà Nội về đang đỗ chờ ngoài đình làng đấy.

    – Xe Volga hả? Thôi thế thì đúng rồi, thằng cháu trai tôi đang làm lái xe cho ông Bộ trưởng nên đánh xe về làng đấy.

    Ông Tươi “ba toác” đặt mạnh chén rượu xuống, ẵm vội cái tin đáng hãnh diện đó vào lòng.

    – Ai! Ai? Cái thằng Toan lại rước “các ông” về đấy à? Thôi chết tôi rồi, nhà còn mỗi con gà mái đẻ, thịt nốt thì lấy ai mà ấp trứng…?

    Bà vợ ông Tươi đang vừa cho con bú vừa vê nắm xôi thất thanh hỏi: Xe Volga màu gì?

    Ông bí thư xã cài vội cái khuy áo ngực,vuốt lại mái tóc, cắt ngang lời bà:

    – Có phải xe màu đen không?

    – Vâng, xe màu đen ông ạ.

    Cô con gái bà Hương xác nhận lại.

    – Bỏ mẹ rồi, ông bí thư tỉnh uỷ chứ không phải ai đâu… mà có đúng xe màu đen không hay mày nhầm với màu xanh đậm?

    – Cháu nhìn phớt qua nên không chắc lắm.

    – Đám thanh niên đâu rồi?

    – Chi đoàn xã sáng nay đi hội diễn văn nghệ trên huyện chiều mới về.

    Có ai đó nhanh nhảu báo cáo.

    – Gọi ngay cho tôi đám dân quân!

    – Chúng nó còn đang uống rượu.

    – Rượu với chè cái gì, bố chúng nó về thăm mà chúng nó còn rung đùi ngồi uống à? Nổi kẻng báo động chiến đấu cấp một lên cho tao!

    Đám trai làng lầm bầm chửi, song vẫn lốc nhốc đứng dậy.

    – Chia làm hai cánh, một xuống ao hợp tác xã đánh mươi cân cá. Chỉ lấy cá chép trên một ký thôi nghe không. Cánh còn lại vào “vườn cây nhớ ơn Bác” hái hai xọt cam về đây. Mẹ tiên sư, về mà không báo trước hai ba hôm cho người ta kịp chuẩn bị.

    – Ao hợp tác xã tát hết vào tuần trước rồi, chả còn gì đâu mà bắt.

    Anh xã đội trưởng làu bàu.

    – Xuống ao cá bác Hồ!

    – Ao đó “bác” dặn chỉ để cho gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng.

    – Ông bí thư tỉnh uỷ không đẻ ra cả cách mạng ấy à. Quân bay có muốn chết cả lũ không? Ông mà chết thì chúng mầy cũng chết!

    Khi kẻng báo động vừa khua vang ngoài đầu xóm thì hai người khách lạ đã thập thò trước sân.

    – Chúng tôi muốn gặp ông Đặng Đình Hưng…

    – À, ra thế là các ông; các ông muốn gặp ông Đặng? Các ông là ai? Gặp có việc gì?

    Ông công an xã đưa mắt nhìn ông bí thư thở phào rồi xoi mói nhìn khách.

    – Chúng tôi ở trên Bộ Văn Hoá về gặp ông ấy có chút việc riêng.

    – Việc riêng không thể nói ra đây được à?

    – Tôi là Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội nhạc sĩ, yêu cầu ông mời hộ ông Hưng ra cho chúng tôi nói chuyện!

    – Dạ… dạ, bác Hưng ngồi ở góc kia…, đó ông có nhìn thấy không? Thôi để tôi vào gọi hộ cho.

    Vừa thoáng nghe đến cái tên Huy Du. ông Hưng đã xây xẩm mặt mày. Bao nhiêu rượu uống từ đầu bữa tới giờ toát hết hơi lạnh sau gáy. Nhè miếng giò đang nhai dở trong miệng vào bát, ông ngồi thừ ra lo nghĩ. Ông công an xã sốt ruột bèn xốc nách ông đứng dậy.Chân nam đá chân xiêu, quên cả xỏ guốc, ông lảo đảo vịn vai đám khách đang ngồi bệt dưới đất lần ra ngoài. Huy Du cái tên gợi lại cho ông những hình ảnh đấu tố của Bộ Văn hoá 20 năm về trước. Huy Du, bạn ông; Huy Du, người ngưỡng mộ ông; Huy Du đầu thú; Huy Du thủ trưởng; Huy Du, người phát động đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm; Huy Du, cơn ác mộng của nửa đời ông… và bây giờ Huy Du lại về đây…

    Ông còn lúng túng chưa biết xưng hô làm sao thì hắn ta đã ào tới ôm lấy vai, nụ cười gắn sẵn trên môi.

    – Sao có khoẻ không Hưng? Bệnh tật vậy mà vẫn còn sức uống rượu à?

    Ông cảm thấy nhột nhạt và lo sợ về cử chỉ thân mật bất ngờ nầy. Đã bao lần người ta êm ái, ân cần, nhân danh sự giúp đỡ khuyên vợ ông bỏ ông… và đẩy ông vào tù.

    – Nghe tin cậu bị ung thư anh em rất lo. Hôm qua anh Trần Độ điện thoại hỏi thăm và yêu cầu mình về đón cậu đi nhà thương. Anh ấy nhường cả chiếc xe Volga thường ngày đi làm để cho cậu đấy.

    Chúng nó vẫn để ý theo dõi mình? Vẫn chưa buông tha… sao chúng nó biết mình ung thư?

    – Đời sống dễ chịu không? Chắc cũng khó khăn nhiều phải không? Nhưng giờ thì khá rồi! Cậu biết không, tay đại sứ của mình từ Ba Lan vừa điện về nhà xin ý kiến nên chuyển 30.000 đô-la tiền thưởng vào Ban tiếp nhận viện trợ trung ương hay chuyển vào ngân quỹ của sứ quán. Tụi mình chạy vội lên ông Phạm Văn Đồng xin giúp đỡ… Và thế là Thủ tướng ký lệnh trả lại cho thằng bé số tiền đó.

    – Tiền gì? Thằng bé nào…?

    – Thì thằng Sơn nhà cậu ấy. Cậu chưa biết chuyện gì xảy ra à? Thằng Sơn giật giải nhất thi Chopin ở Vác-sa-va ba ngày nay, báo chí đài phát thanh phát ầm lên mà cậu không hay sao?

    – Tôi có cái đài cái đóm nào đâu mà biết… Sao? Nó đoạt giải nhất Chopin à?

    – Ồ… ở đây sao người ta lại lười đọc báo, nghe đài quá! Các địa phương chả bao giờ nắm vững tình hình được…

    Ông đã bắt đầu yên tâm với chiều hướng của câu chuyện, nhưng lòng vẫn còn bán tín bán nghi.

    – Được ba ngày rồi à? Thế lúc nầy cháu nó ở đâu?

    – Hiện cháu đã về lại Nga rồi. Nửa tháng nữa sẽ nghỉ phép về thăm nhà.

    – Về Hà Nội à?

    – Ừ, về Hà Nội. Sao? Cậu thấy trong người thế nào? Phải thu xếp lên ngay Hà Nội ngay bây giờ, tớ đã liên hệ với bệnh viện K, họ hứa sẽ thu xếp ngay cho cậu một chỗ nằm.

    – Chả hy vọng gì đâu, xin cứ để tôi được yên ở đây. Cái bệnh nầy giỏi lắm cũng chỉ năm sáu tháng nữa là cùng, mà đừng có đụng dao kéo gì tới thì mới được…

    – Cậu bệnh nầy lâu chưa?

    – Nửa năm nay rồi…

    – Bậy thật, thế mà chúng tớ có biết gì đâu, mãi đến hôm kia Thủ tướng điện hỏi thăm xem thằng Sơn là ai, cha mẹ nó làm gì v.v… tụi mình mới hay.

    Họ sánh vai nhau đi trên đường làng. Huy Du ôm riết lấy vai ông bạn cũ, thỉnh thoảng lại ghé tai nói nhỏ điều gì rồi cười lên rinh rích. Những lúc đó, ông Hưng dừng lại, chờ cơn cười của Huy Du qua đi, hai bàn chân đi đất gãi gãi vào nhau cho đỡ ngứa rồi đi tiếp.

    – Đi đây, rẽ đây… đường làng chật quá, tớ phải cho lái xe đỗ tuốt ngoài đầu đình… cậu đi đâu vậy? Tớ nhận được chỉ thị của anh Trần Độ là phải đưa cậu lên Hà Nội ngay lập tức!

    – Cho tôi về nhà cái đã… còn nửa cút rượu uống dở giắt trong vách nhà… mà tôi bỏ quên đôi guốc ở đâu rồi?

    – Lấy rượu thôi nhé… đồ đạc không cần, lên Hà Nội lấy quần áo của tớ mặc cho nó tươm tất một chút…

    *

    Gió Thu lờ lững vờn quanh dẫy nhà hai tầng quét vôi mầu vàng. Hàng sấu già mọc giăng hàng trước cửa đài phát thanh sướng run lên vì được vuốt ve.

    Mở toang cửa sổ của văn phòng điều trị, ông Hưng vươn cổ uống lấy từng cơn gió. Bữa cơm chiều ba món nấu đơn giản nhưng đầy chất lượng của bệnh viện dành cho những con người tuyệt đường sinh lộ đang óc ách trăn trở trong bụng ông. Ăn uống kham khổ lâu ngày đã quen bỗng dưng từng khối thịt cá như đạn trái phá nã thẳng vào dạ dầy đâm ra hỏng bét hết cả. May mà ông nghe lời bác sĩ không ăn thêm món thịt ngỗng quay không biết của ai mua ở phố Hàng Buồm gửi vào. Quà cáp thật nhiều, của người quen có, của những cái tên lạ hoắc cũng có.

    Sau cái trò Phạm Tuân lên vũ trụ, giờ lại tới tin con trai ông trở thành đệ nhất dương cầm thế giới đang gây dư luận sôi nổi trong cả nước. Quán rượu, quán cà phê, nước trà, đang khi chen chúc nhau trên xe buýt, người ta kháo nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhiều gã thanh niên sau khi thêm thắt một vài chi tiết chung quanh cuộc thi rồi xuống giọng trầm buồn kể về cuộc đời gian truân đầy éo le của bố nó – Tôi vẫn thường uống rượu với ông Đặng Đình Hưng mà! – Một chi tiết đáng giá bảo đảm cho sự quen biết đối với bậc danh nhân. Ngay cả đến ông hàng xóm thật, hồi mà thiên tài của thằng Sơn còn mong manh trong vỏ trứng, đã một ngày hai bận sang đấm cửa nhà nó yêu cầu câm ngay cái âm thanh không thích hợp với rau muống, chuyện đấu đá ở cơ quan, để cho ông được yên tĩnh, cũng ngậm ngùi oán trách sự ngược đãi của chế độ đối với nhân tài.

    Thôi cũng chả sao; bất mãn đang là cái mốt của người Hà Nội mà. Giới văn nghệ sĩ thì sung sướng ra mặt. Gặp nhau ngoài đường anh nào anh nấy mặt mũi tưng tửng làm như mình là người đoạt giải vậy. Xưa nay vốn bị coi khinh bạc, bị coi như một thứ xướng ca, mõ làng cho đảng giờ cũng đẻ ra được một cái gì, y như nàng thứ phi bỗng dưng sinh hạ cho chúa thượng một đấng con trai bèn lên mặt với đám thê thiếp. Cái đất nước quá nghèo nầy suốt đời ngửa cổ chờ đón tin trúng số độc đắc và những phen có dầu… hụt của tổng cục dầu khí, giờ đang nở mặt nở mày với thế giới.

    Nhưng “Trung Ương” thì không được hài lòng lắm. Thật là một cú bất ngờ, xưa nay đã trót kìm kẹp đè nén khiến bao tài năng bị sinh non đẻ bậy, giờ lại phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của đảng bay ra ngoài giao du với thế giới. Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng Sơn. Thứ đến là Sở quản lý nhà đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống, người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đổi cách xưng hô. “Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Và cũng chính ông Huy Du nầy, khi thằng Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam bèn lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi nó đi Nga học. May mà có dịp ông Na-ta-xon, giáo sư dương cầm Nga, ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông đã lọc ra tiếng đàn thằng Sơn. Nhưng ba năm liền Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó qua cho ông dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả học sinh được gửi sang, đuổi về một mớ và dọa sẽ đuổi tất cả nếu không cho thằng Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên anh đội cẩm Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.

    “… Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

    Ông hiểu con ông như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân: “Công-cua Sô Phanh – Công-cua gốc mít.” Hàng tít lớn chạy dài cắt ngang tờ báo – “…Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”. Cái thằng Thép Mới nầy “rỉ” quá rồi. Thi sĩ Tố Hữu vừa dồn hết cảm hứng cho Phạm Tuân vào vũ trụ nên chưa lấy lại được hơi sức. Cũng may! Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. “Nhờ sự quan tâm vun trồng của đảng!”…

    Ông thấy thương con ông, ông thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…

    Nhưng lần nầy thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài. Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã gục dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, những Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên luỵ, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt… Còn biết bao nhiêu cuộc đời bị rút phép thông-công đẩy vào bóng tối như mình?

    Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!…”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ toả hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong tù mà thôi.

    Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra toà li dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà trưởng hệ Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn Giai Phẩm.” Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt nhìn trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn Giai Phẩm…”. Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở tòa án rúc về xó quê hẻo lành đợi tuổi già đến khuân đi. Nghĩ đến, ông vẫn còn tủi giận. Ông vẫn còn yêu, hằng đêm ông vẫn còn nhớ. Nhưng trời đày làm sao để những con người xa thì nhớ thương mà lại gần thì thấy ghét. Một cơn ho xé phổi kéo giật ông xuống giường. Người nữ y tá trực vội xô cửa chạy vào.

    – Ông lại uống rượu phải không?

    – Không, tôi có uống nữa đâu, có lẽ tại lạnh, làm ơn đóng hộ cái cửa sổ.

    Ông cố giơ tay chỉ ra phía sau mình.

    – Ông tệ lắm, cấm thế nào vẫn lén uống. Ông Huy Du đã chỉ cho chúng tôi mánh khoé giấu rượu của ông mà vẫn không sao ngăn được.

    Có tiếng lao xao trò chuyện ngoài hành lang.

    – Tôi chỉ vào năm phút thôi, tôi là cháu họ của ông ấy mà…

    Anh đó cố vật nài.

    – Đã bảo không được là không được mà!

    Tiếng đàn ông xẵng giọng đáp lại.

    – … Tôi đã nói với các người rất nhiều lần rồi, người bệnh cần được tĩnh dưỡng. Yêu cầu 4 giờ rưỡi chiều mai trở lại!

    Ông nhận ra giọng nói của nhạc sĩ Huy Du. – Cái thằng nầy thật lắm nghề, khi méo khi tròn, nó định làm bầu gánh hát cho cha con nhà nầy hay sao vậy? –. Cô y tá vừa khép cánh cửa lại là ông vùng dậy liền. Ngắm nghía bộ quần áo của Huy Du đưa, ông tắc lưỡi rồi trút bỏ bộ đồ bệnh nhân, mặc nó vào. Tụt người khỏi bệ cửa sổ, ông bò xuống đường. Khi chân vừa chấm đất thì chợt vang lên một hồi kẻng. Ông giật mình đứng sững người lại để định thần. À, hoá ra tiếng kẻng đổi gác của hỏa lò Hà Nội. Nháy mắt với chú công an đang bồng súng trợn mắt nhìn mình trong chấn song sắt, ông đi cứ như chạy đến quán rượu của Hoàng Cầm.

    – Thằng Sơn nó về là mình có quyền xoá tên trong “sổ thiên tào” của ông bạn vàng rồi. Tiên sư nó, mỗi lần ghi nợ mình là nó xướng to lên cho vợ nghe thấy rồi lẳng lặng dúi thêm cho nửa lít mang về.

 

 

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 04-14-2014, 01:47 PM
  2. Replies: 28
    Last Post: 04-11-2014, 01:47 PM
  3. Replies: 1
    Last Post: 02-22-2013, 12:24 PM
  4. Việt kiều Pháp mất quyền tỵ nạn vì về Việt Nam!
    By Võ Thanh Liêm in forum Lượm Lặt Khắp Nơi
    Replies: 2
    Last Post: 06-01-2012, 06:49 PM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
All times are GMT -7. The time now is 10:53 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.5
Copyright © 2026 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.
Forum Modifications By Marco Mamdouh