Results 771 to 780 of 1522
Thread: Việt Nam mới có
-
06-09-2024, 06:33 PM #771
Em thấy dùng từ “ Tấn công pháp tu “ là không chính xác đó đại sư huynh .
Em thấy thương cho GHPGVN lúc này quá!
Em quen biết ( bạn học ) với thầy Nhật Từ , ít nhiều em cũng hiểu được thầy phần nào , sống giản dị , hiền hòa từ thời cắp sách đến trường cho deesn bây giờ là Tiến sĩ .
Nhiều lúc em cũng suy nghĩ tại sao thầy lại bị bốc phốt đổ oan , cắt ghép và bình phẩm xấu như vậy !
Mỗi Tết hay lễ lượt khóa tu , nhà em cũng đi chùa GN , em vẫn thấy Thầy đơn giản khiêm tốn và mỉm cười hoan hỷ mặc cho phong ba bão tố chửi trách trên mạng xã hội vô số lời không đẹp …
Thương cho Bạn !
Quý kính Thầy !
-
06-09-2024, 06:57 PM #772
TẠI SAO ĐỨC PHẬT LẠI TỪ BỎ CON ĐƯỜNG TU TẬP KHỔ HẠNH SAU 6 NĂM?
Sau 6 năm thực hành khổ hạnh khắc nghiệt, Đức Phật nhận ra rằng sự hành hạ thân xác không dẫn đến giác ngộ. Thay vì thanh lọc tâm trí, khổ hạnh chỉ khiến Ngài kiệt sức và suy nhược.
Ngài nhận thức rằng mục đích của tu tập là giải thoát tâm trí khỏi khổ đau, chứ không phải hành hạ thể xác. Khổ hạnh chỉ tập trung vào thân xác, bỏ qua khía cạnh tinh thần quan trọng.
Việc Đức Phật từ bỏ phương pháp tu khổ hạnh sau 6 năm là một quyết định mang tính bước ngoặt, thể hiện sự nhận thức sâu sắc về bản chất của tu tập và con đường dẫn đến Giác ngộ. Thay vì hành hạ thể xác, Ngài đã chọn con đường Trung đạo, hướng đến lợi ích chúng sinh và đặt nền tảng cho giáo lý Phật giáo.
-
06-09-2024, 07:48 PM #773
Lần sau cô Dung cố gắng để nguồn cho sự minh bạch nhé.
Câu này là của sư phụ cũng như là bạn học của cô Dung phải không? ;-)
Mình dùng bài viết bên dưới của giảng sư đại học hiện còn làm việc và sinh sống tại Việt Nam trả lời cho cô Dung nhé.
SƯ MINH TUỆ
VÀ PHÁP HÀNH DƯỚI GÓC NHÌN PHẬT GIÁO
Nguyễn Thanh Huy*
Chú thích của Ban Biên Tập:
(*) Hiện là Giảng viên khoa Ngôn ngữ học trường Đại Học Khánh Hòa
Vài năm trước, tôi có duyên được biết đến sư Minh Tuệ qua kênh Youtube Nhân Gà Vlogs. Hình ảnh sư được quay tại một hang đá ở núi Sạn (Nha Trang) - nơi cũng gần nhà tôi. Qua video, sư không thuyết pháp, cũng không tự nói về bản thân, mà chỉ trả lời, chia sẻ khi được hỏi, một cách rất chân thật về hành trình tu tập của mình. Điều mà tôi quan tâm, chú ý hơn cả là những chia sẻ về việc thực hành, trì giới của sư. Và tôi nhận ra sư Minh Tuệ đọc nhiều, hiểu rõ về kinh Nikaya và hành y theo những lời Đức Phật dạy. Từ đó có nhận định rằng đây là một bậc chân tu.
Đến hôm nay, sư Minh Tuệ được rất nhiều người biết tới (tôi không thích dùng từ “nổi tiếng” đối với một bậc tu hành) và có sức lan toả rộng khắp, vượt ra cả biên giới quốc gia. Và câu chuyện về sư Minh Tuệ trở nên nóng hơn bao giờ hết, khắp mạng xã hội tràn ngập những video và hình ảnh về ông. Theo đó là rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Kính phục, ngưỡng mộ… có; chê bai, miệt thị … có. Muôn nẻo trần ai!
Nhưng may thay! Những người nghĩ tiêu cực về ông vẫn là thiểu số.
Sư Minh Tuệ tu theo pháp khổ hạnh đầu đà. Một số nhìn vào hành trạng và y áo của ông mà phỉ báng, nào là điên khùng, nào là hành xác, thiếu trí tuệ, không theo con đường Trung đạo mà Đức Phật khuyến khích. Nhưng những kẻ phỉ báng ông đâu biết rằng sư Minh Tuệ đang thực hành theo đúng chánh pháp, ông làm theo những lời dạy trong kinh nguyên thuỷ (1), đó là từ bỏ gia đình, sống đời phạm hạnh - một lối sống trong sạch, thanh tịnh, minh triết, buông xả tất cả, thiểu dục tri túc. Người ta nhầm lẫn khổ hạnh đầu đà là cách tu khổ hạnh trong 6 năm đầu của Đức Phật đi cầu đạo. Cái khổ hạnh ấy là ép xác, hành xác khiến cơ thể phải chịu nhiều đau đớn (có nguồn gốc từ Bà-la-môn). Như vậy, khổ hạnh đầu đà nghĩa nào đó là tiền thân của con đường Trung đạo và vẫn gần với nó nhất.
Nhiều người lại cho rằng tu hành quan trọng ở trí tuệ chứ không phải làm khổ cái thân. Nhưng họ nhầm lẫn giữa trí tuệ thế gian với trí tuệ Phật (2). Trí tuệ thế gian là khả năng nhận thức của con người, có từ di truyền và học hành. Trong khi trí tuệ Phật chỉ được khai mở khi người tu phải biết nghiêm trì giới luật. Có giới mới có định, có định mới sinh tuệ. Cho nên Đức Phật nói ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ và ngược lại (3).
Thực hành hạnh đầu đà cốt lõi là để chấm dứt mọi phiền não trần cấu. Vì ở pháp hành này giúp hành giả có thể hộ trì các căn, không bị chi phối bởi hoàn cảnh, dần đoạn diệt tham sân si. Đó là lí do vì sao người tu chỉ ăn ngày 1 bữa (giảm cái tham ăn), ngủ ngồi (giảm cái tham ngủ, vì nằm sẽ dễ ngủ say, li bì); mặc 3 y (thực chất là 1 bộ - nhu cầu tối thiểu, giảm sự lệ thuộc, tham ái vào y phục)…
Một số người lại chỉ trích, hạnh đầu đà sao không sống độc cư ở trong rừng mà cứ đi lang thang khắp cả nước làm gì. Thưa rằng, thời nay tìm rừng ở Việt Nam như thời Đức Phật tại thế là không thể. Và sư cũng từng có thời gian ẩn tu trên núi Sạn. Vậy tại sao ông quyết định chọn lựa cách bộ hành đi khắp đất nước? Như ông trả lời, đó là đi “tập học và rèn luyện sức khỏe”. Thực ra, nếu hiểu sâu thì ông đang thực hành đúng chánh pháp Như Lai. Vì đi như vậy là cách để ông chánh niệm thân - thọ - tâm - pháp; vì phải sống trong khổ, biết khổ, chứng nghiệm khổ thì mới hiểu rõ nguyên nhân của khổ, khi đó khổ sẽ tự chấm dứt, chứ không phải mong thoát khổ để được lạc.
Trên bước đường của sư, nếu ông bị cám dỗ bởi vật chất, tiền bạc, sắc đẹp, tức cái tham dục đã khởi lên; hay ông cảm thấy bị phiền toái khi nhiều người vây quanh, quấy nhiễu, tức cái sân đã nổi lên… Do đó, nếu chỉ ẩn tu chưa chắc sẽ chế ngự được tâm khi đứng trước những xúc chạm của thế tục.
Lại nhiều kẻ phê phán rằng: Ông đi như thế có ích lợi gì cho xã hội? Cả xã hội ai cũng đi như ông thì lấy gì có ăn?
Đây là những câu hỏi thiển cận và có tính chất ngụy biện hoặc đề cao quá về bản thân mình.
Thế, hãy tự hỏi mỗi người chúng ta đã làm gì cho xã hội?
Ai cũng có phần đóng góp cho xã hội không nhiều thì ít, và những giá trị con người có thể tạo ra không chỉ được định lượng bằng vật chất, mà còn ở tinh thần.
Lẽ thường, cái mà ta đã làm được, dễ nhìn thấy, là cho bản thân và gia đình. Nhưng cái mà sư Minh Tuệ đã và đang làm cho xã hội lớn lao và rõ nét hơn ta nhiều, đó là:
Sư đã giúp nhiều người thấy được hình ảnh của Phật giáo nguyên thuỷ và bóng dáng tu hành - cuộc đời Đức Phật.
Sư như một tấm gương chiếu yêu có thể làm lộ ra chân tướng của một số “xàm tăng”, “chuyển khoản tăng”, “hiến kế tăng”…
Sư đã khiến nhiều người đang mê lạc tà đạo thức tỉnh trở về với ánh sáng của chánh pháp.
Sư đã khiến nhiều người vẫn giữ được niềm tin vào Phật giáo, và ngay cả những tín đồ tôn giáo khác cũng có cái nhìn thiện cảm và mến mộ đạo Phật.
Sư đã khiến nhiều người tự soi xét lại mình mà giảm bớt tham sân si trong cuộc sống. Thậm chí không ít người còn buông bỏ tất cả mà xuất gia theo bươc chân sư.
Và nghĩa nào đó sư đã khiến cho tình người gần gũi hơn, xã hội hoà ái hơn.
Vậy, nếu cả xã hội mà cứ làm được như sư thì tốt biết bao. Khi đó, tôi tin chắc, xã hội không chỉ có ăn, có mặc mà còn có một đời sống an lạc, hạnh phúc hơn rất nhiều. Nhưng tiếc thay, làm như sư sẽ không được mấy người đâu!
Lại có người thắc mắc rằng sao thầy tu mà xưng “con”, không xưng “thầy” với người khác?
Thứ nhất, ông đã chọn con đường buông xả, không còn ràng buộc việc tu tập ở chùa cũ, cũng như không nhận mình “là sư là thầy ai cả” cốt để khỏi ảnh hưởng đến bất cứ ai và không bị phiền hà về chuyện giấy tờ tu sĩ…
Thứ hai, việc tự xưng “thầy” của các nhà sư với phật tử ngày nay chỉ là thói quen trong giao tiếp. Không có sự ràng buộc nào. Suy cho cùng đó là văn hoá ứng xử tôn ti và qui ước xưng hô trong ngôn ngữ của người Việt, chứ nếu ở tiếng Anh thì cũng chỉ lả I - You, hay tiếng Trung là Wǒ 我 - Nǐ 你mà thôi. Ở một số cao tăng họ vẫn xưng bằng “tôi” hoặc pháp danh khi giảng pháp. Còn sư Minh Tuệ xưng “con” với tất cả đại chúng, hiểu sâu hơn, đó là ông đang thực hành phá chấp ngã, tức ông không quan niệm mình là “thầy”, bỏ qua cái tôi mà khiêm hạ với mọi người. Rõ ràng đây chính là tinh thần vô ngã.
Hiện tại trên bước đường tu, sư đến đâu dân chúng cũng kéo theo hàng trăm đến hàng ngàn người, và trong đó có không ít youtuber, titoker, facebooker… Điều đó khiến nhiều người lo lắng, vì vấn đề an ninh hay sự phiền nhiễu cho việc tu tập của sư.
Theo tôi, chúng ta chớ vội mà trách cứ, chửi bới những người làm các kênh mạng xã hội. Hãy nhìn vào mặt tích cực của họ, vì nếu không có họ thì làm sao tạo ra những hiệu ứng tốt đẹp lan tỏa về một bậc chân tu. Và với thời đại này, cũng cần nhìn nhận rằng việc hoằng dương chánh pháp, phổ độ chúng sinh, chia sẻ những điều tốt đẹp sẽ rất hữu hiệu khi có sự hỗ trợ của truyền thông, và mạng xã hội. Nếu không thì làm sao phật tử ở Việt Nam biết đến những bài giảng của sư Pháp Hòa, hay Tịnh Không và của những bậc cao tăng khác nữa.
Mặt khác, sự tụ tập của họ cũng là một phép thử để sư Minh Tuệ thực hành chế ngự tâm. Khi được nhiều người chú ý, sùng bái, vái lạy, nếu sư khởi lên cái tâm - mình là quan trọng, là trung tâm, là ngôi sao, thì ngay lập tức sư rơi vào ngã chấp, ngã mạn (tâm tham ái, cầu danh); nếu họ vây quanh khiến sư không có thời gian nghỉ ngơi sinh hoạt mà khó chịu, nổi giận, tức tâm sân đã sinh khởi. Cho nên những tình huống này là một phép thử cực đại trên bước đường trì giới và chánh niệm. Theo quan sát, dù đi bộ cực khổ đến đâu nhưng lúc nào trên mặt sư cũng an nhiên và luôn nở nụ cười. Có lẽ, sư đã đạt đến trạng thái tịch tịnh.
Hay nhiều người dân tỏ lòng thương xót cho sư, sì sụp khóc lóc, vì chứng kiến cảnh sư đầu trần chân đất dãi nắng dầm mưa… Sự rung cảm này có thể hiểu được nhưng đó là chúng ta lấy suy nghĩ và đôi mắt của người thế tục. Lựa chọn con đường khổ hạnh ấy khiến sư cảm thấy được lạc thọ nội tâm, và những trở ngại đó mới giúp sư đến gần với giác ngộ.
Lại có người lo cho sư vì những tai hoạ có thể ập đến bởi những thế lực đen tối. Xin cũng đừng lo, khi đã chọn con đường này thì phải là một bậc đại dũng. Chả phải sư từng nói “còn cho con sống thì con tu tiếp” đó sao? Đây là tinh thần vô uý khi sư đã thấu triệt vô thường, vô ngã. Điểu mà ta nên quan tâm là liệu sư có thực sự đã đạt được tâm thái đó hay chưa. Nếu đã đạt thì niết bàn cũng không còn xa nữa. Vậy tất cả nên hoan hỉ.
Tôi đoán, tất nhiên đến một giai đoạn nào đó, có thể là sau khi chứng nghiệm khổ, rèn được thân tâm, sư Minh Tuệ sẽ ẩn tu. Vì để đạt giác ngộ, khi giới hạnh đã đầy đủ, cần phải thiền để nhập định.
Chắc chắn những ảnh hưởng của sư đã khiến cho tiền rơi vào túi một số xàm tăng ít lại, và cứ đà này có khi họ phải bán ô tô, bán đất bớt mà tiêu. Cho nên không lạ gì việc chống phá, hãm hại sư Minh Tuệ đang vào guồng rất mạnh. Họ ban đầu bịa ra chuyện giả tu, và có cả một ê-kíp quay phim dàn dựng. Họ bôi bác tăng y, gọi áo “phân lô bán nền”, hay họ chê cái nồi cơm điện là bình bát không chính thống. Nhưng họ làm sao hiểu được sư đã đạt đến cái tâm phá chấp, sư đâu còn sợ mắc cỡ, hay bị quê với mọi người, và sư cũng có dùng điện thoại hay biết mạng xã hội nói gì đâu. Khi đã chọn đời sống phạm hạnh, sống xả ly, không gia đình, ngủ nghĩa địa thì trở ngại lớn nhất là gia đình, người thân mà sư còn vượt qua thì có sá gì.
Hèn nhất là họ đã chụp mũ cho sư, gắn nhãn tổ chức nước ngoài phản động, dựng lên một ông sư ăn mày để chống phá Phật giáo Việt Nam và phá hoại đất nước.
Xin thưa rằng Phật giáo Việt Nam bị phá hoại bởi những xàm tăng, ma tăng đang được hậu hậu thuẫn và dung túng. Chính họ đã lợi dụng thuyết nhân quả, luân hồi để xuyên tạc, bịa đặt, và hù doạ cho những người u mê sợ hãi bằng những viễn cảnh ghê rợn ở kiếp sau. Từ đó tiếp tục lợi dụng cúng dường như một phương cách để giải nghiệp báo, cầu phước báu, tăng trưởng công đức… Tiền càng nhiều càng tốt, và “người mà có tâm đạo cúng luôn cả nhà cho chùa… dọn đi chỗ khác ở, cứ ở cái chòi nào đó, ở bình thường thôi”. Tóm lại là cúng dường… cúng dường…
Do đó khi nào các “ma tử ma tôn”* đang trà trộn vào chùa, khoác áo nhà sư mà bị thanh lọc là lúc Phật giáo Việt Nam được chấn hưng.
Tất nhiên, khi tán thán về pháp hành của sư Minh Tuệ thì không đồng nghĩa với việc hạ thấp các pháp tu khác ở những bậc chân tu trên đất nước này. Mỗi người một căn cơ, một hạnh nguyện khác nhau nên không thể ai ai cũng phải giống nhau. Mỗi cá nhân có mặt ở thế gian này là để hoàn thành một “sứ mệnh” của riêng mình.
Nếu tiêu chuẩn của một người tu là giới hạnh thì rõ ràng người hành pháp sẽ cao hơn người hiểu pháp. Và thực hành được hạnh đầu đà là một công hạnh lớn, xưa nay không được mấy ai. Vậy, tán thán, kính ngưỡng giới hạnh là việc nên làm nhưng không nên sùng bái, suy tôn, thánh hoá sư Minh Tuệ ngay lúc này, vì điều đó sẽ khiến rơi vào tà kiến, ngoại đạo, đi ngược lại với tinh thần Phật giáo.
Để thấy rõ được ý nghĩa của việc tu hạnh đầu đà, xin dẫn lại lời Đức Phật khi tán thán hạnh tu của ngài Ca-diếp:
“Lành thay! Lành thay, Ca-diếp! Thầy có nhiều lợi ích, độ người vô lượng, rộng đến tất cả Trời, Người đều được độ. Vì sao? Ca-diếp! Nếu hạnh đầu đà này được ở đời thì pháp của Ta cũng sẽ được lâu dài ở đời. Nếu có pháp ở đời, thì thiên đạo tăng thêm, ba đường ác liền giảm. Cũng vậy, thánh Tu-đà-hoàn, Tu-đà-hàm, A-na-hàm, đạo Tam thừa đều còn ở đời. Này các Tỳ-kheo, hãy học như Ca-diếp tu tập.
Như vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này.” (4)
_____________
Chú thích:
(1) Trong Kinh Sa-môn quả, Kinh Chủng đức
(2) Còn gọi là trí tuệ Bát nhã
(3) Trong Kinh Chủng đức
(4) Trong Kinh Tăng nhất A-hàm, (tập I)
___________
Nha Trang, 10/05/2024
Nguyễn Thanh Huy
Email: thanhhuy1979@gmail.com
/* nguồn: https://thuvienhoasen.org/a41148/su-...nhin-phat-giao

Puck Futin
-
06-09-2024, 08:15 PM #774Mình không thể cản người Phật tử Việt Nam yêu mến giáo hội quốc doanh được, nhưng kỳ thực cái giáo hội Phật Giáo Việt Nam và cũng là cánh tay nối dài của nhà cầm quyền csVN thật khó ngửi. Từ các vụ cướp chùa của ông thầy Thích Nhất Hạnh chừng 1 chục năm trước. Rồi gần đây đến vụ Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ. Rồi bây giờ đến sự việc nổi tiếng của Ngài Minh Tuệ. Một loại kịch bản có sẵn trong ngăn kéo.
Trong Mi-Tiên vấn đáp điều 177 có đoạn viết như sau:
Có lẽ vì ông sư Nhật Từ ghen ăn tức ở, không có khả năng tu tập hạnh đầu-đà nên mới phải "tấn công" ông Minh Tuệ, dù Ngài Minh Tuệ đó chưa bao giờ nói xấu giáo hội quốc doanh và những ông sư trong đó. Không hề nói lời nào cả, còn khuyên người dân đến chùa nghe pháp đi và giữ ngũ giới, chứ ông không giảng pháp.
Originally Posted by https://thuvienhoasen.org/p19a1011/tu-cau-hoi-so-176-den-177
Ngay trên lãnh thổ Việt Nam có ông thầy tiền rất nhiều, chức sắc cũng ghê gớm không kém cạnh gì Nhật Từ đó là ông trụ trì chùa Ba Vàng, ngoài cái vụ mê muội cọng-tóc-xá-lợi-giả, y cũng xiển dương 13 hạnh đầu-đà. Nhưng không thấy Nhật Từ chê bôi Thái Minh tu không giác ngộ. Không thấy Nhật Từ dạy Phật tử của ông chớ tu tập theo Thái Minh. ;-)
Thích Trúc Thái Minh không những xiển dương 13 hạnh đầu đà, vị sư này còn bắt đầu dẫn nhập hạnh đầu đà vào cái chùa Ba Vàng to tổ nái từ năm 2015 thì phải (xem video clip bên dưới).
Nhất định là không thấy Nhật Từ dám đụng tới nhe. Nay, có lẽ thấy ông thầy áo thô, côi cút một mình, nên hiếp đáp đấy mà. Mới tí tuổi đầu, Nhật Từ 53 tuổi phải không? Nhưng đã lộng ngôn nói người ta tu như vậy không chứng đắc, dường như vị tiến sĩ bạn học của cô Dung không biết Ngài Ma-ha-ca-diếp là ai rồi nhỉ?
Đây là video clip của Thích Trúc Thái Minh nói và khoe sư sãi chùa Ba Vàng tu khổ hạnh:
Ngộ ghê nha, sao không thấy ai rầy. Chỉ biết hiếp đáp kẻ thế cô thôi chăng?Last edited by Triển; 06-09-2024 at 08:49 PM.

Puck Futin
-
06-09-2024, 08:41 PM #775
Thêm tí sử ký mời bà con đọc cho vui nhé.
Hơn .....700 năm trước, vào thế kỷ thứ 13, có Đức vua được dân chúng tôn sùng vì đức hạnh. Đó là Ngài Trần Nhân Tông. Ông vua này được dân chúng tôn thành "Phật". Nôm na là Phật hoàng. Hiệu của ông là "Hương Vân Đại Đầu Đà". Chuyên môn tu khổ hạnh ở núi Yên Tử và lập ra thiền phái Trúc Lâm nên còn có hiệu là "Trúc Lâm Cư Sĩ". Thiền Sư nổi tiếng Việt Nam, Thích Thanh Từ tu tập theo thiền phái này.
Thích Nhật Từ tu tập bằng Hương Vân Đại Đầu Đà chưa?
Thiền Sư
HƯƠNG VÂN ĐẠI ĐẦU ĐÀ
Như Hùng
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất nhị tầm thường không quá Xuân.
“Tiếng quyên từng chập vừng trăng sáng
Đâu phải tầm thường qua một xuân”.
I. CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
Mặc dù sống trong lâu đài hạnh phúc mà tâm lúc nào cũng muốn vượt thoát ra khỏi thành. Trong sách Tam Tổ Thực Lục viết " Một hôm vào lúc nửa đêm, ngài trèo thành trốn đi định vào núi Yên Tử. Đến chùa tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc, ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trù trì ở đấy thấy ngài tướng mạo khác thường liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin sai các quan đi tìm thấy. Ngài bất đắc dĩ phải trở về."
Thái Tử Trần Khâm lên ngôi năm 1728 và trở thành vua Trần Nhân Tông. Ông là người siêu dị, phi thường, thông minh ít thấy trong lịch sử cổ kim của nhân loại. Lấy thí dụ ông dám từ bỏ ngai vàng để đi xuất gia chứng tỏ ông coi thường công danh phú quí. Dầu có được một sự nghiệp to lớn vĩ đại, quyền uy chấn động cả sơn hà, đâu đó rồi bỗng chốc tiêu tan, chỉ có sự nghiệp tâm linh thực ngộ mới mong vượt ra khỏi sự chi phối tàn hại của vô thường. Con người thông minh trọn vẹn như Trần Nhân Tông quả thật ít tìm thấy. Sự thông minh nầy ông còn áp dụng suốt cả quãng đời, nổi bật nhất là từ bỏ tất cả để thể nghiệm dấn thân vào một lối đi khác, nhiều chông gai thử thách, kiên trì gấp trăm ngàn lần, đối nghịch lại với cái hiện trạng trái ngược mà ông đang nắm giữ. Con đường mà ông sẽ phải chấp nhận đi vào đó là rỗng không, chẳng có một cái gì là của mình, ngay thân mạng cũng không phải là thực bởi lẽ nó sẽ tàn tạ. Trong khi đó nếu còn là một vị vua, ông có cả giang sơn gấm vóc theo nghĩa có của quan niệm. Nếu không là sự thông minh phi thường ông đã không chọn lối rỗng không nầy. Rỗng không của nghĩa tương phản lại gò bó, nhốt kín con người vào những hư danh giả tạm phù ảo trong lâu đài thành quách, của những nắm bắt chấp lầm có không, điên loạn trôi lăn trong được mất. Ông xứng đáng được để ca ngợi là con người phi thường trong lịch sử, sự thông minh ông có được là nhìn xuyên thủng qua lớp vỏ thời gian, ở đó ông tìm ra sự thật đang nấp kín đàng sau những sơn phết, và nó là chủ lực tạo nên những khủng khiếp đe dọa triền miên và gây thống khổ tràn ngập cho con người. Nhìn để được xuyên qua và để trông thấy trọn vẹn những ẩn kín không phải là chuyện ai cũng làm được, hoặc nếu có cũng chỉ là hàn gắn thêm phương thức khác nhằm lừa dối ý thức. Lối nhìn nầy hoàn toàn khác biệt và trái ngược với những con người thực chứng về hiện tượng.
Trước hết với những con người nầy là không bao giờ gắn thêm định nghĩa nào về đối tượng, không bao giờ tạo thêm quan niệm sai biệt nào khi nhãn quan bắt gặp trần cảnh. Đặt nguyên ở vị trí là nguyên lý cơ bản quan trọng nhất trong việc truy lùng nguyên thể của chính nó, nếu xê dịch nó sẽ biến dạng và tạo thêm sự lừa dối khác cho tâm ý. Tìm đến nó với lối nhìn phong tỏa mọi ngõ ngách mà nó có thể lừa dối thêm một lần nữa, bao phủ và phong kín xong ta mới nhìn thật sâu xuyên thủng qua lớp vỏ dù cứng đến bao nhiêu nếu không thủng thì không thể tìm ra được bộ mặt tươi mát hoặc khủng khiếp của nó. Nếu được xuất hiện với tươi mát hay khủng khiếp chưa hẳn đó là sự khám phá đúng mức mà ta muốn truy quật. Đó cũng chỉ là lớp vỏ thứ hai. Nếu không khéo ta lại rơi vào những trá hình khác. Lối xử dụng và đạt đến vẫn tùy vào mỗi chúng ta. Nếu không thể nhập thực sự vào lớp vỏ thứ hai, thì muôn kiếp vẫn phải chìm lặng trong tử sinh. Dĩ nhiên nếu không có được bản ý của thực ngộ thì làm sao chúng ta có thể nhìn xuyên qua chứ chưa nói đến nhìn được lớp vỏ thứ hai, y cứ vào thực ngộ để đạt được thực chứng, chặng đường nầy mới thật sự là đi vào ngôi nhà của rỗng không tròn đầy.
Trần Nhân Tông đã tìm ra được lý lẽ nầy “Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển (kinh) và ngoại điển (thế học). Những khi nhàn rỗi Ngài mời các Thiền khách bàn giải về Tâm tông (Thiền) tham học Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ thâm đắc đến chỗ Thiền Tủy. Đối với Thượng Sỹ ngài kính lễ làm thầy.”
Ngoài sự nghiệp tâm linh, ta còn thấy được cung cách vĩ đại của một ông vua trong công nghiệp trị quốc. Khi vừa lên ngôi Trần Nhân Tông đã phải đối đầu với sự thử thách khủng khiếp mạnh như giông bão. Đó là cuộc xâm lăng lần thứ hai và thứ ba của Đế quốc Mông Cổ, một đế quốc đã từng chinh phục 40 vương quốc ở khắp cả hai lục địa Á, Âu, đã từng làm run sợ những quốc gia lớn mạnh. Mông Cổ được kể như đạo quân bách chiến bách thắng lúc bấy giờ. Nhưng đã thất bại nhục nhã dưới tay Trần Nhân Tông và Dân Việt.
Nhờ kết hợp được tinh thần sắt son qua hội nghị Diên Hồng, thể hiện tinh thần dân chủ đoàn kết giữa quân dân, và cũng nhờ sự tác động tinh thần Bi Trí Dũng trong Phật Giáo mới có thể tạo nên những vẻ vang hy hữu đó. Sử gia Ngô Sỹ Liên viết về con người độc dị ấy như sau: “Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Đồng Tử (hay Kim Phật) ở vai bên tả có nốt ruồi đen cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần. Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ đạo hiếu, dưới dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải bậc nhân minh anh vũ thì sao được như vậy ?”
Nhân Tông còn là một vị vua nhân từ thương yêu dân vô cùng. Vào một buổi chiều đông giá rét đi dạo ngoài thành thấy dân co ro trong lạnh lẽo và bên vệ đường một ông lão đang run rẩy, vua cởi áo ngự bào đắp cho ông lão, rồi quay lại bảo với tả hữu một câu nói trở thành bất hủ, phát xuất tận đáy lòng “Trong nhân gian có người còn đói khổ, thì trẫm vẫn không được yên lòng”.
Vua Trần Nhân Tông xuất gia vào năm 1299 ở núi Yên Tử ngài chuyên tu khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, và là sơ tổ phái Trúc Lâm.
II. TRÚC LÂM NGƯỜI XÂY DỰNG NỀN PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT VÀ NHẬP THẾ
Trong lịch sử Thiền Tông Việt Nam người có được sự nghiệp lẫy lừng nhất trong hai phương diện chính trị và đạo pháp, ta phải kể đến vua Trần Nhân Tông. Khi còn là một vị vua ông đã có được sự nghiệp dựng nước và giữ nước phi thường, kết hợp tinh thần sinh động thuần nhất và thống hợp phương châm Từ Bi, Trí Tuệ trong Phật Giáo. Vì thế trên những căn bản tôn trọng quyền thống hợp đó, ông mở ra hội nghị Diên Hồng lấy quyết định của Dân làm quyết định số phận đất nước, nhờ vào tinh thần quyết chí đó, ông đã hai lần đánh đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi.
Bắt nguồn từ những căn bản độc đáo riêng biệt đó ông xây dựng được một dân tộc Việt hưng thịnh, huy hoàng, mà ảnh hưởng tồn tại mãi với núi sông. Trần Nhân Tông kết hợp và thống nhất được sinh mệnh Quốc Gia và Đạo Pháp. Guồng máy điều hành chính trị quốc gia là kinh thành Thăng Long nơi mà Trần Anh Tông trị vì, và núi Yên Tử thủ đô tâm linh, và linh hồn của Dân Việt do Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông chủ động. Ngài đã đào tạo ươm hạt giống phát huy chánh pháp vào người con là vua Anh Tông, sau nầy trở thành vị vua kết hợp chánh pháp trong việc trị quốc của mình.
Đóng góp to lớn vĩ đại của Trúc Lâm là xây dựng nền Phật Giáo thống nhất và nhập thế. Trước đó Thiền Tông là một tông phái lớn mạnh, đa diện trên mọi lãnh vực, hầu hết những Thiền Sư xuất thân từ Thiền Phái: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã đóng góp tích cực trong mọi lãnh vực Văn Hóa, Nghệ Thuật, Thi Ca v.v… Nhờ sự tác động chỉ đạo của Thiền, tạo nên nội tâm siêu việt độc đáo, nên những Thiền Sư là người trực tiếp mang ánh sáng tâm linh và văn hóa trợ giúp quần chúng, điển hình đã có những Thiền Sư làm Quốc Sư lỗi lạc, cũng như cố vấn chính trị cho những triều đại đời Lý, Trần v.v…
Về khía cạnh Văn Hóa đã được lưu lại, những Thiền Sư trác việt, thừa khả năng và vượt hẳn trong nhiều lần tiếp xúc thơ văn với những nhà ngoại giao Trung Quốc khiến họ phải bái phục.
Sau đó những Thiền Phái nầy suy vi, như chính cái đổi thay của dòng đời, của sự hưng thịnh, mãi về sau Thiền Sư Thường Chiếu là người gạch nối và tổng hợp cả ba thiền phái, và Trúc Lâm là người độc đáo phát huy sự tổng hợp nầy, tạo nên những sắc thái riêng biệt cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, vì vậy những đóng góp của Ngài được kể như quan trọng, trong việc thống hợp và tạo dựng cương lĩnh nhập thế tích cực nầy.
Chủ trương của Thiền Việt Nam là góp phần vào sự nghiệp phát huy Dân Tộc và Đạo Pháp, có khuynh hướng nhập thế cứu dân giúp đời, gần gũi với quần chúng, có mặt thiết thực trong sự thăng trầm vinh nhục của Dân Tộc. Sự hưng thịnh của Dân Tộc cũng chính là sự hưng thịnh của Đạo Pháp, bởi lẽ sự hiện hữu của Đạo Phật là vì cuộc đời, vì sự thống khổ của chúng sanh, thì làm sao có thể tách rời con người để hưng khởi? Vì điều đó, sự có mặt của Phật Giáo được kể như gắn liền trong tất cả những sinh hoạt để từ đó xoa dịu và góp phần trong việc thay đổi tâm linh hướng về chân thiện mỹ. Những Thiền Sư Việt Nam cực lực, phát huy và hưng khởi đại nguyện đi vào cuộc đời để đón nhận và chia xẻ những thống khổ đang bao phủ. Ta có thể tìm thấy những thiền sư nầy như: Pháp Hiền, Huệ Nghiêm, Thanh Biện, Long Tuyền, Định Không, Thông Thiện, La Quý An, Pháp Thuận, Thiền Ông, Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Minh Không v.v… của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
Và thiền phái Vô Ngôn Thông có những Thiền sư tài ba lỗi lạc trong lãnh vực Văn Hóa và Chính Trị như: Thiền Sư Cẩm Thành, Thiên Hội, Vân Phong, Khuông Việt, Đạo Bảo, Định Hương, Thiền Lão, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Thông Biện, Mãn Giác, Ngô Ấn, Đạo Huệ, Thường Chiếu, Thần Nghi, Ẩn Không, Tiêu Diêu, Nhất Tông v.v…
Cũng như Thiền Phái Thảo Đường có nhiều đệ tử đã lãnh đạo quốc gia như: vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông v.v… ảnh hưởng của Thiền Phái nầy trong giới vua quan và trí thức, nổi bật về mặt học thuật, tư tưởng, thi ca.
Trúc Lâm đã khéo léo dung hòa, tổng hợp những thiền phái nầy để trở nên một thể duy nhất trong việc nhập thế và giải thoát tâm linh. Ảnh hưởng mà Ngài đã xây dựng, tác động mạnh mẽ trên những lãnh vực: Văn Hóa, Xã hội, Học thuật v.v… lấy tinh thần tổng hợp của Thiền Việt Nam làm yếu tố tiên quyết trong việc chỉ đạo những lãnh vực trên. Đồng thời trên căn bản tâm linh, lấy sự siêu thoát giải phóng của mình song song với việc hưng phục xã hội và tâm linh của con người.
III. QUAN NIỆM VỀ THIỀN CỦA HƯƠNG VÂN ĐẦU ĐÀ
Trần Nhân Tông đạt được tinh yếu của Thiền với Tuệ Trung Thượng Sỹ khi còn làm vua. Sau khi đi tu, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) và lập chùa tiếp độ tăng chúng.
Một hôm ngài đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn, truyền bá Thiền Tông, ngài nói “Thích Ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi, mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa nầy biết nói chuyện gì đây ?”
Ngồi giây lâu ngài ngâm:
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân.
Dịch:
Tiếng quyên từng chập vừng trăng sáng
Đâu phải tầm thường qua một Xuân.
Ngài vỗ bàn một cái nói:
Không có gì sao? Ra đây !Ra đây!
Đức Phật đã minh định trong kinh Kim Cang suốt 49 năm thuyết pháp ngài không nói một lời. Tinh thần vô chấp của kinh Kim Cang đã hất tung tất cả những ràng buộc trở ngại trong việc đạt được thực chứng. Trúc Lâm mở đầu tuyên ngôn nầy là cũng hé mở chân trời buông bỏ mọi nắm bắt tương quan trong việc khơi dậy chặng đường bùng lên giác ngộ trong mỗi tâm linh .
Có lần Pháp Loa hỏi :
“Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?
Ngài đáp:
- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở
Lách cách vành xe một tiếng vang.
Pháp Loa toan mở miệng nói Ngài liền bảo:
- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng
Non tây như trước phủ mây chiều.
Cổ nhân rất ít khi sử dụng đến ngôn từ và nếu có dùng đến cũng chỉ là diệu dụng tùy nghi. Trong Thiền lối khai quật nội tâm đều chú trọng vào những thuật dụng như la, hét, đánh…Vì vậy, những câu nói nếu được nói ra thì trở nên lửng lơ, như chính câu nói bất hủ của Thiền Sư Chân Nguyên “Nói ra là bị kẹt”chỉ có im lìm nhìn trạng huống trôi qua, cảm nhận không thể nào dệt nên ngôn từ sợ nó bay mất, hoặc chính nó bất lực trước những diễn tả về nội tâm thâm sâu. Nhưng “không nói cũng chẳng xong”nếu không nói mà kẻ đối diện có thể lãnh hội trọn vẹn những gì mà mình mong muốn thì tuyệt hay biết mấy, nhưng khổ một nỗi đàng nào cũng thấy vương vướng một chút gì ngằn ngặn ở trong. Đây không phải là không tìm được ngữ ngôn để trao gởi, nhưng sợ lời nói tạo nên những chấp trước cho kẻ khác. Thôi đành phải mặc nhiên trong tất cả những diệu dụng ấy. Có bao giờ nói mà không nói lại bị kẹt đâu?
Có một vị hỏi :Thế nào là gia phong Phật quá khứ?
Ngài đáp:
Vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Thế nào là gia phong Phật hiện tại?
Đáp:
Gia phong sóng bạc mê yến sớm
Tiên uyển đào hồng say gió xuân.
-Thế nào là gia phong Phật vị lại?
Đáp:
Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
- Gia phong Hòa Thượng thế nào?
Ngài đáp:
Áo rách che mây sáng ăn cháo
Bình xưa rưới nguyệt tối uống trà.
Tìm hiểu về gia phong là muốn tìm đến cái cung cách xử dụng, nhưng ở đây là sự nghiệp tâm linh. Có thể đây là cách lối còn rơi vào quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng nếu quá khứ, hiện tại và vị lai bất khả thuyết thì gia phong có ích gì? Nếu không tự mình đạt được chiều sâu tâm linh ngay trong hiện tại thì quá khứ bỗng trở thành ngăn lối, đàng trước mờ mịt, đàng sau chập chùng muôn vạn nẽo.
Lối trả lời của ngài cho chúng ta thấy được cách bỏ công chỉ biết mong đi tìm những lý lẽ không thực tiễn. Nếu từ những truy cứu đó bổ sung vào tâm thức để có cơ may bùng lên giác ngộ, thì đó là phương tiện nhưng nếu truy tìm với nghĩa của truy tìm mặc yên thì không giúp được gì, đúng như ngài đã nói “vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc” hay “Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt”
Quan niệm của Hương Vân là không để kẻ đối diện kẹt vào ngữ ngôn dù đó là những lời Thiền ngữ. Ngài đã hé mở quan niệm này ngay lúc đăng bảo tọa mà đoạn trước chúng ta đã có dịp đọc qua. Việc Ngài phải hé mở ngữ ngôn là việc chẳng đặng đừng “không nói cũng chẳng xong” Nhưng dùng đến xảo dụng chấm phá lửng lơ thì may ra con người mới không rơi vào thế kẹt đó.
Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ thẩm định tâm tư của cá nhân ấy, có những lúc ở những thế kẹt để rồi vẫy vùng trong đó may ra thoát đươc, nhưng không có nghĩa thoát ra, quá trình nầy chắc hẳn không còn bị kẹt trong khi dụng công. Chỉ có thể bị kẹt ở lúc đầu nhưng khi hạ thủ công phu thì buông rơi tất cả. Và nếu kẹt ở lúc đầu thì làm sao tìm ra được nguyên tố cơ bản để hạ thủ? Cũng có thể kẹt nhưng mà không, xử dụng không khéo trở nên nghịch lý và mâu thuẫn lại chính ta. Hễ con thấy kẹt thì phải thấy có cái không kẹt nhưng chính cái không kẹt có thể là kẹt thì sao?
Truy lùng cái thế kẹt và không thì suốt cả cuộc đời chúng ta cũng không tìm ra được lý lẽ này. Đàng nào giá trị chỉ được xuất hiện một khi ý thức không còn nằm trong hạn cuộc ngay khi trực diện với mọi tương quan, may ra ta mới vỡ tung ra khỏi những thế bí này. Cần nhất sống với những gì mà ta đã một lần tuyệt diệu bắt gặp trong ngõ ngách của tâm linh, sống với nhưng không có nghĩa lầm chấp đó là cứu cánh, phải thong dong trên lối về tắm mát dòng sông giải thoát, không cưu mang tất cả để không vướng bận đôi vai trần trụi.
Điều mà Hương Vân mong mỏi là chặng đường tìm đến phải thanh thản như chính cái “Bình xưa rưới nguyệt tối uống trà”.
IV. SỨ GIẢ CỦA TÌNH THƯƠNG VÀ HÒA BÌNH
Ngoài phong thái và tâm linh thực ngộ của một Thiền Sư, Hương Vân Đại Đầu Đà còn là sứ giả của tình yêu thương, gieo rắt lòng từ đến tận muôn phương. Một thân mình chống gậy để khuyên dân hướng đến nẻo thiện, quả thật Ngài xứng đáng là kẻ đem khả năng tâm linh châm ngòi cho quần chúng.
Đặc biệt nhất, những Thiền Sư Việt Nam không những lo giải thoát cho riêng mình mà còn đi vào cuộc đời để chuyển hóa những khắc khỏi trầm luân mà con người đang đối nhận. Khác hẳn với Thiền Sư Trung Hoa, chỉ tách khỏi cuộc đời lặng mình trong thực ngộ. Thể nhập vào cuộc đời của Thiền Việt Nam đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm trong mọi tầng lớp quần chúng mà Hương Vân Thiền Sư đã tổng hợp và tạo dựng tông phái một cách rõ rệt.
Cuộc đời của Hương Vân Đầu Đà được kể như hoạt động tích cực trong công cuộc nhập thế và xuất thế. Sự giác ngộ được khai quật từ trong cuộc đời, trong những tương quan của mọi trạng huống, từ đó cho ta những ý lực kinh nghiệm thẩm định những gì trôi qua trước mắt. Bởi lẽ tử sinh phiền não không phải là thực thể có từ bên ngoài hay yếu tố phi ngoại. Không có sự phát động ở nội tại thì điều đó không có cơ hội bùng lên. Và nếu đây là điều hẳn nhiên thì cuộc đời chính là môi năng tạo nên những hưng khởi mạnh nhất.
Từ căn bản đó, nếu tách ra khỏi cuộc đời thì sự giác ngộ không có giá trị thực tiễn, trong việc đem lại hạnh phúc cho muôn loài và không có sự giác ngộ nào có thể tách rời cuộc đời mà đạt được. Cuộc đời ở đây được hiểu theo nghĩa những tương quan từ nội và ngoại tại. Yếu tố trong và ngoài đó tạo nên tương hợp với ta và tha nhân. Và giác ngộ lại càng không có nghĩa truy tầm với chính ta mà đạt được nếu không có những tương duyên về đối tượng và con người. Vì vậy muốn đạt được thực chứng phải đi vào cuộc đời, sống với cuộc đời để từ đó quật tung những nguyên lý tìm ẩn. Hẳn nhiên điều tiên quyết nhất để đạt được là phải chuyển hoán tâm thức để không bị ô nhiễm. Nương vào nhưng không có nghĩa bị lệ thuộc và sai sử bởi những dòng ý thức tạp nhiễm, nếu trong ta không liên tục duy trì trí tuệ toàn triệt
Hành trang đi vào phải được bao bọc bằng chính ý lực vượt thoát trong mỗi ý niệm hưng dậy, trực diện với những trạng huống phải như gió thoảng mây bay, như một cánh chim thoáng qua trên mặt nước, bóng chim nước chẳng bao giờ muốn lưu giữ. Tất cả chỉ mênh mang thấp thoáng như chính cái luân lưu đi qua của dòng sông, đâu đó sóng nước chập chùng xô đẩy thân phận chiếc thuyền đi về nơi mà chỉ có nước và thuyền mới biết sẽ về đâu.
Chưa một ai có thể mô tả phỏng đoán được bộ mặt muôn đời của nó, nếu không thể nghiệm nó từ trong cuộc đời, chứng nghiệm nó từ trong tâm linh của chính mình. Điều này nếu được có thể giản dị như sáng mai thức dậy nhìn chiếc lá vàng rơi trong chơ vơ. Ngược lại có thể khủng khiếp như thân phận muôn đời của con rùa tìm bộng cây trôi giữa đại dương.
Tất cả không phải là điều lo sợ nếu có được một tâm linh vững chải trước những giông tố của dòng đời. Trúc Lâm Hương Vân Đại Đầu Đà đã khơi dậy và chứng minh tâm linh thực ngộ ấy trong cả quảng đời đi vào trần gian để chuyển hóa mà ta có thể tìm thấy qua cung cách của một Thiền Sư mang trọng trách là sứ giả của tình thương và hòa bình. Tình thương và hòa bình ở đây còn có một nghĩa nữa. Thương như thương chính thân phận của mình và chúng sanh trước những khổ đau chồng chất và hòa bình ở đây là không tạo sự đối địch ở trong nội và ngoại tại
Điều mà Trúc Lâm thực hiện được thể hiện qua cung cách mà ông đã truyền trao. Trong sách Tam Tổ Thực Lục ghi rằng " Điều ngự (Trúc Lâm) đi khắp mọi nẻo thôn quê khuyên dân phá bỏ các dâm từ(miếu thờ không chánh đáng) thực hành giáo lý Thập Thiện. "
Trước hết truy tìm về hành động này ta thấy Trúc Lâm đã sống gần gũi với mọi người để tạo sự cảm thông giữa một vị vua trước đó với một người dân bình thường, giữa một Thiền Sư đạt được đời sống tâm linh,với những con người còn vướng bụi trần. Hành động nầy cho ta khái niệm vững chải là ngoài lòng từ và trách nhiệm của một vị thiền sư, Trúc Lâm còn là môi giới giữa hai tâm linh khác nhau. Ngài muốn tạo lại căn bản cho tâm linh mà không có sự ngự trị sai sử của những tác động không chính đáng do sự phong tỏa của vô minh. Phải thắp sáng giáo lý Thập Thiện là nền tảng toàn hảo trong nền luân lý của Phật Giáo, nhằm hoán chuyển nhân tố để đi vào ngôi nhà giải thoát. Trúc Lâm đã thành công trong việc tạo dựng một nền chính trị theo chánh pháp. Và thành công tạo nên xã hội từ bi, giải thoát trong Phật giáo.
Năm 1301 ,Trúc Lâm đã vân du đến quốc gia láng giềng đó là Chiêm Thành để xây dựng quan hệ thân hữu và nền Hòa Bình giữa hai Dân Tộc. Công chúa Huyền Trân được Trúc Lâm hứa gả cho vua Chiêm là yếu tố quan trọng thắt chặt được quan hệ giá trị thiết yếu nầy.
Trúc Lâm ý thức mãnh liệt sự tương quan thân tình giữa hai Dân Tộc, như vậy sẽ bớt đi những xung đột và không tạo cảnh chinh chiến khổ đau cho nhau. Trúc Lâm đã hy sinh người con gái yêu thương của mình, để tạo nên sự yêu thương rộng lớn cho hai Dân Tộc, việc làm nầy là những con người độc đáo phi thường .
Cái thế “môi hở răng lạnh” cái thế “bà con xa không bằng láng giềng” chưa đủ để Trúc Lâm phải gả con gái của mình. Nếu muốn tấn công tiêu diệt Chiêm Thành, lúc nầy quá dễ với Dân Việt, vì quân Mông Cổ lẫy lừng còn phải bị bại huống gì nước Chiêm nhỏ bé, nhưng Trúc Lâm đã không chủ trương điều nầy. Bảo vệ và duy trì tình yêu thương, chung sống trong Hòa Bình là lý tưởng tuyệt hảo mà ngài đã chọn lựa. Điều đó thể hiện được tinh thần Từ Bi trong Phật giáo mà ngài là người thực hiện rõ nét .
Điều đáng ca ngợi nhất là Trúc Lâm đã xây dựng nền Phật giáo nhập thế, ảnh hưởng mãnh liệt trên những bình diện: Văn hóa, Chính trị, Xã hội, Nghệ thuât v.v….Ở đó ta thấy sự có mặt của những quân vương Bồ Tát cai trị nhân dân trên căn bản Từ Bi, Trí Tuệ. Xây dựng được một xã hội thuần túy, lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình, và lấy tinh thần trác việt của Thiền, làm tông chỉ trong việc xử thế. Và lấy tinh yếu giải phóng con người ra khỏi khổ đau của Phật giáo, làm nền tảng để tạo sự quân bình trong quốc gia .
Trúc Lâm được kể như một sứ giả thành công trên hai bình diện ở trên. Và đã lưu lại hình ảnh cao quí cho những vị vua sau đó .
V. NHỮNG SÁNG TÁC CỦA TRÚC LÂM .
Cuộc đời và hình ảnh của Hương Vân Đại Đầu Đà đã là một tác phẩm vĩ đại, dù không được dệt nên bằng ngôn từ nhưng giá trị vô cùng thiết yếu trong việc hoán chuyển nội tâm kẻ khác bằng biểu hành . Ngoài những biểu tượng cao quí đó Ngài còn sáng tác những tác phẩm như sau:
- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
- Đại Hương Hải Ấn Thi Tập
- Tăng Già Toái Sự
- Thạch Thất Mỵ Ngữ, do Pháp Loa soạn lại lời của Ngài.
Chúng ta thử thưởng thức một vài sáng tác, như bài Đăng Bảo Đài Sơn của Trúc Lâm.
Thời lai thu vị thâm .
Vân sơn tương viễn cận
Hoa kình báo tình thâm
Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỷ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm.
Dịch:
Đất vắng đài thêm cổ
Ngày qua xuân chưa nồng
Gần xa mây núi ngất
Nắng rợp ngõ hoa thông
Muôn việc nước trôi nước
Trăm năm lòng như lòng
Tựa lan nâng ống sáo
Đầy ngực ánh trăng lồng.
(Ngô Tất Tố)
Đất vắng không lưu lại chân người nếu không có lầy lội từ những cơn mưa, đài đã phủ rêu phong trơ gan cùng trời đất, đâu đó xuân như vẫn hững hờ đến đi thoáng chốc, chỉ còn rêu phong trơ trụi không điểm tô cho đài đã uổng công chờ đợi.
Nắng đã đi rồi, ngõ hoa từ ẩn mình trong đêm cô quạnh, nhưng ánh trăng chênh vênh trên từng phiếm lá, sóng sõi trên ngọn liễu, mang hương dịu huyền nhè nhẹ chiếu sáng quả tim ấp ủ ánh trăng lồng lộng. Chỉ có quả tim vĩ đại mới mang cả sơn hà đại địa trong sự bé nhỏ của mình, nếu ánh trăng không đem lại thanh khí tuyệt vời, thì làm sao tìm được giá trị của những đêm trăng với núi đồi? Phải để ánh trăng chiếu sáng quả tim, vốn ngàn năm tạo những nhịp đập không hài hòa tương quan với đất trời, nhưng nếu quả tim, được thấm nhuần dòng máu giải thoát, thì ánh trăng là ánh sáng của tâm linh.
Tương quan của đất trời, của lòng người với ánh trăng, nếu trong tâm thức tìm được điểm tựa vững vàng, thì nó thơ mộng như chính cái thơ mộng của con người vô tư, tựa lan can nâng ống sáo khi hoàng hôn trở về. Ngày lại ngày qua, năm lại năm đến, thầm nhủ với lòng thôi nhé ta giã từ tử sinh, để lại một lần thôi không rong chơi, để một lần tạm biệt và rồi sau đó cũng để một lần vì đại nguyện đi vào trần gian tìm lại ánh trăng huyền nhiệm năm xưa chiếu rọi với đất trời.
Và đây là một bài thơ nữa của Trúc Lâm.
Xuân Văn
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng diện
Thiền bản đồ đoàn khan trụy hồng.
Dịch:
Thuở bé chưa từng rõ sắc không
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa Xuân nay bị ta khám phá
Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.
( Thượng Toạ Thích Thanh Từ)
Lúc còn là một Đông cung Thái Tử chưa thấm nhuần đạo lý, ngài đã diễn tả nội tâm của mình qua hai câu thơ trên, mỗi độ xuân về nơi vườn Thượng Uyển, trăm ngàn đoá hoa thi nhau phơi sắc giữa ánh nắng hồng của mùa Xuân, cảnh vật tưng bừng, tâm ngài theo đó mà vui. Nhưng để rồi mai kia gió xuân thôi không còn mang theo hương lạ nữa, trăm hoa từ từ rơi rụng, còn nỗi buồn nào hơn. Sắc đến rồi không cũng đến, thay nhau tạo nên những triền miên sầu đau buồn nhớ, cảnh bây giờ tiêu hoang lòng người không còn nở rộn khi xuân đi qua tự bao giờ.
Nhưng không, kể từ khi thấm nhuần được dòng suối vi diệu tâm linh mà Tuệ Trung Thượng Sỹ đã truyền trao, Hương Vân vén mở bộ mặt nghìn đời của Chúa Xuân sắc không bỗng chốc tiêu tan, còn lại một thể duy nhất vượt ra ngoài thời gian. Bộ mặt đó như vậy, không còn duyên theo sự vật để khởi lên nội tâm lệ thuộc cảnh, biến tâm thức trở nên tinh luyện bình thản trước những đổi thay biến hiện; đó là cái giá tất hữu của những gì không bị chi phối bởi thời gian, một khi dòng tâm tách ra khỏi thế đứng đổ vỡ, thì thời gian không đành phải chào thua hay sao?
Ở đó còn lại sự thanh thoát, bình tĩnh, ung dung tự tại, đem chiếu ra trải dưới cành hoa hồng đang tỏa hương, ngắm trăng đang len lõi qua cành trúc và đôi tay từ nâng nhẹ ly trà thắm đượm trên đôi môi. Cảnh đó và thời gian ấy tuyệt diệu vô cùng, những gì đã từng làm run sợ, bây giờ trở nên bạn hữu như đóa hồng của đêm trăng ngồi uống trà, không một bâng khuâng tư lự.
Rồi sau đó giờ Tý của tháng mười một, đêm nay trời trong sao sáng, mọi vật đang yên lặng không dám khuấy động giấc ngủ thể nhập trong vô cùng, ngài nhắm mắt giã từ trần gian, sau khi đệ tử Bảo Sát hỏi “Tôn Đức đi đến chỗ nào? ” Ngài nói kệ đáp:
Nhất thiết pháp bất sanh
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện tiền
Hà khứ lai chi hữu giả.
Dịch:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền
Nào có đến đi ấy vậy.
( Thượng Tọa Thích Thanh Từ )
Sau khi ngài qua đời thọ 51 tuổi, vua Trần Anh Tông dâng tôn hiệu là: “Đại Thánh Thần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.
Tất cả các pháp không sanh không diệt, như chính cái không sanh và không diệt mà cuộc đời của Hương Vân Đại Đầu Đà đã đến đi.
/* nguồn: https://thuvienhoasen.org/a7774/thie...van-dai-dau-da

Puck Futin
-
06-10-2024, 07:30 AM #776
Chào 5, O Xanh, các anh chị, bạn. Sáng nay bạn HK vừa chuyển cho nghe clip về Sư Minh Đạo, Sư nói chuyện từ tốn,
rất đáng nghe. Cám ơn 5 viết về Sư Chơn Trí. Giữ 5 giới, 8 giới hay 10 giới đã là khó lắm lắm rồi mà Sư Chơn Trí giữ
tới 250 giới mà còn tu thêm 13 hạnh đầu đà thì không thể hình dung nổi. Nể phục quá!
*** Mới đầu tưởng Sư Chơn Trí là sư Minh Trí, cả hai sư đều ốm dong dỏng cao và hao hao giống nhau. Hình như cả
hai cùng có nghề nghiệp giống nhau (?) HK nghe 1 youtuber nói vậy, 5 và các bạn kiểm chứng xem có phải vậy không ha.
Chúc ngày thứ 2 vui tươi đến mọi người.
Last edited by HXhuongkhuya; 06-10-2024 at 03:15 PM. Reason: Tách post
HXhuongkhuya cám ơn các anh chị , các bạn ghé thăm .

-
06-10-2024, 08:16 AM #777
Ông thầy Chơn Trí trước khi xuất gia làm đâu đó trong ngành côn an. Nghe youtuber đồn đại như vậy. Phát nguyện giữ 250 giới là phát nguyện hàng đại đức, ti-kheo (tì-khưu) giới. Hạnh ông thầy này vậy là to lớn lắm. Tuy nhiên trong chùa nhan nhản những vị tu sĩ phát nguyện như vậy. Nhưng liệu có giữ được không là chuyện khác. 10 giới Sa-Di, có việc không giữ tiền bạc, vật báu, có ông tai to mặt bự nào giữ được đâu. Cái ông viết văn bản phát ngôn cho giáo hội quốc doanh đó, còn nhiều tiền hơn ông thợ tu Chân Quang. Tài sản nhiều tỉ.
Hôm qua 5 có coi tiktok vụ vị sư Minh Đạo hứa sẽ quay trở lại tổ chức lễ Vu Lan. Lúc đó 5 nhìn sau lưng ông trên tường có treo hình ngài Minh Tuệ. 5 biết là ông cố tình. Và lúc phát biểu ông có "đá giò lái" giáo hội quốc doanh một phát. Nghe kỹ sẽ thấy. 5 nghĩ qua sự việc lần này, mai kia đủ lông đủ cánh, có thể ông sẽ thoát ly cái giáo hội quốc doanh này.
-
06-10-2024, 09:32 PM #778
BƯỚC TIẾP
Chính quyền tách họ ra, lột sạch y áo người tu hành, cho mặc y phục bình thường. Rồi một số lớn đã trở về nguyên quán tu tập hoặc trở về với đời thường. Một thiểu số lại nhặt vải, lại may y bá nạp, lại bộ hành, lại khất thực, và họ lại tìm về nhau. Thấy thương quá.
Thật nể trọng tinh thần quyết chí tu tập giải thoát của họ. Không biết họ có bị giải tán lần nữa hay không, nhưng họ không còn gì để mất. Hơn 70 người giờ chỉ còn lại một số ít, nhưng tăng đoàn hạnh đầu đà này có lẽ không chấm dứt nữa. Còn quá sớm để kết luận. Nhưng tạm khôi hài cho vui rằng "hệ phái nồi cơm điện" hiện đang được dân chúng quá kính ngưỡng các thầy sống đời thiểu dục. Cho dù có sự hiện diện của Ngài Minh Tuệ hay là không. Họ vẫn tu. Đó chính là sự khao khát giải thoát theo cách thanh tu. Và chính cái hạnh này đã lay động sự thức tỉnh và mến mộ của người dân vậy.
Ở những đoạn có người dân tộc thiểu số Cơ-Tu ở, vẫn có Phật tử âm thầm theo giúp. Xe hơi lén chạy theo và bất thần ập vào tặng thuốc thang, băng keo cá nhân, băng ga, dầu ..v.v.v Hoặc có những chiếc xe hơi sáng canh khoảng sáng sớm chạy đến mang cơm nước cho các thầy. Vì nơi khỉ ho cò gáy thì lấy đâu ra nhà dân mà khất thực.
Tuy nhiên, thực ra làm như vậy thì các thầy không vượt qua được hạnh đầu đà. Các thầy phải tự đi khất thực và vượt qua cuộc sống du hành như vậy và đối diện mọi vấn đề. Vấn đề cốt lõi vẫn vậy. Các thầy quyết không nhận tiền và chỉ thọ thực một bữa. Rồi tham thiền và du hành. Cuộc sống vẫn thanh tịnh để đoạn diệt tham-sân-si.
Last edited by Triển; 06-10-2024 at 09:36 PM.

Puck Futin
-
06-11-2024, 07:59 PM #779
-
06-11-2024, 09:53 PM #780
TÂN SINH NHUẬN HỘI
Nỗi khao khát vẫn vậy. Vẫn có người mới hướng về đạo Phật và đức hạnh của Ngài Minh Tuệ cho họ sự tỉnh thức mà gieo duyên tu tập.
Similar Threads
-
Việt Nam, Việt Nam - Thùy Linh
By Thùy Linh in forum Du LịchReplies: 199Last Post: 09-22-2022, 08:28 PM -
Trăn trở của người Việt ở nước ngoài: Việt Nam ơi!
By Lotus in forum Quê Hương TôiReplies: 0Last Post: 04-14-2014, 01:47 PM -
Việt Nam “tháo” hết rào cản dụ Việt kiều mua bất động sản
By Lê Nguyễn Hiệp in forum Quê Hương TôiReplies: 28Last Post: 04-11-2014, 01:47 PM -
Việt Nam! Việt Nam! Bộ phim về cuộc chiến Bắc Nam Việt Nam bị dấu kín
By Lotus in forum Quê Hương TôiReplies: 1Last Post: 02-22-2013, 12:24 PM -
Việt kiều Pháp mất quyền tỵ nạn vì về Việt Nam!
By Võ Thanh Liêm in forum Lượm Lặt Khắp NơiReplies: 2Last Post: 06-01-2012, 06:49 PM




Reply With Quote

